Trong phạm vi nghiên cứu này, học viên cố gắng ứng dụng phương pháp toán học sai phân ngẫu nhiên với một thông số nhỏ ε để xác định các hiện tượng xảy ra trong quá trình dao động liên qu
Trang 1MỞ ĐẦU
WX Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngày nay, nhiều loại máy móc
cực kỳ hiện đại đã ra đời như rôbốt người, máy gia công nano, máy gia công
vật liệu bột, Tuy nhiên, khi chế tạo các máy móc này, có một vấn đề mà
các nhà chế tạo không thể bỏ qua Đó là sự ma sát giữa các cơ cấu chuyển
động vì yếu tố này là một trong nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự chính xác
hoạt động máy Vì vậy, khảo sát ma sát và phân tích ma sát là một vấn đề
luôn được chú trọng bởi vì ma sát luôn được xem là vấn đề mở, các tính chất
của nó vẫn chưa làm sáng tỏ mặc dù chúng ta đã biết nhiều về nó
Để khảo sát ma sát, chúng ta có hai hệ để khảo sát: hệ tuyến tính và
hệ phi tuyến Các phương pháp khảo sát cho hai hệ này rất khác nhau Đa số
các khảo sát là hướng vào hệ tuyến tính vì vấn đề sẽ trở nên dễ dàng hơn
khi đã loại bỏ các yếu tố nhiễu, chỉ tập trung vào yếu tố chính Phương pháp
khảo sát tuyến tính liên quan đến nguyên lý xếp chồng với các biến số và
hằng số trong phương trình có thể tách ra trực tiếp, như là
(a u t a u t ) a T(u ( )t ) a T(u ( )t )
tuyến tính và hệ phi tuyến là ta không thể ứng dụng nguyên lý xếp chồng
này để phân tích hệ Chính vì thế, những kết quả lý thuyết rất đẹp của hệ
tuyến tính hầu như không thể phân tích và tổng hợp hệ phi tuyến
Hiện nay, với sự phát triển của ngành toán học, nhiều phương pháp
giải phương trình liên quan đến hệ phi tuyến ra đời như phương pháp đại số
điều khiển Lie, phương pháp toán học sai phân ngẫu nhiên với một thông số
nhỏ ε, đồng thời với các phương pháp cổ điển như phương pháp mặt phẳng
pha, tính ổn định Lyapunov trực tiếp, tính ổn định tuyệt đối Popov, giúp
cho việc phân tích tổng hợp hệ phi tuyến được thuận lợi hơn
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 2Vì vậy, việc ứng dụng các phương pháp này vào phân tích các phương
trình cơ học có tính phi tuyến rất cần thiết để tìm hiểu rõ hơn các quá trình
xảy ra khi cơ hệ hoạt động
Trong phạm vi nghiên cứu này, học viên cố gắng ứng dụng phương
pháp toán học sai phân ngẫu nhiên với một thông số nhỏ ε để xác định các
hiện tượng xảy ra trong quá trình dao động liên quan đến ma sát với các mô
hình ma sát phi tuyến trên cơ hệ đai – lò xo – khối lượng
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 3CHƯƠNG 1
KHẢO SÁT VỀ NGHIÊN CỨU MA SÁT TRONG DAO ĐỘNG
1.1 Tổng quan các nghiên cứu về ma sát:
Hiện tượng ma sát xuất hiện ở tất cả các máy và các kết cấu cơ khí,
gây ra bởi các chuyển động tương đối của các chi tiết với nhau Nghiên cứu
về ma sát và các hiện tượng xảy ra trong quá trình ma sát là một lĩnh vực
nghiên cứu được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới chú trọng Các nghiên
cứu tập trung vào tìm hiểu tính chất ma sát và ảnh hưởng của ma sát đối với
hoạt động của máy, từ đó đề ra các phương hướng ứng dụng tính chất có ích
của ma sát và hạn chế tính có hại của nó Với một nghiên cứu mới về ma
sát, việc tìm hiểu các nghiên cứu đã được thực hiện và đề ra hướng nghiên
cứu mới là rất cần thiết Sau đây là tổng quan về các nghiên cứu trong
những năm gần đây:
• Với nghiên cứu [1] của H.K.Hong và C.S.Liu, nghiên cứu về phương
trình cho dao động không dính với ma sát Coulomb dưới tác dụng của lực
điều hòa Cơ hệ khảo sát ở đây là lò xo – khối lượng chuyển động trên một
bề mặt tĩnh Các tác giả đã giới thiệu một phương pháp mới tính toán chu kỳ
chuyển động không dính trên cơ sở thời gian chuyển động theo đồ thị mối
liên quan giữa vận tốc và khoảng dịch chuyển Các tác giả đã tính được
khoảng dịch chuyển lớn nhất, thời gian cần để đạt khoảng dịch chuyển lớn
nhất, vận tốc lớn nhất, biên độ lực tác động nhỏ nhất để tránh hiện tượng
dính, năng lượng mất đi do ma sát
Hình 1.1 Hệ dao động của [1] với ma sát Coulomb (k: độ cứng lò xo,
F(t): lực tác động, µ: hệ số ma sát Coulomb)
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 4
Hình 1.2 Dạng đáp ứng dao động không dính ở trạng thái bình ổn của
[1] (với ∆i : biên độ, V i : giá trị vận tốc tại các thời điểm t i )
Hình 1.3 Biên độ lực tác động tối thiểu để ngăn dao động dính của [1]
(vùng gạch đậm là vùng dao động trượt, vùng trắng là vùng dao động dính,
đường cong đậm biểu diễn cho biên giới giữa dao động dính và dao động
trượt)
Trục hoành: Ω là tỉ số biên độ giữa vận tốc góc riêng của hệ ωn /vận tốc
góc của lực tác động ωd Trục tung bên trái: 1/α là nghịch đảo của giá trị
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 5biên độ lực tác động/lực ma sát Trục tung bên phải: r y /(k.u) là giá trị của lực
ma sát/(độ cứng lò xo x khoảng dịch chuyển của đế – trường hợp khi đế gắn
lò xo dao động điều hoà)
Hình 1.3 cho thấy tỉ số Ω tăng dần (hay ωd >a ω n), dao động trượt của
cơ hệ xảy ra tỉ lệ với tỉ số này, đạt trạng thái đỉnh khi Ω ≈ 0,9, 1/α ≈ 0,8,
r y /(k.u) ≈ 0,8 hay ωn ≈ 0,9ωd , r y≈ 0,8p 0 (giá trị vận tốc gốc của cơ hệ gần đạt
90% giá trị vận tốc góc của lực tác động, giá trị lực ma sát đạt gần 80% giá
trị biên độ lực tác động)
• Với nghiên cứu [2] của H.K.Hong và C.S.Liu, nghiên cứu dao động
ma sát Coulomb: mô hình dao động và đáp ứng của cơ hệ đối với lực tác
động điều hoà và kích thích dao động của đế Cơ hệ khảo sát ở đây là lò
xo-khối lượng chuyển động trên bề mặt tĩnh Các tác giả đã xác định lại mô
hình lực ma sát và tìm các phương trình dao động ứng với cơ hệ tuyến tính
có hai pha chuyển động: pha trượt và pha dính, xác định điều kiện xảy ra
trượt, tìm đáp ứng của cơ hệ với lực tác động điều hoà đơn giản, phân loại
trạng thái của cơ hệ dựa vào tỉ lệ lực (là tỉ số giữa biên độ lực tác động và
lực ma sát) và tỉ số vận tốc góc (là tỉ số giữa vận tốc góc lực tác động điều
hòa và vận tốc góc của cơ hệ) Ngoài ra, các tác giả còn xác định thời gian
dừng dao động của cơ hệ có hai dạng: dừng bình thường và dừng không bình
thường Dừng bình thường xảy ra khi khoảng di chuyển đạt vị trí giới hạn
cục bộ và khối lượng dao động đảo chiều chuyển động tại vị trí này Dừng
không bình thường xảy ra khi khoảng di chuyển nhỏ hơn vị trí giới hạn cục
bộ và khối lượng dao động chuyển động cùng hướng như vị trí dừng trước
đó
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 6Hình 1.4 Hệ dao động của [2] với ma sát Coulomb (k: độ cứng lò xo,
m: khối trượt, p(t): lực tác động, µ: hệ số ma sát Coulomb)
Hình 1.5 Hai dạng đáp ứng của hệ dao động với dao động dính từ (a)
đến (d) dưới tác động của lực kích thích nhỏ và dao động trượt từ (e) đến (h)
dưới tác động của lực kích thích lớn của [2]
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 7Hình (a) đến hình (d) cho thấy: khoảng dịch chuyển và vận tốc của cơ
hệ ổn định, không có sự thay đổi lớn Hình (c) là mối quan hệ giữa lực ma sát
và khoảng dịch chuyển với đường đậm biểu diễn cho sự thay đổi từ pha trượt
sang pha dính, đường khuất biểu diễn cho sự nhảy từ pha trượt này sang pha
trượt khác và kèm theo là pha dính Hình (d) cho thấy dưới tác động của lực
kích thích nhỏ, chu kỳ dao động bình ổn trong thời gian dài
Hình (e) và hình (f) cho thấy khi tác động lực kích thích vào, cơ hệ ban
đầu sẽ không ổn định , nhưng sau thời gian ngắn, cơ hệ có khoảng dịch
chuyển và vận tốc ổn định Sự ảnh hưởng của lực ma sát lên khoảng dịch
chuyển cũng tương tự như hình (c) nhưng không có pha dính xảy ra, giá trị lực
ma sát tăng dần với khoảng dịch chuyển Hình (h) cho thấy ban đầu, chu kỳ
dao động của cơ hệ không ổn định do ảnh hưởng của lực tác động, nhưng sau
một khoảng thời gian, chu kỳ này ổn định dần
Hình 1.6 Các khoảng thời gian dừng được phân thành hai loại: dừng
bình thường và dừng không bình thường của [2]
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 8• Với nghiên cứu [3] của Albert C.J.Luo và Brandon C.Gegg, nghiên
cứu hiện tượng trượt khi có lực kích thích dao động điều hoà gây ra ma sát
và dao động tuyến tính Cơ hệ khảo sát ở đây là lò xo – giảm chấn - khối
lượng chuyển động trên bề mặt đai đang chuyển động Các tác giả tập trung
chủ yếu vào phương pháp tính và đồ thị để dự đoán hiện tượng trượt trong
chuyển động Ở giai đoạn ban đầu, trượt, các quá trình diễn ra lúc dao động
được xem xét trên cơ sở đồ thị dao động Sau đó, các phân tích trên cơ sở đồ
thị dao động được mô phỏng tính toán để đánh giá
Hình 1.7 Hệ dao động của [3] với ma sát Coulomb (k: độ cứng lò xo, r:
hệ số giảm chấn, m: khối trượt, Q 0 cosΩt: lực kích thích, v: vận tốc đai)
Hình 1.8 Đồ thị (a) ứng với dao động không dính ở trạng thái bình ổn
và (b) ứng với trường hợp dao động dính của [3] (x: khoảng dịch chuyển, V:
vận tốc, t: thời gian)
P 0 mô tả từ lúc bắt đầu và kết thúc của chuyển động dính P 1 mô tả từ
lúc bắt đầu và kết thúc của dao động trượt P 2 mô tả từ lúc bắt đầu và kết
thúc của dao động trượt khi đảo chiều chuyển động
• Với nghiên cứu [4] của B.R.Pontes, V.A.Oliveira, J.M.Balthazar,
nghiên cứu dao động gây ma sát ở cơ hệ khối lượng – đai – động cơ với
nguồn cung cấp năng lượng hữu hạn Cơ hệ khảo sát ở đây là lò xo – giảm
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 9chấn - khối lượng đặt trên bề mặt đai đang chuyển động với nguồn cung cấp
năng lượng cho hệ đai là động cơ Các tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ
giữa hiện tượng tự chấn xảy ra khi cho cơ hệ hoạt động với nguồn năng
lượng cung cấp cho cơ hệ từ động cơ Các tác giả nhận định có hai dạng mô
hình trong tính toán và mô phỏng dao động: mô hình lý tưởng và mô hình
không lý tưởng Ở mô hình lý tưởng, nguồn năng lượng gây kích thích dao
động được giả thiết là không đổi hoặc là một hàm theo thời gian Ngược lại,
mô hình không lý tưởng thì hiện tượng tự chấn được xem là phụ thuộc tính
chất của nguồn cung cấp năng lượng Các tác giả đã mô phỏng đồ thị dao
động để đánh giá ảnh hưởng của hiện tượng tự chấn trên mô hình không lý
tưởng với các tốc độ đai khác nhau liên quan đến động cơ
Hình 1.9 Hệ dao động của [4] (k: độ cứng lò xo, c: hệ số giảm chấn, m:
khối trượt, v B : vận tốc đai, ϕ: vận tốc vòng puli đai)
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 10
Hình 1.10 Đồ thị mối quan hệ giữa khoảng dịch chuyển và vận tốc của
trường hợp lý tưởng và không có lực kích thích dao động với (a) v = 0,4 m/s,
(b) v = 0,8 m/s, (c) v = 1,6 m/s của [4]
Qua hình này cho thấy với khoảng vận tốc đai từ 0,4 m/s đến 0,8 m/s, có
hai dao động xảy ra trong một chu kỳ chuyển động: dao động trựơt và dao
động dính Với giá trị vận tốc lớn hơn 0,8 m/s cho thấy chỉ có dao động trựơt
xảy ra, chu kỳ dao động ổn định trong một thời gian dài Như vậy, với giá trị
vận tốc thấp, sự xuất hiện của hai dao động trong một chu kỳ: dao động trựơt
và dao động dính; với giá trị vận tốc cao chỉ xuất hiện dao động trượt nhưng
giá trị vận tốc này có giới hạn so với vận tốc của hệ đai
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 11
Hình 1.11 Đáp ứng tần số của trường hợp không lý tưởng với kích thích
dao động từ bên ngoài với v = 0,4 m/s của [4]
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 12Qua hình 1.11 này cho thấy sự ảnh hưởng của tỉ số tần số lên khoảng
dịch chuyển, vận tốc và vận tốc góc của cơ hệ khi tác động lực kích thích
Ban đầu, khi tác động lực kích thích vào cơ hệ, cơ hệ sẽ không ổn định và sau
một khoảng thời gian, khi tỉ số tần số gần bằng 1, cơ hệ mới bắt đầu ổn định
Gía trị vận tốc ở đây là v = 0,4 m/s Theo hình 1.10 thì đây là giá trị vận
tốc xảy ra dao động trượt và dao động dính Kết hợp hình 1.10 và hình 1.11
cho thấy khoảng quá độ từ dao động không ổn định sang ổn định nơi xảy ra
dao động dính
• Với nghiên cứu [5] của Soren Anderson, Anders Soderberg, Stefan
Bjorklund, nghiên cứu các mô hình ma sát cho trượt khô, trượt biên và bôi
trơn tiếp xúc hỗn hợp Cơ hệ khảo sát ở đây là lò xo – khối lượng chuyển
động trên bề mặt tĩnh, đế gắn lò xo dịch chuyển được Ở nghiên cứu này,
các tác giả đã giới thiệu nhiều mô hình cho việc nghiên cứu ma sát ở các
điều kiện khác nhau như ma sát Coulomb, ma sát nhớt, ma sát Stribeck cho
nghiên cứu ma sát ứng với khoảng dịch chuyển lớn; cho nghiên cứu ma sát
ứng với khoảng dịch chuyển nhỏ như ma sát Dankowicz, ma sát Dahl, ma
sát Canudas de Wit Trên cơ sở các mô hình ma sát trên, các tác giả đã
nghiên cứu, kết hợp và mô phỏng các mô hình với nhau, đề nghị ứng dụng
từng loại mô hình vào các trường hợp cụ thể:
+ Khi không cần xác định chính xác vị trí khi mô phỏng hoặc yếu tố vị
trí (khoảng dịch chuyển) không quan trọng, mô hình ma sát đề nghị là mô
hình kết hợp giữa ma sát Coulomb và ma sát Stribeck
+ Khi khoảng dịch chuyển là quan trọng khi mô phỏng, mô hình ma sát
đề nghị là mô hình ma sát Stribeck và ma sát Dankowicz
+ Khi chú ý đến ảnh hưởng của âm thanh sinh ra trong quá trình ma sát
giữa hai bề mặt, mô hình ma sát đề nghị là sự kết hợp giữa ma sát tuyến tính
và hàm âm thanh (hàm âm thanh là hàm của biên độ âm chuẩn và tần số
âm chuẩn): Fms = Fms tuyến tính + P(A,f)
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 13
Hình 1.12 Hệ dao động của [5] (k: độ cứng lò xo, m: khối trượt)
Các mô hình ma sát được khảo sát trong nghiên cứu này sẽ được giới
thiệu trong phần lý thuyết ma sát tại chương II của luận văn này
• Với nghiên cứu [6] của C.S.Liu và W.T.Chang, nghiên cứu đặc tính
ma sát của hệ đai dẫn động và dao động kích thích theo chu kỳ Cơ hệ khảo
sát ở đây là lò xo – giảm chấn – khối lượng được đặt trên một bề mặt đai
đang chuyển động Đế gắn lò xo – giảm chấn dịch chuyển với vận tốc thay
đổi theo hàm cosin Ứng với hai pha trong dao động là pha trượt và pha dính,
các tác giả đã tìm được phương trình dao động hoàn chỉnh ứng với hai pha
này Với trường hợp không có giảm chấn, các tác giả đã tìm công thức tính
khoảng dịch chuyển lớn nhất và tốc độ nhỏ nhất để ngăn không cho pha
dính xảy ra Hai định luật ma sát được xem xét ở đây gồm:
+ Ma sát Coulomb với điều kiện giảm chấn dương đủ để ngăn không
cho chuyển động trườn lên của khối trượt Ngoài ra còn xem xét trạng thái
ma sát của khối trượt dưới tác động của lực ma sát biên lên tốc độ chuyển
động của khối ứng với đường cong âm của đồ thị vận tốc và lực ma sát khi
vận tốc khối trượt nhỏ hơn giá trị vmin
+ Ma sát phụ thuộc vào tốc độ, các tác giả xác định vận tốc chuẩn v*
Các tác giả đã phân tích thuộc tính của cơ hệ trên đồ thị Hopf và đưa ra các
giá trị thông số chuẩn cho điểm cân bằng ổn định cũng như chu kỳ giới hạn
ổn định khi v > v* đến v < v* Khi v < v*, chuyển động trượt – dính xảy ra
nhưng khi tăng tốc độ, chuyển động trượt dính có thể tránh
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 14
Hình 1.13 Hệ dao động của [6] với ma sát Coulomb (k: đôä cứng lò xo,
c: hệ số giảm chấn, m: khối trượt, r a : lực ma sát, v.cosωd t: vận tốc kích
Trang 15Hình 1.15 Ba dạng đáp ứng ma sát của cơ hệ đai dẫn động và kích
thích dao động theo chu kỳ của [6]
Hình 1.15a đến hình 1.15b: r w = 0,5 , v = 5 cm/s, v 0 = 1 cm/s, hình 1.15f
đến 1.15j: r w = 0,5 , v = v 0 = 5 cm/s, hình 1.15k đến 1.15o: r w = 1.5 , v = 5
cm/s, v 0 = 1 cm/s với r w : tỉ số tần số, v: vận tốc kích thích, v 0 : vận tốc đai
Qua hình 1.15 này cho thấy, với các giá trị tỉ số tấn số và vận tốc khác
nhau, đáp ứng của cơ hệ cũng khác nhau, chu kỳ ổn định cũng khác nhau
Hình (n) cho thấy chu kỳ ổn định khác xa so với hình (e) và hình (j) do
ảnh hưởng của tỉ số tần số gây nên So sánh hình (i) với hình (d) cho thấy gía
trị vận tốc v 0 có ảnh hưởng rất ít đến chu kỳ giới hạn
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 16
Hình 1.16 Đồ thị (a) là các đường cong khoảng dịch chuyển lớn nhất
của cơ hệ với c = 0 và v 0 = 0 với 7 giá trị vận tốc v kích thích dao động của
cơ hệ; (b) là các đường cong biên độ vận tốc tối thiểu để ngăn không cho dao
động dính xảy ra của [6]
Trục tung hình (a): x max /x y với x y =r y /k, r y là lực ma sát, k là độ cứng lò
xo Trục hoành hình (a): r w là tỉ số tần số Qua hình (a) cho thấy khi vận tốc
tăng dần và tỉ số tần số tăng dần, khoảng dịch chuyển cũng tăng tương ứng
nhưng khi qua tỉ số tần số tần số xảy ra hiện tượng cộng hưởng, khoảng dịch
chuyển giảm dần và ổn định Điều này cho thấy khi tỉ số tần số tăng đến mức
độ cộng hưởng thì dao động trượt dính xảy ra và qua khỏi mốc này, dao động
trựơt xảy ra ổn định
Trục tung hình (b):1/v là nghịch đảo giá trị vận tốc Qua hình (b) cho
thấy khi tỉ số tần số tăng dần, các dao động trượt sẽ diễn ra, nhưng đến khi tỉ
số tần số đạt giá trị tới hạn, các dao động trựơt dính sẽ xảy ra
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 17Hình 1.17 Đồ thị mối liên hệ giữa các đại lượng của cơ hệ có ma sát
phụ thuộc vào vận tốc với giá trị v = 1,5 cm/s của [6]
Qua hình 1.17 cho thấy với giá trị vận tốc v =1,5 m/s, dao động của cơ
hệ gồm dao động dính và dao động trượt, chu kỳ dao động ổn định, lực ma sát
trong quá trình dao động giảm dần đến giá trị nhỏ nhất
• Với nghiên cứu [7] của N.Hinrichs, M.Oestreich, K.Popp, nghiên cứu
mô hình dao động ma sát Cơ hệ khảo sát ở đây là lò xo – giảm chấn – khối
lượng đặt trên bề mặt đai đang chuyển động Các tác giả đã phân tích dao
động ma sát phi tuyến dưới tác động của hiện tượng tự chấn và kích thích
dao động bên ngoài Các tác giả đã thực hiện mô phỏng tính toán và phân
tích trên đồ thị; sau đó, các kết quả này được đánh giá qua thực nghiệm trên
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 18mô hình ma sát giữa một chi tiết chốt với một đĩa quay Vật liệu chốt và đĩa
quay hoàn toàn khác nhau
Có 3 mô hình ma sát được khảo sát ở đây gồm:
+ Mô hình III: µm(vr) = 1 , 42 vr 0 , 1 0 , 01 v2r
l
3 ,
Hình 1.18 Hệ dao động của [7] (c: độ cứng lò xo, b: hệ số giảm chấn,
m: khối trượt, v 0 : vận tốc đai, F: lực pháp tuyến)
Hình 1.19 Đồ thị đặc tính ma sát với mô hình I, II, III của [7]
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 19Hình 1.20 Đồ thị dao động của dao động ma sát ứng với 3 mô hình I, II,
III của [7]
Qua 3 mô hình trên cho thấy trong quá trình dao động xảy ra dao động
dính và dao động trượt Riêng hai mô hình II và III có các vùng trắng Các
vùng trắng này cho thấy có sự giảm dần ma sát khi dao động, khác với mô
hình I là ma sát không thay đổi khi dao động
Hình 1.21 Đồ thị cho dao động tự chấn của dao động ma sát ứng với 3
mô hình I, II, III của [7]
Qua hình 1.21 này cho thấy: với mô hình I và mô hình II không có hiện
tượng tự chấn xảy ra trong quá trình dao động vì đây là các mô hình tuyến
tính Với mô hình III cho thấy có hiện tượng tự chấn qua các đường cong gần
vùng trung tâm
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 20Hình 1.22 Dao động ma sát ứng với kích thích dao động bên ngoài của
mô hình ma sát II với (a) η = 0,75 , (b) η = 0,5 , (c) η = 0,25 , (d) η = 0,20
với η là tỉ số giữa vận tốc góc lực kích thích và vận tóc góc riêng của cơ hệ
của [7]
Qua hình 1.22 này cho thấy khi tỉ số tần số giảm dần, độ ổn định của cơ
hệ giảm dần, chu kỳ dao động cũng mất ổn định
• Với nghiên cứu [8] của J.Das và A.K.Mallik, nghiên cứu điều khiển
dao động ma sát bằng điều khiển trạng thái phản hồi thời gian trễ Cơ hệ
khảo sát ở đây là lò xo – khối lượng đặt trên bề mặt đai đang chuyển động
Các tác giả thực hiện nghiên cứu trên mô hình thực nghiệm Các chu kỳ tự
chấn giới hạn đạt được từ mô hình này được sử dụng để xác định các thông
số xuất hiện trong mô hình toán học ở điều kiện trượt thuần túy; và sau đó,
điều khiển chu kỳ giới hạn dùng phản hồi thời gian trễ để khảo sát Hệ
thống điều khiển PD thời gian trễ xác định khoảng dịch chuyển và vận tốc
đã được phân tích Qua nghiên cứu cho thấy với việc lựa chọn thời gian trễ
và hệ số độ lợi phù hợp, cả chu kỳ giới hạn và biên độ lực trạng thái bình ổn
có thể điều khiển được
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 21
Hình 1.23 Hệ dao động của [8] (k: độ cứng lò xo, c: hệ số giảm chấn,
v 0 : vận tốc đai, ω: vận tốc góc của puli)
• Với nghiên cứu [9] của U.Andreaus và P.Casini, nghiên cứu động học
của dao động gây ma sát khi kích thích dao động bằng dịch chuyển đế hoặc
lực dẫn động Đế ở đây chính là bề mặt đai Cơ hệ khảo sát ở đây là lò xo –
khối lượng đặt trên bề mặt đai đang chuyển động Đáp ứng của cơ hệ một
bậc tự do với ma sát khô khi đế dịch chuyển với vận tốc không đổi và/hoặc
được tác động bởi một lực kích thích dao động điều hoà được phân tích đầy
đủ ở cả đồ thị và phân tích toán học Nghiên cứu được thực hiện với hai mục
tiêu chính:
+ Làm rõ sự ảnh hưởng của tốc độ đế lên đáp ứng của cơ hệ Từ đó tìm
được giá trị vận tốc chuẩn, là giá trị biên dưới của chuyển động không trượt
và chuyển động không phụ thuộc vận tốc của đế
+ Làm rõ sự ảnh hưởng của mô hình ma sát lên đáp ứng của hệ thống
Các kết quả đạt được khi tính theo ma sát Coulomb được so sánh với kết quả
đạt được khi tính theo định luật ma sát phụ thuộc vào vận tốc
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 22Hình 1.24 Hệ dao động của [9] (k: độ cứng lò xo, m: khối trượt, F a : lực
pháp tuyến, v 0 : vận tốc đai, F f : lực kích thích, λf : lực ma sát)
Hình 1.25 Đồ thị đặc tính ma sát với (a) ma sát Coulomb, (b) ma sát
thay đổi theo hàm số mũ (ma sát giảm dần) của [9] (µs : hệ số ma sát tĩnh, µk :
hệ số ma sát động, v rel : vận tốc tương đối)
Hình 1.26 Ảnh hưởng của tốc độ lên đáp ứng ở trạng thái bình ổn qua
mối liên hệ giữa hệ số ma sát động của định luật ma sát Coulomb với (a) sự
phụ thuộc vào biên độ dịch chuyển và (b) sự phụ thuộc vào khoảng dao động
trượt – dính của [9]
• Với nghiên cứu [10] của Jon Juel Thomsen và Alexander Fidlin,
nghiên cứu về phân tích xấp xỉ biên độ dao động trượt – dính Cơ hệ khảo
sát ở đây là lò xo - giảm chấn - khối lượng đặt trên bề mặt đai đang chuyển
động Các tác giả đã tìm được các điều kiện, biên độ, thời gian, tần số gây
ra ma sát trượt thuần tuý và ma sát trượt dính Mô hình ma sát khảo sát ở
đây là mô hình ma sát phi tuyến Trên cơ sở các kết quả phân tích, các tác
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 23giả đã mô phỏng và kiểm nghiệm theo đồ thị; và các kết quả kiểm nghiệm
cho thấy phù hợp với các phân tích tính toán cũng như sự khác biệt giữa ma
sát tĩnh và động không lớn lắm
Hình 1.27 Hệ dao động của [10] (K: độ cứng lò xo, C: hệ số giảm
chấn, M: khối trượt, V b : vận tốc đai)
• Với nghiên cứu [12] của Lê Minh Ngân, nghiên cứu xác định hệ số
ma sát trượt bằng mô hình dao động điều hòa Cơ hệ khảo sát ở đây là mô
hình tự chấn với thanh thép dao động điều hoà trên hai puli quay ngược
chiều nhau Tác giả đã giới thiệu mô hình mới trong xác định hệ số ma sát
trên cơ sở tần số dao động của hệ có quan hệ với hệ số ma sát giữa thanh và
các puli quay Với mô hình này, việc đo hệ số ma sát giữa các loại vật liệu
với nhau trở nên đơn giản hơn, bao gồm cả hệ số ma sát tĩnh và ma sát
động Vật liệu thanh và puli thay đổi được để xác định hệ số ma sát tương
ứng
Hình 1.28 Hệ dao động của [12] (F 1 , F 2 : Lực ma sát, m: khối trượt, N 1 ,
N 2 : Các phản lực)
1.2 Đánh giá tổng quan và xác lập hướng nghiên cứu mới:
1.2.1 Đánh giá tổng quan:
Qua các nghiên cứu được tổng quan ở trên cho thấy:
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 24+ Nghiên cứu ma sát trong quá trình dao động rất được chú trọng
+ Cơ hệ dùng để khảo sát là cơ hệ lò xo – khối lượng chuyển động trên
một bề mặt tĩnh (nghiên cứu [1, 2, 5]), cơ hệ lò xo – giảm chấn – khối lượng
được đặt trên bề mặt đai đang chuyển động (nghiên cứu [ 3, 4, 6, 7, 8, 9,
10]), cơ hệ dao động thanh – puli (nghiên cứu [12])
+ Nghiên cứu tập trung vào đánh giá hiện tượng trượt, hiện tượng trượt
–dính trong quá trình dao động của cơ hệ: nghiên cứu [2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9,
10]
+ Nghiên cứu chủ yếu vào phân tích toán học dựa trên hai hiện tượng
trượt và hiện tượng trượt – dính để tìm các điều kiện xảy ra cho hai hiện
tượng này, biên độ và thời gian, cũng như tần số của hai hiện tượng này :
nghiên cứu [1, 3, 6, 8, 9, 10]
+ Nghiên cứu vừa phân tích toán học, vừa phân tích thực nghiệm chưa
được chú trọng Nghiên cứu [8] tập trung vào phân tích ứng dụng hệ thống
điều khiển thời gian trễ để điều khiển dao động của cơ hệ
+ Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của nguồn cung cấp năng lượng lên
cơ hệ dao động còn rất ít Nghiên cứu [4] đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của
nguồn cung cấp năng lượng lên cơ hệ nhưng chỉ đánh giá trên cơ sở phân
tích đồ thị lý thuyết, phân tích thực nghiệm chưa thực hiện để đánh giá sự
phù hợp của các kết quả đã phân tích lý thuyết
+ Nghiên cứu đo hệ số ma sát trên mô hình thanh – puli (nghiên cứu
[12]) Nghiên cứu này có áp dụng thực nghiệm
+ Mô hình ma sát Coulomb phổ biến trong các nghiên cứu Đây là mô
hình ma sát tuyến tính, chưa xác với thực tế Thực tế, mô hình ma sát là phi
tuyến Mô hình ma sát phi tuyến hay được sử dụng là mô hình ma sát
Stribeck và dựa trên mô hình ma sát này, mô hình ma sát suy từ mô hình
trên đã được sử dụng để phân tích trong nghiên cứu [5, 6, 10]
Vì vậy, việc nghiên cứu ma sát vừa kết hợp phân tích lý thuyết và thực
nghiệm để từ đó đánh giá được chính xác các hiện tượng ma sát xảy ra là
cần thiết Do đó, hướng nghiên cứu mới tiếp theo về ma sát sẽ giải quyết
vấn đề này và với đề tài:
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 25“ Phân tích hiện tượng ma sát trượt thuần tuý và ma sát trượt – dính
vào mô hình “khối lượng trên bề mặt đai đang chuyển động” có kiểm
chứng thực nghiệm”
1.2.2 Tổng quan về đề tài:
a Tên đề tài đăng ký:
“ Phân tích hiện tượng ma sát trượt thuần tuý và ma sát trượt – dính
vào mô hình “khối lượng trên bề mặt đai đang chuyển động” có kiểm
chứng thực nghiệm”
b Mô hình nghiên cứu:
♦ Mô hình:
Mô hình nghiên cứu được mô tả ở hình 1.31 bao gồm:
1 Một lò xo có độ cứng k
2 Một khối trượt có khối lượng m
3 Hệ đai dẫn động có vận tốc v 0,
4 Puli đai có vận tốc vòng ϕ
Hình 1.29 Mô hình nghiên cứu của đề tài
♦ Nguyên lý hoạt động của mô hình:
Cho một cơ hệ gồm lò xo – giảm chấn – khối lượng được đặt trên bề
mặt đai đang chuyển động với vận tốc v0 Lúc này, cơ hệ lò xo – giảm chấn
– khối lượng sẽ dao động trên bề mặt đai Với việc thay đổi vận tốc v0, quá
trình dao động của cơ hệ lò xo – giảm chấn – khối lượng sẽ thay đổi Bằng
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 26các tính toán và phân tích lý thuyết, các kết quả này sẽ được so sánh với kết
quả đo được trên mô hình thực tế này
c Mục tiêu đề tài:
So sánh giữa kết quả đã được phân tích và tính toán gần đúng với kết
quả thực nghiệm Từ kết quả so sánh này đánh giá được sự chính xác của
phương pháp và tìm hiểu các hiện tượng xảy ra trong quá trình dao động
liên quan ma sát Dạng ma sát của nghiên cứu này là ma sát khô
d Các công việc sẽ thực hiện:
1 Nghiên cứu cơ sở lý thuyết ma sát và cơ sở lý thuyết tính toán gần
đúng
2 Tính toán gần đúng các hiện tượng xảy ra trong dao động theo mô
hình ma sát được chọn
3 Nghiên cứu phương pháp lấy kết quả đo và xử lý tín hiệu
4 Thiết kế cơ kết cấu của mô hình thực nghiệm
5 Phân tích và đánh giá kết quả thu được
CHƯƠNG 2
LÝ THUYẾT HIỆN TƯỢNG MA SÁT VÀ MÔ HÌNH MA SÁT
PHƯƠNG PHÁP XẤP XỈ PHƯƠNG TRÌNH DAO ĐỘNG
2.1 Lý thuyết về ma sát trong dao động:
2.1.1 Các khái niệm cơ bản về ma sát:
2.1.1.1 Các định nghĩa về ma sát ngoài:
Ma sát ngoài là hiện tượng phức tạp, phụ thuộc vào biến đổi của quá
trình diễn ra trên bề mặt tiếp xúc thực và trên lớp bề mặt mỏng trong quá
trình chuyển động tương đối của một vật thể trên bề mặt một vật thể khác
Ma sát ngoài chịu tác dụng bởi các quá trình diễn ra dưới lớp bề mặt
cực mỏng và ở giới hạn rời rạc của các tiếp xúc thực trên bề mặt vật rắn
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 27Lực ma sát phụ thuộc vào tính chất cơ lý của lớp này, nó hoàn toàn khác với
tính chất của các lớp dưới
Lực ma sát là lực cản trở dịch chuyển tương đối của các vật rắn có
hướng ngược chiều chuyển động, xuất hiện tại các vết tiếp xúc thực Lực ma
sát ngoài không ổn định, công của lực ma sát phụ thuộc vào quãng đường
mà vật rắn di chuyển Độ lớn của lực ma sát ngoài nhìn chung được xác định
theo khoảng dịch chuyển của vật rắn theo phương tiếp tuyến (hình 2.1) Căn
cứ vào khoảng dịch chuyển này, người ta phân biệt lực ma sát ngoài tĩnh và
lực ma sát ngoài động
♦ Lực ma sát khởi động là lực cản trở chuyển động trong trường hợp
dịch chuyển nhỏ
♦ Lực ma sát tĩnh là toàn bộ lực ma sát tương ứng với dịch chuyển ban
đầu lớn nhất, hay nói cách khác là sự dịch chuyển từ trạng thái dịch chuyển
ban đầu sang trạng thái trượt Sau trạng thái dịch chuyển ban đầu là trạng
thái trượt ổn định với lực ma sát không đổi
♦ Lực ma sát động là lực ma sát xuất hiện trong quá trình có chuyển
động tương đối ở vùng tiếp xúc
Lực ma sát trượt có xu hướng cản trở chuyển động theo phương tiếp
tuyến trên vật thể tiếp xúc ma sát, nó không phụ thuộc vào độ lớn của dịch
chuyển
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 28Hình 2.1 Sự phụ thuộc của lực ma sát F ms vào giá trị dịch chuyển λ [19]
2.1.1.2 Các đại lượng đặc trưng của ma sát:
Để đánh giá ma sát, thường sử dụng ba đại lượng không thứ nguyên:
hệ số ma sát, hệ số ma sát khi va đập và hệ số mất mát năng lượng khi ma
sát Trong đó hệ số ma sát µ là quan trọng nhất
2.1.2 Phân loại ma sát:
2.1.2.1 Phân loại ma sát theo chuyển động:
Căn cứ vào dạng chuyển động của bề mặt ma sát ta có: ma sát trượt,
ma sát lăn, ma sát xoay và ma sát hỗn hợp
♦ Ma sát trượt là ma sát giữa hai bề mặt của vật rắn có chuyển động
trượt tương đối, vận tốc tại các điểm tiếp xúc có giá trị và phương như nhau
(hình 2.2a)
♦ Ma sát lăn là ma sát giữa 2 bề mặt của vật rắn có chuyển động lăn
tương đối, vận tốc tại các điểm có thể khác nhau về giá trị, nhưng luôn có
phương như nhau (hình 2.2b)
♦ Ma sát xoay là ma sát giữa hai bề mặt có chuyển động xoay tương
đối, vận tốc tại các điểm tiếp xúc khác nhau về giá trị và về phương (hình
2.2c)
♦ Ma sát hỗn hợp là ma sát giữa các bề mặt có tổng hợp của các dạng
ma sát trượt, lăn và xoay
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 29Hình 2.2 Các dạng ma sát căn cứ theo chuyển động [19]
2.1.2.2 Phân loại ma sát theo điều kiện bề mặt:
Căn cứ vào điều kiện của bề mặt tiếp xúc, ta có: ma sát khô, ma sát
bôi trơn giới hạn, ma sát ướt và ma sát nữa ướt
♦ Ma sát bôi trơn là ma sát của hai vật rắn tiếp xúc khi trên các bề
mặt của chúng không có điều kiện khẳng định rõ ràng sự tồn tại của chất
bôi trơn hay bất kỳ chất nào
♦ Ma sát bôi trơn giới hạn là ma sát của hai vật rắn khi giữa liên kết
của chúng tồn tại một lớp chất lỏng rất mỏng có cơ tính hoàn toàn khác chất
bôi trơn (chiều dày cỡ phân tử đến 0.1µm) Ma sát bôi trơn giới hạn cũng
xảy ra khi bôi trơn bằng chất rắn Do chiều dày màng dầu rất mỏng nên
trong trường hợp này các phương trình thủy động không áp dụng được
♦ Ma sát ướt là ma sát giữa hai bề mặt vật rắn được phân tách hoàn
toàn bởi các lớp chất bôi trơn có chuyển động tương đối, khi đó tập hợp của
tất cả các ứng suất tiếp tạo thành lực ma sát
♦ Ma sát nữa ướt là ma sát giữa hai bề mặt vật rắn khi giữa chúng tồn
tại cả ma sát bôi trơn giới hạn lẫn ma sát bôi trơn nữa ướt Ma sát nữa ướt
thường xảy ra trong quá trình quá độ làm việc của ổ thủy động
2.1.2.3 Phân loại ma sát theo động học tiếp xúc:
Căn cứ vào động học tiếp xúc, ta có ma sát tĩnh và ma sát động
♦ Ma sát tĩnh là ma sát xuất hiện giữa hai bề mặt vật rắn trong trạng
thái dịch chuyển ban đầu, khi đó thông thường lực ma sát sẽ ngăn cản biến
dạng của lớp bề mặt
♦ Ma sát động là ma sát xuất hiện giữa hai bề mặt vật rắn trong quá
trình có chuyển động tương đối ở vùng tiếp xúc, trong trường hợp này lực
ma sát động sẽ có tác dụng thúc đẩy quá trình biến dạng trên lớp bề mặt
mỏng và làm tăng diện tích tiếp xúc
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 302.1.2.4 Phân loại ma sát theo điều kiện làm việc:
Dựa theo điều kiện làm việc của cặp ma sát, ta phân thành ma sát bình
thường và ma sát không bình thường
♦ Ma sát bình thường là quá trình ma sát được đặc trưng bởi sự cân
bằng động giữa phá hủy và phục hồi lớp màng mỏng có tính bảo vệ trên bề
mặt ma sát, mà thông thường là lớp màng oxyt Trong quá trình chạy rà,
điều kiện ma sát bình thường sẽ dần được thiết lập một cách tự phát trong
khớp ma sát
♦ Ma sát không bình thường là loại ma sát không được phép xảy ra
trong khớp ma sát, khi đó đỉnh nhấp nhô bề mặt tiếp xúc ma sát sẽ thâm
nhập vào nhau gây ra cày, xứơc hoặc cắt vi mô, Khi đó tất cả các đặc tính
tiếp xúc sẽ thay đổi hoàn toàn Nói cách khác là sự cân bằng giữa phá hủy
và phục hồi lớp màng thứ cấp có tính bảo vệ bị phá vỡ Ma sát không bình
thường hay được áp dụng để làm cơ sở cho các phương pháp gia công tinh
lần cuối như mài nghiền, đánh bóng,
2.1.3 Các qui luật ma sát thực nghiệm:
2.1.3.1 Sự phụ thuộc của hệ số ma sát vào áp suất pháp tuyến µ=µ(p):
Quan hệ này có ba vùng đặc trưng như trên hình 2.3
Hình 2.3 Sơ đồ nguyên tắc biến thiên hệ số ma sát phụ thuộc vào áp suất
pháp tuyến µ=µ(p).[19]
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 31I – vùng ổn định, ứng với chế độ làm việc bình thường của cặp ma
sát (mòn oxy hóa)
II – vùng chuyển tiếp
III – vùng hư hỏng, trên đó diễn ra những quá trình không bình
thường (tróc, cày, xước, )
Chế độ ma sát bình thường được xác định bằng hệ số ma sát ổn định và
mòn nhỏ nhất, xảy ra do sự hình thành các cấu trúc thứ cấp trên bề mặt các
kim loại chịu ma sát Đoạn chuyển tiếp ứng với khả năng thích ứng của bề
mặt, trong đó hàm µ=µ (p) có thể có tính chất khác nhau (được biểu diễn
bằng nét đứt trong vùng II hình 2.3) Giới hạn của chế độ làm việc bình
thường (ma sát bình thường) được xác định bằng trị số áp suất pháp tuyến
tới hạn pth Khi vượt quá pth sẽ dẫn tới hiện tượng tróc, dập, cào xước và
những quá trình không bình thường khác với cường độ khác nhau (nét đứt
trên hình 2.3 đặc trưng dao động lớn của lực ma sát) và mòn mãnh liệt do nó
chuyển nhanh sang trạng thái hư hỏng
Khi thay đổi các thông số ma sát (điều kiện) sẽ làm cho vùng ổn định
biến đổi, nó được thể hiện trên hình 2.4
Hình 2.4 Sự mở rộng vùng ổn định khi thay đổi điều kiện ma sát đồng
thời làm việc (các đường cong 1→n) – a) giảm; b) tăng [19]
2.1.3.2 Sự phụ thuộc của hệ số ma sát vào vận tốc trượt:
Quan hệ này có 3 vùng đặc trưng, hình 2.5, như sau:
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 32Hình 2.5 Sơ đồ nguyên tắc biến thiên hệ số ma sát phụ thuộc vận tốc
trượt f=f(v) [19]
I – vùng bình thường, ứng với ma sát oxy hóa ổn định: vth’ ≤v≤vth’’
II – vùng chuyển tiếp, không bình thường với tróc loại I: 0<v<vth’
III – vùng không bình thường với hiện tượng tróc loại II: v> vth’’
Vùng ma sát bình thường nằm giữa tốc độ vth’ và vth’’ được đặc trưng
bởi giá trị ổn định của hệ số ma sát và mòn cho phép Nó được quyết định
bởi sự cực tiểu hóa chiều dày của lớp biến dạng dẻo và sự hình thành các
cấu trúc thứ cấp tùy thuộc vào sự thay đổi của các thông số ma sát Đồ thị
µ=µ (v) có thể dịch chuyển được trình bày trên hình 2.6
Hình 2.6 Sự mở rộng vùng ổn định khi thay đổi điều kiện ma sát đồng
thời làm việc (1→n).[19]
a) Giảm fod ; vth’=const
b) Tăng fod ; vth’=const
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 33c) Giảm fod ; vth’’=const
d) Tăng fod ; vth’’=const
2.1.3.3 Sự phụ thuộc của hệ số ma sát vào các thông số ma sát khác:
Khi cặp ma sát làm việc trong chế độ ổn định bình thường, hệ số ma
sát sẽ chịu ảnh hưởng của các thông số ma sát: vật liệu, công nghệ chế tạo,
dung sai kích thước lắp ghép, dạng và tính chất của bôi trơn, Tác dụng
tổng hợp của các thông số ấy sẽ làm thay đổi các hàm số chủ yếu µ=µ (p),
µ=µ (v) Ảnh hưởng này được xác định thông qua vectơ c là tập hợp của các
thông số nói trên Trong trường hợp tổng quát, quan hệ của lực ma sát hay
hệ số ma sát được biểu thị bằng toán tử µ=A{p, v, c}bt và chỉ trong chế độ
ma sát bình thường mới có thể được biểu diễn dưới dạng hàm số của áp suất
hay tốc độ trượt Hàm này chỉ có ý nghĩa đối với một tổ hợp nhất định của
các thông số
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 34Hình 2.7 Các thông số cơ bản có ảnh hưởng đến lực ma sát [19]
Việc chọn chế độ sử dụng bình thường của bộ phận máy và cơ cấu đối
với mỗi cặp ma sát phụ thuộc vào giá trị tác động cơ học bên ngoài và ảnh
hưởng của các thông số gắn liền với việc xác định những vùng ổn định của
các hệ cơ bản µ=µ (p) và µ=µ (v) và các vùng dịch chuyển của chúng
Vì cơ sở của chế độ ma sát bình thường là ma sát oxy hóa nên ảnh
hưởng trước hết của môi trường khí chủ yếu gắn liền với sự có mặt của oxy
và nồng độ của nó Không những chỉ có các giới hạn của vùng ổn định mà
ngay cả sự tồn tại của những vùng đó cũng phụ thuộc sự có mặt của oxy
trong vùng ma sát Khi không có oxy và các chất oxy hóa khác (như trong
chân không) thì không thể có mòn bình thường
2.1.4 Các mô hình ma sát trong dao động:
Qúa trình ma sát trong các cơ hệ dao động được thể hiện thông qua
hiện tượng trượt – dính Hiện tượng trượt – dính được nghiên cứu ở hai dạng:
trượt vĩ mô và trượt vi mô Các chu kỳ trượt dính được đặc trưng bởi sự
chuyển đổi năng lượng giữa năng lượng thế năng của vật dẫn động và năng
lượng động năng của vật dao động Hệ số ma sát trong dao động được phân
thành hai loại: hệ số ma sát tĩnh µS và hệ số ma sát động µK Hệ số ma sát
tĩnh µS luôn luôn có giá trị lớn hơn giá trị hệ số ma sát động µK Mô hình ma
sát để nghiên cứu vẫn là một vấn đề mang tính mở bởi vì tính chất vật lý
của ma sát hiện vẫn chưa được làm rõ hoàn toàn [9] Có hai dạng mô hình
được sử dụng trong các nghiên cứu hiện nay là
+ Mô hình ma sát tuyến tính mà trong đó ma sát Coulomb thường được
áp dụng
+ Mô hình ma sát phi tuyến với ma sát phụ thuộc vào yếu tố vận tốc
trong quá trình dao động của cơ hệ
Theo [4], các nghiên cứu ma sát được phân thành hai loại:
+ Qúa trình dao động của cơ hệ được xem như là lý tưởng với các ảnh
hưởng của các yếu tố từ bên ngoài không kể đến, ma sát tuyến tính
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 35+ Qúa trình dao động của cơ hệ được xem là không lý tưởng với các
ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài được kể đến, ma sát phi tuyến
Vì vậy, mô hình ma sát trong nghiên cứu dao động ảnh hưởng đến kết
quả của nghiên cứu Sau đây là phần khảo sát về hai mô hình ma sát được
sử dụng trong các nghiên cứu:
2.1.4.1 Mô hình ma sát tuyến tính (Linear friction model):
Mô hình ma sát tuyến tính được xem xét ở đây là mô hình ma sát
Coulomb, mô hình ma sát nhớt, mô hình ma sát kết hợp Coulomb – nhớt
2.1.4.1.1 Mô hình ma sát Coulomb:
Mô hình ma sát Coulomb được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu
về ma sát Mô hình này có dạng như sau:
C
FF và0vkhi F
0v khi v
sign.F
F
Với Ftđ : Lực tác động lên vật
FC : Lực ma sát Coulomb
FC = µ.N với N: Trọng lượng vật
Tuy nhiên, lực ma sát Coulomb thường viết ở dạng:
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 36Hình 2.8 Mô hình ma sát Coulomb
thể dùng cho trường hợp tiếp xúc khô và tiếp xúc có bôi trơn giữa các biên
dạng Mô hình ma sát Coulomb không luôn luôn thể hiện đầy đủ tính chất
ma sát khi tiếp xúc, mà chỉ thể hiện tính chất cơ học giữa các bề mặt tiếp
xúc như mòn, bong tróc,… [5]
Các dữ liệu đặc trưng cho tính chất ma sát giữa các bề mặt, chẳng hạn
hệ số ma sát µ, chỉ đặc trưng cho ma sát trong các trường hợp xác định
Trong các nghiên cứu áp dụng mô hình ma sát Coulomb, các tác giả thường
áp dụng các hệ số này để đặc trưng cho tính ma sát Coulomb giữa hai bề
mặt Vì vậy, các kết quả nghiên cứu thường sai lệch, không thể hiện đầy đủ
tính ma sát, khó khăn khi phân tích và mô phỏng [5]
Ngoài ra, khi cơ hệ dao động, hệ số ma sát động sẽ có giá trị nhỏ hơn
hệ số ma sát tĩnh và giá trị hệ số ma sát động phụ thuộc vào vận tốc khối
nhau Đây cũng chính là nhược điểm của mô hình
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 372.1.4.1.2 Mô hình ma sát nhớt:
Mô hình ma sát nhớt được sử dụng để thay thế mô hình ma sát
Coulomb trong điều kiện các bề mặt tiếp xúc được bôi trơn Mô hình ma sát
này thuận lợi cho việc mô phỏng nhưng không thể hiện đầy đủ tính chất ma
sát của cơ hệ [5] Mô hình này có dạng như sau:
Với F: Lực ma sát nhớt
KV: Hệ số nhớt
v: Vận tốc
Mô hình ma sát nhớt có ưu điểm khi áp dụng cho các bề mặt tiếp xúc
dạng màng mỏng hoàn toàn vì tính chất ma sát lúc này được thể hiện đầy
đủ Trong các trường hợp khác, mô hình ma sát nhớt không thể hiện tốt tính
ma sát tiếp xúc, nhưng bằng cách điều chỉnh hệ số ma sát, mô hình ma sát
nhớt thể hiện tính chất như giảm chấn rất tốt trong các điều kiện xác định
2.1.4.1.3 Mô hình ma sát kết hợp Coulomb-nhớt:
Mô hình ma sát Coulomb và mô hình ma sát nhớt đều có các ưu và
nhược điểm Vì vậy, khi kết hợp hai mô hình này với nhau, việc mô phỏng
và phân tích kết quả được thuận lợi hơn Mô hình kết hợp như sau:
0vkhi 1,v.kmin.F
F
sat C
sat C
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 38
Hình 2.9 Mô hình ma sát nhớt
Mô hình (2.4) có thể viết lại như sau:
(k v)sat
0vkhi 1,v.kminv
.k
sat
sat
sat
Sử dụng mô hình kết hợp ma sát Coulomb – nhớt loại bỏ được khó
khăn khi xác định lực ma sát tại vận tốc trượt bằng 0 ở cả vị trí bắt đầu và
tại điểm thay đổi hướng trượt, mặc dù phương trình chuyển động vẫn còn phi
tuyến để giải tìm kết quả
2.1.4.2 Mô hình ma sát phi tuyến (Nonlinear friction model):
Các nghiên cứu ma sát được phân thành hai dạng: nghiên cứu ma sát ở
dạng trượt vĩ mô (macro-slip) và nghiên cứu ma sát ở dạng trượt vi mô
(micro-slip) Nhiều mô hình ma sát phi tuyến đã được nghiên cứu và được
phân làm hai phần:
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 39
Hình 2.10 Mô hình ma sát Coulomb – nhớt
2.1.4.2.1 Mô hình ma sát phi tuyến trượt vĩ mô:
Ở mô hình ma sát này, khoảng dịch chuyển khi ma sát được xem là
tương đối, nghĩa là không cần chú trọng lắm vào khoảng dịch chuyển này
khi mô phỏng
2.1.4.2.1.1 Mô hình ma sát Stribeck:
Trong các bề mặt được bôi trơn, ma sát giảm khi tăng tốc độ trượt cho
đến khi trạng thái bôi trơn hỗn hợp hoặc bôi trơn màng mỏng giữa hai bề
mặt đạt được, ma sát tiếp xúc giữa hai bề mặt có thể không đổi, tăng hoặc
giảm với tốc độ trượt gia tăng, do độ nhớt và ảnh hưởng của nhiệt sinh ra khi
ma sát Đây chính là tính chất ma sát đã được Stribeck phát hiện năm 1902
Mô hình ma sát Stribeck như sau: [5]
F (F (F F )e ( v / v s )i)sign(v) kv.v
C S C
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt
Trang 40FS : Lực ma sát tĩnh lớn nhất
vs : Hệ số vận tốc trượt
kv : Hệ số ma sát nhớt
Theo [5], mô hình ma sát Stribeck cũng có nhược điểm tương tự như mô hình
ma sát Coulomb khi thay đổi hướng trượt, giá trị lực ma sát phụ thuộc vào
lực tác động và các bề mặt tiếp xúc dính với nhau
Mô hình ma sát Stribeck đặc trưng trong vùng có vận tốc thấp, ở vùng
này, độ lớn của lực ma sát giảm khi vận tốc trượt gia tăng Khi độ lớn vận
tốc tăng, lực ma sát cũng tiến dần đến giá trị tối thiểu Tuy nhiên, khi vận
tốc trượt tăng quá nhiều, lực ma sát lại tăng ổn định tương tự như ma sát
nhớt
Hình 2.11 Mô hình ma sát Stribeck
HVTH: Đỗ Xuân Phú GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt