Tuy nhiên, qua thực tế về các doanh nghiệptrong nền kinh tế Việt Nam nói chung và của Công ty sản xuất bao bì và hàngxuất khẩu nói riêng, ta có thể thấy rằng công tác kế toán còn rất nhi
Trang 1MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN KẾ TOÁN LƯU CHUYỂN HÀNG HOÁ XUẤT KHẨU TẠI CÔNG
TYSẢN XUẤT BAO BÌ VÀ HÀNG XUẤT KHẨU
1 Sự cần thiết phảI hoàn thiện kế toán lưu chuyển hàng hoá xuất khẩu.
Trong xu hướng toàn cầu hoá như hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đã,đang và sẽ còn tiếp nhận sự đầu tư cũng như tham gia kinh doanh với nướcngoài Điều này là cần thiết đối với nước nhỏ đang phát triển như Việt Nam
Khi tham gia vào thị trường Quốc tế, các doanh nghiệp đòi hỏi phải có
sự hiểu biết và trình độ mới có thể đáp ứng được đòi hỏi của quá trình hộinhập Bên cạnh chính sách quản lý xuất khẩu, các doanh nghiệp cần có độingũ kế toán giỏi, năng động Tuy nhiên, qua thực tế về các doanh nghiệptrong nền kinh tế Việt Nam nói chung và của Công ty sản xuất bao bì và hàngxuất khẩu nói riêng, ta có thể thấy rằng công tác kế toán còn rất nhiều thiếusót, đặc biệt trong các doanh nghiệp Nhà nước: trình độ xử lý các nghiệp vụchưa cao, chưa đảm bảo đúng với Chuẩn mực kế toán không những tronghoạt động kinh doanh xuất khẩu mà ngay cả trong việc trong việc xử lý hàngtồn kho, xác định kết quả tiêu thụ…
Như vậy, với sự yếu kém của kế toán cũng như đòi hỏi ngày càng caocủa kinh tế Thế giới, công tác kế toán cần có sự hoàn thiện để đảm bảo khitham gia vào thị trường Quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam không phải chịuthiệt thòi Đồng thời cũng đảm bảo xác định đúng đắn kết quả hoạt động kinh
tế của nền kinh tế quốc dân
2 NHận xét và đánh giá chung
2.1.Về tình hình sản xuất kinh doanh của công ty.
Sau 30 năm hình thành và phát triển, nhưng chỉ từ sau năm 1996, khiđất nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấpsang nền kinh tế thị trường vận hành theo sự quản lý của Nhà nước, công tymới thực sự tạo ra được chỗ đứng trên thị trường
Sau khi có sự đầu tư, sản phẩm của công ty có sự thay đổi đáng kinhngạc về chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng nên được khách hàng quan tâm, tạo ra
Trang 2những cơ hội kinh doanh mới và việc kí kết hợp đồng một cách nhanh chóng
có hiệu quả cao Công ty đã tạo ra cho bạn hàng sự tín nhiệm, lòng tin tưởngchắc chắn vào phương thức làm ăn của công ty Công ty đã thiết lập được mốiquan hệ bạn hàng chặt chẽ với các khách hàng trên thị trường Đài Loan, Nhậtbản, Trung Quốc, Nga, Mỹ
Bên cạnh đó, công ty là một daonh nghiệp Nhà nước có quy mô lớn vềngành nghề kinh doanh nên có thể đảm bảo thực hiện các hợp đồng có giá trịkinh tế cao Hệ thống xí nghiệp sản xuất gỗ truyền thống thành viên của công
ty đã được trang bị máy móc thiết bị và dây chuyền công nghệ chế biến kháhiện đại, với đội ngũ công nhân đông đảo và tương đối lành nghề Và đặc biệtcông ty có sự ưu đãi đặc biệt từ phía Nhà nước thông qua việc cấp hạn ngạchxuất khẩu cho công ty nên việc làm thủ tục thông quan để xuất khẩu các sảnphẩm gỗ của công ty diễn ra rất thuận lợi
Ngoài những thành tựu đã đạt được, công ty còn có những khó khănsau: Các đơn vị sản xuất trong công ty hầu hết chỉ chú trọng đến công tác sảnxuất và kinh doanh các mặt hàng đã được đặt hàng trước, do vậy sản xuất cònmang tính nhỏ lẻ, chắp vá và đơn chiếc, hoạt động sản xuất của các đơn vịmang tính thụ động cao Một số xí nghiệp sản xuát còn chưa được trang bịhiện đại, công nghệ chế biến thấp nên sản phẩm chưa có trình độ tinh xảo,chính xác, và do vậy chưa đáp ứng được tốt nhất nhu cầu tiêu dùng trongnước và nước ngoài Công ty chưa mạnh dạn đầu tư chiều sâu, chưa tìm kiếmđược mặt hàng sản xuất có tính bền vững, lâu dài, chưa chủ động được trongcông tác kế hoạch Do tình hình thời tiết có nhiều biến động theo hướng bấtlợi, nên nguồn nguyên vật liệu gỗ của công ty bị hạn chế, việc tìm kiếmnguồn nguyên liệu rất khó khăn, ảnh hưởng đến quy trình sản xuát của công
ty, ảnh hưởng đến kế hoạch giảm giá thành của sản phẩm
Một số nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động sản của công ty:
- Một số nguyên nhân khách quan tác động đến chất lượng sản phẩm:khí hậu Việt Nam có độ ẩm tương đối cao nên sản phẩm dễ bị ẩm mốc, khiếncho chất lượng giảm xuống nhiều
- Trong quá trình vận chuyển, các sản phẩm gỗ trang trí nội thất, và
Trang 3giản là trong nilông, hoặc bỏ không vì chúng là những sản phẩm cồng kềnh.
Vì vậy sản phẩm cũng bị ảnh hưởng khi vận chuyển
- Tìm kiếm khách hàng: do công ty có ít thông tin cập nhật về tình hìnhbiến động của thị trường thế giới, những thay đổi về giá cả, về cung cầu, kĩthuật chế biến trên thế giới nên ảnh hưởng đến việc mở rộng thị trường, ảnhhưởng đến kí kết hợp đồng
2.2 Về công tác quản lý hoạt động kinh doanh tại công ty.
Trước tiên, việc thực hiện sửa đổi cơ chế quản lý nội bộ đã cho phépvừa quản lý tập trung thống nhất trong toàn công ty, lại vừa phát huy tối đanguồn lực, tính năng động sáng tạo
Năm 1999, việc hợp nhất 2 phòng: phòng KDXNK I và phòngKDXNK II thành phòng KH-KDXNK đă khắc phục được tình trạng chồngchéo về chức năng, thống nhất quản lý hoạt động xuất nhập khẩu trong công
ty Tiếp đó, công ty thực hiện nhiều biện pháp nhằm đa dạng hoá mặt hàngxuất khẩu, mở rộng thị trường ra khu vực và trên thế giới, kết hợp hoạt độngxuất khẩu và hoạt động nhập khẩu, vừa phục vụ nhu cầu trong nước, vừa hỗtrợ hoạt động xuất khẩu, nâng cao tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
Thêm vào đó, với chủ trương mở rộng địa bàn hoạt động, công ty đãthành lập các chi nhánh mới: phía Nam có Thành phố Hồ Chí Minh, phía Bắc
có chi nhánh Hà Giang, chi nhánh Móng Cái- Quảng Ninh Từ các chi nhánhnày dần dần hình thành mạng lưới gồm nhiều đầu mối kinh doanh rất cần thiếttrong việc tìm kiếm nguồn hàng và thị trường hoạt động Trừ chi nhánh mới
Hà Giang mới đi vào hoạt động, các chi nhánh còn lại đã dần ổn định và bướcđầu kinh doanh có lãi, đặc biệt là chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh thời gianqua đã có những đóng góp rất lớn vào việc hoàn thành kế hoạch sản xuất kinhdoanh của công ty
Các thành tích đạt được mới cho thấy sự phát triển bước đầu về quy
mô, còn về mặt chất lượng của sản phẩm vẫn còn hạn chế:
- Mặt hàng truyền thống của công ty vẫn chưa thực sự phát huy đượcthế mạnh do chất lượng chưa cao và giá cả hàng hoá còn cao Nguồn hàng
Trang 4hưởng đến tính đồng đều của chất lượng hàng hoá, và kinh doanh bị thụ động.
Do gỗ phải nhập khẩu từ bên ngoài nên giá cả hàng hoá cũng cao, làm cho kếhoạch hạ giá thành bị ảnh hưởng
- Mặc dù nguồn vốn kinh doanh có tăng lên do tích luỹ nhưng còn chưađáp ứng được nhu cầu, nhất là các chi nhánh với số vốn được cấp không đáng
kể nên phải tự huy động từ nguồn vốn tín dụng Vì vậy kết quả kinh doanhgiảm một phần do phân bổ lãi vay
2.3 Về công tác tổ chức kế toán tại công ty.
Từ năm 1999, thích hợp với việc thực hiện cơ chế khoán nội bộ,
bộ máy kế toán được tổ chức phân cấp rất rõ ràng, phù hợp với hoạt động củacông ty Các đơn vị có doanh thu đều phải tự hạch toán đầu vào, đầu ra và xácđịnh kết quả kinh doanh Sự phân cấp này tạo điều kiện cho các đơn vị có khảnăng nắm bắt thông tin chính xác, sát thực về tình hình kinh doanh tại đơn vịmình, khuyến khích họ có các biện pháp thúc đẩy quá trình kinh doanh, khắcphục tình trạng trì trệ, trông chờ ỷ lại vào công ty
Tuy nhiên, việc quản lý vẫn đảm bảo tính tập trung thống nhất do các
bộ phận kế toán tại các đơn vị vẫn phải tuân theo sự chỉ đạo thống nhất từ kếtoán trưởng
Về mặt nhân sự, công ty tổ chức tinh giảm gọn nhẹ, phù hợp với quy
mô của các đơn vị Trình độ chuyên môn của các bộ kế toán khác đồng đều,khối lượng công việc được phân công rõ ràng và hợp lý
Bên cạnh đó vẫn còn một số mặt hạn chế như: sổ sách kế toán tại cácđơn vị đôi khi còn chưa được tổ chức, thiết kế một cách khoa học, thống nhấtgây khó khăn cho việc kiểm tra, đối chiếu Tình trạng chứng từ không đượcđánh số thứ tự trước, ghi không đúng quy cách phải huỷ bỏ còn khá phổ biến.Công tác hướng dẫn và kiểm tra hạch toán kế toán trong công ty còn bị buônglỏng Công việc hạch toán còn khá thủ công Mặc dù đã cài đặt kế toán máysong do trình độ sử dụng máy vi tính của nhân viên kế toán còn hạn chế, làmảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán vào máy tính
Trang 52.4.Về kế toán lưu chuyển hàng hoá xuất khẩu của công ty sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu.
* Về việc lựa chọn phương pháp tính giá vốn.
Hiện nay công ty đang sử dụng phương pháp thực tế đích danh để hạchtoán giá vốn hàng hoá, sản phẩm bán ra Phương pháp này là phù hợp, vì sảnphẩm xuất khẩu của doanh nghiệp chủ yếu được xuất khẩu theo đơn đặt hàng
* Về việc xác định thời điểm ghi nhận doanh thu.
Công ty xác định doanh thu tại thời điểm nhận giấy báo Có của Ngânhàng Như vậy thời điểm ghi nhận doanh thu là không chính xác, vì theochuẩn mực kế toán Việt Nam, doanh thu được ghi nhận khi khi hàng hoáđược giao cho khách hàng và khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanhtoán Như vậy việc hạch toán này ảnh hưởng đến việc xác định doanh thu củacông ty, vì doanh thu chịu ảnh hưởng của chênh lệch tỷ giá
* Về chi phí thu mua.
Công ty phản ánh chi phí thu mua vào giá gốc của từng lô hàng Theo
đó, kế toán công ty tổng hợp toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình thu mua
và phản ánh vào giá gốc của từng lô hàng Chi phí thu mua được mở riêng đểtheo dõi riêng cho từng nghiệp vụ thu mua
Hàng hoá của công ty khi bán ra thị trường thường được bán theo đơnđặt hàng, chính vì vậy hàng thường được thu mua đơn lẻ theo từng loại mặthàng để xuất khẩu, nên việc hạch toán này là chính xác vì phản ánh đúng giávốn của từng lô hàng, và việc tập hợp cũng dễ dàng Cũng do vậy mà côngviệc kế toán cũng dễ dàng, đỡ vất vả do không cần phải phân bổ chi phí thumua cho hàng hoá phát sinh trong kỳ
Tuy nhiên, trong quá trình hạch toán, kế toán không có sổ phản ánhriêng cho từng mặt hàng thu mua, mà chỉ tập hợp trên tài khoản riêng(TK’641), nên việc kiểm tra, đối chiếu gặp khi cần thiết gặp khó khăn Vàviệc sử dụng tài khoản riêng như vậy là không khoa học
* Về sử dụng tài khoản.
Hiện nay, công ty đang sử dụng tài khoản TK’611 để hạch toán cácnghiệp vụ liên quan đến nhập, xuất hàng hoá, sản phẩm, nguyên vật liệu
Trang 6Việc sử dụng TK’611 “Mua hàng” là không đúng theo quy định củachế độ kế toán Vì tài khoản này chỉ được sử dụng khi doanh nghiệp áp dụngphương pháp Kiểm kê định kỳ để hạch toán hàng tồn kho Trong thực tế,doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp Kê khai thườngxuyên Vì các nghiệp vụ liên quan đến xuất nhập hàng hoá đều được phảnánh, theo dõi cập nhật trên sổ sách liên quan Giá xuất kho là giá thực tế đíchdanh (giá không áp dụng trong Kiểm kê định kỳ) Và giá trị hàng tồn kho cuối
kỳ được xác định trên cơ sở hàng tồn kho tồn đầu kỳ, giá trị hàng nhập xuấttrong kỳ Với cách phản ánh hàng tồn kho như vậy, chứng tỏ công ty áp dụngphương pháp Kê khai thường xuyên
Hơn nữa với viẹc sử dụng TK’611 để phản ánh, tạo ra sự khó khăn, khókiểm tra trong việc theo dõi hàng hoá mua vào, bán ra trong kỳ Đó là vì:
- Bên Nợ TK’611: bao hàm cả hàng mua về nhập kho, hàng đang điđường, hàng tạm nhập tái xuất, hàng nhập sau gia công, chi phí thu mua
- Bên Có TK’611: bao gồm giá vốn hàng xuất kho (hàng xuất bán quakho, và hàng xuất bán thẳng không qua kho trong trường hợp tạm nhập táixuất), hàng xuất đi gia công
Như vậy, việc sử dụng TK’611 là không phù hợp đòi hỏi doanh nghiệpcần thay đổi
* Về sổ sách.
Nói chung, để phù hợp với đặc trưng của hoạt động kinh doanh xuấtkhẩu, và yêu cầu quản lý, việc sử dụng hệ thống sổ của doanh nghiệp đượclập ra là tương đối hợp lý, tuy rằng các sổ này không phù hợp với hệ thống sổNhật ký-chứng từ
Bên cạnh tính phù hợp của hệ thống sổ của công ty, hệ thống sổ củadoanh nghiệp có một số tồn tại sau:
- Việc kế toán lập Bảng kê hàng nhập kho và Nhập kho tạo ra sự trùnglặp khi phản ánh giá trị hàng nhập
- Kế toán không có sổ sách riêng theo dõi riêng cho từng nghiệp vụxuất khẩu và tiêu thụ trong nước Điều này gây khó khăn khi kế toán tổng hợpcác hoạt động liên quan đến từng thị trường tiêu thụ để lập báo cáo
Trang 7- Kế toán không có sổ theo dõi các hoạt động: xuất nhập hàng hoá giacông chế biến, hàng tạm nhập tái xuất, mà chỉ phản ánh trên Tài khoản 611,lấy số tổng cộng để vào các sổ liên quan.
* Chi phí thu mua và chi phí bán hàng trong trường hợp tạm nhập tái xuất.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, chi phí thu mua là chi phí liên quanđến hàng mua về trước khi doanh nghiệp nhập kho hoặc trước khi xuất bánthẳng; còn chi phí bán hàng là chi phí liên quan đến việc tiêu thụ hàng hoábán ra Tuy nhiên, tại công ty, toàn bộ chi phí liên quan đến quá trình từ nhậphàng đến khi hàng giao cho bên mua thứ 3 đều được hạch toán vào giá vốnhàng bán Cách hạch toán này là không chính xác, vì chỉ có chi phí thu muamới thuộc giá vốn hàng bán
3 Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán lưu chuyển hàng hoá xuất khẩu.
* Ý kiến 1: Về việc ghi nhận doanh thu.
- Kế toán phản ánh doanh thu hàng hoá bán ra ngay khi khách hàngchấp nhận thanh toán, đúng theo chuẩn mực kế toán Còn việc phản ánhchênh lệch tỷ giá do kế toán phòng KT-TC ghi sổ, định khoản; tại phòng kinhdoanh chỉ phản ánh phải thu của công ty
Vì nếu ghi nhận doanh thu khi nhận giấy báo Có dẫn đến việc lập Bảngtổng hợp chữ T ( TK’131,TK’511) không chính xác
Đồng thời việc khai báo doanh thu không chính xác khi nghiệp vụ xảy
ra sau thời điểm lập báo cáo quyết toán
* Ý kiến 2: Về chi phí thu mua
Do hàng hoá của công ty được bán theo đơn đặt hàng là chủ yếu, nêncông ty thu mua hàng đơn lẻ theo từng loại mặt hàng Vì vậy, công ty nên mở
Sổ chi tiết mua hàng theo dõi đồng thời cả giá mua vào và chi phí thu mua.Như vậy kế toán sẽ đỡ mất công trong việc phân bổ chi phí thu mua của hànghoá mua vào
Bảng được lập trên cơ sở Phiếu kê mua hàng và các hoá đơn chứng từliên quan
Trang 8Chi phíthu mua
Cáckhoảngiảm trừ
300.000150.000
46.000.000
300.000150.000
0
Sổ chi tiết mua hàng được lập riêng cho từng nghiệp vụ thu mua, theodõi đồng thời lượng, đơn giá, chi phí thu mua
Số lượng và đơn giá được ghi trên cơ sở Phiếu kê mua hàng
Chi phí thu mua được ghi trên cơ sở các chứng từ đặc biệt, VD Biên laithu lệ phí hải quan
Với cách ghi như vậy, ta có thể tập hợp toàn bộ chi phí phát sinh trongquá trình mua hàng hoá,tạo điều kiện để kế toán tính lại đơn giá hàng muamột cách dễ dàng và chính xác nhất
* Ý kiến 3: Về tài khoản.
Do đặc điểm kinh doanh của công ty là mặc dù các sản phẩm kinhdoanh đa dạng, song trong một kỳ kinh doanh, số lượng các hoạt động xuấtkhẩu diễn ra không thường xuyên, và giá trị của lô hàng thường có giá trị lớn,
do vậy công ty hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp Kê khai thườngxuyên là hợp lý, thuận lợi cho kế toán
Và do vậy, công ty nên bỏ TK’611 và sử dụng các tài khoản khác phùhợp với phương pháp kế toán đã lựa chọn
Trang 9Các tài khoản sử dụng như sau:
- TK’151: theo dõi cho hàng hoá mua về còn đang đi trên đường đểchuyển về kho
- TK’152,153: theo dõi cho nguyên vật liêu, công cụ dụng cụ
- TK’154: theo dõi hàng xuất gia công chế biến
- TK’156: theo dõi hàng hoá thu mua, xuất bán trong kỳ
- TK’157: theo dõi cho hàng tạm nhập tái xuất
* Ý kiến 4: Về sổ sách liên quan đến Bảng kê hàng nhập kho, Bảng
chi tiết gia công chế biến, Bảng chi tiết hàng tạm nhập tái xuất.
+ Bảng kê hàng nhập kho.
Như đã trình bày trong Kế toán nhập lô hàng cá Hố ướp đá, ta thấy rằngviệc kế toán phản ánh đồng thời cả Thẻ kho và Bảng kê hàng hoá nhập kho làkhông cần thiết, sau khi đã lập Sổ chi tiết mua hàng Do vậy, để thuận lợi hontrong việc phản ánh chính xác,đầy đủ giá trị cũng như số lượng hàng nhậpkho trong kỳ, kế toán nên mở Bảng kê hàng hoá nhập kho theo mẫu sau
Bảng kê hàng nhập kho công ty nên mở riêng cho hàng hoá và nguyênvật liệu, vì như vậy thuận lợi hơn khi kế toán hàng tiêu thụ
Trang 10Số liệu tổng cộng trên Bảng kê hàng nhập kho làm căn cứ để đối chiếuvới Bảng tổng hợp chữ T cuối kỳ.
Bảng kê hàng nhập kho theo dõi cả về số lượng và giá trị, với cách thiết
kế sổ như vậy công ty có thể bỏ đi Thẻ kho, giúp cho công tác kế toán nhẹnhàng hơn
Với kết cấu ghi tài khoản đối ứng như mẫu, giúp kế toán thuận lợi trongviệc vào Sơ đồ chữ T
*Sổ chi tiết hàng gia công chế biến.
Để theo dõi riêng cho từng lô hàng đem gia công, công ty mở sổ chi tiếttheo dõi hàng gia công
Kết cấu như sau:
Kế toán lập cột TKĐƯ để dẽ dàng hơn khi vào bảng kê chi quỹ, Bảng
kê công nợ và Bảng kê hàng nhập kho
Số tổng cộng được làm căn cứ để vào Bảng tổng hợp hàng gia công
Biểu 19
SỔ CHI TIẾT HÀNG GIA CÔNG CHẾ BIẾN
TK’154 TÊN SẢN PHẨM: TƯỢNG MỸ NGHỆ
CP vận chuyển nhập khoNhập kho
152111111111155
8.250.000250.0002.600.000230.000
11.330.000
Trang 11Biểu 21
SỔ CHI TIẾT TẠM NHẬP TÁI XUẤT
Tên sản phẩm ĐV:
thu mua
Chi phíbán hàng