TÓM TẮT Nghiên cứu này nhằm tìm ra các yếu tố cơ bản tác động lên sự chấp nhận của học viên đối với các hệ thống e-learning, và đồng thời chỉ ra được mức độ tác động của từng yếu tố đó..
Trang 1Đại Học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
-
PHAN VĂN TUẤN
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ CHẤP NHẬN CỦA HỌC VIÊN ĐỐI VỚI CÁC HỆ THỐNG DẠY – HỌC TRỰC
TUYẾN (E-LEARNING)
Chuyên ngành : Quản trị Kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 01 năm 2011
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này tôi nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp
đỡ từ phía thầy cô, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè
Lời đầu tiên tôi xin chân thành cám ơn TS TRƯƠNG THỊ LAN ANH, người
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện Luận văn tốt nghiệp này
Xin chân thành cám ơn quý Thầy, Cô Khoa Quản Lý Công Nghiệp Trường
ĐH Bách Khoa TPHCM đã tận tình giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức quí báu cho bản thân tôi nói riêng và cho khoá Cao Học Quản trị Kinh doanh nói chung Cảm ơn các thành viên trong gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian hoàn thành chương trình học vừa qua
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2010
PHAN VĂN TUẤN
Trang 3Telecommunications Institute of Technology
The study was done by quantitative method Data was collected by means of direct interviews or via email to students will be processed and analyzed, including steps: assessing scales by EFA analysis method, Cronbach Alpha parameter analysis, regression analysis, and analysis of variance The factors included in this
study are: elements of subject itself (Content Quality), elements of learners themselves (Perceived Usefulness, Perceived Ease of Use, Goal Orientation,
Computer Skills, and Family Conditions), and elements of culture and society
(Perceived Network Externality, Relationship between Students and Teachers,
Culture of Study, Subjective Norm, and Network Infrastructure)
In general, the study showed seven factors explained 49% of the acceptance
of practitioners for e-learning systems These factors include: Perceived Network
Externality, Perceived Ease of Use, Perceived Usefulness, Subjective Norm, Content Quality, Relationship between Students and Teachers, and Culture of Study Based on the obtained result, the study also made some recommendations for
managers to increase effectiveness of e-learning systems
Trang 4TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm tìm ra các yếu tố cơ bản tác động lên sự chấp nhận của học viên đối với các hệ thống e-learning, và đồng thời chỉ ra được mức độ tác động của từng yếu tố đó Để đạt được điều này thì một cuộc khảo sát 221 học viên được thực hiện ở hai trường đại học tại Tp HCM, đó là trường đại học Bách khoa và trường Học viện Bưu chính Viễn thông
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp định lượng Dữ liệu thu thập được thông qua hình thức phỏng vấn trực tiếp hoặc thông qua email đối với các học viên sẽ được xử lý và phân tích, bao gồm các bước đánh giá thang đo bằng phương pháp phân tích EFA, phân tích hệ số Cronbach Alpha, phân tích hồi qui, và phân tích khác biệt Các yếu tố được đưa vào nghiên cứu bao gồm: các yếu tố thuộc về
bản thân môn học (chất lượng nội dung môn học), các yếu tố thuộc về bản thân người học (nhận thức được sự hữu ích, nhân thức được tính dễ sử dụng, định hướng
mục tiêu, kỹ năng máy tính, điều kiện gia đình), các yếu tố thuộc về văn hóa xã hội
(cảm nhận ngoại mạng, mối liên hệ giữa học viên và giáo viên, văn hóa học tập,
chuẩn chủ quan, cơ sở hạ tầng mạng)
Nhìn chung, nghiên cứu đã chỉ ra được 7 yếu tố giải thích được 49% sự chấp
nhận học qua e-learning của học viên Những yếu tố này bao gồm: cảm nhận ngoại
mạng, nhận thức được tính dễ sử dụng, nhận thức được sự hữu ích, chuẩn chủ quan, chất lượng nội dung môn học, mối liên hệ giữa học viên và giáo viên, và văn hóa học tập Dựa trên những kết quả đạt được, nghiên cứu cũng đã đưa ra những đề
xuất cho nhà quản lý, những người làm công tác giáo dục những biện pháp nhằm phát huy hết hiệu quả của các hệ thống e-learning
Trang 5MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Thực trạng e-learning ở Việt Nam và trên thế giới 1
1.2 Lý do hình thành đề tài 3
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.5 Ý nghĩa thực tiễn 5
1.6 Kết cấu của báo cáo nghiên cứu 6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
2.1 Định nghĩa về hệ thống dạy – học trực tuyến (e-learning) 7
2.1.1 Định nghĩa 7
2.2 Một số mô hình lý thuyết tham khảo 8
2.2.1 Lý thuyết mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model - TAM) 8 2.2.2 Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) 10
2.2.3 Lý thuyết hành vi có hoạch định (Theory of Planned Behavior - TPB) 11
2.3 Một số nghiên cứu đã thực hiện về e-learning 12
2.3.1 Nghiên cứu “An empirical investigation into factors influencing the adoption of an e-learning system” của Ya-Ching Lee (2006) 12
2.3.1.1 Mô hình nghiên cứu 12
2.3.1.2 Kết quả nghiên cứu 14
2.3.2 Nghiên cứu “A Factors Influencing the Adoption of E-learning at UOB” của Jaflah Al-ammari và Sharifa Hamad (2008) 15
2.3.2.1 Mô hình nghiên cứu 15
2.3.2.2 Kết quả nghiên cứu 17
2.4 Mô hình nghiên cứu đề nghị và các giả thuyết thống kê 19
2.4.1 Mô hình nghiên cứu đề nghị 19
2.4.1.1 Mô hình nghiên cứu 19
Trang 62.4.1.2 Các khái niệm trong mô hình nghiên cứu 20
2.4.2 Phát biểu các giả thuyết thống kê 22
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Phương pháp nghiên cứu 23
3.2 Qui trình nghiên cứu 23
3.3 Nghiên cứu sơ bộ 25
3.3.1 Mục đích 25
3.3.2 Cách thực hiện 26
3.3.3 Kết quả 26
3.3.3.1 Kết quả giai đoạn thảo luận tay đôi 26
3.3.3.2 Kết quả đánh giá sơ bộ mô hình nghiên cứu 27
3.3.3.3 Kết quả đánh giá thang đo cho từng khái niệm 28
3.3.3.4 Thang đo hiệu chỉnh 35
3.4 Nghiên cứu chính thức 38
3.4.1 Thiết kế mẫu 38
3.4.2 Phương pháp phân tích dữ liệu 39
3.4.2.1 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 39
3.4.2.2 Phân tích nhân tố khám phá 39
3.4.2.3 Phân tích hồi qui đa biến 40
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
4.1 Thống kê mô tả 41
4.2 Đánh giá độ tin cậy cho toàn bộ biến quan sát bằng hệ số Cronbach Alpha 42
4.3 Phân tích nhân tố khám phá 42
4.4 Kiểm định độ tin cậy cho từng thang đo bằng hệ số Cronbach Alpha 45
4.5 Hiệu chỉnh mô hình và các giả thuyết 48
4.6 Phân tích tương quan và hồi qui 49
4.6.1 Mối tương quan giữa các biến trong mô hình 49
4.6.2 Phân tích hồi qui 51
4.6.2.1 Đánh giá mức độ giải thích của mô hình 51
Trang 74.6.2.2 Kiểm định độ phù hợp của mô hình 52
4.6.2.3 Xem xét sự vi phạm các giả định cần thiết trong phân tích hồi qui 53
4.6.2.4 Tầm quan trọng của các biến trong mô hình 57
4.6.2.5 Kiểm định các giả thuyết thống kê 60
4.6.2.6 Các giả thuyết không được ủng hộ 63
4.6.2.7 Các giả thuyết được ủng hộ 64
4.6.2.8 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm 66
4.7 Phân tích khác biệt 67
4.7.1 Phân tích sự khác biệt đối với các yếu tố tác động lên học viên 67
4.7.1.1 Phân tích sự khác biệt theo nghề nghiệp 67
4.7.1.2 Phân tích sự khác biệt theo ngành học 71
4.7.1.3 Phân tích sự khác biệt theo giới tính 74
4.7.2 Phân tích sự khác biệt đối với mức độ chấp nhận học qua e-learning 78
4.7.2.1 Phân tích sự khác biệt theo nghề nghiệp 78
4.7.2.2 Phân tích sự khác biệt theo nghành học 79
4.7.2.3 Phân tích sự khác biệt theo giới tính 80
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 82
5.1 Kết quả nghiên cứu 82
5.2 Hàm ý quản trị 83
5.2.1 Đối với nhà quản lý 83
5.2.2 Đối với giảng viên 84
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC A: BẢNG CÂU HỎI NGHIÊN CỨU SƠ BỘ 90
PHỤ LỤC B: BẢNG CÂU HỎI NGHIÊN CỨU CHÍNH THỨC 97
PHỤ LỤC C: THÔNG KÊ MÔ TẢ TẬP DỮ LIỆU 102
PHỤ LỤC D: KIỂM ĐỊNH CRONBACH ALPHA VÀ PHÂN TÍCH EFA 104
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG 112
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2-1: Mô hình lý thuyết chấp nhận công nghệ 9
Hình 2-2: Mô hình lý thuyết hành động hợp lý 10
Hình 2-3: Lý thuyết hành vi có hoạch định 11
Hình 2-4: Mô hình nghiên cứu của Ya-Ching Lee 12
Hình 2-5: Kết quả nghiên cứu của Ya-Ching Lee 14
Hình 2-6: Mô hình nghiên cứu của Jaflah Al-ammari và Sharifa Hamad 16
Hình 2-7: Mô hình nghiên cứu đề nghị 20
Hình 3-2: Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh sau giai đoạn nghiên cứu sơ bộ 27
Hình 4-1: Mô hình nghiên cứu được bổ sung yếu tố Điều kiện gia đình 49
Hình 4-2: Đồ thị phân tán giữa phần dư và giá trị dự đoán 54
Hình 4-3: Đồ thị Q-Q khảo sát phân phối của phần dư 56
Hình 4-4: Mô hình nghiên cứu thực nghiệm 67
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2-1: Kết quả nghiên cứu của Jaflah Al-ammari và Sharifa Hamad 18
Bảng 3-1: Bảng tổng kết thang đo cho từng khái niệm 35
Bảng 4-1: Kết quả thống kê mô tả trên tập dữ liệu nghiên cứu 41
Bảng 4-2: Hệ số Cronbach Alpha cho toàn bộ biến quan sát 42
Bảng 4-3: Kết quả phân tích EFA cho các biến quan sát 43
Bảng 4-4: Kết quả kiểm định độ tin cậy cho từng thang đo khái niệm 45
Bảng 4-5: Hệ số tương quan giữa các nhân tố trong mô hình nghiên cứu 50
Bảng 4-6: Hệ số R2 và R2 hiệu chỉnh 52
Bảng 4-7: Kết quả kiểm định F của mô hình nghiên cứu 53
Bảng 4-8: Kết quả kiểm định tương quan hạng Spearman 55
Bảng 4-9: Bảng hệ số Tolerance và VIF 57
Bảng 4-10: Kết quả phân tích hồi qui theo mô hình nghiên cứu 58
Bảng 4-11: Kết quả phân tích hồi qui sau khi loại đi những biến không đạt yêu cầu 59
Bảng 4-12: Bảng tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết 60
Bảng 4-13: Bảng so sánh kết quả đạt được với các nghiên cứu trước 62
Bảng 4-14: Kết quả kiểm định sự bằng nhau của phương sai theo nhóm nghề 68
Bảng 4-15: Kết quả phân tích ANOVA theo nhóm nghề 69
Bảng 4-16: Kết quả kiểm định sự bằng nhau của phương sai theo nhóm ngành học 71
Bảng 4-17: Kết quả phân tích ANOVA theo nhóm ngành học 72
Bảng 4-18: Kết quả kiểm định sự bằng nhau của phương sai theo giới tính 74
Bảng 4-19: Kết quả phân tích ANOVA theo giới tính 75
Bảng 4-20: Giá trị trung bình phân theo giới tính 77
Bảng 4-21: Kết quả kiểm đính sự bằng nhau của phương sai theo nhóm nghề 78
Bảng 4-22: Kết quả phân tích ANOVA theo nhóm nghề 79
Trang 10Bảng 4-23: Kết quả kiểm định sự bằng nhau của phương sai theo nhóm ngành học
79
Bảng 4-24: Kết quả phân tích ANOVA theo nhóm ngành học 80
Bảng 4-25: Kết quả kiểm định sự bằng nhau của phương sai theo giới tính 80
Bảng 4-26: Kết quả phân tích ANOVA 81
Trang 11CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1 Thực trạng e-learning ở Việt Nam và trên thế giới
Trên thế giới, e-learning phát triển không đồng đều tại các khu vực learning phát triển mạnh nhất ở khu vực Bắc Mỹ, ở châu Âu e-learning cũng rất có triển vọng, trong khi đó châu Á lại là khu vực ứng dụng công nghệ này ít hơn Tại Mỹ, dạy và học điện tử đã nhận được sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp của chính phủ ngay từ cuối những năm 90 Theo số liệu thống kê của Hội Phát triển và Đào tạo Mỹ (American Society for Training and Development, ASTD), năm 2000 Mỹ có gần 47% các trường đại học, cao đẳng đã đưa ra các dạng khác nhau của mô hình đào tạo từ xa, tạo nên 54.000 khoá học trực tuyến Theo các chuyên gia phân tích của Công ty Dữ liệu quốc tế (International Data Corporation, IDC), cuối năm 2004 có khoảng 90% các trường đại học, cao đẳng Mỹ đưa ra mô hình e-learning, số người tham gia học tăng 33% hàng năm trong khoảng thời gian
E-1999 - 2004 E-learning không chỉ được triển khai ở các trường đại học mà ngay ở các công ty việc xây dựng và triển khai cũng diễn ra rất mạnh mẽ Có rất nhiều công
ty thực hiện việc triển khai e-learning thay cho phương thức đào tạo truyền thống và
đã mang lại hiệu quả cao Do thị trường rộng lớn và sức thu hút mạnh mẽ của learning nên hàng loạt các công ty đã chuyển sang hướng chuyên nghiên cứu và xây dựng các giải pháp về e-learning như: Click2Learn, Global Learning Systems, Smart Force
e-Trong những gần đây, châu Âu đã có một thái độ tích cực đối với việc phát triển công nghệ thông tin cũng như ứng dụng nó trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc biệt là ứng dụng trong hệ thống giáo dục Các nước trong Cộng đồng châu Âu đều nhận thức được tiềm năng to lớn mà công nghệ thông tin mang lại trong việc
mở rộng phạm vi, làm phong phú thêm nội dung và nâng cao chất lượng của nền giáo dục
Tại châu Á, e-learning vẫn đang ở trong tình trạng sơ khai, chưa có nhiều thành công vì một số lý do như: các quy tắc, luật lệ bảo thủ, tệ quan liêu, sự ưa
Trang 12chuộng đào tạo truyền thống của văn hóa châu Á, vấn đề ngôn ngữ không đồng nhất, cơ sở hạ tầng nghèo nàn và nền kinh tế lạc hậu ở một số quốc gia châu Á Tuy vậy, đó chỉ là những rào cản tạm thời do nhu cầu đào tạo ở châu lục này cũng đang trở nên ngày càng không thể đáp ứng được bởi các cơ sở giáo dục truyền thống buộc các quốc gia châu Á đang dần dần phải thừa nhận tiềm năng không thể chối cãi mà e-learning mang lại Một số quốc gia, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển hơn tại châu Á cũng đang có những nỗ lực phát triển e-learning tại đất nước mình như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,Trung Quốc, Nhật Bản là nước có ứng dụng e-learning nhiều nhất so với các nước khác trong khu vực Môi trường ứng dụng e-learning chủ yếu là trong các công ty lớn, các hãng sản xuất, các doanh nghiệp
Ở Việt Nam, vào khoảng năm 2002 trở về trước, các tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về e-learning không nhiều Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu e-learning ở Việt Nam đã được nhiều đơn vị quan tâm hơn Gần đây các hội nghị, hội thảo về công nghệ thông tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề e-learning
và khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như: Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) năm 2000, Hội nghị giáo dục đại học năm 2001 và gần đây là Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 2/2003, Hội thảo khoa học quốc gia lần II về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 9/2004, và hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai e-learning” do Viện Công nghệ Thông tin (ĐHQGHN) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về e-learning đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam Các trường đại học ở Việt Nam cũng bước đầu nghiên cứu và triển khai e-learning Một số đơn vị đã bước đầu triển khai các phần mềm hỗ trợ đào tạo và cho các kết quả khả quan: Đại học Công nghệ - ĐHQGHN, Viện CNTT - ĐHQGHN, Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia TP HCM, Học viện Bưu chính Viễn thông, Gần đây nhất, Trung tâm Tin học Bộ Giáo dục & Đào tạo đã triển khai
Trang 13cổng e-learning nhằm cung cấp một cách có hệ thống các thông tin e-learning trên thế giới và ở Việt Nam Bên cạnh đó, một số công ty phần mềm ở Việt Nam đã tung
ra thị trường một số sản phẩm hỗ trợ đào tạo Tuy các sản phẩm này chưa phải là sản phẩm lớn, được đóng gói hoàn chỉnh nhưng đã bước đầu góp phần thúc đẩy sự phát triển e-learning ở Việt Nam
Việt Nam đã gia nhập mạng e-learning châu á (Asia E-learning Network - AEN, www.asia-elearning.net) với sự tham gia của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Khoa học - Công nghệ, trường Đại học Bách Khoa, Bộ Bưu chính Viễn Thông Điều này cho thấy tình hình nghiên cứu và ứng dụng loại hình đào tạo này đang được quan tâm ở Việt Nam Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực e-learning ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu còn nhiều việc phải làm mới tiến kịp các nước
(Đôi nét về E-learning, www.phutho.edu.vn, 2008)
1.2 Lý do hình thành đề tài
“Công nghệ thông tin cũng sẽ làm thay đổi rất lớn việc học của chúng ta Những người công nhân sẽ có khả năng cập nhật các kỹ thuật trong lĩnh vực của mình Mọi người ở bất cứ nơi đâu sẽ có khả năng tham gia các khóa học tốt nhất được dạy bởi các giáo viên giỏi nhất.” (The Road Ahead, Bill Gates) Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn kinh tế tri thức Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục, đào tạo sẽ là nhân tố sống còn quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, công ty, gia đình và cá nhân Hơn nữa, việc học tập không chỉ bó gọn trong việc học phổ thông, học đại học mà là học suốt đời E-learning chính là một giải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề này
Lợi ích rõ ràng mà e-learning mang lại là tính linh hoạt và tiết kiệm do không phải tiêu tốn tiền của và thời gian đi lại Ngoài ra chúng ta còn có thể thấy được một số lợi ích khác như là:
Giảm được chi phí xây dựng khóa học, thực hiện đào tạo
Trang 14 Học viên có môi trường và điều kiện học cho riêng mình, không bị phụ thuộc vào khóa học hay học viên khác
Không phụ thuộc vào thời gian và địa điểm
Cập nhật dễ dàng và nhanh chóng, ít tốn kém, khả năng nhân bản cao
Có khả năng tổ chức khóa học cho số lượng học viên lớn Theo thống kê của đại học Unisys (Mỹ) năm 2001 thì lợi ích của e-learning được thể hiện bằng những con số là:
Tiết kiệm chi phí đào tạo 25% - 45%
Rút ngắn thời gian đào tạo 35% - 45%
Tăng hiệu quả việc học 15% - 25%
Quan sát một số nước phát triển thì learning đã trở nên rất phổ biến, learning đã được triển khai không chỉ ở các trường đại học mà còn ở các doanh nghiệp hay tập đoàn đa quốc gia Bản thân tác giả đang công tác trong một doanh nghiệp có triển khai hệ thống e-learning và nhận thấy rất hài lòng với hệ thống e-learning này Để đạt được sự hài lòng như thế thì đã có rất nhiều nghiên cứu về e-learning đã được thực hiện trên thế giới để cải tiến và nâng cao chất lượng phục vụ Một số nghiên cứu gần đây đã được thực hiên là Ya-Ching Lee (2006), Nelson Oly Ndubisi (2006), Jaflah Ammari và Sharifa Hamad (2008)
e-Việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy đang được chú trọng ở Việt Nam, e- learning là một trong số đó Tuy nhiên xem xét hiệu quả
mà các hệ thống e-learning mang lại ở Việt Nam nói chung và Tp.HCM nói riêng, tác giả nhận thấy rằng các hệ thống e-learning dường như chưa phát huy hết những
ưu điểm của nó như là chi phí thấp, thời gian học linh động, và quan trọng hơn là chưa thực sự thu hút được nhiều các bạn sinh viên, học sinh tham gia Vì vậy với đề
tài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận của học viên đối với
Trang 15các hệ thống dạy – học trực tuyến (e-learning)” thì tác giả hy vọng sẽ tìm ra được
những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến việc chấp nhận và sử dụng các hệ thống learning của học viên Từ đó, tác giả có thể đưa ra những hàm ý cho nhà quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống e-learning ở Tp.HCM nói riêng và Việt Nam nói chung
e-1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Nhận dạng được các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến việc chấp nhận học thông qua các hệ e-learning của các học viên
- Đánh giá được mức độ tác động của các yếu tố đối với việc chấp nhận học thông qua các hệ thống e-learning của các học viên
- Đưa ra được những kiến nghị\giải pháp cho nhà quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống e-learning
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng khảo sát là sinh viên các trường đại học đã ứng dụng các hệ thống dạy - học trực tuyến (e-learning)
- Phạm vi nghiên cứu được thực hiện ở thành phố Hồ Chí Minh cụ thể là nghiên cứu được thực hiện ở hai trường đại học, đó là Đại học Bách khoa
và Học viện Bưu chính Viễn thông
1.5 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu khảo sát thực trạng của việc triển khai e-learning ở Việt Nam, trong đó nhấn mạnh đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận sử dụng các hệ thống này của học viên Kết quả của nghiên cứu sẽ phản ảnh thái độ chấp nhận của học viên đối với các hệ thống e-learning đã được triển khai Nghiên cứu cũng sẽ chỉ
ra các yếu tố tác động đến việc chấp nhận học thông qua các hệ thống e-learning của học viên
Trang 16Nghiên cứu này cũng sẽ là tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý, tổ chức đào tạo trong việc xây dựng và triển khai hệ thống e-learning sao cho đạt hiệu quả cao Nó cũng giúp cho các giảng viên hay nhà quản lý có những thay đổi nhất định
để nâng cao chất lượng, cũng như nội dung môn học trên các hệ e-learning để nhằm thu hút thêm ngày càng nhiều học viên
1.6 Kết cấu của báo cáo nghiên cứu
Báo cáo nghiên cứu này được chia làm 5 chương Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết, định nghĩa các khái niệm, xây dựng mô hình nghiên cứu, và phát biểu các giả thuyết nghiên cứu Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu và phân tích dữ liệu Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu và diễn dịch Chương 5 tóm tắt lại những kết quả chính của nghiên cứu, nêu lên những hàm ý cho nhà quản trị, và đồng thời chỉ ra được những đóng góp cũng như hạn chế của nghiên cứu
Trang 17CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu và chỉ ra sự cần thiết phải thực hiện nghiên cứu này trong bối cảnh kinh tế xã hội Việt Nam hiện nay Phần kế tiếp của đề tài, Chương 2 sẽ giới thiệu những lý thuyết cơ bản đặt nền tảng cho nghiên cứu và từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu đề nghị Nội dung cơ bản của chương 2 sẽ bao gồm hai phần chính: (1) Cơ sở lý thuyết, (2) Mô hình nghiên cứu
2.1 Định nghĩa về hệ thống dạy – học trực tuyến (e-learning)
- E-learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên
công nghệ thông tin và truyền thông (Compare Infobase Inc)
- E-learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải
hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền
thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục (MASIE Center)
- Việc học tập được truyền tải hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử Việc
truyền tải qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, TV, video tape, các
hệ thống giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính ( CBT)
( Sun Microsystems, Inc )
- Việc truyền tải các hoạt động, quá trình, và sự kiện đào tạo và học tập
thông qua các phương tiện điện tử như Internet, Intranet, Extranet,
CD-ROM, video tape, DVD, TV, các thiết bị cá nhân ( e-learningsite)
Trang 18- Việc sử dụng công nghệ để tạo ra, đưa các dữ liệu có giá trị, thông tin,
học tập và kiến thức với mục đích nâng cao hoạt động của tổ chức và
phát triển khả năng cá nhân (Định nghĩa của Lance Dublin, hướng tới
e-learning trong doanh nghiệp)
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng nói chung e-learning đều có những điểm chung sau:
- Dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông Cụ thể hơn là công nghệ mạng, kĩ thuật đồ họa, kĩ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán…
- Hiệu quả của e-learning cao hơn so với cách học truyền thống do e-learning
có tính tương tác cao dựa trên multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người
- E-learning sẽ trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức Hiện nay, learning đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nước trên thế giới với rất nhiều tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực e-learning ra đời
e-Trong phạm vi nghiên cứu này thì hệ thống e-learning được định nghĩa như
là sự kết hợp của công nghệ thông tin và truyền thông, bao gồm việc ứng dụng công nghệ Web và Internet để phục vụ cho việc dạy và học Người học có thể tham gia học trực tuyến, chia sẻ tài liệu hay thực hiện các bài kiểm tra trực tuyến
2.2 Một số mô hình lý thuyết tham khảo
2.2.1 Lý thuyết mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model - TAM)
Có nhiều mô hình đã được xây dựng và phát triển để nghiên cứu tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận một công nghệ mới trong các tổ chức, doanh nghiệp Trong số các lý thuyết đó có lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA), lý thuyết hành vi có hoạch định (Theory of Planned Behavior – TPB), lý thuyết mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance
Trang 19Model – TAM), và lý thuyết hợp nhất về công nghệ (Unified Theory of Acceptance and Use of Technology – UTAUT) Tuy nhiên trong số này TAM là lý thuyết được
sử dụng nhiều nhất trong những nghiên cứu về lĩnh vực công nghệ
Lý thuyết TAM được phát triển bởi Fred Davis và Richard Bagozzi (Bagozzi, 1992; Davis, 1989) Lý thuyết này nói rằng khi một người tiếp xúc với một công nghệ mới thì sẽ có một số yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận và tiến tới
Trong mô hình này thì Nhận thức được tính dễ sử dụng (Perceived Ease of
Use): là mức độ mà một người nào đó tin rằng việc sử dụng một công nghệ/hệ thống nào là rất dễ dàng, không tốn nhiều nỗ lực
Nhận thức về sự hữu ích (Perceived Usfulness): là mức độ mà một người tin
rằng việc sử dụng một công nghệ/hệ thống nào đó sẽ làm tăng năng suất/hiệu quả trong công việc của mình
Lý thuyết TAM là một trong những lý thuyết được sử dụng nhiều nhất để nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ, hệ thống thông tin Trong lĩnh vực e-learning,
Trang 20TAM cũng đóng vai trò rất quan trọng, điển hình là những nghiên cứu như là
“Factors Influencing the Adoption of E-learning at UOB” của Jaflah Al-ammari và Sharifa Hamad, hay nghiên cứu “An empirical investigation into factors influencing
the adoption of an e-learning system” của Ya-Ching Lee.
2.2.2 Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA)
Lý thuyết này được phát triển bởi Martin Fishein và Icek Ajzen (1967) Lý thuyết này bắt nguồn từ một số nghiên cứu trước đó, bắt đầu là lý thuyết nghiên cứu
về thái độ, tiếp đến là nghiên cứu về thái độ kết hợp với hành vi Theo lý thuyết này thì có hai nhóm yếu tố chính đóng vai trò quyết định đến ý định hành vi và tiếp đến
là thực hiện hành vi đó
Hình 2-2: Mô hình lý thuyết hành động hợp lý Trong mô hình TRA, thái độ được đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm Người tiêu dùng sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại các ích lợi cần thiết và có mức độ quan trọng khác nhau Nếu biết trọng số của các thuộc tính đó thì có thể dự đoán gần đúng kết quả lựa chọn của người tiêu dùng
Yếu tố chuẩn chủ quan có thể được đo lường thông qua những người có liên quan đến người tiêu dùng (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,…); những người này thích hay không thích họ mua\sử dụng một sản phẩm nào đó Mức độ tác động của yếu tố chuẩn chủ quan đến xu hướng mua\sử dụng của người tiêu dùng phụ thuộc:
Trang 21(1) mức độ ủng hộ/phản đối đối với việc mua\sử dụng của người tiêu dùng và (2) động cơ của người tiêu dùng làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng Xem xét trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam, tác giả nhận thấy người học còn chịu nhiều ảnh hưởng hay thúc giục từ các bậc phụ huynh Vì vậy yếu tố chuẩn chủ quan đóng vai trò khá lớn đến hành vi của người học viên Trên cơ sở đó tác giả
để nghị cần xem xét yếu tố chuẩn chủ quan trong nghiên cứu sự chập nhận học thông qua các hệ thống e-learning ở Việt Nam của học viên
2.2.3 Lý thuyết hành vi có hoạch định (Theory of Planned Behavior - TPB)
Lý thuyết này được đề nghị bởi Icek Ajzen vào năm 1985 Đây được xem như là một sự mở rộng của lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action), nó thể hiện mối liên hệ giữa thái độ và hành vi Lý thuyết này là một trong những lý thuyết có sức thuyết phục nhất về dự báo, dự đoán Nó đã được ứng dụng
để nghiên cứu về mối quan hệ giữa niềm tin, thái độ, ý định hành vi, và những hành
vi trong nhiều lĩnh vực quảng cáo, tiếp thị, cộng đồng
Hình 2-3: Lý thuyết hành vi có hoạch định
Lý thuyết TPB chỉ ra rằng hai yếu tố thái độ hướng tới hành vi và chuẩn chủ quan có ảnh hưởng lẫn nhau Ngoài ra lý thuyết này còn bổ sung thêm một yếu tố nữa đó là nhận thức kiểm soát hành vi Yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi xem xét
Trang 22cảm nhận của cá nhân về việc thực hiện một hành vi nào đó là dễ dàng hay khó khăn
Lý thuyết TPB là một trong những lý thuyết được sử dụng phổ biến nhất để nghiên cứu thái độ và hành vi của người tiêu dùng đối với một sản phẩm nào đó Và
nó cũng được sử dụng nhiều trong những nghiên cứu về các hệ thống dạy – học trực
tuyến (e-learning) Điển hình là các nghiên cứu “Examining employees' acceptance
of e-learning: an application of the theory of planned behavior” của Spiros A
Borotis và Angeliki K Poulymenakou, hay là nghiên cứu “Theory of planned
behaviour: Higher education students' attitudes towards ICT-based learning interactions” của Lou Siragusa và Kathryn C Dixon
2.3 Một số nghiên cứu đã thực hiện về e-learning
2.3.1 Nghiên cứu “An empirical investigation into factors influencing the adoption of an e-learning system” của Ya-Ching Lee (2006)
2.3.1.1 Mô hình nghiên cứu
Hình 2-4: Mô hình nghiên cứu của Ya-Ching Lee
Trang 23- Chất lượng nội dung (Content Quality): Ya-Ching Lee xem xét chất lượng nội dung theo hai chiều, đó là độ giàu nội dung (content richness)
và mức độ cập nhật thường xuyên (update regularity) Theo Ya-Ching Lee thì độ giàu nội dung và mức độ cập nhật thường xuyên đều có ảnh hưởng tích cực đến mức độ thỏa mãn của người học đối với một môn học
và do đó nó có ảnh hưởng tích cực đến ý định học qua e-learning
- Thuộc tính môn học (Course Attributes): Cũng giống như thuộc tính của sản phẩm, thuộc tính/tính chất của môn học cũng có ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn phương thức học, số lượng người tham gia, và nhận thức của học viên về tầm quan trọng của môn học
- Ý định thực hiện hành vi (Behavioral Intention): Đây là yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc chấp nhận một hệ thống e-learning Nó thể hiện thái độ yêu thích của người học đối với các hệ thống e-learning, người học thờ ơ với e-learning hay là thích thú và mong muốn được sử dụng e-learning
- Ý định thực hiện hành vi đối lập (Competing behavioral intentions): Yếu
tố này xem xét sự chọn lựa của học viên đối với các cách dạy – học khác (học trên lớp, học qua CD-ROM,…) Vì vậy yếu tố này có ảnh hưởng tiêu cực đến việc chấp nhận hệ thống e-learning
- Nhận thức được sự hữu ích (Perceived usefulness)
- Nhận thức được tính dễ sử dụng (Perceived ease of use)
- Khả năng tự sử dụng máy tính (Computer self-efficacy): Yếu tố này đề cập đến kỹ năng sử dụng máy tính của học viên, xem xét học viên có thể
tự sử dụng máy tính mà không cần đến sự giúp đỡ của người khác hay không
- Chuẩn chủ quan (Subjective norms): Đo lường mức độ ảnh hưởng của những người liên hệ chặt với học viên (phụ huynh, giáo viên, bạn bè)
- Cảm nhận ngoại mạng (Perceived network externality): Yếu tố này cho rằng giá trị của một sản phẩm hay dịch vụ có thể được tăng thêm nhờ sự tham gia/chấp nhận của những người khác
Trang 242.3.1.2 Kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu đã phát triển và mở rộng dựa trên mô hình chấp nhận công nghệ
(TAM) để đưa ra được một mô hình nghiên cứu đầy đủ từ nhận thức đến thái độ, và cuối cùng là hành vi chấp nhận học thông qua hệ thống e-learning Nghiên cứu cũng
đã chỉ ra được vai trò cũng như mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến hành vi chấp nhận học qua e-learning Hình 2-5 tóm tắt kết quả mà Ya-Chang-Lee đã đạt được
Hình 2-5: Kết quả nghiên cứu của Ya-Ching Lee
Trang 25Mặc dù nghiên cứu đã chỉ râ được nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận của học viên đối với các hệ thống e-learning, tuy nhiên nghiên cứu này vẫn còn một
số điểm hạn chế như sau:
- Chưa nghiên cứu sự tác động của những thay đổi trong nhận thức đối với việc chấp nhận một công nghệ mới
- Nghiên cứu được thực hiện chỉ dựa trên những bản tự báo cáo mức độ hữu dụng Do đó, chúng ta nên nhận thức được sự hiện diện tiềm năng của các vấn đề ảnh hưởng đến tự báo cáo đối với những đo lường hữu dụng mục tiêu
- Mặc dù nghiên cứu đã bổ sung và mở rộng lý thuyết TAM cho những nghiên cứu về hệ thống e-learning nhưng nó chưa được kiểm nghiệm một cách chặt chẽ theo thời gian Vì vậy, cần có những nghiên cứu thực nghiệm để kiểm chứng và khẳng định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trong mô hình
2.3.2 Nghiên cứu “A Factors Influencing the Adoption of E-learning at UOB” của Jaflah Al-ammari và Sharifa Hamad (2008)
2.3.2.1 Mô hình nghiên cứu
Trang 26Hình 2-6: Mô hình nghiên cứu của Jaflah Al-ammari và Sharifa Hamad
- Ý định thực hiện hành vi (Behavioral Intention): Yếu tố này thể hiện thái
độ yêu thích của người học đối với các hệ thống e-learning, người học thờ ơ với e-learning hay là thích thú và mong muốn được sử dụng e-learning
- Chất lượng nội dung (Content Quality): Đo lường chất lượng nội dung môn học, quan tâm đến độ chính xác, xác thực, khả năng truy cập, thiết
kế, và tính hợp lý của nội dung môn học Ngoài ra nội dung môn học còn cần phải được cập nhật thường xuyên để học viên cảm thấy thông tin luôn được cập nhật
- Kỹ năng sử dụng máy tính (Computer self-efficacy): Yếu tố này đề cập đến kỹ năng sử dụng máy tính của học viên, xem xét học viên có thể tự
sử dụng máy tính mà không cần đến sự giúp đỡ của người khác hay không
- Nhận thức được sự hữu ích (Perceived Usfulness): là nhận biết được những lợi ích của hệ thống e-learning đang sử dụng
Trang 27- Nhận thức được tính dễ sử dụng (Perceived Ease of Use)
- Định hướng mục tiêu (Long-term vs short-term orientation): Sự khác biệt về mục tiêu dài hạn hay ngắn hạn cũng có ảnh đến ý định chấp nhận các hệ thống e-learning Những sinh viên có mục tiêu dài hạn thì họ không quan tâm nhiều đến những kết quả\phản hồi hiện tại, ngược lại những sinh viên theo đuổi mục tiêu ngắn hạn thì họ lại muốn thấy ngay kết quả học tập của mình
- Chuẩn chủ quan (Subjective Norms): Đo lường mức độ ảnh hưởng của những người liên hệ chặt với học viên (phụ huynh, giáo viên, bạn bè)
- Tính cộng đồng (Individualism vs Collectivism): Nhằm đánh giá xem mức độ ưu tiên của học viên cho thành công của cá nhân so với lợi ích tập thể
- Khoảng cách về quyền lực (Power Distance): Quan tâm đến sự bất bình đẳng giữa giáo viên và học viên, cụ thể là mối quan hệ giữa học viên và giáo viên, với hệ thống e-learning thì làm thế nào để học viên có thể liên
hệ với giáo viên trong khi giáo viên rất ít khi xuất hiện
- Tránh sự không chắc chắn (Uncertainty Avoidance): Yếu tố này quan tâm đến hành vi của học viên đối với việc vạch ra cấu trúc chương trình học của mình Sinh viên ở một số quốc gia luôn muốn chắc chắn về những gì
sẽ xẩy kế tiếp trong việc học hành của họ, nhưng một số khác thì lại không quan trọng vấn đề này, họ chấp nhận một mục tiêu nới lỏng hơn
- Nam tính và nữ tính (Masculinity vs femininity): Xem xét mức độ yêu thích sử dụng e-learning của những người nam tính và nữ tính
2.3.2.2 Kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu này đã bổ sung thêm các yếu tố thuộc về văn hóa - xã hội và chỉ
ra rằng các yếu tố này cũng có ảnh hưởng đáng kể đến sự chấp nhận học thông qua
hệ thống e-learning Bảng 2-1 tóm tắt một số kết quả mà Jaflash và Sharifa đã đạt được
Trang 28Bảng 2-1: Kết quả nghiên cứu của Jaflah Al-ammari và Sharifa Hamad
Giả
Sig P-Level
H1
Tính dễ sử dụng có ảnh hưởng tích cực đến nhận thức
sự hữu ích của việc sử dụng hệ thống e-learning ở
H2
Nhận thức được sự hữu ích có ảnh hưởng tích cực đến
ý định sử dụng hệ thống e-learning ở trường đại học
Chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tích cực đến ý định sử
dụng hệ thống e-learning ở trường đại học Bahrain 0.297 0.000 H5
Chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tích cực đến ý định sử
dụng hệ thống e-learning ở trường đại học Bahrain
H6
Chất lượng nội dung môn học có ảnh hưởng tích cực
đến nhận thức về sự hữu ích của việc sử dụng hệ thống
e-learning ở trường đại học Bahrain 0.271 0.001
Kỹ năng máy tính có ảnh hưởng tích cực đến nhận
thức sự hữu ích của việc sử dụng hệ thống e-learning ở
H9
Kỹ năng máy tính có ảnh hưởng tích cực đến nhận
thức tính dễ sử dụng của hệ thống e-learning ở trường
H10
Chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể có ảnh hưởng
đến ý định sử dụng hệ thống e-learning ở trường đại
Việc tránh sự không chắc chắn có ảnh hưởng đến ý
định sử dụng hệ thống e-learning ở trường đại học
H13
Sự khác biệt giữa nam tính và nữ tính có ảnh hưởng
đến ý định sử dụng hệ thống e-learning ở trường đại
Trang 29Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ mới tập trung nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định sử dụng e-learning, nó chưa cho thấy được mối liên hệ giữa ý định sử dụng e-learning với hành vi sử dụng e-learning thực sự như thế nào
2.4 Mô hình nghiên cứu đề nghị và các giả thuyết thống kê
2.4.1 Mô hình nghiên cứu đề nghị
2.4.1.1 Mô hình nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của Ya-Ching-Lee và của Jaflah Al-ammari và Sharifa
Hamad, đều cho thấy các yếu tố Chuẩn chủ quan, Nhận thức được sự hữu ích, Nhận
thức được tính dễ sử dụng, Chất lượng nội dung, Kỹ năng máy tính đều có ảnh
hưởng đến ý định sử dụng hệ thống e-learning Vì vậy những yếu tố này sẽ được đưa vào mô hình nghiên cứu để kiểm nghiệm và đồng thời xác định rõ mức độ ảnh hưởng của nó trong điều kiện kinh tế xã hội ở Việt Nam Ngoài ra, nghiên cứu của Jaflah Al-ammari và Sharifa Hamad cũng cho thấy sự tác động của môi trường văn hóa xã hội đến ý định sử dụng hệ thống e-learning Vì vậy những yếu tố liên quan đến môi trường kinh tế xã hội ở Viêt Nam cũng sẽ được đưa vào mô hình nghiên
cứu để kiểm chứng Đó là những yếu tố như là Văn hóa học tập, Định hướng mục
tiêu, Mối liên hệ giữa giảng viên và học viên
Dựa trên những cơ sở lý thuyết, những tham khảo từ những nghiên cứu trước, mô hình nghiên cứu đề nghị được đưa ra như sau:
Trang 30Hình 2-7: Mô hình nghiên cứu đề nghị
Trong mô hình nghiên cứu này, Ý định học qua e-learning được thay thế bằng Sự chấp nhận của học viên đối với các hệ thống e-learning để nhằm mục đích
nhấn mạnh hai yếu tố Thứ nhất là việc học thông qua e-learning ở các trường đại học ở Việt Nam đa số còn mang tính áp đặt hay bắt buộc từ phía nhà trường hay thầy cô Thứ hai là muốn nêu rõ nghiên cứu sẽ được thực hiện với những đối tượng
đã hoặc đang sử dụng e-learning Có như vậy sẽ phản ánh rõ nét hơn mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động
2.4.1.2 Các khái niệm trong mô hình nghiên cứu
- Sự chấp nhận của học viên đối với các hệ thống e-learning: phản ánh
thái độ đồng ý sử dụng e-learning của học viên Nghiên cứu này được thực hiện đối với những học viên đã từng sử dụng e-learning, và trong bối
Trang 31cảnh văn hóa xã hội Việt Nam thì việc sử dụng e-learning có thể bắt nguồn từ sự bắt buộc từ phía nhà trường, sau đó học viên mới nhận biết được sự hữu ích và sẽ tiếp tục sử dụng nó Đó là lý do khái niệm “sự chấp nhận” được dụng thay cho khái niệm “ý định thực hiện – Behavior Intention” như đã đề cập trong các mô hình lý thuyết đã tham khảo
- Chất lượng nội dung môn học: Quan tâm đến độ chính xác, xác thực,
khả năng truy cập, thiết kế, và tính hợp lý của nội dung môn học Ngoài
ra nội dung môn học còn cần phải được cập nhật thường xuyên để học viên cảm thấy thông tin luôn được cập nhật
- Nhận thức được tính dễ sử dụng: là mức độ mà một người nào đó tin
rằng việc sử dụng một công nghệ/hệ thống nào là rất dễ dàng, không tốn nhiều nỗ lực
- Nhận thức về sự hữu ích: là mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng
một công nghệ\hệ thống nào đó sẽ làm tăng năng suất\hiệu quả trong công việc của mình
- Kỹ năng sử dụng máy vi tính: Yếu tố này đề cập đến kỹ năng sử dụng
máy tính của học viên, xem xét học viên có thể tự sử dụng máy tính mà không cần đến sự giúp đỡ của người khác hay không
- Định hướng mục tiêu: Xem xét mục tiêu học của học viên là ngắn hạn
hay dài hạn Một số học viên học để tăng thêm hiểu biết hay để phục vụ cho công việc cụ thể
- Chuẩn chủ quan: Yếu tố này xem xét những người có mối liên hệ chặt
với học viên (phụ huynh, giáo viên, bạn bè) sẽ nghĩ rằng anh ta nên hay không nên sử dụng e-learning
- Cảm nhận ngoài mạng: Yếu tố này cho rằng giá trị của một sản phẩm
hay dịch vụ có thể được tăng thêm nhờ sự tham gia/chấp nhận của những người khác Do đó nếu có càng nhiều người sử dụng e-learning thì nó cũng sẽ càng dễ thu hút thêm nhiều người khác tham gia
Trang 32- Mối liên hệ giữa giảng viên và học viên: Xem xét khoảng cách giữa học
viên và giảng viên, làm thế nào để học viên có thể liên hệ với giảng viên trong khi giảng viên rất ít khi xuất hiện
- Giới tính: Nhằm xem xét mức độ chấp nhận học thông qua các hệ thống
e-learning giữa nam và nữ là khác nhau hay không
2.4.2 Phát biểu các giả thuyết thống kê
- H1: Chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tích cực đến sự chấp nhận học thông qua e-learning của học viên
- H2: Nhận thức được sự hữu ích có ảnh hưởng tích cực đến sự chấp nhận học thông qua e-learning của học viên
- H3: Nhận thức được tính dễ sử dụng có ảnh hưởng tích cực đến sự chấp nhận học thông qua e-learning của học viên
- H4: Chất lượng nội dung môn học có ảnh hưởng tích cực đến sự chấp nhận học thông qua e-learning của học viên
- H5: Kỹ năng sử dụng máy vi tính có ảnh hưởng tích cực đến sự chấp nhận học thông qua e-learning của học viên
- H6: Mối liên hệ giữa giáo viên và học viên có ảnh hưởng ngược hướng đến sự chấp nhận học thông qua e-learning của học viên
- H7: Nhận thức ngoại mạng có ảnh hưởng tích cực đến sự chấp nhận học thông qua e-learning của học viên
- H8: Định hướng mục tiêu có ảnh hưởng đến sự chấp nhận học thông qua e-learning của học viên
- H9: Văn hóa học tập có ảnh hưởng đến sự chấp nhận học thông qua learning của học viên
Trang 33e-CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 đã trình bày các lý thuyết như là lý thuyết về chấp nhận công nghệ, lý thuyết hành động hợp lý, và lý thuyết hành vi có hoạch định Dựa trên cơ
sở lý thuyết đó thì mô hình nghiên cứu đã được xây dựng Chương 3 sẽ giới thiệu phương pháp nghiên cứu kết hợp với các công cụ phân tích thống kê để đánh giá thang đo, kiểm định các giả thuyết thống kê đã được đề cập trong mô hình Chương
3 bao gồm một số nội dung cơ bản như sau: (1) Phương nghiên cứu, (2) Nghiên cứu
sơ bộ, (3) Nghiên cứu chính thức
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế gồm 2 giai đoạn: (1) Nghiên cứu sơ bộ, (2) Nghiên cứu chính thức
Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện nhằm khám phá ra các yếu tố mới có thể ảnh hưởng đến sự chấp nhận của học viên đối với các hệ thống e-learning đồng thời làm sang tỏ những nội dung cần đo trong nghiên cứu Dựa trên những kết quả này
có thể xây dựng được bảng câu hỏi sao cho phù hợp về mặt ý nghĩa các thang đo và đối tượng lấy mẫu
Nghiên cứu chính thức được tiến hành thông qua bảng câu hỏi chính thức, là bảng câu hỏi đã được hiệu chỉnh sau giai đoạn nghiên cứu sơ bộ Dữ liệu thu thập được sẽ được phân tích, thống kê bằng phần mềm SPSS Việc phân tích này nhằm mục đích khẳng định hay bác bỏ các giả thuyết đã đặt ra đồng thời khám phá ra những mối quan hệ hay nhân tố mới chưa có trong mô hình
3.2 Qui trình nghiên cứu
Qui trình nghiên cứu chia làm 4 giai đoạn chính bao gồm: Thực hiện đề cương nghiên cứu, Nghiên cứu sơ bộ, Nghiên cứu chính thức, Đánh giá kết quả nghiên cứu
Trang 34Kết quả của giai đoạn thực hiện đề cương nghiên cứu là đưa ra được một mô hình nghiên cứu, phát biểu các giả thuyết và xác định được thang đo cho các khái niệm trong mô hình Mô hình nghiên cứu được hình thành dựa trên một số mô hình
lý thuyết, bao gồm mô hình lý thuyết chấp nhận công nghệ (TAM), mô hình lý thuyết hành động hợp lý (TRA), mô hình lý thuyết hành vi có hoạch định (TPB) Ngoài ra, nghiên cứu còn tham khảo một số nghiên cứu đã thực hiện về e-learning trên thế giới kết hợp với những điều kiện kinh tế xã hội ở Việt Nam
Sau khi hoàn tất giai đoạn thực hiện đề cương nghiên cứu thì tiến hành nghiên cứu sơ bộ Trong giai đoạn này sẽ tiến hành phỏng vấn trực tiếp một số học viên dựa trên những khái niệm được đề nghị nghiên cứu trong mô hình để góp phần hoàn thiện bộ thang đo cho các khái niệm đồng thời có thể bổ sung thêm những khái niệm mới nếu phát hiện thấy cần thiết Sau khi phỏng vấn các học viên, bổ sung và hoàn thiện bộ thang đo thì tiến hành thử nghiệm bảng câu hỏi cho khoảng
20 học viên để kiểm tra độ rõ nghĩa của các câu hỏi Kết quả cuối cùng của giai đoạn nghiên cứu sơ bộ là đưa ra được mô hình nghiên cứu tương đối hoàn chỉnh và bảng câu hỏi hoàn thiện được sử dụng cho giai đoạn nghiên cứu chính thức
Tiếp theo sau giai đoạn nghiên cứu sơ bộ là giai đoạn nghiên cứu chính thức Bảng câu hỏi được phát cho các học viên để thu thập số liệu Dữ liệu thu thập được
sẽ được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS, bao gồm kiểm định độ tin cậy bằng hệ số Cronbach Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích hồi qui,
và phân tích khác biệt
Cuối cùng, dựa trên những kết quả phân tích trong giai đoạn nghiên cứu chính thức thì kết quả nghiên cứu sẽ cho thấy được mức độ quan trong của từng yếu
tố trong mô hình, và trên cơ sở đó sẽ đưa ra được những hàm ý cho nhà quản trị và
đề xuất những hướng nghiên cứu tiếp theo Hình 3-1 mô tả tóm tắt qui trình thực hiện nghiên cứu
Trang 35Hình 3-1: Qui trình thực hiện nghiên cứu
3.3 Nghiên cứu sơ bộ
3.3.1 Mục đích
Mục đích của giai đoạn nghiên cứu sơ bộ là nhằm tìm ra các yếu tố có ảnh hưởng đến việc chấp nhận của học viên đối với các hệ thống e-learning và đưa ra thang đo cho các biến trong mô hình nghiên cứu Dữ liệu thu thập được là dữ liệu định tính thông qua các buổi thảo luận, phỏng vấn trực tiếp với học viên Cụ thể, giai đoạn nghiên cứu sơ bộ nhằm giải quyết một số vấn đề sau:
- Khám phá ra một số mối quan hệ chặt để bổ sung vào thang đo gốc
Trang 36- Đánh giá sự phù hợp của thang đo
- Kiểm tra các sử dụng từ ngữ trong từng câu hỏi của từng biến quan sát nhằm đảm bảo phần đông đối tượng được phỏng vấn hiểu đúng và rõ nghĩa
- Kiểm tra sơ bộ mối tương quan của các giả thuyết thống kê
3.3.2 Cách thực hiện
Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện qua 2 giai đoạn Đầu tiên là phỏng vấn trực tiếp một nhóm học viên 5 người về hệ thống e-learning mà họ đang sử dụng nhằm xem xét những thuận lợi hay khó khăn của học viên khi học qua e-learning Những vấn đề được thảo luận liên quan đến cơ sở hạ tầng, phong cách học, khoa học công nghệ Từ đó xem xét hiệu chỉnh thang đo cho phù hợp với môi trường văn hóa - xã hội ở Việt Nam
Sau khi có kết quả phỏng vấn của giai đoạn một, thang đo nghiên cứu được hiệu chỉnh Giai đoạn 2 của nghiên cứu sơ bộ là thử nghiệm thang đo đã được hiệu chỉnh bằng cách phát bảng câu hỏi cho 20 học viên đồng thời phỏng vấn trực tiếp để kiểm chứng mức độ hiểu và rõ nghĩa của các câu hỏi trong bảng khảo sát
3.3.3 Kết quả
3.3.3.1 Kết quả giai đoạn thảo luận tay đôi
Cuộc thảo luận được thực hiện đối với một nhóm gồm 5 sinh viên trường đại học Bách khoa và Học viện Bưu chính Viễn thông Một số câu hỏi mở trong giai đoạn này đã được thực hiện như là “Anh/chị thích học trực tiếp với giảng viên hay thích học thông qua e-learning hơn? Vì sao?” hay là “Anh/chị vui lòng cho biết những khó khăn hay trở ngại khi sử dụng e-learning?” Chi tiết của các câu hỏi và trả lời cho những câu hỏi mở này được tóm lược trong phần phụ lục Dựa trên những kết quả phỏng vấn trong giai đoạn này, tác giả nhận thấy có những vấn đề về kết nối Internet cũng như những trục trặc trong việc sử dụng Internet mà có thể ảnh hưởng đến việc chấp nhận sử dụng e-learning Do đó, yếu tố “Cơ sơ hạ tầng mạng” được bổ sung vào mô hình nghiên cứu
Trang 373.3.3.2 Kết quả đánh giá sơ bộ mô hình nghiên cứu
Sau khi thực hiện phỏng vấn định tính, tất cả các giả thuyết đưa ra trong mô hình nghiên cứu đều được chấp nhận Ngoài ra còn phát hiện thêm yếu tố “Cơ sở hạ tầng mạng” có thể ảnh hưởng đến sự chấp nhận học qua e-learning của học viên Vì vậy mô hình nghiên cứu được hiệu chỉnh lại như sau:
Hình 3-2: Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh sau giai đoạn nghiên cứu sơ bộ
Yếu tố được bổ sung là “Cơ sơ hạ tầng mạng” và giả thuyết được thêm vào
là H10 (Cơ sở hạ tầng mạng có ảnh hưởng tích cực đến sự chấp nhận học thông qua e-learning của học viên)
Trang 383.3.3.3 Kết quả đánh giá thang đo cho từng khái niệm
Dựa trên những kết quả đạt được trong giai đoạn thảo luận nhóm, thang đo cho các khái niệm được xây dựng dựa trên thang đo gốc đã được sử dụng trong nghiên cứu của Ya-Ching-Lee và được hiệu chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam Kết quả kiểm tra thang đo cho từng khái niệm được tóm lược lại như sau:
+ Thang đo Sự chấp nhận của học viên đối với hệ thống e-learning: Thang
đo gốc ban đầu được dịch lại như sau
Tiếng anh Tiếng việt (chưa hiệu chỉnh)
Assuming I have access to the
e-learning system, I intend to use it
Giả sử tôi có quyền truy cập vào hệ thống e-learning này thì tôi dự định sẽ
sử dụng nó
Given that I have access to the
e-learning system, I plan to use it
Cho rằng tôi có quyền truy cập vào hệ thống e-learning này thì tôi sẽ có kế hoạch sử dụng nó
Tuy nhiên, nghiên cứu này tập trung vào những sinh viên đã từng sử dụng learning Do vậy bản dịch được hiểu chỉnh lại như sau
e-Tiếng việt (chưa hiệu chỉnh) Tiếng việt (đã hiệu chỉnh)
Giả sử tôi có quyền truy cập vào hệ
thống e-learning này thì tôi dự định
sẽ sử dụng nó
Tôi thấy e-learning rất hữu ích, tôi
sẽ tiếp tục sử dụng nó
Cho rằng tôi có quyền truy cập vào
hệ thống e-learning này thì tôi sẽ có
kế hoạch sử dụng nó
Tôi sử dụng e-learning vì nó rất có lợi cho việc học của tôi
Kết quả thử nghiệm bảng câu hỏi cho thấy các biến quan sát trong thang đo này có nội dung câu hỏi rõ ràng, có ý nghĩa, không gây nhầm lẫn hay hiểu sai từ đối tượng được phỏng vấn
Trang 39+ Thang đo Chuẩn chủ quan: Thang đo gốc ban đầu được dịch lại như sau
My teachers think that I should use
+ Thang đo Cảm nhận ngoại mạng: Thang đo gốc ban đầu được dịch lại như
sau
Tiếng anh Tiếng việt (chưa hiệu chỉnh)
Most students in my university use
the e-learning system
Hầu hết bạn bè cùng trường với tôi đều sử dụng e-learning
There will be more students using
the e-learning system that I am
using
Ngày càng có thêm nhiều người sử dụng hệ thống e-learning mà tôi đang
sử dụng
As more and more students use the
e-learning system, I think related
services (such as training and
support) will soon be developed
Nếu có càng nhiều người sử dụng learning thì tôi nghĩ các dịch vụ hỗ trợ việc học đi kèm theo hệ thống sẽ phát triển
e-As more and more students use the
e-learning system, I think related
software and hardware will soon
be developed
Nếu có càng nhiều người sử dụng learning thì tôi nghĩ các phần mềm và phần cứng liên quan sẽ được phát triển
Trang 40e-Dựa vào kết quả thảo luận nhóm, có nhiều ý cho rằng trong hoàn cảnh hiện nay hầu hết tài liệu hay những ý kiến thảo luận được cập nhật trên các diễn đàn hay
forum Vì vậy thang đo này được bổ sung thêm biến quan sát là “Tôi và bạn bè
thường xuyên trao đổi những vấn đề liên quan đến môn học trên các diễn đàn hay forum” Kết quả thử nghiệm bảng câu hỏi cho thấy các biến quan sát trong thang đo
này có nội dung câu hỏi rõ ràng, có ý nghĩa, không gây nhầm lẫn hay hiểu sai từ đối tượng được phỏng vấn
+ Thang đo Nhận thức được sự hữu ích: Thang đo gốc ban đầu được dịch lại
như sau
Tiếng anh Tiếng việt (chưa hiệu chỉnh)
Using the e-learning system
Kết quả thử nghiệm bảng câu hỏi cho thấy còn một số câu hỏi có nội dung
chưa thực sự rõ ràng Ví dụ “Sử dụng e-learning giúp cải thiện khả năng học của
tôi” là chưa rõ ràng vì nhiều ý kiến cho rằng là khả năng là cái gì đó thuộc về bẩm
sinh Hoặc là “Sử dụng e-learning làm gia tăng năng suất học của tôi” là chưa hợp
lý Vì vậy thang đo được hiệu chỉnh lại và gồm bốn biến quan sát như sau