Quảng bá bảo tồn và phát huy nghệ thuật đờn ca tài tử trên sóng truyền hình Khảo sát các Đài PTTH Cà Mau Bạc Liêu An Giang năm 2018 2019 Quảng bá bảo tồn và phát huy nghệ thuật đờn ca tài tử trên sóng truyền hình Khảo sát các Đài PTTH Cà Mau Bạc Liêu An Giang năm 2018 2019 luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ HẢI ĐĂNG
QUẢNG BÁ, BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NGHỆ THUẬT ĐỜN CA TÀI TỬ TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH
(Khảo sát các Đài PT-TH Cà Mau, Bạc Liêu, An Giang năm 2018 – 2019)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Cà Mau – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ HẢI ĐĂNG
QUẢNG BÁ, BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NGHỆ THUẬT ĐỜN CA TÀI TỬ TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH
(Khảo sát các Đài PT-TH Cà Mau, Bạc Liêu, An Giang năm 2018 – 2019)
Chuyên ngành: Báo chí học theo hướng Ứng dụng
Mã số : 8320101.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Chủ tịch Hội đồng chấm luận văn Người hướng dẫn khoa học thạc sĩ khoa học
PGS.TS Vũ Quang Hào PGS.TS Nguyễn Ngọc Oanh
Cà Mau-2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Ngọc Oanh, không sao chép của ai,
do tôi tự nghiên cứu và thực hiện Luận văn có sử dụng, phát triển và kế thừa những tài liệu từ các sách, giáo trình liên quan đến đề tài như đã trình bày trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu và những kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hải Đăng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau gần hai năm học tập và nghiên cứu, học viên lớp Thạc sĩ báo chí theo hướng ứng dụng tại Cà Mau bắt đầu bước vào giai đoạn hoàn thành luận văn tốt nghiệp Đây là tiền đề quan trọng nhằm trang bị cho các học viên những kỹ năng nghiên cứu, những kiến thức quý báu
Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự hỗ trợ nhiệt tình của quý thầy cô Viện đào tạo báo chí và truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ( ĐHQGHN) và Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô đã tận tình chỉ dạy và trang bị cho tôi cũng như các học viên những kiến thức cần thiết trong suốt thời gian ngồi trên ghế giảng đường, làm nền tảng quan trọng cho tôi có thể hoàn thành được bài luận văn
Đặc biệt tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Ngọc Oanh – người thầy đã tận tình giúp đỡ, định hướng cách tư duy và cách làm việc khoa học Đó là những góp ý hết sức quý báu không chỉ trong quá trình thực hiện luận văn này mà còn là hành trang tiếp bước cho tôi trong quá trình học tập và công tác sau này
Tôi cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến bạn bè và đồng nghiệp tại Đài PTTH Cà Mau, Bạc Liêu, An Giang, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch các tỉnh: Cà Mau, An Giang và Bạc Liêu, đã sẵn sàng giúp đỡ để tôi có điều kiện tham gia hoàn thành chương trình đào tạo, cũng như cung cấp tư liệu để tôi phát triển trong quá trình viết luận văn
Trong quá trình thực hiện, luận văn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được sự đóng góp chân thành của hội đồng khoa học để luận văn được hoàn thiện hơn
Cà Mau, tháng 10 năm 2020
Nguyễn Thị Hải Đăng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của Đề tài 5
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài 6
3 Mục đích, nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 13
7 Kết cấu của luận văn 14
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢNG BÁ, BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NGHỆ THUẬT ĐỜN CA TÀI TỬ - DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ĐẠI DIỆN CỦA NHÂN LOẠI TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH 15
1.1 Một số khái niệm cơ bản 15
1.1.1 Di sản văn hóa phi vật thể 15
1.1.2 Nghệ thuật Đờn ca Tài tử Nam bộ 17
1.1.3 Quảng bá và Bảo tồn trên sóng truyền hình 20
1.1.4 Báo chí truyền hình 22
1.2 Hoạt động Đờn ca tài tử tại các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu và An Giang 27 1.2.1 Hoạt động Đờn ca tài tử tại Cà Mau 27
1.2.2 Hoạt động Đờn ca tài tử tại Bạc Liêu 28
1.2.3 Hoạt động ĐCTT tại An Giang 29
1.3 Vai trò của báo chí Truyền hình với việc Quảng bá, bảo tồn và phát huy nghệ thuật Đờn ca tài tử 31
1.4 Tính cấp thiết và nhu cầu cần phải quảng bá ĐCTT trên sóng truyền hình trong thời đại số 36
Trang 6Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC QUẢNG BÁ, BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
NGHỆ THUẬT ĐỜN CA TÀI TỬ TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH 38
2.1 Toàn cảnh quảng bá, bảo tồn và phát huy nghệ thuật Đờn ca tài tử trên sóng truyền hình 38
2.1.1 Chương trình của Đài PT-TH Cà Mau 40
2.1.2 Chương trình của đài PT-TH Bạc Liêu 41
2.1.3 Chương trình của Đài PT-TH An Giang 43
2.2 Khái quát thực trạng quảng bá, bảo tồn và phát huy nghệ thuật Đờn ca tài tử trên sóng truyền hình 44
2.2.1 Thành công trong quảng bá, bảo tồn và phát huy nghệ thuật Đờn ca tài tử 44
2.2.2 Những hạn chế trong quảng bá, bảo tồn và phát huy nghệ thuật ĐCTT 48
2.2.3 Những nguyên nhân của hạn chế 58
Chương 3: XU HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ QUẢNG BÁ, BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NGHỆ THUẬT ĐỜN CA TÀI TỬ TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH 64
3.1 Xu hướng quảng bá, bảo tồn và phát huy bộ môn nghệ thuật Đờn ca tài tử trên sóng truyền hình 64
3.2 Những giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao vai trò của truyền hình trong công tác Quảng bá, bảo tồn và phát huy nghệ thuật Đờn ca tài tử 67
3.2.1 Phương thức quảng bá, bảo tồn và phát huy nghệ thuật Đờn ca tài tử trên sóng truyền hình 67
3.2.2 Những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của truyền hình trong công tác Quảng bá, bảo tồn và phát huy nghệ thuật Đờn ca tài tử 69
3.2.3 Những khuyến nghị đến Lãnh đạo cơ quan báo chí 79
3.3 Đề xuất những mô hình thực hiện chương trình 81
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 99
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
ĐHKHXH&NV : Trường Đại h c hoa h c ã hội và Nhân văn
ĐHQGHN : Đại h c Quốc gia Hà nội
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Mức độ khán giả xem Đài Cà Mau: 49
Biểu đồ2.1 Mức độ khán giả xem đài Cà Mau 50
Bảng 2.2: Mức độ khán giả biết về nghệ thuật ĐCTT 52
Biểu đồ2.2 Mức độ khán giả biết về nghệ thuật ĐCTT 52
Bảng 2.3: Mức độ khán giả xem các chương trình ĐCTT trên sóng truyền hình Đài Cà Mau 53
Bảng 2.4: Mức độ đánh giá về chất lượng chương trình ĐCTT 55
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Văn hóa có vị trí và vai trò đặc biệt đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Việt Nam – Đất nước bốn ngàn năm Văn hiến, đã khẳng định sức mạnh của mình thông qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ nhưng đầy vinh quang, và cũng khẳng định sức mạnh của mình thông qua nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Mỗi vùng miền trên đất nước Việt Nam, đều chứa đựng trong đó những giá trị văn hóa không gì thay thế được Và khi nhắc đến giá trị văn hóa đặc trưng của vùng đất Nam bộ, người ta sẽ nghĩ đến nghệ thuật Đờn ca Tài tử Loại hình nghệ thuật được hình thành và phát triển hàng trăm năm qua, được Unessco công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Những năm qua, bằng vai trò và chức năng của mình, Báo chí truyền hình đặc biệt là tại các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, An Giang, đã góp phần quảng
bá và bảo tồn những giá trị của nghệ thuật Đờn ca Tài tử Các chương trình truyền hình luôn được xem là cầu nối giúp nghệ thuật Đờn ca tài tử đến với công chúng và đưa công chúng trở lại với nghệ thuật truyền thống
Thế nhưng, xét thấy trong thời gian qua, vấn đề quảng bá và bảo tồn nghệ thuật ĐCTT trên sóng truyền hình chỉ dừng lại ở cấp độ tuyên truyền Các đài thông tin về nghệ thuật ĐCTT với nhiều hình thức khác nhau từ đưa tin, phóng sự đến những chương trình văn nghệ - giải trí Thông qua số lượng, chất lượng chương trình, sự quảng bá và bảo tồn hiệu quả chưa cao, khi mà lượng khán giả quan tâm đến chương trình ngày càng ít đi, đặc biệt là giới trẻ Nhiều bạn trẻ chạy theo công nghệ, trào lưu giải trí mới, quay lưng với văn
Trang 10hóa nghệ thuật truyền thống, dẫn đến một thực trạng những người càng trẻ càng không biết về Đờn ca tài tử
Người dân tại các địa phương biết đến nghệ thuật ĐCTT, xem ĐCTT là văn hóa của vùng đất phương Nam nhất là những người lớn tuổi, nhưng mọi việc chỉ có thế Câu lạc bộ ĐCTT có hoạt động nhưng chỉ với sự tham gia của các thành viên các câu lạc bộ, còn người dân thì lại thờ ơ và hầu như không quan tâm
Đối với vấn đề quảng bá và bảo tồn nghệ thuật ĐCTT, tác giả còn có sự trăn trở đến từ đội ngũ làm báo Thông qua các đề tài, luận án, các công trình khoa học đóng góp cho báo chí nước nhà thì số lượng đề tài về Di sản văn hóa phi vật thể chiếm tỉ lệ rất khiêm tốn so với các đề tài thời sự chính luận, đặc biệt đề tài về nghệ thuật Đờn ca tài tử hầu như không được đề cập đến Điển hình như lớp Cao học Báo chí K17 KTT với 79 đề tài và không có đề tài liên quan Lớp thạc sĩ Báo chí 2018 theo hướng ứng dụng tại Cà Mau, đăng ký 54
đề tài nhưng đề tài liên quan đến văn hóa phi vật thể chưa đến 3 đề tài
Người dân địa phương thờ ơ, chương trình ĐCTT không còn sức hút với khán giả, báo chí truyền hình chỉ làm theo hình thức tuyên truyền, đề tài
về ĐCTT không có sự quan tâm đối với các nhà báo, vậy vấn đề quảng bá và bảo tồn nghệ thuật ĐCTT sau này sẽ như thế nào, những điều mà báo chí truyền hình đã làm trong thời gian qua liệu đã “ đủ” để đưa nghệ thuật ĐCTT trở lại với cuộc sống, tiếp tục phát triển, lan tỏa, xứng đáng với vị trí, vai trò trong đời sống văn hóa tinh thần của người Nam bộ?
Bằng những trăn trở đó, tôi đã chọn vấn đề: Quảng bá, bảo tồn và phát huy nghệ thuật Đờn ca Tài tử trên sóng Truyền hình làm đề tài nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài
Vấn đề Quảng bá, bảo tồn và phát huy nghệ thuật ĐCTT không chỉ nhận được sự quan tâm của người Việt Nam mà còn được những nhà nghiên
Trang 11cứu, những người yêu âm nhạc dân gian trên thế giới quan tâm Bởi đây chính
là loại hình âm nhạc được Unessco vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Tác giả Alexander M Cannon đã có có bài viết: From Nameless to Nomenclature: Creating Music Genre in Southern Vietnam [51] Bài viết này
đã đưa ra những nét rất thú vị của nghệ thuật ĐCTT Nhạc cụ, giai điệu, điệu thức là những đặc trưng của dòng âm nhạc, nhưng theo tác giả trong ĐCTT, người nhạc sĩ chính là người định ra dòng nhạc
Công trình nghiên cứu “ Đờn ca Tài tử Nam Bộ”, [17] của tác giả Lâm Tường Vân (2003) Công trình này đã giúp cho các bạn trẻ có thêm những tài liệu quý giá về nghệ thuật ĐCTT, trong đó giới thiệu đến đọc giả đầy đủ những bài bản, điệu thức của ĐCTT
Với tình yêu nghệ thuật cổ truyền, nhà nghiên cứu Nguyễn Lê Tuyên Giảng viên của trường Đại học Quốc gia Úc và Nguyễn Đức Hiệp đã kế thừa
-và tiếp cận các nguồn tài liệu đáng tin cậy để cung cấp thêm nhiều thông tin
bổ ích cho đọc giả về những loại hình văn hoá dân tộc đặc sắc trong cuốn: Hát Bội, Đờn ca tài tử và cải lương cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, (2013).[28]
Cuốn “Đờn Ca Tài Tử Nam Bộ” của tác giả Võ Trường Kỳ (2013) [48] giúp đọc giả hiểu thêm về Đất và người Nam bộ xưa, nguồn gốc phát sinh dòng âm nhạc Tài tử Nam bộ, quá trình hình thành hệ thống bài bản ĐCTT Nam bộ, cũng như giá trị nghệ thuật của ĐCTT Qua đó đưa ra hướng Bảo tồn
và phát triển giá trị nghệ thuật của ĐCTT
Đề án “Bảo vệ và phát huy giá trị nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam bộ tỉnh
Cà Mau giai đoạn 2015-2020” [34] của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cà Mau đã khái quát quá trình hình thành, phát triển cũng như thực trạng ĐCTT tại Cà Mau Qua đó cho thấy vị trí, vai trò của ĐCTT trong đời sống văn hóa
Trang 12tinh thần ở Cà Mau, những giải pháp cụ thể trong vấn đề Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật ĐCTT Nam bộ
Ở phạm vi nghiên cứu hẹp hơn, một số luận văn cũng đề cấp đến những vấn đề bảo tồn và phát huy những Di sản văn hóa, nghệ thuật ĐCTT
Luận văn thạc sĩ: Khai thác các giá trị văn hóa nghệ thuật của đờn ca tài
tử Nam Bộ - Việt Nam phục vụ phát triển du lịch [33] của tác giả: Phan Võ Thu Tâm (năm 2015) cung cấp nhiều tài liệu cho việc nghiên cứu ĐCTT cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác kinh doanh du lịch dựa vào nghệ thuật ĐCTT
Luận văn của thạc sĩ Lê Vũ Điệp (2007) “ Vấn đề bảo tồn và phát huy
Di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam trên Báo chí: khảo sát những di sản văn hóa phi vật thể đã được công nhận và đang được đề cử công nhận của Unesco tại Việt Nam”, [23] Luận văn nghiên cứu nhận thức và quan điểm trong hội nhập toàn cầu về di sản văn hóa, đặc biệt là quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt nam về vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể Những đề nghị cũng như phương hướng bảo tồn và phát huy
Luận văn: Phương thức Bảo tồn, phát huy và truyền bá các di sản văn hóa phi vật thể âm nhạc của đài Tiếng nói Việt Nam [29] – Tác giả Nguyễn Quang Vinh (2014), đề cấp đến thực trạng các phương thức bảo tồn, phát huy
và truyền bá các di sản văn hóa phi vật thể của âm nhạc Việt Nam Từ đó đưa
ra những giải pháp hiệu quả và phù hợp với thực tiễn
Tác giả Huỳnh Công Tín, có bài viết đăng trên tạp chí Phát triển KH&CN, (năm 2015) với nhan đề: Bản tồn và Phát huy Đờn ca tài tử ở miền Tây Nam Bộ [13] Theo tác giả Huỳnh Công Tín, ở Nam bộ, có nhiều di sản văn hóa của người Kinh cần được bảo tồn như ca vọng cổ, cải lương, Đờn ca tài tử Theo tác giả bài viết này, ĐCTT được Unessco công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là một tin vui thế nhưng, để bảo tồn
Trang 13và phát huy di sản văn hóa này nói riêng và di sản thuộc lĩnh vực ca nhạc cổ nói chung trước tình hình kinh tế xã hội hiện nay là điều không dễ cho các địa phương Bài viết đề cập đến thực trạng ĐCTT chưa có chiến lược truyền nghề, nặng tính bao cấp, hội diễn phong trào, không phát huy được hiệu quả kinh tế Từ đó đưa ra những ý kiến đề xuất trong việc bảo tồn và phát huy nghệ thuật ĐCTT
Tác giả Trương Quốc Bình với bài viết: “Bảo vệ và phát huy giá trị kho tàng di sản văn hóa phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững ở Việt Nam” (2016).[45] Bài viết nêu lên tính cấp thiết trong việc bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa vô giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong đó có những di sản văn hóa vật thể và Di sản văn hóa phi vật thể Tác giả đề cao việc đổi mới các hoạt động quản lý bảo vệ và phát huy kho tàng di sản trong tình hình mới có vai trò hết sức quan trọng tham gia vào sự phát triển bền vững của quốc gia, dân tộc
Ngoài ra còn có nhiều sách, giáo trình liên quan đến bộ môn nghệ thuật Đờn ca tài tử và những sách, giáo trình, đề tài liên quan đến nghiệp vụ Báo chí truyền hình Đặc biệt có nhiều bài báo về quảng bá, bảo tồn và phát huy nghệ thuật ĐCTT Nam Bộ
Có thể nói, những công trình, nghiên cứu, những bài viết này đã có những đóng góp đáng kể trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị Di sản văn hóa phi vật thể nói chung và nghệ thuật của ĐCTT nói riêng Và đây cũng
là nguồn cứ liệu phong phú giúp tác giả luận văn có cái nhìn thực tế và cụ thể hơn về Báo chí truyền hình, về bộ môn nghệ thuật ĐCTT cũng như việc quảng bá và bảo tồn nghệ thuật ĐCTT Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu về Quảng bá, bảo tồn và phát huy nghệ thuật ĐCTT trên sóng truyền hình Bởi thế, đề tài nghiên cứu “ Quảng bá, bảo tồn và phát huy nghệ thuật Đờn ca tài tử trên sóng truyền hình, khảo sát các đài PT-TH Cà Mau, Bạc Liêu và An
Trang 14Giang, giai đoạn 2018 - 2019 sẽ không bị trùng lập với các công trình nghiên cứu khác và có giá trị khoa học và thực tiễn riêng
3 Mục đích, nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc khảo sát, phân tích luận văn đưa ra những nhận định về thành công và hạn chế của các Đài truyền hình trong việc thực hiện chức năng quảng bá và bảo tồn nghệ thuật ĐCTT Nam bộ Từ đó, đề xuất giải pháp, kiến nghị để các cơ quan báo chí nâng cao chất lượng và hiệu quả trong quảng bá
và bảo tồn nghệ thuật ĐCTT trên sóng truyền hình
Luận văn cũng mong muốn mang lại những giá trị thông tin về ĐCTT,
về vấn đề Quảng bá, bảo tồn và phát huy nghệ thuật ĐCTT trên sóng truyền hình Cũng như đóng góp thêm những giá trị thực tiễn đối với người làm báo trong những đề tài về nghệ thuật ĐCTT Cách tiếp cận, cách quảng bá và bảo tồn, để vừa có thể đưa ĐCTT đến với cuộc sống thường nhật, vừa giữ được giá trị của loại hình âm nhạc dân tộc
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nghiên cứu nêu trên, tác giả thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận về nghệ thuật ĐCTT trên truyền hình, vai trò của báo chí truyền hình với quảng bá và bảo tồn nghệ thuật ĐCTT Trong đó, tìm hiểu và làm rõ các khái niệm liên quan như: Quảng bá
và bảo tồn, nghệ thuật ĐCTT, Báo chí truyền hình
- Luận văn thực hiện khảo sát thực tế, phân tích đánh giá, nhận xét bước đầu về quảng bá và bảo tồn nghệ thuật ĐCTT thông qua các chương trình Đờn ca tài tử trên sóng truyền hình của đài PTTH Cà Mau, có khảo sát thêm hai đài Bạc Liêu, An Giang ( giai đoạn 2018 – 2019) để thấy rõ những thành
Trang 15công và hạn chế trong việc quảng bá và bảo tồn nghệ thuật ĐCTT của báo chí truyền hình
- Sử dụng phương pháp điều tra xã hội học, phỏng vấn sâu đối với nhà báo, nghệ nhân ĐCTT, công chúng ( thiếu nhi, thanh niên, trung niên và người cao tuổi) để làm rõ hơn về các vấn đề nêu ra trong mục đích nghiên cứu
- Từ đó Luận văn sẽ nêu lên những kiến nghị, đề xuất các giải pháp để nâng cao vai trò của truyền hình trong quảng bá và bảo tồn nghệ thuật ĐCTT, góp phần cùng với tỉnh nhà trong việc quảng bá và bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống
4 Đối tượng v hạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề quảng bá
và bảo tồn nghệ thuật Đờn ca tài tử trên sóng truyền hình Đài PT-TH Cà Mau
- Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là các chương trình Đờn ca tài tử phát trên sóng truyền hình Đài PT-TH Cà Mau, ý nghĩa của nó trong việc góp phần quảng bá và bảo tồn nghệ thuật Đờn ca tài tử
Trong quá trình thực hiện, sẽ có sự tham khảo, so sánh thêm từ các chương trình ĐCTT của Đài PT-TH: Bạc Liêu và An Giang để có cái nhìn toàn diện hơn
Thời gian khảo sát: 2018-2019
5 Phương há nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Phương pháp nghiên cứu
tài liệu nhằm mục đích có được những nền tảng lý thuyết, số liệu về các vấn
đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, từ đó so sánh đối chiếu vào hoạt động thực tiễn Luận văn tìm hiểu và phân tích những thông tin có liên quan từ các nguồn tài liệu: sách chuyên ngành, bài báo, công trình nghiên cứu…), thông
Trang 16tin trên các website chính thức của các dự án, bộ ban ngành liên quan…
- Phương pháp phân tích thông điệp: Phương pháp khảo sát thống kê
để hệ thống các tác phẩm được thực hiện có yếu tố từ nguồn tin chính thống trong thời gian thực hiện khảo sát Từ những chương trình đã phát sóng, tác giả sẽ dựa vào nguồn nội dung và hình thức thể hiện đi sâu, phân tích Từ đó rút ra những nhận định, nhận xét và đánh giá cá nhân mang tính khoa học
- Phương pháp nghiên cứu điều tra xã hội h c: sử dụng bảng hỏi để thu
thập thông tin Qua điều tra xã hội học, tác giả sẽ khảo sát được mức độ của công chúng biết về nghệ thuật ĐCTT, sự quan tâm của công chúng dành cho truyền hình Cà Mau và các chương trình có liên quan đến nghệ thuật ĐCTT trên sóng truyền hình, lấy ý kiến của công chúng về chất lượng các chương trình ĐCTT trên sóng truyền hình Qua khảo sát, xu hướng quan tâm đến hình thức tiếp cận của công chúng đối với truyền thông đối với từng đối tượng khác nhau, thiếu nhi, thanh niên, trung niên và người cao tuổi để từ đó tác giả
sẽ đưa ra những giải pháp thật sự phù hợp
Nghiên cứu trực tiếp đối tượng thụ hưởng chương trình Dự kiến sẽ phát 200 phiếu hỏi cho đối tượng ở khu vực Cà Mau Các đối tượng này được chia làm 4 nhóm: Nhóm thiếu nhi, Nhóm thanh niên, Nhóm trung niên, Nhóm người cao tuổi
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện các cuộc phỏng vấn với chủ
nhiệm chương trình truyền hình về ĐCTT, những nghệ nhân am hiểu về bộ môn nghệ thuật ĐCTT để có thêm thông tin, cứ liệu đánh giá phân tích cho
đề tài Thông qua phỏng vấn các chuyên gia, nhà báo, đạo diễn, biên tập tác giả sẽ tìm hiểu và học hỏi những khái niệm có liên quan đến những vấn đề được đề cập trong luận văn nhằm đưa ra những nội dung chính xác về nghệ thuật ĐCTT Bên cạnh đó, tác giả cũng tìm hiểu và lấy thông tin về chương trình ĐCTT, sự thay đổi về nội dung và hình thức của các chương trình ĐCTT
Trang 17( Tài tử cải lương ) theo từng năm, những thuận lợi và khó khăn của những người thực hiện những chương trình này Vai trò và những đóng góp của các chương tình ĐCTT trong quảng bá và bảo tồn nghệ thuật ĐCTT tại địa phương mà chủ yếu tại Cà Mau, An Giang và Bạc Liêu Qua đó đảm bảo được cái nhìn đúng đắn và toàn diện nhất về việc quảng bá và bảo tồn nghệ thuật ĐCTT trên sóng truyền hình
6 ngh a l luận v thực tiễn của đề t i
u n
Đề tài này sẽ làm rõ một số lý luận về vai trò của báo chí nói chung
và báo truyền hình nói riêng đối với vấn đề quảng bá và bảo tồn nghệ thuật ĐCTT Đồng thời, luận văn còn xác định đặc điểm và phương thức sản xuất mới, áp dụng cho các chương trình truyền hình dành cho bộ môn nghệ thuật ĐCTT Qua đó, góp phần thu hút khán giả và tạo được sự kết nối giữa khán giả với Bộ môn nghệ thuật ĐCTT Từ đó góp phần đưa ĐCTT đến gần hơn nữa với đời sống xã hội trong thời đại số
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung, làm phong phú hơn về vai trò của báo chí truyền hình với văn hóa Tầm quan trọng của truyền hình trong việc quảng bá và bảo tồn di sản văn hóa, đặc biệt là nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam bộ
t t
Thông qua việc tìm hiểu, phân tích, đánh giá những ưu điểm và hạn chế của các chương trình ĐCTT trên sóng truyền hình, ý nghĩa của các chương trình này trong thực tiễn đời sống xã hội, luận văn cung cấp tài liệu tham khảo
có cơ sở khoa học, góp phần giúp phóng viên, nhà báo có thêm kiến thức vai trò của truyền hình với đời sống văn hóa, những kiến thức trong sản xuất những chương trình ĐCTT
Trang 18Đối với các cơ quan báo chí, luận văn có ý nghĩa trong việc tham khảo
các giải pháp để nâng cao chất lượng những chương trình góp phần bảo tồn di
sản văn hóa phi vật thể
Kết quả nghiên cứu cũng có thể giúp các nhà lãnh đạo, quản lý báo chí
tham khảo trong quá trình lãnh đạo cơ quan báo chí Không chỉ cơ quan báo
chí, mà cả những cơ quan văn hóa phụ trách về mảng di sản văn hóa mà cụ
thể là nghệ thuật ĐCTT quá trình hoạch định chiến lược, xây dựng những đề
án về quảng bá, bảo tồn và phát huy ĐCTT, vì đây là một vấn đề cấp thiết và
mang tính lâu dài
7 ết cấu của luận văn
Ngoài các phần: Phần Mở đầu, Phần kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục,
Luận văn được chia làm ba chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Quảng bá, bảo tồn và phát huy nghệ thuật Đờn ca tài tử - Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại trên
sóng truyền hình
- Chương 2: Thực trạng việc quảng bá, bảo tồn và phát huy nghệ thuật Đờn ca
tài tử trên sóng truyền hình
- Chương 3: Xu hướng và giải pháp để quảng bá, bảo tồn và phát huy nghệ
thuật Đờn ca tài tử trên sóng truyền hình
Nội dung luận văn sẽ được trình bày cụ thể theo kết cấu nêu trên
Trang 19Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢNG BÁ, BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NGHỆ THUẬT ĐỜN CA TÀI TỬ - DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ĐẠI DIỆN CỦA NHÂN LOẠI TRÊN SÓNG
Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO cho rằng:
“ Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng – cũng như những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan – mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường, với mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người”.[47, Điều 2]
Luật Di sản Văn hóa của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21 tháng 6 năm 2001 nhìn nhận: “ Di sản văn hóa quy định tại luật này bao gồm Di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử văn hóa và khoa học được
Trang 20lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.[ 14, Điều 1] Và tại điều 4 khoản 1 trong điều luật này định nghĩa:
“Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần, có giá trị lịch sử văn hóa khoa học được lưu truyền bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân ca, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về văn hóa truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác” [14, Điều 4]
Tuyên bố về các kiệt tác di sản truyền miệng và vô hình của nhân loại, được thông qua tại Paris năm 1989 cũng đưa ra nhiều nhận định, định nghĩa
về Di sản văn hóa phi vật thể Di sản văn hóa phi vật thể (Intangible cultural heritage) chính là sự sáng tạo dựa trên tính truyền thống của một cộng đồng văn hóa Nó được thể hiện bởi một nhóm hoặc cá nhân và phản ảnh được bản sắc văn hóa của cộng đồng đó Những giá trị văn hóa đó được lưu truyền thông qua phương thức truyền miệng, mô phỏng hay nhiều hình thức khác với sự đa dạng và sáng tạo, đó có thể là ngôn ngữ, văn học, âm nhạc, phong tục,…
Chúng ta có thể hiểu một cách khái quát rằng, văn hóa phi vật thể không hẳn tồn tại dưới dạng vật chất - những cái cụ thể mà chúng ta có thể nhìn thấy được mà nó tiềm ẩn bên trong tâm hồn của cả một dân tộc Trãi qua những biến cố, thăng trầm của cuộc sống, những giá trị văn hóa phi vật thể được hình thành từ tập tính hành vi của con người, thông qua các hoạt động sản xuất, giao tiếp xã hội Từ đó hình thành nên một hệ hoạt động tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật được lưu truyền bao thế hệ
Qua đây, có thể xác định một vài dạng thức của Di sản văn hóa phi vật thể: các hình thức diễn xướng và trình diễn (ca múa, nhạc, sân khấu nghệ thuật); Nghi lễ, tín ngưỡng tôn giáo, phong tục, lễ hội
Trang 211.1.2 Nghệ thu t Đờn ca Tài tử Nam bộ
ĐCTT Nam bộ là loại hình nghệ thuật dân gian được hình thành từ những sinh hoạt của người dân Nam bộ Thông qua tiếng đàn, lời ca, họ gửi gắm tâm tư, tình cảm của mình Theo ghi chép tư liệu từ nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc cổ truyền thì hoạt động đờn ca tài tử là dòng nhạc dân gian được hình thành ở Nam bộ từ cuối thế kỷ XIX Tên “đờn ca tài tử” cũng
có nhiều cách gọi khác nhau tuỳ theo từng nơi, từng vùng, có người gọi là
“Đờn hoặc Đàn ca tài tử”, người khác thì gọi là “Âm nhạc tài tử”, cũng có người gọi là “Ca nhạc tài tử” Còn thuật ngữ “tài tử” được hiểu theo nghĩa ở trong Nam bộ là những người có tài đàn ca, dùng lời ca, tiếng đờn của mình
để góp vui, điều quan trọng là gửi gắm, giải bày tâm trạng chứ không phải để hành nghề, tìm kế sinh nhai
Theo nhiều tài liệu và những thông tin truyền miệng qua các nghệ nhân thì những người chơi nhạc tài tử xuất hiện từ năm 1890 ở miền Đông Nam Bộ Những nhóm tài tử này sinh hoạt chủ yếu phục vụ trong các dịp cưới gả, Tân gia, đám giỗ Đờn ca Tài tử không có quá trình hình thành cụ thể, chỉ biết rằng, những ngón đờn, lời ca, bài bản, điệu thức được truyền từ người này đến người kia, quá trình ấy hình thành nên nhóm tài tử biểu diễn, sau đó bắt chước thành ra trào lưu Ca nhạc tài tử là tên theo cách gọi của người xưa, nó thể hiện những khí chất của dân tài tử Đó chính là họ đàn, họ ca, họ biểu diễn tất
cả đều trên sự ngẫu hứng, không tập trước, không cường điệu, biểu diễn tùy hứng, tự do đàn hát, họ xem Đàn ca tài tử là nghệ thuật chứ không phải một nghề để kiếm sống
Những bài bản trong nghệ thuật ĐCTT có 20 bài bản tổ, được chia ra làm 4 bộ môn, đó là: Bắc, Hạ, Nam, Oán Từng bộ môn với từng tính nhạc khác nhau
Trang 22+ Vui tươi thì có 6 bản Bắc: Lưu thủy trường, Phú lục, Bình bán chấn,
Cổ bản, Xuân tình và Tây Thi
+ Hùng hồn thì có 7 bản Hạ: Xàng xê, Ngũ đối Thượng, Ngũ đối Hạ, Long đăng, Long ngâm, Vạn giá và Tiểu khúc
+ Trầm, buồn man mác có 3 bản Nam: Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đảo ( đảo ngũ cung)
+ Hiền hòa, buồn não có 4 bản Oán: Tứ đại Oán, Giang Nam, Phụng hoàng và Phụng cầu
Ngoài 20 bài bản tổ có thêm nhiều bản nhạc cải tiến, Cổ nhạc canh tân
và Dân ca Nam bộ đã được Đờn ca tài tử Nam bộ và Sân khấu cải lương sử dụng
Có thể nói, Đờn ca tài tử Nam bộ là kết quả của sự hội tụ những tinh hoa âm nhạc từ nhiều vùng, miền khác nhau, từ nhạc lễ trong cung đình, đến nghệ thuật ca Huế, đến các làn điệu dân ca, các bài bản mới của những nhạc quan Triều đình trong thời gian bôn tẩu
Đề cập đến sự ra đời của nghệ thuật ĐCTT, phải nhắc đến Nhạc lễ, Nhạc thính phòng Huế ( mà tiền thân là nhạc Cung đình), đây là điểm khởi phát của nhạc tài tử trên nền tảng văn nghệ Dân gian Nam bộ Các thế hệ người Việt từ Bắc Bộ Trung Bộ vào Nam khai hoang, mở cõi không chỉ mang theo những nét văn hóa đời sống vật chất và tinh thần của quê hương mà còn
có cả những giá trị văn hóa phi vật thể từ lễ nghi, phong tục tập quán, tín ngưỡng cho đến các hoạt động văn nghệ dân gian Trên vùng đất mới, theo thời gian hình thành nên một môi trường tự nhiên, môi trường xã hội mới mang nét văn hóa đặc trưng và đầy sáng tạo của cộng đồng các dân tộc Việt Nam ở Nam Bộ Từ các bản ca Huế, các nhạc sĩ, nghệ nhân đã cải tiến những giai điệu âm nhạc và lời ca cho phù hợp với tâm trạng ly hương vào miền đất
lạ, có nhiều sắc tộc cùng chung sống Sự sáng tạo độc đáo ấy còn tạo thuận lợi
Trang 23cho các giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống được kế thừa và phát triển thành các giá trị mới, trong đó có nghệ thuật ĐCTT Nam Bộ
Đến khoảng cuối thế kỷ XIX, ĐCTT Nam bộ đã tách ra khỏi sự ảnh hưởng của ca Huế để hình thành nên nghệ thuật ĐCTT Nam bộ, từ đó hoàn chỉnh nhạc mục ĐCTT Nam bộ rặt Theo những tài liệu ghi chép thì những nghệ nhân miền Đông và miền Tây Nam bộ đã góp công rất lớn trong việc hình thành dòng nhạc tài tử Nam bộ: Nghệ nhân Nguyễn Quang Đại ( Ba Đợi) – người Huế vào ngụ ở Long An Ông là quan nhạc của triều đình nhà Nguyễn Nhiều học trò xuất sắc đã được ông truyền dạy: Lại Văn Thới ( Sáu Thới), Nhạc sĩ Hai Biểu, Chín Kỳ; Tại Vĩnh Long thì có ông Trần Văn Quờn ( Kinh Lịch Quờn); Tại Bạc Liêu có ông Lê Tài Khí hay còn gọi là Nhạc Khị Nhạc Khị đã đào tạo nhiều lứa học trò xuất sắc, trong đó có nghệ nhân Cao Văn Lầu, soạn giả Trịnh Thiên Tư, soạn giả đạo diễn Mộng Vân, nhạc sĩ Ba Chột, nhạc sĩ Mười Khói, nhà sư Nguyệt Chiếu cùng nhiều nghệ nhân ở Tiền Giang, Vĩnh Long
Phong trào Đờn ca tài tử ở Nam bộ thời điểm bấy giờ đã có sự hoàn chỉnh và hệ thống hơn Những bài ca tài tử phong phú cùng những nghệ nhân, tài tử tâm huyết đã trãi qua cùng đất nước những năm tháng kháng chiến trường kỳ, cùng đất nước đón mùa xuân rực rỡ, mùa xuân của sự tự do Những tưởng khó khăn của thời kỳ đầu đất nước thống nhất, sẽ làm hoạt động Đờn ca tài tử chựng lại, vì khi ấy mọi người đang chung tay xây dựng đất nước, xây dựng nền kinh tế mới Thế nhưng trong gian khổ, phong trào Đờn
ca tài tử tiếp tục nở rộ, những bài ca, tiếng đàn, một lần nữa cổ vũ tinh thần dân tộc Từ tinh thần tự phát của những nghệ nhân cùng với những kiến thức tài tử còn sót lại sau chiến tranh các nghệ nhân miền nam đã tiếp tục làm sống lại phong trào Đờn ca tài tử
Trang 24Trãi qua thời gian, nhạc tài tử Nam Bộ không ngừng phát triển, trở thành một bộ môn nghệ thuật hoàn thiện cả về tính bác học và tính dân gian ĐCTT được xây dựng từ nền tảng nghệ thuật không chỉ bằng trí tuệ mà còn bằng những tình cảm và là cả một quá trình lao động sáng tạo không ngừng của người dân Nam Bộ Thông qua quá trình cải biên, sáng tác và truyền bá của những nghệ nhân, đội ngũ tài tử, ĐCTT trở thành dòng âm nhạc đặc trưng
và đại diện cho văn hóa dân gian Nam bộ
1.1.3 Quảng bá và Bảo tồn trên sóng truyền hình
Còn theo tác giả Philip Kotler, trong cuốn sách “Marketing căn bản” [53, tr 376], ông định nghĩa: “Quảng cáo là những hình thức truyền thông không trực tiếp, được thực hiện thông qua những phương tiện truyền tin phải trả tiền và xác định rõ nguồn kinh phí” Hay “Quảng cáo là một hình thức trình bày gián tiếp và khuyếch trương ý tưởng, hàng hoá hay dịch vụ được người bảo trợ nhất định trả tiền” trong giáo trình “Quản trị Marketing” (Marketing Management) [54, tr 678]
Còn Truyền bá theo từ điển tiếng Việt, đó chính là phổ biến rộng rãi cho nhiều người, nhiều nơi Quảng bá theo tiếng Anh ( publicize) có nghĩa là làm cho cái gì đó phổ biến, được nhiều người biết đến
Trang 25Như vậy, có thể hiểu rằng quảng bá chính là hoạt động truyền bá thông tin một cách rộng rãi thông qua các phương tiện truyền tin
* Bảo tồn
Theo từ điển tiếng Việt, Bảo tồn tức là gìn giữ ( cái có ý nghĩa thuộc tài sản chung), không để bị mất, tổn thất Điều này hiểu rằng bảo tồn chính là những hoạt động cần thiết nhằm đảm bảo sự tồn tại lâu dài và ổn định của di sản
Hiến chương Quốc tế về Bảo tồn và Trùng tu Di tích và Di chỉ (1964) [11] – ( Đại hội Quốc tế lần thứ hai các Kiến trúc sư và Kỹ thuật gia về Di tích lịch sử, Venice, 1964, được ICOMOS chấp nhận năm 1965):
Tại Điều 4: “ điều chủ yếu đối với bảo tồn di tích là làm cho di tích đó được duy trì lâu bền”
Tại Điều 6, có đoạn: “ Việc bảo tồn một di tích bao hàm bảo tồn một khung cảnh nằm trong phạm vi liên quan tới di tích Khi hãy còn một khung cảnh truyền thống thì khung cảnh đó phải được bảo vệ Không một công trình xây dựng gì mới, một sự phá huỷ hoặc sửa sang nào mà làm biến đổi mối tương quan giữa khối hình và màu sắc được phép tiến hành”
Bảo tồn các di sản văn hóa đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu trên những quan điểm khác nhau, tùy vào từng di sản cụ thể Bảo tồn di sản văn hóa chính là nỗ lực làm sao để di sản được gìn giữ theo dạng thức vốn có ban đầu Dựa vào mỗi loại hình di sản mà chúng ta chọn cách bảo tồn sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất Từ đó, các nhà khoa học đưa ra những quan điểm khác nhau trong bảo tồn di sản văn hóa, đó là: quan điểm Bảo tồn nguyên vẹn, Bảo tồn trên cơ sở kế thừa và Bảo tồn phát triển
- Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn: Theo Gregory J.Ashworth, quan điểm này bắt đầu phát triển từ những năm 50 của thế kỷ XIX, được sự ủng hộ của nhiều học giả Tên của quan điểm cũng đã thể hiện rất rõ phương châm mà quan
Trang 26điểm này hướng đến, đó chính là tính “ nguyên vẹn” của di sản Theo họ, di sản cần phải được bảo vệ nguyên vẹn như nó vốn có, di sản phải được phục hồi nguyên gốc và không bị ảnh hưởng, chi phối của sự phát triển trong xã hội đương đại
- Còn quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa thì lại đưa ra quan điểm hoàn toàn trái ngược Các học giả đi theo những quan điểm này cho rằng, mỗi di sản luôn thực hiện nhiệm vụ lịch sử nhất định, và trong sự tồn tại đó di sản cần phải phát huy những giá trị văn hóa, xã hội phù hợp với thời đại mới và loại
bỏ những gì không còn phù hợp Quan điểm này được các học giả hiện nay quan tâm và là xu thế khá phổ biến trong việc bảo tồn di sản
- Đối với Quan điểm Bảo tồn phát triển thì cho rằng với sự phát triển như hiện nay, việc làm thế nào để di sản văn hóa sống và phát huy những giá trị của di sản mới chính là điều quan trọng
Từ những điều nêu trên, có thể hiểu quảng bá và bảo tồn trên sóng truyền hình chính là gìn giữ những điều tốt đẹp và làm lan tỏa sức mạnh của những giá trị tốt đẹp đó đến với quần chúng nhân dân, đưa những giá trị đó vào việc giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ và khoa học thông qua kênh truyền tin hữu hiệu – Truyền hình
1.1.4 Báo chí truyền hình
Báo chí là một hiện tượng xã hội, có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, giải trí Đối với Báo chí, không có nhiều tư liệu khái niệm báo chí cụ thể rõ ràng, điều này trong cuốn
Cơ sở lý luận Báo chí của PGS.TS Nguyễn Văn Dững cũng đã đề cập
Theo nhiều tài liệu tìm hiểu, về ngữ nghĩa, báo chí xuất phát từ hai từ: báo ( tức là thông báo), chí ( tức là ghi lại), nói một cách nôm na, dễ hiểu Báo chí tức là ghi lại và báo cáo về các sự vật, hiện tượng nổi bật đang được xã hội quan tâm Trãi qua thời gian, những sự hiểu về báo chí cũng dần dần thay
Trang 27đổi, báo chí không hẳn là chỉ ghi lại và báo cáo mà trong đó còn là cả quá trình truyền thông tin một cách khoa học Trong quá trình truyền thông tin ấy, báo chí không chỉ ghi lại sự vật, hiện tượng, truyền những thông tin ấy đến với công chúng mà báo chí còn có sự phân thích, bình luận, phản hồi một cách đa chiều Những điều đó sẽ được chuyển tải qua các phương tiện truyền thông:
Báo viết ( báo in - báo giấy ): Đây là thể loại báo chí xuất hiện lâu đời nhất, không thể thiếu trong đời sống cộng đồng những năm trước đây Báo in
có nhiều dạng như: nhật báo, tạp chí, tuần báo, nguyệt san, tập san Có một thời, hình ảnh công chúng ở bất cứ đâu: tàu điện, bến xa, bến tàu, trước hiên nhà, ngồi mân mê đọc những trang báo in trắng đen đã trở thành nét đẹp văn minh trong đời sống cộng đồng Thời đó, người ta thích báo in bởi tính phổ cập cao, bởi nội dung sâu sắc, người ta có thể dễ dàng lưu trữ, nghiền ngẫm
và đọc đi đọc lại nhiều lần Nhưng với nhịp sống phát triển, công nghệ thay đổi không ngừng, báo in không còn giữ được vị thế như trước nữa Bởi nó không có khả năng đáp ứng thông tin theo xu thế thời đại mới: thông tin nhanh, tương tác tốt
Báo nói ( phát thanh): Thông tin chuyển tải đến công chúng thông qua các thiết bị đầu cuối là radio bằng ngôn ngữ Ưu điểm của loại hình này chính
là khả năng truyền thông tin nhanh, có sự phong phú trong quá trình truyền tải thông tin, ngoài giọng nói, còn có cả âm thanh sống động, nhạc số đặc sắc, không chỉ truyền tải thông tin mà còn có sự tương tác cao giữa chương trình
và công chúng, không chỉ tương tác gián tiếp mà còn có thể tương tác trực tiếp Nhưng cũng như nhiều loại hình báo chí khác, phát thanh cũng có những hạn chế trong tình hình mới, đó chính là không có hình ảnh trực quan sinh động để thu hút góc nhìn từ công chúng Công chúng chỉ có thể cảm nhận bằng tai, không thấy được hình ảnh minh họa cho tin bài nên tính thuyết phục không cao
Trang 28Báo truyền hình: Dù ra đời sau nhưng báo truyền hình lại có vị thế lấn
át Báo in và báo phát thanh Thông tin được chuyển tải bằng hình ảnh và âm thanh qua thiết bị đầu cuối là máy phát hình Mang đến những hình ảnh chân thực, sắc nét và âm thanh sống động Báo truyền hình khi vừa ra đời đã đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ thông tin của công chúng đó là thông tin nhanh, kịp thời, chính xác Nhưng dễ dàng nhận thấy rằng, khả năng tương tác hai chiều giữa chương trình và công chúng không cao so với Báo phát thanh
Với sự phát triển của công nghệ, nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng thay đổi, ngoài báo in, báo phát thanh và truyền hình còn có sự xuất hiện của Báo mạng điện tử Vì ra đời sau nên Báo điện tử hội tụ cả những ưu điểm và khắc phục được những nhược điểm của báo in, phát thanh, truyền hình Với hình thức sử dụng giao diện website trên Internet để truyền tải thông tin bằng bài viết, âm thanh, hình ảnh, các đoạn video gồm cả hình ảnh động và âm thanh (video clip), Báo điện tử đã đem đến sự vượt trội trong phương thức truyền tải thông tin đến công chúng, đáp ứng với thời đại công nghệ số và nhu cầu của công chúng, thông tin cập nhật nhanh, liên tục, tính tương tác hai chiều rất cao Nhưng điểm yếu của loại hình này là dung lượng chuyển tải các video không ổn định, tính phổ cập còn yếu, đặc biệt là tin giả
Theo tìm hiểu, những năm 1990, người làm báo chủ yếu viết tin, bài bằng “giấy trắng, mực đen” Những đồ vật “ quyển sổ, cây viết, máy ảnh” là những vật bất ly thân khi đi tác nghiệp Ngày xưa, nghề báo dù phóng viên khó khăn trăm bề nhưng rất cao quý, đi đến đâu họ cũng được người dân yêu quý, tin tưởng Có khi đi tác nghiệp bằng xe đạp, có khi xe ôm, tàu đò hoặc
đi nằm vùng gần nửa tháng trời chỉ vỏn vẹn có 1 bộ độ Bởi vậy, không có sự yêu thương, quý mến của công chúng, làm sao nhà báo có thể vượt qua khó khăn, công tác thuận lợi và nhất là niềm tin để người làm báo luôn quyết tâm
và gắn bó với nghề
Trang 29Trãi qua thời gian, với nhiều giai đoạn lịch sử, nghề báo cũng đã có rất nhiều thay đổi Cuộc cách mạng 4.0 cũng đã mở ra nhiều thuận lợi trong công tác báo chí, và cũng đem đến nhiều thách thức Và báo chí truyền hình cũng không nằm ngoài xu thế đó Truyền hình dù là kênh “ sinh sau, đẻ muộn” nhưng lại chiếm ưu thế hơn cả, bởi truyền hình không chỉ kế thừa được những
ưu điểm của các loại hình báo chí ra đời trước mà đã và đang có sự thích ứng mạnh mẽ với công nghệ 4.0 Trong cuốn Cơ sở lý luận Báo chí của PGS.TS Nguyễn Văn Dững có đề cập: “ Truyền hình là Kênh truyền thông đại chúng
ra đời sau, kế thừa được các thể mạnh của các kênh trước đó, như điện ảnh, báo in, phát thanh và ngày nay đang “tận hưởng” tối đa môi trường truyền thông số trên mạng Internet” [27, tr 118]
Truyền hình là kênh truyền tải thông điệp bằng hình ảnh động với nhiều sắc màu vốn có từ cuộc sống cùng với lời nói, âm nhạc, tiếng động Nhờ thế, truyền hình đem lại cho công chúng bức tranh sống động, cảm giác như đang trực tiếp tiếp xúc và cảm thụ Đó giống như là bức tranh về cuộc sống thực đầy sống động nhưng với qui mô thu nhỏ, được “rút gọn”, “được làm giàu thêm về ý nghĩa, làm sáng rõ hơn về hình thức”, được chắt lọc hơn
về ý tưởng và làm phong phú hơn về giá trị tinh thần giúp người xem nhận thức rõ hơn, đúng hơn, gần gũi và sinh động hơn về những sự kiện và vấn đề cuộc sống”
Báo chí truyền hình với ký hiệu lời nói hình ảnh động, tiếng động âm nhạc, màu sắc có sức sống động trong việc thông tin sự kiện cho công chúng, cảm giác như đang giao tiếp trực tiếp với người trong cột truyền hình vẫn đang tác dụng lợi thế trong lĩnh vực công chứng thị trường truyền thông đặc biệt là trong môi trường công nghệ số hiện nay
Trang 30Phương thức thông tin của truyền hình cũng rất phong phú, linh hoạt: thông tin, giải trí, giáo dục, khoa học công nghệ phù hợp với mục đích và nhiệm vụ cuả từng thông tin cũng như thị hiếu và nhu cầu của công chúng: + Hình thức báo chí: bao gồm những tin, bài, phóng sự, phỏng vấn, những thông điệp được đưa trong các chương trình thời sự, chuyên đề, các chương trình thực tế, truyền hình trực tiếp, truyền hình tương tác Đây là những chương trình người thật việc thật, không hư cấu không dàn dựng Từ đó, thể hiện nhiệm vụ sứ mệnh trọng đại của báo chí đó chính là tuyên tuyền quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước Bên cạnh đó còn truyền thông tin về các sự kiện và các vấn đề thời sự đang được công chúng quan tâm Đồng thời phân tích bình luận các vấn đề, sự kiện
đã và đang diễn ra
Với việc truyền tải thông tin thông qua hình ảnh màu sắc đa dạng, âm thanh sống động đã mang đến sức hấp dẫn riêng cho truyền hình Cùng lúc tác động trực tiếp vào thị giác và thính giác của công chúng, thông tin đã được công chúng mã hóa dễ dàng tạo thuận lợi để công chúng dễ hiểu, dễ tiếp cận
và cảm thụ Từ đó cỗ vũ, kêu gọi hành động của công chúng trong một thời điểm và sự kiện nhất định
+ Truyền hình không chỉ là kênh báo chí truyền thông mà còn chứa đựng nhiều hình thức thông tin khác ngoài báo chí nhưng lại mang thông điệp cụ thể và rất rõ ràng Đó là sân chơi, là không gian giải trí lành mạnh, trong đó
có tất cả các loại hình: từ điện ảnh, sân khấu cải lương, âm nhạc, gamshow, khám phá, đến các clip quảng cáo .tạo nên sân chơi giao lưu văn hóa với nhiều ưu thế vượt trội của truyền hình
Trang 311.2 Hoạt động Đờn ca tài tử tại các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu và An Giang
1.2.1 Hoạt độ Đờn ca tài tử tại Cà Mau
Cà Mau là tỉnh có phong trào đờn ca tài tử phát triển trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long Dù nhịp sống hối hả, dù công nghệ mang theo những loại hình giải trí hiện đại, thế nhưng hoạt động ĐCTT ở tận cũng Mũi đất vẫn tràn đầy sức sống Đến Cà Mau, mọi người dễ dàng bắt gặp hình ảnh những nghệ sĩ, có khi những nghệ sĩ không chuyên thể hiện những bài bản điệu thức trong những nhà hàng sang trọng, thậm chí là những quán cóc ven đường
Phong trào bảo tồn và phát huy nghệ thuật ĐCTT tại địa phương rất được chú trọng thông qua nhiều hoạt động với quy mô lớn Hằng năm, theo định kỳ, các địa phương trong tỉnh đều tổ chức các hội thi, hội diễn, liên hoan đờn ca tài tử Sân chơi này tạo điều kiện cho các câu lạc bộ, đội nhóm đờn ca tài tử khắp nơi hội ngộ Qua những lần hội thi, hội diễn, liên hoan nhiều gương mặt tài tử trẻ, tài năng được phát hiện
Bên cạnh đó, các tỉnh trong khu vực, đặc biệt là ba tỉnh (Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng) hằng năm đều tổ chức luân phiên Liên hoan Đờn ca Tài tử quy tụ nhiều tài tử ca, tài tử đờn khắp nơi tham dự Ngoài ra, ở các địa phương còn thường xuyên tổ chức sinh hoạt định kỳ hàng tuần, hàng tháng ở Trung tâm văn hóa các huyện, xã quy tụ nhiều nghệ nhân ở địa phương đến tham gia hòa điệu Đây cũng là một sân chơi lành mạnh thu hút nhiều người
mộ điệu đến thưởng lãm
Các câu lạc bộ đờn ca tài tử duy trì sinh hoạt ĐCTT đều đặn cùng nhau giao lưu, học hỏi Hiện tại, các địa phương đã chú trọng phát triển các thế hệ
kế thừa, có năng khiếu để tiếp tục bổ sung vào những câu lạc bộ đờn ca tài tử
Ở Cà Mau, nhiều gia đình có truyền thống đờn ca tài tử, cha truyền con nối
Và từ cái nôi dân gian ấy đã xuất hiện những tên tuổi lớn, có hiểu biết uyên
Trang 32thâm về loại hình đờn ca tài tử Họ không đơn thuần là nghệ nhân dân gian nữa, những tri thức, hiểu biết đã được hệ thống thành công trình khoa học nghiêm túc Những gia đình như: gia đình Nghệ nhân dân gian Tăng Phát Vinh (Ba Vinh, xã Định Bình, TP Cà Mau) có các thế hệ trong gia đình đều theo nghiệp Đờn ca tài tử; gia đình nghệ nhân Lương Quốc Sỹ (huyện Trần Văn Thời) có vợ, chồng, con đều là những nghệ nhân đờn ca tài tử
Là một trong những tỉnh có phong trào Đờn ca tài tử phát triển, những năm qua hoạt động này luôn được gìn giữ, duy trì, góp phần quan trọng vào việc nâng cao và làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Tuy nhiên, trước yêu cầu mới và vị thế mới, Đờn ca tài tử tỉnh Cà Mau cần những nguồn lực mới, đó là cần sự đầu tư đồng bộ, thiết thực và hiệu quả của Nhà nước và toàn xã hội để Đờn ca tài tử vừa được bảo vệ, vừa được phát triển mà vẫn giữ được cái chất, cái hồn của bộ môn nghệ thuật vừa dân gian, vừa bác học này Đồng thời phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội
Cũng như nhiều tỉnh thành khác quan tâm đến nghệ thuật ĐCTT, Cà Mau đang gặp nhiều khó khăn trong công tác bảo tồn và phát triển Số lượng câu lạc bộ và số người tham gia có chiều hướng giảm Thêm vào đó, hoạt động ĐCTT nơi đây chủ yếu là đam mê, thế nên các nghệ nhân, tài tử để toàn tâm toàn ý với ĐCTT là một điều rất khó bởi ĐCTT không phải là nghề để họ
có thể dựa vào để mưu sinh, cải tạo cuộc sống
1.2.2 Hoạt độ Đờn ca tài tử tại Bạc Liêu
Bạc Liêu, vùng đất của “ đồng chua muối mặn” – nhờ công khai phá của người Kinh và hai dân tộc anh em, người Hoa và người Khmer, từ đồng bưng lung láng nước ngập, quanh năm phèn mặn, Bạc Liêu chuyển mình thành vùng đất màu mở, phì nhiêu 300 năm khai phá, xây dựng và phát triển,
đã tạo nên một dáng vóc Bạc Liêu với bề dày lịch sử, với văn hóa đa đạng, đa sắc màu
Trang 33Có nhiều loại hình văn hóa cùng phát huy và cùng song song tồn tại ở Bạc Liêu, trong đó có nghệ thuật Đờn ca tài tử Người ta gọi Bạc Liêu là cái nôi của nghệ thuật ĐCTT vì nơi đây từng sản sinh ra nhiều nghệ nhân tài tử đờn, tài tử ca nổi tiếng vào loại bậc nhất và những bài bản, điệu thức bất hủ để lại cho đời Có thể kể đến như: nhạc sư Lê Tài Khí – thường gọi là Nhạc Khị, nhà sư Nguyệt Chiếu ( Lưu Hữu Phước), nghệ sĩ Cao Văn Lầu với bài Dạ cổ Hoài lang Có thể nói, những thập niên 30 của thế kỷ XX là thời kỳ mà phong trào đờn ca tài tử tại Bạc Liêu phát triển hưng thịnh, tạo tiếng vang khắp các tỉnh thành Nam bộ
Hiện nay, Bạc Liêu có nhiều CLB ĐCTT và hàng trăm nghệ nhân tham gia hoạt động dưới hình thức xã hội hóa và đa phần mang tính chất gia truyền Gắn liền với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, mỗi khóm, ấp được công nhận đạt chuẩn văn hóa, các Câu lạc bộ đờn ca tài tử này được chọn lọc thành những CLB cấp xã, rồi cấp huyện
Từ nửa đầu thế kỷ XX đến nay, Đờn ca tài tử Bạc Liêu phát triển không ngừng, góp phần trong việc phát huy bản sắc văn hóa truyền thống Đó là thành quả của quá trình lao động trí tuệ đầy sáng tạo của bậc tiền nhân, cũng như đội ngũ kế thừa Dù thực tế hiện nay, cũng như nhiều tỉnh thành có phong trào ĐCTT hoạt động, tại Bạc Liêu, không tránh khỏi những khó khăn trong việc quảng bá, bảo tồn loại hình nghệ thuật này Nhưng người Bạc Liêu luôn
ý thức được trách nhiệm bảo tồn, phát huy đúng mức để góp phần gìn giữ và phát huy nghệ thuật ĐCTT
1.2.3 Hoạt độ ĐCTT tại An Giang
Đờn ca tài tử không chỉ là loại hình nghệ thuật độc đáo mà còn mang giá trị nhân văn sâu sắc, phản ánh rõ nét tâm hồn, cốt cách con người Nam bộ
Là một trong những tỉnh thành thuộc khu vực phía Nam, tại An Giang công tác bảo tồn nghệ thuật đờn ca tài tử, đã và đang tích cực thực hiện
Trang 34Thông qua những hoạt động: Liên hoan đờn ca tài tử cấp xã, huyện và cấp tỉnh, tham dự liên hoan với các tỉnh bạn, xây dựng nhiều câu lạc bộ ĐCTT ở cơ sở, mở nhiều lớp truyền dạy đờn ca tài tử, ĐCTT ngày càng đi vào cuộc sống của những người dân nơi đây Nếu tìm hiểu kỹ về hoạt động ĐCTT tại An Giang, dễ dàng nhận ra rằng, tâm huyết với loại hình nghệ thuật này luôn được lan tỏa từ các xã, các huyện Mỗi xã, huyện trong tỉnh An Giang luôn biết cách tạo nên sự thu hút từ công chúng và đưa ĐCTT vào cuộc sống
Trong hoạt động luôn có sự gắn kết nhịp nhàng giữ các trung tâm văn hóa và các câu lạc bộ ĐCTT, họ tổ chức những không gian diễn xướng ĐCTT, với nhiều chủ đề phong phú, hấp dẫn Có thể kể đến như: thành phố Long Xuyên với đêm diễn: Long Xuyên khúc tự tình, phong trào ĐCTT huyện Thoại Sơn, huyện Phú Tân, liên hoan ĐCTT và trích đoạn cải lương huyện Chợ Mới, Những hoạt động này không chỉ tạo nên sự gắn kết sinh hoạt văn hóa của mỗi địa phương, mà còn góp phần trong công tác quảng bá, bảo tồn
và phát huy nghệ thuật ĐCTT
Tại An Giang, thời gian qua, hoạt động ĐCTT khá sôi nổi, đã có những đóng góp cụ thể và hiệu quả trong công tác quảng bá, bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa, đặc biệt là nghệ thuật ĐCTT: An Giang là một trong những tỉnh đi đầu ở đồng bằng sông Cửu Long trong việc gầy dựng và phát triển mạnh mẽ phong trào Đờn ca tài tử với hơn 22.000 người biết đờn - ca, trong đó có trên 2660 tài tử đờn và tài tử ca thường xuyên đến sinh hoạt khoảng 230 CLB và đội, nhóm Tuy hoạt động mỗi địa phương có quy mô và cách thức khác nhau, nhưng đều xuất phát từ niềm say mê và mong muốn gìn giữ những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Thật vậy, thông qua những buổi sinh hoạt ĐCTT, họ vừa được thỏa mãn niềm đam mê loại hình âm nhạc đặc sắc của dân tộc, đồng thời, góp phần phục vụ nhu cầu thưởng thức nghệ thuật
Trang 35của đông đảo bà con trong khóm trong ấp… qua đó đóng góp sức mình trong công tác giữ gìn hồn cốt của loại hình nghệ thuật này
Dù phong trào hoạt động có phát triển, nhưng cũng giống như nhiều tỉnh thành khác, hoạt động ĐCTT tại An Giang cũng gặp rất khó khăn Phong trào phát triển rộng khắp nhưng sau thời gian hoạt động, một số nơi không còn hiệu quả hoặc ít duy trì Để các CLB sống được, đòi hỏi rất nhiều yếu tố: duy trì sinh hoạt đều đặn, giao lưu học tập trao đổi kinh nghiệm giữa các CLB, đội ngũ kế thừa An Giang đang cố gắng đưa ra nhiều giải pháp để cải thiện vấn đề trên Để giữ gìn và phát huy môn nghệ thuật đờn ca tài tử, nhiều địa phương trong tỉnh đang tập trung củng cố và đào tạo đội ngũ kế thừa, nhất là phát triển các em nhỏ có năng khiếu, có nhiều nơi còn mạnh dạng đào tạo miễn phí cho các cháu độ tuổi thiếu nhi
1.3 Vai trò của báo chí Truyền hình với việc Quảng bá, bảo tồn và phát huy nghệ thuật Đờn ca tài tử
Việt Nam là đất nước có một nền văn hiến lâu đời, trải qua nhiều thời
kỳ lịch sử, đã tạo nên một nền văn hóa mang màu sắc Việt rất đặc thù Từ thời vua Hùng dựng nước, cả dân tộc Việt Nam chung tay giữ nước và xây dựng đất nước Trãi qua nhiều cuộc chống xâm lược, hai cuộc kháng chiến trường
kỳ gian khổ nhưng hiển vinh, với chiến công hiển hách, chúng ta không chỉ giành độc lập mà còn giữ được bản sắc văn hóa, vẫn bảo tồn và phát huy tốt các giá trị văn hóa truyền thống lâu đời của ông cha Đất nước hòa bình, cuộc sống xã hội ngày càng phát triển, thời đại toàn cầu hóa với nhiều sự thay đổi Không thể phủ nhận, toàn cầu hóa đã đem đến rất nhiều cơ hội cũng như tạo điều kiện phát triển, thế nhưng cũng mang đến rất nhiều thách thức, nhất là trong vấn đề phải làm sao bảo tồn và phát huy bản sắc truyền thống của văn hóa dân tộc trong thời kỳ giao lưu, hội nhập Nghị quyết tại hội nghị Trung ương 5 khóa VIII năm 1998 cũng đã khẳng định: “ Bảo tồn và phát huy những
Trang 36di sản văn hóa tốt đẹp của dân tộc, sáng tạo nên những giá trị văn hóa mới xã hội chủ nghĩa, làm cho những giá trị ấy thấm sâu vào cuộc sống của toàn xã hội và mỗi con người, trở thành tâm lý và tập quán tiến bộ, văn minh là một quá trình cách mạng đầy khó khăn, phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian”[3, tr 8]
Chúng ta biết rằng, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa là trách nhiệm của cả cộng đồng, phát huy giá trị văn hóa chính là nền tảng cho sự phát triển xã hội Các giá trị văn hóa có thể được giao lưu, truyền tải qua nhiều kênh khác nhau trong môi trường xã hội, trong các cộng đồng người, nhưng trong xã hội hiện đại các giá trị văn hóa giao lưu và truyền tải qua báo chí truyền thông là con đường và phương thức nhanh nhất hiệu quả nhất, bởi đặc trưng vốn có của báo chí và truyền thông đại chúng là sức tác động mạnh
mẽ, kịp thời và liên tục, đặc biệt là tác động đến đông đảo công chúng
Trong những năm qua, Báo chí truyền hình cùng với các loại hình Báo chí đã góp tiếng nói của mình trong việc quảng bá, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa, trong đó có nghệ thuật ĐCTT Có thể nói báo chí truyền hình
có vai trò quan trọng trong xã hội, có tác động trực tiếp đến mọi mặt của đời sống: chính trị, xã hội, giáo dục, văn hóa Thông tin trên báo chí truyền hình góp phần làm chuyển biến nhận thức của như nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp, ngành, tổ chức có liên quan và đặc biệt là tác động đến từng cá nhân trong cộng đồng trong việc quảng bá, bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa, trong đó có nghệ thuật ĐCTT
Trước hết phải kể đến vai trò quảng bá của truyền hình Truyền hình là một phương tiện hữu hiệu nhất để giới thiệu và quảng bá những giá trị của văn hóa, trong đó có di sản văn hóa phi vật thể mà cụ thể là loại hình nghệ thuật ĐCTT đến với công chúng Báo chí truyền hình là kênh thông tin phản ánh đa chiều về các sự kiện, hoạt động liên quan đến nghệ thuật ĐCTT Qua
Trang 37những thông tin ấy, các nhà lãnh đạo, các cấp có liên quan có thêm những thông tin hữu ích trong quảng bá, bảo tồn và phát huy nghệ thuật ĐCTT
Báo truyền hình với ký hiệu lời nói, hình ảnh động, tiếng nói, âm nhạc, màu sắc sống động đã tạo nên nhiều lợi thế cho truyền hình trong việc đưa ĐCTT vào cuộc sống Qua đó, công chúng hiểu thêm về sự ra đời và phát triển của loại hình này Nếu như trước đây, công chúng biết nhiều đến cải lương thì thông qua các chương trình ĐCTT họ phân biệt giữa cải lương và ĐCTT Dễ dàng thấy rằng, Báo in với ký hiệu chữ viết và hình ảnh, màu sắc tác động vào thị giác của con người; Báo phát thanh dùng lời nói tiếng động,
âm thanh tác động vào thính giác không thể nào làm bật giá trị của nghệ thuật ĐCTT một cách trọn vẹn, bởi ĐCTT là loại hình nghệ thuật đặc biệt Chúng ta phải nhìn, phải nghe, phải thưởng thức cả phần hình và phần tiếng mới cảm nhận được giá trị của ĐCTT Báo mạng điện tử với thế mạnh là sử dụng tổng hợp các loại ký hiệu và phương tiện truyền thông hiện đại nhất nhưng để đưa một chương trình 30-45 phút lên Báo điện tử là không hề đơn giản Thế mới thấy, vai trò to lớn của truyền hình trong công tác quảng bá, bảo tồn và phát triển nghệ thuật ĐCTT
Trong thời gian qua, các đài PTTH bên cạnh tập trung vào các chương trình thời sự, chuyên đề, các đài tại khu vực phía nam hầu như đều có sản xuất phát sóng những chương trình ĐCTT, hoặc đưa tin về các hoạt động ĐCTT trong các chuyên đề, các chương tình thời sự Trong đó ít nhiều cũng đưa những thông tin cụ thể công tác bảo tồn nghệ thuật ĐCTT, hay phản ánh những mặt trái trong công tác bảo tồn loại hình nghệ thuật này Nhờ đó, giúp cho các cơ quan ban ngành nắm được thông tin, nhất là những vấn đề cấp bách trong công tác bảo tồn, từ đó đưa ra những phương hướng, kế hoạch bảo tồn một cách kịp thời và hiệu quả Không chỉ thế, tiếng nói của báo chí truyền hình còn góp phần cổ động tuyên truyền những giá trị của loại hình
Trang 38nghệ thuật ĐCTT Thông qua truyền hình, công chúng một phần nào có thêm những kiến thức về ĐCTT, những bài bản, điệu thức, cách ngân nga, nhả chữ, hơn hết công chúng được tiếp cận với loại hình nghệ thuật truyền thống, mà nếu họ không được tiếp cận nhiều, không được ghi nhớ thường xuyên, có khi loại hình nghệ thuật này sẽ bị mai một theo thời gian
Thứ hai phải kể đến vai trò bảo tồn nghệ thuật ĐCTT của truyền hình Những mảng màu cuộc sống đều được truyền hình truyền tải và lưu giữ theo thời gian Hơi thở cuộc sống, văn hóa cộng động, giá trị nghệ thuật đều được truyền hình gìn giữ có kế hoạch, có ý thức và trách nhiệm Hiện nay, các địa phương có di sản được tôn vinh đã và đang chủ động trong bảo tồn di sản của địa phương mình Các cơ quan báo đài, nhất là truyền hình luôn đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức Qua đó nhiều cá nhân, câu lạc bộ
ca trù, quan hò, hát Xoan, Đờn ca tài tử có dịp phục hồi và hoạt động nhộn nhịp hơn
Thời gian qua, các cơ quan báo đài phối hợp cùng các ngành chức năng
có liên quan xây dựng những kế hoạch, những đề án nhằm thúc đẩy việc bảo tồn những di sản văn hóa trong đó có nghệ thuật ĐCTT – di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Bên cạnh việc tuyên truyền thông qua các chương trình thời sự, chính luận, chương trình giải trí mà còn tổ chức nhiều hoạt động thiết thực theo hình thức liên hoan, festival Đây chính là cơ hội tốt cho những người quan tâm đến loại hình nghệ thuật này có dịp giao lưu, học hỏi và tự giới thiệu về di sản văn hóa địa phương Và thực hiện bước đầu có hiệu quả khi hoạt động ĐCTT tại các tỉnh thành hiện hoạt động thường xuyên
và phát triển Bên cạnh việc tuyên truyền những giá trị của nghệ thuật ĐCTT, thông qua các chương trình, tin bài, báo chí truyền hình còn phản ảnh công tác bảo tồn ĐCTT tại các địa phương, những mặt được và chưa được cần phải
Trang 39khắc phục trong công tác bảo tồn, qua đó giúp các nhà quản lý văn hóa cùng chính quyền địa phương nắm bắt tình hình và có hướng xử lý kịp thời
Chúng ta biết rằng, bảo tồn không tự khắc di sản thực hiện được mà cần
có bàn tay của con người, sức mạnh tập thể đó chính là bước đệm quan trọng
và cốt lõi nhất trong vấn đề này Truyền hình đưa vấn đề, kết nối và dẫn dắt mọi người thông qua những chương trình, tin bài sâu sắc và chất lượng Thật vậy, tiếng nói của truyền hình là tiếng nói trực tiếp, tiếng nói của “face to face” – “mặt đối mặt” nên tính thuyết phục rất cao Chính truyền hình đã tạo nên lời kêu gọi đầy hữu hiệu để người dân quan tâm đến loại hình nghệ thuật truyền thống, từ đó người dân phần nào hiểu được hoạt động ĐCTT tại địa phương mình và nâng cao cho mình ý thức trong việc bảo tồn loại hình nghệ thuật này
Thứ ba chính là vai trò phát huy nghệ thuật ĐCTT của báo chí truyền hình Báo chí truyền hình đóng vai trò tích cực trong việc tôn vinh những thế
hệ nghệ nhân, những tổ chức, cá nhân đã có nhiều đóng góp trong bảo tồn nghệ thuật ĐCTT Bên cạnh đó có tạo điều kiện thuận lợi để phát hiện những tài năng, những đội ngũ kế thừa – lực lượng quan trọng trong quảng bá, bảo tồn và phát huy nghệ thuật ĐCTT trong tương lai
Truyền hình chính là công cụ truyền thông tinh nhanh và hữu hiệu Để nghệ thuật ĐCTT có sức lan tỏa, tiếng nói của truyền hình góp công rất lớn Chính truyền hình đã đưa nghệ thuật ĐCTT đến với đông đảo người dân, không chỉ trong nước mà còn trên thế giới Thông qua truyền hình người dân thế giới biết đến ĐCTT nhiều hơn Họ hiểu hơn về văn hóa Việt Nam cũng như con người Việt Nam Tiếng đàn, lời ca, hình ảnh giúp họ hiểu hơn về đất nước hình chữ S Kết nối, giao lưu văn hóa truyền thống giữa Việt Nam và thế giới được đẩy mạnh Thật vậy, nghệ thuật là không có khoảng cách, không có giới hạn, dù ngôn ngữ khác nhau nhưng âm nhạc, nghệ thuật giúp người ta cảm thụ, có được sự gần gũi và thiện cảm Báo chí Truyền hình cũng
Trang 40đóng góp một phần công sức trong việc đưa những di sản của Việt Nam thành
di sản thế giới, trong đó có nghệ thuật ĐCTT
1.4 Tính cấp thiết và nhu cầu cần phải quảng bá ĐCTT trên sóng truyền hình trong thời đại số
Những bậc tiền nhân đã để lại cho thế hệ sau nhiều giá trị quý báu trong kho tàng âm nhạc dân tộc Đó chính là những tinh hoa được chắt lọc, vun đắp theo thời gian Nhiều loại hình âm nhạc đã được Unessco công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Điều này càng giúp cho chúng ta
có thêm niềm tin và động lực để bảo tồn những giá trị của văn hóa truyền thống, mà ở đây tôi muốn đề cập là nghệ thuật ĐCTT Thế nhưng hiện nay, vấn đề quảng bá và bảo tồn loại hình nghệ thuật này có thật sự hiệu quả?
Đầu tiên, đó chính là sự yếu thế của các phong trào Đờn ca tài tử Mặc
dù, hiện nay, tại các tỉnh thành khu vực phía Nam, phong trào ĐCTT vẫn hoạt động nhưng vẫn tồn tại hai luồng ý kiến trái chiều nhau Có ý kiến lạc quan cho rằng, ĐCTT vẫn đang hoạt động rất sôi động, thu hút đông đảo mọi tầng lớp trong xã hội, đa phần các ấp, các xã trong các tỉnh thành đều có các câu lạc bộ sinh hoạt ĐCTT Loại hình nghệ thuật này không chỉ được người trong nước quan tâm mà cả những du khách quốc tế khi đến Việt Nam cũng muốn khám phá loại hình độc đáo này kiến còn lại thì cho rằng, dù được sự quan tâm của nhà nước, các cấp các ngành nhưng hiện nay ĐCTT chỉ hoạt động cầm chừng Số lượng các thành viên tham gia Câu lạc bộ ĐCTT thì đông nhưng chủ yếu hoạt động cho có hình thức, mang nặng tính chất bao cấp,
cổ động, thậm chí mua vui trong chốc lát nơi công cộng, khiến cho loại hình nghệ thuật này có nguy cơ chết dần theo thời gian Cụ thể như ở Cà Mau, hầu như để tìm một địa điểm thưởng thức Đờn ca tài tử là rất khó, thậm chí không có