1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu vấn đề xây dựng hệ thống Freephone cho mạng viễn thông Việt Nam

118 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu vấn đề xây dựng hệ thống Freephone cho mạng viễn thông Việt Nam Nghiên cứu vấn đề xây dựng hệ thống Freephone cho mạng viễn thông Việt Nam Nghiên cứu vấn đề xây dựng hệ thống Freephone cho mạng viễn thông Việt Nam luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp

Trang 3

L ời nói đầu 2

Chương I TỔNG QUAN VỀ LUẬN VĂN 4

1.1 Khái niệm chung về Freephone 4

1.2 Các dịch vụ gia tăng trên Freephone 5

1.3 Khảo sát, phân tích hệ thống của VNPT 12

1.3.1 Tổng quan về hệ thống 1800 của VNPT 12

1.3.2 Các dịch vụ cung cấp bởi hệ thống 1800 của VNPT 13

1.3.3 Một vài hạn chế của dịch vụ 1800 do VNPT cung cấp 17

1.4 Một số lĩnh vực cần nghiên cứu nhằm giải quyết bài toán 18

Chương II MỘT SỐ NGHIÊN CỨU NHẰM GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN 20

2.1 Công nghệ tích hợp máy tính - điện thoại (CTI) 20

2.1.1 CTI là gì và hệ thống CTI tổng quát gồm những gì ? 20

2.1.2 Các chuẩn công nghệ CTI và các dịch vụ ứng dụng của CTI 24

2.2 Một số vấn đề về mạng viễn thông và các kỹ thuật báo hiệu 35

2.2.1 Khảo sát mạng viễn thông 35

2.2.2 Phương pháp báo hiệu 37

2.2.3 Hệ thống báo hiệu R2 và báo hiệu SS7 40

2.2.4 Mạng thông minh (IN) và mạng thế hệ sau (NGN) 47

2.3 Một số kỹ thuật cơ sở dữ liệu liên quan 60

2.3.1 Kỹ thuật cơ sở dữ liệu thời gian thực (Real-time Database System) 60

2.3.2 Kỹ thuật đồng bộ dữ liệu (Synchronize Database) 73

2.4 Một số cơ chế cụ thể trong hệ quản trị cơ sở dữ liệu Oracle 75

2.4.1 Khái quát về Oracle 75

2.4.2 Quản lý dữ liệu trong Oracle 76

2.4.3 Các kỹ thuật real-time và synchronize trong Oracle 77

Chương III ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH HỆ THỐNG 83

3.1 Các dịch vụ cung cấp 83

3.2 Mô hình tổng thể của hệ thống 84

3.2.1 Mô tả các thành phần Hardware và Software 86

3.2.2 Mô tả hoạt động của hệ thống 89

3.3 Xây dựng Web site để quản lý từ xa 92

3.4 Thiết kế cơ sở dữ liệu 94

3.4.1 Chức năng và yêu cầu đối với cơ sở dữ liệu 94

3.4.2 Phân loại và tổ chức dữ liệu 95

3.5 Thiết kế phần mềm hệ thống 96

3.5.1 Phần mềm quản lý dịch vụ tại Service Manager 96

3.5.2 Phần mềm điều khiển dịch vụ tại các Service Node 98

3.6 Quy trình điều khiển và xử lý dịch vụ 103

3.6.1 Cấu trúc bản tin trao đổi giữa các module phần mềm 106

3.6.2 Một số kịch bản điều khiển dịch vụ tiêu biểu 108

Kết luận: 115

Tài liệu tham khảo 116

Phụ lục 1,2 116

Trang 4

L ời nói đầu

Hiện nay, phát triển các dịch vụ gia tăng trên mạng viễn thông là một

xu hướng tất yếu của thị trường, đặc biệt là khi có thị trường viễn thông cạnh tranh như hiện nay Khác với các dịch vụ viễn thông truyền thống hầu như chỉ

có dịch vụ thoại, các dịch vụ viễn thông hiện đại phải kết hợp truyền nhận được nhiều hình thái thông tin khác nhau: thoại, phi thoại, hình ảnh, dữ liệu

và các dịch vụ phải nhằm mục đích tạo nhiều lợi ích lớn nhất cho người tiêu dùng, từ đó tăng khả năng cạnh tranh cho các hãng viễn thông

Xuất phát từ yêu cầu đó, các hãng viễn thông trên thế giới đã chạy đua nghiên cứu phát triển nhiều sản phẩm giá trị gia tăng khác nhau nhằm lôi kéo khách hàng và tăng khả năng cạnh tranh Các dịch vụ phổ biến phải kể đến bao gồm: Voicemail (hộp thư thoại), Audiotex (thư thông tin), giải trí qua điện thoại, Freephone (miễn cước người gọi), Interactive Voice Response (trả lời tự động), Calling Card (thẻ trả trước), chỉ dẫn địa lý

Tại Việt Nam, chỉ trong vài năm qua, các dịch vụ giá trị gia tăng trên

mạng viễn thông đã phát triển rất mạnh mẽ, đặc biệt là khi xuất hiện nhiều nhà cung cấp dịch vụ viễn thông khác nhau: VNPT, SPT, Viettel, VP telecom, Hanoi Telecom Dẫn đầu hiện nay là Tổng Công ty BCVT Việt Nam (VNPT) với tiềm lực mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng mạng viễn thông phủ rộng khắp 64 tỉnh thành trên cả nước

Trong số các dịch vụ gia tăng nói trên, dịch vụ mới nhất phải kể đến là

dịch vụ freephone 1800, đây là dịch vụ đã có ở các nước vài năm trước đây Tại thời điểm hiện nay, Tổng Công ty BCVT Việt Nam (VNPT ) đang cung cấp dịch vụ 1800 trên thị trường với đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp, các trung tâm tư vấn khách hàng Hệ thống VNPT đang sử dụng được mua của hãng SIEMENS, vì vậy mặc dù dịch vụ đã có trên thị trường, nhưng luận văn này vẫn được thực hiện nhằm tìm hiểu các góc độ kỹ thuật,

Trang 5

các công nghệ cần thiết để nắm bắt sâu và có thể “nội địa hoá” phần nào hệ thống này Hơn nữa, tại thời điểm đăng ký đề tài luận văn tốt nghiệp thì dịch

vụ 1800 của VNPT mới ở bước nghiên cứu và thử nghiệm Luận văn này

cũng sẽ tìm hiểu và trình bày một số đánh giá về dịch vụ, về vấn đề mở rộng, của hệ thống do VNPT cung cấp

Như vậy, có thể nói luận văn này dù ít dù nhiều cũng có một số ý nghĩa

thực tiễn nhất định tại thời điểm hiện nay Luận văn sẽ thực hiện một số nghiên cứu, tổng hợp các kiến thức liên quan đến phát triển hệ thống kết hợp khảo sát tình hình thực tiễn trên mạng viễn thông Cuối cùng, luận văn mạnh dạn đề xuất mô hình hệ thống với các thiết kế chi tiết có thể triển khai trong thực tế với điều kiện hiện nay của Việt Nam

Do đây là một hệ thống lớn, liên quan đến nhiều công đoạn khác nhau

mà để triển khai lập trình được cần cả một nhóm lập trình viên nên tác giả luận văn chưa thể coding các module phần mềm được Tuy nhiên, trong khả năng của mình, một số thiết kế về hệ thống đã được thực hiện nhằm kiểm định các lý thuyết đưa ra, ví dụ: cơ sở dữ liệu, các tables, mô hình quan hệ (được thực hiện trên Oracle Designer), các Stored Procedure (viết bằng PL/SQL) Ngoài ra, một số module phần mềm cũng được tiếp cận để lập trình

sơ bộ như: cấu trúc bản tin nội bộ, thuật toán điều khiển dịch vụ được thực hiện bằng C, C++,

Cuối cùng, để thực hiện được luận văn này, em xin chân thành cảm ơn thầy Quách Tuấn Ngọc, người đã nhiệt tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn Em cũng xin cảm ơn các thầy cô trong khoa Công nghệ thông tin, trường Đại học Bách khoa Hà nội đã dạy dỗ em trong suốt quá trình học tập tại đây

Trang 6

Chương I TỔNG QUAN VỀ LUẬN VĂN

Chương này sẽ trình bày các khái niệm cơ bản nhất có liên quan đến bài toán, mô tả bài toán đặt ra, phân tích các hệ thống đã có, ưu nhược điểm

của chúng và nêu lên các nghiên cứu cần thực hiện để giải quyết bài toán

1.1 Khái ni ệm chung về Freephone

Dịch vụ Freephone là loại hình dịch vụ trong đó người gọi điện thoại đến thuê bao có đăng ký sử dụng dịch vụ không phải trả tiền cước phí, mà cước phí này do thuê bao đăng ký sử dụng dịch vụ trả cho nhà cung cấp dịch

vụ Các cuộc gọi này có thể kết nối thông thường hoặc có sự lựa chọn tối ưu theo thời gian, vị trí địa lý đến thuê bao cần gọi Khách hàng là các công ty, doanh nghiệp, văn phòng có lượng khách hàng lớn và có thể đăng ký sử dụng dịch vụ theo thời hạn như: hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, hàng năm hoặc

có thể đăng ký sử dụng theo số lượng ngân sách nào đó

Trang 7

Dịch vụ Freephone cho phép thực hiện cuộc gọi miễn phí tới nhiều đích khác nhau thông qua một số truy nhập thống nhất trên mạng Bên thuê bao bị gọi sẽ bị tính cước cho cuộc gọi Thuê bao gọi (A) sẽ không phải trả tiền cước hoặc chỉ phải trả cước cho cuộc gọi nội hạt Khi thuê bao quay số Freephone,

số Freephone đó sẽ được chuyển đổi thành một số đích tương ứng với dịch vụ

và cuộc gọi sẽ được thiết lập đến số đích đó

1.2 Các d ịch vụ gia tăng trên Freephone

Về tổng quan, dịch vụ freephone là dịch vụ sẽ tính cước cho người bị gọi, thay vì tính cước cho người chủ gọi như thông thường Tuy nhiên, để tăng cường chất lượng dịch vụ, tạo tiện lợi nhiều nhất cho khách hàng và người sử dụng, các hãng viễn thông trên thế giới đã phát triển nhiều dịch vụ giá trị gia tăng trên nền tảng dịch vụ freephone Các dịch vụ gia tăng này sẽ thúc đẩy tối ưu hoá lưu lượng mạng viễn thông, đồng thời khuyến khích khách hàng sử dụng dịch vụ và tăng sức cạch tranh cho doanh nghiệp

Qua nghiên cứu các tài liệu liên quan đến dịch vụ freephone, luận văn này xin đưa ra 16 dịch vụ gia tăng chính thường được các hãng viễn thông lớn phát triển và đưa ra thị trường khai thác Tại mỗi nước khác nhau thường khai thác một số dịch vụ khác nhau, các nước phát triển thường khai thác hết các dịch vụ này Trên thực tế, các dịch vụ gia tăng đó dù có tên gọi khác nhau

nhưng xét về bản chất vẫn sẽ thuộc trong số 16 dịch vụ gia tăng sau:

1 Blocking: cấm các cuộc gọi đến dịch vụ 1800 đã đăng ký của khách hàng

Thông số làm căn cứ để blocking cuộc gọi là dựa vào số máy chủ gọi hoặc prefix Danh sách các số chủ gọi này hoặc mã prefix được nhập vào hệ thống theo yêu cầu của khách hàng

2 Route Geography: định tuyến cuộc gọi tới số đích (DNIS) căn cứ số chủ

gọi (Area Code và Prefix) tuỳ theo khách hàng nhập vào Dịch vụ này

Trang 8

thích hợp với các hãng có nhiều đại lý ở các tỉnh khác nhau, các cuộc gọi của một khách hàng tại một tỉnh sẽ được định tuyến tới đại lý của hãng tại chính tỉnh đó (nếu có) hoặc tới đại lý gần nhất so với vị trí của khách hàng

Ví dụ : Một khách hàng ở Hải Phòng gọi dịch vụ sửa xe máy

§¹i lý t¹i Nam §Þnh

Service Node ( Hµ Néi)

Kh¸ch hµng

t¹i H¶i Phßng

Hình 1.2 Mô hình dịch vụ route geography

3 Route Day: định tuyến cuộc gọi tới số đích (DNIS) căn cứ thời điểm cuộc

gọi trong ngày (ngày làm việc bình thường) theo đơn vị giờ

Ví dụ: Định tuyến một cuộc gọi của khách hàng do Service Node ở Hà Nội quản lý theo giờ như sau:

Trang 9

Service Node (Hµ Néi)

17h-0h Kh¸ch hµng ë

Hµ Néi

Hình 1.3 Mô hình dịch vụ route day

4 Route Week: định tuyến cuộc gọi tới số đích (DNIS) căn cứ thời điểm

cuộc gọi thuộc ngày nào đó trong tuần (7 ngày)

Ví dụ : Định tuyến Route Week thực hiện với một hãng có 3 cơ sở và nằm trong vùng quản lý của Service Node Hà Nội như sau:

Service Node (Hµ Néi)

Thø 7 vµ chñ nhËt

Kh¸ch hµng ë

Hµ Néi

Hình 1.4 Mô hình dịch vụ route week

5 Route Holiday: định tuyến cuộc gọi tới số đích (DNIS) căn cứ vào cuộc

gọi nếu thực hiện trong ngày nghỉ: thứ 7, chủ nhật, lễ, tết, quốc khánh Danh sách ngày nghỉ là chung cho toàn bộ khách hàng và được nhập vào

hệ thống Nếu ngày gọi không nằm trong số những ngày nghỉ quy định,

Trang 10

khách hàng có thể được nghe một câu trả lời lịch hoặc được định tuyến tới một số đích khác tuỳ thuộc đặc tính dịch vụ đăng ký

6 Route Percent: định tuyến cuộc gọi tới số đích (DNIS) dựa theo giá trị %

số cuộc cho từng điểm phục vụ dịch vụ do khách hàng định nghĩa Thuật toán routing là : cuộc gọi sẽ được route về điểm phục vụ dịch vụ có giá trị chênh lệch lớn nhất giữa % số cuộc đã phục vụ hiện thời với số % MAX quy định cho điểm đó

Ví dụ : Một hãng do Service Node Hà Nội có 3 điểm phục vụ dịch vụ là các cơ sở 1, 2, 3 với các quy định về Route Percent như sau:

Bảng 1.1 : Định tuyến cuộc gọi theo phần trăm lưu lượng

Số cuộc gọi vào

Trang 11

7 Route Round: định tuyến cuộc gọi tới số đích (DNIS) theo tính tuần tự,

quay vòng giữa các Service Node 1 -> N -> 1 -> N -> 1 Đây là trường hợp riêng của route percent với giá trị % chia đều cho tất cả các nút dịch vụ

8 Menu Routing: Khi khách hàng quay số Toll Free, khách hàng sẽ được

nghe một lời chào và menu lựa chọn để tiếp tục xử lý cuộc gọi Menu này được thuê bao định nghĩa trước, yêu cầu khách hàng bấm phím DTMF theo yêu cầu sử dụng Bằng cách lựa chọn một yêu cầu, cuộc gọi sẽ được định tuyến tới một điểm phục vụ dịch vụ tương ứng

9 Route Busy: trong trường hợp định tuyến cuộc gọi tới số đích (DNIS)

theo giải thuật tối ưu nhất mà khách hàng đăng ký bị bận thì routing cuộc gọi tới các số DNIS thay thế hoặc theo thứ tự ưu tiên dịch vụ kế tiếp

Busying

§¹i lý t¹i

Hµ Néi

§¹i lý t¹i H¶i Phßng

§¹i lý t¹i Nam §Þnh

Service Node ( Hµ Néi)

Kh¸ch hµng

t¹i H¶i Phßng

Routing next

Hình 1.5 Mô hình dịch vụ route busy

10 Call Hunting : cho phép định tuyến cuộc gọi tới một điểm khác khi cuộc

gọi tới số đích không được trả lời sau một khoảng thời gian hoặc một số hồi chuông nhất định Có một thông số optional do khách hàng đặt để sau một số hồi chuông (hoặc thời gian - giây) nếu DNIS không nhấc máy thì

sẽ routing tiếp tới các số DNIS theo mức ưu tiên dịch vụ kế tiếp

Trang 12

No Answer

§¹i lý t¹i

Hµ Néi

§¹i lý t¹i H¶i Phßng

§¹i lý t¹i Nam §Þnh

Service Node ( Hµ Néi)

Kh¸ch hµng

t¹i H¶i Phßng

Routing next

Hình 1.6 Mô hình dịch vụ call hunting

11 Call Queuing : cho phép các cuộc gọi tới điểm định tuyến bị bận - busy

(hoặc không thể nhận cuộc gọi) thì được xếp vào hàng đợi đến khi điểm định tuyến đó được giải phóng hoặc có khả năng nhận cuộc gọi Cuộc gọi chỉ bị cắt do người gọi tự nguyện hạ máy hoặc quá số MAXIMUM Caller trong Queue

12 PictoGraphic (Dịch vụ số tượng hình): trên thế giới, để khách hàng dễ

nhớ số gọi, các hãng đăng ký các số gọi tượng hình theo tên của hãng Ví

dụ cửa hàng bán hoa sẽ đăng ký số là: 800-FLOWERS trong đó chữ FLOWER là các số: 3569377 Dịch vụ chữ tượng hình này được thực hiện khi thiết lập mã số truy nhập qua dịch vụ 1800 mà khách hàng đến đăng ký với hệ thống sao cho tổ hợp các chữ số là một chữ tượng hình có ý nghĩa, VD: 1800-FLOWERS

ITU đã đưa ra các chuẩn cho các phím bấm điện thoại mà trên tất cả các máy điện thoại, ngoài chữ số ra còn in chữ cái theo bảng 1.2 sau:

Bảng 1.2 : Bảng chữ tượng hình

Chữ số Nghĩa

Trang 13

13 Courtesy response : cho phép trả lời các cuộc gọi không được chấp nhận

bằng một câu trả lời lịch sự Cuộc gọi không được chấp nhận do số bị gọi

và các điểm định tuyến thay thế đã bận

14 In-Route Announcements : Đặc tính này cho phép một lời thông báo được playback tới người gọi trong quá trình thiết lập cuộc gọi tới một điểm

bất kỳ mà không ảnh hưởng đến quá trình định tuyến tới đích của cuộc gọi

15 Disconnect Message Referral (DMR) : cho phép khách hàng sử dụng dịch vụ được thông báo khi số Toll Free bị thay đổi hoặc ngừng cung cấp dịch vụ, đảm bảo tối đa số cuộc gọi được trả lời

16 Survey: Các thuê bao (cung cấp dịch vụ) có thể thực hiện thăm dò ý kiến

khách hàng bằng cách đưa ra một số câu hỏi và yêu cầu khách hàng đưa ra

ý kiến bằng cách bấm phím DTMF Việc thực hiện thu thập ý kiến của khách hàng có thể tiến hành trước khi cuộc gọi được định tuyến hoặc sau khi cuộc gọi được hoàn thành

Trang 14

Trên đây là các dịch vụ gia tăng trên cơ sở dịch vụ freephone thường được các hãng viễn thông trên thế giới khai thác tại các nước Trong tương lai, với sự hội tụ ngày càng cao giữa viễn thông và tin học, cộng với sự đòi

hỏi nhiều hơn xuất phát từ nhu cầu của khách hàng, các dịch vụ này dự kiến

sẽ còn tiếp tục được mở rộng, phát triển thêm

1.3 Kh ảo sát, phân tích hệ thống của VNPT

Cuối năm 2004, Tổng công ty BCVT Việt Nam (VNPT) đã bắt đầu thử nghiệm và đưa vào cung cấp dịch vụ freephone với mã truy nhập là 1800 Theo đó, khách hàng sẽ được gọi miễn phí tới thuê bao có đăng ký dịch vụ

1800 với VNPT

Dịch vụ 1800 thực chất là dịch vụ freephone như giới thiệu trong phần 1.1, trong đó cho phép thực hiện cuộc gọi miễn phí tới nhiều đích khác nhau thông qua một số truy nhập thống nhất trên mạng Bên thuê bao bị gọi (B) sẽ

bị tính cước cho cuộc gọi Thuê bao gọi (A) sẽ không phải trả tiền cước hoặc chỉ phải trả cước cho cuộc gọi nội hạt

Hệ thống VNPT đang sử dụng được mua của hãng SIEMENS, vì vậy mặc dù dịch vụ đã có trên thị trường, nhưng luận văn này vẫn được thực hiện nhằm tìm hiểu các góc độ kỹ thuật, công nghệ cần thiết để nắm bắt sâu và có thể “nội địa hoá” phần nào hệ thống này Hiện nay, dịch vụ này được VNPT giao cho Công ty viễn thông liên tỉnh (VTN) triển khai (website: www.vtn.com.vn/1800 )

Khách hàng đăng ký sử dụng dịch vụ 1800 là các tổ chức, doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, đã có số máy điện thoại thuộc mạng chuyển mạch công cộng (PSTN) và đăng ký dịch vụ 1800 với nhà cung ứng dịch vụ

Trang 15

của VNPT thông qua hợp đồng cung ứng sử dụng dịch vụ Đây là dịch vụ phục vụ cho các doanh nghiệp có nhu cầu chăm sóc tư vấn miễn phí cho khách hàng của mình

1.3.2 Các dịch vụ cung cấp bởi hệ thống 1800 của VNPT

Hệ thống 1800 cung cấp một số ít dịch vụ (hạn chế hơn) so với các dịch

vụ freephone tổng quát đã được đề cập đến trong phần 1.2 Hệ thống 1800 của VNPT đã cung cấp 3 dịch vụ sau:

- Điểm xuất phát của cuộc gọi (origin of A): Điểm xuất phát cuộc gọi cho phép giới hạn việc chấp nhận cuộc gọi tại một vùng nào đó Trong trường hợp đó, dịch vụ sẽ không thực hiện tại ngoài vùng đã định nghĩa trước Đây thực chất là dịch vụ Blocking, chỉ định tuyến cuộc gọi trong một vùng xuất phát nào đó của người gọi Ví dụ: Một công ty dịch vụ chỉ muốn cung cấp dịch vụ cho khách hàng trong một vùng với một mã vùng riêng Các khách hàng với các mã vùng khác sẽ được kết nối tới một số khác hoặc nhận một câu thông báo nào đó

- Ngày của tuần, giờ trong ngày: Đích của cuộc gọi sẽ được xác định tùy thuộc vào thời gian trong ngày mà cuộc gọi thực hiện Có thể định nghĩa các khoảng thời gian khác nhau trong đó cuộc gọi sẽ được định tuyến đến các đích khác nhau Các khoảng thời gian đó có thể định nghĩa dưới dạng: giờ phút, sáng/chiều/tối hay ngày trong tuần Ví dụ: Cuộc gọi đến sẽ được kết nối tới văn phòng trong thời gian làm việc: từ thứ hai đến thứ bảy trong khoảng thời gian từ 7 giờ đến 18 giờ Vào ngày chủ nhật hoặc ngoài thời gian làm việc, cuộc gọi sẽ được kết nối tới các bản thông báo

- Gốc cuộc gọi: Người gọi quay số truy nhập (1800) + số dịch vụ (Service Number - SDN) Số dịch vụ sẽ được chuyển đổi thành số thuê bao đích (destination directory number - DDN) Mỗi số dịch vụ SDN có thể

Trang 16

chuyển đổi thành tối đa 10 số DDN Việc lựa chọn số đích DDN có thể dựa trên các yếu tố: điểm xuất phát cuộc gọi, ngày trong tuần, giờ trong ngày

Cũng như nguyên tắc của freephone thông thường, khi thuê bao quay

số Freephone 1800 của VNPT, số Freephone đó sẽ được chuyển đổi thành một số đích tương ứng với dịch vụ và cuộc gọi sẽ được thiết lập đến số đích

đó Trong dịch vụ 1800 của VNPT, số đích DDN cho một thuê bao freephone

có thể được tạo lập:

• Chỉ với một số đích duy nhất

• Với tối đa 10 số đích khác nhau phụ thuộc vào gốc của cuộc gọi

• Với tối đa 3 số đích khác nhau phụ thuộc vào thời gian

• Với tối đa 10 số đích khác nhau phụ thuộc cả vào thời gian và gốc của cuộc gọi

Hình vẽ 1.7 dưới đây sẽ mô tả kết nối hệ thống freephone 1800 của SIEMENS đặt tại Công ty viễn thông liên tỉnh (VTN) và mô tả các bước kết nối dịch vụ

Trang 18

Hình 1.7 Sơ đồ thiết lập cuộc gọi (Nguồn VTN 2005)

Chú thích:

+ SURPASS: tên riêng một loại thiết bị của SIEMENS

+ MGCP: viết tắt của Media Gateway Control Protocol, một loại giao thức điều khiển và quản lý các thiết bị Media Gateway của SIEMENS

+ SS7: báo hiệu số 7, giữa tổng đài và hiQ9200

+ PSTN/ISDN: mạng chuyển mạch công cộng và mạng tích hợp số

Mô tả hoạt động của dịch vụ:

- Bước 1: Người gọi quay số truy nhập (1800) + số dịch vụ (Service

Number - SDN) Dựa vào số truy nhập cuộc gọi được định tuyến tới hiQ9200 Dịch vụ Freephone được kích hoạt tại hiQ9200

- Bước 2: Số dịch vụ SDN sẽ được kiểm tra tại cơ sở dữ liệu của hiQ9200

Dựa trên cơ sở dữ liệu của hiQ9200, số dịch vụ sẽ được chuyển đổi thành số thuê bao đích (destination directory number - DDN) Mỗi số dịch vụ SDN có thể chuyển đổi thành tối đa 10 số DDN Việc lựa chọn

số đích DDN có thể dựa trên 3 yếu tố: điểm xuất phát của cuộc gọi (origin of A), ngày của tuần, giờ trong ngày Có thể định nghĩa tối đa 10 điểm xuất phát cuộc gọi Đối với mỗi điểm gốc (hay nhóm các điểm gốc), của một số dịch vụ, tối đa có thể có 3 số đích mà trong đó một số đích được kích hoạt phụ thuộc vào ngày và thời gian trong tuần Trong mỗi số đích phụ thuộc thời gian đó, có thể định nghĩa 4 điểm chuyển đổi thời gian trong một ngày

lập thông qua mạng VoIP Cuộc gọi được giám sát bởi hiQ9200 Sau khi cuộc gọi kết thúc, bản tin cước sẽ được ghi cho số đích (B)

- Số Freephone sẽ có dạng 1800xxxx Nó bao gồm: số truy nhập (1800) và

số dịch vụ (SDN) Số dịch vụ SDN có thể có 3,4 hoặc 5 số Để cung cấp

Trang 19

được dịch vụ thì: các tổng đài nội hạt phải phân tích được mã truy nhập

1800, dựa trên mã truy nhập đó cuộc gọi sẽ được định tuyến đến hiQ9200 Tại hiQ9200, số dịch vụ SDN sẽ được phân tích và chuyển đổi thành số đích phụ thuộc vào các yếu tố như xuất phát của cuộc gọi (số A), thời gian thực hiện cuộc gọi

Về mặt kết nối mạng viễn thông, hệ thống 1800 có điểm kết nối về phía mạng viễn thông của VNPT tại cổng trung kế giá phối dây trung kế số DDF của tổng đài Toll/Tandem/Host đối với hình thức kết nối sử dụng trung kế số (digital) sử dụng báo hiệu R2 hoặc C7, và tại giá phối dây MDF của tổng đài nội hạt đối với hình thức kết nối sử dụng trung kế là đường dây thuê bao

1.3.3 Một vài hạn chế của dịch vụ 1800 do VNPT cung cấp

Trong bối cảnh dịch vụ viễn thông Việt Nam đang cần có nhiều dịch vụ giá trị gia tăng khác trên mạng lưới, VNPT đã kịp thời đưa vào sử dụng dịch

vụ freephone, một dịch vụ phổ biến tại các nước trên thế giới, tạo nhiều cơ hội cho khách hàng Với việc kết nối dựa trên báo hiệu số 7 có tính đến giải pháp hoạt động trên nền tảng mạng NGN, dịch vụ 1800 có nhiều ưu điểm và đảm bảo tính tương thích cao khi hạ tầng viễn thông chuyển sang mạng thế hệ mới trong thời gian tới

Tuy nhiên, theo ý kiến chủ quan của tác giả luận văn, hệ thống 1800 của VNPT còn có một số hạn chế sau:

đắt hơn nếu Việt Nam “nội địa hoá” được từng phần hoặc phát triển được toàn bộ Cũng nên lưu ý là đối với các nhà cung cấp sản phẩm của nước ngoài thì giá cung cấp ban đầu có thể rẻ nhưng các chi phí bảo trì, nâng cấp sẽ rất cao Điều này có thể xảy ra khi hạ tầng mạng

có thay đổi hoặc muốn dịch vụ tiếp tục phát triển về sau này

Trang 20

- Dịch vụ chưa nhiều: như đã giới thiệu trong phần 1.3, hệ thống 1800

của VNPT có 3 dịch vụ Nhưng, theo nghiên cứu của luận văn này thì thông thường trên thế giới có thể có đến 16 dịch vụ như đã giới thiệu ở phần 1.2 Khi muốn mở thêm dịch vụ thì sẽ phải đàm phán mua thêm các module phần mềm hệ thống của SIEMENS Điều này có thể làm phát sinh chi phí và hạn chế tính chủ động trong khai thác của nhà cung cấp dịch vụ, ở đây là VNPT

chủ được toàn bộ hệ thống Chủ yếu là vận hành khai thác theo hướng dẫn sẵn có của phía đối tác nước ngoài

1.4 M ột số lĩnh vực cần nghiên cứu nhằm giải quyết bài toán

Như vậy, để có thể làm chủ được hệ thống và tự mình phát triển mở rộng

dịch vụ cũng như triển khai rộng rãi thì nên đầu tư các nghiên cứu nhằm nội địa hoá hệ thống freephone này Hơn nữa, những kiến thức thu được trong quá trình nghiên cứu sẽ hữu ích không chỉ cho riêng hệ thống freephone này

mà còn cho các bài toán khác trên mạng viễn thông Để xây dựng hệ thống freephone, theo tác giả luận văn, cần nghiên cứu đến các lĩnh vực sau đây:

- Công nghệ tích hợp máy tính - điện thoại CTI (Computer Telephony Integration): trên thế giới, các ứng dụng CTI đã phát triển từ nhiều năm trước tạo ra nhiều sản phẩm thương mại có giá trị cao Đây là kỹ thuật tích hợp 2 công nghệ phổ biến và hiện đại nhất hiện nay là máy tính (C)

và điện thoại (T), tích hợp C & T nhằm phát huy thế mạnh của từng lĩnh

vực và bổ trợ lẫn nhau cùng phát triển Freephone là một bài toán thuộc lĩnh vực công nghệ tích hợp C & T này

- Công ngh ệ mạng viễn thông và các kỹ thuật báo hiệu: Bài toán

freephone phục vụ khác hàng là các thuê bao điện thoại, người sử dụng

Trang 21

điện thoại trên mạng PSTN Hệ thống phải ghép nối được với hệ thống chuyển mạch công cộng thông qua các báo hiệu phổ biến hiện nay và phù hợp với xu thế phát triển mạng viễn thông trong những năm tới Vì

vậy, cần nghiên cứu giải quyết vấn đề telecom cho bài toán

- K ỹ thuật cơ sở dữ liệu thời gian thực và vấn đề đồng bộ dữ liệu: đây là

vấn đề thuộc về lĩnh vực computer Như trên đã nói, bài toán freephone

thực chất là bài toán CTI, trong phần computer, vấn đề liên quan trực

tiếp là cơ sở dữ liệu, hệ điều hành, cơ chế đa nhiệm Tuy nhiên, nổi cộm lên vấn đề cần nghiên cứu, tìm hiểu là chế độ truy xuất dữ liệu thời gian thực để đáp ứng các cuộc gọi thời gian thực Khác với các bài toán tin học thông thường, bài toán CTI đòi hỏi yêu cầu real-time rất cao

nhằm đáp ứng các yêu cầu xử lý từ phía mạng viễn thông

- Cơ chế cụ thể trong hệ quản trị CSDL Oracle: freephone là bài toán

không chỉ về mặt lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn Vì vậy, để có thể triển khai được hệ thống trong thực tế, cần nghiên cứu các công cụ

phần mềm, các kỹ thuật cụ thể nhằm đánh giá tính khả thi và có thể xem xét triển khai Trong đó, vấn đề cụ thể khó khăn nhất chính là cơ sở dữ liệu Trong luận văn này sẽ nghiên cứu, tìm hiểu các cơ chế real-time database và synchronize trong hệ quản trị CSDL Oracle Các kiến thức này không chỉ có giá trị cho bài toán freephone mà còn cho cả các bài toán khác sử dụng CSDL Oracle

Trang 22

Chương II MỘT SỐ NGHIÊN CỨU NHẰM GIẢI

QUYẾT BÀI TOÁN

Chương này sẽ trình bày các nghiên cứu chính của luận văn nhằm giải quyết bài toán freephone như đã đặt ra Các kiến thức trong phần này chủ yếu được nghiên cứu, tổng hợp, lược dịch , kết hợp với một vài suy luận cá nhân

và một số kiến thức thực tế trong quá trình làm việc của tác giả luận văn

Phần này bao gồm 4 phần chính: công nghệ CTI, kỹ thuật mạng viễn thông,

kỹ thuật cơ sở dữ liệu thời gian thực và một số cơ chế cụ thể trong hệ DBMS Oracle

2.1 Công ngh ệ tích hợp máy tính - điện thoại (CTI)

Phần này sẽ trình bày một cách tổng quát về công nghệ CTI: sự phát triển, các thành phần cơ bản của một hệ thống CTI, các chuẩn về công nghệ,

và một số ứng dụng cơ bản trên nền tảng công nghệ CTI

2.1.1 CTI là gì và hệ thống CTI tổng quát gồm những gì ?

a) CTI là gì ?

Trong thế giới hiện đại, chúng ta có thể thấy rõ rằng máy tính và điện thoại là hai nền công nghệ có ảnh hưởng rộng rãi và sâu sắc nhất đến đời sống hàng ngày của chúng ta Hiểu một cách ngắn gọn, CTI ( Computer Telephony Integration - Tích hợp điện thoại và máy tính ) là công nghệ đã đưa hai công nghệ này kết hợp với nhau, phát huy hiệu quả cao hơn trong cuộc sống

Từ nhiều năm qua, máy tính và điện thoại đã trở nên 2 thiết bị công nghệ cao phổ dụng nhất trong cuộc sống hàng ngày của con người Hai lĩnh vực công nghiệp này đã tạo nên rất nhiều các tập đoàn kinh tế lớn mạnh trên thế giới và đang trở thành những thiết bị, công cụ quan trọng nhất cho nền kinh tế

hướng thông tin (information - oriented economy) Kỹ thuật CTI (Computer Telephony Integration) sẽ tạo nên nhiều ứng dụng hữu ích hơn nữa khi tích

Trang 23

hợp 2 công nghệ này nhằm phát huy thế mạnh của từng lĩnh vực và góp phần

Giíi h¹n tiÖn Ých H¹n chÕ giao diÖn user vµ Ýt c¸c tÝnh

n¨ng truy nhËp

HÖ thèng nhiÒu søc m¹nh

Telephone System

T¨ng nhiÒu

tiÖn Ých Tèi ­u giao diÖn user vµ chøc n¨ng th«ng

minh lËp tr×nh ®­îc

HÖ thèng nhiÒu søc m¹nh

Hình 2.1 Mô tả các thói quen khi có và không có CTI

Trên thực tế, CTI đã được nghiên cứu phát triển từ lâu trên thế giới, vào giữa thập kỷ 80, nó đã được thương mại hoá, nhưng lúc đó, CTI mới chỉ thành công trong những hệ thống lớn Tại thời điểm này, CTI tồn tại trong thế giới của các PBX ( Private Branch Exchange ), Mainframe và vì vậy các hệ thống CTI thường có giá thành rất cao Đến đầu những năm 90, công nghệ CTI đã phát triển rất mạnh, và vì vậy vào thời gian này đã ra đời những tiêu chuẩn quốc tế về việc kết nối giữa điện thoại và máy tính, đáng chú ý là CSTA (Computer Supported Telephony Application) Những tiêu chuẩn về giao diện lập trình ứng dụng API cho những hệ thống này đã được Microsoft,

Trang 24

Novell đưa ra và cũng đã được nhanh chóng chấp nhận Công nghệ xử lý tiếng nói lúc này đã phát triển mạnh, mạng điện thoại công cộng ngày càng cung cấp nhiều dịch vụ cho các ứng dụng CTI (như Calling Line ID - nhận dạng đường dây chủ gọi ) và điều quan trọng nhất là sự tăng trưởng mạnh các hoạt động kinh doanh trên mạng điện thoại đã làm cho những hệ thống CTI ngày càng trở nên là một hệ thống kinh doanh quan trọng trong lĩnh vực thông tin

Cùng với sự phát triển của công nghệ điện tử và máy tính, các hoạt động của máy tính và điện thoại đang dần hội tụ với nhau Nếu như trước kia, mỗi một ứng dụng (thoại hoặc phi thoại) cần tới một thiết bị đầu cuối riêng biệt Chẳng hạn như máy điện thoại dùng cho dịch vụ thoại cơ bản, máy FAX dùng cho việc truyền và nhận FAX, máy tính để truyền dữ liệu thì ngày nay, điều

đó đã có thể không cần đến nữa Máy tính có thể truyền, nhận tất cả các dạng thông tin trên mạng điện thoại công cộng: nó có thể hoạt động như một máy FAX, có thể giao tiếp với người qua việc tổng hợp và nhận dạng tiếng nói, và đương nhiên có thể truyền hoặc nhận dữ liệu Nhờ vào khả năng này mà máy tính có thể được dùng như một điểm giao tiếp tổng quát và làm cho hệ thống CTI trở nên hấp dẫn và kinh tế hơn

b) Hệ thống CTI tổng quát gồm những gì ?

Như đã nêu ở trên, CTI đưa hai nền công nghệ điện thoại và máy tính xích lại với nhau, tuy nhiên những mô tả trên có thể còn mơ hồ Với sự trưởng thành của nền công nghệ mới mẻ, một khái niệm ngắn gọn cũng đã được đưa

ra về một hệ thống CTI tổng quát CTI cần chứa đựng ba khía cạnh cơ bản:

- Điều khiển cuộc gọi ( Call control ): Đó là khả năng giám sát trạng

thái, điều khiển cuộc gọi, điều khiển chuyển mạch, phân phối cuộc gọi,

và sử dụng những tài nguyên bao gồm các bộ tạo và dò tìm tín hiệu

Trang 25

- Điều khiển điện thoại ( Telephone control ): Đó là khả năng giám sát

và điều khiển thiết bị điện thoại vật lý như là thiết bị ngoại vi của máy tính

gọi điện thoại với những môi trường phục vụ khác như xử lý tiếng nói,

xử lý FAX

Ta có thể lấy một ví dụ hệ thống Voicemail đầu tiên hết sức đơn giản, với một đường trung kế CO được nối vào một card giao tiếp cắm trên máy tính, hệ thống có thể tự động trả lời cuộc gọi đến và ghi lại lời nhắn Chức năng điều khiển cuộc gọi (Call control) được thể hiện ở việc nhận dạng chuông, nhấc máy trả lời cuộc gọi và đặt máy sau khi đã nhận xong thông tin Chức năng điều khiển điện thoại ( Telephone control ) thể hiện ở phần điều khiển card giao tiếp với trung kế CO được cắm trên máy tính Phần phát ra lời chào đến người gọi và ghi lại lời nhắn từ người gọi thể hiện chức năng truy nhập môi trường ( Media Access ) của hệ thống

Các chức năng của hệ thống như được nêu trên còn hết sức đơn giản, khi

mà mỗi đường dây điện thoại chỉ yêu cầu những tài nguyên phần cứng nhất định Trong trường hợp này, Media Access chỉ bao gồm mạch xử lý tiếng nói đơn giản hỗ trợ cho đường dây điện thoại với khả năng số hoá tiếng nói và phát lại Tuy nhiên, cùng với sự mở rộng và phát triển các loại hình dịch vụ, những hệ thống CTI cũng trở nên ngày một phức tạp hơn Sự phức tạp của một hệ thống CTI phụ thuộc vào việc nó có cho phép dùng chung các tài nguyên liên quan đến mạng điện thoại hay không Vào cuối những năm 80, đã xuất hiện nhiều hãng trên thế giới cung cấp những sản phẩm thuộc công nghệ CTI, và cũng bắt đầu từ đó có sự bùng nổ các ứng dụng công nghệ CTI với quy mô nhỏ Lúc này, đã bắt đầu xuất hiện nhu cầu tích hợp các hệ thống đó

để tận dụng được tài nguyên tiến đến xây dựng những hệ thống có quy mô lớn

Trang 26

hơn Tuy nhiên lúc đó vấn đề này đã gặp phải những trở ngại Vấn đề là ở chỗ các sản phẩm CTI hết sức đa dạng nhưng lại chưa có tiêu chuẩn chung, do đó chưa có khả năng kết nối được với nhau Nhằm cải thiện tình hình đó, từ năm

1993, một hiệp hội tập trung 70 công ty liên quan dưới tên SCSA (Signal Computing System Architeture) đã đưa ra chuẩn mở chung cho ngành công nghệ mới mẻ này

2.1.2 Các chuẩn công nghệ CTI và các dịch vụ ứng dụng của CTI

a) Các chuẩn công nghệ CTI

Đầu tiên, SCSA đã đưa ra chuẩn BUS: SC-Bus (Signal Computing Bus) với khả năng chuyển mạch lên đến 2048 time slot, 8 MHz, đường đồng bộ và đường chuyển giao message tốc độ cao Bên cạnh các chuẩn BUS, các nhóm làm việc của SCSA còn tập trung vào chuẩn liên kết các khối phần mềm Chuẩn này xác định các thành phần cần thiết để quản lý tài nguyên từ các nhà sản xuất khác nhau, tăng tính khả chuyển của các ứng dụng dưới các hệ điều hành, các nền máy tính khác nhau Mô hình phần cứng của SCSA:

Trang 27

SCSA Compatible Server

SCSA Other Server Models

HDLC

Switching Fabric Controler

Multinode Adapter

SCx Bus

Hình 2.2 Mô hình chuẩn HW SCSA

Trang 28

Hình vẽ 2.3 sau mô tả một hệ thống Voicemail với dung lượng nhỏ:

Hình 2.3 Hệ thống voicemail dung lượng nhỏ

Hình vẽ 2.4 sau mô tả một hệ thống Voicemail có dung lượng lớn:

Hình 2.4 Hệ thống voicemail dung lượng lớn

Với cấu hình như trên, hệ thống đảm bảo thực hiện được các chức năng sau:

- Tiếp nhận cuộc gọi

- Chuyển tiếp cuộc gọi tự động

- Thu, phát DTMF

- Cung cấp thông tin cho khách hàng

Trang 29

- Phát thông tin trả lời

- Sao chép thông tin cho người thứ ba

D ịch vụ Audiotex:

Hệ thống Audiotex cung cấp các thông tin văn hoá, xã hội, thể thao, ca nhạc cho khách hàng khi truy nhập hệ thống thông qua máy điện thoại Việc lựa chọn nghe các thông tin theo yêu cầu được thực hiện bởi các phím DTMF, xung quay số hoặc thậm chí bằng hệ thống nhận dạng tiếng nói tự động Hệ thống được kết nối đến một database lớn ở dạng dữ liệu âm thanh, hoặc text Người dùng nhận các thông tin dưới dạng âm thanh tiếng nói trong cơ sở dữ liệu âm thanh hoặc qua kỹ thuật TextToSpeech (TTS)

Hình 2.5 sau mô tả một hệ thống AudioText với TTS (TextToSpeech) và ASR (Automatic Speech Regconition):

Hình 2.5 Hệ thống Audiotex với TTS/ASR

Với các cấu hình như trên, hệ thống thực hiện được:

- Tiếp nhận cuộc gọi

- Cung cấp thực đơn cho người truy nhập các mục tin

- Nhận yêu cầu hỏi bằng lời nói

- Nhập thông tin qua máy chủ hoặc mạng LAN

E1/T1 Interface card E1/T1 trunks

PC TTS/ASR Host hoÆc LAN

Trang 30

- Phát thông tin trả lời dạng tệp âm thanh hoặc dạng Text

D ịch vụ Interactive Voice Response:

Ứng dụng Interactive Voice Response (IVR) hướng dẫn khách hàng sử dụng các phím tương tác trên bàn phím máy điện thoại để thực hiện các tác động lên database Nó bao gồm việc truy xuất các mẫu tin, đọc các mẫu tin hoặc ghi các mẫu tin này IVR cũng cung cấp quá trình giải quyết tự động như

là một phần tích hợp của call center IVR cũng có thể được liên kết với TTS

để đọc các loại file text cho khách hàng IVR cũng thích hợp cho việc tích hợp với ADSI (Analog Display Service Interface) Khi kết hợp với fax, khả năng ứng dụng của IVR khá rộng rãi Nó bao gồm việc xác nhận fax đã được

xử lý, kết nối trực tuyến với phần xử lý văn bản hoặc database dạng ASCII Khi kết hợp với phần nhận dạng tiếng nói, IVR có thể tương tác với người sử dụng bằng tiếng nói

Hình 2.6 Hệ thống tương tác tiếng nói (IVR)

Các chức năng của hệ thống Interactive Voice Response

PC

Trang 31

- Cung cấp menu lựa chọn cho người sử dụng

- Nhận các phím DTMF

- Nhận lệnh bằng tiếng nói (phụ thuộc hoặc không phụ thuộc vào người nói)

- Phát thông tin cho người gọi

- Thay đổi tốc độ và âm lượng của thông tin

- Đọc các file thông tin lưu trữ trong các file audio

- Đọc các thông tin lưu trữ ở dạng text

- Phát và thu thông tin ADSI

- Kiểm tra máy gọi

- Nhận và cập nhật thông tin lưu trữ trên máy chủ hoặc trên mạng

- Chuyển fax

- Kết thúc cuộc gọi

Dịch vụ Follow me/One-Number Service:

Dịch vụ này cho phép người dùng thay thế các số điện thoại và (hoặc) số fax bằng một số duy nhất Nếu người gọi không gặp được người bị gọi ở số đầu tiên, ứng dụng này sẽ tìm một số khác của người bị gọi Qua việc hướng dẫn bằng tiếng nói, ứng dụng cung cấp một số lựa chọn khác cho người gọi Khi thuê bao sử dụng dịch vụ này thay đổi chỗ, họ có thể ghi lại thông tin về

số điện thoại mới của họ trong database của hệ thống ứng dụng này cũng cho phép người gọi để lại thông tin cho người bị gọi Hệ thống còn có khả năng đặt người gọi vào trạng thái chờ trong khi đang tìm người bị gọi và nối người gọi với người bị gọi

Trang 32

Hình 2.7 Hệ thống Follow me / One-Number

Các tính năng của cấu hình hệ thống trên

- Nhận cuộc gọi

- Chuyển cuộc gọi tự động

- Dẫn đường cuộc gọi dựa trên số máy bị gọi (DNIS)

- Forward một cuộc gọi

- Cung cấp một menu cho người gọi lựa chọn

- Nhận dạng tiếng nói (không phụ thuộc người gọi)

- Đọc một thông điệp cho người gọi

- Ghi lại thông tin hoặc thoại từ người gọi

- Giữ một cuộc gọi

- Chuyển cuộc gọi dựa trên yêu cầu của người gọi

- Truy xuất và cập nhật database

- Lưu trữ và chuyển fax

- Tạo ra cuộc gọi dựa trên số điện thoại được lưu trữ

E1/T1

Trang 33

- Kết thúc cuộc gọi

Telemarketing/Call Center

Hệ thống Telemarketing và Call center tự động hoá việc bán hàng và tiếp thị sản phẩm cùng với cả các dịch vụ bán hàng Nó cũng có thể kiêm luôn các chức năng như trả lời các thông tin về tài khoản, hướng dẫn danh bạ điện thoại tự động Call center đưa ra một ứng dụng mạnh cho thương mại dùng hệ thống CTI Nó có khả năng phục vụ cho một hướng thông tin có lưu lượng cao và yêu cầu truy xuất một database lớn Hệ thống này sẽ tiếp nhận các yêu cầu như là các catalog của sản phẩm và tự động cung cấp nó cho khách hàng

Nó còn có khả năng tự động nhận các đơn đặt hàng cho công ty CTI cung cấp sự kết hợp của việc kết nối điện thoại và các chức năng xử lý số liệu Thí

dụ khi có cuộc gọi vào nó sẽ được nhận biết thông qua IVR (DTMF hay ASR) hoặc nhận dạng tự động (bằng các protocol thông tin) nhờ ANI (Automatic Number Identification: số máy gọi) Ứng dụng sẽ dùng số máy này truy xuất database để xác định nơi cần kết nối cuộc gọi này vào Database này có thể chỉ trực tiếp đến người phục vụ cho lĩnh vực này Ứng dụng cũng

có thể kiểm tra đồng hồ để chuyển cuộc gọi đến người phục vụ thích hợp, hoặc kích hoạt hệ thống trả lời tự động tuỳ vào thời gian của cuộc gọi, việc sử dụng ANI cho phép truy xuất đến cơ sở dữ liệu của người gọi để chuyển đến cho người trả lời cuộc gọi và người trả lời cuộc gọi có được thông tin về người gọi trước khi trả lời cuộc gọi Một liên kết khác giữa việc xử lý data và đường đi dùng thông tin DNIS (số bị gọi) Các mã khác nhau cho từng dịch

vụ được gán bởi người quản lý hệ thống Trong trường hợp này các ứng dụng khác nhau sẽ kích hoạt các module khác nhau phụ thuộc vào các mã được gán trước Hệ thống này cũng thực hiện cả việc phân phối cuộc gọi tự động Nó gán một cuộc gọi vào cho một người (hoặc module) có khả năng phục vụ kế tiếp Hệ thống có thể gọi ra ngoài tự động từ danh sách các số điện thoại trong database Hệ thống có khả năng biết được cuộc gọi được trả lời bởi một thiết

Trang 34

bị tự động hay bởi người, và nó chỉ chuyển cuộc gọi cho người phục vụ khi nào cuộc gọi được trả lời bởi con người

Các chức năng của hệ thống Telemarketing và Call center:

- Nhận cuộc gọi

- Nhận biết số thuê bao gọi

- Cung cấp menu cho người sử dụng lựa chọn

- Dẫn cuộc gọi theo ANI và DNIS

- Đối với cuộc gọi vào, hệ thống hệ thống sẽ liên kết thuê bao với thông tin tương ứng dựa theo ANI/DNIS

- Nhận các số gọi

- Phân biệt các kết nối đến người và máy

- Chuyển cuộc gọi tự động đến người phục vụ

T1/E1 Interface

ASR

Telephone Interface

Host hoÆc LAN

SC bus E1/T1

PC

Database

Trang 35

- Ghi nhận các giao dịch vào database

- Cho phép giám sát các cuộc gọi ở nhiều chế độ

- Nhận biết được sự kết thúc cuộc gọi

Fax theo yêu cầu:

Hệ thống fax theo yêu cầu cung cấp đúng lúc các thông tin xác định đến các máy fax khác để đáp ứng các yêu cầu được ghi nhận bằng điện thoại Hệ thống tương tác thoại/fax tăng khả năng thương mại trong dịch vụ khách hàng Khách hàng lựa chọn thông tin họ cần nhận từ menu mà hệ thống thoại đưa ra Hệ thống sẽ tự động fax các tài liệu mà khách hàng lựa chọn Fax theo yêu cầu có thể liên kết với hệ thống quản lý tài liệu, mà nó quản lý sự lưu trữ

và lựa chọn các tài liệu hình ảnh trên một mạng LAN phức tạp hay một mạng đơn Hệ thống điện thoại kết nối vào hệ thống này cho phép người dùng từ xa truy xuất vào mạng, ấn số ID của tài liệu, hệ thống sẽ fax tài liệu đến cho người sử dụng

Hình 2.9 Hệ thống Fax theo yêu cầu

Hệ thống trên thực hiện các chức năng sau:

T1/E1 incomming

Voice processing

Host hoÆc LAN

SC bus E1/T1

PC T1/E1 outgoing

Fax Interface

E1/T1

RS232 to mainframe

Trang 36

- Nhận cuộc gọi

- Cung cấp menu cho khách hàng lựa chọn

- Nhận phím DTMF

- Nén hình ảnh để giảm giá thành điện thoại và lưu trữ

- Chuyển đổi từ ASCII sang fax

- Chuyển và nhận các tài liệu fax được lựa chọn

- Thông báo kết quả của việc chuyển tài liệu

Mạng thông minh:

Cấu trúc mạng thông minh AIN (Advanced Intelligent Network) cung cấp khả năng truy nhập rộng rãi các dịch vụ cho thuê bao điện thoại công cộng hoặc thuê bao điện thoại nội bộ AIN chủ yếu cung cấp các dịch vụ cho môi trường có mật độ sử dụng cao như là các dịch vụ hộp thư thoại, audiotex, nhận dạng tiếng nói tự động, fax theo yêu cầu, cung cấp số điện thoại tự động, các dịch vụ thông tin cá nhân

Call completion:

Call completion bao gồm dịch vụ gọi lại (call back) và dịch vụ tìm đường lại cho cuộc gọi (call rerouting), ứng dụng này nhận cuộc gọi sau đó gọi đi, chuyển cuộc gọi đến đích cuối cùng của họ Sự can thiệp này được thực hiện bởi nhiều lý do khác nhau như là để tiết kiệm tiền bằng cách chọn một điểm

Trang 37

rẻ nhất cho cuộc gọi; để điều chỉnh tài khoản cho các cuộc gọi trả tiền trước;

để xác định và nối người gọi với các đại lý địa phương hay các nhà cung cấp dịch vụ Bộ xác định vị trí các đại lý sẽ tương tác với người gọi qua IVR, nó

sẽ hỏi người gọi mã vùng của họ và tìm trong database địa chỉ của đại lý tương ứng để cung cấp cho người gọi Ứng dụng còn có khả năng cung cấp các thông tin như các trang vàng của niên giám điện thoại Ứng dụng cho các dịch vụ gọi đường dài quốc tế cho phép người dùng chọn một đường đi rẻ tiền nhất so với dịch vụ mà mạng địa phương cung cấp cho họ

2.2 M ột số vấn đề về mạng viễn thông và các kỹ thuật báo hiệu

Phần này sẽ trình bày một số khảo sát trên mạng viễn thông Việt Nam Tìm hiểu và trình bày một số kỹ thuật mạng viễn thông phổ biến hiện nay ở Việt Nam, trong đó quan trọng nhất là các kỹ thuật báo hiệu trên hệ thống tổng đài đang hoạt động trên mạng lưới, phục vụ cho vấn đề ghép nối giữa phần máy tính (computer) với mạng PSTN phục vụ cho bài toán freephone

2.2.1 Khảo sát mạng viễn thông

Với chủ trương đi thẳng vào công nghệ hiện đại, mạng viễn thông Việt Nam hiện nay đã được số hoá hoàn toàn Mạng lưới tổng đài rộng khắp tại 64 tỉnh thành trên toàn quốc được phân cấp (hierarchy) theo nhiều mức khác nhau: host vùng, host khu vực, local Mạng lưới viễn thông đang phát triển theo hướng hội tụ với tin học nhằm tăng cường nhiều dịch vụ gia tăng trên mạng lưới, tiến tới xây dựng mạng NGN đến năm 2010

Theo Viện chiến lược BCVT & CNTT, đến giữa tháng 12/2004, tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng là 10.124.899 máy (đạt mật độ 12,34 máy/100 dân) trong đó thuê bao di động chiếm 43,98%, và thuê bao cố định chiếm 56,02% Tổng dung lượng kênh kết nối Internet quốc tế của Việt Nam

là 1.892 Mb/s Đã có 1.895.475 thuê bao Internet, trong đó có khoảng 24.000

Trang 38

thuê bao băng rộng tại 26 tỉnh, thành phố, với số người sử dụng dịch vụ Internet là 5,87 triệu, đạt mật độ 7,17% Tỉ lệ số xã có điện thoại là 96,27% Hiện nay đã có 6 nhà cung cấp dịch vụ kết nối (IXP) và khoảng 20 nhà cung

cấp dịch vụ Internet (ISP) (Nguồn: dự thảo Chiến lược CNTT-TT đến 2010,

định hướng đến 2020 đang trình chính phủ)

Như vậy, mạng lưới và dịch vụ viễn thông của Việt Nam đã phát triển đến một mức độ khá cao Xu hướng hội tụ viễn thông - tin học thể hiện ở nhiều loại hình thông tin (thoại, dữ liệu, âm nhạc, hình ảnh), ở sự ứng dụng công nghệ (IP VPN, IP Centrex, Unified Messaging), ở dạng truy nhập (PSTN, xDSL, IP, cáp, vô tuyến, vệ tinh) và ở thiết bị đầu cuối (điện thoại, máy tính, máy di động, PDA, MP3 Player, Game Console) Hiện nay, yêu cầu chuyển đổi công nghệ mạng đang được đặt ra cho mạng lưới viễn thông Việt Nam, bởi sự tăng trưởng rất nhanh của các mạng data mà dẫn đầu là Internet, sau đó là bởi các nhu cầu lớn về dịch vụ IP (IP VPN, VoIP), sự phát triển nhanh của dịch vụ FR, xu thế tích hợp IP/ATM cho mạng trục, sự phát triển

và thay đổi không ngừng của công nghệ (khả năng Chip tăng gấp 2 lần sau 18 tháng, khoảng cách cáp quang tăng gấp đôi sau 9 tháng, công nghệ chuyển mạch gói và xDSL) Sự đòi hỏi chuyển đổi công nghệ mạng còn do nhu cầu tăng nhanh của các dịch vụ mới như dịch vụ thoại, data, video tương tác; thương mại điện tử, chính phủ điện tử; điện thoại Internet, VoIP; Home Shopping, Entertainment on demand; TV on Internet, Internet on TV; Teleworking, Telebanking, Tele-medicine; Web/Phone link

Sau đây, luận văn sẽ đi sâu và trình bày các nghiên cứu có tính chất kỹ thuật về báo hiệu, chuyển mạch của hệ thống tổng đài trên mạng viễn thông

hiện nay nhằm mục đích phục vụ bài toán freephone Mạng viễn thông hiện nay đang sử dụng 2 loại báo hiệu phổ biến là R2 - MFC, báo hiệu số 7 (SS7) Ngoài ra, có một số báo hiệu trong chuyển mạch mềm (SoftSwitch) như VICC, SIP - T đang ở giai đoạn nghiên cứu Về mặt cấu trúc, theo định hướng

Trang 39

thì mạng đang dần chuyển lên mạng thế hệ mới NGN (Next Generation Network) trong thời gian tới

2.2.2 Phương pháp báo hiệu

Hệ thống chuyển mạch sẽ gồm các tổng đài nhiều cấp để thực hiện quá trình báo hiệu nhằm chuyển mạch cuộc gọi và kết nối cuộc thoại Để thực hiện việc nối mạch, thông tin cần thiết để điều khiển phải được trao đổi giữa điện thoại và hệ thống chuyển mạch và giữa các hệ thống chuyển mạch với nhau Phương pháp báo hiệu là một thủ tục về phương pháp truyền những thông tin này, ví dụ, giữa điện thoại và hệ thống chuyển mạch, những yêu cầu tiếp nối và phục hồi, chỉ định lựa chọn bằng xung quay số, trả lời thông báo bằng âm chủ gọi hoặc âm chuông trao đổi với nhau Ngoài ra, những tín hiệu giữa các tổng đài với nhau như kích hoạt, trả lời, lựa chọn, kết thúc, ngắt và thông tin cước được trao đổi giữa các hệ thống chuyển mạch trên mạng điện thoại Trong hình 2.10 ở dưới minh hoạ luồng tín hiệu cơ bản

Trang 40

Tone hồi õm chuụng

Đường trung kế

Đường thuờ bao

Đường thuờ bao

Yờu cầu kết nối

Âm mời quay số

Quay số

Tớn hi ệu chiếm Tớn hiệu cho phộp truyền số Tớn hiệu lựa chọn

Tớn hiệu chuụng

Tr ả lời (nhấc mỏy) Tớn hiệu ACK

Tín hiệu đường

thuê bao

Tín hiệu đường thuê bao

Tín hiệu giữa các tổng đài

Hỡnh 2.10 Luồng tớn hiệu cơ bản

Phương phỏp chuyển bỏo hiệu lại được phõn loại thành phương phỏp bỏo hiệu kờnh kết hợp và bỏo hiệu kờnh chung (CCS – Common Channel Signalling) Trong hệ thống chuyển mạch thụng thường, tớn hiệu được phỏt và thu qua một kờnh thoại riờng lẻ Đú gọi là bỏo hiệu kờnh kết hợp Trong phương phỏp bỏo hiệu kờnh chung, những kờnh gọi tỏch biệt nhau và do đú cỏc tớn hiệu được thu thập vào những kờnh truyền cao tốc đặc biệt trước khi được truyền và nhận Phương phỏp này cú thể chuyển nhiều thụng tin theo 2 chiều dự cỏc kờnh thoại cú bị bận hay khụng Do đú nú tǎng cường được hiệu quả của toàn bộ hệ thống bằng cỏch kiểm tra toàn bộ mạng tuyến và nú đủ

Ngày đăng: 12/02/2021, 18:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hữu Dũng, Ngô Đức Hiếu (2003), “Phân tích giao diện kết nối trong mạng NGN”, Tạp chí Bưu chính, Viễn thông, số tháng 1/2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích giao diện kết nối trong mạng NGN”
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng, Ngô Đức Hiếu
Năm: 2003
2. Nguyễn Khánh Kiên (2003), “ Những đặc điểm của hệ thống báo hiệu số 7 (SS7) và cấu trúc của hệ thống SS7 ”, Tạp chí Bưu chính, viễn thông, số tháng 7/2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm của hệ thống báo hiệu số 7 (SS7) và cấu trúc của hệ thống SS7
Tác giả: Nguyễn Khánh Kiên
Năm: 2003
3. Trung tâm Công nghệ thông tin - CDiT (2000), Đề tài nghiên cứu, thiết kế, chế tạo hệ thống MUCOS , Học viện Công nghệ BCVT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài nghiên cứu, thiết kế, chế tạo hệ thống MUCOS
Tác giả: Trung tâm Công nghệ thông tin - CDiT
Năm: 2000
4. Trung tâm thông tin Bưu điện (2005), Các dịch vụ mạng thế hệ sau: Công nghệ và chiến lược , Nhà xuất bản Bưu điện, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dịch vụ mạng thế hệ sau: Công nghệ và chiến lược
Tác giả: Trung tâm thông tin Bưu điện
Nhà XB: Nhà xuất bản Bưu điện
Năm: 2005
5. Viện chiến lược BCVT & CNTT (2004), D ự thảo Chiến lược CNTT-TT đến 2010, định hướng đến 2020, dự thảo trình chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo Chiến lược CNTT-TT đến 2010, định hướng đến 2020
Tác giả: Viện chiến lược BCVT & CNTT
Năm: 2004
6. Website d ịch v ụ gia t ă ng c ủa Công ty Vi ễn thông liên t ỉnh (VTN), http://www.vtn.com.vn/1800.htm, và một số tài liệu kỹ thuật liên quan đến dịch vụ 1800 của Trung tâm Viễn thông khu vực 1, Công ty VTN Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w