1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tìm hiểu, đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của dân tộc Dao và H'Mông nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại huyện Sa Pa - Tỉnh Lao Cai

112 7K 36
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu, đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của dân tộc Dao và H'Mông nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại huyện Sa Pa - Tỉnh Lào Cai
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại đề tài nghiên cứu
Thành phố Sa Pa
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu, đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của dân tộc Dao và H'Mông nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại huyện Sa Pa - Tỉnh Lao Cai

Trang 1

1 Mở Đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất là tài sản vô cùng quý giá đối với với mỗi quốc gia và là tư liệu sản xuất đặc biệt hàng đầu không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp Nó còn

là bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường sống, đất không chỉ là tài nguyên thiên nhiên quí giá mà còn là nền tảng để định canh định cư, tổ chức các hoạt động kinh tế xã hội

Xã hội ngày càng phát triển, dân số tăng nhanh, đòi hỏi ngày càng tăng

về lương thực, thực phẩm, các sản phẩm công nghiệp, các nhu cầu về văn hoá xã hội Điều đó tạo nên áp lực ngày càng lớn đến đất đai làm cho quỹ đất nông nghiệp luôn có nguy cơ bị giảm, trong khi đó khả năng khai hoang đất mới lại rất hạn chế Để giải quyết các vấn đề này, ngoài việc nghiên cứu về đất đai, chúng ta cần phải đánh giá đầy đủ các điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội có liên quan đến quá trình sử dụng đất hiện tại và tương lai, nhằm mục đích sử dụng

đất hợp lý và lựa chọn các loại hình sử dụng đất có hiệu quả Công việc này đòi hỏi phải đánh giá một cách tổng hợp trên nhiều phương diện như: mức độ thích hợp của từng loại cây trồng, khả năng đầu tư cho phép, lợi nhuận thu được, mức tiêu thụ sản phẩm, phong tục tập quán ở từng địa phương và của từng dân tộc, bảo vệ được môi trường sinh thái, từ đó xây dựng đúng và lựa chọn các loại hình sử dụng đất có triển vọng

Sa Pa là một huyện vùng cao nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Lào Cai, với diện tích tự nhiên 67.864,0 ha, chiếm 8,24% diện tích tự nhiên của tỉnh Huyện có 17 xã và một thị trấn là nơi cư trú của 6 nhóm dân tộc anh em cùng sinh sống với nhiều phong tục tập quán khác nhau với nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú

Hiện nay, người dân ở Sa Pa đang phải đối mặt với nhiều áp lực như các

hệ sinh thái tự nhiên bị phá vỡ, tài nguyên đất, nước, rừng bị suy thoái, do nạn

Trang 2

chặt phá rừng và khai thác bừa bãi dẫn đến tình trạng đất bị xói mòn rửa trôi, năng suất cây trồng thấp Hạ tầng cơ sở, hệ thống thông tin, giao thông nghèo nàn, mật độ dân số ngày càng gia tăng Dân số phân bố không đồng đều, phương thức canh tác còn nhiều lạc hậu, nhất là đối với dân tộc thiểu số, đất là

nguồn sống của họ, là quà tặng của đất trời Do vậy việc tìm hiểu dân tộc thiểu

số sử dụng đất như thế nào có ý nghĩa hết sức quan trọng vì mỗi dân tộc tác

động lên đất theo những cách khác nhau, nhưng tất cả họ đều coi đất là mẹ, là phần cơ bản của nền văn minh xã hội, đất nối liền họ với quá khứ, với hiện tại, tương lai Để tìm hiểu dân tộc thiểu số sử dụng đất ra sao cần phải điều tra và

đánh giá hiệu quả sử dụng đất của họ, từ đó tìm ra những trở ngại, tiềm năng trong hoạt động sử dụng đất Đây chính là cơ sở cho việc định hướng sử dụng

đất trong tương lai với phương châm sử dụng đất có hiệu quả và bền vững

Để đáp ứng được nhu cầu phát triển, góp phần đánh giá đúng thực trạng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của đồng bào các dân tộc trong huyện nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong tương lai, chúng tôi tiến

hành thực hiện nghiên cứu đề tài "Tìm hiểu, đánh giá các loại hình sử dụng

đất nông nghiệp của dân tộc Dao và H'Mông nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại huyện Sa Pa - Tỉnh Lào Cai"

1.2 Mục đích, yêu cầu nghiên cứu

1.2.1 Mục đích

Tìm hiểu và đánh giá các loại hình sử dụng đất của dân tộc Dao và H’Mông nhằm xác định khả năng khai thác sử dụng đất của mỗi dân tộc trên cơ sở phát huy kiến thức bản địa quý giá kết hợp với khoa học kỹ thuật tiên tiến, từ đó đề xuất các giải pháp hợp lý, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại địa bàn huyện Sa Pa - Lào Cai

Trang 4

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Một số vấn đề sử dụng đất nông nghiệp, hệ thống nông nghiệp và hệ thống canh tác

2.1.1 Khái quát về loại hình sử dụng đất, hệ thống sử dụng đất

Hệ thống sử dụng đất: là sự kết hợp của một loại sử dụng đất với một

điều kiện đất đai riêng biệt tạo thành hai hợp phần khăng khít tác động lẫn nhau, từ các tương tác này sẽ quyết định các đặc trưng về mức độ và các loại chi phí đầu tư, mức độ và loại cải tạo đất đai và năng suất, sản lượng của loại

sử dụng đất [5]

Loại hình sử dụng đất: Tùy theo mức độ và tên gọi khác nhau, nhưng

trong nông nghiệp, loại hình sử dụng đất đai được hiểu khái quát là những hình thức sử dụng đất đai để sản xuất một hoặc một nhóm cây trồng, vật nuôi trong chu kỳ một năm hay nhiều năm Đơn vị đất đai là nền, còn loại hình sử dụng đất là đối tượng để đánh giá, phân hạng mức độ thích hợp của đất đai

Trên thế giới, lý thuyết về loại hình sử dụng đất đã được Duddley Stamp (thế kỷ19) xây dựng và sau này được Kostrowiky và các đồng sự của ông phát triển Năm 1972, Beek và Bennerma đã hoàn chỉnh [42] và được Brinkman và Smith sử dụng trong đề cương đánh giá đất đai năm 1976 [44]

Đề cương đánh giá đất của FAO năm 1976, đã giới thiệu:

Loại hình sử dụng đất chính (a major type of land use) dùng trong đánh

giá khái quát, là sự phân chia ở mức lớn của sử dụng đất đai trong khu vực hoặc vùng nông lâm nghiệp, chủ yếu dựa trên cơ sở của sản xuất các cây trồng hàng năm, lâu năm, lúa, đồng cỏ, rừng, khu giải trí nghỉ ngơi, động vật hoang dã với các công nghệ được dùng đến như tưới nước, cải thiện đồng cỏ

Loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT): là sự phân chia chi tiết

hơn của các loại hình sử dụng đất đai chính Chúng được mô tả theo các thuộc tính nhất định Các thuộc tính đó gồm quy trình sản xuất, các đặc tính về kinh

Trang 5

tế kỹ thuật như định hướng thị trường, vốn, thâm canh, lao động, vấn đề sở hữu đất đai [44]

Như vậy, loại hình sử dụng đất là đơn vị xếp dưới hệ thống canh tác và liên quan chặt chẽ với các đơn vị đất đai Mức độ chi tiết của các loại hình sử dụng đất phụ thuộc vào mục tiêu, quy mô và tỷ lệ bản đồ sử dụng trong đánh giá đất [31]

Trong nghiên cứu, đánh giá và quy hoạch sử dụng đất đai, các loại hình

sử dụng đất hiện có sẽ được xác định và mô tả về tình hình sản xuất, hình thức quản lý sản xuất, quy mô nông trại, các biện pháp canh tác, mức độ đầu tư, năng suất, hiệu quả sản xuất và yêu cầu đất đai Từ đó lựa chọn các loại hình

sử dụng đất thích hợp, bền vững về hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường và lấy nó làm đối tượng trong đánh giá đất đai (FAO, 1976) [11]

ở Việt Nam, khái niệm này đã được Bùi Quang Toản giới thiệu từ năm

1977 Qua thử nghiệm cho thấy loại hình sử dụng đất đai trong nông nghiệp có thể được áp dụng rộng rãi như: chuyên lúa, lúa và cây trồng cạn, chuyên cây trồng cạn, vườn cây, cây trồng thức ăn gia súc (đối với đất đồng bằng); Cây hàng năm, cây lâu năm, đồng cỏ chăn thả, rừng trồng và khai thác, rừng bảo vệ (đối

với đất đồi núi) [34]

2.1.2 Hệ thống nông nghiệp và hệ thống canh tác, hệ thống cây trồng ở miền núi và vùng cao

Hệ thống nông nghiệp là một phức hợp của đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, lao động, các nguồn lợi đặc trưng khác trong một ngoại cảnh

mà nông hộ quản lý tuỳ theo sở thích và khả năng kỹ thuật có thể có

Nhìn chung hệ thống nông nghiệp là một hệ thống hữu hạn, trong đó con người đóng vai trò trung tâm, con người quản lý và điều khiển các hệ thống theo nhiều quy luật nhất định nhằm mang lại hiệu quả cho hệ thống nông nghiệp [28]

Trang 6

Theo Sectisan.M [22], hệ thống canh tác là sản phẩm của nhóm biến số: môi trường vật lý, kỹ thuật sản xuất, chi phối của tài nguyên và điều kiện kinh

tế xã hội Trong hệ thống canh tác con người là vị trí trung tâm của hệ thống

và quan trọng hơn bất kỳ nguồn tài nguyên nào kể cả đất canh tác Theo Zandastra H.G [50] muốn phát triển một vùng nông nghiệp, kỹ năng của nông dân có tác dụng hơn độ phì của đất Hệ thống canh tác được quản lý bởi hộ gia

đình trong môi trường tự nhiên, sinh học và kinh tế xã hội phù hợp với mục tiêu cũng như sự mong muốn và nguồn lực của nông hộ

Trong lịch sử phát triển lâu đời của sản xuất nông nghiệp trên vùng đất

đồi núi Việt Nam đã có nhiều hệ thống canh tác được hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau Tuỳ theo mức độ tiến bộ của tổ chức sản xuất mà áp dụng các hệ thống nông nghiệp sau:

Hệ thống nông nghiệp cổ truyền: ở miền núi và vùng cao điển hình nhất

là hệ thống nương rẫy du canh Hệ thống canh tác này rất đơn giản, chủ yếu là dùng giống cây trồng đã qua chọn lọc tự nhiên thích nghi với điều kiện địa phương, triệt để lợi dụng độ phì nhiêu tự nhiên của đất đai và của rừng để lại, canh tác nhờ nước trời, không sử dụng phân bón và các công trình thuỷ lợi hay các biện pháp bảo vệ đất dù là đơn giản Khi đất đã bị thoái hoá (biểu hiện năng suất cây trồng thấp) thì bỏ hoá cho cây cỏ mọc tự phục hồi độ phì nhiêu

đất, rồi chuyển đi phá đốt gieo tỉa trên một diện tích khác, cho đến khi mảnh

đất đó phục hồi được khả năng canh tác sẽ quay trở lại

Hệ thống nông nghiệp chuyển tiếp: Là hệ thống nông nghiệp cổ truyền

được đưa vào một số yếu tố kỹ thuật mới, cải thiện một vài khâu sản xuất như lao động, phân bón, thuốc trừ sâu, công cụ cải tiến và một ít máy móc đơn giản, từ du canh chuyển dần thành định canh

Hệ thống canh tác hiện đại: hệ thống canh tác này thay đổi toàn bộ điều

kiện canh tác, trồng nhiều loại cây, nuôi các vật nuôi nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hoá, cơ giới hoá và tự động hoá quá trình sản xuất - chế biến - bảo

Trang 7

quản - tiêu thụ Sử dụng phân bón hợp lý, thuốc trừ sâu, giống mới năng suất cao, sử dụng nước tưới, chú trọng các công trình bảo vệ đất áp dụng hệ thống nông nghiệp này cần có những điều kiện tự nhiên như tập trung về ruộng đất, phát triển giao thông và hạ tầng cơ sở, có thị trường tiêu thụ khá ổn định Việc

áp dụng không đúng các biện pháp kỹ thuật của hệ thống này đã lộ một số mặt tiêu cực cần được đánh giá (ô nhiễm môi trường do bón phân không đúng, khủng hoảng nước vùng chuyên canh tập trung, xói mòn mạnh do lạm dụng

Zandastra H.G [50] cho rằng hệ thống cây trồng là hoạt động sản xuất cây trồng trong nông trại, nó bao gồm tất cả các hợp phần cần thiết để sản xuất một tổ hợp các cây trồng của nông trại, mối liên hệ của chúng với môi trường Các hợp phần này bao gồm các yếu tố tự nhiên, sinh học cần thiết cũng như kỹ thuật lao động và yếu tố quản lý

Đào Thế Tuấn (1984) [38] cho rằng cơ cấu cây trồng là thành phần các giống và loại cây trồng được bố trí theo không gian và thời gian trong hệ sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý nhất nguồn lợi tự nhiên - kinh tế - xã hội của nó Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý là biện pháp kỹ thuật tổng hợp, nhằm sắp xếp lại hoạt động của hệ sinh thái Một cơ cấu cây trồng hợp lý khi

nó lợi dụng tốt nhất điều kiện khí hậu, nguồn nước, tránh thiên tai, lợi dụng

đặc tính sinh học của cây trồng, tránh sâu bệnh và cỏ dại, bảo đảm sản lượng cao, tỷ lệ sản phẩm có chất lượng lớn, đảm bảo phát triển tốt ngành chăn nuôi

và các ngành kinh tế hỗ trợ, sử dụng lao động vật tư kỹ thuật tốt

Trang 8

Nguyễn Văn Luật (1991) [14] cho rằng hệ thống cây trồng là tổ hợp cây trồng bố trí theo không gian và thời gian với biện pháp kỹ thuật được thực hiện nhằm đạt năng suất cây trồng cao, nâng cao độ phì nhiêu của đất, đồng thời bảo vệ môi trường Ngoài ra, cho đến nay có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu về hệ thống cây trồng của từng vùng ở Việt Nam như Cao Liêm (1990) [13], Phạm Chí Thành (1994) [27], Hà Thị Thanh Bình, Nguyễn Thị Lan [1] các tác giả đều xác định được hệ thống cây trồng của từng vùng, xác định mức

độ thích hợp và hướng chuyển đổi của hệ thống cây trồng

2.1.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam

Đất nông nghiệp là nhân tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp không chỉ nuôi sống con người, mà còn đem lại nguồn thu nhập quan trọng của hầu hết các nước đang phát triển Trong tương lai với sự phát triển dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực thực phẩm là một sức ép lớn, sẽ đặt nền sản xuất nông nghiệp và tài nguyên đất vào một tình trạng quá tải Để đảm bảo an ninh lương thực cho mình, loài người phải tăng cường các biện pháp khai hoang đất đai, do đó đã phá vỡ cân bằng sinh thái của nhiều vùng, đất đai bị khai thác triệt để và không còn thời gian nghỉ, các biện pháp giữ gìn độ phì nhiêu đất không còn được áp dụng nữa Kết quả hàng loạt diện tích bị thoái hóa trên phạm vi toàn thế giới qua các hình thức do mất chất dinh dưỡng và chất hữu cơ, xói mòn, nhiễm mặn và phá hoại cấu trúc của tầng đất Trong một báo cáo nghiên cứu về tài nguyên đất cho dân số trong tương lai của tổ chức FAO cũng đã cảnh báo rằng: trong 117 nước đang phát triển được điều tra, thì không dưới 64 nước không có khả năng

đáp ứng lương thực cho sự gia tăng dân số vào những năm đầu thế kỷ XXI, nếu như các quốc gia này không áp dụng biện pháp thâm canh, sử dụng, bảo

vệ tốt tài nguyên đất Dự trữ đất canh tác tại các nước đang phát triển khá lớn, song phân bố không đồng đều chủ yếu tập trung ở các nước Châu Phi và Châu

Mỹ - La tinh [47]

Trang 9

Người ta ước tính rằng có tới 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động của con người gây ra [17] Theo P.Buingh [39] toàn bộ

đất có khả năng nông nghiệp của thế giới khoảng 3,3 tỷ ha (chiếm 22% tổng diện tích đất liền); khoảng 78% (xấp xỉ 11,7 tỷ ha) không dùng vào nông nghiệp vì:

Đại dương chiếm 6% Như vậy Châu á và Châu Phi có tiềm năng đất nông nghiệp lớn nhất Tuy nhiên nguồn đất ở Châu á gần như đã cạn kiệt, đồng thời với cư ngụ của gần 1/2 dân số trên thế giới, Châu á là nơi có đất canh tác chịu nhiều áp lực nhất của sự gia tăng dân số [48]

Đất canh tác của thế giới có hạn chế và được dự đoán là ngày càng tăng do khai thác thêm những diện tích đất có khả năng làm nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu về lương thực thực phẩm cho loài người Tuy nhiên do dân số ngày một tăng nhanh nên bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ngày một giảm

Trang 10

Bảng 1 Tình hình diễn biến và dự báo diện tích đất canh tác

và dân số trên thế giới

(triệu người)

Diện tích đất canh tác (10 6 ha )

Diện tích đất canh tác/người (ha)

1.380 1.500 1.510 1.540 1.650

0,46 0,34 0,30 0,25 0,20

người của nước ta đứng hàng thứ 9, chỉ cao hơn Singapore [9]

Bảng 2 Biến động diện tích về sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam

Dân số (1000 người)

Bình quân DT đất cây trồng hàng năm/ người (m 2 )

Trang 11

Theo số liệu thống kê của nhà xuất bản Thống kê Hà Nội năm 2000 diện tích đất canh tác của Việt Nam có biến động lớn, cụ thể năm 1990 diện tích đất nông nghiệp là 9.040.800 ha, diện tích đất canh tác là 8.101.500 ha, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người là 1.223 m2, đến năm 1998 diện tích đất nông nghiệp là 11.704.800 ha, diện tích đất canh tác là 10.011.300 ha, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người là 1.311 m2 Qua đó cho chúng ta thấy tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp đối với sự nghiệp phát triển chung và cũng thấy được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong vấn đề phát triển nông nghiệp của đất nước

Theo Vũ Ngọc Tuyên [39], đất đai Việt Nam chủ yếu là đất dốc bị chia cắt nhiều Cả nước chỉ có 12,8 triệu ha đất (39% diện tích cả nước) là đất ít dốc, còn lại là đất dốc, bị chia cắt nhiều khoảng 15,8 triệu ha (48%)

Bảng 3 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta đến năm 2003

Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ %

Tổng diện tích đất nông nghiệp 9.510.529 100,00

5.960.336 62,67 4.026.213 67,55

Đất trồng cây hàng năm

- Đất lúa nước

2.302.566 24,21

Đất trồng cây lâu năm

- Đất trồng cây công nghiệp lâu năm 1.618.251 70,28

Đất mặt nước nuôi trồng thủy sản 589.111 6,19

(Nguồn: Tổng Cục Địa chính [25])

Nước ta là nước có diện tích tự nhiên xếp hàng thứ 59 trong tổng số 200

Trang 12

nước trên thế giới, nhưng có dân số xếp hàng thứ 13 trên thế giới Theo thống

kê, bình quân đất đai trên đầu người của thế giới là 3,0 ha, úc là 52,4 ha, Canada là 11,2 ha, Trung Quốc là 0,8 ha, còn Việt Nam là 0,43 ha [46] Như vậy bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người ở nước ta chỉ bằng 1/7 bình quân diện tích đất trên đầu người của thế giới Là một nước có đa phần dân số làm nghề nông, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người nông dân rất thấp là một trở ngại to lớn Để vượt qua, phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương thực, thực phẩm cho toàn dân và có một phần xuất khẩu cần biết cách khai thác hợp lý đất đai, triệt để tiết kiệm đất, sử dụng

đất có hiệu quả cao trên cơ sở phát triển một nền nông nghiệp bền vững

2.1.4 Những định hướng chính trong sử dụng bền vững đất đồi núi ở vùng núi phía Bắc

Hội nghị quốc tế về quản lý đất đồi núi tại Bắc Kinh kêu gọi: " một tiềm năng lớn lao đang nằm trong các vùng cao nhiệt đới, các nước phát triển cũng như đang phát triển cần tăng cường đầu tư và nỗ lực tăng sức sản xuất của vùng cao Điều đó sẽ có lợi không những chỉ cho nông dân địa phương mà còn cho cả nhân loại nói chung"[23]

Hiện nay ở phần lớn các nước đang phát triển, hướng phát triển sản xuất nông lâm nghiệp là mở rộng ở các vùng đồi núi, bởi vì do sự gia tăng nhanh về dân số nên hầu hết các vùng đồng bằng đất đai đã được đưa vào khai thác sử dụng và Việt Nam cũng không nằm ngoài ngoại lệ này

ở Việt Nam đất đồi núi chiếm tỷ lệ chủ yếu trong quỹ đất quốc gia bởi

có tới 75% diện tích đất đai thuộc đất đồi núi Trong số 10.027.265 ha đất chưa

sử dụng thì đất đồi núi chiếm 76,78% diện tích đất chưa sử dụng cả nước [8]

Do vậy, việc phát triển mở rộng diện tích đất nông, lâm nghiệp những thập kỷ tới phụ thuộc chủ yếu vào hướng quản lý, sử dụng có hiệu quả quỹ đất

đồi núi vốn rất đa dạng, giàu tiềm năng nhưng cũng dễ bị thoái hoá một cách nghiêm trọng Ngoài việc đóng góp cho sản xuất nông, lâm nghiệp phục vụ

Trang 13

cho dân sinh, vùng đồi núi còn có chức năng duy trì cân bằng sinh thái, điều tiết nước, bảo vệ đất cho đồng bằng Do tầm quan trọng của tài nguyên đất miền núi cho nên hướng sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững đất đồi núi cần

có những định hướng chính cho phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng:

- Sử dụng hợp lý kết hợp với việc bảo vệ đất bằng cách bố trí các hệ thống cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng vùng, tiểu vùng sinh thái nông nghiệp (các cây trồng nhiệt đới ở độ cao dưới 700m, cây trồng á nhiệt đới ở độ cao 700 - 900 - 1800m) Phát huy thế mạnh thực tế của vùng núi phía Bắc về trồng cây lâu năm và chăn nuôi gia súc

- Hạn chế tối đa quá trình xói mòn, rửa trôi bằng các kỹ thuật canh tác trên đất dốc nhằm giữ đất, duy trì độ ẩm đất, giữ chất dinh dưỡng và làm cho đất ngày thêm phì nhiêu Bảo vệ thảm thực vật rừng kết hợp với

áp dụng các biện pháp tổng hợp để phòng, chống xói mòn, trong đó mô hình nông lâm kết hợp được xác định ưu tiên

- Tập trung quy hoạch sản xuất ở các vùng thung lũng, lòng chảo,

đồi núi thấp thoải và ở các vùng trọng điểm có khả năng phát triển cây công nghiệp, cây đặc sản, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc Sử dụng có hiệu quả các loại đất phù sa, đất đen, đất dốc tụ, đất nâu vàng trên phù sa

cổ để phát triển hoa màu, lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày Đối với đất đồi núi dốc chú trọng khai thác tốt các loại đất trên đá vôi, đá macma bazơ và trung tính, đá sét và biến chất ở những vùng phần nhiều

đất có tầng dày để trồng cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả, cây dược liệu và làm đồng cỏ chăn thả

- Duy trì, cải thiện độ phì đất cho những diện tích có điều kiện thâm canh ở vùng thung lũng, lòng chảo hoặc ruộng bậc thang, sử dụng

đi đôi với cải tạo và bảo vệ diện tích đất nông ngiệp hiện có trong vùng

đồng thời từng bước khai thác thêm đất còn có khả năng phát triển nông nghiệp

Trang 14

2.2 Đánh giá sử dụng đất bền vững

2.2.1 Quan điểm sử dụng đất bền vững

Từ khi biết sử dụng đất đai vào mục đích sinh tồn, đất đai đã trở thành cơ

sở cần thiết cho sự sống và cho tương lai phát triển của loài người

Trước đây, khi dân số còn ít để đáp ứng yêu cầu của con người việc khai thác từ đất khá dễ dàng và chưa có những ảnh hưởng lớn đến tài nguyên

đất Nhưng ngày nay, mật độ dân số ngày càng tăng, đặc biệt là ở các nước

đang phát triển thì vấn đề đảm bảo lương thực cho sự gia tăng dân số đã trở thành sức ép ngày càng mạnh mẽ lên đất đai Diện tích đất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp ngày càng cạn kiệt, con người phải mở mang thêm diện tích canh tác trên các vùng đất không thích hợp cho sản xuất, hậu quả đã gây ra quá trình thoái hoá đất một cách nghiêm trọng [49]

Tác động của con người tới đất đã làm cho độ phì nhiêu của đất ngày càng suy giảm và dẫn đến thoái hoá đất, lúc đó rất khó có khả năng phục hồi

độ phì đất hoặc phải chi phí rất tốn kém mới có thể phục hồi được Đất với 5

chức năng chính là “Duy trì vòng tuần hoàn sinh hoá và địa hoá học; phân phối nước; tích trữ và phân phối vật chất; mang tính đệm và phân phối năng lượng” (De Kimpe và Warkentin - 1998) [43], là những trợ giúp cần thiết cho

các hệ sinh thái Mục đích của sản xuất là tạo ra lợi nhuận luôn chi phối các tác động của con người lên đất đai và môi trường tự nhiên, những giải pháp sử dụng và quản lý đất không thích hợp chính là nguyên nhân dẫn đến sự mất cân bằng lớn trong đất, sẽ làm cho đất bị thoái hoá

Sử dụng đất một cách có hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn cho

sự tồn tại tương lai và phát triển của loài người Chính bởi vậy, việc tìm kiếm các giải pháp sử dụng đất thích hợp, bền vững đã được nhiều nhà nghiên cứu

đất và các tổ chức quốc tế rất quan tâm và không ngừng hoàn thiện theo sự phát triển của khoa học [9]

Nội dung sử dụng đất bền vững bao hàm ở một vùng trên bề mặt trái đất

Trang 15

với tất cả các đặc trưng: Khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, chế độ thuỷ văn, động vật - thực vật và cả những hoạt động cải thiện việc sử dụng và quản lý đất đai như: hệ thống tiêu nước, xây dựng đồng ruộng Do đó thông qua hoạt động thực tiễn sử dụng đất chúng ta phải xác định được những vấn đề liên quan đến các yếu tố tác động đến khả năng bền vững đất đai trên phạm vi cụ thể của từng vùng để tránh khỏi những sai lầm trong sử dụng đất, đồng thời hạn chế

được những tác hại đối với môi trường sinh thái [9]

Theo Fetry [45] sự phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động và thực vật, không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, lợi ích kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội FAO đã đưa ra các chỉ tiêu cụ thể cho nông nghiệp bền vững là:

- Thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương lai về cả số lượng, chất lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác

- Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu nhập và các điều kiện sống làm việc tốt cho mọi người trực tiếp làm nông nghiệp

- Duy trì và có thể tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở tài nguyên thiên nhiên và khả năng tái sinh sản xuất các nguồn tài nguyên tái tạo

mà không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái, không phá vỡ bản sắc văn hoá xã hội của các cộng đồng ở nông thôn hoặc gây ô nhiễm môi trường

- Giảm tối thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố

lòng tin cho người dân [29]

2.2.2 Đánh giá sử dụng đất bền vững

Để duy trì được sự bền vững của đất đai, Smyth A.J và Dumanski.J [49]

đã xác định 5 nguyên tắc có liên quan đến sử dụng đất bền vững là:

- Duy trì nâng cao các hoạt động sản xuất (hiệu quả sản xuất)

- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất (an toàn)

- Bảo vệ tiềm năng các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hoá

đối với chất lượng đất và nước (bảo vệ)

Trang 16

- Khả thi về mặt kinh tế (tính khả thi)

- Được chấp nhận của xã hội

Như vậy, theo tác giả sử dụng đất bền vững không chỉ thuần tuý về mặt

tự nhiên mà còn cả về mặt môi trường, lợi ích kinh tế và xã hội Năm nguyên tắc trên được coi là trụ cột của sử dụng đất đai bền vững là những mục tiêu cần phải đạt được Nếu thực tế mà diễn ra đồng bộ so với các mục tiêu thì khả năng bền vững sẽ đạt được Nếu chỉ đạt một hay vài mục tiêu mà không phải tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận [10]

Vận dụng nguyên tắc trên, ở Việt Nam một loại hình sử dụng đất được xem là bền vững thì phải đạt 3 yêu cầu sau:

- Bền vững về kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp nhận

- Bền vững về mặt xã hội: Thu hút được lao động, đảm bảo đời sống xã hội phát triển

- Bền vững về môi trường: Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất, ngăn chặn thoái hoá đất và bảo vệ môi trường sinh thái

Ba yêu cầu bền vững trên là để xem xét và đánh giá các loại hình sử dụng

đất hiện tại Thông qua việc xem xét và đánh giá theo các yêu cầu trên để giúp cho việc định hướng phát triển nông nghiệp ở từng vùng sinh thái [29]

Tóm lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người diễn ra hết sức

đa dạng trên nhiều vùng đất khác nhau và cũng vì thế khái niệm sử dụng đất bền vững thể hiện trong nhiều hoạt động sản xuất và quản lý đất đai trên từng vùng đất xác định theo nhu cầu và mục đích sử dụng của con người Đất đai trong sản xuất nông nghiệp chỉ được gọi là sử dụng đất bền vững trên cơ sở duy trì các chức năng chính của đất đai là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng một cách ổn định, không làm suy giảm về chất lượng tài nguyên đất theo thời gian và việc sử dụng đất không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của

con người và sinh vật

Trang 17

2.2.3 Phát triển nông nghiệp bền vững

Điều quan trọng trong phát triển nông nghiệp bền vững là biết sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, giữ gìn và cải thiện chất lượng môi trường, có hiệu quả kinh tế, năng suất cao và ổn định, tăng cường chất lượng cuộc sống

và hạn chế rủi ro

Mục tiêu là phát triển nông nghiệp bền vững là xây dựng một hệ thống

ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thoả mãn nhu cầu của con người mà không làm suy kiệt đất và không gây ô nhiễm môi trường Nông nghiệp bền vững sử dụng những đặc tính vốn có của cây trồng, vật nuôi, kết hợp với đặc trưng của cảnh quan và cấu trúc trên diện tích đất sử dụng thống nhất

Nông nghiệp bền vững là một hệ thống mà nhờ đó con người có thể tồn tại và phát triển được sử dụng nguồn tài nguyên phong phú của thiên nhiên mà không huỷ diệt sự sống của trái đất [4]

Trong những thập kỷ gần đây, sự bùng nổ dân số và phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đã làm biến đổi cảnh quan môi trường, làm mất sự cân

đối nghiêm trọng giữa nhu cầu con người với khả năng cung cấp của tự nhiên,

đã làm cạn kiệt dần các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong đó có đất Trong sản xuất nông nghiệp, để đáp ứng những nhu cầu về lương thực, thực phẩm con người đã tìm mọi biện pháp để đất đai sản sinh ngày càng nhiều sản phẩm, trong đó có cả những biện pháp có hại cho đất Với việc sử dụng ngày một tăng và không hợp lý các sản phẩm công nghiệp hoá như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hoá chất, chất tăng trưởng đã làm cho đất đai bị thoái hoá, không những thế còn kéo theo các thảm họa về môi trường sinh thái nghiêm trọng Nhận thức được nguy cơ đó, thế giới đã có nhiều nghiên cứu nhằm tìm

ra một hướng đi thích hợp trong sử dụng đất nông nghiệp Một trong những quan điểm phổ biến hiện nay là phát triển một nền nông nghiệp bền vững Theo Rosemary Morrow thì nông nghiệp bền vững được xây dựng trên nền

Trang 18

tảng của sinh thái học, tức là sự nghiên cứu những mối liên hệ và tương quan giữa các cơ thể sống và môi trường của chúng Hiệu quả của một phương pháp mới là làm bền vững và phong phú hơn cho cuộc sống mà không gây suy thoái môi trường thiên nhiên và xã hội [21]

Các tác giả Bill Mollison và R.M Slay trong cuốn “Đại cương về nông nghiệp bền vững” cho rằng: “Nông nghiệp bền vững là sự thiết kế những hệ thống định canh lâu bền Đó là triết lý và một cách tiếp cận về sử dụng đất đai, liên kết tiểu khí hậu, cây trồng hàng năm và lâu năm, vật nuôi, đất, nước và những nhu cầu của con người, xây dựng nên những cộng đồng chặt chẽ và có hiệu quả”[15]

Nghiên cứu về nông nghiệp bền vững, có thể thấy những nét chủ yếu là:

- Một hệ thống tạo ra những mô hình định canh lâu bền bằng cách kết hợp thiết kế sinh thái

- Một sự tổng hợp hiểu biết truyền thống với khoa học hiện đại, áp dụng cho cả thành thị và nông thôn

- Nông nghiệp bền vững lấy các hệ thống thiên nhiên làm mẫu và hành

động hoà hợp với thiên nhiên nhằm thiết kế những môi trường lâu bền cung cấp những nhu cầu cơ bản cho con người

- Nông nghiệp bền vững thúc đẩy chúng ta tham gia có ý thức vào việc giải quyết nhiều vấn đề đặt ra ở phạm vi địa phương và toàn cầu [21]

2.3 Sử dụng đất nông nghiệp và tập quán canh tác của đồng bào dân tộc Dao và H'Mông

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, địa hình phức tạp, 3/4 đất đai là đồi núi, lại kéo dài trên 16 vĩ độ, nên đã có sự phân hoá mạnh

mẽ về môi trường tự nhiên, tạo nên nguồn tài nguyên phong phú với sự đa dạng sinh học rất cao Việt Nam có 54 dân tộc anh em với số dân trên 80 triệu người, nhiều phong tục tập quán khác nhau, gắn bó với nguồn tài nguyên đa

Trang 19

dạng ấy làm thành hệ thống trong mối tương tác xã hội - thiên nhiên vô cùng phong phú và phức tạp, trong đó mỗi hệ sinh thái có thành phần, cấu trúc, sắc thái và chức năng riêng [41]

Vùng cao phía Bắc có dân số trên 12 triệu người với 30 dân tộc thuộc 7 nhóm ngôn ngữ chính, trong đó có gần 6 triệu người thuộc các dân tộc ít người, chiếm quá nửa dân số các đồng bào thiểu số cả nước Điểm cần lưu ý là có rất nhiều điểm tương đồng trong điều kiện tự nhiên khác nhau, điều đó đã góp phần bảo tồn được những tương đồng về văn hoá Họ có sự hiểu biết về môi trường địa phương thật đáng kinh ngạc nhưng còn rất ít được biết đến [41]

Cộng đồng người Dao và người H’Mông ở Việt Nam cư trú chủ yếu ở những nơi cao nhất, hiểm trở nhất, thường có độ cao tuyệt đối trên 800m Đây

được coi là những nơi sâu nhất, xa nhất và về kinh tế thì cũng là nơi khó khăn nhất Song họ vẫn lưu giữ hầu hết các truyền thống văn hoá và nông nghiệp của mình [41] Về canh tác và quản lý nương rẫy trong mỗi bối cảnh văn hoá

đều sản sinh ra những phương thức quản lý tài nguyên thể hiện qua các hệ canh tác hay các phương pháp sử dụng đất tương ứng với nó: Người H’Mông ở vùng cao núi đá Mèo Vạc - Đồng Văn sống ở một vùng đất đai hiếm hoi, nước nôi thiếu thốn, khí hậu khắc nghiệt Môi trường khó khăn ấy đã làm nảy sinh một hệ canh tác rất độc đáo: thổ canh hốc đá cùng với ruộng màu [41] Người Dao ở vùng giữa Yên Bái có phương thức luân canh rừng - rẫy nổi tiếng với cây quế trong thời kỳ bỏ hoá Dường như người Dao gắn bó với rừng nhiều hơn, tuy họ cùng sống trên vùng đất dốc Về canh tác trên đất dốc, nhờ đã từng trải lâu đời trên mảnh đất của mình nên người dân miền núi vùng cao tích luỹ được nhiều tri thức và kinh nghiệm trên cơ sở đó xây dựng các kỹ thuật khai thác nguồn tài nguyên đất, nước, khí hậu rất phù hợp với hoàn cảnh của

họ Tính đa dạng và địa phương hoá cao độ của các tri thức và kỹ thuật bản địa làm cho chúng ta rất khó khái quát hoá chúng, vả lại việc khái quát hoá cao độ

sẽ làm mất tính địa phương và cũng làm mất luôn giá trị ứng dụng của chúng

Trang 20

[24] Nói chung ở miền núi, ruộng được cày bừa nhiều lần, nếu đã giầm thì dùng trâu quần đảo nhiều lần cho rơm rạ trộn với bùn chóng hoai mục Bờ

được làm rất công phu, vít kín lỗ thủng và là nhẵn, bảo đảm giữ nước suốt vụ Trên ruộng cạn cây trồng được bón cả phân chuồng và cả rác hun khói Còn việc quản lý nuớc là một kỹ thuật rất thuần thục của cộng đồng người Dao và người H’Mông ở phía Bắc Mặc dù địa hình rất phức tạp nước được dẫn vào ruộng khá chủ động và tiết kiệm

Việc chọn giống, để giống: đối với giống lúa, đồng bào dân tộc chọn từng bông ngay tại ruộng để làm giống, và cất giữ riêng từng nơi cho nên giống đã trồng vài vụ thì vấn đề để lẫn giống ít xảy ra Giống được cất giữ trên gác cao, khô ráo quanh năm, thường ở vị trí trên bếp lửa nên có độ ẩm rất thấp và tránh được côn trùng Nhờ vậy mà giống ít bị mọt, hạt đều và tỷ lệ nẩy mầm cao Còn giống ngô cũng được bà con chọn lựa rất kỹ và bảo quản trong các quả bầu khô trộn với tro và đặt nơi cao trên bếp, tránh ẩm và nóng Về việc sắp xếp thời vụ, bảo vệ đất, nông nghiệp hữu cơ, sử dụng lao động mỗi nơi đều có kinh nghiệm riêng phù hợp với địa phương mình mà người từ ngoài

đến phải nghiên cứu kế thừa trước khi đưa vào những cải tiến

Bên cạnh những kiến thức về kỹ thuật tiên tiến thì tri thức ở địa phương cũng rất quan trọng, bởi nó được tích luỹ qua kinh nghiệm to lớn nhờ tiếp xúc chặt chẽ với thiên nhiên, dưới áp lực chọn lọc trong quá trình tiến hoá của sinh quyển và dần dần trở thành văn hoá truyền thống Trong quan niệm về văn hoá truyền thống có nhiều người cho rằng dân tộc này có nền văn hoá lạc hậu hơn, hay tiến bộ hơn dân tộc kia Quan niệm này làm lu mờ bản chất thích ứng của văn hoá Họ đã không thấy được rằng văn hoá của một tập đoàn người nào đó chính là sự thích ứng với điều kiện xã hội và sinh thái đặc thù Cái là “tốt hơn”với một tập đoàn người này ở một thời điểm và một địa điểm đặc thù nào

đó có thể lại không tốt với tập đoàn người khác Mọi nền văn hoá đều là phải học mới có được, là cái được chia sẻ, là hệ thống canh tác tượng trưng, ít nhiều

Trang 21

có khả năng thích ứng Mọi nền văn hoá đều là tổng thể của các bộ phận ít nhiều được hoà nhập

Ví dụ: như văn hoá của người H’Mông, có người cho rằng người H’Mông lạc hậu, văn hoá thấp Khi nhìn lại các sản phẩm văn hoá của người H’Mông: các công cụ sản xuất như “cày Mèo” rất phù hợp cho việc canh tác trên đất dốc, “dao Mèo” tự chế sắc bén đa dụng hơn bất cứ dao nào Các giống cây trồng như “ngô Mèo”, “đậu Mèo” và các giống vật nuôi Mèo đã trở thành

đỉnh cao của văn hoá, tuyển chọn Cũng có người cho rằng người H’Mông là dân du canh du cư, tàn phá rừng mạnh nhất Nhưng thực tế người H’Mông ở các tỉnh phía Bắc như Lào Cai hiện đã định canh định cư từ lâu, các công trình ruộng bậc thang trùng điệp, kỹ thuật cao, canh tác ổn định là một bằng chứng

Đồng bào dân tộc H’Mông ở Hà Giang thâm canh ngô trên các hốc đá, đã chọn được giống ngô “chao đèn”, đến mùa ngô chín các bắp ngô gập xuống và các bẹ ngô xoè ra như cái chao đèn che cho ngô không bị ướt và có thể để rất lâu trên nương Và trên các hốc đá đó khi ngô sắp chín người ta trồng luân canh đậu Đậu lấy thân ngô làm giá leo Đây là một phương thức canh tác kết hợp có trình độ cao, sử dụng rất hợp lý nguồn tài nguyên rất eo hẹp trên núi đá vôi Đồng bào H’Mông sống ở vùng Tây Bắc, canh tác nương rẫy có thể hoang sơ hơn, nhưng cũng đã có những biện pháp sử dụng đất hợp lý và tiết kiệm Những năm đầu của chu kỳ canh tác, khi đất vừa khai phá còn mầu mỡ

đồng bào không cuốc lỗ gieo hạt mà mà vại như gieo mạ Bằng cách này mật

độ cây lúa sẽ cao hơn, chống được xói mòn, mà vẫn đủ dinh dưỡng cho cây Vài ba năm sau khi đất bắt đầu nghèo đồng bào gieo vài mùa đậu Đậu cho năng suất cao, vừa cải thiện điều kiện đất [40]

Nhưng cho đến nay cuộc sống của một số đồng bào vẫn phải đối mặt với những khó khăn về cả vật chất lẫn tinh thần Từ xưa, đến nay nương rẫy vẫn là nguồn sống quan trọng của đồng bào miền núi vùng cao Đây chính là nơi xảy ra những tác động mạnh mẽ nhất giữa con người với sinh quyển

Trang 22

Trong nông nghiệp, canh tác nương rẫy là hình thái nông nghiệp cổ sơ nhất và

là hình thức tàn phá tài nguyên rừng Đó là phương thức đốt phá, là khởi đầu của nền trồng trọt Hiện nay nó vẫn còn phổ biến ở nhiều vùng dân tộc đặc biệt là ở những nơi vùng cao biên giới Việc canh tác nương rẫy còn mang tính quảng canh, nghĩa là họ trồng một thời gian sau đó tiến hành bỏ hoá Trong quá trình bỏ hoá, họ không bồi dưỡng cho đất bằng bất kỳ hình thức nào, ngay cả việc trồng cây phân xanh, chính vì thế mà đất đai rất khó hồi phục lại như trạng thái ban đầu Trong những năm gần đây, do dân số tăng lên nhu cầu về lương thực của người dân vùng cao cũng tăng theo Hầu hết các khu đất có khả năng sản xuất nông nghiệp đều đã có chủ và được đưa vào khai thác sử dụng Nên không có đất để mở rộng diện tích canh tác nữa, đòi hỏi họ phải duy trì trên các khu đất cũ và cũng từ đây nguồn phân vô cơ mới được bà con

đưa vào sử dụng Do đồng bào dân tộc ở vùng núi cao chỉ có thể tiến hành trồng một vụ một năm, người nông dân ở đây trồng nhiều lúa, ngô, khoai khác nhau Đồng thời họ đã biết trồng xen các loại rau màu trên nương ngô Theo

Nguyễn Văn Thắng (1995) [37], hiện nay người dân tại một số địa phương đã

biết trồng xen nhiều loại cây trồng trên cùng một mảnh nương, trồng cây theo băng để hạn chế xói mòn đất Phương thức canh tác này không những bảo vệ

được đất mà cung cấp chất dinh dưỡng cho đất Đây chính là kinh nghiệm sản xuất quý báu, tạo nên sự đa dạng về các giống cây trồng hiện có của các cộng

đồng dân tộc người Dao và H’Mông Nhiều địa phương, kinh tế vườn rừng đã phát triển, đem lại thu nhập đáng kể cho người dân, nhiều hộ khá lên mua sắm

được xe máy, ti vi, máy xay xát Thảo quả chính là cây trồng được ưa chuộng, vì nó thích hợp với điều kiện tự nhiên, vừa được thị trường chấp nhận, giá cả cao hơn rất nhiều so với một số cây trồng khác

ở Sa Pa với dân số toàn huyện năm 2003 là 41.893 người, trong đó ở khu vực nông thôn có 33.032 người chiếm 78,85%, với 6 dân tộc anh em cùng nhau sinh sống Dân tộc Dao và H’Mông chiếm tỷ lệ lớn nhất trên tổng dân số

Trang 23

toàn huyện Đây là hai dân tộc có đời sống rất thấp là đối tượng chính của công tác định canh định cư, cũng như chương trình xoá đói giảm nghèo của huyện Tuy khác nhau về ngôn ngữ, văn hoá tập quán canh tác, nhưng họ đã sống hoà hợp với nhau qua nhiều thế hệ

Trước đây, cộng đồng người Dao và H’Mông tại huyện Sa Pa cũng như các dân tộc ít người sống ở miền núi phía Bắc nước ta đều sống theo phương thức du canh du cư, canh tác chủ yếu là đốt rừng làm rẫy Đây chính là hình thức bóc lột đất, vì canh tác hoàn toàn dựa vào độ phì tự nhiên Họ canh tác liên tục trên một mảnh đất qua một số năm khi nào họ thấy đất đai xấu không thể gieo trồng được nữa thì họ lại tiếp tục đốt rừng làm rẫy, rồi lại canh tác trên những vạt đồi mới khai phá, chính vì thế mà những cánh rừng ngày càng

bị thu hẹp, đất đai do bị xói mòn mà trở nên thoái hoá, diện tích đất trống đồi núi trọc ngày một gia tăng

Mấy năm trở lại đây, dưới sự tác động của các chính sách do Đảng và Nhà nước ta đề ra, đặc biệt là các chính sách định canh định cư, chính sách giao đất, giao rừng trực tiếp đến từng hộ nông dân đã làm thay đổi tập quán canh tác của bà con nông dân vùng cao Họ đã ý thức được và đã chuyển từ hình thức du canh, du cư trước đây sang hình thức định canh định cư, góp phần ổn định đời sống và giữ gìn cảnh quan môi trường Đối với ruộng lúa nước, hiện tại nhiều hộ gia đình đã sử dụng một số giống lúa mới, chủ yếu là giống của Trung Quốc Việc sử dụng giống lúa mới yêu cầu sử dụng nhiều phân hóa học và thuốc trừ sâu hơn Hiện có khoảng dưới 50% hộ gia đình sử dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu Năng suất thu được từ giống lúa mới với

đầu tư đủ phân hóa học và thuốc trừ sâu cao hơn 20 - 30% Tuy nhiên, mỗi năm ở đây vẫn chỉ canh tác được có một vụ

Cây lương thực chính trồng trên nương rẫy trên núi cao là sắn Sắn được thu hoạch sau hai năm Đôi khi người dân cũng trồng lạc và đậu, nhưng đấy

Trang 24

cũng chỉ là trường hợp hạn hữu Đậu, lạc và rau thường trồng xen trên đất trồng chè hoặc trong vườn nhà

Phương thức sử dụng đất của các cộng đồng người Dao và người H’Mông ở Sa Pa chủ yếu bao gồm việc xây dựng ruộng bậc thang và làm nương rẫy trồng sắn, ngô Tại những nơi có đủ nguồn nước cung cấp và đất không dốc lắm, ruộng bậc thang lúa nước được xây dựng Cả hai nhóm dân tộc này có kiến thức cơ bản về làm ruộng bậc thang và cách bảo vệ ruộng bậc thang khỏi bị xói mòn và sạt lở, chủ yếu bằng cách lắp đặt hệ thống thoát nước bằng ống tre để duy trì nước ở mức độ an toàn Hiện nay, họ chỉ làm một

vụ trong một năm Nương rẫy được canh tác theo hình thức chọc tỉa: chọc lỗ nhỏ trên mặt đất để gieo hạt, chứ không dùng cày Thường người ta không chặt trắng toàn bộ rừng để làm rẫy, mà giữ lại một số bụi cây để chống xói mòn đất Phương pháp này tạo mô hình trồng sắn, lúa và ngô bền vững trên nương, duy trì dinh dưỡng của đất Theo truyền thống, người H’Mông chủ yếu trồng ngô vì họ sống trên các sườn núi cao, nơi điều kiện tự nhiên phù hợp cho trồng ngô Thông thường bữa ăn của người H’Mông không có cơm, cho mãi

đến những năm 60, lương thực chính của họ vẫn là ngô Người Dao, và cả một

số tộc người H’Mông, trồng sắn trên các sườn đồi dốc

Nhìn chung cộng đồng người Dao có tập quán canh tác tiến bộ hơn cộng đồng người H’Mông, vì thế mà kinh tế của họ khá hơn Người Dao đã biết sử dụng phân bón từ năm 1994 còn người H’Mông thì phải đến năm 1998 mới đưa vào sử dụng Bên cạnh đó, người H’Mông còn học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm canh tác, kỹ thuật bón phân của người Dao Nhưng người dân nơi

đây đã có truyền thống độc canh lúa trên ruộng bậc thang trên các sườn đồi, tương đối lâu đời và ổn định Họ đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu trong canh tác ruộng bậc thang mà nhiều cộng đồng dân tộc khác chưa có

Trang 25

2.4 Các nghiên cứu liên quan đến quản lý sử dụng đất đồi núi trên thế giới và Việt Nam

2.4.1 Nghiên cứu quản lý sử dụng đất đồi núi ở một số nước trên thế giới

Việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài là vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu vào việc

đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại đất, để từ đó có thể sắp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của vùng

Hàng năm các Viện nghiên cứu nông nghiệp các nước trên thế giới cũng đã đưa ra nhiều giống cây trồng mới, những kiểu sử dụng đất mới, giúp cho việc tạo thành một số hình thức sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả cao hơn trước Viện lúa quốc tế IRRI đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất canh tác Tạp chí “Farming Japan” của Nhật

ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất đai, đặc biệt là của Nhật [30]

Nhà khoa học Nhật Bản Otak Tanakad đã nêu lên những vấn đề cơ bản

về sự hình thành của hệ sinh thái đồng ruộng và từ đó cho rằng yếu tố quyết

định của hệ thống nông nghiệp là sự thay đổi về kỹ thuật, kinh tế - xã hội [30]

Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ thống tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng

đất đai thông qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác: là sự phối hợp giữa các loại cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi, cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hoá của sản phẩm (Nguyễn Duy Tính, 1995) [30]

Kết quả nghiên cứu về bảo vệ đất tại một số vùng của Indonesia cho thấy: ở thềm đất dốc biện pháp phủ đất kết hợp với làm đất tối thiểu tốt hơn làm đất xới xáo mà không phủ đất Hệ thống xen canh với cây họ đậu làm giảm xói mòn và dòng chảy Phương pháp bảo vệ đất tốt nhất là dùng dải băng

Trang 26

chắn kết hợp cả dải cỏ và dải cây họ đậu, hoặc tăng bề rộng của ruộng bậc thang cùng với việc trồng cỏ và che phủ Tốt hơn cả là áp dụng hệ thống canh tác tổng hợp Nguyên tắc chung là tạo tán lá che phủ đất đủ để giảm tác động của mưa, dòng chảy và giảm lượng đất mất, ngoài ra còn làm tăng năng suất cây trồng Trong số các hệ thống canh tác thì hệ thống kết hợp cây ngô với cây họ đậu là tốt nhất, vừa cho năng suất, thu nhập cao, sản phẩm tồn dư có thể dùng để che phủ đất hoặc làm thức ăn gia súc

Những nghiên cứu ở vùng đất dốc của Batumarta (Nam Sumatra - Indonesia) cho thấy một hệ thống canh tác gồm cây lương thực, cây lâu năm và

động vật nhai lại cho lợi nhuận cao nhất vào năm thứ 3 Chăn nuôi đóng góp 24% vào thu nhập của nông dân Đất càng dốc thì phải trồng càng nhiều cây lâu năm Quy luật chung là cây hàng năm có thể trồng ở độ dốc <250 [2]

ở Philippin, các nghiên cứu trên đất dốc cho thấy trồng cây theo đường

đồng mức là một hệ thống để hạn chế xói mòn Hệ thống này liên quan đến việc trồng cây làm băng chắn theo đường đồng mức và trồng cây lương thực ngắn ngày (như ngô, lúa nương, đậu đỗ và rau, ) vào giữa các băng Băng chắn rộng khoảng 1 m chống xói mòn rất hiệu quả cũng như giữ gìn và phục hồi sức sản xuất của đất Cây trồng làm băng chắn có thể là đậu tương có khả năng cố định đạm, thời gian sinh trưởng ngắn; cỏ cũng được dùng để làm băng chắn kết hợp chăn nuôi gia súc trong hệ thống canh tác; có thể trồng cây lấy

gỗ và củi, giải quyết chất đốt cho nông dân [2]

Kinh nghiệm của Trung Quốc, việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu

tố quyết định để phát triển kinh tế xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai, ổn định chế

độ sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và

tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất Thực hiện chủ trương“ly nông bất ly hương” [32] đã thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nông thôn phát

triển toàn diện và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Trang 27

ở Thái Lan, những vấn đề trong quản lý đất ở vùng đồi núi (Krishnamra) nêu rõ:

- Củng cố chương trình quy hoạch sử dụng đất với sự nhấn mạnh đặc biệt vào trồng mới rừng và quy hoạch bảo vệ nông trại

- Biện pháp bảo vệ đất và quản lý đất phải phù hợp với điều kiện địa phương

- Phát triển kỹ thuật để cải tạo đất có vấn đề

- Củng cố chương trình bảo vệ dất và quản lý đào tạo cán bộ khuyến nông và chuyển giao kỹ thuật cho nông dân

- Chú ý đến công tác nghiên cứu sao cho kết quả đạt được sẽ dùng làm cơ

sở cho quy hoạch cải tạo đất

- Tăng khả năng đầu tư của Chính phủ đối với kỹ thuật và giúp đỡ tài chính cho trình diễn đồng ruộng để cung cấp những dịch vụ cần cho người nông dân trong việc bảo vệ đất [2]

2.4.2 Những nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất và quản lý đất đồi núi ở Việt Nam

Vùng đất dốc chiếm hầu hết diện tích của các tỉnh miền núi và chiếm 3/4 lãnh thổ cả nước, đây là địa bàn sinh sống của tất cả các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Vùng cao trước đây được xem là địa bàn của nghề rừng, nông nghiệp chỉ đóng vai trò thứ yếu Thực tế cho thấy nếu không phát triển nông nghiệp ở vùng đất dốc thì tài nguyên rừng sẽ bị suy kiệt rất nhanh, bởi những người dân thiếu ăn sẽ tàn phá rừng mạnh hơn Sự phát triển nông lâm nghiệp trong tổng thể thống nhất sẽ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, gìn giữ đa dạng sinh học và an ninh chính trị, an toàn xã hội

Diện tích đất dốc ở Việt Nam chiếm tỷ lệ rất lớn Trên đất dốc có rất nhiều loại đất tốt có thể trồng được các loại cây công nghiệp, cây ăn quả nhiệt

đới, cây lương thực, thực phẩm và cây thuốc quý Tuy nhiên do phân bố ở địa

Trang 28

hình cao, dốc, giao thông đi lại không thuận lợi, dân cư thưa thớt, dân trí thấp, trình độ canh tác còn nhiều lạc hậu nên đất đã bị xói mòn, rửa trôi mạnh, thoái hoá nhanh Đất dốc cũng đang phải gánh chịu những áp lực nặng nề về sự gia tăng dân số, cơ sở hạ tầng yếu kém và đời sống nhân dân nghèo nàn, lạc hậu Khó khăn lớn nhất cho khai thác sử dụng đất dốc là địa hình chia cắt mạnh, tạo ra nhiều tiểu vùng sinh thái khác biệt, cùng với nhiệt đới ẩm, mưa nhiều làm cho động năng phá huỷ môi trường tăng nhanh

Bên cạnh đó, vùng đất dốc cũng có nhiều ưu thế trong phát triển nông nghiệp:

Một là: vùng sinh thái nhân văn rất đa dạng về văn hoá dân tộc Mỗi

dân tộc đều lưu truyền những tri thức truyền thống rất quý giá về canh tác nông nghiệp và quản lý nguồn tài nguyên

Hai là: địa hình phức tạp và bị chia cắt mạnh đã tạo nên sự đa dạng của

các hệ canh tác, đa dạng các giống, loài cây trồng, vật nuôi Đó là một lợi thế trong phát triển nông nghiệp hàng hoá

Ba là: tiềm năng đất sản xuất nông nghiệp ở miền núi còn khá lớn

Trong số hơn 4 triệu ha đất có khả năng cho sản xuất nông nghiệp thì khoảng

3 triệu ha thuộc vùng đất dốc, trong đó có khoảng 50% dễ khai thác trong thời gian trước mắt [2]

Tuy nhiên chúng ta cần phải nhận thức sâu sắc rằng lớp đất mặt để duy trì cuộc sống của nhân loại là rất mỏng và rất dễ bị tổn thương Khi lớp đất mỏng trên bề mặt bị xói mòn thì khó mà khôi phục lại Đối với vùng nhiệt đới

ẩm thì nguy cơ xói mòn đất thường cao hơn các vùng khác Nếu thiếu sự bảo

vệ do việc canh tác, trồng trọt không đúng cách, đất sẽ bị thoái hoá trầm trọng trong một thời gian ngắn

Trong những nghiên cứu về hệ thống nông nghiệp có rất nhiều các công trình nghiên cứu như: đánh giá tiềm năng và hướng sử dụng đất trên quan điểm sinh thái thích hợp đối với sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Văn Phổ, Trần An Phong, Dương Văn Xanh) (1996) [20] Đánh giá đề xuất sử

Trang 29

dụng đất trên quan điểm sinh thái bền vững cho vùng Tây Bắc (Lê Thái Bạt) (1995) [3] Phân chia các tiềm năng nông nghiệp cho vùng Trung du, miền núi phía Bắc (Nguyễn Văn Nhuận) [16] Những nghiên cứu đánh giá tổng quát về vấn đề môi trường và hiện tượng suy thoái đất có liên quan đến điều kiện tự nhiên và quá trình sử dụng đất (Tôn Thất Chiểu - 1992) [6], (Trần An Phong) [19] Lê Văn Khoa (1992) có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề

ô nhiễm môi trường đất Việt Nam [12], điều kiện mang tính hệ thống theo các vùng sinh thái: điều kiện sinh thái và sản xuất nông nghiệp ở vùng Trung

du và miền núi nhằm sử dụng, quản lý đất và bảo vệ môi trường (Thái Phiên, Bùi Quang Toản) [33]

Nghiên cứu của tác giả Bùi Quang Toản về xói mòn trên đất canh tác nương rẫy của đồng bào dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc và Tây Bắc miền Bắc Việt Nam cho thấy rằng mỗi năm tầng đất bị bào mòn từ 1,5 - 3 cm, mỗi ha có thể bị trôi mất 130 - 200 tấn đất

Kết quả của Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm cho thấy ở những nơi cây trồng theo phương thức bình thường, không áp dụng các biện pháp chống xói mòn, lượng nước chảy trung bình năm là 2.100 - 2.300 m3/ha, lượng đất trôi trung bình năm 20 - 23 tấn/ha ở nơi đất trống lượng xói mòn có thể lên tới

170 tấn/ha/năm Một điểm đáng chú ý là trên đất dốc nếu canh tác có cày xới

đất thì lượng xói mòn sẽ gia tăng rất mạnh [18]

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Đỗ Đình Sâm cho thấy vai trò của rừng rất lớn trong việc hạn chế dòng chảy và đặc biệt là lượng đất trôi Độ dốc tăng, lượng dòng chảy tăng gấp 1,7 lần nhưng nếu trên đất có rừng tán che thì lượng đất trôi tăng không đáng kể (1,07 lần) Trên đất đã mất rừng, việc hình thành các rừng trồng cũng tạo điều kiện hạn chế quá trình xói mòn diễn ra hàng năm

Vùng đồi núi Việt Nam do hậu quả của vệc chặt phá rừng, đốt rừng bừa bãi, sử dụng đất không bền vững qua nhiều thế hệ (du canh, du cư, độc canh,

Trang 30

quảng canh) nên đất bị thoái hoá nghiêm trọng, nhiều nơi mất khả năng sản xuất và xu hướng sa mạc hoá ngày càng phát triển, nhất là trên đất trống đồi núi trọc Quá trình khô hạn diễn ra khá phổ biến trên đất đồi núi khi mất rừng hoặc canh tác nông nghiệp quá mức Nghiên cứu của Bùi Quang Toản theo dõi chế độ ẩm trong đất nhiều năm trên nương rẫy ở Tây Bắc cho thấy tới độ sâu 50 cm, đặc biệt lớp mặt, độ ẩm trong đất nhỏ hơn độ ẩm cây héo, nghĩa là

đất thiếu nước nghiêm trọng Quan sát thực tế cũng nhận thấy nhiều nơi khi rừng bị chặt phá đã xuất hiện nhiều trảng cây bụi có gai, nhiều loài cây chịu hạn điển hình, hoặc trảng cỏ tranh rộng lớn như ở Tây Bắc

Trên địa bàn Lào Cai, nghiên cứu của Phạm Chí Thành, Trần Đức Viên, Trần Văn Diễn, Nguyễn Bá Hoạt, Nguyễn Văn Hà (1996) về khai thác hợp lý tài nguyên đất dốc ở Sa Pa, Lào Cai cho thấy có rất nhiều nguyên nhân gây xói mòn và rửa trôi đất Song yếu tố quyết định là do địa hình dốc Độ dốc, chiều dài sườn dốc càng tăng, xói mòn càng mạnh Vì vậy một trong những biện pháp kỹ thuật chống xói mòn tích cực nhất và có hiệu quả nhất khi canh tác là cắt giảm độ dốc và cự ly sườn dốc [40]

Theo tác giả Trần Đức Viên, Phạm Chí Thành, Mai Văn Thành và Dương Văn Coi (2001) trong nghiên cứu đánh giá các tiềm năng cơ bản của phát triển nông - lâm nghiệp huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai cho thấy diện tích đất nông nghiệp của huyện ít, khó có thể giải quyết lương thực tại chỗ cho đồng bào Kinh tế nương rẫy đang là vấn đề thách thức trong nghiên cứu các giải pháp kinh tế, kỹ thuật canh tác trên đất dốc có hiệu quả và gây sức ép rất lớn

đến diện tích rừng hiện còn Chính vì vậy để bảo vệ và phát huy tiềm năng đất

đai của Sa Pa có hiệu quả, việc bảo vệ, phát triển rừng và phương thức canh tác bền vững trên đất dốc với hệ thống cây trồng hợp lý là vấn đề quan tâm hàng đầu hiện nay [36]

Đề tài “Nghiên cứu phát triển một số cây thuốc tham gia chuyển đổi cơ cấu cây trồng huyện vùng cao Sa Pa - Lào Cai” của các tác giả Phạm Chí

Trang 31

Thành, Trần Đức Viên và Nguyễn Chí Thành (2001) đã khẳng định Sa Pa có lợi thế sản xuất cây thuốc và hiện đã có đủ điều kiện để phát triển thành hàng hoá tập trung như Lão quan thảo, nấm hương, Hoàng bá, Thảo quả Như vậy sản xuất cây thuốc sẽ là mặt hàng chiến lược nhằm góp phần giải quyết khó khăn cho nhân dân Sa Pa [35]

Có thể nhận thấy rằng các nghiên cứu sâu về đất và sử dụng đất trên đây

là những cơ sở cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho các định hướng sử dụng

đất và bảo vệ đất cũng như xác định các chỉ tiêu cho đánh giá hiệu quả sử dụng

đất nông nghiệp vùng cao của Việt Nam nói chung

Trang 32

3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

3 1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp, các yếu tố liên quan đến quá trình sử dụng đất và hệ thống cây trồng chính của dân tộc Dao và H’Mông ở huyện Sa Pa với các nghiên cứu điểm tại ba xã Tả Van, Bản Khoang và Tả Phìn đại diện cho sự phân bố của hai nhóm dân tộc trên

3 2 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra, xác định các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của dân tộc

- Định hướng và đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả

sử dụng đất nông nghiệp cho dân tộc Dao và H’Mông tại huyện Sa Pa

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp điều tra thu thập tài liệu số liệu

* Thu thập các số liệu thứ cấp

Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất năm 2003 của huyện Sa Pa và các xã nghiên cứu

* Thu thập số liệu sơ cấp

Khảo sát thực địa để nắm được tổng quan tình hình sử dụng đất Điều tra phỏng vấn cán bộ xã, các nông hộ để nắm được tình hình kinh tế, xã hội phong tục tập quán, phương thức sử dụng đất ở địa bàn nghiên cứu

Trang 33

Điều tra tình hình sử dụng đất của nông hộ: Sử dụng phương pháp điều tra nhanh nông thôn (RRA) và phương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân (PRA) bằng cách tiến hành điều tra phỏng vấn nhanh, ngẫu nhiên của các nông hộ ở các xã nghiên cứu đang trực tiếp canh tác trên các loại hình

sử dụng đất khác nhau, hoặc phỏng vấn một số nhóm hộ để kiểm tra kết quả theo các tiêu chí sau:

- Mức độ thu nhập: Khá - Trung bình - Thấp

- Diện tích canh tác: Nhiều - Trung bình - ít

- Các điều kiện của hộ như nhân khẩu, lao động,

- Diện tích đất đai của hộ sử dụng và theo các loại đất nông nghiệp

- Mức độ đầu tư vốn vào sản xuất

- Khả năng sử dụng lao động của hộ (tự làm hay thuê)

- Mức độ tiếp thu thông tin tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp nói chung và trong sử dụng đất nói riêng

- Kết quả sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp

- Thái độ của người dân về hướng phát triển loại hình sử dụng đất

3.3.2 Phương pháp chuyên khảo

Dùng phương pháp này để tham khảo ý kiến của chuyên gia trong và ngoài huyện, tỉnh về lĩnh vực nghiên cứu, nhằm thu nhập các thông tin có chọn lọc, giúp cho việc đánh giá nhận định chính xác hơn Kết quả thu được từ phương pháp này là cơ sở cho việc đánh giá diễn biến quá trình sử dụng đất,

làm căn cứ để đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng đất

3.3.3 Phương pháp phân tích đánh giá

Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh, trong đó thống kê mô tả là dựa vào số liệu thống kê để mô tả tình hình cơ bản của xã, huyện nghiên cứu Thống kê so sánh dựa vào các chỉ tiêu số tương đối, tuyệt

đối và chỉ số bình quân để chỉ ra mức độ, nguyên nhân biến động, phân tích tác

động của các yếu tố kinh tế - xã hội - môi trường đến các LHSDĐ, so sánh sự

Trang 34

biến động tình hình sử dụng đất của các xã, huyện nghiên cứu từ năm 2001-

2003, đánh giá hiệu quả sử dụng đất Các số liệu được tổng hợp, phân tích xử lý

bằng phương pháp thống kê, với sự trợ giúp của phần mềm EXCEL

3.3.4 Phương pháp minh họa bằng bản đồ, bảng, biểu đồ, ảnh

Phương pháp minh họa bản đồ được ứng dụng để thể hiện các loại bản

đồ: Bản đồ phân bố các nhóm dân tộc, bản đồ hiện trạng sử dụng đất

Phương pháp lập bảng biểu, biểu đồ, thể hiện một số kết quả nghiên cứu

Phương pháp hình ảnh thể hiện quang cảnh của các LHSDĐ ngoài thực địa

3.3.5 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất

* Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế

Từ những thực tế, kết quả điều tra tổng hợp về tổng chi phí vật chất, chi phí công lao động, năng suất, diện tích các loại hình sử dụng đất đặc trưng đã xác định của huyện Các chỉ tiêu tính toán làm cơ sở để phân tích hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất bao gồm:

Tổng thu nhập (Giá trị sản xuất)

Đây là lượng giá trị thu được trên 1ha/năm và được tính bằng sản lượng cây trồng nhân với giá bán sản phẩm ở thời điểm điều tra

Chi phí vật chất

Bao gồm chi phí làm đất, giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật Các chỉ tiêu này phản ánh theo yêu cầu đầu tư bằng tiền/1đơn vị diện tích gieo trồng trong năm

Chi phí lao động

Là chỉ tiêu phản ánh yêu cầu về lao động của từng loại hình sử dụng đất

và được tính bằng số ngày công lao động nhân với giá trị ngày công

Chi phí sản xuất

Bao gồm toàn bộ những yếu tố trực tiếp đầu tư cho sản xuất như: thuỷ lợi phí, thuế, và các chi phí khác

Trang 35

Tổng chi phí

Là toàn bộ chi phí kể cả chi phí vật chất, chi phí lao động và chi phí sản

xuất/1 đơn vị diện tích đất canh tác Đây là cơ sở để tính toán thu nhập thuần

trên một đơn vị diện tích

Thu nhập thuần

Được tính bằng giá trị sản phẩm trừ đi tổng chi phí

* Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội

- Yêu cầu về lao động trên một đơn vị diện tích

- Đáp ứng nhu cầu nông hộ

- Được sự hưởng ứng của người dân

- Giá trị sản xuất/ công lao động

* Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả về môi trường

- Xói mòn rửa trôi đất

- Khả năng bảo vệ, cải tạo đất,

Trang 36

4 Kết quả nghiên cứu

4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội huyện Sa Pa

4.1.1 Đặc điểm tự nhiên và các nguồn tài nguyên

* Vị trí địa lý

Sa Pa là huyện vùng cao của tỉnh Lào Cai có diện tích tự nhiên 67.864

ha, chiếm 8,24% diện tích tự nhiên của tỉnh, nằm trong tọa độ địa lý từ

22007'04" đến 22028'46" vĩ độ Bắc và 103043'28" đến 104004'15" kinh độ Đông

- Phía Bắc giáp huyện Bát Xát

- Phía Nam giáp huyện Văn Bàn

- Phía Đông giáp huyện Bảo Thắng và thị xã Lào Cai

- Phía Tây giáp huyện Than Uyên và tỉnh Lai Châu

Huyện Sa Pa có 17 xã và một thị trấn, thị trấn Sa Pa là trung tâm huyện

lỵ nằm cách thị xã Lào Cai khoảng 35 km về phía Tây Nam Nằm trên trục quốc lộ 4D từ Lào Cai đi Lai Châu, Sa Pa là cửa ngõ giữa hai vùng Đông Bắc

và Tây Bắc Vị trí địa lý tạo cho Sa Pa có điều kiện thuận lợi trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội, giao lưu, buôn bán với các tỉnh vùng núi phía Bắc và khu vực đồng bằng sông Hồng Tuy nhiên do địa hình hiểm trở và giao thông nội huyện chậm phát triển, còn nhiều xã đi lại khó khăn đã hạn chế sự phát triển kinh tế xã hội và giao lưu với bên ngoài

* Địa hình, địa mạo

Sa Pa có địa hình đặc trưng của miền núi phía Bắc, độ dốc lớn, trung bình từ 300- 350, có nơi có độ dốc hơn 450, địa hình hiểm trở và chia cắt phức tạp Nằm ở phía đông của dãy Hoàng Liên Sơn, Sa Pa có độ cao trung bình từ 1.200 m đến 1.800 m, địa hình nghiêng và thoải dần theo hướng Tây - Tây Nam đến Đông Bắc Điểm cao nhất là đỉnh Phan Xi Păng cao 3.143 m và thấp

Trang 37

căn cứ vào địa bàn cư trú, phong tục tập quán của từng dân tộc huyện Sa Pa

đất dốc, thiếu nước Đặc điểm địa hình bị chia cắt phức tạp như vậy, tạo nên những khó khăn rất lớn cho sản xuất nông, lâm nghiệp, bố trí xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng, giao thông, thuỷ lợi cũng như việc giao lưu buôn bán, trao đổi sản phẩm hàng hoá giữa các địa phương trong và ngoài huyện Tuy nhiên các đặc điểm về địa hình đã tạo điều kiện hình thành các tiểu vùng sinh thái khác nhau, tạo sự đa dạng về sản xuất nông, lâm nghiệp với các vùng chuyên canh sản xuất nhiều loại sản phẩm nông, lâm sản hàng hoá

* Khí hậu thời tiết

Sa Pa nằm sát chí tuyến trong vành đai á nhiệt đới Bắc bán cầu, nên khí hậu ở Sa Pa mát mẻ trong mùa hè và lạnh trong mùa đông Nhiệt độ trung bình từ 15 - 160C, có 5 tháng nhiệt độ trung bình dưới 150C, tổng tích ôn trong năm từ 7.5000C - 7.8000C Sa Pa có lượng mưa cao nhất là Lào Cai, lượng mưa trung bình năm thấp nhất là 2.861mm và cao nhất là 3.484mm Trong các tháng mùa khô lượng mưa trung bình các tháng từ 50 - 100mm, số giờ nắng trong năm đạt tới 1.440 giờ nắng

Tóm lại, do địa hình cao, chia cắt phức tạp, phía Tây và Tây Nam được dãy Hoàng Liên Sơn bao bọc, khí hậu Sa Pa có những nét điển hình riêng và phân chia thành hai vùng khí hậu là vùng cao và vùng thấp, tạo nên sự đa dạng về sản xuất nông lâm nghiệp Khí hậu Sa Pa mát mẻ và trong lành là nơi nghỉ mát lý tưởng của khách du lịch trong và ngoài nước Tuy nhiên các hiện tượng tuyết rơi, băng giá, mưa đá, sương muối cũng ảnh hưởng tới sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

Trang 38

* Thuỷ văn nguồn nước

Sa Pa có mạng lưới sông suối khá dày, bình quân khoảng 0,7 - 1,0

km/km2 Có hai hệ suối chính đổ ra Sông Hồng là ngòi Bo và ngòi Đum Tổng

diện tích lưu vực là 734km2 Sa Pa nằm ở sườn đông dãy Hoàng Liên Sơn là dãy

núi cao nhất Đông Dương, có tác dụng ngăn chặn các luồng không khí tạo nên

vùng có lượng mưa lớn phân bố rộng Hàng năm tiếp nhận trung bình 1,63 tỷ

m3 nước Lượng trữ ẩm lãnh thổ 1.180 mm và lượng bốc hơi thực tế lưu vực 532

mm Do đó tài nguyên nước của Sa Pa rất phong phú tạo điều kiện cho sản xuất

nông lâm nghiệp và sinh hoạt Song do địa hình phức tạp, độ dốc lớn, tỷ lệ che

phủ rừng 40,5% Do vậy việc bảo vệ và phát triển nguồn nước là rất quan trọng

Ngoài ra Sa Pa còn có nguồn nước khoáng Takcô có giá trị rất quan trọng

* Đặc điểm đất đai

Theo kết quả điều tra, xây dựng bản đồ thổ nhưỡng trên địa bàn tỉnh

Lào Cai năm 1960 và đánh giá bổ sung năm 1994 (trừ diện tích mặt nước, núi

đá, đất chuyên dùng, và khoảng 203 ha đất ở không điều tra), cho thấy huyện

1 Nhóm đất mùn Alít ( 1700- 2800 m) 12.060 17.77

2 Nhóm đát mùn thô than bùn trên núi cao ( >2800 m) 126 0.18

3 Nhóm đất Feralit mùn vàng đỏ trên núi cao (700-1700 m) 44.300 65.28

4 Nhóm đất Feralit đỏ vàng trên núi thấp và trung bình ( 400-700 m) 3.533 5.21

5 Nhóm đất Feralit đỏ vàng bị biến đổi do trồng lúa 1.065 1.57

6 Nhóm đất thung lũng và sản phẩm dốc tụ 862 1.27

(Nguồn:thuyết minh bản đồ thổ nhưỡng huyện Sa Pa - 1994)

Trang 39

Tài nguyên đất đai ở đây có độ phì khá, phù hợp với nhiều loại cây trồng, song do địa hình phức tạp, độ dốc lớn, lượng mưa trung bình hàng năm cao

Do đó một số diện tích đất bị xói mòn, rửa trôi dẫn đến nghèo kiệt, bạc màu Chính vì vậy để phát huy tiềm năng đất đai của huyện, việc trồng rừng và bảo

vệ rừng đầu nguồn cùng với phương pháp canh tác bền vững trên đất dốc là biện pháp vô cùng quan trọng

bị phá vỡ, chất lượng rừng thấp Động vật rừng ngày càng giảm về số lượng do

bị săn bắt và di cư đi nơi khác, một số loài quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng Vì vậy cần có biện pháp khai thác, bảo vệ rừng hợp lý và có hiệu quả hơn

* Tài nguyên nhân văn

Thời phong kiến, địa phận Sa Pa ngày nay thuộc châu Thuỷ Vĩ, phủ Quy Hoá, tỉnh Hưng Hoá Đến thời Minh Mạng - nhà Nguyễn, châu Thuỷ Vĩ được chia thành nhiều tổng, địa phận Sa Pa được tách ra lập tổng Hướng Vinh bao gồm 15 làng Sau khi tỉnh Lào Cai được thành lập (12/7/1907) khu Sa Pa được hình thành gồm 2 xã Bình Lư và Hướng Vinh Những năm thập kỷ 30 của thế

kỷ XX, Sa Pa đổi thành hạt, bao gồm 37 làng, một phố với 1.020 hộ dân Ngày 09/03/1944, Thống sứ Bắc Kỳ đã ra Nghị định thành lập châu Sa Pa bao gồm 2

Trang 40

xã Mường Hoa, Hướng Vinh và khối phố Xuân Viên (thị trấn ngày nay) Năm

1948 Sa Pa được chia thành 3 xã: Sa Pa chung, Mường Bo, và Kim Hòa (sau còn gọi là Móng Và) Hoà bình lập lại, Sa Pa sắp xếp lại đơn vị hành chính chia thành 17 xã và một thị trấn Mười tám đơn vị hành chính đó được giữ ổn định cho đến ngày nay

Các dân tộc có tiếng nói và phong tục tập quán riêng Người H’Mông sau cách mạng tháng tám năm 1945 đã có chữ viết riêng của dân tộc mình Người Dao còn dùng chữ nho để ghi chép Do sống chung và xen kẽ nhau trong các làng bản nên mỗi dân tộc có thể biết tiếng của dân tộc khác và am hiểu phong tục tập quán của nhau

Nhân dân các dân tộc luôn đoàn kết cùng tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ, các lễ hội truyền thống như: “Gâuxtao” của người H’Mông, “Lễ tết nhảy” của người Dao, hội “Xuống đồng” của người Giáy, múa mừng được mùa của người Xạ Phó, hội hát then của người Tày, rước đèn, múa lân, lễ tế của người Kinh Các buổi chợ phiên vùng cao, chợ tình Sa Pa không chỉ là nơi giao lưu kinh

tế đơn thuần, mà còn hàm chứa nét văn hoá truyền thống của nhân dân các dân tộc vùng cao

Các dân tộc ở Sa Pa có tập quán canh tác đa dạng và phong phú, từ sản xuất ruộng nước đến canh tác nương rẫy Đặc biệt người H’Mông ở Sa Pa có kinh nghiệm làm ruộng bậc thang trồng lúa nước ở các sườn núi (Trung Chải,

Sa Pả, Tả Phìn, ), có thể thấy đây là lợi thế trong sử dụng đất đai, tài nguyên rừng và xây dựng hệ thống cây trồng đa dạng có hiệu quả trong điều kiện địa hình, khí hậu Sa Pa

4.1.2 Điều kiện kinh tế - x∙ hội

4.1.2.1 Tình hình dân số và lao động

Huyện Sa Pa có 17 xã và 1 thị trấn, gồm 95 thôn, bản, năm 2003 dân số toàn huyện có 41.893 người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đã giảm đáng kể trong

Ngày đăng: 02/11/2012, 17:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hà Thị Thanh Bình, Nguyễn Thị Lan, “Nghiên cứu hệ thống trồng trọt trên đất vàn cao huyện Gia Lâm - Hà Nội”, Thông tin khoa học nông nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hệ thống trồng trọt trên đất vàn cao huyện Gia Lâm - Hà Nội”, "Thông tin khoa học nông nghiệp
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
2. Vũ Thị Bình (2004), ''Nghiên cứu thực trạng và khả năng thích hợp đất đai, đề xuất hướng sử dụng đất dốc hợp lý trên trên địa bàn Huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn'', Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành
Tác giả: Vũ Thị Bình
Năm: 2004
3. Lê Thái Bạt (1995), “Đánh giá và đề xuất sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững vùng Tây Bắc'', Hội thảo quốc gia về đánh giáquy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền, tháng 1/1995, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá và đề xuất sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững vùng Tây Bắc'', "Hội thảo quốc gia về đánh giá "quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền
Tác giả: Lê Thái Bạt
Năm: 1995
4. Nguyễn Đình Bồng (1995), Đánh giá tiềm năng đất trống đồi núi trọc tỉnh Tuyên Quang, Luận án PTS Khoa học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tiềm năng đất trống đồi núi trọc tỉnh Tuyên Quang
Tác giả: Nguyễn Đình Bồng
Năm: 1995
5. Bộ NN &amp;PTNT (1999), Quy trình đánh giá đất đai phục vụ nông nghiệp, Nxb nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình đánh giá đất đai phục vụ nông nghiệp
Tác giả: Bộ NN &amp;PTNT
Nhà XB: Nxb nông nghiệp
Năm: 1999
6. Tôn Thất Chiểu (1992), “Về môi trường đất Việt Nam - Sự suy thoái, giải pháp khắc phục”, Hội thảo khoa học sử dụng tốt tài nguyên đất để bảo vệ và phát triển môi trường, Hội khoa học đất Việt Nam , tháng 4/1992, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về môi trường đất Việt Nam - Sự suy thoái, giải pháp khắc phục”, "Hội thảo khoa học sử dụng tốt tài nguyên đất để bảo vệ và phát triển môi tr−ờng
Tác giả: Tôn Thất Chiểu
Năm: 1992
7. Cục thống kê tỉnh Lào Cai (2003), Niên giám thống kê tỉnh Lào Cai, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Lào Cai
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Lào Cai
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2003
8. Quyền Đình Hà, Vũ Thị Bình (2002), "Bài giảng kinh tế đất dùng cho học viên cao học", Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng kinh tế đất dùng cho học viên cao học
Tác giả: Quyền Đình Hà, Vũ Thị Bình
Năm: 2002
9. Đỗ Nguyên Hải (2000), Đánh giá đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất của huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh, Luận án Tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá đất và h−ớng sử dụng đất bền vững trong sản xuất của huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh
Tác giả: Đỗ Nguyên Hải
Năm: 2000
10. Hội Khoa học đất Việt Nam (2000), Đất Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất Việt Nam
Tác giả: Hội Khoa học đất Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
11. Phạm Quang Khánh (1995), Tài nguyên đất vùng Tây Nam Bộ ‘ Hiện trạng và tiềm năng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên đất vùng Tây Nam Bộ ‘ Hiện trạng và tiềm năng
Tác giả: Phạm Quang Khánh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
12. Lê Văn Khoa (1992), “Ô nhiễm môi trường đất”, Hội thảo khoa học sử dụng tốt tài nguyên đất để bảo vệ và phát triển môi trường, Hội khoa học đất Việt Nam , tháng 4/1992, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô nhiễm môi trường đất”, "Hội thảo khoa học sử dụng tốt tài nguyên đất để bảo vệ và phát triển môi tr−ờng
Tác giả: Lê Văn Khoa
Năm: 1992
13. Cao Liêm và các cộng sự (1990), Phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng, Chương trình cấp Nhà nước 520 - 02, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng "đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Cao Liêm và các cộng sự
Năm: 1990
14. Nguyễn Văn Luật (1991), Nghiên cứu hệ thống canh tác Việt Nam , Tài liệu hội nghị mạng l−ới hệ thống canh tác Việt Nam lần thứ 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hệ thống canh tác Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Luật
Năm: 1991
15. Bill Mollision, Reny Miaslay (1994), Đại c−ơng về nông nghiệp bền vững, ng−ời dịch Hoàng Văn Đức, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại c−ơng về nông nghiệp bền vững
Tác giả: Bill Mollision, Reny Miaslay
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1994
16. Nguyễn Văn Nhuận (1985), B−ớc đầu phân chia các tiềm năng nông nghiệp ở Trung du miền núi Bắc Bộ Việt Nam, Luận án PTS, Tr−ờng Đại học s− phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: B−ớc đầu phân chia các tiềm năng nông nghiệp ở Trung du miền núi Bắc Bộ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Nhuận
Năm: 1985
17. Normal E. Borlaug và Christopher R. Dowswell (1994), Nuôi sống loài ng−ời ngày càng đông trên hành tinh mỏng manh của chúng ta, Nguyễn Tử Siêm dịch, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi sống loài ng−ời ngày càng đông trên hành tinh mỏng manh của chúng ta
Tác giả: Normal E. Borlaug và Christopher R. Dowswell
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1994
18. Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm (1998), Canh tác bền vững trên đất dốc ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Canh tác bền vững trên đất dốc ở Việt Nam
Tác giả: Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
19. Trần An Phong (1995), Đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền
Tác giả: Trần An Phong
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
20. Nguyễn Văn Phổ, Trần An Phong, D−ơng Xuân Xanh (1996), “Các sinh thái nông nghiệp Việt Nam”, Kết quả nghiên cứu thời kỳ 1986 –1996, Viên QH - TKNN, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các sinh thái nông nghiệp Việt Nam”, "Kết quả nghiên cứu thời kỳ 1986 –1996
Tác giả: Nguyễn Văn Phổ, Trần An Phong, D−ơng Xuân Xanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tình hình diễn biến và dự báo diện tích đất canh tác - Tìm hiểu, đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của dân tộc Dao và H'Mông nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại huyện Sa Pa - Tỉnh Lao Cai
Bảng 1. Tình hình diễn biến và dự báo diện tích đất canh tác (Trang 10)
Bảng 2. Biến động diện tích về sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam - Tìm hiểu, đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của dân tộc Dao và H'Mông nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại huyện Sa Pa - Tỉnh Lao Cai
Bảng 2. Biến động diện tích về sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam (Trang 10)
Bảng 4. Diện tích các nhóm đất chính - Tìm hiểu, đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của dân tộc Dao và H'Mông nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại huyện Sa Pa - Tỉnh Lao Cai
Bảng 4. Diện tích các nhóm đất chính (Trang 38)
Bảng 6. Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của dân tộc Dao và H'Mông - Tìm hiểu, đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của dân tộc Dao và H'Mông nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại huyện Sa Pa - Tỉnh Lao Cai
Bảng 6. Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của dân tộc Dao và H'Mông (Trang 52)
Bảng 7.  Tỷ lệ hộ có các loại hình sử dụng đất ở hai nhóm dân tộc - Tìm hiểu, đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của dân tộc Dao và H'Mông nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại huyện Sa Pa - Tỉnh Lao Cai
Bảng 7. Tỷ lệ hộ có các loại hình sử dụng đất ở hai nhóm dân tộc (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w