Ngoài xuất khẩu, doanh nghiệp cũng rất chú trọng đến hoạt động nhập khẩu.Các mặt hàng doanh nghiệp nhập khẩu chủ yếu là các sản phẩm phục vụ thco nhucầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cư
Trang 1THỰC TRẠNG KẾ TOÁN LƯU CHUYỂN HÀNG HOÁXUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY SẢN XUẤT BAO BÌ VÀ HÀNG XUẤT KHẨU
1 kháI quát chung về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty sản xuất bao
Nhận thức thấy sai lầm của nền kinh tế cũ, nước ta đã thực hiện công cuộcđổi mới nền kinh tế, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêubao cấp sang nền kinh tế thị truờng có sự quản lý của Nhà nước Không tách rakhỏi bối cảnh đó, đến năm 1991, Chính phủ tiến hành tổ chức, sắp xếp lại cácdoanh nghiệp Nhà nước, Xí nghiệp được tách ra hoạt động độc lập và lấy tên là Xínghiệp liên hiệp sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu
Nhận thấy sự tiến bộ vượt bậc của Xí nghiệp, ngày 04/06/1996, theo Quyếtđịnh số 766 và 767/TM-TCCB của Bộ Thương Mại, xí nghiệp được thành lập lại
và lấy tên chính thức là Công ty sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu Tên giao dịchcủa công ty là : Production for Packing and Exporting Goods Company, viết tắt làPROMEXCO và đặt trụ sở giao dịch tai Km9, QL1A, xã Hoàng Liệt, HuyệnThanh Trì, Hà Nội (nay là phường Hoàng Liệt, Quận Hoàng Mai, Hà Nội) Bướcđầu trong tiến trình phát triển, công ty đã tiến hành xây dựng lại cơ sở hạ tầng, mua
Trang 2Gỗ mua về
Chế biến
Thuê ngoài chế biến
sắm trang thiết bị sản xuất , cải tiến dây chuyền công nghệ, vực dậy mặt hàngtruyền thống Tiếp đó, công ty tiến hành mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng phạm
vi kinh doanh, đa dạng hoá sản phẩm, ngành nghề kinh doanh Công ty tiến hànhbiên giảm tinh chế, sắp xếp hợp lí hoá cơ cấu lao động, tạo ra một bộ máy làm việchiệu quả
1.2 Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Công ty xuất bao bì và hàng xuất khẩu với ngành nghề kinh doanh đa dạng,tham gia vào 3 lĩnh vực hoạt động: sản xuất, kinh doanh thương mại và dịch vụ,trong đó hoạt động kinh doanh thương mại là chủ yếu
1.2.1.Hoạt động sản xuất của công ty.
Đối với công ty, hoạt động sản xuất được Ban Giám đốc rất quan tâm, chú
ý Đây là một trong những chiến lược phát triển lâu dài của công ty
Công ty có 8 xí nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất Sản phẩm chủ yếu củacác xí nghiệp là các loại bao bì và các sản phẩm làm từ gỗ như: ván sàn Pơmu, vántinh chế, gỗ ốp lát, đồ thủ công , mỹ nghệ và các đồ dùng trang trí nội thất Sảnphẩm chủ yếu của doanh nghiệp chủ yếu được sản xuất theo đơn đặt hàng Ngoài
ra, doanh nghiệp cũng tiến hành sản xuất các loại mặt hàng mới( đối với đồ thủcông mỹ nghệ và một số đồ trang trí nội thất) để giới thiệu với khách hàng
Các xí nghiệp sẽ tự tiến hành sản xuất sản phẩm, hoặc nhờ gia công chếbiến, hoặc nhận sản phẩm từ bên ngoài để tiến hành gia công chế biến
Có thể khái quát chung sơ đồ sản xuất của công ty như sau
Trang 31.2.2 Hoạt động kinh doanh thương mại.
Trong lĩnh vực thương mại, công ty đã đưa ra thị trường rất nhiều hàng phục
vụ sản xuất lẫn tiêu dùng Sản phẩm của doanh nghiệp được bán theo 2 phươngthức: bán buôn, bán lẻ với nhiều hình thức: bán thẳng, bán qua kho và gửi bán quađại lí
Ngoài xuất khẩu các sản phẩm tinh chế từ gỗ, công ty còn khai thác các mặthàng thủ công mỹ nghệ (đồ thuỷ tinh, đồ pha lê, gốm sứ); mặt hàng nông sản (gạo,chè, càphê, điều, bông sợi) và hải sản Đây là những mặt hàng không phải là lợi thếcủa doanh nghiệp, song doanh nghiệp cũng cố gắng nâng cao chất lượng sản phẩm,đặc biệt đối với hàng thủ công mỹ nghệ Các mặt hàng nông sản và hải sản đượcxuất khẩu dưới dạng nguyên vật liệu thô, chưa tinh chế Các loại mặt hàng này docác chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Giang, Móng Cái thu gom từ các cơ
sở địa phương nhằm đa dạng hoá sản phẩm , da dạng hoá mặt hàng kinh doanh và
mở rộng thị trường
Ngoài xuất khẩu, doanh nghiệp cũng rất chú trọng đến hoạt động nhập khẩu.Các mặt hàng doanh nghiệp nhập khẩu chủ yếu là các sản phẩm phục vụ thco nhucầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cư như: linh kiện và xe gắn máy, ô tô chuyêndùng và xe chở khách, vải các loại, đồ thuỷ tinh, pha lê (chủ yếu được nhập từCHLB Đức).Bên cạnh mặt hàng phục vụ cho tiêu dùng, doanh nghiệp cũng nhậpkhẩu các thiết bị dùng cho văn phòng như giấy, máy tính và phụ kiện và nhậpnguyên vật liệu đầu vào phục vụ cho sản xuất của doanh nghiệp: gỗ tròn, gỗ hộpcác loại Có thể nói rằng, hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp, mặc dù mớibước đầu được quan tâm song cũng đã rất phong phú và đa dạng
Tham gia vào thị trường xuất nhập khẩu từ lâu, ngay từ đầu doanh nghiệp đãnhận làm dịch vụ xuất nhập khẩu uỷ thác cho các doanh nghiệp trong nước.Công ty tiếp nhận hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp giao cho, sau đó tiếnhành bán hàng ra nước ngoài Gần đây, hoạt động xuất nhập khẩu uỷ thác củadoanh nghiệp đã giảm đi do khả năng xuất khẩu trực tiếp của các doanh nghiệptrong nước đã tăng lên, và hoa hồng thu được từ hoạt động này cũng không cao
Trang 41.2.3 Các hoạt động khác.
Xuất phát từ nhu cầu du lịch ngày một tăng lên của nhân dân và du kháchnước ngoài, công ty nhanh chóng nắm bắt và tổ chức các hoạt động như: kinhdoanh khách sạn, kinh doanh du lịch lữ hành nội địa, nhận trông giữ xe qua đêm,cho thuê kho bãi
Trong nền kinh tế vận hành với nền kinh tế thị trường, sự năng động, sángtạo của các doanh nghiệp trong việc đẩy mạnh sản xuất, tìm kiếm thị trường là vôcùng quan trọng Quán triệt quan điểm này, công ty sản xuất bao bì và hàng xuấtkhẩu đã nhanh chóng nắm bắt thời cơ, tổ chức kinh doanh trên nhiều lĩnh vực vớingành nghề kinh doanh đa dạng thực sự là thuận lợi, đồng thời cũng là thách thứcđối với doanh nghiệp trong quá trình tồn tại và phát triển trong tương lai
1.3 Tình hình phát triển của Doanh nghiệp.
Công ty sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu là một trong những công ty đượcthành lập với mục đích phát huy nội lực và phát triển nền kinh tế đất nước Saunhiều năm hình thành và phát triển, công ty đã tham gia vào nhiều thị trường kinhdoanh với những thuận lợi và khó khăn riêng.Có thể nói về tình hình phát triển củacông ty như sau:
1.3.1.Thị trường kinh doanh.
Trong những năm qua để đảm bảo cho sự phát triển cân bằng, tận dụng tối
đa nguồn lực sẵn có, công ty sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu đã tiến hành kinhdoanh đồng thời trên cả 2 thị trường: thị trường trong nước và ngoài nước Bởi lẽ,trên thị trường nội địa, mặc dù lợi nhuận không cao song nhu cầu lại lớn; ngược lạitrên thị trường nước ngoài tuy chúng ta còn phải cạnh tranh với những đối thủmạnh nhưng lợi nhuận lại cao
* Thị trường xuất khẩu.
Thị trường là một yếu tố rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinhdoanh của công ty, đăc biệt là thị trường xuất khẩu.Nhận thức rõ điều đó,trong thời gian qua, đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty đã khôngngừng cố gắng trong việc duy trì và củng cố các bạn hàng truyền thống;đồng thời thiết lập mối quan hệ với các bạn hàng mới Thị trường xuất khẩu
Trang 5của công ty ngày càng mở rộng, cơ cấu thị trường cũng có những thay đổitích cực.
Đến nay, thị trường xuất khẩu truyền thống của công ty vẫn là thị trường ĐàiLoan, Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước Châu Âu:Pháp, CHLB Đức, LB Nga.Đây là những thị trường trọng điểm nhất, vì những thị trường này rất ưa chuộng vềsản phẩm gỗ của công ty có chất lượng tốt và đa dạng về loại gỗ Châu Á có mộtđặc điểm là rất thích sử dụng những vật liệu bằng gỗ trong gia đình Do vậy, Châu
Á luôn luôn là thị trường tiềm năng để công ty có thể khai thác
Thị trường và sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của công ty đã được thống kênhư sau:
-Thị trường Đài Loan: cửa Pơmu, ván tinh chế, hàng thủ công mỹ nghệ,trang trí nội thất, chè đen
-Thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc: hoa quả nông sản, thuỷ hải sản(nhưMực, sứa ), lâm sản (gỗ xẻ…), dược liệu(bột Hoàng Liên)
-Thị trường Nhật Bản, CHLB Đức, Mỹ: hàng thủ công mỹ nghệ, thuỷ hảisản
Tuy nhiên trong những năm gần đây, hoạt động xuất khẩu của công ty cũng
có những thăng trầm Nhiều mặt hàng kim ngạch xuất khẩu tăng, nhưng ngược lạicũng có những mặt hàng kim ngạch xuất khẩu giảm
*Thị trường nhập khẩu.
Bên cạnh thị trường xuất khẩu công ty còn tiến hành hoạt động nhập khẩu.Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của công ty được nhập chủ yếu tại các thịtrường như sau:
- Thị trường Singapore: các bộ chi tiết máy vi tính, đồ điện tử
- Thị trường Hàn Quốc: vải các loại, ô tô chở khách, máy chuyên dụng
- Thị trường Trung Quốc: phụ tùng máy nông nghiệp
- Thị trường Lào, Inđônêxia: gỗ các loại
- Thị trường Campuchia: dược liệu
- Thị trường CHLB Đức: thuỷ tinh, pha lê
*Thị trường tiêu thụ trong nước.
Trang 6Hàng hoá của công ty được bán ra thị trường trong nước với đầy đủ các mặthàng dưới nhiều hình thức khác nhau Sản phẩm của công ty đựoc tiêu thụ chủ yếutrên thị trường Hà Nội ( đồ trang trí nội thất, thuỷ tinh pha lê, vải…), Thành phố
Hồ Chí Minh, Hà Giang, Quảng Ninh và một số vùng lân cận Hà Nội
1.3.2 Phân tích một số chỉ tiêu phát triển qua những năm gần đây.
Sau 3 năm hoạt động trong giai đoạn chiến lược 2001-2005 ta có bảng kếtquả hoạt động kinh doanh của công ty như sau: (Bảng số 1)
Qua số liệu quyết toán hàng năm, phân tích thấy rằng, tốc độ sản xuất kinhdoanh từ năm 2001 đến năm 2003 có tăng trưởng đáng kể Các chỉ tiêu đều tăngkhá mạnh So với năm 2000, bình quân 3 năm doanh thu tăng 132%, trong đó sảnxuất kinh doanh nội bộ tăng 127%, kinh doanh xuất khẩu tăng 145% Trước đây,doanh số chỉ đạt tối đa là 37 tỷ đồng (năm 1997)thì đến nay bình quân đã đạt trên
100 tỷ đồng/năm, cao nhất là 180.279 triệu đồng (năm 2002) Với việc tăng doanhthu, các khoản nộp Ngân sách cũng tăng, trên dưới 2 tỷ đồng nộp vào Ngân sách.Vốn kinh doanh của công ty cũng ổn định, đảm bảo ổn định ở mức 7 tỷ Với mụcđích nâng cao đời sống nhân viên trong công ty, công ty cũng bước đầu đạt đượcthành công, với việc dần nâng cao mức sống của người lao động, thu nhập bìnhquân của công nhân viên đạt 784.000
đồng, mặc dù còn chưa cao song phần nào giải quyết được những khó khăn chongười lao động
Như vậy ta thấy rằng: Doanh nghiệp đã đạt được những mục tiêu tăngtrưởng, tuy nhiên doanh thu bán hàng còn thất thường, không ổn định.Trong 2năm gần đây xu hướng xuất khẩu giảm hơn so với bán hàng nội địa (VD:năm 2002bán hàng nội địa là 108418 triệu đồng, trong khi đó xuất khẩu chỉ đạt 71861 triệuđồng) Điều này cho thấy tình hình xuất khẩu của doanh nghiệp gặp khó khăn.Năm 2003, xuất khẩu giảm đi chỉ bằng 1/2 năm 2002.Và nói chung tình hình củadoanh nghiệp trong năm 2003 đã giảm Điều này cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận vàcác khoản nộp Ngân sách Nhà nước của công ty
Trang 7Bảng số 1: Bảng một số chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh
Năm 2001
Năm 2002
Năm 2003
Bìnhquân
3 năm
Sonăm 2000
1 Tổng doanh thu
-Nội địa
-Xuất khẩu
Triệu đồng
(Trích báo cáo quyết toán trong năm 2000, 2001,2002,2003)
1.4 Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh.
Công ty sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu với nhiệm vụ sản xuất và kinhdoanh thương mại được tổ chức thành 8 xí nghiệp thành viên và 3 chi nhánh hoạtđộng chủ yếu tại Miền Bắc nước ta Mỗi xí nghiệp, mỗi chi nhánh lại được tổ chứcthành các phòng ban, các bộ phận chức năng phù hợp với quy mô của mỗi đơn vị.Tại các xí nghiệp, dưới các phòng ban có thể còn được tổ chức thành các phânxưởng sản xuất, chế biến và gia công
Để đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty mở 3 chi nhánh tạithành phố Hồ Chí Minh, Hà Giang và Quảng Ninh (Móng Cái) Các chi nhánh này
có nhiệm vụ là kinh doanh thương mại cả trong và ngoài nước, với nhiều ngànhnghề đa dạng Sản phẩm kinh doanh chủ yếu của các chi nhánh là hàng thủ công
Trang 8mỹ nghệ, hàng tiêu dùng và một số linh kiện phục vụ sản xuất Các mặt hàng thủcông mỹ nghệ sau khi được thu gom từ các cơ sở địa phương sẽ tiến hành bán sangthị trường nước ngoài Ngược lại,đối với hàng tiêu dùng và một số linh kiện phục
vụ sản xuất, các chi nhánh nhập từ bên ngoài và tiêu thụ tại thị trượng nội địa Sựkết hợp của hai hoạt động xuất, nhập khẩu đem lại thị trường rộng lớn cho sảnphẩm của công ty
Đối với 8 xí nghiệp thành viên, công ty thực hiện triệt để cơ chế khoán nội
bộ, tạo môi trường hoạt động tự do trong khuôn khổ đối với các đơn vị Cơ chếnày tạo ra quyền chủ động, năng động, sáng tạo trong việc tổ chức kinh doanh củacác xí nghiệp Tại các xí nghiệp đồng thời diễn ra 2 hoạt động: vừa sản xuất vừakinh doanh thương mại Chính vì vậy mà với cơ chế khoán nội bộ, các xí nghiệpphải chủ động trong việc thu mua nguyên vật liệu đầu vào đáp ứng cho hoạt độngsản xuất, đồng thời cũng phải chủ động tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm, chủđộng kí kết và thực hiện các hợp đồng kinh doanh nội địa Sự chủ động này thểhiện tính năng động, sáng tạo của mỗi đơn vị thành viên Riêng đối với các hợpđồng xuất nhập khẩu, các xí nghiệp phải trình lên ban giám đốc phương án kinhdoanh đã được lập Sau khi xem xét, phê duyệt, công ty sẽ tạo điều kiện cho xínghiệp thực hiện tốt nhất các hợp đồng này
Để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị , công ty giaohoặc tạm giao cho các đơn vị động (chủ yếu bằng tiền) Sau khi nhận vốn, các đơn
vị phải có trách nhiệm bảo quản và có biện pháp quản lý, sử dụng có hiệu quả,đồng thời chịu trách nhiệm bồi hoàn trước Giám đốc công ty nếu có thất thoát.Trong trường hợp cần thiết khi công ty yêu cầu huy động hoặc thu hồi thì đơn vịphải có trách nhiệm thu hồi kịp thời
Các đơn vị cũng có thể huy động vốn từ bên ngoài để phục vụ sản xuất kinhdoanh, và phải chịu trách nhiệm trước Ban Giám đốc và trước pháp luật về việchuy động này Sau khi huy động huy động vốn, các đơn vị mua sắm các thiết bịcần thiết phục vụ sản xuất kinh doanh
Hàng năm , công ty có kế hoạch giao cho các đơn vị cơ sở với các chỉ tiêu
về doanh thu, về bảo toàn và phát triển vốn, về nghĩa vụ với Nhà nước ,về việc làm
và thu nhập của người lao động Trên cơ sở các chỉ tiêu công ty giao cho, các xí
Trang 9nghiệp tiến hành lên phương án sản xuất kinh doanh, tổ chức thực hiện sản xuấtkinh doanh , hoàn thành kế hoạch công ty giao theo quy định và quy chế quản lýcủa công ty, thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.
1.5 Đặc điểm bộ máy quản lý của công ty.
Bộ máy quản lý là toàn bộ những người lãnh đạo điều hành hoạt động củacông ty Đây là bộ phận đầu não, là bộ phận quyết định sự thành hay bại của bất kìdoanh nghiệp nào Công ty có phát triển lớn mạnh hay không, tuỳ thuộc vào trình
độ, năng lực quản lý, năng lực chuyên môn và tính liêm khiết của mỗi thành viêntrong bộ máy của công ty
Căn cứ vào mô hình tổ chức hoạt động kinh doanh, bộ máy quản lý của công ty được tổ chức theo kiểu trực tuyến tham mưu Bao gồm:
- Giám đốc công ty: theo quyết định bổ nhiệm của Bộ Thương Mại, Giámđốc công ty là người đứng đầu bộ máy quản lý, có quyền hành cao nhất trong công
ty, là người chỉ đạo trực tuyến các phòng, ban, chi nhánh, xí nghiệp trực thuộccông ty, là người phối hợp các phòng, ban, chi nhánh, xí nghiệp hoạt động theomột bộ máy thống nhất, đồng thời phải có trách nhiệm báo cáo và chịu trách nhiệm
về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trước Bộ Thương Mại vàtrước pháp luật
- Phó Giám đốc: công ty có một Phó Giám đốc có nhiệm vụ quản lý nộichính của công ty, phối hợp với Giám đốc điều hành hoạt động của công ty, đồngthời kiêm giữ chức chủ tịch Công Đoàn bảo vệ quyền lợi của nhân viên
- Trưởng, phó các phòng chức năng: Phòng Tổ chức hành chính, phòng kếhoạch –kinh doanh xuất nhập khẩu (gọi tắt là phòng KD-XNK) và phòng Kế toánTài chính bên cạnh nhiệm vụ chính là quản lý, điều hành, hướng dẫn nghiệp vụcho phòng mình, cho các đơn vị thành viên, còn có chức năng tham mưu cho Giámđốc về các vấn đề thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình
- Giám đốc chi nhánh, Giám đốc xí nghiệp: Đây là những người đứng đầumỗi chi nhánh, mỗi xí nghiệp, có quyền điều hành cao nhất và quyết định các vấn
đề liên quan trong phạm vi đơn vị mình phụ trách, đồng thời chịu sự chỉ đạo trựctiếp của Giám đốc công ty, có nhiệm vụ báo cáo và chịu trách nhiệm về kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình trước Giám đốc công ty
Trang 10Mối quan hệ giữa các đơn vị trong công ty như sau:
- Giữa các phòng chức năng với Giám đốc và Phó giám đốc là mối quan hệtham mưu, giúp việc, là sự tuân thủ, chấp hành nhiệm vụ được giao
- Giữa Giám đốc và các phòng ban, xí nghiệp: là mối quan hệ chỉ đạo trựctuyến
- Giữa các phòng chức năng với nhau: là mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ trongcông việc
- Giữa các phòng chức năng và các đơn vị trực thuộc: là mối quan hệ quản lý
và hướng dẫn các nghiệp vụ chuyên môn
Ta có thể khái quát mô hình bộ máy tổ chức quản lý của công ty theo sơ đồnhư sau: (Phụ lục)
1.6 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán của công.
Bộ máy kế toán của công ty là tập hợp đồng bộ các lao động kế toán để đảmbảo thực hiện khối lượng công tác kế toán phần hành với đầy đủ các chức năngthông tin và kiểm tra tất cả các mặt hoạt động kinh tế của đơn vị
Phù hợp với hình thức tổ chức bộ máy quản lý và cơ cấu tổ chức sản xuất kinhdoanh; phù hợp với địa bàn kinh doanh rộng, quy mô lớn, ngành nghề kinh doanh đadạng , bộ máy kế toán được tổ chức theo mô hình phân tán 2 cấp
Theo hình thức tổ chức kế toán phân tán, tổ chức bộ máy phân thành:
Phòng KT-TC (kế toán cấp công ty) là nơi thực hiện khâu tổng hợp số liệu
báo cáo của các cấp cơ sở, lập báo cáo tài chính cho cơ quan tổ chức quản lý; chịutrách nhiệm cuối cùng về toàn bộ hoạt động của đơn vị cơ sở trước Nhà nước, cácbạn hàng, nhà cung cấp, các bên đầu tư, cho vay
Phòng KT-TC có các nhiệm vụ sau:
- Theo dõi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên công ty
Trang 11- Theo dõi chặt chẽ các hợp đồng vay vốn của công ty, theo đó các đơn vị làcác xí nghiệp, chi nhánh, phòng KH-KD, phòng kinh doanh vật tư tổng hợp muốnhuy động vốn từ Ngân Hàng phải làm phương án trình giám đốc và kế toán trưởngphê duyệt Công ty sẽ trực tiếp vay vốn Ngân Hàng và phân phối lại cho các đơn
Với nhiệm vụ đó, công việc tại phòng KT-TC được phân công như sau:
- Trưởng phòng(kế toán trưởng) : kế toán trưởng công ty là người đứng đầu
bộ máy kế toán, điều hành chung mọi hoạt động trong phòng; chịu trách nhiệmtrực tiếp trước Giám đốc về mọi hoạt động thuộc lĩnh vực tài chính, kế toán củatoàn công ty; có chức năng tham mưu cho Giám đốc về việc tổ chức bộ máy kếtoán, tổ chức hệ thống sổ sách kế toán và thực hiện công tác hạch toán kế toán từvăn phòng công ty xuống các đơn vị thành viên Ngoài ra, kế toán trưởng còn kiêmhạch toán Tài sản cố định của công ty
- Phó phòng: là người hỗ trợ công việc cho trưởng phòng; đồng thời, đảmnhiệm phần hành thanh toán và tổng hợp số liệu kế toán, tài chính từ báo cáo củacác đơn vị cơ sở thành viên và của phòng cuối mỗi quý
- 01 kế toàn đảm nhiệm phần hành vật tư và chi tiết công nợ
- 01 kế toán đảm nhiệm phần hành kế toán thuế
- 01 kế toán đảm nhiệm phần hành kế toán Ngân hàng
- 01 thủ quỹ
Các đơn vị trực thuộc quan hệ với nhau theo nguyên tắc hạch toán kinh tế nội
bộ Bộ phận kế toán có thể chỉ gồm một nhân viên kế toán, có thể gồm một trưởngphòng kế toán và các kế toán viên Các bộ phận này có trách nhiệm theo dõi, hạchtoán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại đơn vị cơ sở từ khâu tập hợp và phân loạichứng từ ban đầu , ghi chép vào các sổ có liên quan đến lập báo cáo theo quy địnhnội bộ nộp lên phòng Kế toán –Tài chính vào cuối quý
Trang 12Tại các xí nghiệp, với chức năng chính là sản xuất, gia công, chế biến, bộphận kế toán sẽ được chủ động tổ chức đảm nhiệm hạch toán cụ thể, chi tiết cácphần hành có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất như:
- Phần hành hàng tồn kho(nguyên liệu, thành phẩm, công cụ dung cụ)
- Phần hành tiền lương và chi phí nhân viên
- Phần hành chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
- Phần hành tài sản cố định thuộc vốn tự có của đơn vị, ngoài ra đối với tàisản do công ty giao quyền sử dụng, các đơn vị phải có trách nhiệm theo dõi và báocáo tình hình sử dụng lên công ty
Tại phòng KH-KD và phòng kinh doanh vật tư tổng hợp là những phònghoạt động có doanh thu, nhân viên kế toán được phân cấp theo dõi, hạch toán cácnghiệp vụ mua hàng, bán hàng, tập hợp các chi phí phát sinh trong quá trình thumua hàng hoặc xuất khẩu hàng, tập hợp chi phí quản lý, phản ánh giá vốn, doanhthu và xác định kết quả kinh doanh trong kỳ
Riêng đối với các nghiệp vụ gửi tiền, rút tiền khỏi tài khoản của công ty tạiNgân hàng, các nghiệp vụ vay vốn tín dụng thì nhất thiết phải thông qua phòngKT-TC, do kế toán tiền mặt trực tiếp theo dõi Nguyên tắc nằy nhằm đảm bảo tínhthống nhất và chặt chẽ trong quản lý tài chính của công ty
Đối với các chi nhánh, do hoạt động khác địa bàn nên được hạch toán độclập mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong phạm vi chi nhánh và hoàn toàn tự chủ
về mặt tài chính , tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ phải nộp với cơ quan thuế
và cơ quan chức năng khác
Cuối quý, các bộ phận kế toán cơ sở phải nộp về phòng KT-TC báo cáoquyết toán sản xuất kinh doanh với 5 loại bắt buộc sau:
- Bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
- Báo cáo công nợ
- Báo cáo tổng hợp chữ T
- Bảng cân đối tài khoản
- Biên bản kiểm kê hàng tồn kho
Trên cơ sở đó, phòng KT-TC tổng hợp số liệu và lập báo cáo quyết toán toàncông ty
Trang 13Bộ phận kế toán tại chi nhánh Tp.Hồ Chí Minh
Bộ phận kế toán tại phòng kinh doanh vật tư tổng hợp
NhânViên 1 Thủquỹ
Bộ phận kế toán tại phòng kế hoạch kinh doanh xuất nhập khẩu
Kế toán phó (Phó phòng TC-KT) NhânViên 3
Kế toán trưởng(trưởng phòng KT-TC)
NhânViên 2
Bộ phận kế toán tại chi nhánh Móng Cái – Quảng Ninh
Ngoài ra, hàng tháng, các xí nghiệp, phòng KD-KH, phòng vật tư tổng hợpphải lập bảng kê khai thuế GTGT của hàng hoá , dịch vụ mua vào và hàng hoá,dịch vụ bán ra; nộp các khoản phí quản lý, các khoản BHXH, BHYT của đơn vịmình lên công ty, từ đó phòng KT-TC sẽ lập báo cáo quyết toán và ngân sách Nhànước
Sơ đồ 16: Bộ máy kế toán tại công ty
Trang 141.7 Hệ thống chứng từ và tài khoản sử dụng.
Công tác kế toán của công ty được thực hiện trê cơ sở pháp lý là Quyết định
số 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 01 tháng 11 năm 1995 và các văn bản hướng dẫn chế
độ hạch toán kế toán có liên quan do Bộ Tài chính ban hành
1.7.1.Hệ thống tài khoản
Trên cơ sở pháp lý đó và với phương pháp Kê khai thường xuyên được ápdụng, hệ thống tài khoản mà doanh nghiệp sử dụng bao gồm các tài khoản sau:(Phụ lục)
Trong những năm qua, mặc dù kinh doanh có lãi, song do trước đây công tylàm ăn thua lỗ, nên hầu hết các Tài khoản mà nguồn hình thành từ Lợi nhuận sauthuế (TK’421) không được trích lập theo quy định( TK’431, TK’416, TK’415)
Do không tham gia buôn bán trái phiếu hay tham gia góp vôn liên doanh nêncông ty cũng không sử dụng các Tài khoản phản ánh các nghiệp vụ liên quan
Là đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu, nên công ty thường xuyên có hợpđộng kí quỹ ngắn hạn, do vậy công ty có sử dụng TK’144 (không sử dụngTK’244)
Để đảm bảo sử dụng TK, hạch toán chính xác, nhân viên kế toán của công tycũng luôn được cập nhật các chuẩn mực mới Cụ thể là công ty đã tiến hành xử lýchênh lệch tỷ giá theo Chuẩn mực mới, Chỉ sử dụng TK’413 vào sử lý chênh lệch
tỷ giá cuối kì
Tuy nhiên, do đặc điểm kinh doanh của công ty, nên một số Tài khoản công
ty không sử dụng, như TK’242, TK’3357
Mặc dù doanh nghiệp áp dụng phương pháp KKTX để hạch toán, song công
ty vẫn sử dụng TK’611 để phản ánh quá trình xuất, nhập hàng tồn kho Điều này làsai với Chuẩn mực kế toán Việt Nam
Như vậy công ty đã sử dụng khá đầy đủ các Tài khoản do Nhà nước banhành, việc sử dụng các Tài khoản cấp 2, 3 … được doanh nghiệp sử dụng linh hoạt,tuỳ thuộc vào yêu cầu công việc và yêu cầu quản lý Tuy nhiên việc áp dụng một
số TK còn chưa chính xác, đòi hỏi doanh nghiệp cần có sự điều chỉnh
Trang 151.7.2 Hệ thống chứng từ kế toán sử dụng trong công ty.
Để thực hiện đầy đủ các thông tin cần thiết cho việc ghi sổ kế toán phù hợpvới điều kiện của đơn vị, công ty đã sử dụng hệ thống chứng từ như sau:(Phụ lục)
Hệ thống chứng từ này doanh nghiệp sử dụng để ghi chép các nghiệp vụkinh tế phát sinh xảy ra tại cả công ty lẫn các đơn vị cơ sở Sau khi đã được kiểmtra, phân loại theo các phần hành, kế toán viên tiến hành ghi chép các nghiệp vụ từchứng từ lên sổ sách kế toán Khi báo cáo quyết toán năm được duyệt, chứng từđược chuyển vào lưu trữ, và được huỷ sau một thời gian quy định riêng cho từngloại chứng từ Tại mỗi đơn vị, chứng từ sẽ được Ban lãnh đạo tại các đơn vị phêduyệt theo trách nhiệm của mỗi người, không cần thông qua Giám đốc, Kế toántrưởng của trên công ty(trừ các hoạt động liên quan đến vay vốn Ngân hàng) Cuốitháng, chứng từ sẽ được tập hợp và chuyển về công ty, Ví dụ như Bảng kê thuếGTGT có kèm theo hoá đơn GTGT
1.8 Hệ thống sổ và báo cáo kế toán sử dụng trong doanh nghiệp.
Công ty lựa chọn hình thức ghi sổ là hình thức Nhật ký- chứng từ kế toán đểghi chép các nghiệp vụ
Đối với các đơn vị thành viên , sổ sách được tổ chức để vừa đáp ứng yêu cầuphản ánh các hoạt động sản xuất kinh doanh tại đơn vị mình, vừa đảm bảo cungcấp thông tin đầy đủ cho phòng KT-TC
Sau khi các đơn vị trực thuộc nộp báo cáo quyết toán sản xuất kinh doanhtheo quy định nội bộ, phòng KT-TC có trách nhiệm tổng hợp số liệu, lập và nộpbáo cáo theo quy định
- Báo cáo quý : sau 15 ngày sau quý
- Báo cáo năm : sau 30 ngày sau khi hết quý 4
Niên độ kế toán của công ty là 1 năm tính từ ngày 01/01 đến ngày 31/12
Hệ thống báo cáo của doanh nghiệp bao gồm :
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh
-Thuyết minh báo cáo tài chính
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Trang 16Lập phương án kinh doanh
Thu gom hàng từ các cơ sở địa phương hoặc kí hợp đồng mua bán với các doanh nghiệp khác.Nhập mua hàng từ nước ngoài Mua nguyên vật liệu
Thuê ngoài gia công chế biến
Các xí nghiệp tự sản xuất
Nhập kho hoặc xuất bán thẳng
- Báo cáo hoạt động nhập khẩu hàng hoá
- Báo cáo hoạt động xuất khẩu hàng hoá
Trong đó, hàng quý công ty phải nộp 2 báo cáo là Bảng cân đối kế toán vàBáo cáo kết quả sản xuất kinh doanh Riêng Thuyết minh báo cáo tài chính công typhải nộp vào cuối năm và báo cáo lưu chuyển tiền tệ bắt đầu được thực hiện, ghichép và báo cáo bắt đầu từ năm 2004
1.9 Đặc điểm chính sách kế toán một số nghiệp vụ cơ bản.
- Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: Doanh nghiệp sử dụng phương pháp
Kê khai thường xuyên
- Phương pháp tính giá xuất kho: theo giá thực tế đích danh
- Tỷ giá hối đoái: tỷ giá thực tế
- Hạch toán chi tiết: doanh nghiệp áp dụng phương pháp thẻ song song để
hạch toán chi tiết hàng hàng hoá, thành phẩm
2.Thực trạng kế toán lưu chuyển hàng hoá xuất khẩu tại công ty sản xuất bao
bì và hàng xuất khẩu
2.1.Thực trạng kế toán tạo nguồn hàng xuất khẩu tại công ty sản xuất bao bì hàng xuất khẩu
2.1.1.Các phương thức tạo nguồn hàng xuất khẩu.
Đối với bất kì công ty nào, để có thể sản xuất hay kinh doanh thương mại luônquan tâm tới vấn đề tạo nguồn Là đơn vị kinh doanh xuất khẩu các sản phẩm gỗ,nông , lâm, thuỷ hải sản và dược liệu, nguồn hàng để xuất khẩu của công ty đượcthu mua từ rất nhiều nguồn: trong và ngoài nước Các đơn vị trong công ty chủđộng tìm kiếm nguồn hàng phục vụ cho hoạt động của mình
Nguồn hàng của công ty được mô tả như sau:
Trang 17Như vậy có thể thấy sản phẩm của công ty được hình thành từ 4 nguồn :
- Thu gom từ các cơ sở địa phương và các doanh nghiệp trong nước: đây làhình thức áp dụng đối với hàng nông, lâm, thuỷ hải sản VD: Sứa ướp muối,
cá Hố ướp đá, gạo Trong trường hợp này, các đợn vị tự tìm hiểu về mốihàng tại các cơ sở địa phương và các đơn vị đã sơ chế hàng Mặt hàng nàydoanh nghiệp mua có thể nhập kho hoặc xuất bán thẳng
- Nhập khẩu từ nước ngoài: các mặt hàng này chủ yếu là dược phẩm, đó làbột Hoàng Liên thô (hay bột Hoàng Đằng) Đây là dược liệu mà trong nước chưa
có, và công ty thu mua từ Campuchia Đối với hàng này, công ty xuất khẩu theohình thức “tạm nhập tái xuất”, hàng hoá không được nhập kho mà xuất bán thẳng
ra nước ngoài
- Hàng doanh nghiệp tự sản xuất: đó là hàng trang trí nội thất (giường, tủ,khung cửa ), đó là các sản phẩm được sản xuất từ gỗ Sau khi nhận được đơn đặthàng, hoặc chủ động tạo sản phẩm mới, doanh nghiệp tiến hành mua nguyên vậtliệu và tự lập phương án kinh doanh sản xuất sản phẩm Nguồn nguyên vật liệu đầuvào chủ yếu được thu mua từ các nguồn :
+ Công ty nhập khẩu gỗ từ Lào, cụ thể là Xí nghiệp thương mại phát triểnxuất nhập khẩu sở Thương mại du lịch tỉnh Xiểng Khoảng Lào: gỗ thông, gỗ GiángHương, gỗ Lim Trước đây công ty có thể nhập khẩu gỗ tròn từ Lào, nhưng theoLuật mới của Lào, công ty không được nhập gỗ tròn, mà phải xẻ ngay tại Lào rồimới đem về nước Ngoài ra công ty còn nhập khẩu gỗ trong và gỗ hộp tạiInđonêxia
Trang 18+ Tại thị trường trong nước, công ty mua hàng qua các khâu trung gian như:quân khu 4 Bộ Quốc phòng, công ty thương mại tổng hợp Quảng Bình, công tyxuất nhập khẩu Thạch Hãng Quảng Trị với các loại gỗ như: gỗ Pơmu, gỗ Samu, gỗDầu
- Thuê ngoài gia công chế biến: cũng đối với các sản phẩm được chế biến từ
gỗ, công ty tiến hành thuê ngoài gia công chế biến, rồi nhập kho Sau đó được bánsang thị trường nước ngoài VD: Ván sàn gỗ Samu, tượng
2.1.2 Kế toán tạo nguồn hàng xuất khẩu tại công ty sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu.
1 liên giao cho người bán, và 1 liên dùng để luân chuyển trong công ty
- Trong trường hợp công ty mua hàng với các doanh nghiệp khác: chứng từ
sử dụng là Hợp đồng kinh tế, Hoá đơn GTGT, hoặc hoá đơn bán hàng do nhà cungcấp giao
- Trong trường hợp công ty tự sản xuất: chứng từ sử dụng ngoài các chứng
từ tập hợp chi phí, tại các xí nghiệp sử dụng Phiếu nhập kho
- Trong trường hợp thuê ngoài gia công chế biến: sau khi giao nguyên vậtliệu cho các đơn vị thuê ngoài, chứng từ sử dụng là Phiếu xuất kho Sau khi hết hạngia công, bộ phận kinh doanh sau khi nhận hàng, kiểm kê hàng, sẽ lập Hoá đơnGTGT
- Trong trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu từ nước ngoài: chứng từ sửdụng là Hợp đồng kinh tế, Hoá đơn thương mại, tờ khai hải quan hàng xuất khẩu,
bộ chứng từ thanh toán
- Khi nhập kho hàng hoá, thành phẩm, kế toán sử dụng Phiếu nhập kho
- Khi thanh toán tiền hàng cho nhà cung cấp, kế toán sử dụng Phiếu chi (nếuthanh toán bằng tiền mặt), sử dụng uỷ nhiệm chi, giấy báo Nợ của ngân hàng (nếuthanh toán bằng chuyển khoản)
Trang 19Bảng kê hàng nhập kho Bảng lưu chuyển nhập xuất tồn
Bảng tổng hợp chữ TBảng cân đối số phát sinhBáo cáo
Chứng từ thanh toán
Bảng kê chi quỹ tiền mặtBảng kê công nợ với nhà cung cấpBảng kê công nợ với công ty
Chứng từ mua hàng Phiếu nhập kho
Thẻ kho(do thủ kho lập)
Thẻ kho( do kế toán lập) Tài khoản phụ 611
2.1.2.2.Hạch toán quá trình tổ chức nguồn hàng.
Để hạch toán quá trình nhập, xuất hàng hoá, doanh nghiệp sử dụng TK’611
để hạch toán
Trình tự hạch toán như sau: (sơ đồ 17 )
Sơ đồ số 17: Hạch toán quá trình tạo nguồn hàng
Các báo cáo: Báo cáo bán ra, Xuất khẩu trực tiếp, Báo cáo Xuất nhập khẩu
Để chứng minh cho quá trình hạch toán tạo nguồn hàng xuất khẩu, ta xétmột số nghiệp vụ sau:
Nghiệp vụ Nhập kho lô hàng cá Hố ướp đá.
Để chuẩn bị xuất bán hàng cho công ty Phát triển sản nghiệp Khang Hưng,chi nhánh Đông Hưng, Trung Quốc theo Hợp đồng mua bán số 78 ngày06/11/2003 Ngày 12/2/2004, công ty nhập mua 4500 kg cá Hố ướp đá của ÔngTrần Hoàng Sơn, trú tại Hải Phòng Tổng giá thanh toán là 128.250.000đ Công tythanh toán ngay tiền cho người bán
Kế toán phản ánh như sau:
* Hạch toán ban đầu:
Trang 20-Ngày 12/2 công ty tiến hành thu mua cá Hố ướp đá Do đây là hàng thuỷsản được thu mua của người nông dan, nên nhân viên thu mua lập Phiếu kê muahàng Hàng không chịu thuế GTGT.
- Cùng trong ngày, hàng được chuyển về kho công ty Tai kho,thủ kho tiếnhành kiểm nghiệm hàng Hàng được kiểm nghiệm với số lượng đúng bằng 4.500
kg
- Kế toán phòng KH-KD lập Phiếu nhập kho sau khi hàng được kiểmnghiệm và nhập kho Phiếu nhập kho được lập thành 2 liên: 1 liên lưu tại quyển, 1liên dùng để luân chuyển và ghi sổ
Ta có thể khái quát sơ đồ hạch toán như sau:
Nghiệp
vụ nhập
kho
Cán bộ mua hàngLập PKMua hàng
Thủ khoNhập kho
Kế toán P KH- KD
Lập phiếu NKPhụ trách CƯ
Sơ đồ số 18: Trình tự luân chuyển chứng từ nhập Cá Hố ướp đá
BIỂU 1
PHIẾU KÊ MUA HÀNG
Ngày 12 tháng 2năm 2004
Mẫu số:13-BH
Quyển số:1
- Họ tên người bán: ông Trần Hoàng Sơn Số:4
- Địa chỉ: Hải Phòng
- Họ tên người mua: Phòng KH-KD, PROMEXCO
- Địa chỉ: Km9, QL1A, Hoàng Liệt, Hoàng Mai,HN
- Hình thức thanh toán: thanh toán ngay bằng tiền mặt
Trang 21Stt Tên hàng Đvị Số lượng Đơn giá Thành tiền
giá Thành tiềnChứng
từ
Thựcnhập
Trang 22- Khi hàng nhập kho, tại kho thủ kho lập Thẻ kho theo mẫu quy định.
- Tại phòng kế toán, trình tự ghi sổ được thể hiện qua sơ đồ sau:(Sơ đồ số19)
Sơ đồ số 19: Trình tự hạch toán tổng hợp nhập Cá Hố ướp đá
+ Phiếu nhập kho sau khi được lập và được thủ kho ghi số lượng sẽ đượcchuyển về Phòng KH- KD Trong ngày, kế toán ghi đơn giá và tính thành tiền
+ Trên cơ sở Phiếu nhập kho, kế toán vào Thẻ kho (do kế toán lập) Đồngthời, từ Phiếu nhập kho, kế toán vào Bảng kê hàng nhập kho
+ Cuối quý trên cơ sở Thẻ kho và Bảng kê hàng nhập kho, kế toán ghi Bảnglưu chuyển N- X- T
Căn cứ để ghi Thẻ kho là phần thực nhập, đơn giá của Phiếu nhập kho
Từ phần thành tiền của Phiếu nhập kho, kế toán vào Nhập kho và Bảng kêhàng nhập kho
Trang 23- Khi thanh toán tiền hàng, kế toán phòng KH-KD viết Phiếu chi để trả chongười bán Phiếu này lập thành 3 liên: 1 liên lưu tại quyển, 1 liên giao cho ngườibán, và 1 liên dùng để ghi sổ.
Tiền hàng là toàn bộ Gía trị lô hàng, vì hàng không chịu thuế GTGT
Biểu 3
Thẻ kho
Trang 2400
1756
452.205.640
12.591.105
00
173.480.084
07,1
15.00035.000372
017.399.740
393.811.750
279.500.000
35.672.530
Trang 25Kết chuyển dư ĐKNguyên vật liệuThàng phẩmHàng hoá
Nhập thuỷ tinh pha lêNhập Rubak máy tính
……
Nhập kho cá Hố ướp đá
Nhập mua bột Hoàng Liên thôVán sàn Samu sau gia công
Nhập vải thun Hàn Quốc
611611611
6115161154611126115361152
152155156
111111111331336-cty
85.075.91356.790.000149.430.840
35.672.530202.562.100128.250.000
17.399.74081.650.000263.416.160
Cộng SPSKết chuyển dư cuối kỳ 152
155
611611
13.680.435.64697.862.14867.635.000