1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC DỰ ÁN

32 560 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Sở Lý Luận Về Kiểm Toán Báo Cáo Tài Chính Các Dự Án
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kiểm Toán
Thể loại Luận Văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 85,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

các nghiên cứu khả thi, dự đoán chi phí, hoàn thiện các thủ tục và thiết kế cuốicùng, như việc lắp đặt và hoàn thiện các điều kiện làm việc.Như vậy có thể hiểu dự án theo một khái niệm c

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC DỰ ÁN

I KHÁI QUÁT VỀ DỰ ÁN

1 Khái niệm về dự án và các loại hình dự án

Để thực hiện tốt công việc của mình thì kiểm toán viên phải có hiểu biết cầnthiết, đầy đủ về lĩnh vực mà mình thực hiện kiểm toán Theo điểm 03 Chuẩn mựckiểm toán Việt Nam số 310 (VSA 310) - Hiểu biết về tình hình kinh doanh "Hiểubiết cần thiết của kiểm toán viên để thực hiện một cuộc kiểm toán bao gồm nhữnghiểu biết tổng quát về nền kinh tế, lĩnh vực hoạt động của đơn vị, hiểu biết cụ thểhơn về tổ chức và hoạt động của đơn vị được kiểm toán" Do đó khi tiến hành kiểmtoán đối với các dự án thì kiểm toán viên phải có những hiểu biết cơ bản về dự ánđó

Danh từ dự án đã được dùng trong nhiều lĩnh vực và trong các hoạt độngkhác nhau của nền kinh tế quốc dân Từ trước tới nay có rất nhiều các nhà khoahọc kinh tế cũng như các nhà quản lý đã đưa ra các khái niệm rất khác nhau về dự

án Mỗi một quan niệm nhấn mạnh về một số các khía cạnh của dự án cùng các đặcđiểm quan trọng của nó trong từng hoàn cảnh cụ thể

Nếu xét về hình thức, dự án là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chitiết và có hệ thống một dự kiến đầu tư trong tương lai

Nếu xét ở góc độ nội dung, dự án được hiểu là một ý đồ tiến hành một côngviệc cụ thể nào đó nhằm đạt mục tiêu nhất định trong khuôn khổ nguồn lực nhấtđịnh và trong khoảng thời gian nhất định

Nếu xét ở góc độ kế hoạch, dự án được hiểu là một kế hoạch chi tiết về đầu

tư phát triển, là đơn vị kế hoạch độc lập nhỏ nhất trong hệ thống kế hoạch hóa, làm

cơ sở cho việc ra quyết định về đầu tư phát triển

Nếu từ giác độ quan sát các hoạt động cần thiết cho một dự án thì dự ánđược hiểu là hàng loạt các hoạt động cần thiết nhằm xác định mục tiêu, tiến hành

Trang 2

các nghiên cứu khả thi, dự đoán chi phí, hoàn thiện các thủ tục và thiết kế cuốicùng, như việc lắp đặt và hoàn thiện các điều kiện làm việc.

Như vậy có thể hiểu dự án theo một khái niệm chung nhất, dễ hiểu nhất như sau: Dự án là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt được các mục tiêu nhất định trong thời gian nhất định.

Hiện nay, khái niệm về dự án đã được dùng rất rộng rãi và phổ biến cho tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Với mỗi một lĩnh vực, dự án sẽ được cụ thểhóa một cách chi tiết hơn cho phù hợp với đặc điểm riêng của lĩnh vực đó Tuynhiên những tính chất, đặc điểm riêng vốn có của dự án thì vẫn tồn tại và được thểhiện rất rõ nét ở tất cả các lĩnh vực Dự án có các đặc điểm cơ bản sau:

+ Tính đơn chiếc: Mỗi dự án đều có nét riêng, không có dự án nào giốngnhau hoàn toàn Nhưng từng dự án có tính thống nhất, dự án là một thực thể độclập trong một môi trường xác định với các giới hạn nhất định về quyền hạn vàtrách nhiệm

+ Tính chính xác tương đối: Dự án chứa đựng rất nhiều các dự toán như vềvốn, vật tư, lao động, do đó không thể tránh khỏi sự dao động giữa thực tế và dựkiến do tác động của các yếu tố bất định khi lập dự án không lường hết được nhưcác điều kiện tự nhiên, môi trường, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ dự án,nhà đầu tư Mọi biến động của các yếu tố này đều sẽ tác động đến dự án, nó cóthể thúc đẩy, cản trở, thậm chí chấm dứt việc thực hiện dự án Do đó để giảm rủi rocho dự án thì phải có sự điều chỉnh về nhiều mặt để đảm bảo mục đích, tiến độthực hiện dự án

+ Tính xác định: Dự án được xác định rõ ràng về mục tiêu phải đạt được,thời hạn bắt đầu và kết thúc cũng như nguồn lực cần có với số lượng, cơ cấu, chấtlượng và thời điểm giao nhận

+ Tính lôgíc: Thể hiện ở mối quan hệ biện chứng giữa các bộ phận cấu thành

dự án Một dự án thường có bốn bộ phận cấu thành sau:

Trang 3

Mục tiêu của dự án: Một dự án thường có hai mục tiêu là mục tiêu pháttriển và mục tiêu trực tiếp Mục tiêu phát triển là mục tiêu mà dự án góp phần thựchiện, mục tiêu phát triển được xác định trong kế hoạch, chương trình kinh tế xã hộicủa đất nước, của vùng, ngành, địa phương Mục tiêu trực tiếp là mục tiêu cụ thể

mà dự án phải đạt được trong khuôn khổ nguồn lực nhất định và trong khoảng thờigian nhất định

Nguồn lực cho dự án: Là các đầu vào về vật chất, tài chính, sức lao độngcần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án

Các hoạt động của dự án: Là những công việc do dự án tiến hành nhằmchuyển hóa các nguồn lực thành các kết quả của dự án Mỗi hoạt động của dự ánđều đem lại kết quả tương ứng

Kết quả của dự án: Là những đầu ra cụ thể của dự án, được tạo ra từ cáchoạt động của dự án Kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trực tiếpcủa dự án Kết quả của dự án cũng mang tính đơn chiếc

+ Dự án có chu kỳ sống riêng, tùy thuộc vào mục đích của dự án, có thể làmục đích ngắn hạn hoặc dài hạn

+ Dự án có liên quan đến nhiều bên như chủ đầu tư, nhà thầu, nhà tư vấn,các cơ quan quản lý Nhà nước, Các đối tượng này luôn tác động nhau, phối hợpthực hiện dự án

+ Tính kiểm tra: Dự án được sử dụng như một công cụ để kiểm tra quá trìnhthực hiện các hoạt động nhằm đạt được những mục đích nhất định đã được dự kiếntrước

+ Tính định hướng: Có thể coi dự án là kim chỉ nam cho các hoạt động nhấtđịnh nhằm đạt được những mục tiêu đã xác định

Một dự án có thể được xem như một chuỗi các công việc và các nhiệm vụ,bao gồm:

+ Có mục tiêu cụ thể được hoàn thành trong những điều kiện nhất định

Trang 4

+ Được xác định rõ thời gian bắt đầu và kết thúc.

+ Có giới hạn nhất định về tài chính

+ Sử dụng các nguồn lực nhất định về phương tiện, thiết bị, con người,

Xã hội càng phát triển càng có nhiều dự án được lập và thực hiện, các dự ánkhác nhau về quy mô, thời gian, mục đích Tùy theo mục đích nghiên cứu màngười ta có thể phân loại dự án theo các tiêu thức khác nhau Kiểm toán viên phải

có sự hiểu biết đầy đủ về lĩnh vực này để có thể lập kế hoạch kiểm toán một cáchtốt nhất Nếu phân loại theo ngành kinh tế thì có các loại hình dự án đầu tư vào cáclĩnh vực dự án sau:

 Công nghiệp và các ngành khai thác

 Nông - Lâm - Ngư nghiệp

 Quản lý Nhà nước

 Môi trường

 Giao thông vận tải

Thông tin liên lạc

 Y tế

 Giáo dục

2 Các bước hình thành và triển khai dự án

Nếu tiếp cận từ góc độ đầu tư thì một dự án kể từ khi hình thành ý đồ chođến khi kết thúc phải trải qua các giai đoạn từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạntìm đối tác và ký hợp đồng, giai đoạn lập hồ sơ của dự án, giai đoạn thẩm định vàphê duyệt dự án, giai đoạn triển khai thực hiện dự án, giai đoạn cuối cùng là đánhgiá và kết thúc dự án

Trang 5

Sơ đồ số 01: Các bước hình thành và triển khai dự án.

Ghi chú: Bước công việc kế tiếp

Giai đoạn 1: Chuẩn bị đầu tư, các nhà đầu tư cần tiến hành các công việc

như sau:

Tìm hiểu, đánh giá các cơ hội đầu tư nhiều hứa hẹn, mà các cơ hội đó đượchướng tới giải quyết các vấn đề cản trở việc đạt các mục tiêu phát triển mongmuốn, hoặc hướng tới việc khai thác một tiềm năng phát triển đang có Công việcnày cần được tiến hành trong khuôn khổ chung về phân tích lĩnh vực và phân tíchkhông gian Điều này đảm bảo rằng đó là những dự án có khả năng tốt nhất có thểđược thực hiện phù hợp với điều kiện hoàn cảnh

GĐ1: Chuẩn bị đầu tư

Trang 6

Sau khi quyết định lựa chọn cơ hội đầu tư các nhà đầu tư tiến hành nghiêncứu tiền khả thi, công việc này thường được thực hiện với các dự án lớn còn các dự

án nhỏ có thể bỏ qua Mục đích việc nghiên cứu tiền khả thi là giúp cho chủ đầu tưthấy rõ các điều kiện cơ bản của đầu tư để quyết định hoặc là tiếp tục nghiên cứu

dự án hoặc là từ bỏ dự án hoặc đặt vấn đề xác định lại dự án Kết quả nghiên cứutiền khả thi là bản dự án tiền khả thi

Sau khi bản dự án tiền khả thi được lập sẽ chuyển sang nghiên cứu khả thi,

dự án được nghiên cứu toàn diện, đầy đủ, sâu sắc trên tất cả các khía cạnh côngnghệ, tài chính, kinh tế, môi trường, quản trị, với nhiều phương án khác nhau.Kết quả là một dự án khả thi với đầy đủ các nội dụng

Giai đoạn 2: Tìm đối tác và ký hợp đồng Sau khi nghiên cứu đánh giá, về

tính khả thi của dự án, để dự án có thể thực hiện được thì cần phải có nguồn vốnđầu tư cho dự án, thông qua các nhà đầu tư có thể là chủ đầu tư trong nước, nướcngoài, hoặc bằng Ngân sách Nhà nước Khi chủ đầu tư đồng ý đầu tư cho dự án thìphải lập hợp đồng ký kết giữa các bên

Giai đoạn 3: Lập hồ sơ của dự án Các bên tham gia dự án cùng soạn thảo

những văn bản, hồ sơ cần thiết để trình các cơ qua quản lý Nhà nước có thẩmquyền xin giấy phép đầu tư

Giai đoạn 4: Thẩm định và phê duyệt dự án Thẩm định dự án là giai đoạn

đánh giá và lựa chọn dự án, xác định ảnh hưởng của dự án đến nền kinh tế quốcdân góp phần đạt được mục tiêu của kế hoạch định hướng Việc thẩm định dự ánđược tiến hành theo sự phân cấp quản lý của Nhà nước Kết quả thẩm định dự án

có thể là chấp nhận dự án hoặc sửa chữa, bổ sung hoặc loại bỏ dự án Nếu dự ánđược chấp nhận, cơ quan thẩm định sẽ gửi dự án lên cơ quan Nhà nước có thẩmquyền ra quyết định đầu tư và cấp giấy phép hoạt động Nếu dự án được phê duyệtthì công việc tiếp theo là vạch ra các kế hoạch tài trợ, khai thác các nguồn tài chínhsao cho phù hợp nhất với dự án Giai đoạn 5: Triển khai và thực hiện

Trang 7

dự án Giai đoạn này chiếm phần lớn thời gian của dự án, chất lượng và tiến độthực hiện dự án phụ thuộc rất nhiều vào giai đoạn đầu tư Vì vậy, nâng cao chấtlượng công việc chuẩn bị đầu tư là tiền đề triển khai thực hiện dự án Đến lượtmình, việc thực hiện dự án đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng sẽ là tiền đề khai thác

có hiệu quả dự án nhằm đạt được mục tiêu dự án đề ra

Giai đoạn 6: Đánh giá và kết thúc dự án Khi kết thúc thời gian hoạt động

của dự án, cần đánh giá dự án trên các nét cơ bản sau:

+ Dự án có đạt được mục tiêu trực tiếp đề ra hay không?

+ Dự án có góp phần phát triển kinh tế - xã hội hay không?

+ Hiệu quả của việc đạt được các mục tiêu đó ra sao?

3 Các yếu tố cơ bản của một dự án

Trên góc độ quan sát là một kiểm toán viên cần tìm hiểu, xem xét các yếu tố

cơ bản của dự án về chủ đầu tư cho dự án, đơn vị thực hiện dự án, sự chuẩn bị choquá trình thực hiện dự án, nguồn thu của dự án, đơn vị thực hiện dự án, việc muasắm hàng hóa phục vụ cho dự án, vấn đề giải ngân của dự án, môi trường kiểmsoát của dự án, hệ thống kế toán của dự án

* Đơn vị chủ đầu tư cho dự án

Hiện nay, các dự án ở Việt Nam được tài trợ nguồn vốn hoạt động từ: nguồnvốn Ngân sách Nhà nước, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nguồnvốn từ chính phủ các nước, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ (NGO), đầu

tư vào các lĩnh vực khác nhau ở Việt Nam như kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế

Trang 8

Nguồn vốn từ chính phủ các nước, các tổ chức xã hội, các tổ chức phi chínhphủ (NGO) tuy khá hạn hẹp nhưng là một nguồn quan trọng đối với một số loại dự

án phát triển nhất định, như các chương trình tín dụng nhỏ cho các cộng đồngnghèo Các tổ chức phi chính phủ có xu hướng chuyên về các dự án rất ít nhằmmục tiêu lợi nhuận, mà những dự án này có lợi cho người nghèo và những khu vực

có nhiều lợi thế khác trong xã hội

* Đơn vị thực hiện dự án

Tùy theo từng hình thức tổ chức quản lý dự án, có thể theo hình thức chủđầu tư trực tiếp quản lý dự án hặc theo hình thức chủ nhiệm điều hành dự án hoặctheo hình thức chìa khóa trao tay hoặc theo hình thức tự thực hiện

Riêng đối với các dự án được tài trợ bởi các tổ chức xã hội, tổ chức phichính phủ (NGO) đó là mối quan hệ giữa đối tác nước ngoài và chính phủ ViệtNam Do đó hầu hết các dự án do các cơ quan hoặc các doanh nghiệp Nhà nướcthực hiện Những đơn vị này phải phù hợp với yêu cầu của chính quyền địaphương Hầu hết các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước đều áp dụng hệ thống kếtoán công và sử dụng Ngân sách Nhà nước Các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nướcmang những nét đặc thù riêng về phong cách quản lý Do đó để thực hiện tốt côngtác kiểm toán thì kiểm toán viên phải tìm hiểu về chế độ kế toán áp dụng tại bênnhận tài trợ bao gồm cả những thay đổi dưới ảnh hưởng của các chuẩn mực quốc

tế, xác định các công việc liên quan đến dự án, sự tham gia vào dự án của các cơquan quản lý Nhà nước

* Sự chuẩn bị cho quá trình thực hiện dự án

Đây chính là khâu thẩm định dự án về tính hiệu quả và khả năng thực thi của

dự án Cần phải tiến hành đánh giá toàn diện tất cả các mặt

Về kỹ thuật - công nghệ, mục đích nghiên cứu là lựa chọn được công nghệ,

kỹ thuật phù hợp với yêu cầu của dự án, xác định địa điểm bố trí dự án, xác định

Trang 9

các điều kiện phục vụ dự án phù hợp với các điều kiện hiện có trong nước nhằmđáp ứng yêu cầu đặt ra của dự án.

Về mặt tài chính của dự án bao gồm các vấn đề sau: Xác định tổng vốn đầu

tư ban đầu cho dự án, xác định các lợi ích do dự án đem lại, lợi ích ở đây có thểđược tính bằng tiền hoặc không tính bằng tiền, các lợi ích đó chính là lãi mà xã hộithu được từ dự án

Về tính kinh tế của dự án, thực chất là đánh giá các lợi ích và chi phí của dự

án trên góc độ kinh tế để quyết định nên chấp nhận dự án hay loại bỏ dự án, nhằmđạt được mục tiêu đề ra trong các chương trình và kế hoạch phát triển kinh tế - xãhội Nói cách khác cần phải cân nhắc lựa chọn dự án sao cho đạt hiệu quả kinh tếquốc dân cao nhất

Về tổ chức quản lý, đánh giá xem chủ đâu tư quản lý dự án như thế nào, đơn

vị thực hiện dự án có được tổ chức chặt chẽ, cơ cấu quản lý có đồng bộ, hoạt động

có hiệu quả không, ảnh hưởng của các chính sách hoặc những thay đổi về mặt tổchức từ bên ngoài đơn vị có thể điều chỉnh được không, để đạt mục tiêu của dự án

* Nguồn thu của dự án

Chủ yếu là do chủ đầu tư của dự án cấp thông qua một ngân hàng do chủđầu tư lựa chọn, ngoài ra có thể huy động từ các đơn vị, tổ chức trong nước Trướchết phải xác định được quy mô đầu tư, tổng nguồn vốn đầu tư cho dự án bao gồmvốn cố định và vốn lưu động

Vốn cố định như chi phí chuẩn bị là những chi phí trước khi thực thi dự án,bao gồm chi phí thành lập, nghiên cứu dự án, lập hồ sơ, trình duyệt, chi phí quản lýban đầu, những chi phí này cần có sự nhất trí thông qua thỏa thuận của các bêntham gia đầu tư Chi phí xây dựng các công trình, chi phí về máy móc, thiết bị,dụng cụ, chi phí về chuyển giao công nghệ, chi phí đào tạo, chi phí khác Các chiphí này sẽ được giải ngân theo tiến độ phù hợp với nhu cầu của dự án

Trang 10

Vốn lưu động như vốn bằng tiền, chi phí phải trả cho các chuyên gia Đểkhắc phục khó khăn về tiền mặt, đẩy nhanh tiến độ giải ngân, cần phải thiết lập hệthống tài khoản đặc biệt, đây là các tài khoản quay vòng được cấp vốn bằng tiềnứng trước từ tài khoản của chủ đầu tư mở tại ngân hàng, được dùng để trang trảicác khoản chi tiêu hợp lý, hợp lệ bằng cả nội tệ và ngoại tệ.

* Việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho dự án

Việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ cho dự án cần tuân thủ theo thỏa thuận giữachủ đầu tư và đơn vị thực hiện dự án, đảm bảo các hàng hóa dịch vụ mua sử dụngđúng mục đích, đạt hiệu quả kinh tế Việc lựa chọn hàng hóa, dịch vụ phụ thuộcchặt chẽ vào công nghệ đã được chọn, cần phân ra hàng hóa dịch vụ mua trongnước và nhập khẩu Đối với thiết bị nhập khẩu, cần tính đủ và nêu lịch trình cungcấp phụ tùng thay thế Danh mục hàng hóa nhập khẩu phải được lập riêng

Chi phí mua sắm hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho dự án thường chiếm mộtkhoản lớn trong chi phí dự án, nếu cần cân nhắc và tính toán tỷ mỉ, cụ thể Đặc biệtcần quan tâm đầy đủ đến việc xác định chất lượng và đơn giá của các loại hànghóa, dịch vụ nhập khẩu

Dịch vụ tư vấn về kinh tế, quản lý, tài chính, ngân hàng, kiểm toán, kiếntrúc, nghiên cứu và kỹ thuật được bên vay chi trả bằng khoản tài chính nhận từ chủđầu tư Dịch vụ tư vấn phải phù hợp với quy mô công nghệ và chi phí của dự án

* Vấn đề giải ngân của dự án

Việc giải ngân được thực hiện trong suốt quá trình của dự án phải phù hợpvới nhu cầu tiền mặt của dự án Việc giải ngân có thể được thực hiện theo mộttrong hai cách, thứ nhất bên thực hiện dự án định kỳ yêu cầu chủ đầu tư giải ngânkhoản tiền hợp lệ dựa trên nhu cầu thực tế của dự án thông qua yêu cầu giải ngân,chủ đầu tư xem xét và quyết định cấp vốn thông qua tài khoản mở tại ngân hàng đãlựa chọn, thứ hai có thể tiến hành giải ngân theo tỷ lệ % yêu cầu hợp lệ đã thỏathuận trong hợp đồng của dự án Khi vốn được giải ngân, chúng được chuyển tớimột tài khoản đặc biệt trong ngân hàng, tài khoản này được lập riêng cho dự án,

Trang 11

đóng vai trò như một tài khoản tạm ứng và được sử dụng để giải quyết những khókhăn về tài chính mà đơn vị thực hiện dự án gặp phải trong qúa trình thực hiện dự

án Kiểm toán viên phải thu thập tất cả các báo cáo chi tiêu trong kỳ kiểm toán

* Môi trường kiểm soát của dự án

Công việc kiểm soát dự án được thực hiện thông qua ban quản lý dự án.Quản lý dự án là việc áp dụng các hiểu biết, kỹ năng, công cụ, kỹ thuật vào dự ánnhằm đạt được các yêu cầu và mong muốn từ dự án Quản lý dự án là quá trình lập

kế hoạch tổng thể, điều phối và kiểm soát một dự án từ khi bắt đầu đến khi kết thúcnhằm đạt được những mục tiêu về thời gian, chi phí, kỹ thuật, chất lượng Banquản lý dự án bao gồm giám đốc dự án, phó giám đốc dự án, giám đốc chuyên môn

dự án, giám đốc kỹ thuật dự án, tổng kiểm soát dự án Môi trường kiểm soát là thái

độ, nhận thức và hoạt động của Ban quản lý dự án, cơ cấu kiểm soát đối với dự án,thể hiện như sau:

+ Sự liêm chính, đạo đức và năng lực của các nhà quản lý

+ Sự đầy đủ của các hệ thống được sử dụng nhằm xác định và giải quyết cácmâu thuẫn với lợi ích liên quan tới các bên

+ Sự thích hợp của dự án và cơ cấu tổ chức của đơn vị thực hiện dự án.+ Phương pháp quản lý về ủy quyền và trách nhiệm

+ Chức năng kiểm soát nội bộ đối với dự án

+ Sự thích hợp của hoạt động và chính sách nhân sự trong đơn vị thực hiện

dự án, sự phân công phân nhiệm

Kiểm toán viên phải có sự hiểu biết đầy đủ, rõ ràng về hệ thống kiểm soátnội bộ của dự án, đây là bước đi đầu tiên quan trọng của quá trình kiểm toán.Không phải tất cả các hoạt động tại đơn vị thực hiện dự án đều liên quan đến dự

án, môi trường dự án có thể bao gồm cả những hoạt động bên ngoài đơn vị

Mục đích của kiểm toán viên khi xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ của dự

án là để xác định, kiểm tra, đánh giá tính đúng đắn, thích hợp về cách thức tổ chức

Trang 12

của hệ thống này Qúa trình đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ bắt đầu bằng việcxác định các yếu tố của hệ thống này Đây là những yếu tố đảm bảo cho nghiệp vụkinh tế phát sinh được ghi nhận, tập hợp vào báo cáo Các yếu tố của hệ thốngkiểm soát nội bộ cũng cần phải xem xét, trên khía cạnh an toàn của tài sản và tráchnhiệm pháp lý Để đánh giá các yếu tố kiểm soát hay bất kỳ một sự yếu kém tiềmtàng nào, kiểm toán viên phải xác định mức độ ảnh hưởng của việc kiểm soát tớibáo cáo và quản lý tài chính của dự án Trong khi tìm hiểu về hệ thống kiểm soátnội bộ, kiểm toán viên nên tập trung vào các yếu tố liên quan đến chức năng kiểmsoát tài chính và kế toán.

Sản phẩm của hệ thống kế toán thể hiện ở các Báo cáo tài chính của dự án.Báo cáo tài chính của dự án trình bày về nguồn vốn và việc sử dụng nguồn vốn kể

từ khi bắt đầu thực hiện dự án Báo cáo tài chính của dự án bao gồm:

Báo cáo thu chi dự án, đơn vị thực hiện dự án phải lập báo cáo thu chi chotất cả các khoản thu chi của dự án

Bảng cân đối kế toán là bảng tổng hợp phản ánh tình hình tài chính của mộtđơn vị tại một thời điểm nhất định Bảng cân đối kế toán thường được lập vào cuối

kỳ kế toán, báo cáo cung cấp các thông tin về nguồn vốn, số dư tài khoản tiền gửingân hàng, các tài sản của dự án, công nợ,

Trang 13

Báo cáo chi tiêu của dự án, phương pháp sao kê chi tiêu được sử dụng đểhoàn lại tiền cho đơn vị thực hiện dự án khi các chứng từ quá nhiều và cồng kềnh.Theo thủ tục sao kê chi tiêu, định kỳ đơn vị thực hiện dự án yêu cầu rút vốn thôngqua việc đưa ra một bản sao kê các khoản chi phí cho các khoản mục hợp lệ tronghợp đồng Báo cáo chi tiêu chỉ phản ánh các chi phí phát sinh phục vụ cho các hoạtđộng của dự án và được rút ra từ tài khoản đặc biệt của dự án Báo cáo chi tiêuđược lập theo đồng đôla hoặc theo đồng tiền thỏa thuận trong hợp đồng Khi tiếnhành kiểm toán, kiểm toán viên tiến hành kiểm tra các sao kê chi tiêu, kiểm toánviên có thể sử dụng phương pháp kiểm tra mẫu, kiểm soát nếu thấy cần thiết trongmỗi trường hợp cụ thể.

Báo cáo tài khoản đặc biệt, tài khoản đặc biệt là tài khoản cấp vốn bằng tiềnứng trước để trang trải cho các chi tiêu hợp lệ bằng cả nội và ngoại tệ Tài khoảnđặc biệt được lập sao cho việc thực hiện dự án có hiệu quả hơn, khắc phục vấn đề

về lưu chuyển tiền tệ Thông thường Bộ tài chính hay đơn vị thực hiện dự án quản

lý tài khoản đặc biệt trên sổ sách kế toán thích hợp để kiểm tra và xác định cácthay đổi trên tài khoản đặc biệt, đồng thời hàng tháng phải đệ trình một bản báocáo nêu tóm tắt các thay đổi này Việc giải ngân từ tài khoản đặc biệt được thựchiện cho các thanh toán trực tiếp hay hoàn trả cho các chi phí của dự án Tài khoảnđặc biệt bao gồm: tiền gửi và rút vốn bổ sung tài khoản đặc biệt, các thanh toánđược chứng minh bởi các đơn rút vốn, số dư tài khoản vào cuối niên độ kế toán

II KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC DỰ ÁN

Báo cáo tài chính của dự án là những báo cáo tổng hợp, trình bầy về tìnhhình tài sản, nguồn vốn, tình hình tài chính trong toàn bộ kỳ hoạt động của dự án.Thông qua báo cáo tài chính các nhà đầu tư, ban quản lý dự án và những người cólợi ích liên quan được cung cấp thông tin kinh tế, tài chính, từ đó có thể đánh giátình hình hiệu qủa và lợi ích của dự án

Trang 14

Tổ chức công tác kiểm toán là một liên hệ khoa học và nghệ thuật cácphương pháp kiểm toán dùng để xác minh, và bày tỏ ý kiến về các bảng khai tàichính, tính khoa học của tổ chức công tác kiểm toán thể hiện ở quy trình kỹ thuật,được thực hiện một cách tuần tự và lôgíc, tính nghệ thuật thể hiện ở tính linh hoạt

và sáng tạo trong thực hiện kiểm toán Mối liên hệ này bắt nguồn từ yêu cầu thựchiện chức năng kiểm toán cho từng đối tượng và khách thể cụ thể của cuộc kiểmtoán Kiểm toán báo cáo tài chính thường được thực hiện theo cách kết hợp cácphần hành, các khoản mục khác nhau trong báo cáo tài chính trong mối liên hệbiện chứng với nhau Trình tự kiểm toán phải được thiết kế một cách sáng tạo, linhhoạt như một nghệ thuật thực sự để có thể kết hợp được các trình tự kiểm toán vớinhau

Trình tự kiểm toán báo cáo tài chính của dự án về cơ bản giống như trình tựcủa một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính thông thường, bao gồm ba bước côngviệc chính là: chuẩn bị kiểm toán, thực hiện công việc kiểm toán, và kết thúc côngviệc kiểm toán

Trang 15

Sơ đồ số 02: Khái quát trình tự kiểm toán báo cáo tài chính

Error: Reference source not found

Ghi chú: : Các bước công việc kế tiếp

Bước I

Chuẩn bị

kiểm toán

Bằng chứng kiểm toán

Bằng chứng kiểm toán

Bằng chứng kiểm toán

Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán

Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý

Thẩm tra và đánh giá HTKSNB

HTKSNB Khai triển kế hoạch và chương trình kiểm toán

Thu thập thông tin cơ sở

Đánh giá trọng yếu và rủi ro

Trắc nghiệm công việc

Trắc nghiệm phân tích và trực tiếp số dư

Thẩm tra sự kiện bất ngờ

Đánh giá kết quả và lập báo cáo kiểm toán

Thư quản lý (nếu có) Thẩm tra sự kiện tiếp theo

Trang 16

: Kết quả của công việc thực hiện

Ngày đăng: 02/11/2013, 05:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ số 01: Các bước hình thành và triển khai dự án. - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC DỰ ÁN
Sơ đồ s ố 01: Các bước hình thành và triển khai dự án (Trang 5)
Sơ đồ số 02: Khái quát trình tự kiểm toán báo cáo tài chính - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC DỰ ÁN
Sơ đồ s ố 02: Khái quát trình tự kiểm toán báo cáo tài chính (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w