1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG NHTM

24 674 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những vấn đề cơ bản về kiểm toán nội bộ công tác kế toán trong NHTM
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 32,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy có thể hiểu bản chất của kiểm toán trên 5 vấn đề cơ bản sau: - Kiểm toán thực chất là việc thực hiện chức năng kiểm tra, xác minh tính đúng đắn, mức độ tương quan phù hợp của các

Trang 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ CÔNG TÁC KẾ TOÁN

TRONG NHTM

1.1 KHÁI NIỆM KIỂM TOÁN

1.1.1- Khái niệm, bản chất kiểm toán

Có rất nhiều khái niệm kiểm toán khác nhau, mặc dù thuật ngữ kiểm toán

đã có từ lâu trên thế giới, từ khi xuất hiện nhu cầu xuất hiện tính trung thực,

độ tin cậy của thông tin trong báo cáo tài chính, kế toán và thực trạng tài sản của một chủ thể trong quan hệ kinh tế Dưới đây là một khái niệm về kiểm toán thông dụng nhất.

Kiểm toán là một quá trình do các chuyên gia có đủ năng lực, độc lập tiến hành nhằm thu thập và đánh giá các bằng chứng về những thông tin có thể định lượng được của một tổ chức nhằm xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập.

Như vậy có thể hiểu bản chất của kiểm toán trên 5 vấn đề cơ bản sau:

- Kiểm toán thực chất là việc thực hiện chức năng kiểm tra, xác minh tính đúng đắn, mức độ tương quan phù hợp của các thông tin được kiểm tra với các chuẩn mực đã được xây dựng, trên cơ sở đó kiểm toán viên bày tỏ ý kiến của mình về kết quả đã được kiểm tra thực hiện chức năng tư vấn giúp đơn vị,

tổ chức kinh tế hoạt động có hiệu quả.

- Đối tượng của kiểm toán về thông tin, là các văn bản báo cáo tài chính, theo nghĩa rộng là kiểm toán về thông tin, là các văn bản báo cáo tài chính và các thông tin không phải về báo cáo tài chính, kiểm toán tính tuân thủ xem xét việc chấp hành luật pháp, chính sách chế độ, kiểm toán tính hiệu lực, hiệu quả quá trình hoạt động của đơn vị.

- Khách thể kiểm toán được coi là đơn vị được kiểm toán, là một thực thể kinh tế một tổ chức có tư cách pháp nhân Trong một số trường hợp, đơn vị

Trang 2

được kiểm toán có thể là một đơn vị thành viên không có tư cách pháp nhân, một phòng, ban hay một phân xưởng, một lĩnh vực hoạt động

- Chủ thể kiểm toán: Là người thực hiện hoạt động kiểm toán, là kiểm toán viên, chuyên gia có đủ thẩm quyền, độc lập, có trình độ nghiệp vụ.

- Cơ sở thực hiện kiểm toán: Là việc thu thập đánh giá bằng chứng để xác định mức độ tương quan phù hợp với các chuẩn mực, chế độ, luật định, tiêu chuẩn chung đã được thừa nhận từ

1.2 KHÁI NIỆM KIỂM TOÁN NỘI BỘ

1.2.1 Khái niệm, bản chất của kiểm toán nội bộ

Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về kiểm toán nội bộ trên thế giới Theo các chuẩn mực hành nghề của kiểm toán nội bộ do viện kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ ban hành thỡ“ Kiểm toán nội bộ là một chức năng xác định độc lập sắp đặp bên trong một tổ chức bên trong đế xem xét,đánh giá các hoạt động và được coi là một dịch vụ đối với tổ chức”

Như vậy theo định nghĩa trên kiểm toán nội bộ là một loại hỡnh kiểm toỏn cú tổ chức mà chức năng là đo lường và đánh giá hiệu quả của những việc kiểm soát có tổ chức mà chức năng la đo lường và đánh giá hiệu quả của những việc kiểm soát và mang tính nội kiểm.Kiểm toán nội bộ là một bộ phận cấu thàn, là bộ phận trọng tâm cấu thành hệ thống kiểm toán nội bộ, nó hoạt động theo những nguyên tắc của kiểm toán

Cụ thể, kiểm toán nội bộ có các nội dung hoạt động như sau:

- Thứ nhất, thẩm tra các thủ tục kiểm toán để xác định thích hợp và tính ưu việt của nó

Mục đích của việc thẩm tra tính thích hợp của kiểm toán nội bộ để khẳng định rằng hệ thống kiểm soát nội bộ vận hành đều đặn và có hiệu quả, đáp ứng mọi mục tiêu đó định trước Việc thẩm tra đẻ phơi bày mọi hành vi

Trang 3

gian lận, không bỡnh thường và gây lóng phớ với bản chất lặp đi lặp lại nhăm ngăn chặn và giảm thiểu chúng

- Thứ hai, kiểm tra tính trung thực và độ tin cậy của thông tin

Kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra tính trung thực và độ tin cậy không chỉ cua bản thân các thông tin tài chính mà cả các hoạt động và phương tiện

sử dụng để xác định, đo đạc phân loại và báo cáo các thông tin đó Việc kiểm tra hệ thống thông tin này là cơ sở để khằng định các số sách và báo cáo tài chính chứa dựng các thông tin chính xác, kịp thời và hữu ích

- Thứ ba, kiểm tra việc tuân thủ các chính sách, các quy định, các kế hoạch và các thủ tục hiện hành

Các kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra các hệ thống nhằm xác định hoạt độngcủa các đơn vị có đảm bảo tuân thủ các chính sách thủ tục, luật pháp

và các quy định mà có thể tác động quan trọng tới mọi hoạt động tổ chức Tiếp nối với chức năng này, trong một số trường hợp và nếu được phép của ủy ban quản trị tối cao, các kiểm toán viên nội bộ đánh giá tính hợp lý và sự ưu tiên của các chính sách, quy định, kế hoạch trước khi đi đến việc xác định mức đọ tuân thủ ưu tiên các chính sách, quy định, kế hoạch trước khi đi đến việc xác định mức độ tuân thủ.

- Thứ tư, kiểm tra các phương tiện đảm bảo cho tài sản

Các kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra các phương tiện được sử dụng

để đảm bảo an toàn cho các tài sản nhằm trỏnh cỏc dạng mất mỏt khac nhau Mặt khỏc, kiểm toỏn viờn nội bộ cần cú những kiến nghị cho nhà quản lý để phũng ngừa cỏc hoạt động bất hợp pháp xâm phạm tài sản của đơn vị, tổ chức

- Thứ năm, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ và hiệu quả của các nguồn lực

Kiểm toán viên nội bộ phải đánh giá chất lượng thực hiện các nhiệm vụ được giao Việc thực hiện này liên quan đén các nhóm và các nhân viên đơn vị

Ở đây kiểm toán viên nội bộ không chỉ quan tâm đến việc các nhóm hay các

Trang 4

nhân viên thực hiện công việc của họ một cỏch hiệu quả, tiết kiệm mà cũn quan tõm đến việc thực hiện của họ có mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp không? Do công việc (đặc biệt là trong lĩnh vực kỹ thuật) rất đa dạng trong một tổ chức kinh tế nên để hoàn thành được nhiệm vụ trên, bộ phận kiểm toán viên nội bộ phải tuyển chọn được những người có trỡnh độ nghiệp vụ tương xứng

- Thứ sáu, kiểm tra việc tuân thủ các mục tiêu đề ra đối với các chương trỡnh hay cỏc hoạt động nghiệp vụ

Các kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra các hoạt động hay chương trỡnh để xem xét kết quả thu được có phù hợp với mục tiêu đề ra hay không và các hoạt động, chương trỡnh đó có được thực hiện theo kế hoạch đó định không Bên cạnh đó, kiểm toán viên nội bộ cần trợ giúp cho những người lónh đạo khi xây dựng các mục tiêu cho các chương trỡnh bằng việc xỏc định xem những giả thiết, dữ liệu quan trọng có hợp lý không, những thông tin hiện thời

có chính xác và có được sử dụng không và hệ thống kiểm tra kiểm soát có được thiết lập trong các hoạt động hay chương trỡnh không

- Thứ bảy là nghiên cứu, phát hiện, dự báo các rủi ro có thể xảy ra trong động của đơn vị,góp phần ngăn chặn, xử lý các rủi ro KTNN là tổ chức

nội kiểm, am hiểu mọi đặc trưng của quản lý và hoạt động của đơn vị, do đó có điều kiện và phải coi trọng nhiệm vụ phát hiện, ngăn ngừa, xử lý rủi ro là một trong những nhiệm vụ ưu tiên, nhằm đảm bảo sự ổn định phát triển bền vững

- Thứ tám, các nhiệm vụ đặc biệt khỏc khi lónh đạo đơn vị giao phó Ngoài các chức năng trực tiếp, kiểm soát viên nội bộ có thể được giao phó thêm những nhiệm vụ có ích cho Ban giám đốc Một số ví dụ về các nhiệm

vụ đặc biệt được giao cho kiểm toán viên nội bộ là: điều tra về cá nhân đại diện cho ban giám đốc hoặc giám sát cho cuộc thỏa thuận, tham gia vào các chương trỡnh đào tạo của các đơn vị….

Trang 5

1.2.2 Sự cần thiết và vai trò của kiểm toán trong nền kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể (doanh nghiệp) hoạt động cạnh tranh với nhau, hoạt động vì mục đích lợi nhuận Muốn nền kinh tế phát triển

và Nhà nước có thể quản lý sự phát triển của nền kinh tế theo chiến lược và định hướng nhất định thì sự cạnh tranh của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế phải là cạnh tranh lành mạnh, không phải là cạnh trạnh theo kiểu "lừa gạt, chụp giật' trong quá trình cạnh tranh lành mạnh, các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế hoạt động có hiệu quả cao hơn sẽ thắng, sẽ chiếm lĩnh được thị trường Muốn đạt được kết qủa kinh doanh tốt các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế phải dựa trên cơ sở những thông tin về chủ thể kinh tế tham gia trên thị trường là minh bạch, trung thực, chính xác, kịp thời để các doanh nghiệp, đưa ra được các chiến lược kinh doanh đúng đắn đem lại nhiều lợi nhuận Để có được các thông tin đáng tin cậy thì cần có một nghề có tư cách pháp nhân với đội ngũ nhân viên có đủ năng lực và trình độ thẩm định các thông tin đó chính là nghề kiểm toán Chính vì vậy kiểm toán trở thành một yêu cầu hết sức cần thiết đối với công tác quản lý Nhà nước và các chủ thể (doanh nghiệp) Bởi thông tin tài chính của một doanh nghiệp rất cần cho nhiều đối tượng như: Chủ đầu tư, ngân hàng, người mua, người bán, cho hoạt động đầu tư cổ phiếu, trái phiếu, thị trường chứng khoán, đối với người quản lý Nhà nước tức là tới cả đối tượng thứ ba cần sử dụng thông tin Vì vậy, những thông tin đó phải được kiểm toán bởi các chuyên gia có trình độ, độc lập, khách quan đối với các doanh nghiệp, để đảm bảo mức độ ti n cậy, chính xác của các thông tin.

Đối với cá nhân, doanh nghiệp những thông tin tài chính của các doanh nghiệp đối tác đã được kiểm toán có đủ tin cậy sẽ là cơ sở quyết định các hợp đồng kinh tế, hợp đồng đầu tư, phát triển các quan hệ kinh tế hợp lý có hiệu quả.

Trang 6

Bản thân các đơn vị được kiểm toán, tạo được uy tín đối với người thứ 3, củng cố chế độ tài chính kế toán, hệ thống kiểm toán nội bộ, được tư vấn đề trên cơ sở đó tìm cách nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động.

Kết quả hoạt động kiểm toán tốt giúp cho hệ thống các công cụ kiểm tra, kiểm soát vĩ mô của Nhà nước tốt hơn, thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phát triển, mở cửa giao lưu và hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới trong khi đó vẫn giữ vững định hướng XHCN cho sự phát triển.

1.2.3 Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ

Vai trũ

Kiểm toán nội bộ hình thành và phát triển xuất phát từ những lý do khách quan của nhu cầu quản lý của bản thân các đơn vị tổ chức Kiểm toán nội bộ là một chức năng đánh giá một cách độc lập và khách quan cơ cấu kiểm soát nội

bộ của đơn vị Phạm vi của kiểm toán nội bộ gồm tất cả các hoạt động của đơn

vị ở các cấp quản lý khác nhau Kiểm toán nội bộ xem xét, đánh giá và báo cáo

về thực trạng của hệ thống kiểm soát nội bộ và những phân tích, kiến nghị, tư vấn mang tính chuyên nghiệp để các nhà quản lý có cơ sở tin cậy trong việc quản lý các hoạt động của đơn vị, hướng tới hiệu quả, chất lượng và phù hợp với các quy tắc và chế định của Pháp luật.

Trước hết, cần khảng định rằng kiểm toán nội bộ hình thành do nhu cầu quản lý, cho nên chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu và vai trò của nó cũng trải qua quá trình phát triển từ thấp đến cao cùng với khoa học quản lý, trình độ và kinh nghiệm quản lý của các nhà lãnh đạo

Chức năng

- Rà soát lại hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nộ bộ, giám sát sự hoạt động của hệ thống này cũng như tham gia vào việc hoàn thiện đúng phương hướng tuân thủ các quy định của cấp trên, các đơn vị mà trước tiên là các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán và quản lý tài chính.

Trang 7

- Giúp chủ doanh nghiệp kiểm tra lại các thông tin bao gồm các thông tin tài chính và các thông tin tác nghiệp: kiểm tra tính toán phân loại báo cáo khoản mục khác biệt theo yêu cầu của nhà quản lý.

- Kiểm tra, đánh giá tính hiệu lực, tính kinh tế và tính hiệu quả trong các hoạt động của đơn vị bằng những phương pháp so sánh, phân tích kinh tế.

- Kiến nghị với lãnh đạo và các cán bộ quản lý những biện pháp cụ thể nhằm chấn chỉnh công tác quản lý, tăng cường kỷ luật, nâng cao hiệu quả hoạt động Như vậy, lĩnh vực chính của KTNB là kiểm tra hoạt động, sau nữa là kiểm toán tuân thủ chứ không phải là kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp Kiểm toán viên nội bộ cũng phải thực hiện soát xét kiểm tra các thông tin tài chính giúp lãnh đạo đơn vị ký duyệt báo cáo tài chính mà không thực hiện kiểm toán báo cáo theo đúng nghĩa của từ này.

Nhiệm vụ

- Kiểm tra tính phù hợp, hiệu lực và hiệu quả của HTKSNB

- Kiểm tra và xác nhận chất lượng, độ tin cậy của thông tin tài chính, BCTC, báo cáo quá trỡnh trước khi trỡnh duyệt

- Kiểm tra sự tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, quản lý kinh doanh, sự tuân thủ luật pháp, chính sách, chế độ tài chính, kế toán, ccacs chính sách nghị quyết quyết địn của hội đồng quản trị, của ban giám đốc

1.3 KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NHTM

1.3.1 Hệ thống tổ chức KTNB trong hệ thống NHTM

Ngày 27/12/1990, Thống đốc NHNN ban hành Quyết định số 115/NHQĐ thành lập vụ Tổng kiểm soát trên cơ sở tách bộ phận tổng kiểm soát từ vụ kế toán và tổng kiểm soát.

Ngày 7/3/1991, Thống đốc ban hành quyết định số 115/NHQĐ thành lập

Vụ tổng kiểm soát trên cơ sở tách bộ phận Tổng kiểm soát từ Vụ kế toán và Tổng kiểm soát.

Trang 8

Ngày 7/3/1991, Thống đốc ban hành quyết định số 24/NHQĐ về quy chế

tổ chức hoạt động của vụ tổng kiểm soát NHNN Trong đó các chức năng của

Vụ tổng kiểm soát được quy định rộng, bao gồm cả việc tham gia ý kiến vào dự thảo các văn bản pháp quy của các đơn vị thuộc NHNN; Quản lý, chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ về công tác xét giải quyết khiếu tố thuộc hệ thống NHNN Ngày 7/7/1995, Thống đốc ban hành chỉ thị số 06/CT - NH4 về tổ chức triển khai nội dung KTNB trong hệ thống NHNN Chỉ thị yêu cầu đi sâu đánh giá thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao, việc chấp hành các chế độ, quyết định của Thống đốc; Việc xây dựng và thực hiện các quy trình nghiệp vụ đối với hoạt động có độ rủi ro cao.

Sau 2 lần bổ sung, sửa đổi, đến nay quy chế về tổ chức và hoạt động của

vụ tổng kiểm soát được ban hành theo quyết định số 413/1998/QĐ - NHNN9 ngày 23/12/1998 Theo quy chế này, vụ tổng kiểm soát là đơn vị thuộc bộ máy NHNN, có chức năng tham mưu cho Thống đốc trong việc kiểm soát hoạt động các đơn vị thuộc hệ thống NHNN và kiểm soát nội bộ đối với các đơn vị thực hiện nhiệm vụ như NHTƯ (gồm có các NHTM).

Quy định trên được xây dựng căn cứ vào điều 57 luật NHNN được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12/12/1997 Nội dung điều 57 như sau:

1 Tổng kiểm soát là đơn vị thuộc bộ máy NHNN, có chức năng nhiệm vụ sau đây:

- Kiểm soát hoạt động của các đơn vị thuộc hệ thống NHNN.

- Kiểm toán nội bộ đối với các đơn vị thực hiện nghiệp vụ NHTƯ.

2 Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của Tổng kiểm soát do Thống đốc quy định.

Theo Quy chế về tổ chức và hoạt động, vụ tổng kiểm soát có các nhiệm vụ sau đây:

Trang 9

+ Trình Thống đốc ban hành, hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động kiểm soát và KTNB.

+ Kiểm tra đánh giá việc chấp hành các chủ trương chính sách, chế độ thể

lệ nghiệp vụ của các đơn vị thuộc NHTM.

+ Giám sát đảm bảo an toàn tài sản tại các kho tiền Trung ương.

+ Kiểm toán báo cáo tài chính, KTNB đối với các đơn vị thực hiện nghiệp

vụ NHTƯ.

+ Kiểm soát các mặt hoạt động của các đơn vị thuộc NHNN.

+ Hướng dẫn, chỉ đạo công tác kiểm soát nội bộ các đơn vị thuộc NHNN.

+ Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm soát và KTNB cho kiểm soát viên Theo Quyết định số 25/1999/QĐ - NHNN9 ngày 11/1/1999 của Thống đốc V/v ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Chi nhánh NHNo tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tại điều 7 điểm 2 quy định: "Giám đốc Chi nhánh có nhiệm vụ tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về công tác kiểm soát hoạt động nội bộ của Chi nhánh".

Kế toán trưởng, trưởng các phòng, bộ phận chuyên môn thực hiện chức năng kiểm soát gắn liền với các nghiệp vụ chuyên môn diễn ra hàng ngày nhằm ngăn ngừa không để xảy ra sai phạm.

Kiểm soát viên, kiểm soát trưởng có trách nhiệm giúp thủ trưởng thực hiện công tác kiểm soát nội bộ, giám sát trực tiếp các khâu nghiệp vụ dễ phát sinh rủi ro ; chấp hành nghiêm chỉnh quy định về thông tin báo cáo gồm cả những báo cáo đột xuất về những sai phạm ngoài phạm vi xử lý của đơn Kiểm soát viên trưởng phải đảm bảo yêu cầu vể trình độ và nhiệm vụ theo quyết định số 15/2000/QĐ -NHNN ngày 11/12/2000 của Thống đốc NHNN Việt Nam ban hành quy chế kiểm soát viên NHNN.

* Một cuộc kiểm toán nội bộ được thực hiện theo trình tự các bước sau

Bước 1: Lập kế hoạch kế toán

Trang 10

Mọi cuộc kiểm toán nội bộ đối với chi nhánh đều phải lập kế hoạch được

vụ trưởng Vụ tổng kiểm soát hoặc giám đốc Chi nhánh phê duyệt, bao gồm cả

kế hoạch dài hạn, ngắn hạn cụ thể từng chuyên đề.

Căn cứ để lập kế hoạch, kiểm toán nội bộ dựa trên cơ sở đánh giá sơ bộ về đơn vị được kiểm toán và các báo cáo, kiểm toán trước đó.

Nội dung kế hoạch, kiểm toán nội bộ gồm:

- Kế hoạch về thời gian: Xác định thời gian tiến hành và thời hiệu kiểm toán nội bộ.

- Kế hoạch về nội dung: Trên cơ sở những đánh giá sơ bộ, xác định rõ phạm vi công việc thực hiện trong đợt, kiểm toán nội bộ; xây dựng đề cương, kiểm toán nội bộ.

- Kế hoạch về nhân sự: Xác định thành phần đoàn tham gia kiểm toán nội

bộ và trưởng đoàn (nếu thành lập đoàn).

- Kế hoạch, kiểm toán phải được thông báo cho đơn vị được, kiểm toán nội bộ trong vòng 5 ngày làm việc trước khi bắt đầu thực hiện cuộc, kiểm toán nội bộ (trừ trường hợp phải kiểm toán nội bộ đột xuất theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền).

Bước 2: Thực hiện kiểm toán

Căn cứ để tiến hành, kiểm toán nội bộ là các văn bản, chính sách chế độ của Nhà nước về quản lý Nhà nước trong hoạt động Ngân hàng; các văn bản chế độ của ngành; Chế độ chính sách về hạch toán kế toán và quản lý tài chính, đầu tư XDCB của Nhà nước và của ngành; các kế hoạch thu chi tài chính dự toán và quyết toán được duyệt.

1.3.2 Quy trình kiểm toán

Chuyên gia kiểm toán phải tìm kiếm được những bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp để chứng minh rằng đã không xảy ra gian lận và sai sót có ảnh hưởng trọng yếu tới báo cáo tài chính, hoặc nếu những gian lận hoặc sai

Trang 11

sót đó đã xẩy ra thì chuyên gia kiểm toán phải có được bằng chứng chỉ ra rằng ảnh hưởng của gian lận được phản ánh đúng trong báo cáo tài chính hoặc sai sót đã được sửa chữa Quy trình tìm kiếm bằng chứng này chính là quy trình kiểm toán.

Mặc dù rất khác nhau về thời gian, quy mô và nội dung tiến hành, nhưng nhìn chung, các cuộc kiểm toán nội bộ đều bao gồm những bước đi nhất định, bao gồm:

- Phân tích rủi ro.

- Lập kế hoạch kiểm toán.

- Thực hiện kiểm toán.

- Lập báo cáo kiểm toán.

1.3.2.1 Phân tích rủi ro.

Việc phân tích rủi ro nhằm mục đích để không bỏ sót lĩnh vực nhiều rủi ro khi lên kế hoạch kiểm toán Các kiểm toán viên sẽ phân tích theo

hệ thống Các đối tượng kiểm toán có rủi ro cao sẽ được chọn lựac đưa vào chương trình kiểm toán trước Các đối tượng rủi ro thấp hơn sẽ đựơc đưa vào

kỳ sau, sau khi trưởng bộ phận kiểm toán nội bộ xét thấy các đối tượng có rủi

ro cao đã được quan tâm đúng mức Ngoài cách phân tích theo hệ thống cũng cần chú ý ưu tiên kiểm toán đối với những bộ phận hay vấn đề đang có "sự cố" Đây chính là nơi có thể phát hiện ra các sai sót của hệ thống kiểm soát nội bộ Việc phân tích rủi ro còn nhằm giúp kiểm toán viên có thể quyết định được phương pháp kiểm toán sẽ sử dụng Nếu kiểm toán viên đáng giá mức độ rủi ro thấp, anh ta sẽ có xu hướng về sử dụng phương pháp kiểm tra tiếp cận dựa trên hệ thống kiểm soát nội bộ và giảm bớt phương pháp kiểm tra chi tiết Kiểm toán viên sẽ có quyết định ngược lại nếu đánh giá mức độ rủi ro cao.

1.3.2.2 Lập kế hoạch kiểm toán

Trang 12

Lập kế hoạch là bước đầu tiên và quan trọng nhất mà kiểm toán viên phải thực hiện Lập kế hoạch đúng đắn sẽ giúp cho cuộc kiểm toán được thực hiện một cách hữu hiệu và hiệu quả Việc lập kế hoạch kiểm toán một cách hợp lý đảm bảo được rằng những lĩnh vực hoạt động có nhiều rủi ro sẽ được quan tâm một cách hợp lý (kiểm toán định hướng rủi ro), nhận biết được các vấn đề

có thể phát sinh và cuối cùng công tác kiểm toán được hoàn thành một cách nhanh gọn.

Điều 47 SAS "Rủi ro kiểm toán và trọng điểm khi tiến hành công tác kiểm toán" đưa ra hướng dẫn để lập kế hoạch thanh tra các báo cáo tài chính phù hợp theo những chuẩn mực kiểm toán được công nhân Kiểm toán viên cần phải lưu ý đến những loại rủi ro kiểm toán như rủi ro nội tại ( Inhevent risk), rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện Lập kế hoạch đúng đắn có thể giảm thiêt rủi

ro phát hiện trong trách nhiệm kiểm toán.

Điều quan trọng là kiểm toán viên phải hiểu rằng công tác kiểm toán các báo cáo tài chính là một tiến trình đòi hỏi sự phân tích liên tục chứng cứ kiểm toán Thí dụ như thông tư thu nhập được tiến trình kiểm toán có thể khác với thông tin mà kế hoạch kiểm toán đã dựa vào Do đó, lý luận về rủi ro nội tại và rủi ro kiểm soát của kiểm toán có thể thay đổi và đưa đến những thay đổi trong kế hoạch kiểm toán.

Điều 22 SAS " Lập kế hoạch và thanh tra" nêu ra rằng "khi lập kế hoạch thanh tra thì kiểm toán viên phải cân nhắc những việc sau (trong số những điểm khác)".

a Những sự việc liên quan đến mặt kinh doanh của đơn vị và ngành mà đơn vị đó hoạt động

b Chính sách và thủ tục hạch toán của đơn vị.

Ngày đăng: 02/11/2013, 07:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w