- Với cùng một nội dung đơn vị KT và cùng yêu cầu về mức độ cần đạt như nhau, để thực hiện chuẩn KT, KN đối với CT Sinh học GDTX cấp THCS, GV cần phải biết phân hóa HV thành những nhóm[r]
Trang 1PHẦN 2
HƯỚNG DẪN DẠY HỌC THEO CHUẨN KT, KN
TRONG CT SINH HỌC GDTX CẤP THCS
Trang 2I/ CÁC MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT VỀ KT, KN ĐƯỢC QUY ĐỊNH TRONG CHƯƠNG TRÌNH
1/ CÁC MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT VỀ KIẾN THỨC
• Thông thường, các mức độ cần đạt về KT được XĐ theo 6 mức
độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá và sáng
tạo
• Tuy nhiên, CT sinh học GDTX cấp THCS, chỉ đề cập đến ở 3
mức độ: nhận biết, thông hiểu và vận dụng nhưng chủ yếu ở
cấp độ thấp
Có bao nhiêu mức độ cần đạt về kiến thức? Đó là những mức độ nào? CT GDTX chủ yếu đề cập đến mức độ nào?
Trang 3Nhận biết
- Là sự nhớ lại và nêu được dữ liệu, thông tin đã được học, nói cách khác,
đó là sự nhận biết thông tin, ghi nhớ và tái hiện/nhắc lại thông tin Cụ thể ở đây là HV nhận ra và nêu được các khái niệm, nội dung các vấn đề đã học
- HV có thể và chỉ cần nhớ hoặc nhận ra hoặc dựa trên những thông tin có tính đặc thù của một khái niệm, một sự vật, một hiện tượng
- HV phát biểu đúng một định nghĩa, định lý, định luật nhưng chưa giải thích và vận dụng được chúng
-Có thể cụ thể hoá mức độ nhận biết bằng các yêu cầu:
+ Nhận ra, nhớ lại khái niệm, định lý, định luật, tính chất
+ Nhận dạng được các khái niệm, hình thể, vị trí tương đối giữa các đối tượng
+ Liệt kê, xác định vị trí tương đối, các mối quan hệ đã biết giữa các yếu
tố, các hiện tượng
Trang 4Thông hiểu
- Là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, hiện tượng, sự vật; là khả năng giải thích được, chứng minh được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện tượng; là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin HV
đã học hoặc đã biết Điều đó có thể được thể hiện bằng việc chuyển thông tin từ dạng này sang dạng khác, bằng cách giải thích thông tin và bằng cách ước lượng xu hướng tương lai
-Có thể cụ thể hoá mức độ thông hiểu bằng các yêu cầu
+ Diễn tả bằng ngôn ngữ cá nhân các khái niệm, định lý, định luật
+ Biểu thị, minh hoạ, giải thích được ý nghĩa các khái niệm, hiện tượng + Lựa chọn, bổ sung, sắp xếp lại những thông tin cần thiết để giải quyết vấn đề
- Sắp xếp lại các ý trả lời câu hỏi hoặc lời giải theo cấu trúc lôgic
Trang 5Vận dụng
- Là khả năng sử dụng các KT đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới; là khả năng hiểu biết thông tin để giải quyết một vấn đề đặt ra, là khả năng biết vận dụng KT, sử dụng phương pháp, nguyên lý hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề
Đây là mức độ cao hơn mức độ thông hiểu, yêu cầu áp dụng được các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lý, định lý, định luật để giải quyết một vấn đề trong học tập hoặc thực tiễn
Trang 6Có thể cụ thể hoá mức độ vận dụng bằng các yêu cầu:
+ So sánh các phương án giải quyết vấn đề
+ Phát hiện lời giải có mâu thuẩn, sai lầm và chỉnh sửa được
+ Giải quyết được những tình huống mới bằng cách vận dụng các khái niệm, định
lý, định luật, tính chất đã biết
+ Khái quát hoá, trừu tượng hoá từ tình huống đơn giản, đơn lẻ quen thuộc sang tình huống mới, phức tạp hơn
Trang 72/ CÁC MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT VỀ KĨ NĂNG
• Thông thường, các KN phân làm 4 nhóm:
- Các KN nhận thức: quan sát, chú ý, ghi nhớ, so sánh, phân tích, tổng
hợp, khái quát hóa, cá biệt hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hóa, quy nạp, diễn dịch
- Các KN hành động: Chủ động, độc lập, sáng tạo trong học tập, lao
động, công tác, tu dưỡng, biết phát hiện và giải quyết các vấn đề nảy sinh
- Các KN học tập, đặc biệt tự học: thu thập, xử lí, tích lũy, sử dụng thông
tin
- Các KN thực hành: quan sát, thí nghiệm.
• Được xác định theo 3 mức độ: thực hiện được, thực hiện thành thạo,
thực hiện sáng tạo.
• Đối với CT sinh học GDTX cấp THCS, chủ yếu ở mức độ thực hiện được: HV nhắc lại được theo đúng SGK và vận dụng
Kĩ năng được chia thành mấy nhóm? Đó là những nhóm nào?
Có bao nhiêu mức độ cần đạt về kĩ năng? Đó là những mức độ nào? CT GDTX chủ yếu đề cập đến mức độ nào?
Trang 8Có thể đơn giản hoá mức độ tư duy như sau :
Mức độ biết : HV nhận ra, nhớ lại, nhận dạng được, liệt kê, xác định
được , trả lời câu hỏi như thế nào ? Là cái gì ? Những câu hỏi ở mức độ biết chỉ yêu cầu HV nhớ lại KT đã biết ở SGK
Mức độ hiểu : HV cần diễn tả bằng ngôn ngữ, biểu thị, minh hoạ, giải
thích được, lựa chọn, bổ sung, sắp xếp lại những thông tin trả lời câu hỏi tại sao ? Vì sao ?
Mức độ vận dụng : HV phát hiện lời giải có mâu thuẫn, sai lầm và
chỉnh sửa được, giải quyết được những tình huống tình huống, khái quát hoá, trừu tượng hoá các tình huống đơn giản, đơn lẻ trả lời câu hỏi tại bằng cách nào ?
Trang 9II/ SỬ DỤNG CHUẨN KT, KN ĐỂ XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU DẠY HỌC
1/ Ý nghĩa của mục tiêu dạy học:
- Mục tiêu dạy học chi phối các thành tố khác của quá trình dạy học, từ mục tiêu dạy học thiết kế nội dung, chương trình, lựa chọn phương pháp, phương tiện và các hình thức dạy học
- Mục tiêu dạy học là căn cứ để tổ chức hoạt động dạy và học của
GV và HV
- Mục tiêu dạy học là tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng dạy học
Trang 102/ Khi xác định mục tiêu dạy học cần phải lưu ý:
- MT phải định rõ mức độ hoàn thành công việc của HV; nghĩa là cần chỉ
rõ học xong bài này HV phải đạt được cái gì, chứ không phải là trong bài này GV phải làm gì
- MT phải nói rõ đầu ra của bài học chứ không phải là tiến trình bài học
- MT không phải đơn thuần là chủ đề của bài học mà là cái đích bài học mà
HV phải đạt tới
- Nếu bài học có nhiều MT thì nên trình bày riêng từng MT với mức độ phải đạt về mỗi MT đó
- Mỗi đầu ra của MT nên được diễn đạt bằng một động từ được lựa chọn để xác định rõ mức độ HV phải đạt được thông qua hoạt động học Những động từ như nắm được, hiểu được thường thích hợp cho những MT chung,
để xác định MT cụ thể cần dùng những động từ như: phân tích, so sánh, chứng minh, áp dụng, quan sát, đo đạc,
Trang 113/ Sử dụng chuẩn KT, KN để xác định mục tiêu của bài học, GV cần phải:
Sử dụng chuẩn KT, KN của từng chủ đề cụ thể được quy định trong
CT và tham khảo tài liệu hướng dẫn thực hiện chuẩn KT, KN môn Sinh
học THCS để XĐ MT bài học Sau đó đối chiếu với SGK để XĐ KT
nào là KT cơ bản, KT nào là KT trọng tâm, đồng thời XĐ những KN
cần hình thành cho HV Việc xác định MT bài học phải bám sát mức
độ cần đạt về KT, KN được quy định trong CT, GV không được làm
tăng mức độ yêu cầu cần đạt đã được quy định trong CT
Trang 12III/ XÁC ĐỊNH NỘI DUNG DẠY HỌC THEO CHUẨN KT, KN
- CT giáo dục là căn cứ pháp lý cho mọi hoạt động giáo dục
Vì vậy, GV cần căn cứ vào chuẩn KT, KN của từng chủ đề cụ thể được quy định trong CT Sinh học GDTX cấp THCS để xác định nội dung dạy học
- Nội dung dạy học, phải luôn bám sát mức độ yêu cầu cần đạt về KT, KN của CT, đảm bảo không quá tải và không quá lệ thuộc hoàn toàn vào SGK
- Mức độ khai thác sâu KT, KN trong SGK phải phù hợp với khả năng tiếp thu của HV
GV không được làm tăng mức độ yêu cầu cần đạt đã được quy định tại CT (ngoại trừ các nội dung bồi dưỡng cho các HV khá, giỏi)
Trang 13- Với cùng một nội dung đơn vị KT và cùng yêu cầu về mức độ cần đạt như nhau, để thực hiện chuẩn KT, KN đối với CT Sinh học GDTX cấp THCS, GV cần phải biết phân hóa HV thành những nhóm khác nhau thì mới có định hướng cho việc lựa chọn các đơn vị KT trong SGK và sử dụng thêm tài liệu tham khảo để thực hiện MT chủ đề, bài học và để sử dụng những PPDH, những kĩ thuật dạy học và cách thức tổ chức lớp học cho phù hợp
- Với các vùng xa, vùng sâu, vùng nông thôn chậm phát triển về ĐK kinh
tế, ĐK VH-XH, các vấn đề về giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo và dân tộc,
GV cần dựa theo chuẩn KT, KN của CT để xác định MT dạy học, xác định ND dạy học và lựa chọn các đơn vị KT trong SGK để thực hiện MT đó; không nên lạm dụng tài liệu tham khảo có đề cập tới những chuẩn khác cao hơn hoặc không có trong CT
Sử dụng chuẩn KT, KN xác định nội dung dạy học phải tùy
điều kiện, hoàn cảnh, đối tượng, …
Trang 14- Với các vùng phát triển như thị xã, thành phố, những vùng có điều kiện về kinh
tế, VH-XH, GV vẫn cần dựa theo chuẩn KT, KN của CT để xác định MT dạy học, xác định ND dạy học và lựa chọn các đơn vị KT trong SGK để thực hiện MT
đó Ngoài ra, GV có thể linh hoạt sử dụng những tài liệu tham khảo đưa vào những KT, KN liên quan để tạo điều kiện cho HV phát triển năng lực (việc này chỉ áp dụng đối với những buổi học bồi dưỡng, nâng cao)
- Đối với nhóm HV là người lớn tuổi, họ vừa tham gia LĐSX vừa học văn hóa, nên tăng cường việc tự học, tự nghiên cứu các ND kiến thức trong SGK; tận dụng tối đa vốn kinh nghiệm, hiểu biết, những KT, KN đã có trong cuộc sống, LĐSX của họ để rút ngắn con đường tiếp cận tri thức, tăng cường ôn luyện tập để củng
cố KT, KN cần thiết
- Đối với HV là thanh niên trong độ tuổi, phần lớn số HV này lười học, mất KT
cơ bản từ các lớp dưới, không có cơ hội vào các trường PT Chỉ có một số ít là có động cơ học tập đúng đắn, có khả năng nhận thức, tư duy, có KT nhưng lại không
có thời gian, ĐK để học tập Vì vậy, đối với nhóm HV là thanh niên trong độ tuổi cần tiếp tục phân hoá thành nhiều nhóm nhỏ để xác định MT, yêu cầu về KT, KN cho phù hợp thì quá trình dạy học mới có hiệu quả
Trang 15IV/ YÊU CẦU LỰA CHỌN KIẾN THỨC DẠY HỌC THEO CHUẨN KT, KN
Kiến thức cơ bản phải đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Tính chính xác, KT trong CT sinh học là KT cơ sở của sự sống mà
khoa học đã khẳng định, không cung cấp cho HV những vấn đề còn
tranh luận
+ Tính điển hình: Vì không thể cung cấp nhiều KT, song phải phác hoạ
bức tranh khá đầy đủ, chân thực, chính xác về sự sống, nên phải lựa
chọn những KT điển hình, tiêu biểu cho một quy luật, một quá trình hay
một sự kiện sinh học Tính điển hình đã bao hàm tính chính xác khoa
học
+ Tính cơ bản: KT không nhiều, phải chính xác và điển hình, nên chọn
những KT cơ bản Đây là những KT rất cần thiết, không thể thiếu được,
đủ để biết và hiểu chính xác theo yêu cầu và trình độ của HV
Trang 16NỘI DUNG BÁO CÁO HẾT XIN TRÂN TRỌNG CẢM ƠN!