5559 12 121522 28 3333334147474952535457 Khái niệm thương mại dịch vụ Lý luận chung về dịch vụ thương mại pháp lý và pháp luật về dịch vụ thương mại pháp lý Khái niệm dịch vụ thương mại
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình DươngASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
ASEM Diễn đàn hợp tác Á -Â u
BTA Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
LLS 2006 Luật Luật sư 2006
LCC 2006 Luật Công chứng 2006
LTTTM 2010 Luật Trọng tài Thương mại 2010
WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 45559
12 121522
28
3333334147474952535457
Khái niệm thương mại dịch vụ
Lý luận chung về dịch vụ thương mại pháp lý và pháp
luật về dịch vụ thương mại pháp lý
Khái niệm dịch vụ thương mại pháp lý
Phân loại dịch vụ thương mại pháp lý
Đặc điểm của dịch vụ thương mại pháp lý
Quá trình hình thành phát triển pháp luật dịch vụ thương mại
Hình thức tổ chức kinh doanh dịch vụ thương mại pháp lý
Nội dung cụ thể các dịch vụ thương mại pháp lỷ
Dịch vụ tư vấn pháp luật
Dịch vụ tranh tụng
Dịch vụ đại diện ngoài tòa án
Dịch vụ trọng tài giải quyết tranh chấp thương mại
Dịch vụ công chứng, thừa phát lại
Hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại pháp lý
Cam kết của Việt Nam về mở cửa thị trường dịch vụ
thương mại pháp lý và các quy định về tổ chức luật sư
nước ngoài hoạt động ở Việt Nam
Quy định về hành nghề của tổ chức hành nghề luật sư nước
ngoài, của luật sư nước ngoài tại Việt Nam
Trang 5Phải có quan điểm nhất quán coi dịch vụ pháp lý là dịch vụ thương mại
Việc hoàn thiện pháp luật về dịch vụ thương mại pháp lý phải đáp ứng nhu cầu hội nhập, phù hợp với các cam kết mở cửa thị trường
Hoàn thiện pháp luật về dịch vụ thương mại pháp lý phải phù hợp với đặc điểm phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa pháp lý của Việt Nam
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
áp dụng pháp luật về dịch vụ thương mại pháp lý
Giải pháp sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy định pháp luật
về dịch vụ thương mại pháp lýMột số giải pháp về hoàn thiện thiết chế nhằm đảm bảo hiệu quả thực hiện pháp luật về dịch vụ thương mại pháp lý
KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6LỜ I M Ở ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đánh dấu một bước thay đổi mạnh mẽ trong hệ thống thương mại thế giới, khi hệ thống các hiệp định, quy định mang tính đa phương đã trở thành một nền tảng chung cho quan hệ thương mại giữa các nước trên thế giới Với những thành công trong việc ký kết hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ, gia nhập và hoạt động tại các diễn đàn khu vực như ASEAN, AFTA, APEC, ASEM, và đặc biệt là WTO, Việt Nam đang hòa nhập sâu rộng vào nền kinh
tế khu vực và thế giới Quá trình quốc tế hóa nền kinh tế đã thúc đẩy các hoạt động thương mại quốc tế của dịch vụ pháp lý phát triển hơn Các luật sư, nhà
tư vấn pháp luật ngày càng đối mặt nhiều hơn với các giao dịch liên quan tới khách hàng của nhiều quốc gia và các yêu cầu tư vấn liên quan đến hệ thống pháp luật của nhiều bên Các tranh chấp trong kinh doanh, các quan hệ về đầu
tư sẽ nhiều hơn, phức tạp hom, những hoạt động này lúc đó không thể không cần đến sự hỗ trợ, tư vấn của các luật sư, nhà tư vấn pháp luật
Phạm vi các dịch vụ mà luật sư cung cấp đang ngày càng đa dạng, phong phú, trong khi đó, ở Việt Nam, chỉ từ khi Pháp lệnh Luật sư 2001 ra đời, hoạt động của luật sư trong đó có cung cấp các dịch vụ pháp lý mới được pháp điển hóa, phù hợp hơn với điều kiện kinh tế, xã hội Tuy nhiên, Pháp lệnh Luật sư vẫn còn nhiều điểm bất cập, hạn chế như công ty Luật họp danh chỉ được thực hiện dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tư vấn pháp luật và dịch vụ pháp lý khác mà không được thực hiện dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tố tụng;
và điểm bất cập lớn là chưa quy định rõ ràng khái niệm “dịch vụ pháp lý”, Bộ
Tư pháp và Bộ Kế hoạch và Đầu tư chưa thống nhất được thế nào là hành nghề dịch vụ pháp lý? Luật Luật sự 2006 được ban hành, góp phần hoàn thiện
hệ thống pháp luật, thống nhất điều chỉnh dịch vụ pháp lý, điều chỉnh toàn diện hơn các hoạt động liên quan đến luật sư, nghề luật nói chung và các dịch
vụ pháp lý nói riêng
Trang 7Tuy nhiên, “tính thương mại” của nghề luật sư, đặc biệt là trong việc cung cấp các dịch vụ pháp lý; các quy định của pháp luật về “mua và bán” dịch vụ pháp lý còn nhiều quan niệm khác nhau, đặc biệt là khi Việt Nam đã
là thành viên của WTO với những cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ pháp
lý Do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về dịch vụ thương mại pháp lý - những vấn đề lý luận và thực tiễn ” với mong muốn có thể nghiên cứu và trình
bày ý tưởng của mình về các vấn đề trên
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở phạm vi thương mại dịch vụ nói chung, đã có nhiều đề tài nghiên cứu, nhất là khi Việt Nam đã là thành viên WTO Một số luận văn, đề tài, bài viết
nghiên cứu tiêu biểu như: Luận văn thạc sỹ Luật học “Nghiên cứu chế định thương mại dịch vụ của tổ chức thương mại thế giới và các giải pháp hoàn thiện pháp luật thương mại Việt Nam từ yêu cầu của việc Việt Nam gia nhập WTO ” - Nguyễn Văn Cảnh năm 2004; Đề tài nghiên cứu "Cơ sở khoa học của việc xây dựng nội dung giảng dạy pháp luật về thương mại dịch vụ bậc cử nhăn ở Trường Đại học Luật Hà Nội “ - tập thể giảng viên khoa Pháp luật Kinh
tế Đại học Luật Hà Nội - chủ nhiệm đề tài TS Đồng Ngọc Ba, năm 2007; Một
số bài viết trong các tạp chí, như bài viết “Tổng quan pháp luật Việt Nam về thương mại dịch vụ và cam kết mở cửa thị trường dịch vụ khi gia nhập WTO ” -
TS Bùi Ngọc Cường ừong tạp chí Luật học số 06/2007, bài viết ‘ỀVỉệt Nam gia nhập WTO và vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ” - TS Hoàng
Phước Hiệp trong tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 01/2007
Đối với dịch vụ thương mại pháp lý nói riêng, hiện nay cũng chỉ có một
số bài viết như ”Dịch vụ pháp ỉỷ và nhu cầu trong nền kinh tế thị trường” -
TS Nguyễn Văn Tuân trong tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề pháp
luật về Doanh nghiệp 2005; bài viết “Từng bước xây dựng quan niệm về dịch
vụ pháp lỷ trong hành nghề luật sư một số vẩn đề lý luận và thực tiễn” - TS
Phan Trung Hoài trong tạp chí Nhà nước và Pháp Luật số 02/2007
Các bài viết trên đã đề cập tới các vấn đề chung nhất của dịch vụ pháp
lý, qua quá trình tìm tòi, nghiên cứu, tác giả thấy rằng việc làm sáng tỏ đề tài
“Pháp luật về dịch vụ thương mại pháp lý - những vẩn đề lý ỉuận và thực
Trang 10CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐÊ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỊCH v ụ
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI DỊCH v ụ
1.1.1 Khái niêm dich vu• • •
Trong vòng hai, ba thập kỷ vừa qua, các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách ở các quốc gia đã ngày càng chú ý nhiều hơn tới sự đóng góp của các ngành dịch vụ đến quá trình phát triển kinh tế Mặc dù khác nhau về
cơ cấu sản xuất và việc làm, dù là phát triển hay đang phát triển, các nền kinh
tế hiện đại đều có một đặc điểm chung là tỷ trọng của dịch vụ ngày càng tăng, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việc cung cấp đầy đủ các dịch vụ ngày càng được thừa nhận là một trong những điều kiện tiên quyết cho quá trình phát triển, thay vì là kết quả của quá trình này Ví dụ như các dịch vụ phân phối, hỗ trợ thương mại, bảo hiểm, tiếp thị và các dịch vụ kinh doanh khác hỗ trợ cho sự phát triển lành mạnh của các hoạt động công nghiệp [13]
Mặc dù với đóng góp quan trọng như vậy, hiện nay vẫn chưa có một khái niệm định nghĩa thống nhất về dịch vụ Ban đầu, một số khái niệm cho rằng dịch vụ là một sản phẩm vô hình, còn hàng hoá là sản phầm hữu hình Theo C.Mác, “dịch vụ là một hoạt động mang lại lợi ích và lợi ích đó có thể là hữu hình hay vô hình” Điều này phù hợp với hầu hết các loại dịch vụ, tuy nhiên, còn nhiều người nghi vấn là khó có thể giải thích một cách cặn kẽ, thấu đáo nếu chỉ căn cứ vào đặc tính vô hình hay hữu hình của hàng hoá và dịch
Vào thập niên 30 của thế kỷ XX, Allan Fisher và Colin Clark là những người đầu tiên đề xuất việc chia nền kinh tế thành ba ngành [17]: Ngành thứ
nhất - nông nghiệp, lâm nghiệp và thicỷ sản', Ngành thứ hai - công nghiệp; và Ngành thứ ba - dịch vụ Clark định nghĩa dịch vụ theo nghĩa rất rộng là “các
Định nghĩa này đã phản ánh việc từ lâu ngành thứ ba, tức là ngành dịch vụ,
Trang 11Định nghĩa về dịch vụ do T.p Hill, nhà kinh tế học người Anh đưa ra năm 1977 có ảnh hưởng khá lớn tới các nhà nghiên cứu về lĩnh vực này Theo
Hill, “dịch vụ là sự thay đổi về điều kiện hay trạng thái của người hay hàng hoá thuộc sở hữu của một chủ thể kinh tế nào đó do sự tác động của chủ thể kỉnh tế khác với sự đồng ý trước của người hay chủ thể kỉnh tế ban đầu”
Điểm mới đáng quan tâm trong giải thích này là ở chỗ nó xuất phát từ nội dung kinh tế của hoạt động dịch vụ là chủ yếu chử không căn cứ vào hình thái vật lý hay đặc tính thời gian và không gian vốn có của hoạt động dịch vụ để giải thích [11] Ngoài ra, định nghĩa trên cũng nhấn mạnh tới sự khác biệt giữa sản xuất dịch vụ và sản phẩm dịch vụ Sản phẩm của một hoạt động dịch
vụ là sự thay đổi về điều kiện hay trạng thái của người hoặc hàng hoá bị tác động, trong khi quá trình sản xuất dịch vụ là hoạt động tác động tới người hoặc hàng hoá thuộc sở hữu của một chủ thể kinh tế nào đó
Một số tổ chức quốc tế như Liên Hiệp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế cho đến nay vẫn chưa đưa ra được cách hiểu nhất quán về khái niệm dịch vụ Ví dụ như Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) cũng không nêu lên một khái niệm cụ thể về dịch vụ Theo Điều I,
khoản 3b của GATS viết rằng: “Dịch vụ ” bao gồm bất kỳ dịch vụ nào trong bất kỳ lĩnh vực nào, ngoại trừ dịch vụ được cung cấp trong thi hành thẩm quyền của Chính phủ Sau đó khoản 3c cho biết “Dịch vụ được cung cấp
Trang 12trong thi hành thẩm quyền của Chính phủ ” là bất cứ dịch vụ nào được cung cấp không trên cơ sở thương mại, cũng như không trên cơ sở cạnh tranh với một hoặc nhiều người cung cấp dịch vụ Như vậy, từ quy định của GATS ta
chỉ biết được phạm vi dịch vụ điều chỉnh bởi hiệp định này chứ không hề có được một khái niệm thực sự về dịch vụ, và quan niệm về dịch vụ trong hiệp
định GATS là các dịch vụ mang tỉnh thương mại.
Và để tạo cách hiểu thống nhất cho các quốc gia, lãnh thổ tham gia vào các hiệp định đa phương, các tổ chức quốc tế đã tiếp cận khái niệm dịch vụ bằng cách xác định phạm vi những lĩnh vực được coi là dịch vụ, sau đó liệt kê danh mục phân loại các ngành địch vụ
Ở Việt Nam cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau về dịch vụ Theo
từ điển Bách Khoa Toàn thư Việt Nam, dịch vụ là những hoạt động phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt Và dựa vào nhu cầu và tuỳ theo sự phân công lao động mà có nhiều loại dịch vụ: Dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh; Dịch vụ phục vụ sinh hoạt công cộng; Dịch vụ
cá nhân dưới hình thức những dịch vụ gia đình; những dịch vụ tinh thần dựa trên những nghiệp vụ đòi hỏi khả năng đặc biệt (hoạt động nghiên cửu, môi giới, quảng cáo); những dịch vụ liên quan đến đời sống và sinh hoạt công cộng (sức khoẻ, giáo dục, giải trí); những dịch vụ về chỗ ở, w [23] Cách giải thích này còn chung chung và không rõ bản chất của dịch vụ Còn quan niệm khác cho rằng dịch vụ là các lao động của con người được kết tinh trong giá trị của kết quả hay trong giá trị của các loại sản phẩm vô hình và không thể nắm bắt được [9, tr 14]
Tuy nhiên, chưa có định nghĩa nào thật chính xác về dịch vụ, để phân biệt dịch vụ với hàng hóa, có thể dựa vào những đặc trưng của dịch vụ so với hàng hóa (mang tính tương đối)
Thứ nhất, dịch vụ cổ tỉnh chất vô hình Điều này thể hiện ở chỗ dịch
vụ là những thứ mà khi đem bán không thể roi vào chân bạn được [24] Người ta không thể nhìn thấy, thử mùi vị, nghe hay ngửi chúng trước khi tiêu
• dùng Khách hàng không thể biết chất lượng phục vụ của một khách sạn nếu không đến đó thử đặt phòng hay học viên không thể biết được chất lượng
Trang 13giảng dạy nếu không trực tiếp tham dự lớp học Người tiêu dùng chỉ có thể tìm kiếm các dấu hiệu chứng tỏ chất lượng dịch vụ cung ứng đó như: thương hiệu, danh tiếng người cung ứng, biểu tượng, giá cả hay qua sự mô tả về dịch
vụ đó của các khách hàng đã sử dụng dịch vụ hoặc thông qua thông tin quảng cáo Chính vì vậy, việc lượng hoá, thống kê, đánh giá chất lượng và quy mô cung cấp dịch vụ của một công ty, nếu xét ở tầm vi mô và của một quốc gia, nếu xét ở tầm vĩ mô, trở nên khó khăn hơn so với hàng hoá hữu hình rất nhiều Tuy nhiên, vẫn có trường hợp ngoại lệ, có một số loại dịch vụ là hữu hình, ví dụ báo cáo của nhà tư vấn được ghi trên đĩa mềm Trong khi đó có một số loại hàng hoá lại có tính vô hình, ví dụ quyền sở hữu trí tuệ
Thứ hai, dịch vụ cố tính không đồng nhất và khỏ xác định chất lượng
Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào người cung cấp chúng còn việc không đồng nhất của chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào hoản cảnh tạo ra dịch vụ như thời gian, địa điểm mặc dù cùng là một người cung cấp Ví dụ chất lượng của một
ca phẫu thuật thẩm mỹ có thể thành công với khách hàng này nhưng không thành công với một khách hàng khác bởi mức độ chất lượng của nó phụ thuộc tay nghề của bác sỹ thực hiện, các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ và còn cả bởi các yếu tố tâm lý của họ, điều tương tự cũng có thể diễn ra đối với chất lượng đào tạo của một lớp học
Thứ ba, dịch vụ có tỉnh không thể tách rời và không ỉưu trữ được Quá
trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời Một dịch vụ được tiêu dùng khi nó đang được tạo ra và khi ngừng quá trình sản xuất có nghĩa là việc tiêu dùng đó cũng ngừng lại Khác với sản xuất vật chất, sản xuất dịch vụ không thể sản xuất sẵn rồi lưu vào kho chờ tiêu thụ Khi tính toán sản lượng của nền kinh tế, Ban phân tích kinh tế Bộ Thương mại Hoa Kỳ cũng đã nêu
“các ngành dịch vụ là những ngành mà sản phẩm của nó không thể được lưu trữ và được tiêu dùng tại thời điểm và nơi diễn ra hoạt động mua bán” [18, ứ 762]
Thứ tư, là cách thức bảo hộ các ngành dịch vụ nội địa.
Các ngành công nghiệp sản xuất hàng hoá nói chung thường được bảo
hộ bằng cách đánh thuế hoặc áp dụng các biện pháp phi thuế quan tại cửa
Trang 14khẩu Còn đối với các ngành dịch vụ, do bản chất vô hình của dịch vụ và vì nhiều giao dịch dịch vụ không cần sự dịch chuyển qua biên giới, nên không thể bảo hộ các ngành dịch vụ bằng các biện pháp áp dụng tại cửa khẩu Các ngành công nghiêp dịch vụ chủ yếu được bảo hộ bằng pháp luật quốc gia về đầu tư trực tiếp nước ngoài Ví dụ, cấm các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài (ngân hàng, công ty bảo hiểm) đầu tư vào hoặc thành lập chi nhánh để cung cấp dịch vụ; hoặc không áp dụng nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc, nguyên tắc đãi ngộ quốc gia
Tuy nhiên, Hầu như trong mọi hoạt động cung ứng dịch vụ đều có sự xuất hiện của các sản phẩm hữu hình như là các yếu tố phụ trợ Cũng như vậy, khi tiến hành mua bán trao đổi bất kỳ hàng hoá hữu hình nào cũng đều cần đến các dịch vụ hỗ trợ Người ta thấy rằng sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa các hoạt động kinh tế cũng như tính phức tạp của chúng làm cho việc phân biệt giữa các ngành kinh tế trờ nên thực sự khó khăn Điều này cũng giải thích rằng sự phân biệt giữa dịch vụ và hàng hóa chỉ mang tính chất tương đối Dịch vụ và hàng hóa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Quá trình hình thành và phát triển dịch vụ gắn liền với sự phát triển của phân công lao động xã hội và của sản xuất hàng hóa Sản xuất hàng hoá càng phát triển và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng thì các ngành dịch vụ cũng sẽ được hình thành và phát triển nhiều hơn, đa dạng hơn Nếu như trước đây, nói đến một nền kinh tế, người ta chỉ nói đến hai lũứi vực then chốt là nông nghiệp và công nghiệp thì ngày nay, lĩnh vực được quan tâm đến nhiều cũng như chiếm tỷ trọng khá cao trong GDP của các quốc gia lại là lĩnh vực dịch
vụ - ngành kinh tế thứ ba của nền kinh tế
1.1.2 Khái niệm thương mại dịch vụ
Dựa vào đối tượng và lĩnh vực phát sinh của hoạt động thương mại, các hoạt động thương mại được chia thành các nhóm cơ bản là: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại trong lĩnh vực đầu tư và thương mại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
Thương mại dịch vụ là khái niệm chỉ các hoạt động thương mại trong lĩnh vực dịch vụ, hay nói chính xác hơn, là khái niệm được dùng để nhấn
Trang 16mại Các luật chuyên ngành đề cập đến những lĩnh vực dịch vụ riêng biệt, Luật Thương mại 1997 - Luật Thương mại đầu tiên của Việt Nam, đã giải thích về dịch vụ thương mại (Khoản 4 Điều 5) gồm những dịch vụ gắn với việc mua bán hàng hóa và liệt kê 13 loại hình được coi là dịch vụ thương mại (Điều 45) Luật Thương mại 2005 ra đời đã dành một chương riêng quy định
về dịch vụ thương mại, bản chất của giao dịch, cung ứng dịch vụ cũng có tính chất của giao dịch mua bán (mua bán dịch vụ)
Tuy nhiên, với cách hiểu, cách quy định của pháp luật chưa rõ ràng khiến cho khía cạnh kinh doanh của dịch vụ tức là mua bán, trao đổi dịch vụ nhằm tìm kiếm lợi nhuận - khía cạnh thương mại của dịch vụ của một số lĩnh vực dịch vụ ít được đề cập Việc suy diễn cho rằng dịch vụ này là dịch vụ thương mại hay không phải thương mại thường xuyên xảy ra, gây khó khăn cho việc thiết kế các khuôn khổ pháp lý cũng như điều chỉnh bằng pháp luật đối với các dịch vụ đó Đây cũng là biểu hiện cho thấy quan niệm về dịch vụ thương mại, thương mại dịch vụ ở Việt Nam còn có khoảng cách so với quan niệm chung của thế giới Điều này xuất phát từ điều kiện kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia ở từng thời kỳ khác nhau, khi nền kinh tế phát triển, đời sống xã hội ngày càng cao, càng xuất hiện nhiều ngành dịch vụ mới và dịch vụ sẽ càng ngày được thương mại hóa và trở thành một ngành kinh tế quan trọng - Thương mại dịch vụ
Thực tế này ở Việt Nam cũng giống như ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi khác, những quốc gia này phản đối quan điểm thương mại hóa các ngành dịch vụ Các dịch vụ như y tế, giáo dục, pháp luật và thậm chí cả dịch
vụ tài chính, ngân hàng được coi là một bộ phận trong chiến lược phát triển quốc gia và chỉ được xem xét dưới góc độ an ninh quốc gia với mục tiêu là để duy trì cơ sở hạ tầng cho các hoạt động kinh tế - thương mại khác Với cách quan niệm này, Chính phủ thường đứng ra tự mình đảm nhận vai trò chủ yếu trong việc cung cấp dịch vụ và do đó, dịch vụ được cung cấp dưới dạng phi thương mại Vì lẽ đó, người ta đã phân biệt các dịch vụ do Chính phủ cung cấp là phi thương mại với một số dịch vụ có thể có tính thương mại [16]
Trang 171.2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỊCH v ụ THƯƠNG MẠI PHÁP LÝ VÀ PHÁP LUẬT VỀ DỊCH v ụ THƯƠNG MẠI PHÁP LÝ
1.2.1 Khái niệm dịch vụ thương mại pháp lý
Cùng với thương mại dịch vụ, dịch vụ thương mại pháp lý là lĩnh vực
mới của thời đại ngày nay, trong khi đó, nghề luật và nghề luật sư đã có lâu
đời Để tìm hiểu khái niệm dịch vụ pháp lý chúng ta cần tìm hiểu nghề luật sư
là gì? Nghề luật là gì? và hành nghề luật sư hoặc hành nghề luật có phải là
kinh doanh dịch vụ pháp lý hay không?
* Luật sư và nghề luật sư
Cho dù lịch sử hình thành luật sư và nghề luật sư còn nhiều tranh cãi
trên thế giới, nhưng xuất phát điểm của việc hình thành luật sư và nghề luật
sư có căn nguyên sâu xa từ những áp bức và bất công trong xã hội
Tương quan giữa nhà nước và người dân thực chất là các mối quan hệ
không ngang bằng Nhà nước nắm quyền lực cai trị nên vì lợi ích tồn tại của
chính mình, có xu hướng bành trướng quyền lực, thậm chí lạm dụng luật pháp
và có nhiều phương tiện thuận lợi để thực hiện điều này Trong khi đó, người
dân thường không có công cụ nào khác ngoài sử dụng luật pháp và dựa vào
pháp luật Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, khi các luật lệ ngày
càng nhiều, ngày càng tinh vi và phức tạp thì đa số người dân ngày càng ít có
điều kiện để am hiểu và sử dụng công cụ pháp luật Một loại hình nghề
nghiệp mới đã ra đời để trợ giúp người dân giải quyết khó khăn này, đó là
nghề luật sư [6], những người hoạt động trong lĩnh vực pháp luật
Tuy nhiên có thể nói những người thực hành nghề luật đầu tiên xuất
hiện sớm hơn trong xã hội chính là các nhà lập pháp, người định ra các quy
phạm pháp luật Sau đó là sự xuất hiện của các thẩm phán, người có nhiệm vụ
bảo đảm cho các quy phạm pháp luật được tôn trọng và cũng là người quyết
định hình phạt đối với người vi phạm các quy phạm pháp luật
Nghề luật sư đã xuất hiện ở châu Âu từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại
Vào thế kỷ V trước Công nguyên, trong nhà nước Hy Lạp cổ, tổ chức toà án
hình thành và việc xét xử có sự tham gia của mọi người dân Nguyên cáo
hoặc bị cáo có thể tự trình bày ý kiến, lý lẽ của mình trước Toà hoặc nhờ
Trang 18người khác có tài hùng biện trình bày hộ ý kiến, lý lẽ trước Toà Một loại hiệp
sỹ đặc biệt xuất hiện, hiệp sỹ này không dùng khí giới hay cơ bắp mà sử dụng thiên tài ngôn ngữ và sự hiểu biết rộng rãi về cổ luật để đứng ra bênh vực cho
kẻ nghèo nàn, yếu thế Việc bào chữa xuất phát tự nhiên nhằm minh oan cho bạn bè hoặc người thân Trong xã hội dần dần hình thành nhóm người chuyên sâu, am hiểu về pháp luật và việc diễn giải pháp luật của họ được xem xét như hoạt động nghề nghiệp Hoạt động của các luật sư được chấp nhận và
uy tín của họ trong xã hội ngày càng được nâng cao
Sau khi Đế quốc La Mã tan rã, châu Âu chuyển sang thời kỳ Trung cổ với các triều đại phong kiến phân quyền cát cứ Tổ chức Toà án và chế độ luật
sư ở các nước được xây dựng dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm mục đích phục vụ tôn giáo và chế độ phong kiến
Dưới chế độ tư bản, nghề luật sư được tổ chức chặt chẽ với những điều kiện khắt khe hơn và khi kinh tế thị trường phát triển ở nhiều nơi trên thế giới thì “công lý” mà các luật sư bảo vệ không chỉ liên quan đến nhân phẩm và danh giá của con người, hoạt động của luật sư không chỉ là đại diện trước tòa
mà còn là việc tư vấn những vấn đề liên quan đến giao dịch, quan hệ và tranh chấp [14, ứ 176], liên quan tới tài sản có giá trị thương mại to lớn, có thể cân đong đo đếm và trả giá bằng tiền Từ xuất phát điểm của những “hiệp sỹ” tự nguyện thực hiện việc bào chữa vì sự thật và công lý, nghề luật sư dần dần trở thành nghề dịch vụ, nghề làm vì tiền
Còn nghề luật, theo cách hiểu rộng nhất là những nghề kiếm sống có liên quan tới pháp luật Có thể kể ra nhiều công việc khác cũng được gọi là nghề luật như: chấp hành viên, điều tra viên, giám định viên, chuyên viên pháp lý, cố vấn pháp lý, giáo viên dạy luật, cán bộ nghiên cứu pháp luật trong các cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan công an, cơ quan hành chính Nhà nước, các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp, trường học, viện nghiên cứu Còn luật sư không phải là một công chức, không phải là một chức vụ được đề
cử hoặc đề bạt, mà là một danh xưng được đặt ra theo sự phát triển của lịch sử
và được pháp lý hóa Ở nghĩa rộng, chúng ta thấy nghề luật phong phú và đa dạng, như vậy nghề luật có ngoại diên bao hàm nghề luật sư
Trang 19* Khái niệm Dịch vụ thương mại pháp lý
Cho đến thời điểm hiện nay, việc đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về dịch vụ pháp lý chưa có được sự thống nhất từ phía các nhà nghiên cứu lập pháp ở nhiều nước trên thế giới Có nhiều quan niệm khác nhau về dịch vụ pháp lý, nhưng theo một kết quả nghiên cứu, có hai xu hướng định nghĩa về dịch vụ pháp lý: (i) Theo nhà cung cấp dịch vụ (ví dụ như Đức, ủ c , Trung
Q uốc ) coi luật sư là nhà cung cấp dịch vụ pháp lý độc quyền; (ii) Theo sự liệt kê các loại hình của dịch vụ pháp lý (ở Việt Nam gọi là phạm vi hành nghề luật sư) [8, tr 37-44]
Cũng như khi đưa ra khái niệm về dịch vụ, các tổ chức quốc tế cũng sử dụng phương pháp liệt kê theo xu hướng thứ (ii) để nhận biết dịch vụ pháp lý theo các loại hình của ngành dịch vụ này
Trong danh mục Phân loại ngành dịch vụ của WTO [19] thì — “(a) dịch
vụ pháp lý” được phân thành một phân ngành của “(1) DỊCH v ụ KINH DOANH” và “(A) Dịch vụ nghề nghiệp” Mục này tương ứng với CPC prov
số 861 trong hệ thống phân loại sản phẩm trung ương tạm thời (Provisional 'Central Product Classifícation - PCPprov.) của Liên Hợp quốc năm 1991 Với việc dẫn chiếu đó, Dịch vụ pháp lý được phân tiếp thành
861 Dịch vụ pháp lý
- 8611 Dịch vụ đại diện và tư vấn pháp lý trong các lĩnh vực luật phápkhác nhau
86111 Dịch vụ đại diện và tư vấn pháp lý đối với luật hình sự
86119 Dịch vụ tư vấn và đại diện ừong quá trình xét xử tòa án
liên quan tới các lĩnh vực luật pháp khác
- 8612 86120 Dịch vụ tư vấn và đại diện trong quá trình tố tụng của các
cơ quan, ủy ban tương tự tòa án
- 8613 86130 Dịch vụ tập hợp và chứng nhận văn bản pháp lý J
- 8619 86190 Các dịch vụ thông tin và tư vấn pháp lý khậc^-/
Và có thêm một tiểu mục về
866 8660 Các dịch vụ liên quan tới tư vấn quản lý
86602 Dịch vụ ừọng tài và hòa giải
Trang 20Ở Việt Nam, trong một thời gian dài, trước khi ban hành Pháp lệnh Tổ chức luật sư 1987, việc cung cấp dịch vụ pháp lý chủ yếu được hiểu thuộc trách nhiệm của cơ quan công quyền, mặc dù các bị can, bị cáo, đương sự có quyền nhờ người bào chữa tham gia bảo vệ quyền lợi trước Tòa án, yếu tố
"dịch vụ" chỉ mang tính chất của hoạt động phục vụ mà chưa có yếu tố "thị trường" của "cung" và "cầu" Từ khi Pháp lệnh 1987 được ban hành và hiện nay là Luật Luật sư 2006, dịch vụ pháp lý được ghi nhận trong các điều luật
về phạm vi hành nghề của luật sư (Điều 22 LLS 2006)
Tuy nhiên, với việc nghiên cứu khía cạnh thương mại - việc mua và bán dịch vụ pháp lý và để phù hợp với quan niệm thương mại dịch vụ và dịch vụ (mang tính) thương mại được quy định ở hiệp định chung GATS (Điều I, Khoản 3b, 3c) và theo các quy định của pháp luật Việt Nam, tác giả xin đưa
ra quan niệm về dịch vụ thương mại pháp lý của mình (Có thể gọi tắt là dịch
vụ pháp lý nếu theo quan niệm của hiệp định GATS, WTO): “Dịch vụ thương mại pháp lỷ là loại hình dịch vụ liên quan tới lĩnh vực pháp luật mà công việc của bên cung ứng dịch vụ thực hiện cho khách hàng để hưởng lợi nhuận có liên quan chặt chẽ với các vấn đề pháp luật, quyền và nghĩa vụ theo pháp luật
mà bên sử dụng dịch vụ quan tâm
Như vậy, việc hành nghề luật sư chỉ là một phần của dịch vụ thương mại pháp lý nhưng những nhà cung cấp dịch vụ thương mại pháp lý lại không bao quát hết những người thực hành nghề luật (nói cách khác, ngành dịch vụ thương mại pháp lý không bao hàm đầy đủ các công việc liên quan đến ngành luật Ví dụ như tham gia tố tụng vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, tư vấn pháp lý miễn phí cho người nghèo của trung tâm trợ giúp pháp lý )
1.2.2 Phân loại dịch vụ thương mại pháp lý
Việc phân loại dịch vụ thương mại pháp lý cũng là vấn đề được tranh luận trong thời gian dài Như đã nêu ở phần trên, việc liệt kê danh mục các ngành dịch vụ của WTO theo tài liệu MTN.GNSAV/120 ngày 10/07/1991 dựa vào hệ thống phân loại sản phẩm trung ương tạm thời của LHQ và ngành dịch
vụ (thương mại) pháp lý có mã số 861 Việc dẫn chiếu như vậy để các thành
Trang 21viên WTO đưa ra cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ pháp lý của mình đã phát sinh nhiều vấn đề Trước hết cùng xem xét CPC prov 861 [36] về ngành dịch vụ pháp lý của Liên Hiệp Quốc
86119 Dich vu tư vẩn và đai diên trone thủ tuc tư pháp liên auan tới các lĩnh vưc luât pháo khác
Dịch vụ từ vấn và đại diện trong quả trình tố tụng tòa án và soạn thảo các văn bản pháp luật liên quan tới các luật khác với luật hình sự Dịch
vụ đại diện thường bao gồm việc đại diện cho khách hàng với vai trò là bên nguyên hoặc bên bị đơn Các dịch vụ này cũng bao gồm bào chữa trong trường hợp xét xử trước tòa và các công việc pháp ỉỷ ngoài phạm
vi tòa, bao gồm nghiên cứu và các công việc khác để chuẩn bị cho một
vụ việc (ví dụ nghiên cứu văn bản pháp luật, phỏng vấn nhăn chứng, rà soát chỉnh sách và các bảo cáo khác), và thực hiện các công việc sau quả trình xét xử liên quan tới luật khác luật hình sự.
Trang 23Ngoai trừ: Dịch vụ thay mặt một trong các bên liên quan để đại diện trong cuộc tranh chấp và dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực quan hệ lao động được liệt kê tại tiểu mục 86190 (các dịch vụ thông tin và tư vẩn pháp luật khác), 95110 (dịch vụ do các tổ chức doanh nghiệp và người thuê lao động cung cấp) và 95200 (các dịch vụ do công đoàn cung cấp).
Việc phân loại dịch vụ (thương mại) pháp lý theo CPC prov còn một số thiếu sót Trong dịch vụ chứng nhận và chứng từ pháp lý (86130) đã không quy định về một hoạt động, đó là đăng ký và bảo vệ bằng sáng chế, quyền tác giả và quyền sở hữu trí tuệ
Hệ thống phân loại sản phẩm trung ương CPC của Liên Hiệp Quốc đã được sửa đổi 3 lần kể từ phiên bản tạm thời năm 1991 Phiên bản mới nhất hiện nay được đưa ra vào tháng 12/2008 - CPC 2.0, giữ lại phần lớn các yếu
tố nhưng có thay đổi về mã của dịch vụ pháp lý và việc giải thích đom giản hơn
CPC 2.0 [ 3 7 ]
8211 82110 Dịch vụ tư vẩn và đại diện liên quan tới luật hình sự
Phân loại này bao gồm:
Dịch vụ tư vấn, dịch vụ đại diện và các dịch vụ khác liên quan tới luật hình sự (bào chữa, tìm kiếm chứng cứ, nhân chứng, nhà chuyên môn )
8212 82120 Dịch vụ tư vẩn và đại diện liên quan tới ttnh vực luật khác
Phân loại này bao gồm:
Dịch vụ tư vấn, đại diện và các dịch vụ pháp lỷ khác liên quan về thủ tục tư pháp và các thủ tục mang tỉnh tư pháp khác về luật dân sự, luật hành chỉnh, luật hiến pháp, luật quốc tế, luật về quân sự và các lĩnh vực luật khác hình sự.
8213 82130 Dịch vụ chứng nhận và chứng từ pháp lý
Phân loại này bao gồm:
đến bằng sáng chế, quyền tác giả và quyền sở hữu trí tuệ.
Trang 24- Soạn thảo và chứng thực các chứng từ và các dịch vụ liên quan đến chứng từ pháp lý như di chúc, hợp đồng hôn nhân, hợp đồng thương mại, điều lệ doanh nghiệp
Phân loại này không bao gồm
- Dịch vụ đại diện cho một trong các bên tranh chấp, được phân loại vào mục 82120.
đã bổ sung dịch vụ trọng tài và hòa giải như là một phân loại của dịch vụ pháp
lý, không liên quan tới các dịch vụ tư vấn quản lý như CPC prov
Mặc dù vậy, việc phân loại theo CPC prov bị đánh giá là không phản ánh đúng thực tiễn thương mại dịch vụ pháp lý Trong quá trình xây dựng cam kết theo GATS, Năm 2002, Australia đã đưa ra đề xuất cách phân loại sau [20] thích họp hơn trong việc mô tả các mức độ mở cửa thị trường khác nhau trong dịch vụ pháp lý:
(i) Luật của nước cung cấp dịch vụ (tư vấn/đại diện)
(ii) Luật của nước thứ ba (tư vấn/đại diện)
(iii) Luật của nước tiếp nhận dịch vụ (tư vấn/đại diện)
(iv) Luật quốc tế (tư vấn/đại diện)
Trang 25hoặc luật quốc tế Cách phân loại này đã được WTO đưa ra trong tuyên bổ chung về dịch vụ pháp lý vào năm 2005 [21] Trong tuyên bố chung này, cũng
đã đưa ra khái niệm rộng về dịch vụ pháp lý bao gồm: Dịch vụ tư vấn pháp luật (legal actvỉsory services); Dịch vụ đại diện (legal representational
conciliatiorì/mediation services) và Dịch vụ tư vấn, chứng từ pháp lý và chứng thực được thực hiện bởi các nhà cũng cấp dịch vụ được ủy thác bởi các chức năng công, như dịch vụ công chứng.
Thực tế cho thấy trong quá trình gia nhập WTO, chỉ có 13 thành viên sử dụng phân loại dịch vụ pháp lý theo CPC prov 861 mà không có bất kỳ sửa đổi nào (trong đó có Việt Nam) và khoảng 60 thành viên đã thay thế bằng cách phân loại như trên [22]
Với việc phân loại trên của pháp luật thế giới về dịch vụ thương mại pháp lý, chúng ta cùng xem xét việc tương thích của pháp luật Việt Nam Theo pháp luật Việt Nam, cụ thể là LLS 2006, quy định tại Điều 4 về dịch vụ pháp lý của luật sư và được cụ thể hơn tại Điều 22 về phạm vi hành nghề của luật sư có thể chia các dịch vụ thương mại pháp lý mà luật sư thực hiện bao gồm:
- Dịch vụ tư vấn pháp luật,
- Dịch vụ tranh tụng, tức tham gia tố tụng với với tư cách là người bào
chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự; Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích họyp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu
Trang 26cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các
vụ, việc khác theo quy định của pháp luật
Dịch vụ tranh tụng này không bao gồm việc tham gia tố tụng trong các
vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu, bởi những vụ việc này không có tính chất thương mại, chỉ đảm bảo quyền có người bảo vệ quyền và nghĩa vụ
- Dịch vụ đại diện ngoài tổ tụng.
Qua những quy định trên có thể thấy luật sư - tổ chức hành nghề luật sư
là chủ thể chủ yếu cung cấp các dịch vụ thương mại pháp lý tại Việt Nam
Đối với dịch vụ trọng tài, hòa giải, pháp luật Việt Nam cũng đã có
những quy định tương thích với quan niệm của pháp luật thế giới về loại hình dịch vụ thương mại pháp lý này Tuy nhiên, LTTTM 2010 mới được ban hành chỉ cho phép việc giải quyết các tranh chấp bằng trọng tài phát sinh từ hoạt động thương mại mà thôi
Đổi với dịch vụ chứng từ pháp lý, chứng thực, bao gồm cả các nhà cũng cấp dịch vụ được ủy thác bởi các chức năng công, như dịch vụ công chứng Một số nước thành viên WTO cũng loại trừ những dịch vụ này đặc biệt dịch vụ công chứng và thừa phát lại ra khỏi phạm vi cam kết về mở cửa
thị trường dịch vụ c ầ n lưu ý rằng WTO đã hướng dẫn các hoạt động trên
không nằm ngoài phạm vi của GATS phù hợp với Điều I: 3 của GATS, chỉ
loại trừ khi chúng được cung cấp không ừên cơ sở thương mại hoặc không phải cạnh tranh với một hoặc nhiều nhà cung cấp dịch vụ [22, tr 12] Với lũih vực này, có thể thấy, pháp luật Việt Nam đã tiếp cận với quan niệm của WTO, LCC 2006 được ban hành cho phép các văn phòng công chứng tư được thực hiện dịch vụ công chứng - chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch bằng văn bản Nghị định 61/2009/NĐ - CP quy định thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh thành lập văn phòng thừa phát lại, thực hiện dịch vụ lập vi bằng và tống đạt giấy tờ (sẽ phân tích cụ thể ở chương 2 luận văn)
Tóm lại, Dịch vụ thương mại pháp lý theo pháp luật Việt Nam được phân loại như sau:
Trang 28hai công chứng viên trở lên thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình Công ty hợp danh Công chứng viên phải có các tiêu chuẩn theo luật định, tham gia khóa đào tạo nghề công chứng, tập sự hành nghề công chứng Sau khi có thẻ, công chứng viên sẽ hành nghề tại văn phòng công chứng
Trung tâm trọng tài thương mại và Hội đồng trọng tài vụ việc cùng với các trọng tài viên theo quy định của Luật Trọng tài thương mại 2010
Văn phòng thừa phát lại, đang được thực hiện thí điểm ở Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định của Nghị định 61/2009/NĐ-CP Văn phòng Thừa phát lại do một Thừa phát lại thành lập, được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân Văn phòng Thừa phát lại do từ hai Thừa phát lại trở lên thành lập, được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh (Điều 6 TT 12)
Trung tâm tư vấn pháp luật của tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật được thành lập theo Nghị định 77/2008/NĐ-
CP Những hoạt động tư vấn pháp luật của trung tâm mang tính chất xã hội, không nhằm mục đích thu lợi nhuận nhưng ngoài hoạt động tư vấn pháp luật miễn phí, Trung tâm được thu thù lao đối với cá nhân, tổ chức khác có yêu cầu tư vấn pháp luật để bù đắp chi phí hoạt động Tuy nhiên mục đích chính của những trung tâm này vẫn mang tính xã hội, trợ giúp người nghèo do đó luận văn không đi sâu phân tích, (luận văn không phân tích đối tượng này)
Bên sử dụng dịch vụ thương m ại pháp lỷ
Theo số liệu thống kê trong 4 năm (2005 - 2008), các luật sư đã tham gia tố tụng 30.000 vụ việc về dân sự, gần 2.000 vụ việc về kinh tế, 800 vụ việc về lao động, 1.000 vụ việc về hành chính; gần 90.000 vụ việc về tư vấn pháp luật; 25.000 vụ việc về dịch vụ pháp lý khác Năm 2008, 42,7% doanh nghiệp được hỏi đã từng thuê luật sư [25] Qua con số ừên cho thấy, các chủ thể có nhu cầu sử dụng dịch vụ thương mại pháp lý không chỉ là các cá nhân
mà còn bao gồm các doanh nghiệp Các cá nhân chỉ đôi khi mới cần đến dịch
vụ pháp lý và thường là trong những trường hợp đặc biệt quan trọng với cuộc đời họ (như ly hôn, thừa kế, mua bất động sản) còn các doanh nghiệp, tổ chức
Trang 29cần có sự hỗ trợ pháp lý một cách liên tục [14, tr 182] Trong nền kinh tế thị
trường, đối với các doanh nghiệp - chủ thể kinh doanh, mục đích của họ là
tìm kiếm lợi nhuận, việc họ sử dụng các dịch vụ pháp lý là để việc kinh doanh
kiếm lợi nhuận của họ được an toàn, tránh rủi ro
(ii) Thứ hai, "Sản phẩm ” của dịch vụ thương mại pháp lý khó được
bảo vệ, dễ bị sao chép.
Như đã phân tích ở phần khái niệm, nội dung của dịch vụ thương mại
pháp lý là các hoạt động, công việc của bên cung ứng dịch vụ liên quan chặt
chẽ với các vấn đề pháp lý, như việc áp dụng luật, thực hiện đúng pháp luật,
tiên liệu trước những hậu quả pháp lý có thể xảy ra, bảo vệ quyền và lợi ích
họp pháp của bên sử dụng dịch vụ và đáp ứng nhu cầu của bên sử dụng dịch
vụ Với nội dung của hoạt động cung ứng dịch vụ thương mại pháp lý như
vậy, sản phẩm của dịch vụ thương mại pháp lý là những lợi ích mà bên cung
ứng mang lại cho người sử dụng Là hoạt động đặc thù của bên cung ứng dịch
vụ, sản phẩm này mang hàm lượng chất xám cao, nội dung của nó là những tri
thức, kiến thức, nghiệp vụ pháp lý, thậm chí còn mang tính “nghệ thuật”
(nghệ thuật tư vấn, hùng biện, tranh tụng ) Hiệu quả của dịch vụ thương mại
pháp lý đôi khi không chỉ phụ thuộc vào sản phẩm của bên cung ứng dịch vụ,
bên sử dụng dịch vụ mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như việc thực thi
pháp luật của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, cá nhân khác (chẳng hạn
luật sư bằng kiến thức chuyên môn, tư vấn hướng xử lý vụ việc đúng cho
khách hàng nhưng thực tế cơ quan công quyền lại gây cản trở, khó khăn )
Sản phẩm dịch vụ thương mại pháp lý đa dạng và có tính đa mục đích
trong từng sản phẩm, phụ thuộc vào yêu cầu của bên sử dụng dịch vụ Việc
bào chữa của luật sư nhằm mục đích gỡ tội, giảm tội cho khách hàng; việc tư
vấn pháp luật nhằm thực hiện đúng pháp luật, tránh rủi ro hoặc giải quyết hậu
quả
Ngoài ra, sản phẩm của dịch vụ thương mại pháp lý dễ bị sao chép Đặc
biệt, trong dịch vụ tư vấn pháp luật, với những vụ việc liên quan đến soạn
thảo hợp đồng, một họp đồng về mua bán hàng hóa khi được tư vấn soạn thảo
và được thực hiện tốt trên thực tế rất dễ được bên sử dụng dịch vụ sử dụng lại
Trang 30nhiều lần mà bên cung ứng không thể thu được phí tư vấn Hiện nay, công
nghệ thông tin, truyền thông cũng đã khiến cho việc bảo vệ sản phẩm trí tuệ
nói chung và sản phẩm của dịch vụ thương mại pháp lý nói riêng trở nên khó
khăn
(iii) Thứ ba, Dịch vụ thương mại pháp lỷ được điều chỉnh bằng cả hệ thống pháp luật về luật sư, hành nghề luật sư và các luật lệ về kỉnh doanh.
Ở hầu hết các nước, ngành dịch vụ pháp lý được thực hiện bởi các công
ty luật nhỏ, các công ty luật lớn vẫn còn là hiện tượng giới hạn ở một số nước
theo Luật Anglo - Saxon và luật án lệ Đoạn trích trên trong báo cáo về dịch
vụ pháp lý của ban thư ký WTO, tài liệu S/C/W/43 năm 1998, chúng ta không
quan tâm về quy mô của loại hình công ty luật mà nhận thấy rõ ràng quan
điểm truyền thống là dịch vụ pháp lý được thực hiện chủ yếu bởi các luật sư
nhưng các luật sư này hành nghề trong các công ty luật Ở Việt Nam, Theo
LLS 2006, các tổ chức hành nghề luật sư - văn phòng luật sư, công ty luật
cũng đã được xem là doanh nghiệp tư nhân, công ty luật hợp danh Luật sư
trong những tổ chức này được thừa nhận là người kinh doanh, do đó để có thể
hoạt động tốt trong lĩnh vực dịch vụ thương mại pháp lý, các chủ thể đồng
thời vừa phải tuân thủ các quy định về hành nghề luật sư vừa phải tuân thủ
các quy định của pháp luật kinh doanh LLS 2006 đã thể hiện rõ sự gắn kết
các quy định về hành nghề luật sư với pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về
đầu tư nhằm đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong cơ chế điều chỉnh pháp
luật về dịch vụ thương mại pháp lý trong khung khổ chính sách và pháp luật
chung về kinh doanh, đầu tư
(ỉv) Thứ tư, Dịch vụ thương mại pháp lỷ mang tính chất hỗ trợ và
hoạch định chinh sách.
Như phân tích về nhu cầu của chủ thể sử dụng dịch vụ thương mại pháp
lý, các cá nhân sử dụng dịch vụ thương mại pháp lý để nhận được sự ứ ợ giúp
về mặt pháp lý bởi các nhà cung ứng dịch vụ, bởi lẽ hệ thống pháp luật phức
tạp khiến không phải ai cũng am tường về pháp luật, còn các doanh nghiệp sử
dụng dịch vụ pháp lý để hỗ trợ, thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh, kiếm
Trang 31Nhưng trong quá trình hội nhập kinh tế, quốc tế của Việt Nam hiện nay, một số luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam (đặc biệt là các luật sư Anh, Pháp, Hoa Kỳ) có đóng góp tích cực trong việc tham gia xây dựng dự thảo các văn bản pháp luật liên quan quan đến đầu tư, kinh doanh, thương mại, tăng cường năng lực hoạt động của hệ thống các cơ quan tư pháp của
Việt Nam [26]; Mặc dù việc tham gia này không thu phí, không nhằm mục
đích thương mại nhưng rõ ràng, công việc họ làm - những hoạt động trong
ngành dịch vụ pháp lý, đã giúp phần hỗ trợ thi hành, hoạch định chính sách về
môi trường đầu tư của Việt Nam nhằm thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài, thúc đẩy sự phát triển quan hệ thương mại thương mại giữa Việt Nam với các nước
(iv) Thứ năm, Dịch vụ thương mại pháp lý ngày càng được quốc tế hóa.
Trong hầu hết các trường hợp, các cá nhân chỉ sử dụng dịch vụ thương mại pháp lý trong các lĩnh vực của luật trong nước, và việc cung ứng dịch vụ thường do các nhà cung cấp dịch vụ trong nước tiến hành Trong khi đó, với
tự do hóa thương mại, việc xuất hiện các công ty đa quốc gia, tham gia thị trường tại nhiều quốc gia ữên thế giới, những công ty này với nhu cầu của minh, tìm kiếm các nhà cung cấp dịch vụ pháp lý tại các quốc gia đó vừa am hiểu pháp luật quốc gia, vừa am hiểu pháp luật quốc tế Thậm chí, các nhà cung cấp dịch vụ pháp lý tại quốc gia họ cũng phải tìm hiểu hệ thống pháp luật của nước mà các công ty sẽ gia nhập thị trường, đầu tư, kinh doanh Và
cả các nhà cung cấp dịch vụ pháp lý này, với yêu cầu trên, cũng đã mở rộng hoạt động tại nhiều quốc gia khác nhau
Ở Việt Nam, từ tháng 02/1996, 14 Chi nhánh của tổ chức luật sư nước ngoài đầu tiên đã được Bộ Tư pháp cấp giấy phép Từ năm 1996 đến nay, Bộ
Tư pháp đã xem xét và cấp giấy phép thành lập 60 chi nhánh và công ty luật nước ngoài, cho phép trên 120 luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam Hiện nay, trong cả nước có 27 chi nhánh và 7 công ty luật nước ngoài với 90 luật sư nước ngoài đăng ký hành nghề
Trang 32* Thương mại dịch vụ pháp lỷ (Trade in legaỉ services)
Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của thương mại dịch vụ pháp lý ở tầm quốc tế Rõ ràng một nhà cung cấp dịch vụ
từ nước xuất xứ của một công ty luật sẽ có lợi thế so sánh nhờ kiến thức về công việc kinh doanh của khách hàng, trong khi nhà cung cấp dịch vụ tại nước sở tại sẽ có lợi thế so sánh về những hiểu biết liên quan đến môi trường kinh doanh và pháp lý tại nước sở tại Luật kinh doanh và luật quốc tế là những lĩnh vực luật bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi thương mại quốc tế trong dịch vụ pháp lý [14, tr 183] Theo WTO, về nguyên tắc, tất cả các dịch vụ pháp lý đều có thể giao dịch qua bốn phương thức cung cấp
Phương thức 1 (Model): Cung cấp dịch vụ pháp lý qua biên giới Ví dụ
như chuyển văn bản hay thư tư vấn thông qua phương tiện thông tin
Phương thức 2 (Mode2): Mua và tiêu dùng dịch vụ pháp lý ngoài lãnh thổ Ví dụ như dịch vụ đại diện trong giải quyết tranh chấp của luật sư nước
ngoài
Phương thức 3 (Mode3): Hiện diện thương mại của tổ chức luật sư nước ngoài Ví dụ như các hãng luật nước ngoài đặt chi nhánh, thành lập công
ty luật tại Việt Nam
Phương thức 4 (Mode4) : Hiện diện của cá nhân luật sư nước ngoài Ví
dụ như việc cư trú tạm thời của các thể nhân là các chuyên gia pháp lý độc lập
Tuy nhiên, hầu hết hoạt động thương mại dịch vụ pháp lý vẫn được tiến hành qua biên giới - phương thức 1, phương thức 3 và 4 còn hạn chế Các luật
sư cung cấp dịch vụ ở tầm quốc tế thường được cơ cấu thành hệ thống các công ty hoặc trong các liên doanh quốc tế hợp nhất
Năm 1998, WTO đánh giá thương mại dịch vụ pháp lý phát triển với tốc độ thậm chí còn nhanh hơn sự phát ừiển chung của toàn ngành, xu thế này vẫn tiếp tục trong thập kỷ qua, mang lại sự tăng trưởng đáng kể cho ngành dịch vụ pháp lý Thị trường toàn cầu cho thương mại dịch vụ được ước tính
đã tạo ra tổng doanh thu 581.000.000.000 u s s trong năm 2008, với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 5% giai đoạn 2004 - 2008 [22, tr 1]
Trang 33Mặc dù vậy, rào cản không khắc phục được đối với thương mại các dịch vụ về pháp lý là những quy định về trình độ chuyên môn, đặc biệt đối với việc thực hành luật pháp của nước sở tại Việc đào tạo pháp lý khác nhau tùy theo mỗi nước, đôi khi những khác biệt này lớn tới mức các nhà quản lý phải yêu cầu luật sư nước ngoài phải đào tạo lại thì mới hành nghề được
Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO cũng đã cam kết mở cửa thị trường dịch vụ pháp lý của mình Và thật dễ hiểu khi một loạt các hãng luật nước ngoài đã có mặt ở Việt Nam từ rất sớm như Baker & McKenzie (US), Clifford Chance (UK), Allens Arthur Robinson (Australia), Vovan & Associés (Pháp), Russin & Vecchi (US), Lucy Wayne & Associates (ƯK) Trong đó Baker & McKenzie (US), Clifford Chance (UK) là hai hãng luật lớn thứ nhất và thứ hai thế giới [22, annex II]
1.2.4 Quá trình hình thành phát triển pháp luật dịch vụ thương
mại pháp lý ở Việt Nam
* Pháp luật về dịch vụ thương mại pháp lý do luật sư thực hiện
Năm 1986, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã mở đầu một thời kỳ lịch sử mới xây dựng đất nước, thời kỳ đổi mới Trong điều kiện kinh
tế thị trường, ở Việt Nam cổ nhiều loại dịch vụ đã hình thành và phát triển, trong đó phải kể đến dịch vụ pháp lý
Thuật ngữ “dịch vụ pháp lý” với ý nghĩa thị trường, của cung và cầu đã được ghi nhận trong Pháp lệnh Tổ chức Luật sư năm 1987 Điều 13 pháp lệnh quy định ngoài việc tham gia tố tụng, các luật sư mở rộng hoạt động nghề nghiệp sang lĩnh vực tư vấn pháp luật và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác.Pháp lệnh tổ chức và hoạt động luật sư năm 1987 được ban hành là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phát triển và hoạt động của luật sư ở nước ta Tuy nhiên, trong thời gian này số lượng Luật sư ữong cả nước tăng chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội phát triển Năm 1989, cả nước có 186 luật
sư (trong đó có đa số là luật sư kiêm nhiệm) Tổng kết 12 năm thi hành Pháp lệnh luật sư tính đến tháng 9-2001 trên cả nước có 2.100 luật sư, trong đó có 1.632 luật sư chính thức và 468 luật sư tập sự [27]
Trang 34Năm 2001 Pháp lệnh luật sư mới đã được ban hành Nội dung của Pháp lệnh thể hiện quan điểm cải cách mạnh mẽ tổ chức và hoạt động luật sư, nghề luật sư cùng với đó là quan niệm về dịch vụ pháp lý, tạo cơ sở pháp lý cho quá trình hội nhập quốc tế của nghề luật sư ở Việt Nam Ngay từ Điều 1 Pháp lệnh Luật sư 2001 đã quy định dịch vụ pháp lý bao gồm: Hoạt động tố tụng,
tư vấn pháp lý và dịch vụ pháp lý khác Pháp lệnh 2001 cũng đã quy định các hình thức tổ chức hành nghề của luật sư: luật sư được tự do thành lập văn phòng luật sư hoặc Công ty Luật hợp danh, được hợp tác với tổ chức luật sư nước ngoài theo các hình thức do pháp luật quy định, được đặt cơ sở hành nghề ở nước ngoài
Để thi hành Pháp lệnh Luật sư, đã có các văn bản dưới luật được banhành:
- Nghị định số: 94/2001/NĐ-CP ngày 12/12/2001 qui định chi tiết thi
hành Pháp lệnh Luật sư năm 2001;
- Thông tư số: 02/2002/TT-BTP hướng dẫn một số quy định của Nghị
định 94/2001/NĐ-CP
- Quyết định sổ: 356b/2002/QĐ-BT ngày 05/08/2002 cuả Bộ trưởng Bộ
Tư pháp ban hành Quy tắc mẫu về đạo đức nghề nghiệp luật sư
- Thông tư sổ: 53/TT-BTC ngậy 02/06/2003 hướng dẫn chế độ thuế với
Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh .
Trong thời kỳ này, Luật Doanh nghiệp 1999 được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/01/2000 Để hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp, Chính iphủ đã ban hành nghị định 03/2000/NĐ - CP, trong đó hướng dẫn Khoản 4 Điều 6 Luật Doanh nghiệp về chứng chỉ hành nghề, và kinh doanh dịch vụ
Ị pháp lý là một ngành, nghề phải có chứng chỉ Để đảm bảo hiệu lực đầy đủ và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành luật Doanh nghiệp thì việc soạn thảo
và ban hành quy chế quy định về trình tự, thủ tục, điều kiện và cơ quan có
ì thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh dịch vụ pháp lý là cần thiết Tuy nhiên, thời kỳ này đã không có văn bản pháp lý nào giải quyết vấn đề Itrên, tồn tại song song các Đoàn luật sư với các luật sư đủ tiêu chuẩn và các
Trang 35công ty thành lập theo Luật Công ty 1990 và Luật Doanh nghiệp 1999 hoạt
động kinh doanh dịch vụ pháp lý
Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO) đã tạo ra vị thế
và những cơ hội mới phát triển đất nước Để phù hợp với sân chơi chung, luật
chơi chung, trong các năm 2005, 2006, 2007, Quốc hội đã ban thành một số
lượng lớn các đạo luật mới hoặc thay thế các đạo luật không còn phù hợp,
trong đó có Luật Luật sư được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu
lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007 Hướng dẫn thi hành Luật Luật sư, Chính
phủ cũng đã ban hành Nghị định 28/2007/NĐ-CP, nghị định 131/2008/NĐ-
CP, Bộ Tư pháp ban hành thông tư 02/2007/TT-BTP, cùng với Bộ Tài chính
ì ban hành thông tư 66/2007/TT-BTC-BTP
* Pháp luật về dịch vụ thương mại pháp lý do các chủ thể khác Ithực hiện
Dịch vụ trọng tài thương mại
Trọng tài với tính chất phi chính phủ của nước ta được ra đời theo Nghị
(định số 116/CP ngày 05/9/1994 với hĩnh thức là các Trung tâm Trọng tài kinh
Itế Trọng tài Kinh tế ra đời là một bước tiến quan trọng trong tiến trình phát
ttriển của TTTM ở nước ta Từ một cơ quan nhà nước thuộc bộ máy hành pháp
tthực hiện chức năng giải quyết tranh chấp, Trọng tài đã tách ra khỏi bộ máy
inhà nước tồn tại dưới dạng các tổ chức xã hội nghề nghiệp có thẩm quyền giải
cquyết tranh chấp theo sự lựa chọn của các bên Đây chính là tiền đề để TTTM
inước ta tiến dần đến TTTM theo đúng bản chất của nó
Nếu Trọng tài Kinh tế theo Nghị định 116/CP được coi là bước thử
mghiệm của Trọng tài mang tính chất phi chính phủ thì TTTM ra đời theo
IPháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 đã phản ánh đầy đủ tính chất phi chính
[phủ của TTTM Cùng vói sự phát triển mang tính chất pháp lý, TTTM trên
tthực tế cũng đã có những bước phát triển đáng kể, số vụ tranh chấp đưa ra
Trọng tài giải quyết có xu hướng tăng lên, số ỉượng TTV cũng ngày càng tăng
inhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu giải quyết tranh chấp của các bên
Tuy nhiên, TTTM được điều chỉnh bởi Pháp lệnh là một văn bản dưới
] luật nên giá trị pháp ỉý chưa cao, chưa tương xứng với tầm quan trọng của
Trang 36TTTM Pháp lệnh TTTM 2003 qua thời gian thi hành cũng đã bộc lộ những bất cập, hạn chế Ngày 17/06/2010 Quốc hội đã thông qua Luật Trọng tài thương mại 2010 thay thế cho pháp lệnh 2003 Luận văn không đề cập tới phạm vi giải quyết các tranh chấp thương mại bằng trọng tài, thủ tục tố tụng
trọng tài mà chỉ phân tích những yếu tổ pháp lý trong việc cung cấp và sử dụng dịch vụ giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài.
Dịch vụ công chứng, thừa phát lại.
Một thực tế là các ngành dịch vụ thường bị quên lãng trong nền kinh tế
kế hoạch hóa tập trung do học thuyết kinh tế chính trị Marxit nhẩn mạnh tầm quan trọng của sản xuất hàng hóa (hữu hình) như nhân tố quyết định cho phát triển kinh tế và coi dịch vụ là ngành không tạo ra giá trị Việc xao lãng vai trò của dịch vụ càng được củng cố bởi những khó khăn ừong việc đặt ra kế hoạch cho dịch vụ so với tính toán nhu cầu, sản xuất hàng hóa Các dịch vụ được chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa chú ý chỉ là các dịch vụ xã hội cơ bản (y
tế và giáo dục) và dịch vụ cơ sở hạ tầng (năng lượng, vận tải, viễn thông, bưu chính) và cũng chỉ tập trung vào khía cạnh hàng hóa của các dịch vụ này, Việt Nam không phải ngoại lệ [16]
Tuy nhiên hiện nay, ừong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà mrớc pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng đã chủ trương khuyến khích các tổ chức và cá nhân có đủ điều kiện tham gia vào việc cung ứng dịch vụ công cho xã hội Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng dịch vụ công cộng thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân” “Đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng”, phát huy tiềm năng, trí tuệ và các nguồn lực vật chất trong nhân dân, của toàn xã hội để cùng Nhà nước giải quvết các vấn đề xã hội và chăm lo phát ừiển các dịch vụ công cộng” [1, tr
101, 104, 105]
Trên cơ sở các kết quả đạt được trong việc thực hiện xã hội hoá một số lĩnh vực như giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, Nhà nước tiếp tục cho phép xã hội hoá hoạt động công chứng Ngày 29/11/2006, Quốc hội đã thông qua Luật Côig chứng 2006, cùng với nó là nghị định 02/2008/NĐ-CP và Thông tư
Trang 3791/2008/TTLT-BTC-BTP xác lập cơ sở pháp lý quan trọng nhằm thực hiện xã hội hoá hoạt động công chứng, tạo điều kiện để công dân và tổ chức được thụ hưởng tốt nhất loại hình dịch vụ công quan ừọng này Tương tự như vậy, Nghị quyết 24/2008/QH12 về việc thi hành Luật Thi hành án dân sự đã triển khai thực hiện chủ trương xã hội hoá một số công việc có liên quan đến thi hành án dân sự, giao Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại (Thừa hành viên) tại một số địa phương Cụ thể hóa nghị quyết 24/2008/QH12, Chính phủ đã ban hành nghị định 61/2009/NĐ-CP thực hiện thí điểm tổ chức và hoạt động thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh.Với quy định tại LCC 2006 và nghị định 61/2009/NĐ-CP, hai loại hình của dịch vụ thương mại pháp lý là dịch vụ công chứng và dịch vụ thừa phát lại đã được điều chỉnh và thực hiện trên thực tế
Trang 38CHƯƠNG 2 NHỮNG NỘI DƯNG c ơ BẢN CỦA PHÁP LUẬT
VÈ DỊCH VỤ THƯƠNG MẠI PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM• • • I
2.1 QUY ĐỊNH VÊ CHỦ THÊ CƯNG CẤP DỊCH v ụ THƯƠNG MẠI PHÁP LÝ
có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư (Điều 10 LLS 2006)
Việc quy định cụ thể tiêu chuẩn luật sư góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư, thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư, cho đăng ký gia nhập Đoàn luật sư Để có thể trở thành luật sư,
hành nghề luật sư, phải đáp ứng đủ 2 điều kiện: Điều kiện cần, được cấp
Chứng chỉ hành nghề luật sư do Bộ Tư pháp cấp - yêu cầu về chuyên môn và
Điều kiện đủ, gia nhập một Đoàn luật sư - yêu cầu mang tính nghề nghiệp,
thể hiện tính chất đặc thù của nghề luật sư Hoặc, xét về mặt thời gian, để trở thành luật sư phải trải qua 3 giai đoạn: đào tạo ở trường Đại học; đào tạo nghề luật sư và đào tạo trong thời gian tập sự hành nghề luật sư [28]
Trang 39Điều kiện cần, yêu cầu về chuyên môn Tốt nghiệp đại học chuyên
ngành luật, qua đào tạo nghề luật sư, tập sự hành nghề luật sư và được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư Người có bằng cừ nhân luật là người có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật do Cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam cấp hoặc có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật do Cơ sở giáo dục đại học của nước ngoài cấp và được công nhận tại Việt Nam theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Điều 1 Nghị định 28/2007/NĐ-CP) Thời gian học bậc cử nhân trang bị cho người học những kiến thức nền tảng khoa học luật, hệ thống pháp luật Việt Nam
Xuất phát từ yêu cầu chuyên nghiệp hoá, chuyên môn hoá của nghề luật
sư, pháp luật yêu cầu người hành nghề luật sư phải được đào tạo về nghề Nội dung, chương trình đào tạo nghề luật sư tập trung chủ yếu vào những kỹ năng hành nghề cơ bản trong các lĩnh vực hành nghề như tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật; những vấn đề cơ bản về đạo đức, nghề nghiệp luật sư Người có bằng cử nhân luật được đăng ký tham dự khóa đào tạo nghề luật sư, thời gian
là 6 tháng Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo nghề luật sư, học viên được cấp Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư Người được đào tạo nghề luật sư ở nước ngoài, muốn trở thành luật sư Việt Nam thì phải thực hiện thủ tục đề nghị công nhận đào tạo nghề luật sư ở nước ngoài Bộ trưởng
Bộ Tư pháp có thẩm quyền công nhận Giấy chứng nhận đào tạo nghề luật sư
do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp (Điều 12 LLS 2006)
Một số đối tượng được miễn đào tạo nghề luật sư được quy định tại Điều 13 LLS 2006 LLS 2006 quy định đối tượng được miễn đào tạo nghề luật sư rộng hon so với Pháp lệnh luật sư năm 2001 và thường là những người
đã hoạt động, thực hành nghề luật trên thực tế
Người tốt nghiệp khoá đào tạo nghề luật sư có thể lựa chọn một tổ chức hành nghề luật sư để tập sự và phải đăng ký việc tập sự tại Đoàn luật sư địa phương nơi tổ chức hành nghề luật sư mà mình tập sự đăng ký hoạt động Một số trường hợp miễn, giảm thời gian tập sự quy định tại khoản 2 và khoản
3 Điều 16 của LLS 2006
Trang 40Mục đích của việc tập sự hành nghề luật sư là giúp người tập sự có điều kiện thực tế để rèn luyện những kỹ năng hành nghề đã được học trong thời gian đào tạo nghề luật sư Trong thời gian tập sự, dưới sự hướng dẫn của luật
sư hướng dẫn tập sự, người tập sự hành nghề luật sư có thể tiếp cận trực tiếp với vụ việc để học cách tự mình giải quyết vụ việc Tuy nhiên, trong thời gian tập sư hành nghề luật sư, người tập sự hành nghề luật sư không được nhận và thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng
Việc kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư được quy định tại Điều
15 của Luật Luật sư Bộ Tư pháp chủ trì phối họp với Tổ chức luật sư toàn quốc tổ chức kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư
Quy định về tập sự hành nghề luật sư theo Luật Luật sư có ưu điểm là
phân định rõ việc tập sự hành nghề (giai đoạn học việc) của người tập sự và
hoạt động hành nghề của luật sư, khắc phục tình trạng vừa tập sự vừa hành nghề gây ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ pháp lý cung cấp cho khách hàng
Người đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư, có đầy đủ
hồ sơ họp lệ và không phải đối tượng bị từ chối, được xem xét cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư Một trong những điểm mới của LLS 2006 so với Pháp lệnh luật sư năm 2001 là không cho phép người đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm ttọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý được hành nghề luật sư ngay cả khi họ đã được xoá án tích Quy định này xuất phát từ quan điểm đề cao danh dự, uy tín của nghề luật sư cũng như đòi hỏi cao hơn về phẩm chất đạo đức đối với luật sư
Điều kiện đủ -yêu cầu mang tính nghề nghiệp Kế thừa Pháp lệnh luật sư
năm 2001, LLS 2006 quy định người được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư phải gia nhập một Đoàn luật sư để hành nghề luật sư Người gia nhập Đoàn luật sư được Tổ chức luật sư toàn quốc cấp Thẻ luật sư theo đề nghị của Đoàn luật sư
Tóm lại, một người chỉ được coi là “Luật sư” khi có đủ hai điều kiện trên Khi đã trở thành luật sư, thì luật sư đó có quyền được và phải hành nghề luật sư (cung cấp dịch vụ pháp lý) Pháp luật về luật sư của nước ta không thừa nhận luật sư không hành nghề như một số nước khác