1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

21 552 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Biện Pháp Bảo Đảm Nâng Cao Hiệu Quả Pháp Luật Thuế Giá Trị Gia Tăng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 33,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁP LUẬTTHUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG I./ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1.Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật thuế GTGT Các kết quả bước

Trang 1

CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT

THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

I./ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

1.Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật thuế GTGT

Các kết quả bước đầu đạt được đã khẳng định định hướng đúng đắn

về sự cần thiết xây dựng chế độ thuế GTGT thay cho chế độ thuế doanh thu.Như trên đã phân tích,pháp luật hiện hành về thuế GTGT đã từng bước được sửa đổi,bổ sung phù hợp với yêu cầu đặt ra và đã có những đóng góp quan trọng trong việc động viên nguồn tài chính vào Ngân sách nhà nước.Tuy nhiên,pháp luật thuế GTGT hiện hành còn bộc lộ một số điểm bất cập chưa phù hợp với thực tiễn và yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn tới,vì vậy cần phải được tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi hoàn thiện.

Trước hết,cần nhận thức đầy đủ rằng thuế GTGT là một sắc thuế cơ bản và quan trọng,đem lại nguồn thu chiếm tỷ trọng đáng kể trong thu Ngân sách nhà nước,do vậy việc đảm bảo và phát triển nguồn thu này là hết sức quan trọng.Pháp luật về thuế nói chung và thuế GTGT nói riêng vì vậy cần phải được cải cách hoàn thiện dần để đảm bảo yêu cầu này 1

Một trong những mục tiêu quan trọng của công cuộc cải cách thuế giai đoạn II của Nhà nước,gắn liền với mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế

xã hội 2001 –2010,là phải tập trung vào xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ, phát huy cao độ nội lực,nâng cao hiệu quả và sức mạnh cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam 2 Vì vậy,yêu cầu đặt ra là phải hoàn thiện pháp luật thuế

1 1 Xem Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng

2 2 Xem báo cáo của Ban chấp h nh Trung à ương Đảng khoá VIII tại Đại hội Đại biểu to n qu à ốc lần thứ

IX của Đảng

Trang 2

để phù hợp hơn nữa yêu cầu phát triển kinh tế và mở rộng hợp tác quốc tế trong thời gian tới.

Về mặt chủ quan,luật thuế GTGT là một luật thuế mới mẻ ở Việt Nam,mặc dù đã được chuẩn bị kỹ càng từ trước và triển khai thực hiện tích cực trong gần ba năm vừa qua,nhưng do trong thời kỳ quá độ có những đan xen cần phải lưu ý về ảnh hưởng do khác biệt với thuế doanh thu trước đây,nên còn nhiều phức tạp,bề bộn trong công tác xây dựng pháp luật.Ba năm đầu pháp luật thuế GTGT được sửa đổi ,bổ sung dần cho phù hợp với diễn biến tình hình thực tế một cách tình thế,thiếu đâu bổ sung đấy.Cho đến đầu năm nay,mặc dù Bộ tài chính đã nỗ lực tập hợp các quy định dưới luật trong các văn bản pháp quy về thuế GTGT vào một văn bản quy định chung hướng dẫn chi tiết cụ thể,nhưng vẫn còn nhiều những vấn đề mang tính pháp lý cần phải điều chỉnh,hoàn thiện dần.

2.Nội dung cụ thể về hoàn thiện pháp luật thuế GTGT

2.1.Phạm vi áp dụng thuế GTGT :

Về đối tượng nộp thuế,Luật thuế GTGT sửa đổi cần thu hẹp diện đối tượng nộp thuế GTGT bằng cách quy định ngưỡng chịu thuế GTGT đối với các hộ kinh doanh cá thể như nhiều nước trên thế giới đã áp dụng.Những đối tượng nào không đạt được mức doanh số này sẽ chuyển sang áp dụng thuế khoán ấn định trên doanh thu,còn những hộ kinh doanh cá thể còn lại bắt buộc phải thực hiện đầy đủ chế độ kế toán chứng từ hoá đơn để tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.Làm được điều này sẽ giúp giảm bớt chi phí quản lý hành chính thuế và việc quản lý hoá đơn chứng từ sẽ bớt khó khăn hơn.

Diện các đối tượng chịu thuế cần được mở rộng bao quát hơn theo hướng : bổ sung cá mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt ở khâu sản xuất và nhập khẩu, bổ sung một số lượng hạn chế các dịch vụ xuất khẩu,đảm bảo

Trang 3

thực hiện khấu trừ và hoàn thuế đầu vào để khuyến khích xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ.Đi đôi với việc mở rộng đối tượng chịu thuế là việc giảm và hạn chế đối tượng không chịu thuế GTGT.

Trước hết cần thiết phải chuyển dần các đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt sang diện được áp dụng thuế GTGT để đảm bảo bình đẳng trong khâu khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với các hàng hoá dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.Điều này đảm bảo được tính trung lập của thuế GTGT,để thuế GTGT không còn là yếu tố trong chi phí giá thành của hàng hoá dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt như hiện nay.Mặt khác,việc sửa đổi như vậy là hợp lý

vì hàng hoá chịu thuế tiêu thụ đặc biệt nhập khẩu phải nộp thuế GTGT như các hàng hoá nhập khẩu khác(hiện nay,hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt mới chỉ được áp dụng thuế GTGT khi xuất khẩu với thuế suất 0%).

Trong quá trình thúc đẩy hội nhập quốc tế hiện nay,các dịch vụ xuất khẩu cũng cần được xem xét đưa vào diện dược áp dụng thuế GTGT(thuế suất 0% như hàng hoá xuất khẩu).Ngành kinh doanh dịch vụ ngày càng phát triển và tạo ra giá trị gia tăng đáng kể đối với nền kinh tế thế giới.Hiện nay,việc quy định dịch vụ xuất khẩu không thuộc diện chịu thuế GTGT làm cho thuế đầu vào không được khấu trừ trở thành chi phí của doanh nghiệp

và không tạo điều kiện khuyến khích ngành hoạt động kinh doanh này.Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta phải nghiên cứu kỹ lưỡng loại dịch vụ nào được

áp dụng thuế GTGT,vì như đã nêu,dịch vụ là một loại hàng hoá vô hình rất khó xác định liệu có thực tế xuất khẩu hay không,do đó rất có thể bị lợi dụng

để được hoàn thuế đầu vào khống,làm thất thoát tiền của Ngân sách nhà nước.

Đối với hoạt động xây dựng,lắp đặt công trình ở nước ngoài và cho các doanh nghiệp chế xuất nên đưa vào đối tượng chịu thuế (với thuế suất

Trang 4

0%) để tiến hành khấu trừ thuế đầu vào cho các hoạt động này nhằm khuyến khích chúng phát triển.

2.2.Thuế suất

Cơ cấu bốn mức thuế suất là phù hợp với giai đoạn mới chuyển từ cơ chế thuế doanh thu sang áp dụng cơ chế thuế GTGT,nhưng hiện nay để nâng cao hiệu quả áp dụng thì cơ cấu thuế suất phải được xem xét và sửa đổi theo hướng tăng tính đơn giản của biểu thuế áp dụng đối với các loại hàng hoá,dịch vụ.

Thực tế cho thấy nên bỏ mức thuế suất 20%,vì đây là mức thu quá cao

và hiện nay cũng chỉ áp dụng rất hạn chế đối với một số đối tượng như : “ kinh doanh mua bán vàng bạc đá quý,xổ số,đại lý tàu biển và dịch vụ môi giới

“ 1 Các đối tượng trên nếu chúng ta chuyển xuống áp dụng mức thuế suất 10% thì cũng không ảnh hưởng lớn đến số thu Ngân sách nhà nước.Bởi số lượng các đối tượng trên không nhiều,hơn nữa tránh được tình trạng thất thu thuế do các doanh nghiệp kinh doanh các đối tượng trên băn khoăn vì mức thuế suất mình quá cao do đó tìm cách biến tấu để nộp thuế ít hơn.

Như vậy,để phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay,trước mắt cần quy định giảm xuống chỉ áp dụng hai mức thuế suất là 5% và 10% (không kể thuế suất 0% đối với xuất khẩu).Mức thuế suất 5% chỉ áp dụng đối với một số mặt hàng và dịch vụ thiết yếu,còn đại bộ phận các loại hàng hoá,dịch vụ đều áp dụng thuế suất 10%.Trong tương lai cần chuyển sang chỉ

áp dụng một mức thuế suất thống nhất là 10% Qua quá trình tổng kết kinh nghiệm áp dụng thuế GTGT cho thấy cơ chế một thuế suất là cơ chế lý t- ởng,nhiều u điểm,do đó có những nớc nh nớc Anh ban đầu áp dụng cơ chế

1 1 Theo khoản 4 điều 8 Luật thuế GTGT

Trang 5

một thuế suất sau đó chuyển sang áp dụng cơ chế nhiều thuế suất,cuối cùng vẫn phải quay trở lại áp dụng cơ chế một thuế suất.

Riêng đối với mức thuế suất 0%,cần có quy định chặt chẽ về đối tượng được hưởng thuế suất này vì áp dụng thuế suất 0% gắn liền với việc phải hoàn thuế thuế từ Ngân sách nhà nước.Tuy nhiên,phù hợp với chính sách khuyến khích xuất khẩu nói chung và đối với một số hoạt động nói riêng(ví

dụ như sản phẩm dịch vụ phần mềm),cần xem xét và quy định cho áp dụng thuế suất 0% đối với các dịch vụ xuất khẩu mang tính chất hàng hoá.Nhưng cũng cần có các quy định chặt chẽ để xác minh rõ ràng dịch vụ thực tế xuất khẩu để hạn chế và ngăn ngừa gian lận thuế có thể xảy ra.

2.3.Phương pháp tính thuế

Trong thời gian tới cần tiến hành nghiên cứu,xem xét khống chế mức doanh thu hợp lý đối với đối tượng nộp thuế để tiến hành áp dụng duy nhất phương pháp khấu trừ thuế mà không áp dụng phương pháp trực tiếp.

Thực tế,đối với chủ thể nộp thuế theo phương pháp trực tiếp như hiện nay thì thuế GTGT vẫn là một yếu tố cấu thành trong giá thành hàng hoá,dịch vụ,tạo nên sự khác biệt với các đơn vị nộp thuế theo phương pháp khấu trừ.Cách tính trực tiếp trên giá trị tăng thêm dựa trên phân định giữa

“giá đầu vào” và “giá đầu ra” xét trên góc độ tính thuế,thu thuế và hạch toán mang ý nghĩa thực tế rất thấp.

Việc loại trừ này là dựa trên nguyên tắc hiệu quả của chính sách thuế,bởi số chi phí để quản lý việc nộp thuế của các đối tượng này rất tốn kém và phức tạp,trong khi số thuế GTGT thu từ các đối tượng này là không đáng kể.Do vậy,nên áp dụng tính thuế khoán trên doanh thu với các đối tượng này cho đơn giản và hiệu quả.

Do vậy để đảm bảo hiệu quả thực tế nên bỏ phương pháp trực tiếp,chuyển các đối tượng nộp thuế có doanh thu dưới một mức quy định

Trang 6

sang áp dụng phương pháp khoán thuế,và khuyến khích các doanh nghiệp có điều kiện đáp ứng được các quy định về sổ sách,kế toán và hoá đơn chứng từ sang áp dụng thống nhất theo phương pháp khấu trừ.

2.4.Các quy định về miễn giảm thuế

Bản chất thuế GTGT là thuế gián thu do người tiêu dùng chịu,do đó cần phải xoá bỏ quy định về miễn,giảm thuế GTGT bởi vì có miễn,giảm thì người tiêu dùng cũng không được hưởng,mà nhà nước lại mất đi một khoản thuế.

Tuy nhiên,trong thời gian đầu,để hỗ trợ cho các doanh nghiệp gặp khó khăn có thể xem xét cho giảm thuế tạm thời trong phạm vi ngành nghề cụ thể và phải xác định rõ thời hạn áp dụng chỉ trong vòng một đến hai năm.Hết thời hạn trên phải áp dụng đúng mức thuế quy định và không được gia hạn thêm.

Việc quy định miễn thuế (không được khấu trừ đầu vào) khi cung cấp hàng hoá dịch vụ cho một số đối tượng đặc biệt cũng làm ảnh hưởng đến chi phí kinh doanh của doanh nghiệp (ví dụ như trường hợp doanh nghiệp Việt Nam là nhà thầu phụ cung cấp hàng hoá dịch vụ cho dự án ODA thuộc diện miễn thuế GTGT).Trong trường hợp này,để đảm bảo công bằng và bình đẳng,cần phải cho doanh nghiệp được khấu trừ thuế đầu vào,vì thuế GTGT là thuế đánh vào hàng hoá,dịch vụ chứ không phải là đánh vào đối tượng,nếu Nhà nước quy định riêng một số loại dự án ODA không thuộc diện chịu thuế GTGT,thì phải có biện pháp thích hợp đối với các doanh nghiệp cung cấp hàng hoá ,dịch vụ cho dự án trên nguyên tắc đối xử bình đẳng.

Các quy định xét giảm thuế phải nộp cho đối tượng nộp thuế gặp khó khăn cũng cần phải được xem xét lại kỹ lưỡng.Nếu thực hiện nguyên tắc thuế GTGT không phải là chi phí của doanh nghiệp thì quy định này không có

ý nghĩa khuyến khích hỗ trợ thực sự đối với doanh nghiệp,mà lại làm giảm

Trang 7

nguồn thu của ngân sách và tạo ra thêm nhiều phức tạp cho cơ quan thuế trong việc xác định các điều kiện được hưởng giảm thuế.Do vậy,không nên

áp dụng giảm thuế cho các đối tượng trên.

2.5.Các quy định về hoá đơn chứng từ

Các quy định về hoá đơn chứng từ cần được tập hợp thống nhất trong một văn bản,để thuận lợi cho việc tra cứu và áp dụng.Hiện nay,phổ biến các quy định về quản lý hoá đơn chứng từ và xử lý vi phạm được ban hành dưới hình thức các văn bản có hiệu lực thấp như công văn của Tổng cục thuế.Cần phải sửa đổi bổ sung các quy định về quản lý hoá đơn chứng từ và ban hành dưới hình thức văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn nhằm tăng hiệu quả pháp luật và áp dụng phổ biến đối với mọi đối tượng một cách thống nhất.

Cần tiến tới thực hiện thống nhất quy định doanh nghiệp tự phát hành hoá đơn,với các nội dung nhất quán theo quy định của Bộ tài chính.Hoá đơn

tự in của doanh nghiệp phải mang tính đặc thù riêng của doanh nghiệp,khó

bị lợi dụng và dễ dàng trong việc kiểm tra đối chiếu.

3.6.Các quy định về khấu trừ và hoàn thuế

Luật thuế GTGT quy định khấu trừ thuế GTGT đầu vào cho các trường hợp mua hàng hoá không có hoá đơn GTGT như : hàng hoá là nông,lâm,thuỷ sản

chưa qua chế biến mua của người sản xuất không có hoá đơn là biện pháp

xử lý tình thế trong những năm đầu thực hiện Luật thuế GTGT,phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam do các loại hàng hoá trên chủ yếu do nông dân sản xuất bán ra không có hoá đơn,giảm số thuế GTGT phải nộp hoặc hỗ trợ thông qua việc hoàn thuế cho các cơ sở kinh doanh các mặt hàng này,đặc biệt là các cơ sở kinh doanh xuất khẩu,đảm bảo không làm biến động giá đối với các mặt hàng lương thực,thực phẩm thiết yếu,thực hiện khấu trừ một phần thuế GTGT của hàng hoá vật tư sử dụng cho hoạt động sản xuất

Trang 8

nông,lâm,thuỷ sản chưa được khấu trừ,tránh thu thuế trùng.Quy định trên

đã bị một số cơ sở kinh doanh lợi dụng để kê khai,khấu trừ,hoàn thuế khống.Do đó,chúng ta nên bỏ quy định khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo tỷ lệ

% áp dụng đối với hàng hoá là nông sản,lâm sản,thuỷ sản,chưa qua chế biến mua của người sản xuất không có hoá đơn bán ra theo quy định tại điểm 1d,Điều 10 Luật thuế GTGT.Trường hợp cần duy trì quy định này thì hạn chế đối tượng áp dụng,chuyển sang áp dụng khấu trừ theo tỷ lệ % tính trên thuế GTGT đầu ra để tránh khấu trừ khống về số lượng và doanh số mua.Đây là biện pháp khắc phục triệt để nhất nhưng sẽ gặp khó khăn do hiện nay đang

áp dụng khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo tỷ lệ %,nếu bỏ quy định này các cơ

sở kinh doanh hàng hoá nông sản,lâm sản,thuỷ sản sẽ có phản ứng thắc mắc.

Cơ chế hoàn thuế đóng vai trò rất quan trọng trong chế độ thuế GTGT Việc đánh giá hiệu quả của hệ thống thuế GTGT chính là dựa vào hoạt động của hoàn thuế được thực hiện như thế nào ,có kịp thời và không gây phiền

hà cho doanh nghiệp hay không.Do vậy,các quy định về hoàn thuế phải được sửa đổi,bổ sung cho phù hợp.

Để quản lý chặt chẽ việc hoàn thuế,cần thu hẹp lại đối tượng được hoàn thuế,chỉ nên hoàn thuế cho trường hợp xuất khẩu mậu dịch có đủ thủ tục hồ sơ quy định như hợp đồng xuất khẩu theo quy định tại điều 81 của Luật thương mại,có thủ tục xác nhận của cơ quan hải quan về hàng hoá xuất khẩu,thanh toán qua ngân hàng bằng ngoại tệ hoặc tiền đồng có gốc ngoại

tệ và các trường hợp thanh toán khác theo quy định của Chính phủ.

Đối với hàng hoá xuất khẩu dưới hình thức mậu dịch thì chỉ cho xuất khẩu qua một số cửa khẩu để tạo điều kiện cho cơ quan hải quan quản lý chặt chẽ hàng hoá xuất khẩu,khắc phục hiện tượng lợi dụng làm thủ tục xác nhận khống hàng hoá xuất khẩu để lập hồ sơ xin hoàn thuế GTGT.

Trang 9

Cần quy định các đối tượng được hoàn thuế phải được xác minh là cơ

sở kinh doanh đang hoạt động bình thường.

Về điều kiện hoàn thuế thì phải bắt buộc mọi đối tượng được hoàn thuế phải có đủ các thủ tục theo quy định hiện hành và bổ sung đối với các cơ

sở kinh doanh xuất khẩu phải thanh toán chuyển khoản qua Ngân hàng.Áp dụng quy định này sẽ hạn chế gian lận khâu xuất khẩu nhưng các cơ sở kinh doanh xuất khẩu hàng hoá theo đường biên giới đất liền hiện nay chủ yếu thanh toán theo hình thức biên mậu bằng tiền mặt sẽ không được hoàn thuế.

Về thời hạn hoàn thuế nên sửa đổi kéo dài thời hạn hoàn thuế để cơ quan thuế có đủ thời gian kiểm tra đối chiếu xác minh hoá đơn;bổ sung quy định không khống chế thời gian hoàn thuế đối với các trường hợp có dầu hiệu vi phạm quy định hoàn thuế.

Phải sửa đổi quy trình hoàn thuế GTGT theo hướng : phân loại đối tượng được hoàn thuế theo các nhóm căn cứ vào ý thức chấp hành Luật thuế GTGT.Chỉ áp dụng hoàn thuế theo kê khai và thực hiện kiểm tra sau hoàn thuế đối với các đối tượng có ý thức chấp hành Luật thuế tốt.Các đối tượng

có vi phạm quy định Luật thuế thì chỉ thực hiện hoàn thuế sau khi đã kiểm tra thanh tra.

3.7.Các quy định về quản lý thuế

Trước hết, cần tăng cường chế độ tự kê khai và nộp thuế,thúc đẩy tính

tự giác chấp hành luật thuế của các đối tượng.Nhà nước cần quy định rõ ràng trách nhiệm tự giác kê khai và nộp thuế theo kê khai của các đối tượng,bỏ quy định nộp thuế theo thông báo thuế,gây tâm lý cho các đối tượng chờ đợi thông báo mới nộp thuế,trong khi do việc quản lý chưa được tốt mà hiện nay thông báo thuế thường ra chậm,nhiều sai sót,dẫn đến việc các đối tượng chậm nộp tiền thuế mà lại phải mất thời gian để điều chỉnh lại các sai sót với cơ quan thuế.

Trang 10

Nhà nước cần đổi mới cơ chế quản lý để nâng cao hiệu quả thực tế của các quy định về trách nhiệm hành chính,áp dụng hình phạt hành chính đối với vi phạm về thuế,đảm bảo tính nghiêm minh của luật thuế,thực hiện cưỡng chế đối với hành vi vi phạm.Các vi phạm ở mức độ vi phạm nghiêm trọng cần phải xử lý bằng hình sự theo đúng quy định của pháp luật.

Về hệ thống hoá văn bản pháp luật thuế GTGT,việc hệ thống hoá các văn bản pháp quy hướng dẫn thực hiện Luật thuế GTGT vào một Thông tư góp phần dễ tra cứu và thực hiện.Cần ban hành các quy định thống nhất và chi tiết về xử lý khiếu nại thuế.

II./ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

Để nâng cao hiệu quả pháp luật thuế GTGT,bên cạnh việc phải hoàn thiện các quy định của pháp luật,chúng ta còn phải làm tốt công tác áp dụng pháp luật,thể hiện được tinh thần của pháp luật và đạt được mục đích mà pháp luật thuế GTGT đã đề ra :

1.Tăng cường hoạt động tuyên truyền phổ biến giáo dục,giải thích pháp luật về thuế GTGT

Đi đôi với việc cải cách hành chính thuế,công tác tuyên truyền,giải thích, giáo dục pháp luật về thuế GTGT cần được chú trọng hơn.

Một mặt,tuyên truyền,giải thích,giáo dục pháp luật về thuế GTGT cho các đối tượng nộp thuế để họ có nhận thức được về pháp luật thuế,hiểu rõ những quy định của pháp luật thuế thì họ mới thực hiện tốt được các quy định đó,tạo thuận lợi cho chính họ cũng như cho cơ quan thuế trong quản lý thu và nộp thuế,tránh được tình trạng do không hiểu biết mà khiếu nại,thắc mắc thường xuyên.Việc tuyên truyền phổ biến rộng rãi kiến thức về thuế sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân cũng hết sức cần thiết,bởi vì người dân có thể phản ánh kịp thời các bất cập trong các quy định của pháp luật, hạn chế được tiêu cực từ phía cán bộ thuế,giám sát được việc thực hiện Luật thuế.

Ngày đăng: 02/11/2013, 06:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w