1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truy hồi thông tin theo thực thể có tên

71 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 5,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi đó, các ngữ nghĩa cấp độ ngôn ngữ của các tài liệu được xác định bởi các thực thể có tên NE và các mối quan hệ của chúng.. Các thực thể có tên khác về bản chất và ngữ nghĩa với

Trang 1

Lời cảm ơn

Trước hết, tôi xin gởi lời biết ơn chân thành sâu sắc đến Thầy PGS.TS Cao Hoàng Trụ, người đã tận tình hướng dẫn, định hướng cho tôi từ phương pháp nghiên cứu khoa học đến cách thức trình bày vấn đề Sự tận tình chỉ dẫn của Thầy đã giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này

Xin chân thành cảm ơn NCS Nguyễn Thanh Hiên, ThS Huỳnh Tấn Đạt, KS Hồng

Trung Dũng, các bạn trong lớp cao học MT2005 đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận

văn

Tôi xin gởi lời cảm ơn đến các tác giả của các bài báo mà tôi đã sử dụng để nghiên cứu

và tham khảo trong luận văn tốt nghiệp này

Con xin cảm ơn Ba Mẹ đã động viên, khuyến khích và tạo điều kiện cho con hoàn thành 2 năm học tại trường

Trang 2

Tóm tắt

Xử lý thông tin dựa trên từ khóa chỉ quan tâm đến ngữ nghĩa từ vựng trong tài liệu, do

đó nó quan tâm chủ yếu đến những gì xuất hiện trong tài liệu hơn là ý nghĩa chính của tài liệu Trong khi đó, các ngữ nghĩa cấp độ ngôn ngữ của các tài liệu được xác định bởi các thực thể có tên (NE) và các mối quan hệ của chúng NE và các mối quan hệ của chúng cấu thành nội dung chính của các tài liệu Trong luận văn này, chúng tôi đề xuất một kiến trúc tổng quát cho truy hồi thông tin theo NE Kiến trúc này đáp ứng cho cả 3 đặc điểm của các NE là tên, kiểu và định danh Đặc biệt chúng tôi giới thiệu sự mở rộng của mô hình không gian vectơ dựa trên từ khóa truyền thống (VSM) thành mô hình không gian vectơ dựa trên NE (NE-VSM) Và mở rộng mô hình tương tự ngữ nghĩa dựa trên từ khóa (SSM) thành mô hình tương tự ngữ nghĩa dựa trên NE (NE-SSM) Trong đó các vectơ được định nghĩa cho các không gian trên NE, cụ thể là các tên, các kiểu, các bộ đôi tên-kiểu, các định danh và các bộ ba tên-kiểu-định danh của

NE được thay thế cho từ khóa Chúng tôi đã hiện thực sáu mô hình dựa trên NE thuộc hai nhóm chính là NE-VSM và NE-SMM cho việc tìm kiếm thông tin với các kết quả thực nghiệm

đã được xem xét và thảo luận

Trang 3

Abstract

Keyword-based information processing only deals with the word-level semantics

of texts, hence mainly by what appear in texts rather than what the texts convey Meanwhile, the object-level semantics of texts are determined by named entities (NE) and their relations, which constitute the main and eventual contents of the texts In this paper, we propose a general framework for NE-based information processing, taking into account all the three features of named entities, namely, their names, types, and identifiers In particular, we extend the traditional keyword-based vector space model (VSM) to NE-based vector space model (NE-VSM) And extend keyword-based semantic similarity model (SSM) to NE-based semantic similarity model (NE-SSM) Therein, vectors are defined over spaces of entity names, types, name-type pairs, and identifiers (or name-type-id triples), instead of keywords We have implemented and applied six NE-based models of two main groups which are NE-VSM and NE-SSM to document searching with experimental results presented and discussed

Trang 4

Mục lục

Lời cảm ơn 1

Tóm tắt 2

Abstract 3

Danh mục các hình 6

Danh mục các bảng 7

Chương 1: Phát biểu vấn đề 8

Chương 2: Các lý thuyết được áp dụng 12

2.1 Mô hình truy hồi thông tin theo từ khóa 12

2.2 Hệ thống chú thích ngữ nghĩa của KIM 16

2.3 Các độ đo giữa các chuỗi và giữa các kiểu 21

Chương 3: Các công trình liên quan 26

3.1 Mô hình truy hồi thông tin dựa trên WordNet 26

3.2 Mở rộng vectơ tài liệu bằng khám phá mối quan hệ tiềm ẩn 31

3.3 Mô hình truy hồi thông tin dựa trên Ontology 35

Chương 4: Truy hồi thông tin theo thực thể có tên 37

4.1 Tài liệu được chú thích bởi các thực thể có tên 38

4.2 Kiến trúc của truy hồi thông tin 40

4.3 Độ tương tự giữa các thành phần của thực thể có tên 41

4.4 Mô hình truy hồi dựa trên thực thể có tên tổng quát 43

4.5 Gia tăng sự thể hiện của vectơ tài liệu và vectơ truy vấn 46

4.6 Các mô hình NE-VSM và NE-SSM 48

Chương 5: Hiện thực và các kết quả thực nghiệm 50

5.1 Hiện thực chương trình 50

5.2 So sánh giữa mô hình NE-VSM có mở rộng tài liệu và Google 51

5.3 So sánh giữa các mô hình NE-VSM và các mô hình NE-SSM 56

Trang 5

Chương 6: Kết luận 61

6.1 Các đóng góp của công trình 61

6.2 Hướng mở rộng 62

Phụ lục 1: Giao diện trang web 63

Phụ lục 2: Giới thiệu Lucene 64

7.1 Tổng quan về Lucene 64

7.2 Cấu trúc đánh chỉ mục theo từ khóa của Lucene 64

Tài liệu tham khảo 68

Trang 6

Danh mục các hình

Hình 2-1: Một phần của các cây phân cấp trong ontology 18

Hình 2-2: Ontology và cơ sở tri thức trong KIM 19

Hình 2-3: Lưu đồ rút trích ngữ nghĩa của KIM† ([25]) 20

Hình 2-4: Tổ chức và nhận diện thực thể có tên từ GATE 20

Hình 3-1: Lưu đồ Precision-recall của SSM và VSM† [31] 31

Hình 3-2: Sơ đồ truy hồi thông tin dựa trên ontology † [30] 36

Hình 4-1: Kiến trúc của hệ thống truy hồi trong tin dựa trên NE 41

Hình 5-1: Kiến trúc của đánh chỉ mục theo NE cho tài liệu 50

Hình 5-2: Tìm kiếm theo mô hình VSM_ED cho các kiểu thực thể 53

Hình 5-3: Tìm kiếm theo Google cho các kiểu thực thể 53

Hình 5-4: Tìm kiếm theo mô hình VSM_ED cho các cặp tên và kiểu thực thể 54

Hình 5-5: Tìm kiếm theo Google cho các cặp tên và kiểu thực thể 54

Hình 5-6: Tìm kiếm theo mô hình VSM_ED cho các tên thực thể AND các kiểu thực thể 55

Hình 5-7: Tìm kiếm theo Google cho các tên thực thể AND các kiểu thực thể 56

Hình 5-8: Tìm kiếm theo mô hình VSM_ED cho các kiểu thực thể 57

Hình 5-9: Tìm kiếm theo mô hình SSM_ED cho các kiểu thực thể 57

Hình 5-10: Tìm kiếm theo mô hình VSM_ED&DQ cho các kiểu thực thể 58

Hình 5-11: Tìm kiếm theo mô hình SSM_ED&DQ cho các kiểu thực thể 58

Hình 5-12: Tìm kiếm theo mô hình VSM_ED&EQ cho các tên thực thể AND các kiểu thực thể 59

Hình 5-13: Tìm kiếm theo mô hình SSM_ED&EQ cho cho các tên thực thể AND các kiểu thực thể 60

Hình PL 1: Giao diện trang web: nhập truy vấn 63

Hình PL 2: Giao diện trang web: chọn mô hình tìm kiếm 63

Hình PL 3: Sự tích hợp tiêu biểu một ứng dụng với Lucene† [12] 65

Hình PL 4: Chi tiết cấu trúc bên trong định dạng đánh chỉ mục của Lucene† [12] 66

Trang 7

Danh mục các bảng

Bảng 3-1: Ví dụ của vectơ truy vấn ban đầu 30

Bảng 3-2: Vectơ truy vấn được phân bổ lại trọng số (re-weighting) 30

Bảng 3-3: Vectơ truy vấn được mở rộng (expansion) chỉ đối với tập đồng nghĩa 30

Bảng 5-1: Đánh giá Precision và Recall của Google 51

Trang 8

Chương 1: Phát biểu vấn đề

Như chúng ta đã biết, ngày nay cùng với sự bùng nổ và phát triển nhanh chóng của World Wide Web, Internet lưu trữ mọi tài nguyên thông tin chia sẻ trên toàn cầu Nhu cầu khai thác thông tin trên Internet là rất lớn, theo bản báo cáo đầu năm 2006 của hãng eMarketer 1, hơn 1 tỷ người truy cập Internet tính đến cuối năm 2005 Trong số này tới 845 triệu (xấp xỉ 85%) sử dụng Internet với tần suất thường xuyên Vấn đề đặt ra là làm thể nào để có thể khai thác và sử dụng tài nguyên đó một cách hiệu quả

Dữ liệu được lưu trữ trên Web là bán cấu trúc, đa phần các thông tin này được thể hiện dưới dạng ngôn ngữ tự nhiên, chỉ phù hợp cho con người đọc hiểu, và các hệ thống truy hồi thông tin hiện nay sử dụng từ khóa để liệt kê và truy hồi các tài liệu Trong một ý nghĩa hạn hẹp, một từ khóa là một từ hoặc một nhóm các từ liên quan với nhau Trong dạng tổng quát hơn, một từ khóa là bất kỳ từ nào xuất hiện trong văn bản của một tài liệu trong bộ lưu trữ Rất nhiều ngữ nghĩa trong tài liệu hoặc yêu cầu của người sử dụng bị mất khi chúng ta biểu diễn văn bản của nó thành một tập các từ khóa Hơn nữa, việc so trùng giữa một tài liệu và yêu cầu của người sử dụng được tiếp cận trong không gian rất mơ hồ của từ khóa Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi các tài liệu được truy hồi theo yêu cầu của người sử dụng thông qua một tập các

từ khóa là thường xuyên không liên quan với nhau

Nhu cầu cần khai thác thông tin trên Internet một cách hiệu quả là thực sự chính đáng, nhưng các mô hình truy xuất thông tin theo từ khóa bị hạn chế Nên việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp truy tìm thông tin ngữ nghĩa để máy tính có thể hỗ trợ con người khai thác một cách có hiệu quả hơn nguồn thông tin trên Internet (và các kho tài liệu điện tử khác) là một việc làm mang lại lợi ích to lớn và thiết thực

1http://www.emarketer.com

Trang 9

Ngày nay, Thuật ngữ “thực thể có tên” (name entity) được sử rụng rộng rãi trong các ứng dụng rút trích thông tin, trả lời các câu hỏi, xử lý ngôn ngữ tự nhiên Thực thể có tên được

đề cập đến lần đầu tại Message Understanding Conferences (MUC) những năm 1990 [22] Thực thể có tên là con người, tổ chức, nơi chốn, và những đối tượng khác được tham khảo bằng tên Các thực thể có tên khác về bản chất và ngữ nghĩa với các từ (word) ở chỗ chúng nói

về các cá thể, trong khi các từ nói về những cái chung như khái niệm, phân loại, quan hệ, thuộc tính Việc xử lý các thực thể có tên cần đến trí thức cụ thể về thế giới đang xét còn việc xử lý các từ chỉ đòi hỏi ngữ nghĩa từ vựng và ngữ nghĩa thông thường

Các thực thể có tên được đề cập đến trong tài liệu có một vị trí quan trọng về mặt ngữ nghĩa của tài liệu đó Nên các tài liệu Web có chú thích ngữ nghĩa cho các thực thể có tên sẽ giúp cho việc tìm kiếm và khai thác thông tin trên đó được chính xác và hiệu quả hơn Ví dụ như một truy vấn về thành phố Sài Gòn thì các tài liệu đề cập đến TP.HCM hoặc Sài Gòn như một thành phố sẽ được ưu tiên xếp trên trong danh sách tài liệu trả về, còn các tài liệu chứa các

từ “Sài Gòn” như “Sông Sài Gòn”, “Ngân Hàng Sài Gòn Công Thương” sẽ xếp cuối hoặc không được trả về

Một thực thể có tên được biểu diễn bởi bộ ba [tên, kiểu, id], trong đó id là danh hiệu, là

sự phân biệt các thực thể có tên với nhau Cùng một tên có thể có nhiều id khác nhau, một kiểu

có nhiều tên khác nhau và một tên có thể thuộc nhiều kiểu

Ý tưởng chính của web ngữ nghĩa là nhúng ngữ nghĩa vào trong trang web thô, để chúng có thể được hiểu bởi máy tính và tiện ích hơn trong việc xử lý thông tin một cách thông minh Nói một cách đại khái, ngữ nghĩa của văn bản ngôn ngữ tự nhiên có thể được phân chia thành hai phần, hoặc hai cấp độ Cấp độ đầu tiên là cấp độ từ được xác định bởi âm tiết và ngữ nghĩa của từ Cấp độ thứ hai là cấp độ đối tượng được xác định bởi thực thể có tên và các mối quan hệ của chúng được biểu lộ trong tài liệu

Truy hồi thông tin truyền thống chỉ quan tâm chủ yếu đến các vấn đề ở cấp độ từ, ví như là tập trung vào mô tả sự tương tự và các mối quan hệ giữa các từ bằng cách sử dụng WordNet cho việc truy hồi thông tin hiện nay ([31]) Trong khi đó, trong nhiều trường hợp và phạm vi, các NE và các mối quan hệ của chúng tạo thành ngữ nghĩa chính cho một tài liệu, trong khi các ngữ nghĩa ở cấp độ từ chỉ là một trong các cách thức để định nghĩa các ngữ nghĩa

Trang 10

ở cấp độ đối tượng của một tài liệu Xa hơn, việc rút trích thông tin đầy đủ ở cấp độ đối tượng đang còn là một thách thức lớn Ví dụ trong [15] và [32] điều này chỉ được thực thi ở dạng bán

tự động, sự cố gắng tự động hoàn toàn ở [34] chỉ đạt được độ chính xác khoản 60% và cho lĩnh vực đặc trưng nào đó

Tuy nhiên, vẫn có ý nghĩa cho việc xử lý thông tin ngay cả chỉ có thực thể có tên được nhận diện trong tài liệu Ví dụ như, chúng ta có thể tìm kiếm các trang web nói đến

“Washington” như là một người, trong khi các động cơ tìm kiếm hiện tại chỉ có thể trả về bất

kỳ tài liệu nào chứa từ “Washington”, mặc dù nó có thể là tên của một tạp chí hoặc một trường đại học Sự thật là sự nhận diện NE đã thu hút rất nhiều nỗ lực nghiên cứu Các hệ thống nổi tiếng có thể được kể đến là Semtag ([6]) sử dụng các phương pháp thống kê và KIM ([16]) sử dụng các luật so trùng mẫu

Trong [14], các tác giả đã đề xuất là các khái niệm phải được xác định trong truy vấn trước

khi tìm kiếm, để có thể đạt được các trả lời liên quan Ví dụ, nếu “Washington” có trong một

truy vấn thì phải xác định rõ là nó nói về một người hoặc một trường đại học Tuy nhiên, công việc này chủ yếu là làm tăng thêm dữ liệu để tìm kiếm các kết quả Theo hướng tìm kiếm theo ngữ nghĩa, KIM ([16]) là một hệ thống thông tin và tri thức dựa trên NE đã quản lý một kho dữ liệu các tài liệu được chú thích bởi các NE Tuy nhiên, nó chỉ bổ trợ cho việc tìm kiếm các tài liệu theo các danh hiệu của NE

Trong [30], VSM dựa trên từ khóa truyền thống được mở rộng với các nhãn của thực thể

là các dạng chuỗi thường xuyên nhất của các lần xuất hiện của thực thể Tuy nhiên, nhiều giá trị của một nhãn không được định nghĩa chính thức hoặc cấu trúc có hệ thống Điều này cho thấy có phần nào đó không thực tế và đặc biệt là các bí danh (alias) của thực thể không được quan tâm Trong khi đó, trong sự mở rộng VSM của [10], các mối quan hệ giữa các NE trong các tài liệu được dùng để gia tăng trọng số của các phần tử của vectơ tài liệu, tuy nhiên chúng cũng chỉ sử dụng tên của NE mà thôi

Với sự trái ngược hoàn toàn, trong luận văn này, chúng tôi đề xuất một cơ cấu tổ chức xử

lý thông tin dựa trên thực thể có tên hoàn toàn mới, trong đó NE có thể được thể hiện toàn bộ hoặc từng phần Đó là vì bên cạnh những NE có thể được xác định một cách đầy đủ, một số

Trang 11

NE chỉ có tên hoặc kiểu Với cơ cấu tổ chức này, chúng tôi giới thiệu sáu mô hình thuộc hai nhóm chính là NE-VSM và NE-SSM và ứng dụng của chúng trong việc tìm kiếm các tài liệu

Tùy thuộc vào nhu cầu người dùng là tìm kiếm các tài liệu chứa thuật ngữ trong truy vấn hay các tài liệu có chủ đề liên quan đến thuật ngữ trong truy vấn mà người dùng sử dụng

mô hình tương ứng Với dạng tìm kiếm đầu (là các mô hình VSM_ED, VSM_ED&DQ) người dùng có thể đưa ra một truy vấn như “Tìm các trang web về President Washington” mà không nhận các trang không liên quan, không được mong chờ Ví dụ như các trang nói về Washington Post hoặc University of Washington, do đó độ đo precision được cải thiện Trên một nhánh khác, một truy vấn như “Tìm các trang web về President Washington” có thể nhận được các trang liên quan nhưng chúng không cần thiết phải chứa từ khóa “president”, do đó độ

đo recall cũng được cải thiện Với dạng tìm kiếm theo chủ đề (là các mô hình VSM_ED&EQ, SSM_ED, SSM_ED&DQ, SSM_ED&EQ), người dùng mong muốn tìm kiếm mờ các tài liệu

có liên quan đến truy vấn, do đó các tài liệu có độ liên quan cao sẽ đươc xếp trên các tài liệu liên quan thấp

Trang 12

Chương 2: Các lý thuyết được áp dụng

2.1 Mô hình truy hồi thông tin theo từ khóa

a) Mô hình truy hồi thông tin tổng quát

Một giải thuật phân loại hoạt động theo các tiên đề căn bản về các khái niệm của sự liên quan giữa các tài liệu Sự phân biệt các tập tiên đề mang lại sự phân biệt các mô hình truy hồi thông tin Mô hình truy hồi thông tin hiện thực việc xác định sự tiên đoán về cái gì là liên quan, cái gì không liên quan (khái niệm của sự liên quan được thực hiện bởi hệ thống) [1]

Một mô hình IR [1] là một bộ bốn [ D, Q, F, R(qi, dj)], trong đó:

1) D là một tập hợp tài liệu trong bộ lưu trữ

2) Q là một tập hợp các thông tin cần thiết của người sử dụng, được gọi là các truy vấn

3) F là một cơ cấu tổ chức (framework) cho mô hình gồm các tài liệu, các truy vấn

và các mối liên hệ giữa chúng

4) R(qi, dj) là một hàm phân loại, nó kết hợp một số thực với một truy vấn qi ∈ Q

và một tài liệu dj∈ D Sự phân loại là định nghĩa thứ tự các tài liệu có liên quan đến truy vấn qi

Để xây dựng một mô hình, trước tiên chúng ta phải đề cập đến sự mô tả cho các tài liệu

và cho nhu cầu thông tin của người dùng Để có được các mô tả này chúng ta phải đề ra được

cơ cấu tổ chức, trong đó các mô tả này có thể được mô hình hóa Cơ cấu tổ chức này cũng phải cung cấp được khả năng để xây dựng hàm phân loại Thí dụ, Trong mô hình boolean cổ điển,

cơ cấu tổ chức là bao gồm các tập hợp của các tài liệu và các phép toán chuẩn trên tập hợp đó Trong mô hình xác suất cổ điển, cơ cấu tổ chức là là bao gồm các tập hợp, các phép toán xác

Trang 13

suất chuẩn và lý thuyết Bayes Trong mô hình vectơ cổ điển, cơ cấu tổ chức là bao gồm không gian vectơ t chiều và các phép toán đại số tuyến tính chuẩn trên vectơ

b) Mô hình truy hồi thông tin theo từ khóa

Các mô hình cơ bản trong truy hồi thông tin xem mỗi tài liệu được mô tả bởi một tập hợp các từ khóa Một từ khóa là một từ mà nghĩa của nó giúp cho việc xác định chủ đề của tài liệu Do đó, các từ khóa là các danh từ chính bởi vì danh từ có nghĩa riêng, dễ dàng được xác định và truy vấn Giả sử các ký hiệu được đặt như sau:

• ki là một từ khóa, dj là một tài liệu, và w ij >=0 là một trọng số của cặp (ki, dj) Trọng số này xác định mức độ quan trọng của từ khóa trong việc mô tả nội dụng ngữ nghĩa của tài liệu tương ứng, nếu ki không xuất hiện trong tài liệu dj thì w i,j = 0 Đặt K = {k1, …,

kt} là tập hợp của tất cả các từ khóa, với t là số lượng từ khóa trong tập dữ liệu

• Mỗi tài liệu dj được đại diện bởi vectơ →d =(w1,j , w2,j, …, wt,j) Gọi gi là một hàm trả về trọng số của từ khóa ki trong bất kỳ vectơ t chiều nào (ví dụ, gi(drj

) = wi,j )

c) Mô hình Boolean cổ điển

Trong mô hình Boolean, các biến trọng số của từ khóa là các giá trị nhị phân, ví dụ: w i,j

{0,1} Một truy vấn q là biểu thức boolean truyền thống Gọi là dạng chuẩn tuyển cho truy vấn q và là một dạng chuẩn hội bất kỳ của Độ tương tự của một tài liệu dj với truy vấn q là:

d

sim

q g d g k q

q q if q

d

sim

j

cc i j i i dnf

cc cc j

0),(

,1

),(

j

d

Trang 14

[q=k ak bk c) ] Ưu điểm chính của mô hình boolean là hình thức rõ ràng bên trong mô hình và sự đơn giản của nó Nhược điểm chính là việc so khớp chính xác có thể dẫn đến việc truy hồi được quá ít hoặc quá nhiều tài liệu

d) Mô hình xác suất cổ điển

Với một truy vấn q và một tài liệu dj trong bộ lưu trữ, mô hình xác suất cố gắng ước lượng xác suất mà người dùng sẽ tìm thấy tài liệu quan tâm dj Mô hình này giả sử rằng xác suất của sự liên quan chỉ phụ thuộc vào truy vấn và tài liệu tương ứng Hơn nữa, mô hình còn giả sử rằng có một tập con của tất cả tài liệu mà người dùng xem như là tập các đáp ứng cho truy vấn q, được gọi là tập các trả lời lý tưởng R Các tài liệu có trong tập R là liên quan đến truy vấn, còn các tài liệu không có trong tập R là không liên quan

Trong mô hình xác suất, các trọng số của các từ khóa thuộc kiểu nhị phân, w i,j ∈ {0,1},

w i,q ∈ {0,1} Một truy vấn q là một tập con của các từ khóa Gọi R là tập hợp các tài liệu liên

quan với truy vấn q Gọi R là phủ định của R Gọi P(R| drj

) là xác suất mà tài liệu dj có liên

quan đến truy vấn q và P( R | drj) là xác suất mà tài liệu dj không liên quan đến truy vấn q

( )

j j

d R P

d R P q d

r

=),(

Sử dụng luật Bayes:

( )

)()

,(

R P R d P

R P R d P q d sim

j

j j

R k P R

k P

R k P w

q i

1log1

log

, ,

(BT 2-2)

1+

+

=

V N

n V R k P

i i i

Trang 15

( )

1+

N

n V n R k P

i i i i

n i : số tài liệu chứa từ khóa ki trong bộ lưu trữ

N : tổng số tài liệu trong bộ lưu trữ

V : là số tài liệu được truy hồi và phân loại theo mô hình xác suất

V i : là số tài liệu trong V mà có chứa từ khóa k i

e) Mô hình vectơ cổ điển

Mô hình vectơ cho rằng sự sử dụng các trọng số nhị phân là quá hạn chế và đề xuất một

cơ cấu tổ chức mà trong đó việc so khớp một phần là có thể được Điều này được hiện thực bằng cách gán các trọng số phi nhị phân cho các từ khóa trong truy vấn và trong các tài liệu

Trong mô hình vectơ, trọng số w i,j được kết hợp bới cặp [ki, dj] là số dương và phi nhị

phân Các từ khóa trong truy vấn cũng có trọng số Gọi w i,q là trọng số được kết hợp bởi cặp [ki, q], và wi,q >=0 Vectơ truy vấn (w1,q , w2,q, …, wt,q), Vectơ của một tài liệu thứ j là (w1,j , w2,j, …, wt,j), với t là tổng số từ khóa trong bộ lưu trữ

q d j

j

rr

rrq) ,(dsim j

i j

t

i

q i j

w w

w w

1

2 , 1

2 ,

1

, ,

Gọi N là tổng số tài liệu trong bộ lưu trữ, n i là số tài liệu có từ khóa ki xuất hiện, freq i,j

là tần số thô của từ khóa ki trong tài liệu dj (là số lần từ khóa ki được đề cập trong văn bản của tài liệu dj) Do đó tần số chuẩn hóa f i,j của từ khóa ki trong tài liệu dj được tính bởi:

j l l

j j

i

freq

freq f

,

, ,

max

Trang 16

trong đó hàm max là được tính trên tất cả các từ khóa được đề cập trong văn bản của tài liệu dj Nếu từ khóa ki không xuất hiện trong tài liệu dj thì f i,j = 0

Salton và Buckley [26] đề nghị cách tính các trọng số từ khóa và các trọng số truy vấn như sau:

i j

N f

q l l

q i

freq

freq

,

, q

5.05.0

trong đó freq i,q là tần số thô của từ khóa ki trong truy vấn q

Các ưu điểm chính của mô hình vectơ là:

• Sự sắp xếp theo thứ tự trọng số của từ khóa làm cải tiến truy hồi thông tin

• Chiến lược so khớp một phần cho phép việc truy hồi các tài liệu một cách sắp xỉ với truy vấn

• Công thức phân loại theo cosin sắp xếp các tài liệu theo cấp độ tương đồng của chúng với truy vấn

Nhược điểm chính của mô hình vectơ là giả sử các từ khóa là độc lập lẫn nhau

2.2 Hệ thống chú thích ngữ nghĩa của KIM

a) Ontology và cơ sở tri thức

Theo [13], ontology là một sự mô hình hóa của một khái niệm hóa, được xem như là một mô hình trừu tượng của các hiện tượng trong thế giới thực cùng với việc xác định các khái niệm liên quan của những hiện tượng này Ontology là một hình thức, mô hình hóa một cách rõ ràng các khái niệm hóa có thể chia sẻ được Trong [7] có bổ sung rõ hơn về ontology: một

Trang 17

ontology là một khái niệm hóa được mô tả một cách hình thức, rõ ràng và chia sẻ được Trong đó:

• Khái niệm hóa là một mô hình trừu tượng của các hiện tượng trong thế giới cùng với việc xác định các khái niệm liên quan của những khái niệm này

• Rõ ràng: là các kiểu của khái niệm và các ràng buộc trong việc sử dụng chúng được định nghĩa một cách tường minh

• Hình thức: là cơ sở lập luận trên ontology mà máy có thể hiểu được

• Chia sẽ được: là ontology sẽ đạt được các kiến thức liên ứng được chấp nhận bởi các giao tiếp

Ontology được biểu diễn bởi các ngôn ngữ RDF, RDFS, DAML, OIL, DAML + OIL, OWL Bất kỳ dạng tài liệu nào được biễu diễn bằng các ngôn ngữ trên thì có thể xem như nó là một ontology Ontology được sử dụng trong các lĩnh vực như biểu diễn tri thức, xử lý ngôn ngữ tự nhiên, rút trích thông tin, cở sở dữ liệu, quản lý tri thức, các cơ sở dữ liệu trên mạng, thư viện điện tử, hệ thống thông tin địa lý,

Một số ontology hiện nay:

• Cyc: hệ thống ontology nổi tiếng và phức tạp nhất, được phát triển từ năm 1985

Hệ thống được ví như là một bộ bách khoa toàn thư chứa toàn bộ tri thức của loài người

• WordNet: do George Miller và các đồng nghiệp phát triển Hiện hệ thống có khoảng 166.000 từ và các cặp ngữ nghĩa

• KIMO (Knowledge and Information Management Ontology): KIM của Ontotext Lab, Bulgaria, là một trong những hệ thống chú thích ngữ nghĩa cho các thực thể có tên

Hiện nay, tồn tại hai quan niệm song song: một quan niệm xem cơ sở tri thức (knowledge base) là một phần trong ontology Một quan niệm khác thông dụng hơn thì tách cơ

sở trí thức ra khỏi ontology, KIM là hệ thống đại diện cho quan niệm này Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi xem ontology và cơ sở tri thức là 2 phần riêng biệt Chúng ta có thể xem ontology là một dạng rút gọn của cơ sở tri thức Hay nói cách khác: ontology là cái tồn tại (siêu

Trang 18

kiến thức) còn cơ sở tri thức là những cái gì mà tôi biết (kiến thức cụ thể) Và cả hai thường được lưu trữ trong cùng một bộ lưu trữ ngữ nghĩa

Hình 2-1: Một phần của các cây phân cấp trong ontology

Trong hệ thống KIM, ontology chứa các định nghĩa của lớp thực thể, các thuộc tính và các mối quan hệ Những sự mô tả ngữ nghĩa của các thực thể và những mối quan hệ giữa chúng được giữ trong cơ sở tri thức ([16]) Chúng ta có thể xem phần chính yếu của việc biểu diễn tri thức một cách chính qui về các thực thể có tên là một cơ sở trí thức

Trang 19

Hình 2-2: Ontology và cơ sở tri thức trong KIM

b) Rút trích thông tin ngữ nghĩa

KIM cung cấp các dịch vụ và cấu trúc cho truy hồi, đánh chỉ mục và chú thích ngữ nghĩa Để có thể làm việc này một cách nhất quán, KIM thực hiện việc rút trích thông tin dựa trên một ontology và một cơ sở tri thức đồ sộ

Bản chất của phương pháp rút trích thông tin của KIM là tổ chức các thực thể vào trong KIMO Sự chú thích NE được phân loại vào trong các lớp của ontology Các thực thể được xác định bởi URI, điều này cho phép các chú thích này được liên kết với các thông tin riêng chi tiết trong cơ sở tri thức Sự khó khăn về rút trích thông tin hiện nay của KIM là việc nhận diện các

NE, đặc biệt là rút rích sự kiện, quan hệ, thuộc tính

Tiến trình rút trích thông tin hiện tại của KIM sử dụng ontology quan niệm trọng số để định nghĩa các lớp thực thể Để được thêm vào cây phân cấp, mỗi lớp được ràng buộc với các thuộc tính thích hợp Các kiểu quan hệ cũng được định nghĩa với các ràng buộc về phạm vi,

City

London

type subtypeOf

ABC announced Profits in Q3, planning to build a $300M plant in Vietnam, and more

and more text

Trang 20

lĩnh vực Ngôn ngữ ontology cơ bản (RDFS) xem xét các mối quan hệ và thuộc tính như là các property, chúng cũng có thể được tổ chức trong một cây phân cấp

KIM IE dựa nên nền GATE, thừa kế tính chính xác, tính mở rộng và sự độc lập các nhiệm vụ cho IE và các ứng dụng xử lý ngôn ngữ tự nhiên khác của GATE Ví dụ như các hàm quản lý tài liệu, xử lý token, tách câu,

Hình 2-3: Lưu đồ rút trích ngữ nghĩa của KIM† ([25])

Hình 2-4: Tổ chức và nhận diện thực thể có tên từ GATE

Trang 21

2.3 Các độ đo giữa các chuỗi và giữa các kiểu

a) Các độ đo giữa các chuỗi

Như đã trình bày ở chương 1, tên là một trong ba thành phần của NE và tên được biểu diễn dưới dạng chuỗi Thêm vào đó, một mục tiêu quan trọng của luận văn là truy hồi mờ các tài liệu có liên quan với truy vấn Do đó điều cần thiết là phải tiến hành nghiên cứu độ đo của các công trình nghiên cứu trước đây về khoảng cách ngữ nghĩa giữa các chuỗi Các công trình nghiên cứu này tiếp cận theo hai hướng, gồm hướng tiếp cận dựa trên ký tự và hướng tiếp cận dựa trên token

Ý tưởng của cách tiếp cận dựa trên token (một nhóm các ký tự) là các chuỗi s và chuỗi t cần đo được phân tích thành tập các token tương ứng là S và T Độ đo giống nhau giữa hai chuỗi được xem xét và tính toán dựa trên sự tương tự của các token thuộc hai tập S và T này

Và độ tương tự của 2 token được tính dựa vào độ tương tự giữa các ký tự của chúng Tuy nhiên, các chuỗi mà chúng ta đang xét là tên của NE nên các chuỗi này phần lớn chỉ gồm 1 hoặc 2 token Do đó, chúng tôi đề xuất tính độ đo giữa các tên của các NE là dựa trên độ đo giữa các ký tự

Một lớp quan trọng của độ đo dựa trên ký tự là độ đo dựa trên khoảng cách soạn thảo Trong phương pháp này, khoảng cách giữa hai chuỗi s và t là được tính là chi phí tối thiểu cần thiết cho các thao tác soạn thảo để chuyển từ chuỗi này sang chuỗi kia.Các thao tác soạn thảo bao gồm: sao chép, chèn, thay thế, xóa Tùy theo cách quy định đánh trọng số cho các thao tác soạn thảo khác nhau mà ta có các độ đo khác nhau

Phương pháp Leveinsten là một độ đo khoảng cách soạn thảo đơn giản Trong đó, các thao tác soạn thảo như xóa, chèn, thay thế đều có chi phí bằng 1, thao tác sao chép có chi phí bằng 0 [24] là một sự mở rộng của độ đo Leveinsten bằng cách cho phép định nghĩa các chi phí khác nhau cho thao tác thay thế, chèn, và xóa kí tự

Tại [28] và [9] cũng sử dụng khái niệm khoảng cách soạn thảo trong độ đo của mình Trong đó, các tác giả đưa ra chi phí mới dựa trên việc định nghĩa hai loại chi phí cho thao tác

Trang 22

chèn, bao gồm một chi phí cho việc chèn kí tự đầu tiên của chuỗi và một chi phí khác cho việc chèn các kí tự tiếp theo

Ở [23] đưa ra một kỹ thuật so trùng đệ quy cho hai chuỗi dài s và t bằng cách chia hai chuỗi s và t ra thành các chuỗi con s = a1 aK và t = b1 bL Sau đó, độ đo giống nhau giữa hai chuỗi s và t của Monge-Elkan ([23]) được định nghĩa là:

),('max

1),(

Đặt s’ = a’1 a’K’ là các ký tự có trong s mà chung với t theo thứ tự có trong s, t’ = b’1 b’L’ là các ký tự có trong t mà chung với s theo thứ tự có trong t Ta định nghĩa một sự chuyển đổi vị trí cho s’, t’ là một vị trí i thỏa a’i = b’i Gọi m là tổng số chuyển đổi để cho s’, t’

có các cặp a’i = b’i tối đa

Đặt Ts’,t’ = m/2 Độ tương tự của hai chuỗi s và t của Jaro là:

=

s

T s t

t s

s t

s

3

1),

Winkler [33] đã tiến hành mở rộng độ đo của Jaro bằng cách chỉnh sửa trọng số cho phần tiếp đầu ngữ giống nhau có trong hai chuỗi cần so sánh s và t Đặt P là số ký tự của tiếp đầu ngữ chung dài nhất của s và t Đặt P’ = max(P,4) Ta có độ đo Jaro-Winkler được tính như sau:

Trang 23

(1 ( , ))

10

'),()

,(s t Jaro s t P Jaro s t Winkler

Các độ đo của Jaro và Jaro-Winkler được Cohen ([4]) đánh giá là độ đo tốt cho các chuỗi ngắn như việc so sánh các họ và tên riêng

b) Các độ đo giữa các kiểu (lớp)

Cơ sở tri thức chứa tất cả các NE của công trình được xây dựng dựa trên một ontology tên là KIMO, là mạng phân cấp ngữ nghĩa các kiểu NE Mỗi kiểu NE có thể là một kiểu ý niệm hoặc một kiểu quan hệ Theo [3] độ đo của Jiang và Conrath ([20]) được đánh giá là độ đo tốt nhất trong hướng tiếp cận dựa trên mạng phân cấp ngữ nghĩa Trong đó, lượng tin của một ý niệm của phương pháp Jiang và Conrath được tính thông qua xác suất xuất hiện của từ biểu diễn cho ý niệm đó có trong tập ngữ liệu

Các tác giả trong [29] cũng dựa trên ý tưởng của cách tiếp cận lai ghép của Jiang và Conrath để đo khoảng cách ngữ nghĩa của các kiểu ý niệm và các kiểu quan hệ trong mạng phân cấp KIMO với một biến đổi khác Thay vì tính độ đo khoảng cách ngữ nghĩa giữa hai kiểu thực thể dựa trên xác suất xuất hiện của các nhãn kiểu của nó trong tập ngữ liệu, [29] tính

độ đo khoảng cách ngữ nghĩa của hai kiểu thực thể dựa vào số lượng NE của thuộc hai kiểu này có trong cơ sở tri thức của KIMO

Do bản chất của một từ đại diện cho một kiểu NE xuất hiện trong mạng phân cấp KIMO đóng vai trò chỉ là nhãn đại diện cho lớp ý niệm mà nó mô tả Do đó, chúng ta không thể thực hiện việc tính xác suất xuất hiện của các nhãn kiểu trong một tập ngữ liệu như trong phương pháp của Jiang-Conrath

Mặt khác, do có sự phân cấp cấu trúc trong ontology nên một kiểu NE càng có nhiều thể hiện trong cơ sở tri thức thì xác suất xuất hiện của các kiểu NE đó càng lớn và lượng tin của nó sẽ càng ít Những kiểu NE càng nằm gần gốc thì lượng tin của chúng càng ít do số lượng thể hiện của chúng càng lớn Ngược lại những kiểu NE càng nằm ở các nút lá thì chúng càng chi tiết và lượng tin của chúng càng cao Hay nói cách khác, xác suất xuất hiện của một kiểu NE trong cơ sở tri thức sẽ là một hàm tính theo số lượng thể hiện của kiểu NE đó

Trang 24

Dựa vào những lý lận vừa nêu trên, [29] đã định nghĩa xác suất xuất hiện của một kiểu

ý niệm trong cơ sở tri thức được tính bởi công thức sau:

N c Pop

c) ( )/

Trong đó, Pop(c) là tổng số lượng NE của kiểu ý niệm c và N là tổng số lượng NE trong cơ sở tri thức Tổng số lượng NE của một kiểu ý niệm c trong cơ sở tri thức được tính một cách đệ quy bằng số lượng NE trực tiếp của chính kiểu ý niệm c cộng với số lượng NE của các kiểu ý niệm con của c

Ta xét một ví dụ cụ thể như sau: giả sử ta có một kiểu ý niệm có nhãn là A trong mạng phân cấp ontology có hai kiểu ý niệm con là B và C Tổng số lượng NE của kiểu ý niệm B và

C trong cơ sở tri thức lần lượt là 35 và 50 Số lượng NE trực tiếp có kiểu ý niệm A trong cơ sở trí thức là 15 Khi đó, tổng số lượng NE của kiểu ý niệm A có trong cơ sở tri thức sẽ là Pop(A)

= 15 + 35 + 50 = 100 Do đó, khoảng cách ngữ nghĩa giữa B và A là lượng tin còn lại của B mà không ở trong A và được tính là Dist(B, par(B)) = - log(Pr(B/A)) = - log(

100

35)

Từ độ đo khoảng cách giữa một kiểu ý niệm c với ý niệm cha part(c) của nó trong mạng phân cấp ontology là dist(c,part(c)) = -log

))((

)(

c part Pop

c Pop

, chúng ta nhận thấy rằng trong cách tính độ đo khoảng cách dựa trên số lượng NE, một kiểu ý niệm c sẽ càng giống với kiếu ý niệm cha nó nếu tổng số lượng NE của ý niệm c càng lớn và gần bằng với số lượng NE của ý niệm cha của nó là part(c) Điều này cũng tương tự như trong thế giới thực, nếu thế giới này có rất nhiều con chim sẻ và có rất ít những con chim khác, thì chúng ta có khái niệm “con chim sẻ”

sẽ giống với khái niệm “con chim” nhiều hơn so với những khái niệm con chim khác Ngược lại, nếu thế giới này có rất ít con chim sẻ và có rất nhiều con chim khác, thì chúng ta sẽ có khái niệm “con chim sẻ” sẽ ít giống với khái niệm “con chim” hơn so với những khái niệm con chim khác

Cũng dựa trên ý tưởng trên, do bản thân các từ đại diện cho các kiểu ý niệm chỉ là nhãn không có nghĩa, nên độ đo được tính dựa trên số lượng thực thể của kiểu ý niệm có trong cơ sở

Trang 25

tri thức như là một giải pháp Điều đó có ý nghĩa là, nếu số lượng thực thể của tri thức thay đổi thì độ đo giữa các kiểu ý niệm cũng thay đổi

Áp dụng công thức tính xác suất xuất hiện của một kiểu ý niệm theo số lượng thực thể

có trong cơ sở tri thức ở biểu thức 2-10 vào công thức tính khoảng cách ngữ nghĩa giữa 2 ý niệm của Jiang và Conrath [20]:

))Pr(

log)Pr(

(log)),(Pr(

log2),

Các tác giả trong [29] đề nghị công thức tính khoảng cách ngữ nghĩa giữa 2 kiểu ý niệm

c1 và c2 trong ontology (sau khi đã rút gọn) như sau:

))(log)((log)),((log2)

,

Trong đó, LCS(c1,c2) là kiểu NE thấp nhất giữa 2 kiểu NE c1 và c2

Độ đo khoảng cách ngữ nghĩa giữa hai kiểu ý niệm càng nhỏ thì độ giống nhau giữa chúng càng lớn và ngược lại Độ đo tương tự về ngữ nghĩa giữ hai kiểu ý niệm để bảo đảm tỉ lệ thuộc khoảng [0, 1] được tính như sau:

),(1

1)

,(

2 1 2

1

c c dist c

c sim T D

+

=

Ngoài phương pháp của Trụ và Đạt đề xuất, Maedche ([21]) đã đưa ra một cách tính là

độ tương tự giữa hai khái niệm phụ thuộc vào số khái niệm UperwadConcept của chúng giống nhau:

)()(

)()(),(

2 1

2 1

2 1

c UC c

UC

c UC c

UC c

c sim M

Trang 26

Chương 3: Các công trình liên quan

3.1 Mô hình truy hồi thông tin dựa trên WordNet

a) Tổng quan về WordNet

WordNet 2 là một hệ thống tham khảo on-line, được phát triển bởi Cognitive Science Laboratory tại Princeton University WordNet chứa khoảng 100.000 nghĩa các từ, được tổ chức trong một hệ phân loại Nó có thể được xem như là một ontology thuộc về ngôn ngữ và từ vựng, nó cố gắng mô hình hóa kiến thức ngôn ngữ của một người nói tiếng Anh bản xứ vào trong một hệ thống cấp bậc phân loại

Các từ khóa của WordNet được tổ chức vào trong các tập có quan hệ về nghĩa (danh sách các từ đồng nghĩa, các khái niệm đồng nghĩa,…), các tập có quan hệ về nghĩa này được tổ chức một cách tri thức (ví dụ như những mục từ giống nhau nhưng có thể có các nghĩa khác nhau), có những bộ phân loại khác nhau tương ứng cho các danh từ, động từ, trạng từ Mỗi từ khóa có quan hệ với các từ khóa khác trong hệ thống cấp bậc bởi các kiểu quan hệ khác nhau, các mối quan hệ phổ biến nhất là:

• Quan hệ đồng nghĩa: là sự tương đồng về nghĩa của các từ, nghĩa của các từ này được sử dụng để xây dựng các khái niệm Các khái niệm này được thể hiện bởi tập của các từ, được gọi là tập đồng nghĩa (synset)

• Quan hệ trái nghĩa: là tập phản nghĩa của các từ, được sử dụng chủ yếu cho việc tổ chức các tính từ và trạng từ

• Quan hệ cha con: là mối quan hệ “is-a” giữa các khái niệm Hệ thống cấp bậc “is-a” này đảm bảo sự thừa kế các thuộc tính từ các khái niệm bao quát (cha) đến các khái niệm cụ thể (con)

Trang 27

• Quan hệ một phần: là mối quan hệ “part-of” giữa các khái niệm

• Quan hệ hình thái học: là các mối quan hệ thuộc về hình thái học, được sử dụng để thu giảm các hình thức của từ

b) Mô hình truy hồi thông tin trên WordNet

Vì như đã trình bày ở trên, WordNet được xem như là một ontology thuộc về ngôn ngữ

và từ vựng Do đó các từ khóa trong việc thể hiện một truy vấn và tài liệu không còn được xem như là độc lập với nhau mà chúng được quan hệ với nhau bởi sự tương đồng về ngữ nghĩa của chúng Với ý tưởng trên, [31] đã đề xuất một mô hình mới là mô hình tương tự ngữ nghĩa (semantic similarity model – SSM) nhằm tạo ra một kết quả truy hồi tốt hơn

SSM thể hiện truy vấn và tài liệu dưới dạng vectơ, vectơ truy vấn là (w1,q , w2,q,

…, wt,q), vectơ của một tài liệu thứ j là (w1,j , w2,j, …, wt,j) với t là tổng số từ khóa trong

Trong truy vấn, có từ quan hệ ngữ nghĩa với các từ khác, có từ khác độc lập với các từ còn lại Sự phân bổ lại trọng số sẽ làm gia tăng trọng số của các từ có ngữ nghĩa tương đồng với nhau

),(w

) , ( j,q ,

t t t t t sim q i q

j i

•+

Ta có thể hiểu công dụng của bước này là cố gắng nhấn mạnh vào một vùng quan tâm đặc biệt của truy vấn bằng cách tìm các từ khóa có độ tương đồng ngữ nghĩa với nhau trong truy vấn Bước đầu, các từ khóa trong vectơ truy vấn được tính trọng số Trong phạm vi những

từ khóa đầu tiên này, những từ khóa nào có liên quan ngữ nghĩa với nhau sẽ được tăng trọng

Trang 28

số, các từ khóa không liên quan với bất kỳ các từ khóa nào trong truy vấn sẽ được giữ nguyên trọng số Ví dụ: với truy vấn “railway train metro cat spoon” thì hệ thống sẽ tăng trọng số cho các từ khóa “railway”, “train”, “metro” vì chúng có liên quan với nhau về ngữ nghĩa Trọng số của các từ khóa “cat”, “spoon” thì không thay đổi vì chúng có không liên quan với các từ khóa khác trong truy vấn

Truy vấn có thể được mở rộng bằng cách sử dụng ontology (trong trường hợp chúng ta

là WordNet), vì các từ khóa có quan hệ gần với các từ khóa của truy vấn trong bộ phân loại là rất hữu ích và có thể được sử dụng để truy hồi các thông tin liên quan đến truy vấn Đặt r là một từ khóa trong vectơ ban đầu, s là một từ khóa mới, và wr, ws là các trọng số tương ứng của

r, s trong vectơ truy vấn Việc mở rộng truy vấn được tiến hành trong hai bước:

• Bước 1: Mở rộng vectơ ban đầu bằng tập đồng nghĩa Nếu s là đồng nghĩa của r thì:

) ' , ( ' sim s r w

w

t r sim r

Trong đó s có quan hệ cha con với r’, với r’ là từ khóa trong vectơ đã được mở rộng ở bước 1

Việc phân bổ lại trọng số và mở rộng truy vấn chỉ được thực hiện cho các từ khóa có độ

quan hệ ngữ nghĩa với các từ khóa truy vấn >= t Nếu t = 1 thì việc phân bổ lại trọng số và mở rộng truy vấn chỉ được thực hiện với các tập đồng nghĩa Nếu chọn t nhỏ thì chúng ta sẽ đối

mặt với vấn đề là tài liệu truy hồi được sẽ không tập trung vào chủ đề mô tả ban đầu Ví dụ: người dùng muốn tìm kiếm “car” và chúng ta mở rộng truy vấn với các từ khóa có quan hệ ngữ nghĩa >= 0.5 với “car” thì truy vấn mở rộng sẽ chứa các từ như “bike, motorbike, vehicle,…” Mặc dù chúng có quan hệ ngữ nghĩa với “car” nhưng chúng ngụ ý một chủ đề khác

Việc phân bổ lại trọng số và mở rộng từ khóa là nhanh đối với truy vấn (vì truy vấn ngắn, trong hầu hết trường hợp chỉ có một vài từ khóa) nhưng không thể áp dụng cách này cho vectơ tài liệu vì chúng có nhiều từ khóa Do đó độ tương tự giữa vectơ truy vấn được phân bổ

Trang 29

lại trọng số và mở rộng với vectơ tài liệu không được phân bổ lại trọng số và mở rộng được tính như sau:

k l

l k l k

w w

t t sim w w d

q SMM

),()

Trong quá trình thử nghiệm [31] nhận xét là SSM (với t = 0.9) cho kết quả tốt hơn VSM (có sử dụng phân bổ lại trọng số và mở rộng truy vấn với t = 0.9) Với precision tăng 30% và recall tăng 20%

Hạn chế:

WordNet tuy có sử dụng các tập quan hệ về ngữ nghĩa nhưng thành phần chính của mô hình vẫn là từ khóa mà từ khóa, như ta đã phân tích, thì không thể hiện rõ nghĩa của tài liệu

Trang 30

Query Weights cat

cougar lion

wcat

wcougar

wlion

Bảng 3-1: Ví dụ của vectơ truy vấn ban đầu

Re-weighted Query Weights

cat cougar lion

wcat + 1.12

wcougar + 0.91

wlion + 0.68

Bảng 3-2: Vectơ truy vấn được phân bổ lại trọng số (re-weighting)

cat true cat cougar puma catamount mountain lion painter panther felis concolor lion king of beasts panthera leo

Trang 31

Hình 3-1: Lưu đồ Precision-recall của SSM và VSM† [31]

3.2 Mở rộng vectơ tài liệu bằng khám phá mối quan hệ tiềm ẩn

Trong tập ngữ liệu về văn bản, như là các trang web trên một website hoặc blog của một nhóm người nào đó, các thực thể có tên (NE), các từ khóa thường xuất hiện cùng nhau trong cùng một tài liệu Ta nói các thực thể có tên (hoặc các từ khóa) này có mối quan hệ đồng xuất hiện.Ví dụ như một tài liệu A đề cập đến Vương làm việc về W3C ở một câu, và một tài liệu B đề cập đến Miller làm việc về W3C trên một đoạn Dó đó Vương có quan hệ đồng xuất hiện với W3C và Miller cũng có quan hệ đồng xuất hiện với W3C

Với một tài liệu cho trước, có một số NE (hoặc từ khóa) xuất hiện trong tài liệu, tuy nhiên có một số NE (hoặc từ khóa) có quan hệ với các NE (hoặc từ khóa) gốc này có thể không cần xuất hiện trong tài liệu Ví dụ Vương và Miller cùng làm việc về W3C nhưng tài liệu B chỉ

đề cập đến Miller làm việc về W3C Do đó, Goncalves [10] đề xuất việc làm tăng sự mô tả nội dung của một tài liệu bằng cách thêm các NE và từ khóa không xuất hiện trong tài liệu nhưng

Trang 32

có mối quan hệ đồng xuất hiện với các NE và từ khóa đã tồn tại trong tài liệu Bằng việc làm như vậy, chúng ta có thể bổ sung thêm các sự kiện bị bỏ lỡ nhưng rất liên quan đến tài liệu ví

dụ Miller và Vương đều làm việc về W3C, chúng ta có thể thêm Vương vào tài liệu chỉ đề cập đến Miller làm việc về W3C

Mối quan hệ đồng xuất hiện được đo bằng độ mạnh quan hệ (relation strength), có nhiều phương pháp tính độ mạnh quan hệ như Phi-squared, MI, VMI, Z score [10] và LRD (Latent Relation Discovery) [35] Goncalves đề xuất dùng phương pháp LRD để tính độ mạnh quan hệ, để mở rộng mở rộng vectơ tài liệu trong VSM nhằm cải tiến việc truy hồi thông tin

a) Khám phá mối quan hệ tiềm ẩn

LRD xác định độ mạnh quan hệ của các NE (hoặc các từ khóa) với các NE (hoặc các từ khóa) ban đầu (gốc) dựa trên tần số đồng xuất hiện, khoảng cách và tần số xuất hiện trong tài liệu của chúng

ƒ Tần số đồng xuất hiện: hai NE (hoặc 2 từ khóa) được xem như là đồng xuất hiện

nếu chúng xuất hiện trong cùng một mẫu văn bản, mẫu này có thể là một tài liệu hoặc

là một cửa sổ văn bản (một cửa sổ văn bản có thể là một câu, một đoạn hoặc một trang) Đặt E1, E2 là hai NE (hoặc 2 từ khóa), tần số đồng xuất hiện giữa E1 và E2được định nghĩa như sau:

N

E E Num E

ƒ Khoảng cách giữa hai NE (hoặc hai từ khóa): hai NE (hoặc hai từ khóa) có khuynh

hướng có quan hệ gần nhau nếu chúng xuất hiện gần với nhau trong cùng một tài liệu

• Nếu E1 và E2 chỉ xuất hiện trong một tài liệu thì khoảng cách giữa E1 và E2

là số lượng câu giữa E1 và E2

Trang 33

• Nếu E1 chỉ xuất hiện một lần và E2 xuất hiện nhiều lần trong một tài liệu thì khoảng cách giữa E1 và E2 là khoảng cách giữa E1 và E2 xuất hiện gần E1nhất

• Nếu E1 và E2 xuất hiện nhiều lần trong một tài liệu và E1 được xem là NE (hoặc từ khóa) đích thì khoảng cách giữa E1 và E2 được tính như sau:

)(

),min(

),(

1

) ( 1

2 1 2

1

1

E f

E E E

E m

i

E f

j

j i

),(),(E1 E2 m E2 E1

E E m

E tfidf E

tfidf E

E p E E R

),(

)()

()

,(),(

2 1

2 1

2 1 2

Trong đó tfidf i (j) giống như cách tính w ij ở biểu thức 2-5

ƒ Mở rộng vectơ tài liệu: dựa vào độ mạnh quan hệ giữa hai NE (hoặc hai từ khóa),

vectơ tài liệu được mở rộng để tài liệu được thêm các thông tin liên quan đến tài liệu

(

d E num

i

i i

new new

new

E w E E R E

Trong đó:

• Ei là NE (hoặc từ khóa) ban đầu của tài liệu

• Enew là NE (hoặc từ khóa) cần thêm vào tài liệu

Trang 34

• num(Enew, d) là tổng số NE (hoặc từ khóa) ban đầu của vectơ tài liệu d có

Enew nằm trong n NE (hoặc từ khóa) có quan hệ mạnh nhất của nó

Cách tính độ tương tự giữa vectơ tài liệu được mở rộng và vectơ truy vấn vẫn theo phương pháp cosin của VSM truyền thống

b) Thành tựu và hạn chế của công trình

Thành tựu

Bằng cách mở rộng vectơ tài liệu và áp dụng các phương pháp tính độ mạnh quan hệ khác nhau, Goncalves [10] tiến hành xác minh ưu điểm của phương pháp LRD Goncalves đã

so sánh các phương pháp LRD, Phi-squared, MI, VMI và Z score để tìm các NE (hoặc từ khóa)

có quan hệ gần với các NE (hoặc từ khóa) gốc trong vectơ tài liệu Với mỗi phương pháp, vectơ tài liệu gốc được mở rộng sử dụng các cửa sổ văn bản khác nhau (hai NE hoặc hai từ khóa được coi là đồng xuất hiện nếu chúng ở cùng một cửa sổ văn bản) và nhân tố n

Độ đo trung bình

R P

R P F

đo F tốt thứ 2 là LSI với F cao nhất là 16,6% với không có cửa sổ và n = 30

Trang 35

• Nên ứng dụng tập tương tự ngữ nghĩa của các từ khóa trong WordNet để việc truy hồi thông tin được tốt hơn

• Vì các NE, các từ khóa không độc lập lẫn nhau nên việc dùng phương pháp cosin của VSM không còn phù hợp

3.3 Mô hình truy hồi thông tin dựa trên Ontology

a) Xử lý truy vấn và giải thuật phân loại

Hệ thống [30] nhận đầu vào là các truy vấn dạng RDQL chuẩn, truy vấn này cũng có thể được tạo từ một truy vấn theo từ khóa, hoặc truy vấn theo ngôn ngữ tự nhiên Người sử dụng phải chọn lớp, các giá trị thuộc tính cho truy vấn theo từ khóa hoặc truy vấn theo ngôn ngữ tự nhiên này Truy vấn RDQL được thực hiện dựa vào cơ sở tri thức, bằng cách cơ sở tri thức sẽ trả về một danh sách các bộ cá thể thỏa mãn truy vấn Cuối cùng các tài liệu chứa các

cá thể này được truy hồi và sắp xếp

Truy vấn RDQL có thể diễn tả các điều kiện như lớp của các cá thể trong ontology, các thuộc tính của chúng (như là tác giả, ngày, nhà xuất bản,…) Tương tự như mô hình VSM dựa trên từ khóa cổ điển, trong mô hình này, các biến trong mệnh đề SELECT của truy vấn RDQL

cũng được đánh trọng số theo dạng tfidf

Gọi O = { }I i i M=1 là tập hợp các cá thể trong ontology, { }N

i i

D =1 là tập hợp của các tài liệu trong không gian tìm kiếm Đặt (v1,…,vk) là các trọng số của các biến trong mệnh đề SELECT của truy vấn Q dạng RDQL, và T = { }n

i i

T =1 là danh sách các bộ trong tập kết quả truy vấn, trong đó Ti = { , Ti,j ∈ O Nghĩa là Ti,j là một cá thể trong ontology thuộc tập Ti có trọng

số là vj

}k j j

T, =1

Ngày đăng: 11/02/2021, 23:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Baeza-Yates, R., Ribeiro-Neto, B. 1999. Modern information retrieval. ACM Press, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Modern information retrieval
[2]. Bilenko M., Mooney R., Cohen W., Ravikumar P., and Fienberg S. 2003. Adaptive Name Matching in Information Integration. IEEE Intelligent system, vol. 18, No. 5, pp.16-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adaptive Name Matching in Information Integration
[3]. Bundanitsky A. and Hirst G. 2001. Semantic Distance in WordNet: An Experimental, Application-Oriented Evaluation of Five Measures. Proceedings of the Workshop on WordNet and Other Lexical Resources. the 2 nd Meeting of the North American Chapter of the Association rof Computational Linguistics, Pennsylvania, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Semantic Distance in WordNet: An Experimental, Application-Oriented Evaluation of Five Measures
[4]. Cohen, W. W., Ranvikuma, P., Feinberg S. E. 2003. A Comparision of String Distance Metrics for Name-Matching Tasks. Proceeding of IJCAI-2003 Workshop on Information Integration on the Web Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Comparision of String Distance Metrics for Name-Matching Tasks
[5]. Cunningham H. 2004. Covers the Origins of Information Extraction and the Factors Relevant of Its Deployment. Preprint Submitted to Elsevier Science 18 th November 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Covers the Origins of Information Extraction and the Factors Relevant of Its Deployment
[6]. Dill, S. et al.: SemTag and Seeker: Bootstrapping the Semantic Web via Automated Semantic Annotation. In: Proceedings of the 12th International Conference on the World Wide Web (2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bootstrapping the Semantic Web via Automated Semantic Annotation
[7]. Fensel D., Harmelen V. F., Horrocks I. 2001. OIL: An Ontology Infrastructure for the Semantic Web. IEEE Intelligent system, Vol.16, No.2, pp. 38-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: OIL: An Ontology Infrastructure for the Semantic Web
[9]. Goto, O. 1981. An Improved Algorithm for Matching Bological Sequences. Journal of Molecular Biology, vol. 162, pp. 705-708 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Improved Algorithm for Matching Bological Sequences
[10]. Goncalves, A., Zhu, J., Song, D., Uren, V., Pacheco, R. 2006. Latent Relation Dicovery for Vector Space Expansion and Information Retrieval. In: Proceedings of the 7th International Conference on Web-Age Information Management Sách, tạp chí
Tiêu đề: Latent Relation Dicovery for Vector Space Expansion and Information Retrieval
[11]. Gospodnetic, O. 2003. Parsing, Indexing, and Searching XML with Digester and Lucene. Journal of IBM DeveloperWorks Sách, tạp chí
Tiêu đề: Parsing, Indexing, and Searching XML with Digester and Lucene
[13]. Gruber, T. R. 1993. Toward principles for the design of ontologies used for knowledge sharing. Originally in N. Guarino & R. Poli, (Eds.), International Workshop on Formal Ontology, Padova, Italy. Revised August 1993. Published in International Journal of Human-Computer Studies Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toward principles for the design of ontologies used for knowledge sharing
[14]. Guha, R., McCool, R., Miller, E. 2003. Semantic search. In: Proceedings of the 12 th International Conference on World Wide Web (2003) 700-709 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Semantic search
[15]. Handschuh, S., Staab, S., Ciravegna, F.: S-CREAM: Semi-Automatic CREAtion of Metadata. In: Proceedings of the 13th International Conference on Knowledge Engineering and Management (2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: S-CREAM: Semi-Automatic CREAtion of Metadata
[16]. Kiryakov, A., Popov, B., Terziev, I., Manov, D., Ognyanoff, D. 2005. Semantic Annotation, Indexing, and Retrieval. In Elsevier's Journal of Web Semantics, Vol. 2, Issue (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Semantic Annotation, Indexing, and Retrieval
[17]. Jaccard. 1912. The Distribution of the Flora of the Alpine Zone. New Phytologist vol. 11, pp. 37-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Distribution of the Flora of the Alpine Zone
[18]. Jaro, M. A. 1989. Advances in Record-linkage Methodology as applied to the 1985 Census of Tampa, Florida. Journal of the American Statistical Society, vol. 84, no. 406, pp. 414-420 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Advances in Record-linkage Methodology as applied to the 1985 Census of Tampa, Florida
[19]. Jaro, M. A. 1995. Probabilistic Linkage of Large Public Health Data File. Statistics in Medicine, vol. 14, pp. 491-498, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Probabilistic Linkage of Large Public Health Data File
[20]. Jiang J., Conrath D.W. 1997. Semantic Similarity based on Corpus Statistics and Lexical Taxonomy. Proceeding of the International Conference on Research in Computational Linguistics, Taiwan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Semantic Similarity based on Corpus Statistics and Lexical Taxonomy
[21]. Maedche, A., Zacharias, V. 2002. Clustering Ontology-based Metadata in the Semantic Web. Proceeding of the 6 th European Conference on Principle of Data Mining and Knowledge Discovery Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clustering Ontology-based Metadata in the Semantic Web
[22]. Marsh, E., Perzanowski, D. 1998. MUC-7 Evaluation of IE Technology: Overview of Results. Proceeding of the Seventh Message Understanding Conference (MUC-7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: MUC-7 Evaluation of IE Technology: Overview of Results

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm