Ban Giám đốc Công ty đã điều hành, điều phối hoạt động tại Văn phòngcũng như tại các Chi nhánh một cách có hiệu quả ; tham chủ động trực tiếp trongviệc lập kế hoạch kiểm toán chiến lược
Trang 1Bài học kinh nghiệm và phương hướng hoàn thiện kiểm toán các khoản dự
phòng tại Công ty AASC
I.Những bài học kinh nghiệm từ việc kiểm toán các khoản dự phòng tại Công
ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính, Kế toán và Kiểm toán
1.1 Nhận xét chung và bài học kinh nghiệm từ công tác kiểm toán tại Công ty AASC
Trải qua hơn 10 năm hoạt động với bề dầy 9 năm kinh nghiệm trong lĩnhvực kiểm toán Công ty AASC đã không ngừng phát triển Mặc dù hoạt động kiểmtoán ở nước ta trong thời gian qua chưa thực sự trở thành công cụ kiểm soát hữuhiệu trong nền kinh tế nhưng cũng đã hình thành một cơ chế kiểm soát và đánhgiá các hoạt động của doanh nghiệp một cách có hiệu quả Cùng với các Công tykiểm toán khác trong nước như VACO, các Công ty kiểm toán Quốc tế, AASC đãkhẳng định vị thế của mình trên thị trường kiểm toán còn rất mới mẻ này
Với những kết quả đạt được trong thời gian qua phần nào đã chứng tỏ sựthành công vượt bậc của AASC Ban đầu khi mới thành lập Công ty chỉ có 8thành viên, vốn hoạt động kinh doanh rất ít ỏi, nay Công ty đã mở rộng mạng lướikinh doanh tới khắp nơi trong cả nước, doanh thu không ngừng tăng lên qua cácnăm, số lượng nhân viên và cộng tác viên được đào tạo chuyên sâu, có bài bản…
Để đạt được những thành công đó không thể không kể đến vai trò lãnh đạocủa Ban Giám đốc Công ty, họ là những người tiên phong trong công cuộc tìmkiếm và mở rộng thị trường, là những người trụ cột chính cho sự phát triển củaCông ty Ban Giám đốc Công ty đã điều hành, điều phối hoạt động tại Văn phòngcũng như tại các Chi nhánh một cách có hiệu quả ; tham chủ động trực tiếp trongviệc lập kế hoạch kiểm toán chiến lược cho các Công ty khách hàng và lên kếhoạch kiểm toán cho các Phòng nghiệp vụ; trực tiếp kiểm tra, giám sát kết quảkiểm toán do kiểm toán viên thực hiện tại các Công ty khách hàng ; đưa ra cácchính sách khuyến khích đối với nhân viên của mình… vì vậy hoạt động củaCông ty trong những năm qua luôn đi vào nề nếp và quy củ
Góp phần vào những thành công của Công ty còn phải kể đến đội ngũ nhânviên lành nghề, đầy nhiệt huyết Tham gia vào các cuộc kiểm toán của Công tyđều có những kiểm toán viên có trình độ chuyên môn vững vàng Đội ngũ nhân
Trang 2viên trong trong những năm qua luôn được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyênmôn, cập nhật với những thay đổi của thời đại, làm việc với tinh thần cao, luôn ýthức được trách nhiệm trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ và tạo uy tín đốivới Công ty khách hàng Đặc biệt với sự trẻ hoá đội hình nhân viên trong nhữngnăm gần đây đã giúp Công ty giải quyết được những khó khăn trước đây vì họ có
đủ những kiến thức bắt nhịp với thời đại, sẵn sàng đi khắp nơi khi công việc cần
Mặc dù có những bước tiến lớn trong các lĩnh vực kinh doanh song Công
ty AASC không tránh khỏi những khó khăn trong hoạt động kiểm toán:
Một trong những khó khăn hiện nay là sự cạnh tranh gay gắt của các Công
ty khác hoạt động trong cùng lĩnh vực Sự ra đời của các Công ty kiểm toán tưnhân cũng như các Công ty kiểm toán có uy tín lâu nay trên thị trường đã tạo nênmột môi trường cạnh tranh khốc liệt Để đứng vững được trên thị trường đồngthời giữ được các khách hàng quen thuộc, Công ty buộc phải nâng cao chất lượngdịch vụ và nhiều khi phải hạ giá phí kiểm toán tới mức rất thấp, điều đó có nghĩa
là chất lượng kiểm toán sẽ không thể tốt hơn và doanh thu của Công ty vì thếcũng bị ảnh hưởng
Thêm vào đó, về phía Nhà nước, hành lang pháp lý cho hoạt động kiểmtoán vẫn thực sự chưa ổn định Các Chuẩn mực Kế toán, Kiểm toán chưa đượcban hành đầy đủ, do vậy Công ty vẫn phải dựa nhiều vào cơ sở các Chuẩn mực
Kế toán, Kiểm toán Quốc tế được thừa nhận rộng rãi Các chính sách, chế độ Kếtoán còn nhiều bất cập, mâu thuẫn với thực tế … cũng là những khó khăn trongkiểm toán của Công ty
Mặt khác, ở nước ta hiện nay nhu cầu kiểm toán đối với các doanh nghiệp
là chưa nhiều Trừ những Công ty có quy mô lớn, các Công ty mà Nhà nước yêucầu phải kiểm toán bắt buộc mới kiểm toán thì còn lại các doanh nghiệp vừa vànhỏ vẫn chưa ý thức được nhu cầu kiểm toán đối với họ Họ luôn có tâm lý cốgắng giữ kín thông tin Điều đó gây ảnh hưởng không nhỏ cho Công ty kiểm toánkhi tìm kiếm khách hàng
Đối với các Công ty được kiểm toán, khi kiểm toán viên tiến hành kiểmtoán cũng đã gây cản trở lớn cho Công ty Ví dụ như thái độ dè dặt, thiếu hợp táccủa khách hàng, gây khó dễ đối với kiểm toán viên, hoặc cung cấp các thông tinkhông chính xác, đầy đủ… Điều này dẫn đến kết quả kiểm toán đã phản ánh
Trang 3không thực sự trung thực, hợp lý, khách quan , có nhiều trường hợp kết quả đókhông nhất trí với kết quả kiểm tra của cơ quan thuế Chính vì vậy mà rủi ro kiểmtoán khi tiến hành kiểm toán là rất cao và Công ty cũng đã không ít lần gặp phảinhững trường hợp như vậy.
Khó khăn nữa trong kiểm toán Công ty khách hàng là hiện nay mặc dùCông ty AASC đã xây dựng quy trình kiểm toán chung cho các khách hàng củamình song quy trình đó vẫn còn nhiều bất cập khi ứng dụng vào thực tế Khi tiếnhành kiểm toán, kiểm toán viên nhiều khi phải sử dụng kinh nghiệm kiểm toáncủa mình để kiểm toán Rõ ràng khó khăn này cũng cản trở chất lượng kiểm toáncủa AASC
1.2 Bài học kinh nghiệm từ kiểm toán các khoản dự phòng tại AASC:
Qua thực tiễn kiểm toán Báo cáo tài chính cho kỳ kết thúc niên độ kế toánngày 31/12/2002 tại khách hàng của AASC (Công ty ABC) cho thấy: thực tế kiểmtoán các khoản dự phòng được thực hiện thống nhất theo quy trình kiểm toánchung cũng như quy trình kiểm toán được AASC xây dựng, từ khâu lập kế hoạchkiểm toán, thực hiện kiểm toán đến khâu kết thúc kiểm toán Các thủ tục kiểmtoán luôn được vận dụng một cách linh hoạt trong quá trình kiểm toán Công tyAASC đã tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam cũng như các chuẩn mựckiểm toán quốc tế được thừa nhận Cụ thể như sau:
Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán:
Để chuẩn bị cho cuộc kiểm toán, kiểm toán viên bắt đầu với việc tiếp cậnkhách hàng, sau đó là lập kế hoạch kiểm toán Tiếp cận khách hàng là giai đoạnđầu tiên của quy trình kiểm toán Nhận thức được tầm quan trọng của việc tiếpcận khách hàng là tìm kiếm thêm những khách hàng mới và giữ vững uy tín đốivới khách hàng cũ, ngay từ đầu Công ty AASC đã thực hiện tốt công tác này Bắtđầu là việc gửi thư chào hàng tới các khách hàng kiểm toán, thư chào hàng đơngiản, xúc tích nhưng nêu bật lên được sức thu hút đối với các khách hàng Việctiếp cận khách hàng không dập khuôn, máy móc mà linh hoạt tuỳ thuộc vào mốiquan hệ giữa công ty và khách hàng Thường là Ban lãnh đạo Công ty đảm nhậntrách nhiệm này Thực tế cho thấy việc tiếp cận khách hàng được tiến hành nhanh,gọn, nhanh chóng đi đến ký kết hợp đồng kiểm toán Khi ký kết hợp đồng kiểm
Trang 4toán, Công ty cũng đã tuân thủ theo luật định hiện hành, phù hợp với chuẩn mựckiểm toán Việt Nam số 210 “Hợp đồng kiểm toán”
Khi lập kế hoạch kiểm toán, tính thận trọng nghề nghiệp buộc kiểm toánviên phải thực hiện đầy đủ các bước từ thu thập thông tin về tình hình kinh doanhcủa khách hàng, về cơ sở pháp lý của khách hàng cho tới việc tìm hiểu hệ thốngkiểm soát nội bộ, đánh giá rủi ro trọng yếu Đối với các khách hàng thường niên,kiểm toán viên thường cập nhật từ hồ sơ kiểm toán chung, các vấn đề thay đổi đềuđược kiểm toán viên ghi lại (Công ty ABC) Còn đối với các khách hàng mới,kiểm toán viên tìm hiểu thông qua việc phỏng vấn Ban Giám đốc, quan sát hoạtđộng của khách hàng, hoặc nhờ chuyên gia khi cần thiết… Việc tìm hiểu hệ thốngkiểm soát nội bộ được tiến hành khá đầy đủ Các thông tin mới về sự thay đổiHTKSNB đều được kiểm toán viên thu thập và ghi lại
Mô hình đánh giá mức độ trọng yếu của Công ty được đánh giá hợp lý Tuymới chỉ là những thử nghiệm ban đầu nhưng nhìn chung thực sự hiệu quả trongviệc giúp kiểm toán viên định hướng các công việc kiểm toán cũng như việc đưa
ra các bút toán điều chỉnh dựa vào mức độ trọng yếu đối với từng khoản mục
Như vậy, các công việc mà kiểm toán viên thực hiện trong khâu lập kếhoạch đã tuân thủ đầy đủ chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 “Lập kế hoạchkiểm toán”
Giai đoạn thực hiện kiểm toán:
Sau khi lập kế hoạch kiểm toán, đồng thời phân công công việc cho cáckiểm toán viên và lên lịch kiểm toán các khách hàng, kiểm toán viên tiến hànhkiểm tra chi tiết một cách toàn diện các khoản mục trên Báo cáo tài chính theoquy trình kiểm toán chung đã được xây dựng Kiểm toán các khoản dự phòngcũng được thiết kế một cách chặt chẽ theo quy trình kiểm toán chung Trong quátrình kiểm toán, trưởng nhóm kiểm toán luôn bám sát tiến trình thực hiện côngviệc của các trợ lý để kiểm tra tiến độ thực hiện và chất lượng công việc Các vấn
đề phát hiện luôn được đưa ra thảo luận để tìm ra hướng giải quyết Kiểm toánviên cũng đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau để kiểm toán nhưquy trình phân tích trên Báo cáo tài chính, thủ tục kiểm tra chi tiết số dư…
Thực tế khi tiến hành kiểm toán các khoản dự phòng tại Công ty ABC chothấy công việc kiểm toán chi tiết thực hiện chưa thực sự đầy đủ Kiểm toán viên
Trang 5chủ yếu kiểm tra chi tiết tính hợp lý, chính xác của các con số ghi sổ mà chưathực hiện các thủ tục kiểm tra khác nhằm phát hiện các sai sót như liệu các khoản
dự phòng được lập có thực sự thuộc quyền sở hữu của Công ty hay không, Công
ty đã trích lập dự phòng một cách đầy đủ không…
Giai đoạn kết thúc kiểm toán:
Kết thúc kiểm toán là giai đoạn cuối cùng của cuộc kiểm toán Giai đoạnnày cũng được kiểm toán viên tuân thủ chặt chẽ theo quy trình kiểm toán chung
Để hình thành nên ý kiến của mình về các khoản dự phòng trên Báo cáo kiểmtoán, trước đó kiểm toán viên tiến hành rà soát và đánh giá lại các vấn đề phátsinh trong quá trình kiểm toán, kiểm tra các chênh lệch giữa số liệu kiểm toán với
số liệu trên sổ sách kế toán, soát xét các sự kiện sau ngày kết thúc niên độ kế toán,hoàn thiện các giấy tờ làm việc của kiểm toán viên Trường hợp có sự chênh lệchcần phải điều chỉnh, kiểm toán viên đưa ra bút toán điều chỉnh đối với khoản mụctrên Báo cáo tài chính của Công ty khách hàng Đối với các bút toán điều chỉnh,sau khi có sự thoả thuận với khách hàng, đồng thời căn cứ vào mức độ trọng yếucủa các khoản mục sẽ là căn cứ để kiểm toán viên hình thành ý kiến trên Báo cáokiểm toán Trong trường hợp có sự yêu cầu từ phía khách hàng trong vấn đề tưvấn sau kiểm toán, Công ty sẽ phát hành thư quản lý tới khách hàng
Nhìn chung các công việc trong giai đoạn kết thúc kiểm toán được kiểmtoán viên tiến hành hợp lý, nhanh gọn Báo cáo kiểm toán của Công ty AASCđược trình bày ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, rõ ràng, phù hợp với Chuẩnmực kiểm toán Việt Nam số 700 về “ Báo cáo kiểm toán”
II Sự cần thiết phải hoàn thiện kiểm toán các khoản dự phòng.
Có thể nói sự ra đời của các Công ty Kiểm Toán Việt Nam từ đầu thập niên
90 đã mở ra một hướng đi mới cho lĩnh vực Kiểm Toán Sau hơn 10 năm hoạtđộng, một thời gian không phải là nhiều nhưng các Công ty Kiểm toán Độc lập đãđạt được một khối lượng công việc đáng khích lệ
Sự ra đời của Kiểm toán Độc lập đã khẳng định vai trò của nó đối với nềnkinh tế Quốc dân trong việc kiểm tra, kiểm soát tình hình tài chính của các doanhnghiệp trong nền kinh tế Một doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hay không, cóthực sự lành mạnh hay không, có đủ tin tưởng với các nhà đầu tư hay không…điều đó chỉ có thể khẳng định qua hoạt động kiểm toán Nói cách khác, Kiểm toán
Trang 6chính là một công cụ sắc bén đảm bảo cho nền kinh tế Nhà nước phát triển mộtcách vững mạnh.
Tuy nhiên, xét cho cùng thì đây vẫn chỉ là một loại hình dịch vụ còn rất mới
mẻ So với bề dày lịch sử của ngành kiểm toán trên thế giới, Kiểm toán Độc lậptại Việt Nam còn quá non trẻ, sức cạnh tranh với các công ty Kiểm toán Quốc Tếchưa cao, uy tín trên thị trường chưa được mở rộng, hoạt động kiểm toán cònnhiều bất cập giữa lý luận và thực tiễn Do vậy, để khẳng định vị thế của mìnhtrên trường Quốc tế, Kiểm toán Độc lập ở nước ta phải tự tìm cho mình mộthướng đi mới, một trong những hướng đi đó là phải tự hoàn thiện công tác kiểmtoán ở Việt Nam
Thêm vào đó, trong xu thế hội nhập thế giới hiện nay, nền kinh tế Việt Nam
sẽ không thể đứng vững nếu không tự hoà nhập Sự ra đời của các tổ chức kinh tếthế giới, của các liên minh đa Quốc Gia đã chứng tỏ xu thế toàn cầu hoá là một tấtyếu Chính vì vậy trong những năm qua Việt Nam đã không ngừng xúc tiến hộinhập Sau khi Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận đối vớiViệt Nam, Việt Nam đã bìnhthường hoá quan hệ với nhiều nước trên thế giới cũng như các tổ chức quốc tếnhư quỹ tiền tệ thế giới (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), tham gia khu mậu dịch
tự do ASEAN, AFTA, APEC và trong tương lai sẽ tiếp tục tiến trình hội nhập đặcbiệt là gia nhập vài tổ chức kinh tế thế giới ( WTO ) Sự hội nhập này mang đếncho Việt Nam rất nhiều điều kiện có lợi trong nền kinh tế nước nhà Song kéotheo với nó là buộc các doanh nghiệp phải cải thiện kỹ thuật để tăng sức cạnhtranh Kiểm toán Việt nam không nằm ngoài xu thế đó Đứng trước cơ hội mởrộng thị phần song phải đối đầu với các Công ty kiểm toán Quốc tế lớn mạnh, bất
kì Công ty Kiểm toán nào ở Việt Nam cũng phải hoàn thiện công tác kiểm toán,trước hết là chương trình kiểm toán phải hiệu quả và linh hoạt Có như vậy kiểmtoán Việt Nam mới có thể đứng vững được trong một xu thế toàn cầu hoá nhưhiện nay
Tiếp theo, một trong những điều kiện cần thiết phải hoàn thiện quy trìnhkiểm toán kiểm toán nói chung cũng như quy trình kiểm toán các khoản mục nóiriêng đó là môi trường pháp lý tại Việt Nam chưa thực sự tạo điều kiện cho cácnhà kiểm toán hoạt động Hiện nay nước ta đã ban hành được một số Chuẩn mực
kế toán, kiểm toán nhưng vẫn còn nhiều bất cập khi đi vào thực tế, chưa tạo rađược một hành lang pháp lý đầy đủ cho hoạt động kiểm toán, điều đó đã làm cho
Trang 7công việc kiểm toán của kiểm toán viên gặp rất nhiều khó khăn Để hạn chếnhững bất cập của chế độ thì Công ty kiểm toán nhất thiết phải tự hoàn thiện quitrình kiểm toán cho mình.
Ngoài ra, qua thực tế kiểm toán Báo cáo tài chính tại các công ty kháchhàng nói chung cũng như qua kiểm toán các khoản dự phòng tại công ty ABC doAASC thực hiện cho thấy quy trình kiểm toán còn nhiều hạn chế Ví dụ như việctìm hiểu, đánh giá HTKSNB chưa thực sự đầy đủ; các thủ tục phân tích khi kiểmtoán chưa mang lại hiệu quả cao theo đúng tầm quan trọng của nó; khi kiểm trachi tiết các khoản mục dự phòng kiểm toán viên mới chỉ tập trung vào việc kiểmtra tính chính xác, trung thực, hợp lệ của các số dư, chưa đi sâu kiểm tra cácnghiệp vụ phát sinh cũng như tính hiện hữu của các nghiệp vụ phát sinh… Hơnthế nữa, quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính được Công ty thiết kế chung chomọi khách hàng nên rõ ràng không thể bao quát hết được, nhất là những kháchhàng kinh doanh trong các lĩnh vực mang tính đặc thù
Xuất phát từ những yêu cầu đó, nhu cầu hoàn thiện quy trình kiểm toán saocho khoa học hơn, phù hợp hơn là thực sự cần thiết không chỉ đối với công tyAASC mà còn đối với tất cả các công ty kiểm toán khác Một quy trình kiểm toánhiệu quả luôn là một lợi thế đối với bất kỳ một Công ty kiểm toán nào Nó khôngnhững cho phép Công ty kiểm toán giảm bớt chi phí mà còn giảm thiểu rủi ro, tạo
uy tín với khách hàng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các khách hàng kiểmtoán Để hoàn thiện quy trình kiểm toán nói chung phải hoàn thiện quy trình kiểmtoán đối với từng khoản mục Quy trình kiểm toán các khoản dự phòng tại Công
ty AASC hiện chưa thực sự có hiệu quả, do vậy cần thiết phải hoàn thiện quytrình kiểm toán các khoản dự phòng
III Phương hướng hoàn thiện quy trình kiểm toán các khoản dự phòng trong kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty AASC
Từ những kiến thức đã học tại nhà trường, trên cơ sở những hiểu biết thực
tế khi kiểm toán các khoản dự phòng tại AASC, Em xin nêu một số nhận xét vànhững đề xuất hy vọng sẽ góp phần vào việc hoàn thiện quy trình kiểm toán Báocáo tài chính nói chung, quy trình kiểm toán các khoản dự phòng nói riêng tạiCông ty AASC
Trang 81.Hoàn thiện chương trình kiểm toán chuẩn đối với các khoản dự phòng
Các khoản dự phòng tuy phát sinh không nhiều tại các khách hàng củaAASC nhưng thực sự đó là những khoản mà Công ty khách hàng rất dễ điềuchỉnh thêm bớt vì các khoản này liên quan đến nhiều lợi ích của chính các kháchhàng Do liên quan đến lợi ích của khách hàng, các khách hàng có thể ghi khôngđúng sự thực đối với các khoản dự phòng nhằm hạch toán tăng chi phí để làmgiảm lợi nhuận, từ đó giảm thuế thu nhập phải nộp Nhà nước Các khoản dựphòng chính là nguyên do nảy sinh rất nhiều sai phạm và khó có thể kiểm soátđược chúng, do vậy rủi ro khi kiểm toán các khoản dự phòng thường cao
ý thức được vấn đề đó, Công ty AASC đã thiết kế các thủ tục kiểm toán đốivới các khoản dự phòng.Tuy nhiên, quy trình chuẩn đối với các khoản dự phòngchưa được xây dựng Kiểm toán các khoản dự phòng chỉ được thiết kế chung khikiểm toán các khoản mục có liên quan Ví dụ như kiểm toán khoản mục đầu tư tàichính trong đó có dự phòng đầu tư tài chính(ngắn hạn, dài hạn), kiểm toán cáckhoản phải thu khách hàng có dự phòng nợ phải thu khó đòi, kiểm toán hàng tồnkho có dự phòng giảm giá hàng tồn kho.Vẫn biết là cần có sự phối kết khi kiểmtoán các khoản dự phòng với mỗi khoản mục liên quan nhưng có thể sẽ tốt hơnnếu xây dựng một quy trình chuẩn để kiểm toán riêng các khoản dự phòng.Việcthiết kế đó sẽ giúp Công ty kiểm toán có thể thực hiện kiểm toán tốt hơn, chặt chẽhơn các khoản dự phòng được trích lập tại các Công ty khách hàng và từ đó hạnchế được những vấn đề thiếu sót khi kiểm toán các khoản dự phòng mà trước đâyCông ty đã xây dựng Cụ thể: các thủ tục kiểm toán các khoản dự phòng chưađược đánh giá cao,việc kiểm tra chỉ là đối chiếu các giá trị ghi sổ cuối kỳ đối vớinhững khoản dự phòng mà khách hàng đã lập Còn đối với các khoản dự phòngtheo quy định hiện hành phải trích lập những khách hàng đã bỏ sót chưa trích lập (xem xét điều kiện trích lập) thì công ty chưa thiết kế các thủ tục để kiểm tra chitiết Do vậy việc phát hiện các sai sót chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của kiểm toánviên Tuy nhiên cho dù khả năng phán xét và trình độ nghiệp vụ của kiểm toánviên cao thì vẫn có khả năng còn những khiếm khuyết Bên cạnh đó chế độ kiểmtoán đối với các khoản dự phòng luôn phải thay đổi Tiếp theo Thông tư số64/TT- BTC quy định về việc trích lập và xử lý các khoản dự phòng là Thông tư
Trang 9107/TT-BTC lại có quy định khác khi xử lý dự phòng, tiếp theo nữa là các Chuẩnmực kế toán mới được ban hành trong đó Chuẩn mực hàng tồn kho cũng có quyđịnh mới về dự phòng giảm giá hàng tồn kho Sự thay đổi liên tục đó đã làm ảnhhưởng không nhỏ đến quy trình kiểm toán của công ty Để giải quyết vấn đề này,chương trình kiểm toán các khoản dự phòng nên được bổ sung cập nhật làm nềntảng cho hoạt động của kiểm toán viên trong Công ty Theo đó chương trình cóthể bổ sung theo hướng thiết kế chương trình theo các mục tiêu kiểm toán kết hợpvới các quy định hiện hành về các khoản dự phòng của Bộ Tài chính và các quytắc trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam
Với trình độ và kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán nhiều nămthì việc thiết kế chương trình kiểm toán chuẩn đối với các khoản dự phòng tạiCông ty AASC là hoàn toàn có khả năng thực hiện được
2 Hoàn thiện công tác tìm hiểu và đánh giá HTKSNB của các công ty khách hàng.
Tìm hiểu và đánh giá HTKSNB được thực hiện trong giai đoạn đầu tiêncủa quy trình kiểm toán ( lập KHKT) Trong giai đoạn này kiểm toán viên tiếnhành thu thập các thông tin cần thiết liên quan đến HTKSNB của khách hànggồm: môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, kiểm toán nội bộ và các thủ tụckiểm soát Việc tìm hiểu hệ thống KSNB có ý nghĩa rất lớn trong việc đánh giárủi ro kiểm soát từ đó xác định các thủ tục kiểm toán nhằm giảm các rủi ro kiểmtoán xuống thấp đến mức có thể chấp nhận được
Qua tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty ABC cho thấy việc tìmhiểu HTKSNB được tiến hành song chưa sâu Tìm hiểu HTKSNB chủ yếu thôngqua phỏng vấn ban GĐ Các tài liệu thu thập được lại rất ít trong hồ sơ kiểm toán,chủ yếu chỉ gồm các bản sao về quy chế quản lý, quy chế hoạt động tài chính, Báocáo tài chính, Biên bản họp Hội đồng Quản trị… Các thông tin thu được đều đượcxếp hết vào một File hồ sơ thường niên, không có sự chắt lọc, phân tích, tổng hợp,điều này sẽ gây cản trở tới các lần kiểm toán tiếp thư khi phải tìm kiếm nhữngthông tin cần thiết, nhất là công việc có thể được giao cho người khác thực hiện.Việc xây dựng một hệ thống các câu hỏi để tìm hiểu HTKSNB đối với các khoảnmục đã được Công ty AASC thiết kế song chưa thực sự hiệu quả Bảng câu hỏiđược lưu trữ trên hồ sơ kiểm toán của mỗi khách hàng nhưng nhiều khi không có
Trang 10dấu hiệu của công tác kiểm tra ( đánh dấu tích) Đối với các khoản dự phòng, doviệc kiểm toán các khoản này là không nhiều nên hệ thống các câu hỏi chưa đượcthiết kế một cách đầy đủ.
Còn đối với việc đánh giá HTKSNB : tại Công ty, trong mỗi cuộc kiểmtoán đều thực hiện công việc này, tuy nhiên mức độ đánh giá chỉ mang tính kháiquát, không chi tiết và thường không lưu lại trên giấy tờ làm việc, việc đánh giáchủ yếu qua sự phán xét của kiểm toán viên
theo Em, để đáp ứng nhu cầu kiểm toán và nâng cao chất lượng, hiệu quảcông tác kiểm toán, trong công việc tìm hiểu và đánh giá HTKSNB sẽ tốt hơnnếu kiểm toán viên mở rộng các kỹ thuật kiểm toán, không chỉ qua phỏng vấnBan Giám đốc khách hàng mà thực hiện điều tra đối với hệ thống kế toán toànCông ty Việc tìm hiểu có thể thực hiện qua việc đưa ra một hệ thống các câu hỏitắt lược Có/ không Sau khi có được thông tin về khách hàng, kiểm toán viên nêntóm tắt lại các thông tin đó dưới Bảng tường thuật hoặc Lưu đồ Như vậy vừa đạtđược sự hiểu biết đầy đủ, vừa làm cơ sở hình thành nên các ý kiến tư vấn chokhách hàng Các tài liệu liên quan đến tình hình kinh doanh, cơ sở pháp lý củakhách hàng nên chắt lọc và sắp xếp cẩn thận trong các File để tiện theo dõi Côngviệc đánh giá HTKSNB nên lưu lại những đánh giá của kiểm toán viên
Đối với các khoản dự phòng, sẽ hiệu quả hơn khi hệ thống câu hỏi đượcthiết lập nhằm tìm hiểu và đánh giá HTKSNB Các câu hỏi có thể là:
Hạch toán các khoản dự phòng có được theo dõi chi tiết theo từng loạikhông
Cơ sở trích lập các khoản dự phòng là gì, có tuân thủ theo các quy địnhhiện hành về trích lập và xử lý các khoản dự phòng không
Giá trị thị trường có được theo dõi để đảm bảo đưa ra các quyết định vềchúng một cách kịp thời không
Các khoản dự phòng có thực sự tồn tại tại ngày 31/12 không
Có mở sổ phụ theo dõi không, có đối chiếu giá trị thị trường với giá trị ghi
sổ vào thời điểm cuối niên độ kế toán không…
3 Việc áp dụng các thủ tục phân tích trong quy trình kiểm toán.
Trang 11Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 520 quy định: “ kiểm toán viên phải
thực hiện quy trình phân tích khi lập kế hoạch kiểm toán và giám đốc, soát xét tổng thể về cuộc kiểm toán Quy trình phân tích cũng được thực hiện ở các giai đoạn khác trong quy trình kiểm toán”.
Tại Công ty AASC, qua kiểm toán đối với Công ty ABC cho thấy, thủ tụcphân tích được áp dụng trong các giai đoạn của cuộc kiểm toán Tuy nhiên, kiểmtoán viên chỉ phân tích ở mức độ cơ bản, đó là so sánh chênh lệch đầu kỳ, cuối kỳcủa các khoản mục trên Báo cáo tài chính để xem những biến động bất thường,đồng thời phân tích một số chỉ suất tài chính để đánh giá tình hình tài chính củadoanh nghiệp Việc phân tích như vậy sẽ cho phép kiểm toán viên có được cáinhìn cụ thể hơn sau khi tìm hiểu về HTKSNB của khách hàng Song sẽ không thểđánh giá chính xác nếu chỉ phân tích một vài biến động như vậy Trường hợpkiểm toán cụ thể đối với từng khoản mục trên Báo cáo tài chính sẽ hiệu quả hơnkhi kiểm toán viên sử dụng quy trình phân tích trong việc đánh giá các tỷ suất liênquan trực tiếp đến khoản mục đấy Ví dụ phân tích tỷ suất dự phòng nợ phải thukhó đòi / tổng các khoản phải thu, tỷ suất dự phòng giảm giá hàng tồn kho/ tổnghàng tồn kho, tỷ suất quay vòng vốn, quay vòng hàng tồn kho… Ngoài ra, mọivấn đề phân tích và đánh giá kiểm toán viên nên trình bày trên giấy tờ làm việc.Thực tế cho thấy khi phân tích kiểm toán viên chỉ đưa ra bảng so sánh mà chưa cóđược những nhận xét tổng quát, hầu như những nhận định kiểm toán viên thuđược chỉ được tổng kết qua trực quan
4 Hoàn thiện kiểm toán chi tiết các khoản dự phòng
Tại Công ty AASC, các thủ tục kiểm toán chi tiết được thiết kế đến từngkhoản mục trên Báo cáo tài chính Các khoản dự phòng cũng được thiết kế theocác khoản mục có liên quan ( khoản mục đầu tư tài chính, phải thu khách hàng,hàng tồn kho ) Việc thiết kế các thủ tục kiểm tra chi tiết nhằm kiểm tra số dư củacác khoản dự phòng trên Báo cáo tài chính tại AASC phần nào đã định hướng chokiểm toán viên những công việc để phát gian lận, sai sót Tuy nhiên, như đã phântích, các khoản dự phòng chỉ là một phần nhỏ khi kiểm toán các khoản mục đầu
tư tài chính, phải thu khách hàng, hàng tồn kho nên các thủ tục kiểm tra chi tiếtchỉ được thiết kế một cách sơ lược Cụ thể như sau:
Đối với dự phòng giảm giá đầu tư tài chính:
Trang 12theo quy định tại Thông tư 107/ 2001/TT-BTC quy định về việc trích lập và
xử lý các khoản dự phòng, các loại chứng khoán giảm giá được trích lập dự phòngbao gồm: các chứng khoán của doanh nghiệp đầu tư theo quy định của pháp luật
và được mua bán trên thị trường chứng khoán Như vậy, dựa vào những quy định
đó kiểm toán viên sẽ tiến hành xem xét cả tính tuân thủ cũng như tính chính xáctrong việc trích lập dự phòng của khách hàng
theo quy trình kiểm toán dự phòng giảm giá đầu tư, đối với các loại chứngkhoán được chấp nhận, thủ tục kiểm toán được thiết kế để kiểm tra chi tiết là đốichiếu giá ghi sổ với giá trên thị trường chứng khoán vào thời điểm khoá sổ kếtoán Công việc này nhằm kiểm tra xem liệu chứng khoán có thực sự bị giảm giáhay không Tuy nhiên, nếu chỉ kiểm tra như vậy kiểm toán viên có thể sẽ bỏ sótnhững chứng khoán có khả năng bị giảm giá nhưng Công ty khách hàng chưa đưavào dự phòng Mặt khác, thủ tục để kiểm tra mệnh giá chứng khoán ghi sổ haykiểm tra tính hiện hữu phát sinh vẫn chưa được thiết kế Điều này cho thấy nếuchỉ kiểm tra giá trên thị trường vào thời điểm 31/12 thì kết luận kiểm toán sẽkhông chính xác theo Em, có thể những công việc này kiểm toán viên đều biết
và thực hiện kiểm toán theo kinh nghiệm của mình nhưng trong quy trình kiểmtoán nên xây dựng chi tiết hơn các thủ tục kiểm tra chi tiết để công việc kiểm toánmang lại hiệu quả cao
Đối với dự phòng nợ phải thu khó đòi:
Thủ tục kiểm tra chi tiết dự phòng nợ phải thu khó đòi được Công y AASCthiết kế một cách phù hợp Trên thực tế khi tiến hành kiểm toán dự phòng nợ phảithu khó đòi cho thấy các công việc được tiến hành theo đúng trình tự kiểm toán.Tuy vậy, trên giấy tờ làm việc của kiểm toán viên còn nhiều phần thu thập chưađược đầy đủ, các nhận xét mới chỉ mang tính chất sơ lược theo em, khi kiểmtoán, các vấn đề phát sinh mà kiểm toán viên phát hiện ra trong quá trình kiểmtoán cần được ghi nhận trên giấy tờ làm việc, các nhận xét sau khi kiểm toán nêntổng hợp lại để tiện theo dõi
Đối với dự phòng giảm giá hàng tồn kho:
Để kiểm tra chi tiết dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tại Công ty AASC,thủ tục kiểm tra bao gồm: kiểm tra chi tiết đơn giá ghi sổ, đơn giá lập dự phòng vàđơn giá trên thị trường vào thời điểm cuối niên độ kế toán
Trang 13Cũng giống như thủ tục kiểm tra đối với dự phòng giảm giá chứng khoán,các thủ tục như vậy cũng chỉ có thể kiểm tra được số dư của cuối kỳ, chưa thực sựchính xác Nó vẫn có thể bỏ sót nghiệp vụ trích lập dự phòng và chưa thể biết cácloại hàng tồn kho doanh nghiệp đã lập có thực sự thuộc quyền quản lý của doanhnghiệp hay không Thực tế khi kiểm toán dự phòng giảm giá hàng tồn kho tạiCông ty ABC cho thấy số liệu trên Bảng kê về các khoản dự phòng được Công tyABC trích lập đều được kiểm toán viên chấp nhận là đã phù hợp, chỉ trừ nhữngloại hàng tồn kho côngn ty đã trích lập mà thiếu chứng từ gốc thì kiểm toán viênmới loại khỏi giá trị dự phòng kiểm toán viên chủ yếu chỉ kiểm tra tính cộng dồnghi sổ, chưa kiểm tra được tính hiện hữu phát sinh, chưa có các thủ tục kiểm toán
để tìm kiếm thêm các koại hàng tồn kho theo quy định cần phải trích lập Mặtkhác, khi kiểm tra giá trị thị trường, do tính đặc thù của mặt hàng Công ty ABCkinh doanh, kiểm toán viên vẫn chưa thể kiểm tra được hết giá của hàng tồn khotrên thị trường vào thời điểm cuối năm, chỉ trừ một số mặt hàng phổ biến kiểmtoán viên mới có được nhận xét, Như vậy rõ ràng chấp nhận với kết quả kiểm toánđưa ra trong còn chứa đựng nhiều sai sót sẽ tạo ra rủi ro lớn cho Công ty kiểmtoán Hơn thế nữa, các thủ tục kiểm toán khoản dự phòng giảm giá hàng tồn khotại Công ty AASC mới chỉ được thiết kế theo quy định hướng dẫn tại Thông tư
107 Việc ra đời của Chuẩn mực kế toán về hàng tồn kho cũng đã có những thayđổi trong việc nhìn nhận khoản dự phòng này
Vì vậy, để nâng cao hiệu quả công tác kiểm toán, phù hợp với quy định hiện hànhCông ty nên xây dựng các thủ tục kiểm tra chi tiết các khoản dự phòng một cáchđầy đủ hơn, khả thi hơn Với trình độ và kinh nghiệm trong ngành Công ty hoàntoàn có thể thực hiện một cách dễ dàng
Trang 14Kết luận
Trải qua một thời gian hoạt động tuy chưa nhiều nhưng Kiểm toán Độc lậptại Việt Nam đã dần khẳng định vai trò của mình trong nền kinh tế Sự nhìn nhậncủa mọi người đối với lĩnh vực kiểm toán đã thay đổi Hoạt động kiểm toán khôngphải đơn thuần là hoạt động kiểm tra kế toán mà nó còn là công cụ quản lý đối vớinền kinh tế vĩ mô Với cách nhìn nhận đó, các doanh nghiệp ngày càng tin tưởngvào hoạt động kiểm toán của Việt Nam Kiểm toán sẽ mang lại cho họ một sự tintưởng vững chắc vào tình hình tài chính doanh nghiệp, từ đó có được những quyếtđịnh đúng đắn
Như vậy có thể nói cùng với những thành công trong ngành kiểm toán nóichung, Công ty AASC cũng đã, đang và sẽ tạo đà vững bước trong tương lai
Được học tập và tìm hiểu thực tiễn trong môi trường kiểm toán tại Công tyDịch vụ Tư vấn Tài chính, Kế toán và Kiểm toán (AASC) là một niềm vinh dựđối với các sinh viên chúng em Với mong muốn tìm hiểu và đóng góp những ýkiến nhỏ bé của mình trong thời gian thực tập tại Công ty, Em đã nghiên cứu vềquá trình kiểm toán Báo cáo tài chính của Công ty và đi sâu nghiên cứu quy trìnhkiểm toán các khoản dự phòng trên Báo cáo tài chính do Công ty AASC thựchiện Có thể nói hiện nay hầu như các doanh nghiệp chưa ý thức được sự cần thiết
Trang 15của việc trích lập dự phòng và Nhà nước cũng chưa có những quy định thống nhấtđối với việc trích lập dự phòng đó, do vậy nhiều khi các Công ty trích lập dựphòng một cách chủ quan, máy móc Còn đối với Công ty kiểm toán do mức độtrích lập dự phòng của các khách hàng là chưa nhiều nên cũng chưa có được mộtquy trình kiểm toán chuẩn, vì thế mà gây khó khăn cho Công ty khi tiến hànhkiểm toán
Nhìn nhận vấn đề dưới góc độ nghiên cứu chuyên đề thực tập tốt nghiệp,với những kiến thức đã học và bằng thực tế thu được trong quá trình thực tập, Em
đã mô tả quy trình kiểm toán các khoản dự phòng trên Báo cáo tài chính tại mộtkhách hàng cụ thể do Công ty AASC thực hiện, qua đó rút ra được những bài họckinh nghiệm khi kiểm toán các khoản dự phòng nói riêng, kiểm toán Báo cáo tàichính nói chung, đồng thời đóng góp một phần nhỏ những nhận xét hy vọng sẽgóp phần vào hoàn thiện quy trình kiểm toán các khoản dự phòng cũng như quytrình kiểm toán chung của Công ty
Trong quá trình thực tập, do trình độ và thời gian có hạn, việc tìm hiểukhách hàng chưa được sâu, những ý kiến của Em chỉ mang tính chất gợi mở chắcchắn còn nhiều thiếu sót Vì vậy Em rất mong sự đóng góp của thầy, cô, của cácanh chị trong Công ty để có được một bài viết hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo Trần MạnhDũng, Ban lãnh đạo Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính, Kế toán và Kiểm toánAASC, các anh chị kiểm toán viên phòng kiểm toán thương mại và dịch vụ đã tạođiều kiện cho Em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này
Hà Nội, tháng 4 năm 2003
Trang 16phụ lục 1 31/12/2001 31/12/2002
-1.372.075.96
8 -45%II.Các khoản đầu tư
TCNH
III.Các khoản phải thu 50.553.444.94
0
45.676.291.273
4.877.153.66
-7 -10%1.Phải thu khách hàng 48.076.862.87
8
43.342.518.637
4.734.344.24
-1 10%2.Trả trước cho người
6.379.133.72
Trang 178 8 2.092.844.22
0II.Các khoản đầu tư
11.358.274.1
53.458.069.523
14.585.142.7
Trang 18Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Nhà máy ABC
1.Doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ 212.183.382.651
Trang 19Bảng cân đối số phát sinh năm 2002 - Toàn Nhà máy
Các khoản dự phòng Tài
Trang 21Phụ lục 3: Bảng kê số dư các tài khoản 31/12 2002 - Toàn Nhà máy.
Tài khoản các khoản dự phòng S
Trang 22Bảng cân đối số phát sinh năm 2002- Chi nhánh 1
Trang 23Giấy tờ làm việc của KTV
Công ty dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán
Khách hàng: Nhà máy TBĐ ABC - Văn phòng
Tại cơ sở Thượng Đình - Dự phòng các loại thép: 147.093.264
- " các loại hạt nhựa: 421.243.700 568.336.964 (2) (1) + (2) = 1.344.076.964
: Đề nghị không trích dự phòng
Theo giá cả thị trường: - Giá sắt đều có xu hướng tăng
- Giá hạt nhựa đều có xu hướng tăng
Note: Khi hạch toán dự phòng giảm giá HTK phải hạch toán vào TK 632, không hạch toán vào TK 642
: Được điều chỉnh theo quyết toán thuế năm 2001 (đơn vị điều chỉnh thẳng trên
TK 421), xem đã cộng vào TK 515 trên Báo cáo kết quả kinh doanh
L/y : Đã đối chiếu với Báo cáo của đơn vị 9 tháng đầu năm
Ag: Đã đối chiếu với BCTC của đơn vị tại thời điểm 31/12/2002