Để làm rõ các ảnh hưởng này đối với quá trình lắng, các thí nghiệm đã được tiến hành đối với quá trình lắng của tập hợp hạt cát trong môi trường lỏng là dầu gốc với thành phần parafin hò
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi chân thành cảm ơn thầy TS Phan Đình Tuấn đã nhiệt tình hướng
dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi chân thành cảm ơn các Thầy Cô trong Bộ môn Máy & Thiết bị, Bộ
môn Công nghệ Chế biến Dầu khí, Khoa Công Nghệ Hóa Học đã tạo
mọi thuận lợi để cho tôi hoàn thành luận văn đúng thời hạn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với các anh chị ở Viện Công Nghệ
Hóa Học và Trung tâm An toàn & Môi trường Dầu khí (RDCPSE)
thuộc Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đã giúp đỡ tôi trong việc lấy
mẫu và phân tích cỡ hạt, phân tích các chỉ tiêu hóa lý của dầu thô Việt
Nam
Học viên: Tạ Đăng Khoa
Trang 2TÓM TẮT
Quá trình lắng của hạt rắn trong môi trường liên tục phụ thuộc tính chất
nhớt của môi trường, các tính chất vật lý và hình dạng hạt, độ nhám bề
mặt, mật độ hạt Ngoài ra, sức căng bề mặt cũng có ảnh hưởng đến sự
lắng của hạt Để làm rõ các ảnh hưởng này đối với quá trình lắng, các
thí nghiệm đã được tiến hành đối với quá trình lắng của tập hợp hạt cát
trong môi trường lỏng là dầu gốc với thành phần parafin hòa tan khác
nhau Hàm lượng parafin, mật độ và kích thước hạt là các yếu tố làm
ảnh hưởng mạnh tốc độ lắng của hạt, đã được đưa vào như những yếu
tố hiệu chỉnh cho phương trình Stokes và hệ thức Richarson – Zaki
Chương 1: Giới thiệu về cơ sở lý thuyết mô hình hóa toán học
Chương 2: Giới thiệu đối tượng nghiên cứu là quá trình lắng diễn ra
trong môi trường dầu thô và các tính chất cơ bản của dầu thô Việt Nam
Dựa trên những thảo luận, chúng tôi đã xây dựng một kế hoạch thực
nghiệm trên mô hình nghiên cứu phù hợp
Chương 3: Các số liệu thực nghiệm và thảo luận đã được trình bày Từ
đó chúng tôi đưa ra một số hệ thức mô tả sự ảnh hưởng của các yếu tố
đã nói ở trên Chúng tôi nhận thấy rằng trong khoảng biến thiên tỷ
trọng hạt và độ nhớt như đã tiến hành thực nghiệm, các hệ thức được đề
nghị cho kết quả phù hợp với thực nghiệm
Chương 4: Bốn kết luận quan trọng đã được trình bày Những kết quả
này có thể xem như là một đóng góp nhỏ vào những nghiên cứu cơ bản
về quá trình lắng của hệ nhiều hạt đa phân tán trong môi trường lỏng
Trang 3The sedimentation of solid phase in continuous media depends on the
media’s viscosity, physical properties, forms, surface roughness,
concentration of particles Besides, surface tention also has effect to
the sedimentation To clarify the influences of these factors on the
sedimentation, experiments have been carried out with sands as solid
particles, petroleum with different amounts of dissolved parafin as
liquid media These influences have been used as adjusted variables to
the known Stokes’ equation and the Richardson – Zaki’ correlation
In chapter 1: The theoretical basis of mathematical modelling method
has been introduced
In chapter 2: The properties of Vietnamese petroleum and related
sedimentation process have been described Based on the discussions,
a working plan has been figured out and the experimental apparatus
system has been set up
In chapter 3: Experimental results with discussions have been included
Based on the results, some correlations to include the influences of the
said parameters have been derived It was shown that in the range of
solid particle density and liquid viscosities, the derived correlations
have well described the experimental results
In chapter 4: Four important conclusions have been shown The
conclusions could be considered a small contribution to the basic
researches of the sedimentation of the poly – dispered system in liquid
media
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC 6
MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG 1: MÔ HÌNH HÓA TOÁN HỌC CÁC QUÁ TRÌNH CÔNG NGHỆ 9
1.1 Mô hình hóa 9
1.1.1 Định nghĩa 9
1.1.2 Phân loại mô hình toán học 9
1.1.3 Các bước thiết lập một mô hình toán học 10
1.2 Mô hình toán học cho quá trình lắng 10
1.2.1 Đối tượng nghiên cứu 10
1.2.2 Quá trình lắng của một hạt 11
1.2.3 Quá trình lắng của hệ huyền phù 13
CHƯƠNG 2: THÀNH PHẦN VÀ TÍNH CHẤT LƯU BIẾN CỦA DẦU THÔ VIỆT NAM 15
2.1 Khái niệm về dầu thô 15
2.2 Thành phần dầu thô 15
2.2.1 Thành phần nguyên tố của dầu thô 15
2.2.2 Thành phần hóa học của dầu thô 16
2.3 Tạp chất cơ học trong dầu thô 19
2.3.1 Nguồn gốc 19
2.3.2 Thành phần 19
2.3.3 Tính chất 20
2.4 Parafin trong dầu thô 22
2.4.1 Cấu trúc tinh thể 22
2.4.2 Tính chất 23
2.4.3 Phân loại 25
2.4.4 Ưùng dụng 26
2.5 Ngành công nghiệp Dầu khí Việt Nam 27
2.5.1 Tình hình khai thác dầu thô 27
2.5.2 Tính chất dầu thô Việt Nam 27
2.5.3 Tính lưu biến của dầu thô Việt Nam 29
2.5.4 Đặc điểm chung của dầu thô Việt Nam 31
CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ 32
3.1 Thiết bị thí nghiệm 32
3.2 Vật tư và hóa chất 34
Trang 53.2.2 Môi trường lưu chất 34
3.3 Phương pháp phân tích 35
3.4 Kết quả thực nghiệm và thảo luận 35
3.4.1 Khảo sát quá trình lắng của một hạt 35
3.4.1.1 Thực nghiệm và kết quả 35
3.4.1.2 Thảo luận kết quả 36
3.4.2 Khảo sát quá trình lắng của tập hợp hạt đơn phân tán 39
3.4.2.1 Thực nghiệm và kết quả 39
3.4.2.2 Xử lý số liệu bằng quy hoạch thực nghiệm 41
3.4.2.3 Thảo luận kết quả 44
3.4.3 Khảo sát sự ảnh hưởng của parafin lên quá trình lắng của một hạt 49
3.4.3.1 Thực nghiệm và kết quả 49
3.4.3.2 Thảo luận kết quả 51
3.4.4 Khảo sát sự ảnh hưởng của parafin lên quá trình lắng của tập hợp hạt đơn phân tán 51
3.4.4.1 Thực nghiệm và kết quả 51
3.4.4.2 Xử lý số liệu bằng quy hoạch thực nghiệm 53
3.4.4.3 Thảo luận kết quả 55
3.4.5 Khảo sát quá trình lắng của tập hợp hạt đa phân tán 66
3.4.5.1 Thực nghiệm và kết quả 66
3.4.5.2 Thảo luận kết quả 68
3.4.6 Xây dựng chương trình tính toán quá trình lắng 71
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 80
Trang 6MỞ ĐẦU
Trong quá trình vận chuyển và tồn trữ, thành phần của dầu thô luôn bị
thay đổi Những thành phần như nước, sediment (tạp chất cơ học gồm
cát, đá,…), asphalt… sẽ lắng xuống dưới tạo một lớp cặn bùn dầu thô ở
dưới đáy tàu, đáy bồn Lớp cặn này gây rất nhiều khó khăn trong vấn
đề vận chuyển và tồn trữ dầu thô Hằng năm trên thế giới phải tiêu tốn
hàng triệu đô–la Mỹ để xử lý lớp cặn này và môi trường
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về các phương pháp hạn chế
quá trình hình thành lớp cặn bùn này: sử dụng phụ gia, vi sóng… Tuy
nhiên đối với những hạt không phải hình cầu lắng trong những môi
trường có thành phần khác nhau thì quá trình diễn ra càng phức tạp
Việc hiệu chỉnh phương trình lắng Stokes bằng các hệ số trong hệ thức
Richardson và Zaki đã chứng tỏ là rất hiệu quả Tuy nhiên, một số thực
nghiệm khi hoà tan parafin vào dầu thô với các hàm lượng khác nhau
trong khi vẫn giữ nguyên độ nhớt môi trường đã chỉ ra rằng tốc độ lắng
của các hạt cũng thay đổi Như vậy, ngoài các yếu tố đã đề cập, sức
căng bề mặt thay đổi cũng ảnh hưởng đến quá trình lắng do tương tác
giữa môi trường liên lục với các hạt pha rắn
Trên cơ sở đó, luận văn này nhằm giải quyết vấn đề “Mô hình hóa toán
học quá trình sa lắng tập hợp các hạt rắn trong môi trường lỏng” để đưa
ra một mô hình tính toán cho quá trình lắng tĩnh của các hạt cát, đá
trong môi trường lỏng bằng con đường mô tả toán học theo phương
pháp hiệu chỉnh lại các phương trình sẵn có để cho chúng phù hợp hơn
trong điều kiện cụ thể với “Quá trình lắng của tạp chất cơ học trong
dầu thô” là ví dụ về đối tượng công nghệ
Trang 7Mô hình là một đối tượng được một chủ thể nào đó trên cơ sở của sự
đồng dạng về cấu trúc và chức năng dùng thay thế cho một nguyên bản
tương ứng để có thể giải quyết một nhiệm vụ nhất định [9]
Như vậy với cùng một nguyên bản có thể có nhiều mô hình khác nhau
tùy thuộc vào nhiệm vụ cần giải quyết
Mô hình toán học là biểu diễn toán học của những mặt chủ yếu của một
nguyên bản theo một nhiệm vụ nào đó trong một phạm vi giới hạn, với
một độ chính xác vừa đủ và trong một dạng thích hợp cho sự vận dụng
1.1.2 Phân loại mô hình toán học
Có nhiều cách phân loại mô hình toán học theo nhiều đặc điểm khác
nhau [9]:
Mô hình xác định: cho phép xác định chính xác các đại lượng ra theo
các đại lượng vào Mô hình thống kê: chỉ cho phép xác định các đại
lượng ra theo các đại lượng vào với một phân bố xác suất nhất định
Mô hình giải tích: mô tả đối tượng dựa vào các lý thuyết, các thông số
của chúng để tính toán các số liệu công nghệ Mô hình thực nghiệm:
được xây dựng trên các kết quả đo các đại lượng đặc trưng của đối
tượng nghiên cứu theo phương pháp thống kê
Mô hình động: có nghiên cứu đến sự quá độ giữa các trạng thái ổn định
của hệ thống Mô hình tĩnh: chỉ nghiên cứu trạng thái ổn định
Trang 8Mô hình tuyến tính – phi tuyến: dựa trên mối quan hệ tuyến tính – phi
tuyến của các hàm số mô tả hệ thống
Mô hình hệ quả: cho phép xác định giá trị của các biến số chưa đo được
thông qua giá trị của các biến số đo được (đo gián tiếp) Mô hình tiên
đoán: xác định các biến số phụ thuộc nhờ các giá trị cho trước của các
biến số độc lập
Mô hình thiết kế: phục vụ cho việc thiết kế chuyển quy mô một hệ
thống thiết bị Mô hình điều khiển: phục vụ cho việc điều khiển một hệ
thống thiết bị
1.1.3 Các bước thiết lập một mô hình toán học
Để lập một mô hình toán học mô tả quá trình công nghệ cần thực hiện
các bước sau [9]:
♦ Xác định các thông tin độc lập liên kết giữa hệ và môi trường:
xác định các yếu tố cơ bản tác động đến hệ
♦ Xác định cấu trúc sẽ được mô hình hóa: phân tích cấu trúc hệ
nhằm xác định mối liên hệ giữa các đại lượng
♦ Xây dựng các hàm toán mô tả các quá trình xảy ra trong hệ nhằm
mô tả hành vi của hệ
♦ Xác định các thông số mô hình từ những số liệu thực nghiệm theo
kế hoạch thực nghiệm
♦ Kiểm tra tính tương hợp của mô hình và cải tiến nếu cần thiết
1.2 Mô hình toán học cho quá trình lắng
1.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Dầu thô sau khi khai thác từ giếng lên được xử lý tại giàn khoan để loại
bớt nước và các tạp chất cơ học (sediment) theo tiêu chuẩn thế giới
(xem hình 1.1) Sau đó dầu đạt tiêu chuẩn được tồn trữ tạm thời trong
các “Tàu nổi” ngoài khơi chờ xuất bán
Trang 9Hình 1.1: Sơ đồ xử lý sơ bộ dầu thô tại giàn khoan
Theo thời gian, lớp cặn dầu trong “Tàu nổi” tăng dần do quá trình lắng
diễn ra Mặc dù hàm lượng tạp chất cơ học trong dầu thô thương phẩm
là rất thấp (< 0,5%kl), nhưng theo thời gian lớp cặn này tích tụ dần và
tăng lên rất đáng kể Theo tài liệu nghiên cứu của hai công ty quản lý
đường ống dẫn dầu Tatarxki và Baskiarxki thì trong các bể chứa dầu
thô dung tích 5000 m3 thì độ cao trung bình của lớp cặn đáy trong một
năm là 500 – 800 mm Khi súc rửa bể này người ta phải bỏ đi 400 –
450 m3 cặn dầu trong mỗi bể [29]
1.2.2 Quá trình lắng của một hạt
Nhìn chung sự chuyển động của các hạt trong trường trọng lực chịu tác
dụng của lực đẩy Ac–si–met, lực cản và trọng lực
Khi hạt rơi tự do, ban đầu hạt rơi nhanh dần vì lực cản còn nhỏ Khi vận
tốc tương đối của hạt tăng lên thì lực cản cũng tăng lên, như vậy gia tốc
Trang 10của hạt sẽ giảm dần Đến khi tổng các lực ngược chiều cân bằng thì gia
tốc của hạt triệt tiêu, lúc đó vận tốc tương đối của hạt đạt đến giá trị lớn
nhất gọi là vận tốc cân bằng (vận tốc lắng)
Năm 1851 Stokes đưa ra phương trình tính toán vận tốc cân bằng của
=18
gd
Trong đó: U: vận tốc cân bằng của hạt, m/s
d: đường kính tương đương của hạt, m
ρp: tỷ trọng của hạt, kg/m3
ρf: tỷ trọng của lưu chất, kg/m3g: gia tốc trọng trường, 9,81 m/s2 µ: độ nhớt động lực học của lưu chất, Pa.s Từ thực nghiệm cho thấy định luật Stokes (1.1) hoàn toàn chính xác đối
với các hạt có chuẩn số Rây–nôn (Reynolds) thỏa Rep 0,1; sai số
dưới 1% nếu Rep 0,3; sai số dưới 3% nếu Rep 0,5; và sai số dưới
9% nếu Rep 1,0; trong đó chuẩn số Reynolds của hạt được định nghĩa
Khi vận tốc lắng của hạt càng lớn thì lực quán tính của chất lỏng bắt
đầu chi phối đến chuyển động của hạt Lúc này phương trình Stokes
không áp dụng được Tuy nhiên từ thực nghiệm cho thấy quá trình
cuyển động của hạt trong lưu chất có thể chia thành 4 vùng khác nhau
tùy thuộc vào giá trị của chuẩn số Reynolds: vùng định luật Stokes có
Rep 0,3; một vùng trung gian giữa vùng Stokes và vùng Niu–tơn
(Newton) có 0,3 < Rep < 500; vùng định luật Newton có 500 Rep <
2.105; và vùng lớp biên có Rep > 2.105 [19]
Nếu hạt chuyển động trong vùng định luật Newton thì vận tốc cân bằng
của hạt được tính như sau:
Trang 11( )
f
f
p gd
74,1U
ρ
ρ
−ρ
Nếu hạt chuyển động trong vùng trung gian, đến nay vẫn chưa có công
thức cụ thể để tính toán vận tốc cân bằng Tuy nhiên mối liên hệ giữa
vận tốc cân bằng của hạt và các tính chất của môi trường chất lỏng
được mô tả như sau:
( ) 0 , 29 0 , 43
f 7 , 0 f p 1 ,
1 , , ,d
µρρ
−ρ
1.2.3 Quá trình lắng của hệ huyền phù
Khi có nhiều hạt gần sát nhau lắng trong môi trường chất lỏng thì
chuyển động của mỗi hạt sẽ bị các hạt xung quanh ảnh hưởng, các phép
phân tích như đối với một hạt không còn giá trị nữa nhưng vẫn phù hợp
với mô hình hệ thống nhiều hạt
Đối với một hệ huyền phù, định luật Stokes vẫn được áp dụng nhưng sử
dụng độ nhớt hiệu chỉnh và tỷ trọng trung bình của hệ huyền phù [19]:
( )ε
µ
=µ′
f + 1−ερερ
=
Trong đó: ε là tỷ lệ thể tích bị chiếm bởi chất lỏng (độ rỗng)
Vậy trong điều kiện lắng trọng lực thì vận tốc cân bằng từ phương trình
=
′
18
gd
U p 2 hay ( ) ε ( )ε
µρ
−ρ
=
18
gd
Theo lý thuyết của Einstein, đối với hạt hình cầu và mật độ thể tích của
hạt ω (nồng độ hạt) nhỏ hơn 0,1 {ω=(1−ε)≤0,1} hàm số hiệu chỉnh độ
nhớt f(ε) được tính bởi:
( ) 2,5 (1 )2 , 5
Trang 12Richardson và Zaki (1954) đã đưa ra công thức tính vận tốc lắng của
hạt trong vùng định luật Stokes (Rep 0,3):
( )3 , 65 65
,
3 U1U
U′= ε = −ω (trong đó f( )ε =ε2 , 65) (1.9)
Khi hạt chuyển động trong vùng định luật Newton (Rep > 500):
( )1 , 4 4
,
1 U1U
U′= ε = −ω (trong đó f( )ε =ε0 , 4) (1.10)
Trang 13CHƯƠNG 2
THÀNH PHẦN VÀ TÍNH CHẤT LƯU BIẾN
CỦA DẦU THÔ VIỆT NAM
2.1 Khái niệm về dầu thô
Dầu thô là hệ dị thể, lỏng, nhờn, có mùi đặc trưng của các hydrocarbon
Dầu thô có màu từ vàng đến đen tùy theo thành phần và tuổi của nó
Dầu thô chứa một lượng nước dưới dạng nhũ tương và các phần tử rắn
Đặc biệt có dầu thô dạng đặc: Bạch Hổ (Việt Nam), Minas (Indonesia)
do có chứa nhiều parafin; Bachaquero (Venezuela) do có chứa nhiều
asphalten [1, 3]
2.2 Thành phần dầu thô
Dầu thô là một hỗn hợp phức tạp của các hydrocarbon, các hợp chất lưu
huỳnh, nitơ, oxy, kim loại, nước và các hạt rắn Sự hiểu biết về thành
phần hóa học và tính chất vật lý của dầu thô là rất cần thiết cho nhà lọc
dầu vì nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề vận chuyển, tồn trữ, chế
biến và giá thành [1, 3]
2.2.1 Thành phần nguyên tố của dầu thô
Mặc dù thành phần nguyên tố thay đổi hẹp nhưng đặc tính của dầu thô
lại biến thiên rất rộng từ dầu thô nhẹ đến dầu thô nặng
Bảng 2.1: Thành phần các nguyên tố trong dầu thô
Nguyên tố Thành phần
Trang 142.2.2 Thành phần hóa học của dầu thô
Trong dầu thô có 4 dạng hợp chất sau: hợp chất hydrocarbon, hợp chất
dị nguyên tố, hợp chất asphalt và hợp chất vô cơ
2.2.2.1 Hợp chất hydrocarbon
Hydrocarbon mạch hở, no (parafin): Trong dầu thô có các n–parafin
tồn tại dưới 3 dạng: khí, lỏng, rắn chiếm từ 25 – 30% thể tích, phân tử
có thể có từ 1 – 80 nguyên tử carbon Dầu càng nhẹ thì hàm lượng
parafin càng cao Nếu hàm lượng các parafin có 16 nguyên tử carbon
trở lên chiếm tỷ lệ cao thì dầu dễ bị đóng rắn gây khó khăn cho việc
vận chuyển và tồn trữ Các iso–parafin chỉ có trong phân đoạn nhẹ và
trung bình của dầu thô Chúng không tồn tại hay tồn tại rất ít trong
phân đoạn nặng Đặc điểm là các iso–parafin đều ít nhánh và các
nhánh đều ngắn
Hydrocarbon mạch hở, không no (olefin): Hầu như không có olefin
trong dầu thô vì hoạt tính cao Chỉ có một số rất ít dầu thô có olefin với
hàm lượng rất thấp
Hydrocarbon vòng no (naphten): Naphten là thành phần chủ yếu của
dầu thô, chiếm tỷ lệ khoảng 30 – 60% có khi lên đến 80% đối với phân
đoạn nhẹ của dầu naphtenic Naphten chủ yếu tồn tại ở dạng 5 hoặc 6
cạnh với các nhánh phụ ngắn hay các vòng có cấu trúc khác nhau: vòng
tách biệt, vòng đính liền, vòng ngưng tụ Naphten có mặt trong tất cả
các phân đoạn Trong phân đoạn nhẹ thì các vòng đơn chiếm ưu thế
Còn trong phân đoạn nặng thì phần lớn là naphten đa vòng
Hydrocarbon thơm (aromatic): Aromatic thường chiếm từ 5 – 25% tùy
thuộc nguồn gốc dầu thô Hydrocarbon thơm chủ yếu là benzen và dẫn
xuất của benzen như xylen, toluen tập trung ở các phân đoạn nhẹ, còn
các hydrocarbon thơm đa vòng thường tập trung ở các phân đoạn trung
bình và nặng
Hydrocarbon lai hợp (naphten – aromatic): Đây là thành phần cơ bản
trong các phân đoạn nặng Các hydrocarbon lai hợp có cấu trúc phức
Trang 15tạp, các vòng naphten gắn với vòng thơm hoặc nối qua nhánh parafin,
cấu trúc của chúng rất gần với cấu trúc vật liệu hữu cơ đã sinh ra chúng
song phân tử lượng nhẹ hơn Ví dụ: tetralin
2.2.2.2 Hợp chất dị nguyên tố
Hợp chất lưu huỳnh: Đây là tạp chất khá phổ biến trong dầu thô Người
ta phát hiện ra trong dầu thô có khoảng 380 hợp chất khác nhau có
chứa lưu huỳnh gồm 6 nhóm: lưu huỳnh tự do (S), hydrosunphua (H2S),
mercaptan (R–SH), sunphua (R–S–R’), disunphua (R–S–S–R’),
thiophen ( )
Các hợp chất lưu huỳnh trong dầu thô là những hợp chất có hại Khi chế
biến chúng tạo ra các hợp chất ăn mòn thiết bị, gây ô nhiễm môi
trường, đầu độc xúc tác và làm giảm chất lượng sản phẩm Hàm lượng
lưu huỳnh sẽ tăng dần khi đi từ phân đoạn nhẹ đến phân đoạn nặng
Hàm lượng lưu huỳnh được coi là một chỉ tiêu để đánh giá chất lượng
của dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ Một cách tương đối, hàm lượng
lưu huỳnh trong dầu thô được chia ra làm 3 cấp:
Bảng 2.2: Phân loại dầu thô theo hàm lượng lưu huỳnh
Hàm lượng lưu huỳnh (%kl) 0 – 0,5 0,5 – 2,0 > 2,0
Phân loại dầu thô Ít lưu huỳnh Có lưu huỳnh Nhiều lưu huỳnh
Hợp chất oxy: Các hợp chất oxy là các axit hữu cơ, ceton, phenol,
ester… trong đó axit hữu cơ chiếm phần lớn, chúng phân bố chủ yếu
trong các phân đoạn trung bình với nhiệt độ sôi trong khoảng 200 –
350oC
Các hợp chất oxy cũng có tính ăn mòn rất mạnh, chúng còn có khả
năng tạo nhựa và làm mất tính ổn định của dầu thô
Hợp chất nitơ: Hàm lượng các hợp chất chứa nitơ ít hơn các hợp chất
chứa lưu huỳnh Tuy nhiên sự có mặt của chúng sẽ làm giảm tính ổn
định của dầu thô, do đó làm tăng quá trình tạo nhựa, đầu độc xúc tác
S
Trang 16axit Hợp chất nitơ gồm 2 nhóm: hợp chất nitơ trung tính và hợp chất
nitơ baz, một số chất trong chúng là dược liệu quý như: pyridin …
Kim loại: Trong dầu thô kim loại tồn tại dưới dạng hợp chất cơ kim tập
trung trong phần nặng gồm chủ yếu là vanadi, nicken… Việc phát hiện
ra phức cơ kim trong dầu thô, cụ thể là hợp chất porphyrin đã chứng
minh nguồn gốc hữu cơ của dầu thô vì hợp chất này chỉ có trong lĩnh
vực hữu cơ Các phức cơ kim gây ăn mòn thiết bị và động cơ
2.2.2.3 Hợp chất asphalt
Đây là các hợp chất có cấu trúc phức tạp, trọng lượng phân tử lớn (từ
500 trở lên), phân bố trong phần cuối của phân đoạn trung bình và
trong phân đoạn nặng, có màu nâu sẫm hoặc đen, bán rắn Hợp chất
asphalt tồn tại trong dầu làm giảm phẩm chất của dầu, nó gây ra sự mài
mòn thiết bị, làm tắt vòi phun nhiên liệu, tạo thành muội than và gây
ảnh hưởng xấu trong quá trình chế biến Chúng gồm 3 nhóm:
asphalten, resin (nhựa), oil (dầu)
Asphalten: Chúng có dạng rắn, đen bóng, có khối lượng phân tử cao và
cấu trúc phức tạp, hình thành từ 3 – 5 lớp cơ sở Ưùng với mỗi lớp cơ sở
có một nhân trung tâm (có từ 6 – 20 vòng thơm) được gắn kết với các
nhánh parafin
Resin: Chúng có dạng rắn hay bán rắn, màu nâu sẫm, nhân chỉ chứa từ
1 – 6 vòng thơm và liên kết với các vòng naphten
Oil: Chúng là phần nhẹ nhất trong cặn dầu, nhân là các vòng naphten
nối với các nhánh parafin
2.2.2.4 Hợp chất vô cơ
Đây là các hợp chất không tan trong hydrocarbon gồm có nước, tạp
chất cơ học và muối Hầu hết chúng đều gây ra mài mòn, ăn mòn,
nghẹt và đóng cặn trên đường ống, thiết bị, giảm quá trình truyền nhiệt
Nước: Trong dầu thô luôn tồn tại nước do có sẵn trong mỏ dầu, bị
nhiễm nước biển, nước mưa trong quá trình vận chuyển, tồn trữ
Trang 17Tạp chất cơ học: Đây là các tạp chất rắn (cát, đá vụn, bùn khoang, kim
loại) với hàm lượng tương đối ít do chúng có sẵn trong mỏ dầu hay lẫn
vào trong dầu thô trong quá trình khai thác, vận chuyển
Muối: Chúng có thể là các muối hòa tan hay kết tủa, phần lớn là các
muối clorua (NaCl, MgCl2, CaCl2) do chúng có sẵn trong mỏ dầu hay bị
nhiễm từ nước biển
2.3 Tạp chất cơ học trong dầu thô
2.3.1 Nguồn gốc
Tạp chất cơ học xuất hiện trong dầu thô phụ thuộc vào một số nguyên
nhân sau:
♦ Nhiễm tạp vỉa vào dầu thô
♦ Pha trộn các dòng dầu thô ngập nước của các tầng khác nhau
trong quá trình khai thác, thu gom và xử lý dầu thô
♦ Aên mòn đường ống và thiết bị khai thác
♦ Sử dụng nước ngọt bẩn trong quá trình tách muối và nước trong
dầu thô Đưa nước thải xử lý kém và dầu vớt chưa sạch trở lại
khâu đầu của quá trình xử lý
♦ Rò rỉ dung dịch khoan nặng và dung dịch dùng để trám vỉa trong
quá trình khởi động hay sửa chữa [28, 29]
2.3.2 Thành phần
Tùy theo nguồn gốc xuất hiện các tạp chất cơ học trong sản phẩm mà
hàm lượng, thành phần cấu tử và độ phân tán của chúng khác nhau
đáng kể
Đối với dầu mỏ Azerbaizan (bán đảo Apseron) hàm lượng cát (có kích
thước khoảng 0,01 – 1 mm) có thể lên đến 20% tại các bể thu gom, cát
hạt mịn gắn kết yếu
Trang 18Cát, đất sét cuốn theo dầu tăng lên đối với một loạt mỏ tại Kazacxtan
(mỏ Kenkiak 1 – 3%), tại Tây Sibiri (mỏ Ruxki 7%), tại Baskiri (mỏ
Iujarlan 0,1%)… Nói chung đa số dầu thô, tạp chất cơ học từ mỏ bị lôi
cuốn theo dầu thường không vượt quá 0,01%
Mặt khác do phá vỡ tính ổn định và cân bằng ion nước vỉa mà hàm
lượng tạp chất cơ học trong nhũ dầu, đặc biệt là FeS, CaCO3, thạch cao
có thể đạt đến lượng tương đương lượng tạp chất hạt đất đá bị lôi cuốn
từ vỉa Kinh nghiệm khai thác Uzen (Manguxlac) cho thấy, các hạt lơ
lửng muối không tan CaCO3 và BaSO4 xuất hiện trong sản phẩm vỉa
dầu đạt đến hàm lượng 0,5% là do bơm vào vỉa nước biển có chứa
nhiều ion Ca2+, Mg2+, Ba2+, SO42– Có thể xuất hiện nhiều tạp chất cơ
học khi trộn nước vỉa và nước ngọt chứa oxy Khi đó sản phẩm chủ yếu
của phản ứng sẽ là các hạt CaCO3, CaSO4 hay hydroxit các kim loại đa
hóa trị không tan trong nước (Mg, Al, Fe) Tùy theo hàm lượng và sự
thay đổi lượng hydroxit sắt trong nước tương đối theo thời gian mà
người ta có thể đánh giá quá trình ăn mòn thiết bị
Đối với nhũ dầu xử lý thường xuyên hay định kỳ có thể nhiễm các cấu
tử trong dung dịch khoan nặng
Mặc dù tạp chất cơ học xuất hiện theo nhiều nguồn khác nhau, nhưng
các hạt chính gây nhiễm bẩn dầu thô và nước có thể sắp xếp theo thứ tự
khối lượng như sau:
Cát > Đất sét > Sunphua sắt > Carbonat Ca (Mg) > Sunphat Ca (Mg, Ba) > Gỉ
2.3.3 Tính chất
Bảng 2.3 đưa ra các số liệu về tính chất của các chất hóa học là cơ sở
của một vài loại tạp chất cơ học, số liệu này liên quan đến tính chất của
tạp chất cơ học là các cấu tử đơn lẻ (một loại) Trong thực tế, sản phẩm
dầu mỏ đồng thời chứa các tạp chất cơ học có bản chất hóa học khác
nhau
Trang 19Bảng 2.3: Tính chất hóa học của một số tạp chất cơ học
Hạt Công thức Tỷ trọng
Sét Al2O3.2SiO2.2H2O 2,6 – 3,2
Sắt sunphua FeS 4,3 – 4,8
Canci carbonat CaCO3 2,7 – 2,9
Magie carbonat MgCO3 2,0 – 2,1
Canci sunphat CaSO4 2,3 – 2,6
Magie sunphat MgSO4 2,4 – 2,6
Bari sunphat BaSO4 4,4 – 4,5
Gỉ sét FeO (Fe2O3) 3,4 – 3,9
Theo số liệu phân tích thạch học, tạp chất cơ học của dầu Nam Arlan
(Baskiri) là barit, pirit, sunphua sắt; carbonat và sunphat canci, độ phân
tán trung bình dao động từ 1 – 10 µm
Khi phân tích hóa học các tạp chất cơ học tách ra từ sản phẩm vỉa dầu
các mỏ vùng Kuibusep, người ta nhận thấy một lượng lớn tạp chất cơ
học (57 – 88%) tan trong dung dịch HCl 10% là hợp chất sắt hóa trị II
và III, chủ yếu là sản phẩm ăn mòn kim loại Cặn không tan trong dung
dịch axit là các hạt thạch anh (cát) nửa tròn và có góc cạnh có đường
kính đến 20 µm Trong thành phần của chúng còn gặp các mảnh nhỏ
chất hữu cơ (đất) Điều này giải thích sự mất khối lượng lớn khi nung
mẫu phân tích (24 – 53%) Ngoài ra hàm lượng các oxit kim loại (CaO,
MgO) dao động từ 0,5 –3,5% [28, 29]
Trang 202.4 Parafin trong dầu thô
Parafin trong dầu thô được tách ra cùng với các hydrocarbon rắn khác
tạo thành một hỗn hợp rất phức tạp gọi là sáp (wax) gồm các hợp chất
ankan, các hợp chất naphten có từ 1 – 3 vòng và có mạch nhánh dài,
các hợp chất thơm với số vòng khác nhau Ngoài ra có cả naphten –
aromatic
2.4.1 Cấu trúc tinh thể
Các phân tử của các n–parafin trong tinh thể hình thành các chuỗi dạng
zic – zac của các nguyên tử carbon được sắp xếp song song nhau Phụ
thuộc vào số nguyên tử carbon trong phân tử và nhiệt độ kết tinh, các
n–parafin riêng biệt có thể kết tinh ở 4 dạng cấu trúc tinh thể sau đây:
♦ Cấu trúc hexagonal
♦ Cấu trúc orthorhombic
♦ Cấu trúc monoclinic
♦ Cấu trúc triclinic
Những dạng tinh thể này có thể chuyển hóa lẫn nhau, đó là hiện tượng
chuyển tiếp đa hình
Ơû nhiệt độ cao hơn nhiệt độ chuyển tiếp đa hình, tất cả các n–parafin
có số carbon lẻ tạo nên cấu trúc tinh thể dạng hexagonal; ở nhiệt độ
thấp hơn nhiệt độ này, tạo nên tinh thể dạng orthorhombic Các n–
parafin có số carbon chẵn bắt đầu từ C24 ở vùng nhiệt độ cao tạo nên
cấu trúc tinh thể dạng hexagonal, dạng này khi hạ nhiệt độ chuyển
thành cấu trúc triclinic đối với C18–C26 và thành cấu trúc monoclinic đối
với C26–C36 Người ta nhận thấy rằng các parafin C24–C26 đặc trưng bởi
hai khuynh hướng biến đổi cấu trúc tinh thể theo sơ đồ:
Hexagonal Monoclinic Triclinic
Nhiệt độ chuyển từ cấu trúc tinh thể này sang dạng khác là đặc trưng
cho từng n–parafin
Trang 21Cấu trúc tinh thể của một hỗn hợp các loại hydrocarbon thì càng phức
tạp hơn Các nhà nghiên cứu nhận thấy:
Dung môi cũng gây ảnh hưởng nhiều tới quá trình kết tinh và cấu trúc
tinh thể Những công trình nghiên cứu xác nhận là các hydrocarbon của
tất cả các dãy đồng đẳng trong dung môi không phân cực đều kết tinh
tạo thành các tinh thể dạng orthorhombic Khi kết tinh trong dung dịch
phân cực thì chỉ các n–parafin mới tạo ra các tinh thể dạng
orthorhombic điển hình Còn các dạng hydrocarbon khác thì đều có sự
biến tướng tinh thể tạo ra các đặc thù khác nhau [15, 16, 17]
2.4.2 Tính chất
2.4.2.1 Tính chất nhiệt
Nhiệt độ nóng chảy của một n–parafin đơn lẻ phản ảnh rất rõ các đặc
điểm cấu tạo của chúng Khi trong phân tử xuất hiện các nhóm thế thì
nhiệt độ nóng chảy đặc trưng cho vị trí và bản chất của nhóm thế Sự
xuất hiện nhóm thế trong phân tử n–parafin làm giảm rõ rệt nhiệt độ
nóng chảy của nó
Khi nhóm thế dịch chuyển vào vị trí carbon càng gần trung tâm phân tử
thì sự giảm nhiệt độ nóng chảy xảy ra càng mạnh
Một đặc trưng quan trọng khác về mặt nhiệt học là độ bền oxy hóa –
nhiệt của các sản phẩm Tính chất này cũng liên quan đến cấu trúc và
khối lượng phân tử của các hydrocarbon Theo chiều giảm dần của độ
bền oxy hóa – nhiệt của các hydrocarbon rắn đơn lẻ và hỗn hợp có thể
sắp xếp theo thứ tự:
Antraxen > Hexadecan > Tetrakozan > Dầu nhờn > Dầu mỹ phẩm
2.4.2.2 Tính chất bề mặt
Kết quả nghiên cứu sức căng bề mặt của một số hydrocarbon rắn cho
thấy một số quy luật sau:
♦ Với cùng một nhóm hydrocarbon thì khi trọng lượng phân tử
tăng, sức căng bề mặt cũng tăng
Trang 22♦ Với các nhóm hydrocarbon khác nhau thì theo chiều giảm dần
sức căng bề mặt có thể sắp xếp:
Aromatic > Naphten > n–Parafin > iso–Parafin
♦ Sự chuyển dịch nhóm thế trong phân tử iso–ankan, từ rìa vào
phía trung tâm phân tử làm giảm sức căng bề mặt
Kết quả nghiên cứu cho thấy góc thấm ướt của các hydrocarbon rắn tại
ranh giới với bề mặt thép khác nhau rất ít
2.4.2.3 Tính chất cơ lý
Sự khác nhau về thành phần hóa học của các parafin quyết định các
tính chất cơ học của chúng
Sự vắng mặt các hợp chất vòng trong sản phẩm parafin sẽ làm tăng ứng
suất và làm cho sản phẩm chắc hơn, làm tăng độ bền cơ học Chính
mức độ vòng và mức độ phân nhánh của các hydrocarbon làm cho các
phân tử hydrocarbon có độ linh động cao hơn, do đó chúng khó tạo nên
cấu trúc có sắp xếp trật tự và độ nhớt cũng vì thế mà cao hơn
Thành phần hóa học của các sản phẩm hydrocarbon rắn còn quyết định
cả mối liên hệ giữa các tính chất cơ lý và nhiệt độ Với các sản phẩm
chứa chủ yếu n–parafin thì các tính chất bền chắc thay đổi đột ngột
theo nhiệt độ Còn sự có mặt của các cấu trúc vòng trong parafin và sáp
làm cho sự thay đổi các tính chất bền trở nên đều đặn hơn
Vậy để có được các sản phẩm có các tính chất cơ lý phù hợp với yêu
cầu sử dụng cần phải có biện pháp điều chỉnh các hỗn hợp có thành
phần hóa học nhất định
2.4.2.4 Tính chất điện học
Có sự khác nhau rõ rệt về tính chất điện học giữa các nhóm
hydrocarbon cũng như giữa các hydrocarbon trong cùng một nhóm Sự
khác biệt của chỉ tiêu điện học giữa các hợp chất phụ thuộc vào trọng
lượng phân tử
Trang 23Sự hiểu biết về độ thấm điện môi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, cho
phép lựa chọn phụ gia để tạo ra các sản phẩm tổ hợp trên cơ sở các
hydrocarbon rắn, cũng như các phụ gia trong quá trình kết tinh tách lọc
chúng Ngoài ra nó còn cho phép giải quyết các vấn đề liên quan tới sự
cộng hưởng tác dụng của các phụ gia khi tiến hành tách các
hydrocarbon rắn trong điện trường
Độ thấm điện môi và tg của góc hao tổn điện môi đối với các hỗn hợp
có thành phần khác nhau thì khác nhau không nhiều Trong khi đó điện
trở riêng biệt thể tích là đại lượng rất nhạy cảm với sự thay đổi thành
phần hóa học
2.4.2.5 Tính chất quang học
Mỗi một hydrocarbon rắn đơn lẻ hoặc một hỗn hợp của chúng đều có
một chỉ số khúc xạ Chỉ số khúc xạ này là một hàm số của nhiệt độ
Qua việc khảo sát sự thay đổi của chỉ số khúc xạ theo nhiệt độ người ta
đã nhận biết được các pha khác nhau và sự thay đổi pha đi từ trạng thái
nóng chảy tới trạng thái rắn
Các hydrocarbon rắn có trong quang phổ hồng ngoại một số lượng xác
định các dải hấp thụ chính mà dạng cũng như cường độ những dải này
cũng có quan hệ chặt chẽ với hiện tượng chuyển pha
Người ta lợi dụng khả năng phát quang mạnh của các hợp chất
hydrocarbon thơm đa vòng khi chúng được chiếu tia tử ngoại để phát
hiện sự có mặt của chúng trong các sản phẩm parafin
2.4.3 Phân loại
2.4.3.1 Phân loại theo thành phần độ cất – nhiệt độ nóng chảy –
cấu trúc tinh thể
Parafin lỏng: có tnc < 27oC Phạm vi nhiệt độ sôi từ 180 – 370oC gồm
các hydrocarbon có mạch C9–C24
Parafin rắn: có tnc = 28 – 70oC Phạm vi nhiệt độ sôi từ 300 – 500oC có
cấu trúc tinh thể lớn Gồm 3 loại:
Trang 24♦ Parafin có nhiệt độ nóng chảy thấp: tnc = 28 – 45oC
♦ Parafin có nhiệt độ nóng chảy trung bình: tnc = 45 – 60oC
♦ Parafin có nhiệt độ nóng chảy cao: tnc > 60oC
Xerezin: là loại parafin có tinh thể nhỏ tnc = 60 – 80oC có phạm vi nhiệt
độ sôi trên 500oC
Parafin mềm (sáp): mềm dẻo ở nhiệt độ thường Có chứa nhiều
hydrocarbon mạch nhánh và vòng
2.4.3.2 Phân loại theo mức độ khử dầu
Parafin sạch: hàm lượng dầu từ 0,5 – 1%
Parafin kỹ thuật: hàm lượng dầu từ 1 – 5%
Parafin bán thương phẩm: hàm lượng dầu trên 5%
2.4.3.3 Phân loại theo yêu cầu sản xuất axit béo tổng hợp
Parafin lỏng (C16–C20): phạm vi nhiệt độ sôi từ 250 – 350oC để thu các
axit có mạch C8–C12
Parafin nóng chảy trung bình (C17–C28): phạm vi nhiệt độ sôi từ 300 –
430oC để thu chủ yếu các axit béo có mạch C10–C16
Parafin rắn (C27–C35): phạm vi nhiệt độ sôi từ 420 – 500oC để thu chủ
yếu các axit có mạch C18–C22
2.4.4 Ưùng dụng
Sản xuất các axit béo tổng hợp, các rượu béo cao, là nguyên liệu cho
quá trình clo hóa
Sản xuất các α–olefin, chất hoạt động bề mặt
Sản xuất dầu nhờn có chỉ số độ nhớt cao
Sản xuất các sinh khối protein – vitamin
Sản xuất giấy,bao bì, công nghiệp làm diêm, dệt, chế luyện cao su,
dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm …
Trang 252.5 Ngành công nghiệp Dầu khí Việt Nam
2.5.1 Tình hình khai thác dầu thô
Năm 1981, liên doanh dầu khí Việt Nam – Liên Xô mang tên
Vietsopetro được thành lập và đi vào hoạt động Đây là công ty liên
doanh đầu tiên của ngành dầu khí Việt Nam sau khi đã phát hiện dầu ở
mỏ Bạch Hổ Sự kiện này là cột mốc quan trọng cho ngành dầu khí
Việt Nam Năm 1986 Liên doanh dầu khí Vietsopetro đã tiến hành
khai thác thương mại mỏ Bạch Hổ thuộc bể trầm tích Cửu Long Sản
lượng khai thác từ mỏ Bạch Hổ ngày càng tăng
Từ năm 1986 đến năm 1993 thì Việt Nam chỉ khai thác dầu ở mỏ Bạch
Hổ với sản lượng dầu khai thác được còn thấp (6 triệu tấn dầu quy
đổi/năm) Từ năm 1994, ngoài mỏ Bạch Hổ còn có thêm mỏ Đại Hùng
và mỏ Rồng cũng được đưa vào khai thác Đến nay thì Việt Nam có 6
mỏ dầu đi vào khai thác nâng sản lượng dầu thô khoảng 15 triệu tấn
dầu quy đổi/năm
Nhìn chung trữ lượng và tiềm năng dầu khí dự báo là đáng kể (3 – 4,5
tỷ m3 quy dầu) chủ yếu là khí (trên 50%), đã phát hiện khoảng 1 tỷ m3
quy dầu Mục tiêu của Petro Việt Nam là đưa sản lượng dầu khí vào
năm 2010 lên đến 30 triệu tấn dầu quy đổi [12, 13]
2.5.2 Tính chất dầu thô Việt Nam
Dầu thô các bể trầm tích Việt Nam có những đặc tính chung của dầu
thô vùng Đông Nam Á Tuy nhiên dầu thô ở mỗi bể trầm tích, mỗi mỏ,
thậm chí ở mỗi tầng vỉa của một giếng khoan cũng có những đặc tính
riêng Việc đánh giá tổng quát tính chất dầu thô ở mỗi bể trầm tích có ý
nghĩa quan trọng không những trong lĩnh vực tìm kiếm thăm dò mà còn
rất quan trọng trong lĩnh vực chế biến dầu thô Những tính chất chi tiết
của từng loại dầu thô sẽ quyết định đến hiệu suất, chất lượng sản phẩm
của nhà máy, do đó việc nắm rõ tính chất nguyên liệu dầu thô sẽ giúp
ích cho quá trình vận hành nhà máy Các tính chất của 3 loại dầu thô
đại diện cho các bể trầm tích Cửu Long, Nam Côn Sơn và MaLay –
Thổ Chu được trình bày trong bảng 2.4:
Trang 26Bảng 2.4: Thông số cơ bản của một số loại dầu thô Các thông số Bể Cửu Long
6,89 4,51
5,49 3,32
14,58 45,32 74,42
10,47 53,43 88,95
Cả 3 loại dầu đều có hàm lượng lưu huỳnh rất thấp nên được xếp vào
loại dầu ngọt Với hàm lượng lưu huỳnh thấp đã tạo được ưu thế cho
dầu thô Việt Nam trên thị trường thế giới và là nguyên liệu tốt cho nhà
máy lọc dầu của Việt Nam
Dầu thô Việt Nam có hàm lượng parafin khá cao nên điểm chảy của
dầu rất cao Điều đó gây khó khăn trong vấn đề khai thác, vận chuyển
và tồn trữ dầu thô
Trang 27Dầu thô có hàm lượng kim loại nặng như nicken, vanadi… rất thấp
Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc chọn lựa sử dụng xúc tác
trong quá trình chế biến dầu thô
Ba loại dầu thô có những đặc tính chung, tuy nhiên mỗi loại dầu cũng
có những đặc tính riêng đặc trưng
2.5.2.2 Đặc tính riêng
Dầu thô Bạch Hổ và PM–3 là loại dầu nhẹ có tỷ trọng tương ứng là
40,2oAPI và 38oAPI, trong khi đó dầu thô Đại Hùng là loại dầu trung
bình (có tỷ trọng là 30,25oAPI)
Hàm lượng lưu huỳnh của dầu Bạch Hổ và PM–3 thấp, chỉ bằng ½ so
với dầu Đại Hùng
Điểm chảy và hàm lượng parafin trong dầu Bạch Hổ và PM–3 cao hơn
trong dầu Đại Hùng
Độ nhớt của dầu Đại Hùng cao hơn so với dầu Bạch Hổ, PM–3
Hàm lượng các chất gây đầu độc xúc tác như nicken, vanadi… trong dầu
Đại Hùng cao hơn so với dầu Bạch Hổ và PM–3
Những tính chất khác như chỉ số axit, hàm lượng cặn conradson, hàm
lượng nhựa, hàm lượng asphalten… của cả 3 loại dầu đều rất thấp,
nhưng trong đó dầu Đại Hùng cao nhất
Như vậy đánh giá tổng quát dựa trên những tính chất chung của dầu thô
thì 3 loại dầu thô ở 3 bể trầm tích đều thuộc loại dầu ngọt có chất lượng
cao Trong 3 loại dầu trên thì dầu Bạch Hổ và PM–3 có tính chất gần
giống nhau và có chất lượng cao hơn so với dầu thô Đại Hùng
2.5.3 Tính lưu biến của dầu thô Việt Nam
Dầu thô khi ở điều kiện vỉa có nhiệt độ cao hơn nhiệt độ điểm kết tinh
mang đặc tính của một chất lỏng Newton (độ nhớt µ chỉ phụ thuộc vào
nhiệt độ và áp suất, không phụ thuộc vào tốc độ trượt) và khi nhiệt độ
của nó xuống thấp hơn nhiệt độ này thì dầu thô mang đặc tính của chất
Trang 28lỏng Bingham, là loại chất lỏng phi Newton có độ nhớt không phụ
thuộc vào thời gian
Hình 2.1: Đường cong lưu biến của một số loại chất lỏng
Chất lỏng Bingham: trong hệ cấu trúc mà pha rắn có cấu trúc mạng dày
đặc như trong trường hợp mạng tinh thể parafin, chất lỏng chỉ có khả
năng chảy sau khi mạng bị phá vỡ Quá trình chảy của loại chất lỏng
này chỉ bắt đầu sau khi tác dụng lên chúng một ứng suất trượt lớn hơn
ứng suất giới hạn τy (ứng suất trượt tĩnh), sau khi cấu trúc bị phá vỡ,
chất lỏng chảy theo định luật Newton
τ = τy + µγ (τ > τy) Trong đó: τ: ứng suất trượt
τy: ứng suất trượt giới hạn
µ: độ nhớt dẻo (độ nhớt động lực học)
γ: vận tốc trượt
Đường cong lưu biến của chất lỏng Bingham là một đường thẳng (xem
hình 2.1) cắt trục ứng suất trượt tại điểm τy Ứng suất trượt giới hạn τy
là ứng suất xuất hiện trước khi hiện tượng chảy xảy ra
Đối với dầu thô Việt Nam thì tính chất thixotropic thể hiện khá rõ (quá
trình chảy có thể bắt đầu khi cấu trúc mạng chưa bị phá vỡ hoàn toàn,
chính quá trình chảy sẽ làm phá vỡ hoàn toàn cấu trúc giống như chất
lỏng thixotropic)
τ
dy du
Chất lỏng Bingham
Chất lỏng Newton Chất lỏng Dilatant
Chất lỏng giả dẻo
τy
0
Trang 292.5.4 Đặc điểm chung của dầu thô Việt Nam
Qua việc phân tích tính chất cơ bản của dầu thô ở trên, chúng tôi rút ra
một số tính chất chung của dầu thô Việt Nam
Dầu thô Việt Nam thuộc loại dầu nhẹ vừa phải, có tỷ trọng từ 30,25
đến 40,2oAPI Đặc tính nặng nhẹ của dầu thô quyết định đến hiệu suất
của sản phẩm sáng, sản phẩm có giá trị nhất trong dầu thô Tổng hiệu
suất các sản phẩm sáng chiếm khoảng 50 – 60% trọng lượng dầu thô
Dầu thô Việt Nam thuộc loại dầu rất ngọt, với hàm lượng lưu huỳnh và
các chất độc hại rất thấp, có thể liệt vào hàng dầu thô ít lưu huỳnh nhất
thế giới, các mỏ dầu như vậy rất hiếm, đây là một đặc điểm giá trị cho
dầu thô Việt Nam
Dầu thô Việt Nam là loại dầu có tính parafin Với hàm lượng parafin
cao nên dầu có điểm chảy rất cao, điều này làm cho dầu mất hẳn tính
linh động ở điều kiện nhiệt độ thấp thậm chí ngay cả ở điều kiện bình
thường Điều đó đã gây nhiều khó khăn trong quá trình khai thác, vận
chuyển và tồn trữ dầu thô Có thể nói đây là nhược điểm lớn nhất của
dầu thô Việt Nam Vì vậy đối với các sản phẩm dầu mỏ yêu cầu cao về
điểm đông đặc, khống chế hàm lượng parafin ở mức độ thấp như nhiên
liệu phản lực, nhiên liệu diesel thì trong quá trình sản xuất cần có thêm
công đoạn loại bớt parafin Một điểm đáng lưu ý là hàm lượng parafin
trong phần cặn chưng cất cao (khoảng 55%) cộng với hàm lượng
asphalten trong cặn lại thấp (khoảng 0,19%) nên dầu thô Việt Nam
không thể dùng sản xuất bitum nhưng lại rất thích hợp cho quá trình
cracking
Trang 30CHƯƠNG 3
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VÀ THẢO
LUẬN KẾT QUẢ
3.1 Thiết bị thí nghiệm
Thiết bị thí nghiệm gồm cột lắng, bể điều nhiệt, bộ sàng, ống đong
thủy tinh và các thiết bị tiêu chuẩn dùng trong các phép đo chỉ tiêu chất
lượng của các sản phẩm từ dầu thô (xem hình ảnh đính kèm trong phần
phụ lục)
Bộ sàng gồm 6 rây bằng lụa có kích thước khác nhau (xem hình 3.1)
Cột lắng: là một cột hình trụ bằng thép có đường kính 70mm, chiều cao
1000mm Dọc chiều cao của thân cột có 10 vị trí lấy mẫu Vị trí thứ
nhất là vị trí cao nhất, lần lượt đến vị trí dưới đáy cột là vị trí thứ 10
Mỗi vị trí cách nhau 100mm (xem hình 3.2)
Bể điều nhiệt: gồm một cột bao ngoài cột lắng dùng để điều nhiệt cho
cột lắng, có đường kính 210mm, chiều cao 1000mm; và một bể điều
nhiệt bằng kính dùng để điều chỉnh và ổn định nhiệt độ của nước Chất
tải nhiệt được sử dụng là nước
Hình 3.1: Rây bằng lụa
Trang 31Hình 3.2: Cột lắng
Trang 323.2 Vật tư và hóa chất
3.2.1 Tập hợp hạt rắn
Mẫu tập hợp hạt rắn được trích ra từ dầu thô, có tỷ trọng trung bình
2069 kg/m3 Qua kết quả phân tích phân bố kích thước hạt theo số
lượng hạt cho thấy hệ tập hợp hạt rắn có phân bố kích thước rất mịn, từ
1,65 – 120 µm, đường kính tương đương rất nhỏ 17,543 µm Có đến
70% số lượng hạt kích thước từ 4 – 23 µm, có đến 99% số hạt có kích
thước nhỏ hơn 51,12 µm Như vậy cho thấy hệ tập hợp hạt rắn là một
hệ đa phân tán mịn Kết quả phân tích phân bố kích thước hạt theo số
lượng hạt được đo tại Trung tâm An toàn & Môi trường Dầu khí
(RDCPSE) thuộc Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam có đính kèm theo
trong phần phụ lục
3.2.2 Môi trường lưu chất
Dựa vào kết quả phân tích, độ nhớt của các mẫu dầu thô dao động từ 4
– 7 cSt ở 55oC Như vậy chúng tôi chọn 2 loại dầu gốc (SN50, SN100)
để pha trộn thành hỗn hợp có độ nhớt bằng với độ nhớt của dầu thô ở
khoảng nhiệt độ khảo sát
Bảng 3.1: Tính chất của 2 loại dầu gốc SN50 – SN100
Điểm chớp cháy, o C 148 204
Khoảng nhiệt độ sôi, o C 260 – 400 330 – 510
Mẫu parafin được trích ra từ dầu thô, có màu vàng nâu do còn lẫn một
lượng dầu khá lớn, hàm lượng parafin là 37% Qua kết quả phân tích
thành phần hydrocarbon cho thấy mẫu parafin có phân bố carbon tương
tự hình yên ngựa, phân bố từ C11–C36, phân bố tập trung từ C18–C28
(đến 66,64%) Hàm lượng các mạch nhỏ hơn C15 và lớn hơn C33 là
Trang 33không đáng kể Chính vì vậy mà mẫu parafin thu được rất mềm Kết
quả phân tích thành phần hydrocarbon bằng phương pháp sắc ký khí cột
mao quản được đo tại Trung tâm An toàn & Môi trường Dầu khí
(RDCPSE) thuộc Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam có đính kèm theo
trong phần phụ lục
3.3 Phương pháp phân tích
Tỷ trọng được xác định theo phương pháp TCVN 2619 – 78
Hàm lượng tập hợp hạt rắn được xác định theo phương pháp ASTM
D473 – 69
Hàm lượng parafin được xác định theo phương pháp UOP – 46
Độ nhớt mao quản được xác định theo phương pháp ASTM D445
Độ nhớt Saybolt được xác định theo phương pháp ASTM D86
3.4 Kết quả thực nghiệm và thảo luận
3.4.1 Khảo sát quá trình lắng của một hạt
3.4.1.1 Thực nghiệm và kết quả
Chúng tôi tiến hành khảo sát tốc độ lắng (U) của một hạt rắn có tỷ
trọng ρp = 2069 kg/m3 trong môi trường lỏng là dầu gốc có độ nhớt lần
lượt là 0,0017; 0,0043 và 0,0069 Pa.s (tương ứng với 2; 5 và 8 cSt) và tỷ
trọng ρf = 867 kg/m3 Việc thay đổi độ nhớt của môi trường được thực
hiện bằng cách giữ nguyên hệ lỏng mà chỉ thay đổi nhiệt độ sao cho độ
nhớt đạt đến giá trị chúng tôi cần tiến hành thí nghiệm (nhiệt độ biến
đổi trong khoảng từ 45 – 80oC), tỷ trọng của chất lỏng hầu như không
thay đổi trong khoảng nhiệt độ này Sau khi độ nhớt ổn định, chúng tôi
tiến hành đo tốc độ lắng của hạt Kết quả thực nghiệm được trình bày
trong các bảng 3.3, 3.4 và các hình 3.3 – a, b, c, d, e, f Dựa vào các kết
quả thực nghiệm, chúng tôi tính toán các giá trị của chuẩn số Reynolds,
kết quả tính toán được trình bày trong bảng 3.2
Trang 34Chuẩn số Reynolds được định nghĩa dựa theo tài liệu [19]:
Bảng 3.2: Giá trị chuẩn số Reynolds Kích thước hạt (µm) 5 10 15 20 25 30
Bảng 3.3: Tốc độ lắng của một hạt ở độ nhớt 5 cSt Kích thước hạt (µm) 5 10 15 20 25 30
Tốc độ lý thuyết, U LT (mm/s) 0,0038 0,0152 0,0343 0,0609 0,0952 0,1371
Tốc độ thực tế, U (mm/s) 0,0018 0,0101 0,0267 0,0505 0,0816 0,1149
Tỷ số K=U/U LT 0,474 0,664 0,778 0,829 0,857 0,838
Bảng 3.4: Tốc độ lắng của một hạt ở các độ nhớt khác nhau
Tốc độ lý thuyết (mm/s) 0,0385 0,0866 0,1539 0,0152 0,0343 0,0609 0,0095 0,0214 0,0380
Tốc độ thực tế (mm/s) 0,0256 0,0675 0,1277 0,0101 0,0267 0,0505 0,0063 0,0166 0,0315
3.4.1.2 Thảo luận kết quả
Chúng tôi nhận thấy các hạt trong vùng khảo sát có kích thước khá nhỏ,
nên tốc độ lắng cũng nhỏ, giá trị Re đều nhỏ hơn 0,3 Như vậy quá
trình lắng diễn ra trong vùng chảy tầng, chúng tôi sẽ sử dụng phương
trình lắng Stokes (1.1) để tính tốc độ lắng lý thuyết ULT và so sánh với
số liệu thực nghiệm Khi hạt chuyển động trong vùng chảy tầng thì yếu
tố hình dạng ảnh hưởng không đáng kể Vì thế d mang ý nghĩa như
đường kính tương đương của hạt
Qua các số liệu trong bảng 3.3, các hình 3.3, chúng tôi nhận thấy sai số
giữa tốc độ lắng đo được từ thực nghiệm và tốc độ lắng tính theo
Trang 35phương trình Stokes là rất lớn Điều này chỉ ra phương trình Stokes
không phù hợp trong trường hợp này và cần được hiệu chỉnh
Theo các số liệu trong bảng 3.4 thì khi độ nhớt thay đổi, tỷ số K không
đổi (K ≈ const), có nghĩa là độ nhớt không ảnh hưởng đến K Tuy nhiên
khi kích thước hạt d thay đổi thì K cũng thay đổi, điều đó chứng tỏ d có
ảnh hưởng lớn đến giá trị của K
Đồ thị 3.1: Quãng đường rơi của hạt 5E-6m theo thời gian
420 430 440 450 460 470 480 490 500 510
a) Hạt có kích thước 5µm
Đồ thị 3.2: Quãng đường rơi của hạt 10E-6m theo thời gian
0 100 200 300 400 500 600
b) Hạt có kích thước 10µm
Trang 36Đồ thị 3.3: Quãng đường rơi của hạt 15E-6m theo thời gian
0 100 200 300 400 500 600
c) Hạt có kích thước 15µm
Đồ thị 3.4: Quãng đường rơi của hạt 20E-6m theo thời gian
0 100 200 300 400 500 600
d) Hạt có kích thước 20µm
Đồ thị 3.5: Quãng đường rơi của hạt 25E-6m theo thời gian
0 100 200 300 400 500 600
e) Hạt có kích thước 25µm
Trang 37Đồ thị 3.6: Quãng đường rơi của hạt 30E-6m theo thời gian
0 100 200 300 400 500 600
f) Hạt có kích thước 30µm Hình 3.3: Xác định quá trình lắng của một hạt
3.4.2 Khảo sát quá trình lắng của tập hợp hạt đơn phân tán
3.4.2.1 Thực nghiệm và kết quả
Chúng tôi tiến hành khảo sát tốc độ lắng (U′) của một tập hợp hạt rắn
đơn phân tán có tỷ trọng trung bình ρ = 2069 kg/m3 trong môi trường
lỏng là dầu gốc có độ nhớt 0,0043 Pa.s (tương ứng với 5 cSt) và tỷ trọng
ρf = 867 kg/m3 theo những mật độ hạt (ω) khác nhau Việc thay đổi mật
độ hạt được thực hiện bằng cách thay đổi phần trăm khối lượng hạt rắn
trong hệ gồm dầu gốc và tập hợp hạt rắn Kết quả thực nghiệm được
trình bày trong các bảng 3.5
Tốc độ lý thuyết vẫn được tính theo phương trình lắng Stokes nhưng
thay thế ρf bằng tỷ trọng trung bình ρ, độ nhớt µ bằng độ nhớt hiệu
Uf
1
LT f
p 2 LT
p f
−+ερ
=
ρ
( ) g( )
fU
UK
Trong đó: ε: tỷ lệ thể tích bị chiếm bởi chất lỏng (0 < ε < 1)
ULT: là tốc độ lắng lý thuyết tính theo phương trình Stokes Theo lý thuyết của Richardson và Zaki (1954): f(ε) = ε2,65
Trang 38( ) ( )
( )3 , 65 f
p 2 LT 65
, 3 LT
LT
18
gd
U1
ω: mật độ hạt (ω = 1 – ε)
Giá trị KLT được tính theo phương trình Richardson và Zaki, KTT là tỷ
số giữa tốc độ lắng thực tế và tốc độ lắng lý thuyết tương ứng với từng
kích thước và mật độ hạt khác nhau
Các kết quả tính toán được trình bày trong bảng 3.6 và 3.7
Bảng 3.5: Tốc độ lắng thực tế của tập hợp hạt đơn phân tán
ở độ nhớt 5 cSt
Kích thước hạt (µm)
5 10 15 20 25 30 Tốc độ lý thuyết U LT (mm/s) 0,0038 0,0152 0,0343 0,0609 0,0952 0,1371
% Khối lượng Mật độ hạt (ω) Tốc độ thực tế U′ (mm/s)
0,1 0,042% 0,0016 0,0087 0,0249 0,0471 0,0761 0,1081
0,5 0,210% 0,0016 0,0086 0,0235 0,0444 0,0730 0,1026
1 0,421% 0,0016 0,0085 0,0228 0,0435 0,0714 0,1000
1,5 0,634% 0,0016 0,0078 0,0222 0,0430 0,0694 0,0980
Bảng 3.6: Tốc độ lắng lý thuyết của tập hợp hạt đơn phân tán
ở độ nhớt 5 cSt
Kích thước hạt (µm)
5 10 15 20 25 30 Tốc độ lý thuyết U LT (mm/s) 0,0038 0,0152 0,0343 0,0609 0,0952 0,1371
% Khối lượng Mật độ hạt (ω) Tốc độ lý thuyết U′ (mm/s) LT
0,1 0,042% 0,0038 0,0152 0,0342 0,0608 0,0951 0,1369
0,5 0,210% 0,0038 0,0151 0,0340 0,0604 0,0945 0,1361
1 0,421% 0,0037 0,0150 0,0338 0,0600 0,0937 0,1350
1,5 0,634% 0,0037 0,0149 0,0335 0,0595 0,0930 0,1340
Trang 39Bảng 3.7: Tỷ số giữa tốc độ lắng thực tế và tốc độ lắng lý thuyết
của tập hợp hạt đơn phân tán ở độ nhớt 5 cSt
Kích thước hạt (µm)
5 10 15 20 25 30 Mật độ hạt (ω) Tỷ số K LT = ( 1 – ω ) 3,65
3.4.2.2 Xử lý số liệu bằng quy hoạch thực nghiệm
Theo số liệu bảng 3.7, KTT và KLT sai lệch nhau rất lớn, như vậy ngoài
yếu tố mật độ hạt thì còn có nhiều yếu tố khác cùng ảnh hưởng đến K
Trên cơ sở đó chúng tôi đặt hàm số K tổng quát như sau:
2
1 2
1 2
1
dd
1Cd
ddCU
−
=ϕϕ
=
′
=
δ γ
β α δ
γ β α
Trong đó: C, α, β, γ, δ: hằng số và số mũ có giá trị không đổi
ε: tỷ lệ thể tích bị chiếm bởi chất lỏng (0 < ε < 1)
ω: mật độ hạt (ω = 1 – ε) d: đường kính tương đương
σ: sức căng bề mặt của pha lỏng trên bề mặt hạt rắn
Thông số này xét đến ảnh hưởng của lực tương tác giữa pha lỏng và bề mặt hạt rắn
d1, d2: kích thước theo 2 trục Ox, Oy (kích thước dài nhất và ngắn nhất) Thông số này xét đến ảnh hưởng của hình dạng hạt không phải là hình cầu Đối với hạt cầu, tỷ số này bằng 1
ϕ1: hệ số ảnh hưởng của độ nhám bề mặt hạt rắn
ϕ2: hệ số ảnh hưởng của độ đồng nhất bên trong pha rắn của hạt rắn
Trang 40Trong điều kiện giới hạn của nghiên cứu này, chúng tôi khảo sát trên
những hệ gồm các hạt có tính chất giống nhau (d1, d2, ϕ1, ϕ2 là hằng
số), cùng một loại hạt và một loại lưu chất (σ là hằng số), vùng khảo
sát quá trình lắng là vùng chảy tầng nên có thể bỏ qua sự ảnh hưởng
của tỷ số d1/d2 và d mang ý nghĩa của đường kính tương đương Vì thế
hàm số K được đơn giản như sau:
LT
(C′: hằng số tỷ lệ) (3.1)
Lấy logarit 2 vế của phương trình (3.1) thu được:
lnK = lnC′ + αln(1 – ω) + βlnd (3.2) Mức và khoảng biến thiên của các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ số K được
trình bày trên bảng 3.8:
Bảng 3.8: Mức biến thiên của các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ số K
Các mức tự nhiên và mã hóa tương ứng Các yếu tố Ký hiệu mã hóa
Mức trên, +1 Mức cơ sở, 0 Mức dưới, –1
Tỷ lệ thể tích ε = 1 – ω X 1 0,99790 0,99579 0,99366
ln2X
min max
−
ω
−
−ω
−
dlnd
ln
dlndln2X
min max