1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng tiêu chí bảo vệ môi trường và phân hạng doanh nghiệp công nghiệp tại tp hồ chí minh

197 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 197
Dung lượng 7,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH 2-NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG LUẬN VĂN: - Tổng quan về các công cụ quản lý môi trường áp dụng tại các doanh nghiệp; Tình hình phân hạng doanh nghiệp công nghiệp theo tiêu chí bảo

Trang 1

TRẦN LÊ NGỌC QUYÊN

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TIÊU CHÍ

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÂN HẠNG DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP TẠI TP.HCM

Chuyên ngành: Quản Lý Môi Trường

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

Cán bộ hướng dẫn khoa học: Nguyễn Đinh Tuấn

Cán bộ chấm nhận xét 1:

Cán bộ chấm nhận xét 2:

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, ngày 28 tháng 7 năm 2008

Trang 3

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ và tên học viên: TRẦN LÊ NGỌC QUYÊN Giới tính : Nữ

Ngày, tháng, năm sinh : 28/9/1981 Nơi sinh : Tỉnh Long An

Chuyên ngành: Quản lý môi trường – Khóa 2006 MSHV: 02606616

1- TÊN ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TIÊU CHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ

PHÂN HẠNG DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP TẠI TP HỒ CHÍ MINH

2-NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG LUẬN VĂN:

- Tổng quan về các công cụ quản lý môi trường áp dụng tại các doanh nghiệp; Tình hình

phân hạng doanh nghiệp công nghiệp theo tiêu chí bảo vệ môi trường trên thế giới và tại Việt Nam

- Đánh giá hiện trạng về quản lý môi trường tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

- Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí bảo vệ môi trường và phương pháp phân hạng nhằm phân hạng doanh nghiệp công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh

- Áp dụng phân hạng một số doanh nghiệp theo tiêu chí bảo vệ môi trường đã được xây dựng

3- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ : Ngày 25-01-2008

4- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ : Ngày 30-06-2008

5- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: PGS.TS Nguyễn Đinh Tuấn

QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH

PGS.TS Nguyễn Đinh Tuấn

Nội dung và đề cương Luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua

Ngày 28 tháng 7 năm 2008

QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sĩ của tôi đã hoàn thành tốt như mong đợi, để làm được điều này không phải chỉ nhờ vào nỗ lực của bản thân mà còn nhờ vào sự giúp đỡ nhiệt tình của rất nhiều người

Tôi xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn, PGS.TS Nguyễn Đinh Tuấn, cảm ơn thầy đã luôn luôn hỗ trợ, động viên và hướng dẫn tôi thực hiện tốt luận văn thạc sĩ của mình

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến lãnh đạo và các đồng nghiệp Phòng Thu phí môi trường, Phòng Kiểm tra Giám sát – Chi cục Bảo vệ môi trường, đặc biệt là bạn Giang Hữu Tài, đã tạo điều kiện và nhiệt tình hỗ trợ giúp tôi hoàn tất luận văn thạc sĩ này

Xin cảm ơn gia đình, nguồn động viên tinh thần to lớn trong suốt quá trình học tập của tôi.

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ

Ngày nay, Việt Nam đang trên đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, hội nhập với các nước trên thế giới để cùng tiến bộ và phát triển Quá trình phát triển đã mang lại cho nước ta những thành tựu to lớn trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội Tuy nhiên, song song với quá trình phát triển đó chính là hiểm họa về ô nhiễm môi trường, chúng trở thành mối quan tâm hàng đầu không chỉ của Việt Nam mà còn là của cộng đồng thế giới

Tại thành phố Hồ Chí Minh, đội ngũ cán bộ quản lý môi trường luôn được bổ sung và đào tạo thường xuyên Nhưng tốc độ công nghiệp hóa diễn ra quá mãnh liệt nên các cơ quan quản lý môi trường không thể kiểm soát tất cả và thường xuyên được Vấn đề ô nhiễm môi trường, trong đó ô nhiễm nghiêm trọng nhất là ô nhiễm công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh đã đến lúc báo động Nguyên nhân chính là

do ý thức của đại đa số các doanh nghiệp còn thấp, doanh nghiệp chú trọng đến hiệu quả kinh tế nhưng lại xem nhẹ hậu quả ô nhiễm môi trường tại nơi sản xuất và môi trường sống xung quanh

Từ kinh nghiệm quản lý môi trường của các nước trên thế giới như Trung Quốc, Indonesia, Philippin… Các tỉnh và thành phố ở nước ta như tại Hà Nội, Hải Phòng và nhất là tại thành phố Đà Nẵng bước đầu có một chương trình kiểm soát ô nhiễm mới, trong đó hoạt động môi trường của các nhà máy được xếp hạng từ tốt đến xấu bằng cách thường sử dụng các màu sắc khác nhau và công bố rộng rãi đến cộng đồng qua các phương tiện thông tin đại chúng Chương trình đã mang lại những kết quả khả quan trong công tác bảo vệ môi trường

Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã thực hiện chương trình như sách đen và sách xanh nhưng còn những hạn chế nhất định Nhằm phát huy vai trò tích cực của công tác phân hạng công nghiệp theo tiêu chí bảo vệ môi trường trong việc bảo vệ môi trường, ta sẽ tiến hành xem xét mặt khuyến điểm và ưu điểm của quá trình phân hạng đã thực hiện trên thế giới và một số tỉnh thành tại Việt Nam, xem xét hiện trạng quản lý môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh và tiến hành “Nghiên cứu xây dựng tiêu chí bảo vệ môi trường và phân hạng doanh nghiệp công nghiệp tại thành

Trang 6

phố Hồ Chí Minh” một cách khoa học, phù hợp và hiệu quả nhằm khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao ý thức và trách nhiệm trong công tác bảo vệ môi trường Đồng thời, việc xây dựng chương trình phân hạng doanh nghiệp công nghiệp còn nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý của các cơ quan quản lý môi trường, giúp cơ quan quản lý môi trường kiểm soát nguồn ô nhiễm công nghiệp

Trang 7

SUMMARY

Nowadays, Viet Nam is in the industrialization and modernization process Viet Nam is intergrating into the community all over the world to make the grogress and development that bring our country with great achivements in many areas such

as economy, culture and society However, on the other side of the socioeconomic development is the risk of environmental pollution that is becoming the universal problem

Although the environmental managers have always added and trained in Ho Chi Minh, the industrialization is too strong for the managers to control unceasingly The most serious environmental pollution caused by industrial activities Now we have to sound arlarm about this The main reason is the poor awareness of enterprises Almost companies run after the profits and have no respect the environment in their production and surrounding areas

Previous experiences in China, Indonesia, Phillipine and in some provinces

of Viet Nam such as Ha Noi, Hai Phong and specially in Đa Nang have demonstrated the new pollution control grogrammes in which the environmental performance of firms is rated and reported to the public Firms are rated from best

to worst using colours and the ratings are disseminated to the public through the media These rating programmes have gotten satisfactory results in controlling environmental pollution

Although the programmes that called black book and green book performed

in Ho Chi Minh City, there were still restricted in applying process To improving the positive roles of the grade grogramme, I will consider the weak and strong characteristics of the previous one in some foreign countries and in some provinces

of Viet Nam I will also consider the present environmental management in Ho Chi Minh City and carry out the scientific, suitable and effective thesis called “Studying

to set up the environmental protection criterion and to rate the industrial companies

in Ho Chi Minh City” with a view to encourage industrial companies to improve

Trang 8

their awareness and responsibility in protecting the environment And this is also a tool that assists the authority to control industrial pollution

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

TRANG

Bảng 2.1: Phân hạng nhà máy ô nhiễm theo chương trình Proper 27

Bảng 3.1: Số lượng các cơ sở sản xuất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 49

Bảng 3.2: Tải lượng của các chất ô nhiễm không khí chủ yếu của một số ngành công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh 52

Bảng 3.3: Bảng tổng hợp tình hình xử lý nước thải tại KCN-KCX 60

Bảng 4.1: Danh mục các dự án phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường 75

Bảng 4.2: Bảng tổng hợp và cho điểm các tiêu chí 100

Bảng 4.3: Danh sách các cơ sở không đánh giá chấm điểm 108

Bảng 4.4: Danh sách các cơ sở thuộc sách xanh 109

Bảng 4.5: Danh sách các cơ sở thuộc sách vàng 110

Bảng 4.6: Danh sách các cơ sở thuộc sách đỏ 112

Bảng 4.7: Danh sách các cơ sở thuộc sách đen 114

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

TRANG

Hình 2.1: Kết quả phân hạng Chương trình Ecowatch của Philipin 29

Hình 3.1:Nước thải tại suối Ba Bò 55

Hình 3.2 : Rác thải trên suối Cái – Xuân Trường 55

Đức 107

Trang 11

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

(1) BAPEDAL: Cơ quan Kiểm soát ô nhiễm Indonesia

(2) PROPER: Chương trình kiểm soát, đánh giá và xếp hạng ô nhiễm các nhà máy

công nghiệp tại Indonesia

(3) DENR: Bộ Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên Phillipin

(4) ECOWATCH: Chương trình giám sát sinh thái tại Philipin

(5) GREENWATCH: Chương trình giám sát xanh tại Trung Quốc

(6) TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam

(7) Phân hạng doanh nghiệp: phân hạng doanh nghiệp công nghiệp theo tiêu chí

bảo vệ môi trường

Trang 12

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ ii

SUMMARY iv

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

MỤC LỤC ix

CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Sơ lược tình hình nghiên cứu 3

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 6

1.4 Nội dung nghiên cứu 6

1.5 Phương pháp nghiên cứu 7

1.5.1 Phương pháp luận nghiên cứu 7

1.5.2 Phương pháp thực hiện 8

1.6 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 8

1.7 Tính mới, tính khoa học và tính thực tiễn của đề tài 9

1.7.1 Tính mới của đề tài 9

1.7.2 Tính khoa học và pháp lý của đề tài 9

1.7.3 Tính thực tiễn của đề tài 9

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 11

2.1 Tổng quan về các công cụ quản lý môi trường áp dụng tại các doanh nghiệp 11

2.1.1 Công cụ quản lý môi trường 11

2.1.2 Phân loại các công cụ quản lý môi trường 12

2.1.2.1 Phân loại theo chức năng 12

2.1.2.2 Phân loại theo bản chất công cụ 13

Trang 13

2.2 Tình hình phân hạng doanh nghiệp ở nước ngoài 26

2.2.1 Chương trình PROPER ở Indonesia 26

2.2.2 Chương trình Ecowatch ở Philippin 28

2.2.3 Chương trình Greenwatch ở Trung Quốc 29

2.2.4 Chương trình Environmental Truth tại Thái Lan (TET) 32

2.2.5 Chương trình phân hạng các cơ sở công nghiệp ở Ấn Độ 32

2.3 Tình hình phân hạng doanh nghiệp ở trong nước 34

2.3.1 Hà Nội 34

2.3.2 Hải Phòng 36

2.3.3 Đà Nẵng 37

2.3.3.1 Quy trình thực hiện 37

2.3.3.2 Phương pháp thực hiện 37

2.3.3.3 Tiêu chí phân hạng cơ sở công nghiệp tại Đà Nẵng 38

2.3.4 Thành Phố Hồ Chí Minh 38

2.3.4.1 Sách đen đợt 1 năm 1994 38

2.3.4.2 Sách đen đợt 2 năm 1997 39

2.3.4.3 Sách xanh 41

CHƯƠNG 3: HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 47

3.1 Khái quát tình hình phát triển kinh tế-xã hội của thành phố Hồ Chí Minh 47

3.2 Vấn đề ô nhiễm môi trường do hoạt động công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh 50

3.2.1 Ô nhiễm không khí 51

3.2.2 Ô nhiễm nước 54

3.2.2.1 Ô nhiễm nước mặt 54

3.2.2.2 Ô nhiễm nước ngầm 55

3.2.3 Ô nhiễm đất 56

Trang 14

3.3 Hiện trạng quản lý môi trường tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa

bàn thành phố Hồ Chí Minh 57

3.3.1 Đối với cơ quan quản lý môi trường 57

3.3.2 Đối với các doanh nghiệp 60

3.3.2.1 Về nước thải 60

3.3.2.2 Về khí thải 61

3.3.2.3 Về chất thải rắn 62

3.3.3 Sự tham gia của cộng đồng 64

CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TIÊU CHÍ BẢO VỆ MÔI TRUỜNG VÀ PHÂN HẠNG DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 68

4.1 Cơ sở thực hiện nghiên cứu xây dựng tiêu chí bảo vệ môi trường và phân hạng đối với doanh nghiệp công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh 68

4.1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn 68

4.1.2 Cơ sở pháp lý 68

4.2 Nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chí bảo vệ môi trường 69

4.2.1 Tuân thủ Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường 71

4.2.2 Các giấy phép về môi trường của cơ sở 74

4.2.3 Vi phạm hành chính 91

4.2.4 Quan trắc môi trường định kỳ 91

4.2.5 Ý kiến cộng đồng 93

4.2.6 Cảnh quan môi trường 95

4.2.7 Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường 96

4.3 Phương pháp phân hạng doanh nghiệp công nghiệp theo tiêu chí bảo vệ môi trường 98

4.3.1 Cơ cấu tính điểm cho các tiêu chí 100

4.3.2 Quy trình phân hạng doanh nghiệp 104

4.4 Áp dụng phân hạng doanh nghiệp theo tiêu chí bảo vệ môi trường đã xây dựng 106

Trang 15

4.4.1 Kết quả chấm điểm các cơ sở 106

4.4.2 Kết quả phân hạng doanh nghiệp theo tiêu chí bảo vệ môi trường 107

4.4.2.1 Các cơ sở không đánh giá 108

4.4.2.2 Các cơ sở thuộc màu xanh 109

4.4.2.3 Các cơ sở thuộc màu vàng 109

4.4.2.4 Các cơ sở thuộc màu đỏ 111

4.4.2.5 Các cơ sở thuộc màu đen 113

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 115

5.1 Kết luận 115

5.2 Kiến nghị 116

TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

Trang 16

CHƯƠNG 1 PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người

và sinh vật (Luật Bảo vệ môi trường, năm 2005)

Bắt đầu từ những năm 1960, có những dấu hiệu cho thấy sự phát triển ngày càng tăng của nạn suy thoái môi trường đã ngày một rõ ràng hơn và con người đã bắt đầu ý thức được những ảnh hưởng có hại từ hoạt động của mình đối với môi trường sống Việt Nam cũng không nằm ngoài chu trình đấy

Trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, đất nước ta đã, đang và sẽ đạt được những thành tựu to lớn về tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Điều đó càng khẳng định vị trí nước Việt Nam trên bản đồ thế giới và có vai trò không nhỏ trong quá trình phát triển chung của nhân loại Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế là vấn đề sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên không hợp lý gây ô nhiễm môi trường Từ những năm 1980 trở về sau, các nhà máy, xí nghiệp hoạt động ngày càng nhiều, diện tích đất nông nghiệp, đất rừng tại Việt Nam ngày càng bị thu hẹp, nguồn nước sử dụng và hệ thống kênh rạch không còn dồi dào và trong sạch như trước nữa, khí hậu thay đổi theo chiều hướng xấu….Hiểm họa về ô nhiễm môi trường do nhiều nguyên nhân trong đó do hoạt động sản xuất công nghiệp đang trở thành vấn đề trọng tâm trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập với thế giới

Thành phố Hồ Chí Minh, đầu tàu của quá trình công nghiệp hóa cũng nêu cao khẩu hiệu phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện nhiều chương trình tuyên truyền nâng cao ý thức của từng cá nhân, từng

cơ sở, doanh nghiệp như ngày chủ nhật xanh, chiến dịch trồng cây, thu dọn rác… Các tổ chức xã hội như thanh niên, phụ nữ, các tổ chức phi chính phủ đã tổ chức

Trang 17

các lớp đào tạo, tập huấn, các hội thảo, hội nghị; xây dựng hàng chục chương trình truyền hình về các vấn đề bảo vệ môi trường, tổ chức thi vẽ tranh môi trường cho trẻ em, tổ chức các phong trào vệ sinh môi trường, phong trào trồng cây, tuần lễ quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường; phong trào thành phố xanh, sạch, đẹp Bên cạnh đó, thành phố cũng trang bị hệ thống, phương tiện, nhân lực có chuyên môn thường xuyên quan trắc chất lượng môi trường trên địa bàn, góp phần

dự báo và giải quyết kịp thời các sự cố môi trường

Ý thức bảo vệ môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh ngày nay đã tăng cao, tuy nhiên vẫn còn một số lượng không nhỏ cá nhân, đơn vị vì lợi nhuận kinh tế và không thường xuyên giám sát môi trường gây nên hậu quả không nhỏ đến chất lượng môi trường Thành phố đã tiến hành giải quyết, xử phạt nghiêm các trường hợp vi phạm trên Song song với quá trình đó, có chương trình biểu dương các đơn

vị thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường Tuy nhiên, các biện pháp thực hiện không đồng bộ và không thể kiểm soát hết tất cả hoạt động của các cơ sở công nghiệp Vì thế môi trường tại thành phố vẫn còn bị ô nhiễm, có vài nơi vấn đề ô nhiễm thậm chí còn nghiêm trọng hơn

Ngày nay, trên thế giới, cùng với việc phát triển ngày càng mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), công tác quản lý bảo vệ môi trường cũng đang dần chuyển từ mô hình quản lý truyền thống theo kiểu ‘quả đấm’ với việc kết hợp các biện pháp kiểm soát bằng mệnh lệnh (các quy chế, luật định) với các biện pháp kinh tế (như các hình thức phạt, lệ phí) sang mô hình quản lý mới với việc áp dụng mạnh mẽ các tiến bộ của ICT trong quản lý bảo vệ môi trường Mô hình quản

lý môi trường mới này là phân hạng doanh nghiệp theo tiêu chí bảo vệ môi trường, trong cách phân hạng này các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, thị trường và cộng đồng đều được huy động để tham gia một cách tích cực

và hiệu quả trong các hoạt động bảo vệ môi trường Ở những nước này, các cơ quan quản lý môi trường áp dụng nhiều chương trình cải cách và đổi mới trong công tác quản lý môi trường và cưỡng chế tuân thủ luật pháp về bảo vệ môi trường theo

hướng sử dụng ‘phổ biến cho cộng đồng thông tin về hành vi môi trường’ của các

Trang 18

cơ sở sản xuất, kinh doanh hay các đối tượng mà hoạt động của chúng có khả năng

gây ảnh hưởng đến môi trường như một công cụ hữu hiệu nhằm giám sát thực thi hệ thống luật pháp về bảo vệ môi trường và tạo áp lực bắt các cơ sở phải tự điều chỉnh

hành vi để đảm bảo tuân thủ luật

Nhìn chung, cách thức áp dụng và triển khai các chương trình phổ biến thông tin môi trường cho cộng đồng ở các nước cũng có những điểm khác nhau, song đều tập trung vào một mục tiêu chung là huy động sự tham gia tích cực và hiệu quả của cộng đồng trong việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của doanh nghiệp công nghiệp

1.2 Sơ lược tình hình nghiên cứu

Trong thời đại ngày nay, các cơ quan quản lý môi trường tại nhiều nước như Pháp, Hà Lan, Canađa, Mỹ, Côlômbia, Braxin, Inđônêxia, Philippin, Thái Lan, Trung Quốc đang áp dụng các chương trình cải cách và đổi mới trong công tác quản

lý môi trường và cưỡng chế tuân thủ luật pháp về bảo vệ môi trường theo hướng sử dụng các phương pháp cho điểm đơn giản để công chúng có thể nhận rõ được những nhà máy nào tuân thủ các tiêu chuẩn ô nhiễm của quốc gia, địa phương và những nhà máy nào không tuân thủ các tiêu chuẩn này Bằng cách phân hạng các nhà máy dựa theo các số liệu quan trắc môi trường theo từng thời kỳ và phổ biến rộng rãi những kết quả phân hạng này trên các phương tiện thông tin đại chúng, các nhà quản lý môi trường có thể làm cho các cộng đồng nhận biết được các cơ sở gây

ô nhiễm nghiêm trọng và gây áp lực để các doanh nghiệp này phải áp dụng các biện pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ môi trường Cách quản lý này đã chứng tỏ được tính hiệu quả của nó ở nhiều nước trên thế giới, thậm chí cả ở những nước đang phát triển mà hệ thống các quy định, văn bản pháp luật về môi trường còn yếu kém hoặc còn chưa đầy đủ

Áp dụng mô hình phân hạng doanh nghiệp từ các nước Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc, Philippin, Mehico Việt Nam đã tiến hành phân loại đánh giá ô nhiễm công nghiệp và công khai hoá thông tin về các cơ sở sản xuất công nghiệp từ năm

Trang 19

1997 Một chương trình thử nghiệm cách tiếp cận mới như các nước trên cũng đã được thiết kế cho nước ta và bắt đầu được thử nghiệm thực thi từ tháng 8/2001 trên địa bàn Hà Nội cho khoảng 50 doanh nghiệp thuộc hai ngành công nghiệp là chế biến thực phẩm và dệt nhuộm trong khuôn khổ các hoạt động của dự án "Tăng cường năng lực thể chế quản lý thông tin môi trường" (Dự án SICEIM) do Ngân hàng Thế giới tài trợ Do đây là chương trình thử nghiệm đầu tiên ở Việt Nam nên chỉ tập trung vào đánh giá mức độ ô nhiễm nước thải và những nỗ lực khắc phục và cải thiện chất lượng nước thải của các cơ sở tham gia chương trình Chương trình đã tập trung nghiên cứu kỹ hiện trạng ô nhiễm nước môi trường Hà Nội, thực tế công tác quản lý môi trường trên địa bàn Hà Nội, tình hình hoạt động của các cơ sở tham gia chương trình thử nghiệm và đề xuất một hệ thống phân hạng áp dụng thử nghiệm đánh giá nỗ lực bảo vệ môi trường (xử lý nước thải) cho 50 cơ sở tham gia chương trình thử nghiệm tại Hà Nội trong giai đoạn từ tháng 8/2001 đến tháng 6/2002

Với cách tiếp cận này, một số thành phố ở nước ta như Hải Phòng đã xây dựng sách phân hạng xanh và Đà Nẵng xây dựng khung phân hạng xanh bước đầu đã có được những kết quả nhất định

Nhận thức rõ được rằng, giải quyết vấn đề môi trường và ngăn chặn ô nhiễm ở khu đô thị, khu công nghiệp, khu vực ngoại thành đồng thời để cải thiện môi trường sống và góp phần phát triển kinh tế - xã hội là sự nghiệp chung của Đảng, Chính phủ và của toàn dân, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng chương trình “Giảm thiểu ô nhiễm môi trường công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp”, chương trình “Sản xuất sạch hơn”, “Chiến lược quản lý và bảo vệ môi trường cho giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2010” Và gần đây là chương trình trao “Giải thưởng doanh nghiệp xanh” hàng năm do Báo Sài Gòn Giải Phóng phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố tổ chức, góp phần biếu dương và nâng cao uy tín của các doanh nghiệp thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường Tuy nhiên, giải thưởng này chỉ biểu dương một số ít doanh nghiệp thực hiện kiểm soát ô nhiễm môi trường có

Trang 20

hiệu quả và không tác động tích cực đối với các doanh nghiệp còn yếu kém trong công tác quản lý môi trường

Chương trình “Điều tra ô nhiễm công nghiệp trọng điểm tại thành phố Hồ Chí Minh” hay còn gọi là Sách đen đợt 1 (thực hiện từ năm 1993 đến năm 1996) và sách đen đợt 2 (năm 1997); thêm vào đó Sách xanh (năm 2001 – năm 2002) do Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh xây dựng là một sản phẩm minh họa rõ nét các kết quả đạt được Sách đen tuy chỉ xét đến một số yếu tố môi trường để đánh giá nhưng chúng đã góp phần nâng cao ý thức của các doanh nghiệp trong công tác bảo vệ môi trường, nhiều công ty đã tiến hành cải tạo môi trường để không bị đưa vào sách đen Cuốn sách xanh đã mô tả các giải pháp được các doanh nghiệp thực hiện trong quá trình đầu tư, sản xuất và kinh doanh nhằm phát triển các doanh nghiệp của họ trong khi vẫn thực hiện nghiêm túc luật bảo vệ môi trường của Việt Nam Tuy nhiên, kết quả đạt được từ 2 cuốn sách vẫn còn thiếu sót và sách xây dựng xong không được công bố rộng rãi qua phương tiện thông tin đại chúng Việc xây dựng hình ảnh tốt đẹp của doanh nghiệp đến cộng đồng là một nhân tố rất tích cực góp phần nâng cao ý thức của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất song song với bảo vệ môi trường Do nhiều hạn chế trên nên sách đen và sách xanh tại thành phố Hồ Chí Minh dừng lại trước khi công bố kết quả và đã không được duy trì cho đến nay

Xuất phát từ những kinh nghiệm của các nước trên thế giới và các tỉnh thành phố khác tại Việt Nam, đồng thời để phù hợp với hiện trạng quản lý môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, thành phố muốn phân hạng doanh nghiệp có hiệu quả phải xây dựng tiêu chí phân hạng khoa học, chi tiết và có tính thuyết phục cao

Vì thế, đề tài “Nghiên cứu xây dựng tiêu chí bảo vệ môi trường và phân hạng doanh nghiệp công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh” sẽ nghiên cứu và giải quyết vấn đề này để phát huy hết hiệu quả quản lý môi trường từ quá trình phân hạng doanh nghiệp công nghiệp mang lại

Trang 21

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Đã từ lâu việc giải quyết sự ô nhiễm môi trường do hoạt động công nghiệp gây

ra đã trở thành vấn đề nhức nhối của toàn xã hội nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng

Luận văn được thực hiện nhằm những mục tiêu cụ thể sau:

- Nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chí bảo vệ môi trường và phương pháp phân hạng doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nhằm đánh giá hiệu quả công tác bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

- Dựa vào tiêu chí, đánh giá và phân hạng một số doanh nghiệp được điều tra trên địa bàn

1.4 Nội dung nghiên cứu

Để giải quyết tốt các mục tiêu đề mà luận văn đặt ra, cần nghiên cứu các nội dung sau:

- Tổng quan về các công cụ quản lý môi trường đang áp dụng tại các doanh nghiệp công nghiệp

- Tổng quan về tình hình phân hạng doanh nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam

- Tổng quan về các vấn đề môi trường và hiện trạng quản lý môi trường tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Qua đó, đề ra cách quản lý môi trường có hiệu quả tại thành phố Hồ Chí Minh

- Thống kê, điều tra khảo sát, lấy mẫu đo đạc các chỉ số về môi trường nước thải và khí thải tại một số cơ sở công nghiệp trên địa bàn thành phố theo quy mô và ngành nghề: sản suất giấy, dệt nhuộm, giày da,…

Trang 22

- Xây dựng hệ thống tiêu chí bảo vệ môi trường cho công tác phân hạng doanh nghiệp tại thành phố Từ đó xây dựng phương pháp phân hạng và quy trình phân hạng doanh nghiệp công nghiệp theo tiêu chí bảo vệ môi trường

- Dựa vào kết quả điều tra và áp dụng phần mềm để xử lý, thống kê và lưu trữ các thông tin thu thập và phân tích được từ các cơ sở công nghiệp và tiến hành

áp dụng phân hạng cơ sở công nghiệp theo hệ thống tiêu chí này

1.5 Phương pháp nghiên cứu

1.5.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh đã đến lúc báo động Nguyên nhân chính là hầu hết các cơ sở chưa ý thức được hậu quả nghiêm trọng và lâu dài do ô nhiễm môi trường của hoạt động sản xuất công nghiệp gây ra Số lượng doanh nghiệp trên thành phố Hồ Chí Minh rất lớn, hiện có khoảng gần 30.000 cơ sở công nghiệp đang sản xuất

Cơ quan nhà nước không ngừng tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về nguồn phát thải vào môi trường Tuy nhiên, với số lượng doanh nghiệp quá lớn nên việc quản lý hiện trạng môi trường tại các doanh nghiệp chưa có hiệu quả Thành phố đã sử dụng biện pháp di dời các cơ sở ô nhiễm trọng điểm ra khỏi nội thành, nhưng dường như lại mang nguồn ô nhiễm ra ngoại thành chứ chưa giải quyết dứt điểm vấn đề ô nhiễm môi trường Việc tuyên truyền cũng được thực hiện nhiều nhưng tự thân doanh nghiệp không vì bảo vệ môi trường mà bỏ qua lợi nhuận kinh tế trước mắt

Tuy nhiên, bất cứ một doanh nghiệp nào cũng muốn có hình ảnh tốt đối với cộng đồng Vì thế, phương cách kiểm soát ô nhiễm môi trường có hiệu quả là việc phổ biến thông tin thích hợp để công chúng có thể đánh giá được những hậu quả môi trường do những hoạt động của các tổ chức kinh doanh hoặc của các cá nhân, tạo nên sức ép của toàn xã hội để chính doanh nghiệp công nghiệp nâng cao ý thức

và tiến hành các biện pháp phòng ngừa, tránh gây ô nhiễm môi trường

Trang 23

1.5.2 Phương pháp thực hiện

- Phương pháp tham khảo tài liệu: thu thập các tài liệu, số liệu tham khảo các công trình kết quả nghiên cứu liên quan đến các vấn đề phân hạng doanh nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam; và các vấn đề ô nhiễm môi trường do hoạt động công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh

- Điều tra thu thập thông tin: gửi phiếu điều tra theo đường bưu điện cho các

cơ sở để thu thập thập tin về hoạt động sản xuất kinh doanh, các vấn đề sử dụng nguyên nhiên liệu, hệ thống xử lý chất thải, công tác bảo vệ môi trường của cơ sở

- Phương pháp khảo sát thực địa, điều tra trực tiếp: tiếp cận với cơ sở công nghiệp và các cơ quan quản lý để thu thập thông tin, điều tra các hoạt động của cơ

sở công nghiệp và lấy ý kiến đóng góp để hoàn chỉnh kết quả điều tra

- Phương pháp lấy mẫu, đo đạc, phân tích: lấy mẫu nước thải, khí thải và phân tích, đo đạc nồng độ các chất ô nhiễm trong các mẫu nước thải, khí thải của các cơ sở công nghiệp

- Phương pháp tổng hợp thông tin: tổng hợp các thông tin thu thập và các kết quả đo đạc, xử lý số liệu, lập bảng tổng hợp

- Phương pháp chuyên gia: tổ chức hội thảo lấy ý kiến của các chuyên gia, cán bộ quản lý môi trường thành phố, các doanh nghiệp đang sản xuất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh về việc đóng góp xây dựng tiêu chí bảo vệ môi trường

- Phương pháp nghiên cứu, xây dựng các tiêu chí, cơ cấu tính điểm và quy trình để đánh giá và phân hạng doanh nghiệp

1.6 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh

Trang 24

1.7 Tính mới, tính khoa học và tính thực tiễn của đề tài

1.7.1 Tính mới của đề tài

Cách đây hơn 10 năm, tại thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai và công bố sách đen, sách xanh và gần đây là giải thưởng doanh nghiệp xanh nhưng nhìn chung việc phân hạng này chỉ ở phạm vi nhỏ, tiêu chí phân hạng đơn giản nên hầu như các doanh nghiệp được xét đều đạt chuẩn môi trường nhưng trên thực tế để đạt đến hạng mức môi trường xanh, sạch phải dựa trên rất nhiều yếu tố Trong những năm gần đây, có rất nhiều triển khai phân hạng doanh nghiệp tại một số tỉnh thành trong

cả nước như Hà Nội, Hải Phòng, đặc biệt là Đà Nẵng bước đầu có những kết quả tốt

đẹp Thành phố Hồ Chí Minh có đặc thù riêng, có cơ sở sản xuất nhiều nhưng lại chưa tiến hành phân hạng doanh nghiệp chi tiết như các tỉnh thành khác Đề tài này

sẽ nghiên cứu xây dựng tiêu chí bảo vệ môi trường và quy trình phân hạng doanh nghiệp công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh cụ thể hơn nhằm thúc đẩy quá trình bảo vệ môi trường trong giai đoạn hiện nay

1.7.2 Tính khoa học và pháp lý của đề tài

Đề tài dựa trên cơ sở khoa học: là các tài liệu tham khảo từ chương trình phân hạng doanh nghiệp theo tiêu chí bảo vệ môi trường của các nước trên thế giới và một số tỉnh thành tại Việt Nam, hiện trạng quản lý môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh; và cơ sở pháp lý là các tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường và luật pháp quản

lý môi trường để tiến hành nghiên cứu xây dựng các tiêu chí bảo vệ môi trường và

áp dụng phân hạng một số doanh nghiệp công nghiệp được khảo sát theo tiêu chí này

1.7.3 Tính thực tiễn của đề tài

Như đã đề cập trong phần mở đầu về tính cần thiết của đề tài, thì việc kiểm soát môi trường tại các cơ sở sản xuất công nghiệp là rất thiết thực, thêm vào đó khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới, để thành công trong kinh doanh thì doanh nghiệp phải thực hiệu tốt khâu bảo vệ môi trường, đó là một vấn đề nan giải đáng quan tâm trên toàn cầu Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay và trong tương

Trang 25

lai đang và sẽ có rất nhiều cơ sở sản xuất thành lập, vì thế hoạt động của các cơ sở sản xuất ắt hẳn vượt ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước Việc phân hạng doanh nghiệp theo tiêu chí bảo vệ môi trường là một khuynh hướng tất yếu, dựa vào sức ép của cộng đồng sẽ tác động lên doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải đầu tư cải thiện các hành động bảo vệ môi trường của mình Chương trình phân hạng doanh nghiệp theo tiêu chí bảo vệ môi trường không những nâng cao tính tự giác trong công tác bảo vệ môi trường của doanh nghiệp mà còn biểu dương các doanh nghiệp thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường đồng thời răn đe, nhắc nhở các đơn vị có ý thức môi trường kém, giúp cơ quan quản lý nhà nước thống kê dữ liệu nguồn ô nhiễm công nghiệp và nó chính là một công cụ kiểm soát

ô nhiễm vừa gọn nhẹ, dễ dàng triển khai thực hiện, vừa thể hiện tính minh bạch, công bằng và dân chủ

Trang 26

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Tổng quan về các công cụ quản lý môi trường áp dụng tại các doanh nghiệp

2.1.1 Công cụ quản lý môi trường

Công cụ quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp hoạt động về luật pháp, chính sách, kinh tế kỹ thuật và xã hội hướng tới việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững kinh tế- xã hội

Công cụ quản lý môi trường là vũ khí hoạt động của nhà nước, của các tổ chức nghiên cứu khoa học và sản xuất thực hiện công tác quản lý môi trường quốc gia và địa phương

Công cụ quản lý môi trường rất đa dạng; không có công cụ nào có giá trị tuyệt đối trong việc quản lý môi trường Mỗi công cụ có chức năng và phạm vi tác động nhất định, chúng tạo một tập hợp các biện pháp hỗ trợ nhau

Các tổ chức nhà nước địa phương và cá nhân, các nhà môi trường có thể lựa chọn một nhóm các công cụ thích hợp cho từng hoạt động bảo vệ môi trường cụ

thể Ví dụ: để quản lý các hoạt đông sản xuất nên dùng các công cụ kinh tế Trong

khi đó để quản lý môi trường các hoạt động xã hội, các biện pháp hành chính có hiện lực hơn

Mỗi một quốc gia, mỗi địa phương tùy từng điều kiện cụ thể (điều kiện pháp

lý, thực trạng kinh tế xã hội và phong tục tập quán) nên sử dụng các biện pháp thích hợp Ví dụ pháp luật sẽ kém hiệu lực khi sử dụng đối với các đồi bào thiểu số, trong khi đó các biện pháp kinh tế, giáo dục có tác động mạnh mẽ hơn

Trong công tác quản lý môi trường, việc nghiên cứu và hoàn thiện các công cụ quản lý là điều bắt buộc và phải làm thường xuyên đối với các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và là công tác trọng tâm của ngành môi trường

Xu hướng ngày nay là các công cụ quản lý môi trường ngày càng trở nên tinh

vi, hiệu lực hơn, mang tính hiệu quả hơn

Trang 27

2.1.2 Phân loại các công cụ quản lý môi trường

Để nghiên cứu chi tiết, các công cụ quản lý môi trường được phân loại theo nhiều góc độ khác nhau

2.1.2.1 Phân loại theo chức năng

Có thể phân làm 3 loại chức năng chủ yếu của công cụ quản lý môi trường sau đây:

 Công cụ điều chỉnh vĩ mô

Công cụ điều chỉnh vĩ mô là luật pháp, chính sách Nhờ luật pháp và chính sách, nhà nước có thể điều chỉnh các hoạt động sản xuất có tác động mạnh mẽ tới

việc phát sinh chất ô nhiễm Ví dụ: khi các quy định chặt chẽ hơn thì các ngành sản

xuất tạo ra nhiều chất thải và gây ra ô nhiễm sẽ không có điều kiện phát triển như

xi măng, nhiệt điện

Khi cần ưu tiên phát triển ngành nào thì nhà nước có thể thông qua các chính

sách môi trường của mình để điều chỉnh Ví dụ: để tăng thu nhập và về xuất khẩu

lâm sản, nhà nước có thể mở rộng chính sách xuất khẩu về rừng Trong khi đó, để hạn chế phát triển ngành khai khoáng, cần có các chính sách chặt chẽ trong việc lập

và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường

 Công cụ hoạt động

Là các công cụ hành chính (xử phạt vi phạm môi trường trong kinh tế, sinh hoạt…), kinh tế có tác động trực tiếp tới lợi ích của kinh tế - xã hội của các cơ sở sản xuất kinh doanh

Công cụ hoạt động là công cụ chủ yếu của các tổ chức môi trường được xây dựng trên cơ sở luật pháp, chính sách của quốc gia

Công cụ hoạt động nhìn chung rất đa dạng, có ảnh hưởng trong một mô phạm nhất định

 Công cụ phụ trợ

Công cụ phụ trợ là các công cụ không có tác động điều chỉnh hoặc tác động trực tiếp tới hoạt động, các công cụ này là dùng để quan sát, giám sát các hoạt đông gây ô nhiễm, giáo dục con người trong xã hội

Trang 28

Công cụ phụ trợ là các công cụ kỹ thuật như GIS, mô hình hóa, giáo dục môi trường, thông tin môi trường

Công cụ hỗ trợ có chức năng hoàn thiện dần các công cụ hoạt động của các tổ chức và các cá nhân gây ra ô nhiễm môi trường

2.1.2.2 Phân loại theo bản chất công cụ

 Công cụ luật pháp – chính sách

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính chất bắt buộc chung do nhà nước đặt ra, thực hiện và bảo vệ nhằm đạt được các mục kinh tế xã hội, phát triển bền vững và phát triển đất nước Pháp luật là công cụ đặc trưng và quan trọng nhất của nhà nước trong quản lý xã hội, nên hiến pháp và các bộ luật (luật môi trường) là công cụ quản lý môi trường cao nhất của đất nước Trên cơ sở hiến pháp và pháp luật chính phủ và cơ quan chức năng của Nhà nước vạch ra các mục tiêu, định hướng lớn: các chiến lược phát triển bền vững đất nước; các mục tiêu cụ thể và kế hoạch để đạt được mục tiêu đó theo những mốc thời gian cụ thể Dựa trên các bộ luật, các mục tiêu và chiến lược, đặc điểm cơ cấu tổ chức và các nguồn lực cụ thể của từng quốc gia; các cơ quan chức năng của chính phủ sẽ phối hợp hành động tạo

ra các công cụ, các chính sách và giải pháp cho từng giai đoạn và từng lĩnh vực quản lý của Nhà nước

Công cụ luật pháp – chính sách bao gồm các quy định luật pháp, các chính sách về môi trường và tài nguyên thiên nhiên như các bộ luật về môi trường, luật nước, luật bảo vệ và phát triển rừng, luật đất đai, …

Công cụ luật pháp – chính sách bao gồm tất cả các chính sách phát triển kinh

tế xã hội của quốc gia như phát triển ngành năng lượng, phát triển nông nghiệp, phát triển giáo dục

Công cụ luật pháp – chính sách có thể là các quy định văn bản dưới luật của các ngành ở từng quốc gia như nghị định, tiêu chuẩn cũng như các quy định của cơ quan tối cao của chính quyền địa phương Ở nhiều nước có các luật bảo vệ môi trường riêng cho từng thành phần môi trường tự nhiên, xã hội

Trang 29

Các bộ luật môi trường thường được bổ sung, hoàn chỉnh và chi tiết hóa theo quá trình phát triển kinh tế xã hội

Ở các nước đang phát triển tương tự như Việt Nam, luật môi trường tạo ra khung pháp lý cho các quy định chi tiết dưới luật của các ngành chức năng như Bộ

Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên môi trường, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp,…Ví dụ: Nhà nước ban hành các quy định và tiêu chuẩn giới hạn về chất thải, các giấy

phép về môi trường và thông qua các biện pháp như giám sát, kiểm tra, thanh tra, truy cứu trách nhiệm hình sự, …buộc các cơ sở sản xuất kinh doanh phải tuân thủ pháp luật và các tiêu chuẩn môi trường

- Các quy định và tiêu chuẩn môi trường

Các quy định và tiêu chuẩn môi trường là công cụ chính được sử dụng trong quản lý môi trường theo phương cách pháp lý

Chúng xác định các mục tiêu môi trường và đặt ra số lượng hay nồng độ cho phép của các chất thải vào khí quyển, nước, đất hay được phép tồn tại trong các sản phẩm tiêu dùng Các loại tiêu chuẩn gồm: các tiêu chuẩn chất lượng nước, khí thải, rác thải, tiếng ồn, các tiêu chuẩn dựa vào công nghệ, các tiêu chuẩn vận hành, các tiêu chuẩn sản phẩm và các tiêu chuẩn về quy trình công nghệ Các tiêu chuẩn cũng

có thể bao gồm các quy cách kỹ thuật và thiết kế của các thiết bị hoặc phương tiện

và sự tiêu chuẩn hóa của các phương pháp lấy mẫu hoặc phân tích

Tiêu chuẩn là do Chính phủ trung ương xây dựng và ban hành Tuy nhiên, trong một số trường hợp Chính phủ trung ương chỉ đặt ra những quy định khung để các địa phương, tỉnh, thành, khu vực, quy định cụ thể trong thực hiện Các tiêu chuẩn cấp bộ, ngành và cấp địa phương không được kém chặt chẽ, trừ trường hợp thật đặc biệt, một số trường hợp có thể chặt chẽ hơn tiêu chuẩn quốc gia

Việc xây dựng tiêu chuẩn dựa trên giả định trước rằng đã có cơ quan để giám sát các hoạt động của những người gây ô nhiễm và có quyền ra lệnh phạt những người vi phạm Do vậy, nói chung tiêu chuẩn phải gắn với quy định về hình phạt

Trang 30

- Các loại giấy phép về môi trường

Các loại giấy phép về môi trường đều do các cấp chính quyền hoặc các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường cấp theo sự phân định của pháp luật Có nhiều loại giấy phép khác nhau như: giấy thẩm định môi trường, giấy thỏa thuận môi trường, giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường, giấy phép thải chất ô nhiễm, giấy phép xuất nhập khẩu phế thải,…

Việc cấp hoặc không cấp các loại giấy phép hoặc các loại ủy quyền khác cũng

là một công cụ quan trọng để kiểm soát ô nhiễm Một lợi thế chính của các loại giấy phép là chúng có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi các chương trình môi trường bằng cách ghi vào văn bản tất cả những nhiệm vụ kiểm soát của cơ sở sản xuất Tuy nhiên, việc sử dụng các loại giấy phép thường kéo theo sự giám sát và thường xuyên yêu cầu phải báo cáo về các hoạt động có liên quan đến giấy phép

- Kiểm soát ô nhiễm

Kiểm soát ô nhiễm: là biện pháp quan trọng nhất trong quản lý môi trường theo phương cách pháp lý Kiểm soát môi trường chính là kiểm soát ô nhiễm bao gồm ngăn ngừa ô nhiễm, làm giảm hoặc loại bỏ chất thải từ nguồn, hay còn gọi là kiểm soát ô nhiễm đầu vào và làm sạch ô nhiễm, thu gom, tái sử dụng, xử lý chất thải, phục hồi môi trường thiệt hại do ô nhiễm, hay còn gọi là kiểm soát ô nhiễm đầu ra Việc kiểm soát này dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định bảo vệ môi trường

- Thanh tra môi trường

Thanh tra môi trường là biện pháp thiết yếu trong quản lý môi trường theo phương cách pháp lý Thanh tra môi trường là biện pháp cưỡng chế sự tuân thủ pháp luật, các quy định, hướng dẫn, tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường đối với mọi tổ chức, cơ quan, tập thể và các cá nhân trong xã hội, đồi thời cũng là biện pháp đảm bảo quyền tự do, dân chủ cho mọi người khiếu nại, khiếu tố về mặt môi trường

- Đánh giá tác động môi trường

Đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội, như quy hoạch đô thị, xây dựng khu công nghiệp, đầu tư xây dựng nhà máy,

Trang 31

các công trình giao thông vận tải,… là một công cụ quan trọng trong quản lý môi trường theo phương cách pháp lý, nhằm ngăn ngừa ô nhiễm môi trường và suy thoái tài nguyên thiên nhiên

Đánh giá tác động môi trường nhằm xác định những tác động chính của dự án đối với môi trường và tài nguyên tại địa điểm dự kiến đặt dự án Đánh giá tác động môi trường sơ bộ có thể giúp cho giai đoạn đầu của việc lập kế hoạch dự án và có tác dụng cảnh báo sớm về dự án có thể gặp những trở ngại về mặt môi trường và cũng để xác định xem dự án có cần phải tiến hành đánh giá tác động môi trường một cách đầy đủ và chi tiết hay không

Kết quả nghiên cứu đánh giá tác động môi trường được trình bày thành văn bản – gọi là báo cáo đánh giá tác động môi trường Báo cáo này được nộp cho cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường để thẩm duyệt và nó là một thành phần quan trọng trong hồ sơ xin giấy phép đầu tư của dự án

• Những thuận lợi đạt được khi áp dụng công cụ chính sách - pháp luật

 Đảm bảo mức độ nhất định về mặt hiệu quả bảo vệ môi trường;

 Cần xác định được đối tượng; Chi phí hành chính cao; Nỗ lực lớn từ các

cơ quan quản lý môi trường;

 Không kích thích doanh nghiệp thay đổi công nghệ mới

 Công cụ kinh tế

Công cụ kinh tế đơn giản là con đường mà chính phủ có thể thay đổi hành vi ứng xử của mọi người thông qua việc lựa chọn các phương thức kinh tế khác nhau hoặc giảm thiểu chi phí trên thị trường nhằm mục tiêu môi trường

Các công cụ kinh tế đánh vào thu nhập bằng tiền của các hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 32

Các công cụ kinh tế rất đa dạng Ví dụ: thuế môi trường, cota môi trường, quỹ

môi trường, thuế tài nguyên, phí ô nhiễm, cấp và đảm bảo quyền sỡ hữu, cưỡng chế, phạt tiền, trợ cấp, lệ phí người sử dụng, lệ phí sản phẩm, lệ phí hành chính, ký quỹ hoàn trả, đền bù thiệt hại, bảo hiểm trách nhiệm

Các công cụ kinh tế được xây dựng và áp dụng cho từng quốc gia, tùy thuộc vào mức độ phát triển của nền kinh tế, sự chặt chẽ của các quy định pháp luật Các công cụ kinh tế được nhanh chóng hoàn thiện theo thời gian

Các công cụ kinh tế chỉ được áp dụng có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường Tại Việt Nam đã và đang sử dụng một số công cụ kinh tế như: thuế tài nguyên,

ký quỹ môi trường, quỹ môi trường, phí môi trường, đền bù thiệt hại Tuy nhiên, ở Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, việc sử dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường đang ở giai đoạn khởi đầu với việc xây dựng và ban hành một số chính sách

- Phí bảo vệ môi trường đối với khí thải

Phí bảo vệ môi trường đối với khí thải: được thu căn cứ đầu vào của quá trình sản xuất, kinh doanh, tức là căn cứ theo loại nhiên liệu sử dụng, mức độ tiêu thụ và được thu cùng với việc cung cấp nhiên liệu Nước ta chưa có quy định về việc thu loại phí này nhưng tại thành phố Hồ Chí Minh có công trình khoa học đầu tiên do

TS Phùng Chí Sỹ và ThS Nguyễn Thế Tiến là chủ nhiệm đề tài Đề tài tập trung vào nghiên cứu 3 nguồn gây ô nhiễm chính là: khí thải từ phương tiện giao thông, nhà máy sản xuất công nghiệp và cơ sở tiểu thủ công nghiệp nằm xen kẽ trong khu dân cư Những ngành thu trên cơ sở đầu vào thường dùng nguyên, nhiên liệu là xăng, dầu ; thu trên cơ sở thành phẩm là sắt, thép, gạch, ngói

Theo đó, phí khí thải có thể thu trên cơ sở nguyên liệu đầu vào hoặc thành phẩm với mức thấp nhất là 13.800 đồng/tấn Phương pháp tính do nhóm tác giả đề tài "Nghiên cứu xây dựng hệ thống phí khí thải tại TP HCM" đề xuất Đây cũng là công trình khoa học đầu tiên của Việt Nam về vấn đề này

Các chất phải tính phí gồm: bụi, SO2, NO2 và THC Nhóm thực hiện đề tài đã tham khảo mức phí của nước ngoài Mức đề xuất hiện nay được tính từ mức bình

Trang 33

quân của các nước như: Mỹ, Canada, Châu Âu, Thái Lan Theo đó, mỗi năm, bụi

và THC là 13.800 đồng/tấn; SO2: 15.700 đồng/tấn và NO2: 21.300 đồng/tấn

Về cách sử dụng số phí thu được, nhóm nghiên cứu đề xuất là ngoài phần trang trải cho công tác nghiệp vụ thu, 80% tổng số phí khí thải sẽ nộp vào ngân sách nhà nước Một nửa của số phí này sẽ bổ sung vốn hoạt động cho Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam, còn lại sử dụng cho việc phòng ngừa, khắc phục, xử lý ô nhiễm trên địa bàn Sử dụng khí phí thải chính là sử dụng sức mạnh của thị trường để bảo

vệ môi trường

Trước đây, ngày 26/12/2000 Chính phủ đã ban hành Nghị định

78/2000/NĐ-CP về phí xăng dầu Theo đó, các cá nhân nhập khẩu (kể cả nhập khẩu uỷ thác); sản xuất, chế biến các loại xăng, dầu, mỡ nhờn xuất, bán tại Việt Nam phải kê khai, nộp phí xăng dầu theo mức thu như sau:

• Dầu hoả, dầu mazut, dầu mỡ nhờn chưa thu

Số tiền phí xăng dầu nộp vào ngân sách nhà nước được tập trung toàn bộ cho ngân sách Trung ương quản lý, sử dụng theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước hiện hành

Tuy nhiên, mức phí này chủ yếu đánh vào đối tượng có sử dụng các động cơ, máy móc dùng xăng, dầu Trong khí đó còn rất nhiều loại nhiên liệu khác trong quá trình sử dụng cũng tạo ra nhiều loại chất khác nhau gây ô nhiễm không khí

- Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải là công cụ kinh tế mới được ban hành

và đang được triển khai thực hiện trong cả nước trên cơ sở Nghị định

67/2003/NĐ-CP do Thủ tướng chính phủ ký ngày 13/6/2003 về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải và Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 08/1/2007 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003, nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường từ nước thải, sử dụng tiết kiệm nước sạch và tạo nguồn kinh phí cho Quỹ bảo vệ môi trường thực hiện việc bảo vệ, khắc phục ô nhiễm môi trường

Trang 34

• Thu phí chất thải rắn tại các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, các khu thương

mại, dịch vụ, công trình công cộng

• Phí rác thải đô thị là công cụ kinh tế được sử dụng ở khu vực đô thị, quy

định thu phí do Ủy ban nhân dân thành phố hoặc các tỉnh quy định Do vậy mức thu phí có thể khác nhau và phụ thuộc vào từng địa phương

• Việc xác định giá dịch vụ thu gom, vận chuyển, và xử lý chất thải rắn phải

được nghiên cứu, xem xét kỹ trên cơ sở vừa bảo đảm bù đắp được chi phí thu gom, vận chuyển, xử lý vừa gián tiếp khuyến khích các hộ gia đình giảm thiểu rác thải

• Hiện nay, phí chất thải rắn có thể tính dựa theo trọng lượng, thể tích của rác

thải hoặc theo số lượng người trong hộ gia đình Tại thành phố Hồ Chí Minh mức phí dịch vụ quét dọn vệ sinh, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn

đô thị trên địa bàn thành phố là 7.000 - 15.000 đồng/tháng Sở Tài nguyên môi trường thành phố đang tiến hành soạn thảo Đề án thu phí dịch vụ quét dọn vệ sinh, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn đô thị trên địa bàn thành phố Theo đó, đối với hộ dân, mức thu phí rác thải sẽ từ 25.000 đến 39.000 đồng/tháng

- Thuế sử dụng các thành phần môi trường

Thuế sử dụng các thành phần môi trường gồm: thuế sử dụng đất, thuế rừng, thuế tiêu thụ năng lượng, phí khai thác nước ngầm…đó là các loại thuế dùng để điều tiết thu nhập của những hoạt động khai thác tài nguyên, các thành phần môi trường

Trang 35

Thuế sử dụng các thành phần môi trường có mục đích giảm khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách tiết kiệm và có hiệu quả nhất, đặc biệt là tài nguyên thiên nhiên không tái tạo

Vì thế tất cả các tổ chức kinh doanh không phân biệt ngành nghề, hình thức khai thác, hoạt động thường xuyên hay không thường xuyên, có địa điểm hay không

có địa điểm cụ thể, sử dụng và khai thác các thành phần môi trường, tài nguyên thiên nhiên của đất nuớc đều phải nộp thuế môi trường và mức thuế có thể nên thay đổi theo hướng từ sản lượng các thành phần môi trường được khai thác, có như thế mới khuyến khích các hoạt động khai thác, sử dụng các biện pháp tận thu vừa tiết kiệm được tài nguyên thiên nhiên, vừa bảo vệ được môi trường

Các khoản thuế thu được phải được trích một phần xứng đáng để đầu tư trở lại cho vấn đề khắc phục và tái tạo môi trường

- Các khoản trợ cấp

Các khoản trợ cấp bao gồm các khoản tiền trợ cấp, các khoản cho vay với lãi suất thấp, khuyến khích về thuế để khuyến khích những người gây ô nhiễm thay đổi hành vi, hoặc giảm bớt chi phí trong việc giảm ô nhiễm mà những người gây ô

nhiễm (tư nhân và công cộng phải chịu) Ví dụ: chính phủ trợ cấp cho công nghiệp

chủ yếu để giúp tài trợ cho việc mua các thiết bị làm giảm ô nhiễm, hoặc để trợ cấp cho việc đào tạo cán bộ Trong một số nước người ta trợ cấp cho chính quyền địa phương tiến hành nghiên cứu và triển khai công nghệ, hoặc để trợ giúp cho việc áp dụng những kỹ thuật mới mà luật pháp và các quy định yêu cầu Trợ cấp cũng để kiểm soát ô nhiễm, tái chế để sử dụng lại, và để khôi phục nguồn lực

Mặc dù thế, trợ cấp không kiềm chế sự tiếp tục hoạt động của các công nghiệp

ô nhiễm cao, cũng không khuyến khích sự thay đổi trong quá trình sản xuất hoặc trong nguyên liệu đầu vào gây ô nhiễm Hơn nữa, chính là người tiêu dùng phải trả chứ không phải là công nghiệp phải chịu các khoản chi phí dùng để trợ cấp kiểm soát ô nhiễm đó

Trang 36

- Quỹ môi trường

Trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường thì chi phí cho các hoạt động bảo vệ môi trường như quản lý môi trường, xử lý chất thải, cải thiện môi trường … được các nhà sản xuất quan tâm đóng góp Trước thực tế đó thì việc xây dựng một hệ thống các loại quỹ môi trường để đáp ứng những nhu cầu trên là một thực tế cấp bách

Ở nước ta, nguồn vốn của quỹ môi trường có thể bao gồm ngân sách Nhà nước, đóng góp bắt buộc từ các cơ sở, các khoản thu phí, lệ phí, các khoản đóng góp tự nguyện, các nguồn tài trợ nước ngoài, …

Tùy vào trường hợp, hoàn cảnh cụ thể, quỹ môi trường được dùng để cho vay không lãi hoặc dưới hình thức cấp cho cơ sở kinh doanh hiện đang gặp khó khăn trong việc tìm vốn đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường, cũng như các hoạt động của tổ chức môi trường

- Đền bù thiệt hại

Theo điều 49 của Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam (2005) đã quy định:

“Trường hợp có thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tại sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc gây ô nhiễm môi trường thì còn phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại mục 2 chương XIV của Luật này hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự” Nghị định 26/CP của Chính phủ ngày 26 tháng 4 năm 1996 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính về bảo vệ môi trường cũng

có những quy định về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm gây ra Theo quy định này, bên gây ô nhiễm môi trường và bên bị ô nhiễm thỏa thuận với nhau về mức bồi thường Trường hợp không tự thỏa thuận được thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường sẽ quyết định và buộc bên gây ô nhiễm phải bồi thường và phải giải quyết theo luật tố tụng hình sự

Trong thời gian qua đã có nhiều đơn kiếu kiện về thiệt hại về ô nhiễm môi trường do các cơ sở sản xuất gây ra, với sự điều hành của cơ quan quản lý môi trường trung ương và địa phương một số nhà máy, công ty đã thỏa thuận đền bù

Trang 37

thiệt hại như: nhà máy điện Phả Lại, Công ty Giấy Bãi Bằng (Việt Trì), Công ty Bột ngọt VEDAN (Đồng Nai), Công ty TNHH mía đường Bourbon (Tây Ninh)

- Các khuyến khích cưỡng chế thực thi

Các khuyến khích buộc thực thi là các công cụ kinh tế gắn với sự điều hành trực tiếp Chúng được thiết kế để khuyến khích những người xả thải làm đúng các tiêu chuẩn và quy định về môi trường Các khuyến khích thực thi bao gồm phí hoặc tiền phạt do làm không đúng, cam kết thực hiện và quy trách nhiệm pháp lý

- Ký quỹ - hoàn trả

Phương cách ký quỹ - hoàn trả là những người tiêu dùng phải trả thêm một khoản tiền khi mua các sản phẩm có nhiều khả năng gây ô nhiễm Khi những người tiêu dùng hay những người sử dụng các sản phẩm ấy, trả bao bì và các phế thải của chúng cho một Trung tâm được phép để tái chế hoặc thải bỏ thì các khoản tiền ký quỹ của họ sẽ được hoàn trả lại Hiện nay các nước phát triển đã và đang mở rộng lĩnh vực ký quỹ hoàn trả từ các loại nước uống, bia, rượu sang lĩnh vực vỏ tàu, hoặc

ô tô cũ, sử dụng dầu, ắc quy, thùng đựng thuốc trừ sau, đồ gia dụng bằng điện lớn,…

- Tạo ra quyền mua bán “quyền” xả thải ô nhiễm (cota gây ô nhiễm)

Đây là biện pháp sử dụng công cụ kinh tế để kiểm soát ô nhiễm đạt hiệu quả cao và đã được nhiều nước áp dụng Đi đầu trong lĩnh vực này là Mỹ, Canada Theo phương cách này, có thể tạo ra thị trường trong đó có những người tham gia có thể mua “quyền” được gây ô nhiễm thực tế hay tiềm tàng, hoặc họ có thể bán lại các quyền này cho những người tham gia khác Sự tạo ra thị trường nói chung được thực hiện theo 2 cách: các giấy phép có thể mua bán dược và bảo hiểm trách nhiệm Tuy nhiên, để có thể sử dụng cota gây ô nhiễm như một công cụ kinh tế có mục đích kiểm soát ô nhiễm của một “phông môi trường” nhất định cần phải hội tụ nhiều yếu tố cơ chế thị trường đủ mạnh, khả năng trao đổi và giao lưu thông tin tốt, các phương tiện quan trắc các thông số môi trường đầy đủ và chính xác,…

• Những thuận lợi đạt được khi áp dụng công cụ kinh tế

 Góp phần tăng thu nhập;

Trang 38

 Khuyến khích người gây ô nhiễm phải giảm phát thải;

 Khuyến khích đổi mới công nghệ kiểm soát; và sử dụng các sản phẩm an toàn;

 Thúc đẩy doanh nghiệp tiết kiệm chi phí

• Những khó khăn gặp phải khi áp dụng công cụ kinh tế

 Công cụ này đòi hỏi sự thực hiện phức tạp và chi phí giám sát cao;

 Nảy sinh đổ bỏ không hợp pháp, cưỡng chế thi hành không có hiệu quả

 Làm cho các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm được tồn tại lâu dài

 Đòi hỏi đặt mức phạt thỏa đáng;

 Khó xác định chính xác sự thiệt hại môi trường; Có thể gây tranh cãi lâu

 Công cụ thông tin tuyên truyền

Công cụ thông tin tuyên truyền là công cụ phụ trợ không tác động trực tiếp vào quá trình sản sinh ra chất ô nhiễm hoặc điều chỉnh vĩ mô quá trình sản xuất

Công cụ thông tin tuyên truyền đưa nhận thức cảnh báo môi trường và trách nhiệm môi trường vào từng quyết định bằng cách gây áp lực và (hoặc) thuyết phục trực tiếp hoặc gián tiếp tạo nên hợp tác và thỏa thuận với các đối tượng gây ô nhiễm Đối với công cụ này cần phải duy trì việc giám sát để theo dõi kết quả thực hiện

Thông tin môi trường phải hướng dẫn các biện pháp biến tư duy thành hành động thực tế bảo vệ môi trường và chịu tác động của áp lực xã hội (phong trào, phương tiện thông tin đại chúng, )

Các công cụ kinh tế được thực hiện theo các dạng thông tin tuyên truyền trong trường phổ thông, trong cộng đồng dân cư, thông qua truyền thông đại chúng, các lớp huấn luyện ngắn hạn

Vai trò của chính phủ là cung cấp thông tin, tổ chức các chiến dịch tuyên truyền-giáo dục, đưa ra các báo cáo môi trường

Công cụ truyền thông gồm có:

- Loại công cụ thông tin “một chiều”: tuyên truyền (‘đọc’; ‘nghe’;‘xem’), nhãn sinh thái

Trang 39

- Loại công cụ “hai chiều” như các hệ thống quản trị môi trường, các thỏa ước, thảo luận, thương lượng

Ví dụ: Nhãn sinh thái hay nhãn xanh là biện pháp hữu hiệu và khả thi vừa khuyến khích cho nhà sản xuất đầu tư công tác bảo vệ môi trường, vừa giúp một số loại hình sản xuất có sản phẩm xuất khẩu đang tìm kiếm thị trường thế giới vốn nhạy cảm với môi trường dễ thành công hơn Tuy nhiên, để nhãn xanh thật sự có giá trị cần ưu tiên cho các sản phẩm được dán nhãn sinh thái như giảm thuế, ưu tiên xuất khẩu,…và việc xem xét cấp nhãn phải được thực hiện theo quy định và thông

lệ quốc tế Chẳng hạn như sản xuất chè xuất khẩu của nước ta là một loại hình thân thiện với môi trường Quá trình sao, tẩm, sấy chè gần như không tác động đến môi trường; quá trình trồng cây chè góp phần phủ xanh đất trống đồi núi, cải thiện chất lượng đất, chóng xói mòn, tạo cảnh quan du lịch có giá trị kinh tế Xét từ các yếu tố trên, chè Việt Nam cũng có thể xem xét để nghiên cứu cấp nhãn sinh thái

Gần đây tại Việt Nam, việc gắn kết môi trường vào các tổ chức xem xét trao giải thưởng chất lượng Việt Nam, doanh nghiệp xanh cũng như huy chương tại các hội chợ quốc tế hàng công nghiệp là một cách tiếp cận theo hướng này

• Những thuận lợi đạt được khi áp dụng công cụ thông tin tuyên truyền

 Có sự hợp tác và thỏa thuận với các đối tượng gây ô nhiễm; Thường được các nhóm mục tiêu tiếp nhận tốt;

 Hành vi trách nhiệm môi trường được chuyển cho nhóm mục tiêu

 Không có tính pháp lý nhưng thông tin nhận được chi tiết hơn và mục tiêu cùng biện pháp thực hiện dễ điều chỉnh phù hợp với từng hoàn cảnh địa phương

• Những khó khăn gặp phải khi áp dụng công cụ thông tin tuyên truyền

 Giải pháp tốn kém; dựa trên tính tự nguyện nên không dự kiến được hiệu quả

 Khó có bất cứ hình thức phạt nặng nào nếu các nhóm đối tượng không thực hiện thỏa thuận;

Trang 40

 Do ảnh hưởng của nhóm đối tượng, các chỉ tiêu thường được thiết lập ở mức độ thấp và cần có sự nhất trí về các chỉ tiêu để có được hiệu quả trong việc thực hiện chính sách;

 Nhóm đối tượng trong khi không chấp hành các thỏa thuận, vẫn được hưởng lợi qua sự cải thiện môi trường chung do nỗ lực hoạt động của những người khác;

 Có thể chỉ thành công đặc biệt ở những nền kinh tế nhỏ, vì ở đó có sự tiếp xúc trực tiếp nhiều hơn giữa những người lập chính sách và các đối tượng

 Nhận xét chung: Mỗi công cụ quản lý trên đều có ưu điểm và nhược điểm

riêng Chúng bổ sung cho các quy định môi trường trực tiếp, để nâng cao khoản thu nhập, nhằm tài trợ cho các hoạt động kiểm soát ô nhiễm hoặc các biện pháp môi trường khác, tạo sự kích thích để thực hiện các quy định tốt hơn và kích thích đổi mới kỹ thuật Nếu chúng ta chỉ sử dụng một trong 3 công cụ quản lý thì chắc chắn việc quản lý sẽ không có hiệu quả Vì thế phải kết hợp mềm dẻo cả 3 công cụ quản

lý môi trường:

Thứ nhất: Nếu chỉ áp dụng công cụ pháp luật sẽ rất cứng nhắc, thiếu linh hoạt

mặc dù đây là một công cụ quan trọng nhất của cơ quan quản lý và tất cả các doanh nghiệp đều phải thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam đang sử dụng phương pháp mệnh lệnh - kiểm tra (công cụ pháp luật) để thực hiện các mục tiêu về môi trường Đây là biện pháp hiện hữu và thường đưa lại kết quả nhanh Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào pháp luật mà giải quyết sẽ không mang lại hiệu quả cao nhất, riêng công cụ này chưa tạo điều kiện để các doanh nghiệp lựa chọn các giải pháp tối ưu tuân thủ quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường Đồng thời, để một quy định pháp luật cho một đơn vị sản xuất biết và thực thi thì không thể thiếu công cụ thông tin tuyên truyền đến từng đơn vị ấy Mỗi địa phương tùy theo điều kiện pháp lý, thực trạng kinh tế mà có cách áp dụng phù hợp, vì pháp luật sẽ kém hiệu quả đối với các doanh nghiệp sản xuất ở quá xa tầm kiểm soát cơ quan chức năng, trong khi

đó các biện pháp kinh tế, giáo dục có tác động mạnh mẽ hơn

Ngày đăng: 11/02/2021, 21:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Nguyễn Đinh Tuấn – Luận án tiến sĩ “Đánh giá hiện trạng ô nhiễm không khí do sản xuất công nghiệp tại TP.HCM. Nghiên cứu công nghệ xử lý khí thải cho một số ngành công nghiệp điển hình” – Năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng ô nhiễm không khí do sản xuất công nghiệp tại TP.HCM. Nghiên cứu công nghệ xử lý khí thải cho một số ngành công nghiệp điển hình
6. Hiện trạng ô nhiễm không khí và công nghệ xử lý ô nhiễm không khí tại vùng kinh tế trọng điểm phía Namhttp://www.nea.gov.vn/Sukien_Noibat/Chatluong_KK/Tintuc-hoatdong/nghiencuu-congnghe.htm Link
7. Vai trò của cộng đồng trong bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên http://tnmtvinhphuc.gov.vn/index.php?nre_vp=News&go=save&sid=133 Link
1. Cục Môi trường, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường – Giới thiệu về công cụ kinh tế và khả năng áp dụng trong quản lý môi trường ở Việt Nam –Năm 2001 Khác
2. Dương Thị Tơ và Tô Kim Oanh – Báo cáo nghiên cứu tổng quan nâng cao vai trò và sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ môi trường thông qua tăng cường công tác phổ biến thông tin môi trường cho cộng đồng – Cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường – Năm 2003 Khác
3. Đặng Mộng Lân – Các công cụ quản lý môi trường – NXB Khoa học và Kỹ thuật HN – Năm 2001 Khác
4. Lê Huy Bá – Sinh thái môi trường đất – NXB Nông nghiệp TP.HCM – Năm 1998 Khác
6. Nguyễn Thị Ngọc Ẩn – Quản trị hợp lý môi trường và Tài nguyên thiên nhiên – NXB Nông nghiệp TP.HCM – Năm 1998 Khác
7. Phạm Ngọc Đăng – Môi trường không khí – Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật – Năm 2003 Khác
8. Phạm Ngọc Đăng – Quản lý môi trường đô thị và khu công nghiệp – NXB Xây dựng HN – Năm 2000 Khác
9. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai – Tài liệu hướng dẫn áp dụng hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14000 – Năm 2003 Khác
10. Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển về Tiết kiệm Năng lượng Tp. Hồ Chí Minh (ENERTEAM) – Các bài học từ việc ban hành Sách đen và Sách xanh của Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2001 Khác
11. Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội – Tài liệu hướng dẫn sản xuất sạch hơn Khác
12. Viện Môi trường và Tài nguyên TP.HCM – Báo cáo đề tài “Nghiên cứu công nghệ xử lý nước thải, khí thải một số cơ sở công nghiệp trọng điểm ở Tp. Hồ Chí Minh – Năm 1997 Khác
13. Xanh Hóa Công Nghiệp: Vai trò mới của cộng đồng, thị trường và Chính phủ - Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới – Năm 2000.Tài liệu tiếng Anh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w