1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu công nghệ truyền dẫn NG SDH và phương án triển khai trên mạng NGN ở VNPT

129 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu công nghệ truyền dẫn NG SDH và phương án triển khai trên mạng NGN ở VNPT Nghiên cứu công nghệ truyền dẫn NG SDH và phương án triển khai trên mạng NGN ở VNPT Nghiên cứu công nghệ truyền dẫn NG SDH và phương án triển khai trên mạng NGN ở VNPT luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

NGÀNH : KỸ THUẬT ĐIỆN TỬ

NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ TRUYỀN DẪN

TRÊN MẠNG NGN Ở VNPT

NGUYỄN HÒA SINH

HÀ NỘI 2006

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ TRUYỀN DẪN

TRÊN MẠNG NGN Ở VNPT

NGÀNH : KỸ THUẬT ĐIỆN TỬ

MÃ SỐ: 60-52.70

NGUYỄN HÒA SINH

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN VIẾT NGUYÊN

HÀ NỘI 2006

Trang 3

đã trực tiếp tận tình hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này

Xin trân trọng cảm ơn ban giám hiệu, lãnh đạo cùng các thầy cô trong khoa Điện Tử Viễn Thông trường ĐH Bách Khoa Hà Nội đã giảng dạy, góp ý và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Chân thành cảm ơn Học Viện Bưu Chính Viễn Thông cơ sở II tạo điều kiện và giúp đở tôi hoàn thành đề tài này

Trân trọng cảm ơn các cán bộ Trung tâm Viễn Thông Liên Tỉnh II (VTN II), Đài Viễn Thông TP Hồ Chí Minh trung tâm viễn thông khu vực II, trạm viễn thông VTN Bình Dương, Bình Phước đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát tìm hiểu thực tế thiết bị và mạng lưới liên tỉnh

Trân trọng cảm ơn lãnh đạo, cán bộ công nhân Bưu Điện Tỉnh Bình Phước đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Trang 4

Chương I: XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ TRUYỀN TẢI QUANG

THẾ HỆ MỚI 1

I.1 Xu hướng phát triển của các dịch vụ viễn thông 1

I.2 Xu hướng phát triển của công nghệ truyền tải quang: 4

I.2.1 Sự phát triển của cấu trúc mạng 4

I.2.2 Xu hướng phát triển công nghệ truyền tải quang 10

I.3 Kết luận 18

Chương II: 20

HIỆN TRẠNG MẠNG TRUYỀN TẢI QUANG CỦA VNPT 20

II.1 Mạng truyền dẫn quang quốc tế: 20

II.2 Mạng truyền dẫn quang quốc gia 22

II.3.1 Tuyến truyền dẫn quang đường trục bắc nam SDH 2,5G 22

II.3.1.1 Tổng quan 22

II.3.1.2 Một số nhận xét, đánh giá: 22

II.3.2 Tuyến truyền dẫn quang đường trục WDM 24

II.3.3 Tuyến Liên tỉnh cấp vùng 30

II.3.3.1 Các hệ thống xuất phát từ Hà nội: 30

II.3.3.2 Các tuyến cáp quang liên tỉnh xuất phát từ Tp.HCM 30

II.3.3.3 Các tuyến cáp quang khác 30

II.3.3.4 Đánh giá 30

II.3 Mạng truyền dẫn quang nội tỉnh 31

II.3.1 Mạng truyền dẫn quang trung kế liên đài 33

II.3.2 Mạng truy nhập quang 34

II.4 Nhận xét 35

Chương III: 37

NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ NG-SDH VÀ CÁC SẢN PHẨM NG-SDH ĐIỂN HÌNH 37

III.1 Giới thiệu chung về công nghệ NG-SDH: 37

Trang 5

III.1.2.2 MAPOS (Giao thức đa truy nhập qua SONET/SDH) 40

III.1.2.3 LAPS ( LAN Adapter protocol Support Program) 41

III.1.3 Đặc tính kỹ thuật của NG SDH 42

III.1.3.1 Gói trên SONET/SDH (POS ) 42

III.1.3.2 LAPS 43

III.1.3.3 MAPOS 44

III.1.3.4 GFP/SDH trên WDM 44

III.1.3.5 Cấu trúc điển hình của một hệ thống NG-SDH 46

III.1.3.6 Khả năng cung cấp dịch vụ 47

III.2 Thủ tục lập khung tổng quát (GFP) 48

III.2.1 Các vấn đề chung của GFP 49

III.2.1.1 Cấu trúc khung GFP 49

III.2.1.2 Các khung điều khiển GFP 50

III.2.1.3 Các chức năng mức khung GFP 51

III.2.2 Các vấn đề liên quan đến GFP-F 52

III.2.2.4 Tải tin MAC Ethernet 52

III.2.2.5 Tải tin HDLC/PPP 53

III.2.2.6 Tải tin kênh quang qua FC-BBW_SONET 53

III.2.2.7 Xử lý lỗi trong GFP-F 54

III.2.2.8 Tải tin RPR IEEE 802.1 55

III.2.2.9 Sắp xếp trực tiếp MPLS vào các khung GFP-F 55

III.2.2.10 Sắp xếp trực tiếp các PDU IP và IS-IS vào trong các khung GFP-F 56

III.3 Ghép chuỗi ảo (VCAT) 57

III.3.1 Ghép chuỗi ảo bậc cao 59

III.3.2 Ghép chuỗi ảo bậc thấp 59

III.4 Cơ chế điều chỉnh dung lượng tuyến (LCAS) 59

III.4.1 Ứng dụng của LCAS 61

III.4.2 Giao thức LCAS 61

III.5 Các tiêu chuẩn liên quan đến công nghệ NG-SDH của các tổ chức tiêu chuẩn trên thế giới 63

Trang 6

III.5.4 Tiêu chuẩn của ETSI 67

III.6 Sản phẩm NG-SDH điển hình của các nhà sản xuất trên thế giới 67

III.6.1 Các sản phẩm NG-SDH của Cisco 69

III.6.2 Sản phẩm NG-SDH của Siemens 75

Error! Not a valid link.

Trang 7

giữa các doanh nghiệp trên thế giới 1

Hình 1 2 Thị trường mạng truy nhập quang 5

Hình 1 3 Loại bỏ ngăn giao thức trung gian 6

Hình 1 4 Mạng Metro của các ISP trong tương lai 8

Hình 1 5 Các lựa chọn phát triển mạng 10

Hình 3 - 1: Kết nối trong mạng SONET/SDH: a Điểm nối điểm, b.Cấu hình mesh 38

Hình 3 - 2: Mô hình mạng truyền dữ liệu IP trên SONET/SDH 39

Hình 3 - 3: Khung MAPOS phiên bản 1 và phiên bản 2 41

Hình 3 - 4: Ngăn giao thức/lớp cho IP trên STM-n sử dụng LAPS X.85 (Ngăn TCP/UDP/IP được thay bằng Ethernet đối với X.86) 41

Hình 3 - 5: Định dạng khung LAPS theo X.85 42

Hình 3 - 6: Ngăn giao thức và khung POS 43

Hình 3 - 7: Giao thức lập khung tổng quát và quá trình bao gói IP trong khung SONET/SDH 45

Hình 3 - 8: Cấu trúc điển hình của hệ thống NG-SDH 47

Hình 3 - 9: Mô hình cung cấp dịch vụ mạng triển khai trên cơ sở công nghệ NG-SDH 47

Hình 3 - 10: Mối quan hệ GFP với tín hiệu khách hàng và luồng truyền tải 48

Hình 3 - 11: GFP-T và GFP-F 49

Hình 3 - 12: Cấu trúc khung GFP 50

Hình 3 - 13: Khung Idle GFP 51

Hình 3 - 14 Các thủ tục chung của GFP 51

Hình 3 - 15: Sự lan truyền tín hiệu lỗi trong GFP 52

Hình 3 - 16: Mối quan hệ giữa Ethernet và khung GFP 53

Hình 3 - 17: Mối quan hệ giữa HDLC/PPP và khung GFP 53

Error! Not a valid link.

Trang 8

Hình 4 - 4: Các giao thức Ethernet over SONET 85

Hình 4 - 5: Sử dụng GFP, VCAT và LCAS trong giải pháp EoS 86

Hình 4 - 6: Ghép ảo VCAT lưu lượng Ethernet 87

Hình 4 - 7: Triển khai RPR trên SONET/SDH 89

Hình 4 - 8: Truyền tải TDM và RPR trên cùng một mạng SONET/SDH 90

Hình 4 - 9: Giao thức lập khung tổng quát và quá trình bao gói IP trong khung SONET/SDH 91

Hình 4 - 10: Mô hình RPR over NG-SDH cho mạng nâng cấp 111

Hình 4 - 11: Mô hình RPR over NG-SDH cho mạng xây dựng mới 112

Hình 4 - 12: Mô hình mạng NG-SDH over WDM 112

Hình 4 - 13: Mô hình mạng EoS 113

Trang 9

SONET/SDH 38Bảng 3 - 2: Các giao thức sử dụng cho IP/SDH 39Bảng 3 - 3: Dung lượng VC-n-Xv SONET hoặc STS-3Xv SPE ghép chuỗi ảo 57

Bảng 3 - 4: So sánh hiệu suất của ghép liên tục và ghép ảo 57Bảng 3 - 5: Các tiêu chuẩn liên quan đến công nghệ NG-SDH của các tổ chức tiêu chuẩn trên thế giới 63Bảng 4 - 1: Hiệu suất băng tần ghép ảo VCAT lưu lượng Ethernet vào

SONET/SDH 87Bảng 4 - 2: So sánh trễ mạng giữa các giải pháp công nghệ 95Bảng 4 - 3 So sánh khả năng bảo vệ và chi phí cho xây dựng cơ cấu bảo vệ 95

ứng với các loại hình công nghệ 96Bảng 4 - 5: So sánh giá thành xây dựng mạng dựa trên cơ sở một số giải pháp công nghệ 96Bảng 4 - 6: So sánh khả năng nâng cấp mạng đối với một số giải pháp công nghệ 98

nghệ 98

Trang 10

thông tin và viễn thông đang phát triển mạnh mẽ Hiện nay, xây dựng mạng viễn thông hướng tới mạng NGN là xu hướng tất yếu của các nước trên thế giới; Tập Đòan Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam (VNPT) đang triễn khai mạng NGN với mạng truyền tải quang sử dụng công nghệ NG-SDH Công nghệ NG-SDH là công nghệ mới tiếp theo của công nghệ SDH sử dụng cho mạng viễn thông Trong những năm tới đây thì công nghệ NG-SDH được xem như là giải pháp công nghệ chủ đạo để xây dựng các hệ thống truyền tải quang và hệ thống điều khiển báo hiệu và quản lý mạng thống nhất và đa phân lớp của mạng NGN Mạng truyền tải được xây dựng trên cơ sở các công nghệ NG-SDH là điều kiện đảm bảo cho mục tiêu xây dựng mạng hội tụ, cung cấp đa dịch vụ theo từng phân lớp mạng Mạng có giao diện kết nối đa dạng ,dung lượng mạng lớn để có thể cung cấp mọi loại hình kết nối từ tốc độ thấp đến tốc độ rất cao với mọi giao diện kết nối Đề tài nghiên cứu xu hướng phát triển công nghệ truyền tải quang thế hệ mới; khảo sát hiện trạng mạng viễn thông VNPT; Nghiên cứu các giải pháp và đề xuất áp dụng trong mạng truyền tải quang trên mạng NGN của VNPT

Nghiên cứu công nghệ trên để áp dụng thực tiển trong mạng truyền tải quang NGN của VNPT và thực tế tại tỉnh Bình Phước trong giai đoạn phát triển từ nay tới năm 2010

Nội dung đề tài liên quan đến nhiều công nghệ và đề cập đến nhiều vấn

đề, nên mỗi mục được trình bày tóm lược, nêu lên những thông tin chính và tham chiếu kết quả của những đề tài liên quan Trong thời gian và điều kiện cũng như khả năng có hạn bản thân đã cố gắng học, tập tìm hiểu thực hiện đề tài, nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những hạn chế và sai sót Rất mong nhận được những góp của thầy cô và đồng nghiệp để được hoàn thiện hơn

Trang 11

Chương I:

XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ TRUYỀN TẢI QUANG THẾ HỆ MỚI I.1 Xu hướng phát triển của các dịch vụ viễn thông

Sự bùng nổ của các dịch vụ trên Internet

Trong hiện tại và tương lai, nhu cầu sử dụng các dịch vụ Internet sẽ rất cao Các trang web nhiều âm thanh, hình ảnh hơn sẽ rất phổ biến Người dùng sẽ được cung cấp các sản phẩm truyền thông đa phương tiện như giáo dục từ xa, hội nghị truyền hình, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, các dịch vụ tài chính, bảo hiểm… Nội dung thông tin mang tính tổng hợp cao Nhu cầu về giải trí trực tuyến, chơi game trực tuyến cũng phát triển Những điều này làm thay đổi căn bản về bản chất lưu lượng thông tin

D ịch vụ tu' vấn Ứng dụng liên kết Bán hàng

Nguồn: ESIS-ISPO

Hình 1.1 Minh hoạ tính đa dạng các ứng dụng trong việc giao dịch trên mạng

giữa các doanh nghiệp trên thế giới

Sự tích hợp dịch vụ

Người sử dụng có yêu cầu cao về khả năng tích hợp dịch vụ Tích hợp dịch vụ

sẽ mang lại những thuận lợi to lớn cho khách hàng điển hình như thiết bị đầu cuối nhiều tính năng

Khả năng di động và chuyển vùng

Một trong những xu thế được nhận diện sớm nhất chính là tính di động của khách hàng khi sử dụng dịch vụ Các dịch vụ cung cấp cho khách hàng bị giới hạn

Trang 12

cấp kết nối mạng ở bất kỳ nơi đâu, bất kỳ lúc nào và thậm chí là khi khách hàng đang di chuyển với tốc độ cao

Yêu cầu QoS theo nhiều mức độ khác nhau

Tuỳ vào mục đích của người sử dụng mà có các ưu tiên về QoS khác nhau

Do đó, người sử dụng chỉ phải chi trả cước phí ở một mức hợp lý Có thể phân chia thành bốn loại dịch vụ ứng dụng với các mức QoS khác nhau:

- Nhạy cảm với trễ và tổn thất (video tương tác, game…)

- Nhạy cảm với trễ nhưng tổn thất vừa phải (thoại)

- Nhảy cảm về tổn thất nhưng yêu cầu trễ vừa phải (dữ liệu tương tác)

- Yêu cầu đối với trễ và tổn hao đều không cao (truyền tệp)

Tính linh hoạt, tiện dụng

Nhìn chung, khách hàng thường mong muốn truy nhập dịch vụ mà không quan tâm đến sự phức tạp của mạng, tính linh hoạt của mạng nghĩa là khả năng phân phối một số dịch vụ của mạng có tính trong suốt theo hướng ẩn những thứ mang tính chi tiết về mạng đối với người sử dụng Có thể đạt được điều này bằng cách định nghĩa các giao diện truy nhập mức cao càng ẩn các tham số điều chỉnh

và vận hành mạng càng nhiều càng tốt Chú ý rằng tính trong suốt là yếu tố quyết định cho sự chuyển đổi Ngoài ra nhà khai thác cũng có yêu cầu nhất định đối với bảo dưỡng, vận hành, mở rộng và nâng cấp thiết bị

Giá thành

Giá thành là một yếu tố khá quan trọng trong xu hướng sử dụng dịch vụ Giá của các dịch vụ giảm xuống trên phạm vi toàn thế giới khi mở rộng thị trường viễn thông Tuy nhiên các dịch vụ mới (ví dụ SMS) đang nổi lên sẽ chiếm lấy những phần doanh thu giảm xuống này Dịch vụ SMS có tỉ lệ giá thành trên mỗi bit cao nhất so với bất cứ loại dịch vụ nào khác cho khách hàng Đây cũng là dịch vụ có yêu cầu về QoS thấp nhất

Trang 13

tăng tính giải trí, tăng tính di động, tăng khả năng thích nghi giữa các mạng, tăng tính bảo mật, tăng tích tương tác nhóm, giảm chi phí…

Ngoài ra những yêu cầu của nhà cung cấp dịch vụ hay ảnh hưởng của các yếu

tố chính trị, kinh tế, xã hội cũng có những tác động không nhỏ đến định hướng và tiến trình phát triển của mạng viễn thông nói chung và mạng NGN nói riêng Các nhà cung cấp dịch vụ giữ một vai trò quan trọng trong việc truy xuất thông tin công cộng Một số các yêu cầu của các nhà cung cấp dịch vụ cũng tương tự như của khách hàng Yêu cầu của các nhà cung cấp dịch vụ liên quan đến vấn đề cụ thể như sau:

Giá cả thương mại: Các nhà cung cấp dịch vụ cần tạo ra lợi nhuận do đó giá

thành sử dụng mạng sẽ xác định điểm cân bằng

Khả năng mở rộng: Khả năng mở rộng các dịch vụ được cung cấp tới khách

hàng

Quản lý: Chức năng quản lý thuận tiện cho nhà cung cấp dịch vụ

Độ tin cậy và độ khả dụng: Các dịch vụ cung cấp đến khách hàng phải khả

dụng tại mọi thời điểm

Cơ sở hạ tầng hiện tại: Hoạt động và đầu tư của nhà cung cấp dịch vụ phụ

thuộc vào cơ sở hạ tầng của nhà cung cấp mạng Nếu cơ sở hạ tầng hiện tại nghèo nàn, các nhà cung cấp dịch vụ sẽ khó có thể cung cấp được các dịch vụ mới

Topo mạng: Có thể ảnh hưởng đến phương thức cung cấp dịch vụ cho khách

hàng Ví dụ nếu mạng theo cấu trúc điểm điểm thì khó có thể cung cấp các dịch vụ quảng bá

Tiêu chuẩn: Các mạng đa truy nhập và các thiết bị phải làm việc khớp với

nhau trên mạng để đảm bảo khả năng cung cấp dịch vụ tới tận nơi yêu cầu Điều này chỉ có thể thực hiện khi các sản phẩm tuân theo tiêu chuẩn

Vấn đề pháp lý: Môi trường pháp lý sẽ giữ vai trò chính trong sự phát triển

của dịch vụ

Các mô hình kinh doanh rất quan trọng khi quyết định nâng cấp mạng hay không Tuy nhiên chúng cũng mang lại một số ảnh hưởng khi đưa vào một số công nghệ mới vào kế hoạch phát triển mạng; ví dụ khi cạnh tranh với mạng hiện tại hay hỗ trợ các hướng phát triển theo hướng hạ tầng/giao thức/nền tảng dịch vụ/xu hướng quản lý đồng đều hơn Các yếu tố xã hội liên quan đến sự bằng lòng của dân chúng nói chung khi sử dụng dịch vụ mới (giáo dục điện tử, chính phủ điện tử,

Trang 14

định tốc độ các dịch vụ mới được triển khai khi chúng chi phối nguồn tài chính từ phía khách hàng (chính là doanh thu của nhà khai thác mạng), khi họ khuyến khích các dịch vụ mới và mức độ hỗ trợ của chính phủ

I.2 Xu hướng phát triển của công nghệ truyền tải quang:

I.2.1 Sự phát triển của cấu trúc mạng

Theo quan niệm phát triển gần đây, người ta mong muốn tích hợp mạng truy nhập với mạng lõi và mạng Metro, cụ thể là hỗ trợ điều khiển kết nối từ đầu đến cuối, và chính nó là một đặc tính của “văn hoá Internet” Như vậy cũng có thay đổi trong việc phân bố các chức năng giữa các mạng truy nhập và mạng lõi/metro Việc chuyển đổi sang mạng thông tin trên cơ sở gói và việc bó hẹp vai trò của chuyển mạch và tổng đài truyền thống cũng hỗ trợ việc xoá nhoà ranh giới giữa mạng truy nhập và mạng lõi

Về mặt công nghệ, tính đa dạng sẽ là đối tượng được quan tâm Công nghệ được phát triển cho mạng truy nhập và mạng lõi dần chuyển đổi từ phần truy nhập của mạng và ngược lại Một ví dụ là mạng chuyển mạch nhãn đa giao thức MPLS được dùng để hỗ trợ cho thiết kế lưu lượng và QoS cho mạng lõi tuy nhiên lại xuất hiện ngày càng nhiều trong các mô hình thiết kế mạng truy nhập tương lai của các chuyên gia

Một điểm nữa là sợi quang và ghép bước sóng quang (WDM), công nghệ khởi đầu bằng việc hỗ trợ tăng dung lượng cho mạng lõi, tuy nhiên tới nay, chúng lại dần tiếp cận gần hơn với phía khách hàng

Điều này rất được mong đợi và được xem như sự tăng tốc khi mà công nghệ

và quá trình phát triển tạo thành một công nghiệp hoá và một lượng sản phẩm lớn nhất Có hai ví dụ nữa (ở biên mạng truy nhập), thứ nhất là Ethernet ban đầu được thiết kế sử dụng cho mạng LAN tuy nhiên hiện nay IEEE đã đề xuất sử dụng làm công nghệ truyền tải trong phần mạng lõi và mạng Metro ở tốc độ rất cao và đa dạng Thứ hai là mạng WLAN được giới thiệu như là một mạng liên kết các gia đình tuy nhiên chúng đang được sử dụng như công nghệ mạng truy nhập công cộng

Trang 15

Nguồn: Siemens, Status

Hình 1.2 Thị trường mạng truy nhập quang Bốn xu hướng chính được quan tâm liên quan tới sự phát triển mạng truy nhập, lõi/Metro:

- Mạng truyền tải quang (trên cơ sở WDM) trong mạng lõi cố định và dần mở rộng

ra phía mạng truy nhập và Metro

- Công nghệ trong mạng truy nhập sẽ phát triển dựa trên mạng truy nhập cố định hiện tại (sử dụng cáp đồng và cáp đồng trục) để cung cấp băng tần truy nhập Internet cao hơn (tiêu biểu là xDSL)

- Các công nghệ trong mạng truy nhập sẽ hỗ trợ khả năng di động: GPRS, UMTS, WLAN, Bluetooth, vệ tinh

- Hỗ trợ QoS

a) Sự phát triển của mạng lõi và mạng metro

Sợi quang sẽ chiếm ưu thế trong mạng lõi và mạng metro Có tới 99% mạng lõi sử dụng công nghệ quang Chỉ có 1% còn lại là sử dụng vệ tinh và vi ba cho các trường hợp đặc biệt với những vùng địa lý xa xôi, mật độ thuê bao thấp hay địa hình phức tạp

Trong những năm tới, số lượng kênh quang sẽ tăng lên và tốc độ mỗi kênh sẽ tăng Song song với sự phát triển thuần tuý về số lượng nói trên, các lớp quang sẽ thông minh hơn, các chức năng thực hiện trong lớp quang sẽ tăng lên Ví dụ trong nhiều trường hợp, chế độ bảo vệ sẽ có trong lớp quang Các ngăn giao thức sẽ tiếp

1,0 1,6 0,1

1,6 2,3 0,2

1,3

1,7 2,5 0,3

2,3

1,8 2,6 0,6 1,0

3,2

2,1 3,1 0,9 1,4

3,2

2,3 3,5 1,1 1,8

4,3

0,0 2,0 4,0 6,0 8,0 10,0

Trang 16

Như vậy sẽ tăng hiệu quả thông qua giảm các chức năng lặp lại và dư thừa trong mỗi lớp mạng

Hình 1.3 Loại bỏ ngăn giao thức trung gian Mạng truyền tải quang được coi là bước tiếp theo tự nhiên trong quá trình phát triển mạng truyền tải Do sự phát triển, OTN sẽ kéo theo rất nhiều kiến trúc mức cao hơn khi sử dụng SONET/SDH (ví dụ mạng quang sẽ giữ lại định hướng kết nối, mạng chuyển mạch) Sự khác nhau chính sẽ xuất hiện từ dạng công nghệ chuyển mạch được sử dụng: TDM cho SDH với ghép bước sóng cho OTN Để thoả mãn nhu cầu ngắn hạn về dung lượng, việc triển khai các hệ thống WDM điểm điểm cỡ lớn sẽ vẫn được tiến hành Khi số bước sóng tăng lên, khoảng cách giữa các đầu cuối tăng lên sẽ xuất hiện nhu cầu xen rẽ bước sóng tại các điểm trung gian Khi đó các bộ xen rẽ quang linh hoạt sẽ trở nên là một bộ phận cần thiết cho mạng WDM Khi có thêm các bước sóng được triển khai trên mạng tải dẫn đến tăng nhu cầu về quản lý dung lượng Cũng như các bộ đấu chéo số đặt vấn

đề quản lý dung lượng trong lớp điện thì các bộ đấu chéo quang (OXC) đặt vấn đề quản lý dung lượng lớp quang

Kiến trúc OTN bao gồm phần lõi, metro và truy nhập tốc độ cao Lúc đầu nhu cầu quản lý băng tần lớp quang chủ yếu ở môi trường mạng lõi, tuy nhiên khi số lượng khách hàng và máy chủ trong mạng truy nhập tăng lên và trở thành nút cổ chai cho truyền tải dữ liệu, khả năng kết nối logic dựa trên mạng “mesh” trong mạng lõi sẽ hỗ trợ thông qua topo vật lý, gồm có các OADM trên cơ sở SPRing và OXC dựa trên kiến trúc phục hồi “mesh” Khi nhu cầu băng tần cho mạng metro

và truy nhập tăng lên các bộ OADM cũng sẽ được sử dụng

Điều này cho thấy rằng mạng lõi và mạng metro sẽ phát triển chỉ trên nền công nghệ IP và WDM Kiến trúc của mạng thế hệ mới sẽ mang những ưu điểm của lớp mạng IP tich hợp trực tiếp lên trên lớp truyền tải WDM Sự kết hợp của IP

Trang 17

hoá các ngăn giao thức mạng như gói trên SDH, Gigabit Ethernet

Nguyên tắc cơ bản cho việc tích hợp kiến trúc IP/WDM là WDM được coi

như công nghệ đường trục và IP liên kết với thiết bị WDM ở biên của mạng lõi

Hạ tầng quang sẽ dần được chuyển đổi xuất phát từ công nghệ ATM/SDH Các topo khác nhau của thiết bị WDM có thể truyển khai ở khu vực mạng trục và mạng metro Các nhà khai thác mạng hiện tại có thể cũng triển khai mạng như vậy trong trường hợp họ tích hợp mạng ATM và SDH hiện tại với thiết bị DWDM bằng cách

sử dụng mạng đường trục WDM để tải lưu lượng ATM và SDH

Phần mạng đường trục: gồm các PoP IP lõi liên kết với nhau qua mạng

đường trục WDM Kích cỡ topo mạng đường trục WDM phụ thuộc vào khoảng cách giữa các PoP IP Đối với các mạng mesh và các vòng ring liên kết từ các hệ thống WDM điểm điểm có khoảng cách lớn và suy hao đáng kể sẽ phổ biến hơn trong khi với những khoảng cách nhỏ hơn và cấu trúc tương tự có thể áp dụng vào phần mạng metro

Phần mạng metro: bao gồm các lõi metro quang WDM với cấu trúc ring

chiếm ưu thế và mạng truy nhập metro sử dụng PoP IP PoP IP có thể chia làm hai loại:

- Một phần biên sử dụng cho các thiết bị IP của khách hàng

- Một phần lõi và truyền tải được sử dụng để gom và truyền lưu lượng tới mạng trục IP

Phần mạng truy nhập: Phục vụ cho các khách hàng chính là các doanh

nghiệp, công sở và các khách hàng nhỏ hơn là các hộ gia đình

Hình 1-4 mô tả mạng metro của các ISP trong tương lai gồm có phần lõi metro quang WDM và truy nhập metro IP Phần IP bao gồm cả một số PoP IP, tại

đó khách hàng có thể truy nhập dịch vụ mạng IP và lưu lượng sẽ được chuyển tới các PoP khác hoặc lên mạng trục Khách hàng có thể truy nhập thuận tiện hơn thông qua kết nối của các bộ định tuyến IP biên phía nhà cung cấp và các bộ định tuyến IP biên phía khách hàng Các thiết bị ATM và SDH trong hình được trình bày mang tính minh hoạ đầy đủ các thiết bị của phía nhà cung cấp có thể đạt cùng hoặc không với các thiết bị phía khách hàng phụ thuộc vào khoảng cách giữa khách hàng và nhà cung cấp, lưu lượng sử dụng của khách hàng và cách sử dụng

Trang 18

Hình 1.4 Mạng Metro của các ISP trong tương lai Lõi metro quang WDM thường có một vòng ring có các OADM có khả năng định lại cấu hình đồng thời việc bổ xung các tuyến WDM điểm điểm với các đầu cuối ghép kênh có thể sử dụng cho các khách hàng tiềm năng OADM đưa ra các giao diện quản lý để chúng có thể định lại cấu hình từ xa để xen rẽ các bước sóng (kênh quang) cho các vòng ring thông qua các card phân bố và ghép chúng lại dưới dạng các tín hiệu quang trong các card đường truyền đáp ứng của mỗi hướng vòng ring

Trong trường hợp có hai ring lõi metro WDM, khi đó sẽ cần tới các bộ đấu chéo quang để định tuyến các bước sóng từ một vòng ring sang mạng khác hỗ trợ toàn quang Các bộ đấu chéo có giá thành lớn nhất trong các thiết bị mạng quang

và có khả năng thực hiện các nhiệm vụ bổ xung như chuyển mạch bước sóng và chuyển đổi hàng trăm cổng dưới dạng toàn quang mà không phải chuyển đổi EO Mạng metro có thể mở rộng tới LAN thông qua mạng lõi quang Truy nhập IP metro có các bộ định tuyến PE liên kết thông qua giao diện quang với các bộ OADM Ở phía truy nhập của mạng metro, Fast Ethernet sẽ trở nên phổ biến Tuy nhiên phương pháp thích hợp hơn sẽ sử dụng Ethernet quang (tốc độ 40 Gigabit) Các nhà khai thác mạng có thể giới hạn các khách hàng của họ chỉ với một vài Mbit/s tuy nhiên các đường truyền là hàng gigabit và đến một lúc nào đó

Trang 19

đợi, công nghệ và các giao thức sẽ được chia sẻ trên đường truyền hiện tại cho hàng ngàn các khách hàng khác nhau mà vẫn đáp ứng tốt Đó là một bước đơn giản trong quá trình tiến tới các trung kế Ethernet trên các bước sóng riêng biệt, tất

cả được ghép kênh trên một đôi sợi quang sử dụng công nghệ DWDM Đây là phương pháp mà các đường truyền Ethernet điểm điểm có thể đạt được kênh 10Gbit/s với băng tần tổng hợp có lẽ khoảng 400Gbit/s Tất nhiên loại mạng như thế này yêu cầu về chuyển mạch Ethernet rất lớn ở mỗi đầu sợi quang

Băng tần Ethernet quang có lẽ chỉ bị giới hạn bởi băng tần sợi quang (khoảng 25Tbit/s cho loại sợi hiện nay) và vẫn thoải mái trong trong khả năng của laser và điện tử hiện nay Tuy nhiên bằng ngoại suy với xu hướng này chúng ta có thể tới mức đó trong khoảng 5-10 năm nữa

Trong trường hợp các bộ định tuyến cung cấp giao diện làm việc ở bước sóng 15xx nm để truyền dẫn, sẽ không cần các bộ chuyển tiếp trong các bộ OADM Trường hợp thông thường khi các bộ định tuyến làm việc ở giao diện quang 1310

nm và cần chuyển đổi bước sóng thành 15xx nm bằg cac bộ chuyển đổi hai chiều Các bộ chuyển tiếp chuyển tín hiệu quang thành tín hiệu điện rồi lại chuyển lại thành tín hiệu quang

Mạng diện rộng thường có một phần mạng quang WDM loại mesh Tốc độ truyền dẫn lớn hơn 10 Gbit/s mỗi bước sóng được cung cấp truy nhập tới băng tần Terabit giữa các mạng metro Dải công suất đủ cho khoảng cách tới 1000 km mà không cần trạm lặp với chất lượng đảm bảo Các bộ khuếch đại quang được triển khai để tăng toàn bộ tín hiệu quang được ghép kênh hoặc tái tạo tách rời từng kênh quang

b) Sự phát triển của mạng truy nhập quang

Nhu cầp truy nhập băng rộng của khách hàng tăng rất nhanh Mạng nội dung

sẽ được triển khai có yêu cầu cao về tốc độ cũng như yêu cầu trao đổi dữ liệu hai chiều Công nghệ mạng truy nhập quang đã có những bước phát triển mạnh đáp ứng tốt các yêu cầu trên

Trang 20

Hình 1.5 Các lựa chọn phát triển mạng Sợi quang đang thâm nhập vào phần mạng truy nhập Tuy nhiên để có được FTTH hay FTTD vẫn chưa thể trở thành hiện thực Lý do chính là tính nhạy cảm của giá thành khi triển khai trên thực tế Mạng quang thụ động PON sẽ cung cấp thông tin qua sợi quang mà không phải thực hiện việc chuyển đổi điện nào cả Hiện nay chúng sẽ phù hợp hơn khi thay thế cáp đồng từ tổng đài tới các điểm truy nhập linh động Từ đó chúng có thể kết hợp với DSL hoặc cáp đồng trục để đến tận thuê bao

Kết hợp các công nghệ truy nhập khác nhau cho phép xây dựng một hệ thống linh hoạt và ít tốn kém nhất

I.2.2 Xu hướng phát triển công nghệ truyền tải quang

Xu hướng phát triển của mạng của thế hệ kế tiếp NGN là từng bước thay thế hoặc chuyển lưu lượng mạng sử dụng công nghệ TDM sang mạng sử dụng công nghệ chuyển mạch gói

Để giải quyết những khó khăn hiện nay của mạng truyền tải được xây dựng trên nền SONET/SDH, đáp ứng những nhu cầu về phát triển dịch vụ, các nhà cung cấp cơ sở hạ tầng mạng đã tìm kiếm những giải pháp công nghệ tiên tiến để xây dựng thế hệ mạng mới, có khả năng tích hợp đa dịch vụ trên một cơ sở hạ tầng mạng duy nhất

Trang 21

quang thế hệ mới chủ yếu tập trung vào các loại công nghệ chính, đó là:

Các công nghệ nói trên này được xây dựng khác nhau cả phạm vi và các phương thức mà chúng sẽ được sử dụng Trong một số trường hợp, các nhà cung cấp cơ sở hạ tầng lại triển khai cùng một công nghệ cho các ứng dụng khác nhau

Ví dụ, GE có thể được sử dụng để cung cấp năng lực truyền tải cơ sở hoặc để cung cấp các dịch vụ gói Ethernet trực tiếp đến khách hàng

Các nhà khai thác mạng có xu hướng kết hợp một số loại công nghệ trên cùng một mạng của họ, vì tất cả các công nghệ sẽ đóng góp vào việc đạt được những mục đích chung là:

- Giảm chi phí đầu tư xây dựng mạng

- Rút ngắn thời gian đáp ứng dịch vụ cho khách hàng

- Dự phòng dung lượng đối với sự gia tăng lưu lượng dạng gói

- Tăng lợi nhuận từ việc triển khai các dịch vụ mới

- Nâng cao hiệu suất khai thác mạng

a) SONET/SDH-NG

SONET/SDH-NG là công nghệ phát triển trên nền SONET/SDH truyền thống SONET/SDH-NG giữ lại một số đặc tính của SONET/SDH truyền thống và loại bỏ những đặc tính không cần thiết Mục đích cơ bản của SONET/SDH-NG là cải tiến công nghệ SONET/SDH với mục đích vẫn cung cấp các dịch vụ TDM như đối với SONET/SDH truyền thống trong khi vẫn xử lý truyền tải một cách hiệu quả đối với các dịch vụ truyền dữ liệu trên cùng một hệ thống truyền tải

Trang 22

bảo vệ và ring phục hồi, quản lý luồng, giám sát chất lượng, bảo dưỡng từ xa và các chức năng giám sát khác Đồng thời chức năng quản lý gói cũng được cải thiện đáng kể với độ mịn lớn hơn của SONET truyền thống rất nhiều

SONET/SDH-NG sử dụng các cơ chế ghép kênh mới để kết hợp các dịch vụ khách hàng đa giao thức thành các container SONET/SDH ghép ảo hoặc chuẩn Công nghệ này có thể được sử dụng để thiết lập các MSPP TDM/gói lai hoặc cung cấp định khung luồng bít cho một cấu trúc mạng gói Điểm hấp dẫn nhất của SONET/SDH-NG là nó được xây dựng dựa trên một công nghệ có sẵn và phát huy những ưu điểm của SONET/SDH

Các giải pháp NG-SDH bao gồm việc triển khai các công nghệ đã chuẩn hoá vào thiết bị truyền tải dựa trên SDH Các tiêu chuẩn này gồm:

- Thủ tục định khung chung (GFP): ITU-T G.7041

- Ghép chuỗi ảo (VCAT): ITU-T G.707/783

- Cơ chế thích ứng dung lượng tuyến (VCAT): ITU-T G.7042

- RPR: IEEE 802.17

b) Ethernet/Gigabit Ethernet

Ethernet là một công nghệ đã được áp dụng phổ biến cho mạng cục bộ LAN (Local Area Network) hơn hai thập kỷ qua, hầu hết các vấn đề kỹ thuật cũng như vấn đề xây dựng mạng Ethernet đều đã được chuẩn hóa bởi tiêu chuẩn IEEE.802 của Viện Kỹ thuật Điện và Điện tử Hoa Kỳ (IEEE) Trong tất cả các công nghệ được sử dụng trong các mạng MAN hiện nay thì Ethernet là một chủ đề được chú

ý nhiều nhất do có những lợi thế như đơn giản về chức năng thực hiện và chi phí xây dựng thấp Hơn nữa, việc sử dụng Ethernet sẽ mở ra những cơ hội cho các dịch vụ đa phương tiện, do đó tạo nên những luồng lợi nhuận mới cho các nhà khai thác mạng

Công nghệ Ethernet được ứng dụng xây dựng mạng với 2 mục đích:

- Cung cấp các giao diện cho các loại hình dịch vụ phổ thông, có khả năng cung cấp nhiều loại hình dịch vụ thoại và số liệu, ví dụ các kết nối Ethernet riêng, các kết nối Ethernet riêng ảo, kết nối truy nhập Ethernet, Frame Relay hoặc các dịch vụ “đường hầm” thông qua các cơ sở hạ tầng mạng truyền tải khác, chẳng hạn như ATM và IP

- Ethernet được xem như một cơ chế truyền tải cơ sở, có khả năng truyền tải lưu lượng trên nhiều tiện ích truyền dẫn khác nhau

Trang 23

đặc điểm công nghệ Ethernet truyền thống, công nghệ Gigabit Ethernet phát triển

và bổ sung rất nhiều các chức năng và các tiện ích mới nhằm đáp ứng yêu cầu đa dạng về loại hình dịch vụ, tốc độ truyền tải, phương tiện truyền dẫn Hiện tại các giao thức Gigabit Ethernet đã được chuẩn hoá trong các tiêu chuẩn IEEE 802.3z, 802.3ae, 802.1w Gigabit Ethernet cung cấp các kết nối có tốc độ 100 Mbít/s, 1Gbít/s hoặc vài chục Gbít/s (cụ thể là 10Gbít/s) và hỗ trợ rất nhiều các tiện ích truyền dẫn vật lý khác nhau như cáp đồng, cáp quang với phương thức truyền tải đơn công (half-duplex) hoặc song công (full-duplex) Công nghệ Gigabit Ethernet

hỗ trợ triển khai nhiều loại hình dịch vụ khác nhau cho nhu cầu kết nối kết nối điểm - điểm, điểm - đa điểm, kết nối đa điểm điển hình là các dịch vụ đường kết nối Ethernet ELS (Ethernet Line Service), dịch vụ chuyển tiếp Ethernet ERS (Ethernet Relay Service), dịch vụ kết nối đa điểm Ethernet EMS (Ethernet Multipoint Service) Một trong những ứng dụng quan trọng tập hợp chức năng của nhiều loại hình dịch vụ kết nối là dịch vụ mạng LAN ảo VLAN (virtual LAN), dịch vụ này cho phép các cơ quan, doanh nghiệp, các tổ chức kết nối mạng từ ở các phạm vi địa lý tách rời thành một mạng thống nhất

Công nghệ Gigabit Ethernet được áp dụng hỗ trợ với lớp vật lý thuộc hai phạm vi mạng đó là:

- LAN PHY, với các cơ chế mã hoá đơn giản cho truyền dẫn số liệu trên sợi quang (dark fiber) hoặc trên bước sóng (dark wavelength) với khoảng cách tới 40km trên sợi đơn mode

- WAN PHY, với một lớp con định khung SONET/SDH (gọi là hệ thống giao diện diện rộng WIS) hoạt động tại một tốc độ dữ liệu tương thích với tốc độ tải của SONET OC 192c và SDH VC4-64c WAN PHY có thể hoạt động qua bất kỳ khoảng cách nào khả thi trên một mạng WAN

10-Gbit/s Ethernet có thể được sử dụng để thiết lập các mạng mesh, chuyển mạch, Ethernet, hướng kết nối hoặc loại bỏ SONET/SDH (qua dark fiber thông qua các tuyến điểm-điểm trực tiếp sử dụng LAN PHY) hoặc qua các mạng SONET/SDH (sử dụng WAN PHY), ngoài ra còn có thể hoạt động như một bộ tập hợp các kết nối 1Gbit/s Ethernet

Lợi thế của Ethernet là công nghệ này đã được sử dụng phổ biến trên toàn cầu

ở các mạng LAN Nhìn chung có khoảng 85% lưu lượng gói số liệu bắt đầu và kết thúc dưới dạng các gói Ethernet Hiện nay trên toàn thế giới có khoảng 250 triệu

Trang 24

dễ tiếp cận với các loại hình dịch vụ được cung cấp bởi công nghệ Ethernet

Ngoài ra, công nghệ Ethernet có một số lợi điểm khác như:

- Thời gian đáp ứng cung cấp dịch vụ cho khách hàng nhanh

Công nghệ Ethernet đã được các nhà cung cấp thiết bị mạng đô thị và các nhà khai thác mạng quan tâm Tuy nhiên, các nhà khai thác mạng vẫn còn tỏ ra rất thận trọng trong việc quyết định lựa chọn công nghệ này là công nghệ chủ đạo cho việc xây dựng mạng đô thị vì người ta còn e ngại về khả năng cung cấp các loại hình dịch vụ có đảm bảo về QoS cũng như tính khả dụng (độ duy trì) của mạng dựa trên công nghệ này

Thực tiễn cho thấy rằng, công nghệ Ethernet hoạt động không tối ưu với cấu trúc mạng truyền tải điển hình hiện nay là các mạng ring (dạng cấu trúc tô-pô phổ biến trong mạng MAN hiện nay) Điều đó đã dẫn đến sự phát triển của một MAC Ethernet mới là IEEE 802.17 (RPR), giao thức này cho phép sử dụng chuyển mạch bảo vệ ring và sử dụng băng thông của các vòng ring một cách hiệu quả nhất Thực tế cho thấy rằng: các tô-pô mạng Ethernet dạng mesh đảm bảo khả năng phục hồi mạng mạnh hơn tô-pô ring, vì chúng thực hiện các cơ chế phục hồi bảo

vệ dạng 1+n thay vì bảo vệ 1+1 trong mạng ring Do đó, xét về kiến trúc thì các mạng mesh dựa trên cơ sở công nghệ Ethernet có tính hiệu quả hơn so với cấu trúc tô-pô mạng theo kiểu ring

c) RPR

RPR là một dạng giao thức mới ở phân lớp MAC (Media Acces Control) Giao thức này được áp dụng nhằm mục đích tối ưu hoá việc quản lý băng thông và hiệu quả cho việc triển khai các dịch vụ truyền dữ liệu trên vòng ring RPR hoạt động ở phía trên so với Gigabit Ethernet và SDH và thực hiện cơ chế bảo vệ với giới hạn thời gian bảo vệ là 50 ms trên cơ sở hai phương thức: phương thức steering và phương thức wrapping Các nút mạng RPR trong vòng ring có thể thu các gói tin được địa chỉ hoá gửi đến nút đó bởi chức năng DROP và chèn các gói

Trang 25

chỉ của nút sẽ được chuyển qua Một trong những chức năng quan trọng nữa của RPR là lưu lượng trong vòng ring sẽ được truyền tải theo 3 mức ưu tiên là High, Medium, LOW tương ứng với 3 mức chất lượng dịch vụ QoS (quanlity of service) RPR cho phép sử dụng truyền tải không chỉ gói dạng Ethernet mà còn cho phép truyền tải với bất kỳ dạng giao thức gói nào RPR cung cấp các chức năng MAC gói cho việc truyền tải dữ liệu trên các vòng ring

RPR hoạt động độc lập với các lớp mạng và lớp vật lý, do vậy RPR có thể được mang qua các mạng Ethernet hoặc SONET/SDH Do lớp thích ứng GFP cho RPR được xây dựng qua lớp luồng SONET/SDH chứ không phải qua lớp vật lý SONET/SDH nên nó cho phép kết hợp trong suốt với VCAT RPR làm nổi bật bản chất điểm-điểm của VCAT/LCAS nhờ topo mesh logic nhằm tăng hiệu suất sử dụng băng tần Hơn nữa, RPR còn tối ưu sử dụng băng tần do cho phép các node RPR phát hiện và phân bổ lại dung lượng rỗi dành cho tái sử dụng trên các ring chia sẻ

Về phương diện thương mại hoá, các nhà cung cấp dịch vụ có thể khai thác bản chất bùng nổ của các dịch vụ số liệu như Ethernet để tận dụng triệt để băng tần sẵn có trên một RPR RPR cho phép các nhà cung cấp mạng tận dụng các mạng SONET/SDH cũ của họ cung cấp cả các dịch vụ thoại và số liệu

Một số ưu điểm của RPR:

- Khả năng duy trì mạng: khả năng bảo vệ mạng tương đương với SONET/SDH với thời gian chuyển mạch nhỏ hơn 50ms

- Các dịch vụ phân cấp: hỗ trợ lưu lượng nhạy cảm với trễ qua các gói có độ

ưu tiên cao với độ ì thấp

- Tái sử dụng không gian: trái với SONET/SDH truyền thống, băng tần chỉ được sử dụng giữa các node nguồn và node đích

- Tự khôi phục

- Scalability: hỗ trợ các topo ring với số node lớn hơn 100

Băng tần phân bổ cho một RPR có thể được điều khiển qua các cơ chế LCAS nhằm phân bổ động băng tần yêu cầu khi thêm hoặc bớt các thành viên VCG LCAS là một cơ chế cho phép độ cỡ VCG động nhưng không có tính thông minh trong việc lựa chọn băng tần yêu cầu Tính thông minh này sẽ được cung cấp nhờ một mặt phẳng điều khiển quang sử dụng các giao thức báo hiệu/điều khiển đã được chuẩn hoá nhằm khai thác các cấu hình mạng tích cực dựa trên việc thay đổi

Trang 26

truyền tải thông tin báo hiệu và điều khiển MPLS RPR có thể sử dụng GFP hoặc HDLC để gói các gói RPR qua cơ sở hạ tầng mạng SONET/SDH

Hiện tại giao thức RPR đã được chuẩn hoá trong tiêu chuẩn IEEE 803.17 và

đã có rất nhiều hãng sản xuất thiết bị đã tung ra các sản phẩm RPR thương mại

d) MPLS/GMPLS

RPR bổ sung cho SONET/SDH bằng cách tạo một ring chia sẻ chứa nhiều node kết hợp với ghép kênh động hiệu quả Tuy nhiên, RPR chỉ là một MAC cho lớp truyền tải và không cho phép cung cấp dịch vụ nhanh Thay vào đó, một mặt phẳng điều khiển chung cho lớp dịch vụ được yêu cầu nhằm cung cấp động và nhanh các dịch vụ số liệu MPLS là một giao thức cho phép mặt phẳng điều khiển này và có thể được sử dụng để cung cấp tự động các dịch vụ điểm-điểm nhờ các giao thức báo hiệu như RSVP-TE

Chức năng cơ bản của MPLS là cho phép các bộ định tuyến/chuyển mạch thiết lập các luồng điểm-điểm (hay còn gọi là “các luồng chuyển mạch nhãn”) với các đặc tính QoS xác định qua bất kỳ mạng loại gói hay tế bào Do vậy cho phép các nhà khai thác cung cấp các dịch vụ hướng kết nối (ví dụ các dịch vụ VPN cho doanh nghiệp), xử lý lưu lượng và quản lý băng tần Khả năng tương thích với IP

và ATM cho phép thiết lập các chuyển mạch IP/ATM kết hợp nhằm vào các lý do kinh tế hay mở ra một chiến lược loại bỏ ATM

Các tiêu chuẩn MPLS đã được nghiên cứu nhưng chúng vẫn chưa được ban hành Ví dụ tiêu chuẩn MPLS hỗ trợ các VPN lớp 2 vẫn chỉ mới ở dạng draft VPN lớp 2 liên kết hoạt động (các mạng riêng ảo) rất cần thiết cho việc cung cấp các mạng riêng tới các khách hàng doanh nghiệp

MPLS được thiết kế cho các dịch vụ trong các mạng gói, nhưng một phiên bản mới là GMPLS thì lại được phát triển cho các mạng toàn quang, bao gồm các kết nối SONET/SDH, WDM và truyền trực tiếp trên sợi quang GMPLS có khả năng cấu hình các luồng lưu lượng dạng gói và cả các dạng lưu lượng khác

GMPLS đã mở ra khả năng đạt được sự hợp nhất các môi trường mạng số liệu truyền thống và quang Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều khó khăn khi triển khai GMPLS trên các mạng đã lắp đặt

e) Công nghệ IP

Sự phát triển của công nghệ IP gắn liền với sự phát triển của mạng Internet Rất nhiều vấn đề nảy sinh trong mạng Internet cần được giải quyết Sức mạnh của

Trang 27

những dự án liên quan đến Internet được đầu tư thoả đáng Ngoài ra, bản thân những nhà nghiên cứu đều sử dụng Internet trong công việc hàng ngày Đó là những nhân tố thúc đẩy Internet phát triển, hoàn thiện dịch vụ, mở rộng các tính năng mới…

Phiên bản IPv4 đã và đang được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu trong hơn 20 năm qua nhờ thiết kế linh hoạt và hiệu quả Tuy vậy với sự bùng nổ các dịch vụ và các thiết bị trên Internet hiện nay IPv4 đã bộc lộ những hạn chế Không gian địa chỉ 32 bit của Ipv4 không còn đáp ứng được sự phát triển Internet toàn cầu đến năm 2020 Ngoài ra một số yếu tố khác thúc đẩy việc thay đổi Ipv4 là ứng dụng thời gian thực và bảo mật

IETF đã tốn khá nhiều công sức và thời gian để đưa ra phiên bản mới là Ipv6 Giao thức IPv6 giữ lại nhiều đặc điểm làm nên thành công của Ipv4: hỗ trợ phi kết nối, khả năng phân đoạn, định tuyến nguồn

g) WDM

Công nghệ truyền dẫn quang ghép kênh theo bước sóng WDM là một công nghệ truyền tải quang cho phép truyền đồng thời nhiều tín hiệu quang thông qua các bước sóng khác nhau trên một sợi quang Điều này cho phép tăng năng lực truyền tải thông tin của sợi quang lên hàng chục tới hàng trăm lần (công nghệ này hiện tại đã cho phép xây dựng các hệ thống WDM có thể truyền tải đồng thời 160 bước sóng quang, mỗi bước sóng có thể truyền thông tin với tốc độ 80Gbít/s) Hiện nay công nghệ WDM được quan tâm rất nhiều trong việc lựa chọn giải pháp xây dựng mạng truyền tải quang cho mạng đô thị Thị trường thương mại đã xuất hiện rất nhiều các sản phẩm truyền dẫn quang WDM ứng dụng cho việc xây dựng mạng MAN Các hệ thống WDM thương mại này thông thường có cấu hình có thể truyền đồng thời tới 32 bước sóng với tốc độ 10Gbit/s và có thể triển khai với các cấu trúc tô-pô mạng ring, ring/mesh hoặc mesh

Công nghệ WDM cho phép xây dựng các cấu trúc mạng “xếp chồng” sử dụng các tô-pô và các kiến trúc khác nhau Ví dụ, nhà cung cấp dịch vụ có thể sử dụng WDM để mang lưu lượng TDM (như thoại) trên SONET/SDH trên một bước sóng, trong khi đó vẫn triển khai một công nghệ truyền tải dữ liệu (chẳng hạn như

GE over RPR) trên một bước sóng khác Thị trường viễn thông Hoa Kỳ hiện nay

có xu hướng triển khai các mạng WDM với mục đích cung cấp các dịch vụ bước

Trang 28

cấp các bước sóng đến các khách hàng như một phương thức thay thế dark fiber Việc sử dụng WDM trong MAN là một phương thức có hiệu quả kinh tế nhất khi cường độ trao đổi lưu lượng trên mạng lớn, tài nguyên về cáp và sợi quang còn

ít Tuy vậy nếu sử dụng công nghệ WDM chỉ đơn giản là để ghép dung lượng SONET/SDH hiện tại với các ring ngang hàng thì thực tế lại không tiết kiệm được các chi phí đầu tư (vì mỗi bước sóng thêm vào lại đòi hỏi một thiết bị đầu cuối riêng tại các nút mạng) Hơn nữa việc quản lý lại trở nên phức tạp hơn không có lợi trong việc cung cấp dịch vụ kết nối điểm-điểm Để giải quyết những vấn đề này, các nhà sản xuất cung cấp các thiết bị WDM cho mạng MAN đã đưa thêm một chức năng mới cho phép quản lý lưu lượng ở mức quang Điều đó đã dẫn đến

sự ra đời của một thế hệ các MSPP WDM mới, đây cũng là một loại sản phẩm mạng MAN chính MSPP WDM có những đóng góp quan trọng như:

- Lưu lượng được quản lý điểm-điểm tại mức quang

- Hỗ trợ được nhiều loại công nghệ và dịch vụ, cả loại hiện có và tương lai

- Cung cấp một nền tảng cho việc chuyển đổi sang một công nghệ và cấu trúc mạng mới, đặc biệt là công nghệ và cấu trúc mạng toàn quang

Rất nhiều nhà cung cấp đang đi theo xu hướng này nhờ sử dụng nhiều phương pháp thích hợp để thực hiện định khung và wrapping quang Hay nói cách khác là họ “gói” các tín hiệu khác theo cơ chế định khung-sử dụng các wrapper số cung cấp các chức năng giám sát và quản lý và ghép kênh bậc cao Mục đích của việc định khung quang trong các hệ thống WDM là để sản xuất ra một thiết bị nhận diện bước sóng, thiết bị này có thể cung cấp truyền tải cho tất cả các giao thức lớp thấp hơn khác, bao gồm cả SONET

I.3 Kết luận

Qua những phân tích trên cho thấy:

• Hiện nay xu hướng sử dụng dịch vụ của khách hàng là hướng tới những dịch vụ thân thiện với con người, cho phép thông tin theo cộng đồng, ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào Những dịch vụ có nguồn gốc Internet và dịch vụ truy nhập vô tuyến sẽ phù hợp với thói quen sinh hoạt hàng ngày của khách hàng

• Vấn đề chất lượng dịch vụ được xem là một trong những yếu tố quan trọng nhất để xác định lợi nhuận của nhà khai thác Các cấp chất lượng dịch vụ và khả năng kiểm soát chất lượng sẽ được chuyển dần về phía khách hàng

Trang 29

dịch vụ theo yêu cầu mới của khách hàng Tuy nhiên vấn đề triển khai mạng NGN như thế nào (lựa chọn công nghệ nào để thực thi?) hoàn toàn phụ thuộc vào chiến lược phát triển mạng và mô hình kinh doanh của từng nhà khai thác

• Sự phát triển cấu trúc mạng tương lai hướng đến:

- giảm số lượng bằng cách sử dụng các bộ chuyển mạch/định tuyến và nhiều tuyến kết nối trực tiếp,

- hợp nhất các mạng con để giảm số lượng hop/kết nối,

- thúc đẩy sự phát triển của hạ tầng quang,

• Tích hợp công nghệ IP và mạng quang WDM là xu hướng triển khai mạng NGN trên thế giới

• Để giải quyết những khó khăn hiện nay của mạng truyền tải hiện nay được xây dựng trên nền SONET/SDH cũ, đáp ứng những nhu cầu về phát triển dịch vụ, các nhà cung cấp cơ sở hạ tầng mạng đã tìm đến những giải pháp công nghệ mới Đó là: SONET/SDH-NG, Ethernet, RPR, WDM, IP, chuyển mạch MPLS/ GMPLS Tất cả các các công nghệ mới này đều rất khác nhau cả về phạm vi và các phương thức mà chúng sẽ được sử dụng Các nhà khai thác mạng có xu hướng kết hợp một số loại công nghệ trên cùng một mạng của họ và phần lớn các trường hợp được tổng kết đã

sử dụng các kiến trúc hỗn hợp, ít nhất là trong giai đoạn chuyển đổi nhằm: Cắt giảm các chi phí, giảm thời gian cung cấp, đối phó với sự tăng nhanh chóng lưu lượng gói, tăng lợi nhuận từ các dịch vụ mới, đẩy mạnh hiệu suất khai thác mạng

Trang 30

THẾ HỆ MỚI 1

I.1. Xu hướng phát triển của các dịch vụ viễn thông 1

I.2. Xu hướng phát triển của công nghệ truyền tải quang: 4

I.2.1 Sự phát triển của cấu trúc mạng 4I.2.2 Xu hướng phát triển công nghệ truyền tải quang 10

I.3. Kết luận 18

Trang 31

Chương II:

HIỆN TRẠNG MẠNG TRUYỀN TẢI QUANG CỦA VNPT

Hệ thống truyền dẫn quang của VNPT phân 3 cấp :

- Cấp quốc tế: hệ thống truyền dẫn quốc tế do công ty VTI quản lý, vận hành và khai thác

- Cấp quốc gia (liên tỉnh): bao gồm các tuyến truyền dẫn đường trục, tuyến truyền dẫn liên tỉnh cấp vùng

- Cấp nội tỉnh: bao gồm các tuyến truyền dẫn nội tỉnh do các Bưu điện tỉnh, thành phố quản lý, vận hành và khai thác

II.1 Mạng truyền dẫn quang quốc tế:

Dưới đây trình bày tổng quan về các hệ thống cáp biển trong cấu trúc tổng thể mạng viễn thông quốc tế

Hồng Kông Thái land

Tốc độ truyền dẫn 1 x 560

MHz

1 x 560 MHz Dung lượng dự kiến 128 E1 128 E1

Dung lượng thiết kế 256 E1 256 E1

• Tuyến cáp quang CSC

Tuyến cáp quang CSC đã được đưa vào khai thác từ 5/2000 Tuyến cáp này cung cấp dung lượng liên lạc quốc tế với các nước trong khu vực Ngoài ra tuyến CSC phần Việt nam còn được thiết kế để cung cấp dung lượng cho liên lạc trong nước và là hệ thống cáp quan trọng dùng cho khôi phục các hệ thống cáp quang khác như TVH và SMW-3

Trang 32

Thông số

Tốc độ truyền dẫn 2,5 Gb/s

Dung lượng liên lạc quốc tế 2 x STM-1

Dung lượng liên lạc nội địa 4 x STM-1

Dung lượng dành cho phục hồi 2 x STM-1

• Tuyến cáp quang biển SEA-ME-WE 3

Tuyến cáp quang biển SEA-ME-WE 3 nối liền Việt nam với hơn 30 nước trên thế giới trải dài từ Nhật bản tới Châu Âu sử dụng công nghệ ghép bước sóng quang (WDM) Hệ thống SMW-3 hiện đang khai thác 16 bước sóng trên hai đôi sợi với tốc độ truyền dẫn trên mỗi bước sóng là 2.5Gb/s cung cấp dung lượng viễn thông quốc tế chất lượng cao đáp ứng các yêu cầu khác nhau vào đầu thế kỷ

Thông số

Tốc độ truyền dẫn trục chính

40 Gb/s (16 bước sóng) Dung lượng truyền dẫn ban

đầu rẽ vào Việt nam 4 x STM-16 (2,5 Gb/s)

Hệ thống gồm 35 điểm cập bờ từ Nhật (Okinawa) tới Đức (Norden) Điểm cập

bờ của Việt nam là tại Đà nẵng

• Tuyến cáp sợi quang TP Hồ Chí Minh - Phnompenh (Cam-pu-chia)

Tuyến cáp quang thành phố HCM - Phnompenh, theo thoả thuận giữa hai nước, đã được xây dựng và đưa vào khai thác từ 1999 Dung lượng ban đầu là tuyến 155Mb/s

• Ngoài ra còn có các tuyến cáp biển kéo dài như tuyến TPC-5 và tuyến

China-US

Hiện nay, việc truyền tải lưu lượng giữa các Trung tâm VTQT khu vực được thực hiện qua tuyến cáp quang Bắc-Nam do VTN cấp Sau khi các hệ thống cáp SMW3 và CSC được đưa vào khai thác, tuyến trục Bắc-Nam còn cấp dung lượng phục vụ cho mục đích phục hồi giữa các tuyến TVH, SMW3 và CSC

* Đánh giá khả năng đáp ứng yêu cầu NGN

- Việc thiết lập kết nối ở mức quốc tế phụ thuộc vào các nước khác nhau;

- Có nhiều hướng kết nối với quốc tế, cho phép duy trì cao được khả năng bảo vệ luồng lưu lượng;

Trang 33

- Cung cấp các giao diện PDH và SDH theo cấu trúc ETSI: E1, E3,DS3, E4

và STM-1/4 Tuy nhiên các giao diện này chỉ tối ưu cho TDM Có thể cung cấp các kênh trong suốt với tốc độ VC-4 cho lưu lượng gói

- Các kết nối quốc tế có thể đi qua các hệ thống truyền dẫn quang đường trục

và quốc tế phần trong nước sử dụng công nghệ SDH theo chuẩn ETSI như phần sau

II.2 Mạng truyền dẫn quang quốc gia

Mạng liên tỉnh chủ yếu là các hệ thống cáp quang, một phần nhỏ là các hệ thống vô tuyến Trong đó mạng cáp quang liên tỉnh gồm:

- Tuyến trục chính Bắc-Nam

- Các tuyến xuất phát từ Hà Nội

- Các tuyến xuất phát từ TP Hồ Chí Minh

- Các tuyến khác

Tuyến trục chính Bắc Nam sử dụng hai hệ thống : Hệ thống cũ SDH 2,5Gbps

và hệ thống ghép kênh theo bước sóng WDM

II.3.1 Tuyến truyền dẫn quang đường trục bắc nam SDH 2,5G

Hai tuyến nầy hình thành 4 mạch ring với dung lượng 8 STM1 (504 E1): (1)

Hà Nội – Hà Tĩnh, (2) Hà Tĩnh - Đà Nẵng, (3) Đà Nẵng – Quy Nhơn (và Đà Nẵng – Pleiku), (4) Qui Nhơn (và Pleiku) - TP Hồ Chí Minh

Một tuyến cáp quang nữa dọc theo quốc lộ 1A hình thành do ngành Bưu điện đầu tư cho các Bưu điện địa phương theo địa phận từng tỉnh Trong đó có sợi quang dành cho viễn thông liên tỉnh

II.3.1.2 Một số nhận xét, đánh giá:

+ Chế độ bảo vệ:

- Mỗi Ring được bảo vệ theo kiểu MS SPRING (MS-BSHR) và hoạt động của mỗi Ring độc lập nhau

Trang 34

- Kết nối giữa các Ring tại HTH và DNG theo kiểu Back-to-Back Các luồng giữa hai nút trên một Ring được bảo vệ dùng chung mức đoạn ghép kênh phân tập cáp theo cơ chế riêng của mỗi RING Do kết nối giữa các Ring thông qua 2 ADM đấu cứng nên khi có sự cố ở một trong hai ADM này hoặc kết nối giữa chúng, thì các luồng giữa các nút nằm trên 2 Ring khác nhau sẽ không được bảo vệ

- Mỗi luồng trên Ring được bảo vệ theo cơ chế bảo vệ dùng chung của từng Ring riêng rẽ Hiện nay, các luồng hoàn toàn được bảo vệ Do đó dung lượng của mỗi Ring tối đa là STM-16 (mỗi hướng sử dụng 8 STM-1 cho lưu lượng chính, 8 STM-1 dùng để dự phòng cho 8 STM-1 cho hướng ngược lại) và dung lượng của hệ thống đã được sử dụng hết 16 STM-1 Tuy nhiên, hệ thống cho phép sử dụng 8x STM-1 dự phòng để tải lưu lượng phụ (không được bảo vệ) khi Ring làm việc bình thường Lưu lượng phụ này có thể dùng cho thuê hoặc kết hợp với các luồng có bảo vệ để tải lưu lượng không cần yêu cầu cao như Best-effort

- Tuyến đường trục SDH là nơi có lưu lượng cao, quan trọng nên cấu hình Ring hiện tại là hợp lý để bảo vệ toàn bộ lưu lượng khi có một sự cố trên cáp hoặc tại một nút nào đó

- Cho đến nay, nếu xét tổng quát các yếu tố đối với mạng đường trục thì kiểu

MS SPRING có nhiều ưu điểm Do vậy kiểu bảo vệ MS SPRING 2 sợi trên tuyến đường trục bắc- nam là hợp lý với cấu hình hiện tại

- Mạng đường trục là nơi cần phải bảo vệ cho toàn bộ lưu lượng kết nối giữa các Ring, không chỉ trong trường hợp sự cố tại một nút kết nối mà cả trong trường hợp trên mỗi Ring đồng thời xuất hiện một sự cố

Trang 35

- Tuy vậy hiện nay NRM 6.0 mới chỉ có khả năng quản lý các 16X và 1X của tuyến trục mà chưa có khả năng quản lý các thiết bị khác như TN-1C, TN-1P các phần tử mạng mới như WDM, LA, DXC , các thiết bị của những hãng khác

TN-+ Đánh giá:

- Hệ thống đường trục Bắc –nam gồm 4 Ring BSHR/2 tốc độ STM-16 có giao diện STM-1 ( cấu trúc VC_4) Sử dụng các thiết bị TN-1x để tách ghép ra luồng E1 kết nối các tổng đài GW và giữa các tổng đài Toll

- Cấu trúc tín hiệu theo cấu trúc ghép kênh của ETSI

- Kết nối giữa các Ring trên cơ sở 2 ADM đấu lưng nhau và thiết lập cứng;

- Chế độ bảo vệ dùng chung ở mức đoạn ghép kênh có khả năng hồi phục mạng nhanh (<50ms) khi có một sự cố ngoài nút kết nối thoả mãn yêu cầu về tính sẵn sàng mức nhà khai thác;

- Thiết lập luồng trên cơ sở hệ thống NMS thông qua nhà khai thác, chưa có khả năng cung cấp luồng một cách tự động;

- Với cấu hình RING loại BSHR cho phép sử dụng hiệu quả băng tần hơn loại USHR, tuy nhiên cần có phương án phân bổ luồng hợp lý

- Giao diện nhánh có thể đáp ứng ở mức E1,E3,DS3,E4,STM-1 (VC-4) Theo thông tin của nhà SX thì họ thiết bị loại này chưa có khả năng nâng cấp lên để phù hợp với các công nghệ gói POS tốc độ cao

- Kết nối với các hệ thống khác (chuyển mạch TDM, IP Router) chủ yếu ở mức PDH

- Cung cấp chất lượng của kênh đảm bảo BER=10-10

- Không có khả năng cung cấp sự phân biệt dịch vụ/ mức bảo vệ cho các luồng khác nhau, dung lượng hiệu dụng của hệ thống chỉ đạt tối đa 50%, do đó dẫn đến chi phí của kênh thuê cao

- Quản lý và điều khiển hệ thống chưa có khả năng kết nối với các sản phẩm hãng khác

II.3.2 Tuyến truyền dẫn quang đường trục WDM

Mạng trục WDM có dung lượng hệ thống: thiết kế cho 32 bước sóng x 2.5Gbt/s , hiện nay ghép 8 bước sóng (sử dụng băng c ) ; bảo vệ 1+1 SNCP trên 2 tuyến QL.1A và 500KV/HCM kết hợp cáp chôn đường HCM Hiện nay, dung lượng xen rẽ các luồng E1,E4, STM-1/4/16 sử dụng các thiết bị NG-SDH

Trang 36

Cấu hình tuyến cáp quang đường trục WDM sử dụng sản phẩm, giải pháp của Nortel:

Thiết bị hệ thống mạng quang đường trục WDM sử dụng dòng sản phẩm Optera 1600LH do Nortel cung cấp Sau đây sẽ giới thiệu khả năng thiết bị và cấu hình triển khai trên thực tế

Khả năng của dòng thiết bị WDM của Nortel:

a OPTera Long Haul 1600 Optical Line System

Tính năng:

OPTera Long Haul 1600 là một hệ thống quang đa dịch vụ thực hiện truyền tải các dịch vụ thoại và số liệu qua khoảng cách dài với độ tin cậy và chất kượng cao Hệ thống này có thể được trang bị khuếch đại Ramam tiên tiến để tăng quỹ công suất của tuyến và giảm trạm lặp cần lắp đặt cho cả topo đơn hướng và song hướng; cũng như sự linh hoạt và dung lượng cao của thiết bị OADM

Năng lực

OPTera Long Haul 1600 kết hợp với modul khuếch đại quang MOR có khả năng mở rộng dung lượng tới 1,6 Tbit/s tính cả 2 hướng Thiết bị này cung cấp những điểm truy nhập trong suốt và mở qua dải giao diện từ 1,25 Gbit/s tới 10 Gbit/s

OPTera Long Haul 1600 Wavelength OADM cung cấp khả năng mở rộng bằng các kênh truy nhập tốc độ thấp dưới 1,25 Gbit/s Kết hợp với đặc tính FEC

có thể tăng chất lượng hệ thống BER cỡ 10-15 Khả năng mở rộng bước sóng có thể đạt (C&L band) :

80 x 10 Gbit/s

320 x 2.5 Gbit/s

640 x 1.25 Gbit/s (Gigabit Ethernet)

b - OPTera Connect DX Optical Switch

Tính năng

Dung lượng: 65 tới 140 Gbit/s

Cấp nhóm lưu lượng (grooming): VC4 tới VC4-64c

Hỗ trợ giao diện

Giao diện quang đa dạng từ 155Mbit/s, 622 Mbit/s, 2,5 Gbit/s, 10 Gbit/s và Gigabit Ethernet

Trang 37

Giao diện 10 Gbit/s: 10 Gbit/s DWDM, 10 Gbit/s cho khoảng cách ngắn, trung bình và dài

Giao diện 2,5 Gbit/s cho khoảng cách ngắn, trung bình và dài

Giao diện 622 Mbit/s cho khoảng cách trung bình

Giao diện 155 Mbit/s cho khoảng cach trung bình và giao diện điện

Giao diện Ethernet kép, gồm SX và LX

Dung lượng cổng

Giao diện 10 Gbit/s: 8 cổng

Giao diện 2,5 Gbit/s: từ 16 cho tới 56 cổng

Giao diện Gigabit Ethernet: 32 cổng

Giao diện 622 Mbit/s: 64 cho tới 160 cổng

Giao diện 155 Mbit/s: 64 cho tới 256 cổng

Cấu hình mạng: 2/4 Fiber BLSR/MS-SPRing; UPSR/SNCP; Linear 1+1, 0:1;

Head End Ring Switching(Transoceanic)- module có chức năng chuyển mạch bảo

vệ lớp quang 1+1 hiệu quả đối với tuyến có cự ly dài; tổ hợp các cấu hình trên cùng nền thiết bị

Trang 39

Hệ thống quản lý mạng: Hệ thống quản lý Preside cho phép quản lý tập trung

các thiết bị mạng quang lớp WDM, OXC và NG-SDH Hệ điều hành mạng OSS

hỗ trợ tự khám phá topo mạng theo chuẩn Pre-ASTN

Cấu hình triển khai

Cấu hình hệ thống

Cấu hình hệ thống WDM được triển khai với cơ chế bảo vệ SNCP ở lớp OXC/SDH trên từng Ring

− Cấu trúc của hệ thống bao gồm 5 vòng ring nối móc xích với nhau

− Các điểm nối chéo, và xen/rẽ khống chế: Hà Nội, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Buôn Mê Thuật, Bình Dương, Cần Thơ

− Sử dụng các tuyến cáp quang trên quốc lộ 1A, tuyến cáp quang trên đường HCM

+ 2 modul ghép kênh WDM, mỗi modul có 10 bước sóng

+ Modul chuyển đổi bước sóng (WT) -transponder gồm 6 luồng 2.5G/s chuyển đổi bước sóng 1310nm sang bước sóng của hệ thống WDM

- Phần thiết bị đấu nối chéo/xen rẽ kênh

+ Chuyển mạch quang Grooming- Optera Connect DX (OXC-DX) có trang

bị Modul chuyển mạch DX140 - dung lượng 140G, các giao diện quang phía đường truyền là STM-16 và phía nhánh là STM-1 và STM-16

+ Thiết bị truyền dẫn quang SDH thế hệ sau họ OM4000: OM4200, OM4150

và TN4T để xen rẽ xuống các luồng tốc độ thấp hơn như STM-4, STM-1, 140Mbit/s và E1

 Kết luận

- Hiện tại dung lượng truyền dẫn mạng quang đường trục của VNPT đáp ứng

cơ bản yêu cầu lưu lượng của các loại hình dịch vụ viễn thông hiện tại và bắt đầu thiếu đang tiến hành mở rộng

Trang 40

- Với định hướng phát triển mạng truyền tải quang theo hướng NGN Yêu cầu đặt ra đối với các dự án phát triển mạng truyền dẫn quang đường trục là phải lựa chọn được công nghệ truyền dẫn thích hợp, đảm bảo khả năng kết nối thống nhất giữa các tuyến, hệ thống

- Các thiết bị ADM hoặc DX phải có các chức năng mềm trong việc quản lý kết nối (luồng, bước sóng) (khả năng xen /rẽ luồng hoặc bước sóng mềm dẻo, hỗ trợ kết nối, bảo vệ nhiều loại cấu hình Ring, tốc độ khác nhau), có khả năng cung cấp các giao diện kết nối với các hệ thống định tuyến/chuyển mạch thế hệ mới (ATM, IP,MPLS, Gigabit Ethernet….)

II.3.3 Tuyến Liên tỉnh cấp vùng

Mạng liên tỉnh cấp vùng được cấu thành từ các tuyến cáp quang liên tỉnh nối

về các trung tâm lớn Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh

II.3.3.1 Các hệ thống xuất phát từ Hà nội:

• Mạng Ring Hà Nội-Hải dương- Hải Phòng-Quảng Ninh:

• Tuyến Hà Nội-Vĩnh Yên-Việt Trì-Yên Bái-Tuyên Quang -Bắc Cạn- Thái Nguyên

• Tuyến Hà Nội-Hải Dương-Hưng Yên-Thái Bình – Nam định

• Tuyến CSC phần phục vụ cho mạng liên tỉnh

II.3.3.2 Các tuyến cáp quang liên tỉnh xuất phát từ Tp.HCM

• Tuyến Tp Hồ Chí Minh-Biên Hoà-Vũng Tàu

• Mạng ring Tp Hồ Chí Minh-Gò Dầu-Tây Ninh-Bình Dương-TP HCM

• Tuyến Tp Hồ Chí Minh-Long An-Mỹ Tho-Cao Lãnh-Cần Thơ

• Mạng ring Tp Hồ Chí Minh-Bảo lộc-Đà Lạt-Phan Rang-Qui Pleiku-Dacklac-Bình Phước-Bình Dương –TP HCM

Nhơn-II.3.3.3 Các tuyến cáp quang khác

• Tuyến Cần Thơ-Long xuyên -Rạch Giá

• Tuyến Cần Thơ-Sóc Trăng-Cà Mau

II.3.3.4 Đánh giá

- Các hệ thống truyền dẫn liên tỉnh cấp vùng (bắc, trung, nam) trải dài hầu hết qua các tỉnh với cấu hình Ring tốc độ STM-4/16 kết nối giữa các tổng đài Toll

Ngày đăng: 14/02/2021, 11:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w