Vậy thì vai trò của Nhà nước và các tổ chức xã hội trong việc CSSK cho NCT ngày càng được đặt ra và cần được giải quyết một cách có hệ thống bằng các chính sách và quy định pháp luật có
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành đề tài Luận văn này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ và tạo điều kiện từ nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân Luận văn cũng được hoàn thành dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các tạp chí chuyên ngành của nhiều tác giả ở các trường Đại học, các tổ chức nghiên cứu, tổ chức chính trị… đặc biệt là sự giúp đỡ, tạo điều kiện về vật chất và tinh thần từ phía gia đình, thầy cô, bạn bè
và các đồng nghiệp trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Mở
Hà Nội, khoa Sau đại học của trường cùng tập thể các thầy cô giáo, những người đã trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Xin chân thành cảm ơn các ban, ngành, các cấp lãnh đạo và các Ông/Bà cao tuổi trong quận Long Biên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, khảo sát thực tế để có tư liệu hoàn thành luận văn Việc được tiếp xúc trực tiếp, giải đáp thắc mắc giúp tôi có thêm hiểu biết, kiến thức thực tế và yêu cầu công việc trong tương lai
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn
TS Đặng Thị Thơm, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài
Do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế, luận văn được hoàn thiện không thể tránh khỏi những sơ suất thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, bạn bè và độc giả
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Diệu Linh
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT CSSK CHO NCT8 1.1 NCT và đặc điểm CSSK cho NCT 8
1.2 Pháp luật về CSSK cho NCT 14
1.2.1 Khái niệm pháp luật về CSSK cho NCT 14
1.2.2 Nội dung pháp luật về CSSK cho NCT 16
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CSSK CHO NCT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 21
2.1 Các quy định của pháp luật về CSSK cho NCT 21
2.2 Tổ chức thực hiện Pháp luật về CSSK cho NCT 25
2.2.1 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về CSSK cho NCT 25
2.2.2 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển và đảm bảo chất lượng CSSK cho NCT 26
2.2.3 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện các quy chuẩn và các tiêu chí đánh giá CSSK cho NCT 28
2.2.4 Tổ chức bộ máy áp dụng các quy định về CSSK cho NCT và công tác thanh tra kiểm tra 29
2.3 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội của quận Long Biên, thành phố Hà Nội 31
2.3.1 Khái quát về hệ thống các dịch vụ CSSK cho NCT trên địa bàn 31
2.3.2 Phân tích thực trạng áp dụng các QĐPL về CSSK cho NCT tại quận Long Biên 42
Trang 32.4 Đánh giá thực trạng thực hiện Pháp luật về CSSK cho NCT tại quận Long
Biên, thành phố Hà Nội 47
2.4.1 Ưu điểm 47
2.4.2 Hạn chế 50
2.4.3 Nguyên nhân 52
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬTVỀ CSSK CHO NCT TẠI QUẬN LONG BIÊN 54
3.1 Phương hướng xây dựng quy định pháp luật về CSSK cho NCT 54
3.1.1 Việc xây dựng và hoàn thiện quy định pháp luật về CSSK cho NCT phải phù hợp với quan điểm mục tiêu của Đảng về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân 54
3.1.2 Phương hướng hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước về CSSK cho NCT tại quận Long Biên 57
3.2 Giải pháp hoàn thiện QĐPL về CSSK cho NCT và nâng cao hiệu quả áp dụng tại quận Long Biên 59
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về CSSK cho NCT 59
3.2.2 Giải pháp nâng cao CSSK cho NCT tại quận Long Biên 60
KẾT LUẬN 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa của từ viết tắt
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH
Bảng 2.1 Đánh giá chính sách CSSK ban đầu của NCT - khảo sát từ NCT 31 Bảng 2.2 Khảo sát vấn đề thẻ bảo hiểm y tế và khám chữa bệnh theo thẻ bảo
hiểm y tế, kết quả khảo sát thể hiện ở bảng dưới đây (Nguồn: Khảo sát tại địa
bàn nghiên cứu tháng 5 năm 2020) 33
Bảng 2.3 Khảo sát đối với ở khía cạnh chăm sóc NCT ở những trung tâm
chăm sóc NCT, kết quả khảo sát thể hiện ở bảng dưới đây (Nguồn: Khảo sát
tại địa bàn nghiên cứu tháng 5 năm 2020) 34
Bảng 2.4 Khảo sát đối với hoạt động của các cán bộ, công chức về vấn đề chăm sóc, sức khỏe cho các NCT tại địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội 36 Hình 2.1 Biểu đồ đánh giá chính sách CSSK ban đầu của NCT - khảo sát từ NCT thể hiện ở hình dưới đây: 32
Hình 2.2 Biểu đồ khảo sát vấn đề thẻ bảo hiểm y tế và khám chữa bệnh theo
thẻ bảo hiểm y tế, kết quả khảo sát thể hiện ở hình dưới đây 34 Hình 2.3 Biểu đồ khảo sát đối với ở khía cạnh chăm sóc NCT ở những trung tâm chăm sóc NCT, kết quả khảo sát thể hiện ở hình dưới đây 35 Hình 2.4 Biểu đồ khảo sát đối với hoạt động của các cán bộ, công chức về vấn đề CSSK cho NCT tại địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội 37 Hình 2.5 Biểu đồ mức độ hài lòng của NCT về dịch vụ hỗ trợ, giải quyết chế
độ chính sách tại quận Long Biên qua khảo sát 100 NCT trên địa bàn
(Nguồn: Khảo sát tại địa bàn nghiên cứu tháng 5 năm 2020) 38
Hình 2.6 Biểu đồ kết quả khảo sát đối tượng NCT được trò chuyện tâm sự (Đối tượng NCT trò chuyện tâm sự (%), nguồn: Khảo sát tại địa bàn nghiên cứu tháng 5 năm 2020) 40 Hình 2.7 Biểu đồ kết quả khảo sát mức độ hài lòng của NCT đối với dịch vụ
tư vấn, tham vấn pháp luật trong CSSK NCT tại địa bàn (Nguồn: Khảo sát tại
địa bàn nghiên cứu tháng 5 năm 2020) 41
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, tuổi thọ con người ngày càng có
xu hướng tăng lên Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra dân số và Nhà ở năm
2019, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam liên tục tăng, từ 65,2 tuổi năm
1989 lên 73,6 tuổi năm 2019 cao hơn tuổi thọ bình quân của thế giới 1,6 tuổi
và tốc độ dân số Việt Nam già hóa nhanh hơn so với mức chung của thế giới Già hóa dân số đang là chủ đề được quan tâm không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới Đây vừa là thành tựu đồng thời là thách thức Khi già hóa dân
số thì tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động sẽ dần giảm, gây tác động bất lợi đến các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội bao gồm: Thị trường lao động, tài chính, nhu cầu dịch vụ hàng hóa, tăng trưởng kinh tế Trước hết, dân số già
sẽ đi đôi với việc chi tiêu nhiều hơn cho CSSK, hưu trí, trợ cấp, an sinh xã hội trong bối cảnh nước ta vẫn là quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp Thời gian để Việt Nam chuẩn bị thích ứng với dân số già không còn nhiều dẫn đến mức tích lũy của quốc gia không đáp ứng được nhu cầu của xã hội
NCT nói chung là một trong những nhóm đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương nhất do những thay đổi về sức khỏe, thể chất và tinh thần, sự thay đổi
về tâm lý, lao động thu nhập, quan hệ xã hội và lối sống gặp nhiều khó khăn
Đa phần NCT không có tích lũy vật chất, khi ốm đau bệnh tật chi phí chữa trị không đáp ứng được sẽ dẫn đến không được điều trị dứt điểm, tạo áp lực quá tải cho các bệnh viện Trong khi đó hệ thống an sinh xã hội còn thiếu, chưa có
hệ thống CSSK dài hạn cho NCT Trước thực trạng kinh tế - xã hội này, vấn
đề đặt ra là phải chú trọng can thiệp điều chỉnh sớm các quy định pháp luật, thực hiện pháp luật về NCT Trong đó, chăm sóc trợ giúp để NCT sống khỏe mạnh không chỉ kéo dài tuổi thọ mà còn nâng cao chất lượng sống, phát huy tốt nhất vai trò của họ đối với sự phát triển chung của cộng đồng, xã hội và đất nước
Xét ở góc độ phong tục tập quán, truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, người già luôn được coi như “cây cao bóng cả” là những quan niệm tốt đẹp tồn tại từ lâu đời ở Việt Nam Trong quan niệm Nho giáo, một xã hội hài hòa cần phải có các quy phạm đạo đức, để điều chỉnh các quan hệ xã hội
và gia đình, đó là “Đạo”, “Tam cương”, “Ngũ thường” Trong các chuẩn mực
Trang 7trên có quan hệ cha - con: “cha hiền, con hiếu” Cha có nghĩa vụ nuôi dạy con cái, con cái có nghĩa vụ hiếu thảo, phụng dưỡng khi cha về già Về phương diện gia đình và xã hội, NCT là hạt nhân, là lực hấp dẫn, giữ vững cấu trúc gia đình, ổn định và phát triển xã hội Họ có một vị trí, vai trò hết sức quan trọng, là nguồn lực vô giá với nhiều kinh nghiệm sống, nguồn tri thức vô tận,
là tấm gương sáng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc để thế hệ trẻ noi theo CSSK NCT vừa là trách nhiệm, vừa là nghĩa vụ, vừa là thể hiện sự văn minh tiến bộ của chế độ xã hội
Bên cạnh đó, CSSK cho NCT còn là chủ trương, đường lối nhất quán của Đảng Nghị quyết trung ương VI đã ghi nhận về tăng cường công tác bảo
vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới của Đảng
Đó là một chủ trương nhằm phát huy mọi nguồn lực trong xã hội, tăng cường chất lượng đối với công tác CSSK nhân dân nói chung và NCT nói riêng Chủ trương này còn khẳng định chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho nhân dân là đầu tư cho phát triển xã hội, cho sự tiến bộ của con người
Nhà nước ta đã và đang bổ sung, hoàn thiện nhiều chính sách, pháp luật quan tâm đến NCT Luật NCT đã được ban hành từ ngày 23/11/2009 thay thế cho pháp lệnh về NCT trước đó là cơ sở pháp lý cao nhất điều chỉnh các quan
hệ xã hội có liên quan, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho chủ thể này Các văn bản dưới Luật được ban hành kịp thời để hướng dẫn thực hiện như Nghị định số 06/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NCT, Quyết định số 1781/QĐ-TTg ngày 22/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về NCT Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020 cùng các thông tư của các Bộ ngành Trung ương, là hệ thống văn bản quy định, hướng dẫn để các địa phương xây dựng chính sách cụ thể hóa Luật NCT CSSK NCT còn được Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Con có nghĩa vụ
và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ” Bộ luật Lao động
2019 có hiệu lực ngày 1/1/2021 sắp tới cũng điều chỉnh về quan hệ lao động với người lao động cao tuổi, trong đó quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm CSSK của người lao động cao tuổi Về cơ bản, pháp luật về NCT
Trang 8tương đối toàn diện Tuy nhiên, vấn đề tổ chức thực hiện chưa tốt, đặc biệt còn yếu ở cấp cơ sở xã, phường, quận, huyện và các cơ quan đơn vị, trong đó đặc biệt phải kể đến nhận thức của một bộ phận không nhỏ coi việc CSSK NCT là gánh nặng, không phải là trách nhiệm
CSSK còn là việc đảm bảo thực hiện quyền con người mà Nhà nước và
xã hội luôn phải có trách nhiệm trong mọi giai đoạn Quyền được CSSK - một quyền cơ bản không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận trong văn bản mà cần phải được thực thi trong cuộc sống hàng ngày với sự chung tay của cộng đồng, xã hội Thực hiện CSSK cho NCT tại địa phương cần đưa ra các giải pháp lôi cuốn mọi thành phần xã hội, xóa bỏ sự thờ ơ đang có xu thế lấn át những truyền thống nhân văn tốt đẹp
Xét theo góc độ thực tế, khi nhịp điệu sống tăng lên, người trẻ dành nhiều thời gian cho công việc để tạo thu nhập, chăm sóc con cái, vui chơi, giải trí… NCT trở nên ít được quan tâm hơn, đặc biệt tại các thành phố lớn trong
đó có địa bàn quận Long Biên - Thành phố Hà Nội, nơi tác giả đang sinh sống
và làm việc Gia đình truyền thống nhiều thế hệ đã thay thế bằng gia đình hai thế hệ và người già không còn sống cùng con cái, họ tự lo đời sống vật chất, tinh thần mà không hoàn toàn dựa dẫm vào con cái trong khi sức khỏe ngày một giảm sút theo tuổi tác Gia đình trước đây là nơi CSSK cho NCT thì nay không còn làm tốt chức năng này nữa Trong trường hợp này, quan hệ CSSK cho NCT từ phía gia đình đang thay đổi về chất lượng Vậy thì vai trò của Nhà nước và các tổ chức xã hội trong việc CSSK cho NCT ngày càng được đặt ra và cần được giải quyết một cách có hệ thống bằng các chính sách và quy định pháp luật có tính thực thi cao, sự tham gia quyết liệt từ các cấp cơ sở đến cấp huyện quận và trung ương mới tạo ra lời giải thấu đáo cho một vấn đề cấp bách hiện nay
Quận Long Biên, thành phố Hà Nội là một quận nơi đời sống kinh tế -
xã hội của người dân đang từng bước phát triển Tuy nhiên vẫn còn không ít những khó khăn còn tồn tại ở các mặt kinh tế, văn hóa, y tế, xã hội Tỷ lệ hộ nghèo còn cao so với các quận nội thành khác và số lượng NCT thuộc hộ nghèo cũng đang ngày càng tăng Công tác CSSK NCT nói chung, trong đó
có NCT thuộc hộ nghèo đã được triển khai và đem lại hiệu quả nhất định như: Luôn chi trả đúng thời gian và đủ số tiền trợ cấp hàng tháng, việc cấp phát thẻ
Trang 9bảo hiểm y tế đúng thời gian quy định, có các hoạt động tổ chức khám chữa bệnh, cấp phát thuốc miễn phí và các hoạt động vận động nguồn lực cộng đồng trong các hoạt động nâng cao sức khỏe và đời sống tinh thần của NCT
Rõ ràng việc bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe NCT vừa là trách nhiệm, thể hiện đạo lý, văn hóa sống của dân tộc, cộng đồng, vừa thể hiện tính ưu việt của chế độ nhà nước XHCN, nhất là trong lúc tốc độ già hóa dân số nhanh của nước ta hiện nay Việc CSSK cho NCT cần được quan tâm hơn nữa trong việc đầu tư xứng đáng về vật chất, nguồn nhân lực để họ có chất lượng sống tốt hơn, được sống vui và sống khỏe Việc nghiên cứu về pháp luật CSSK NCT hiện tại cũng chưa có nhiều, đây là một nghiên cứu không còn mới nhưng cần có tính hệ thống đầy đủ và tính thực thi cao Bằng sự trải nghiệm của bản thân, hằng ngày quan sát về cuộc sống của NCT cũng như những công việc địa phương đang thực hiện trong việc CSSK của họ, tác giả mong muốn đóng góp kiến thức vào việc nghiên cứu các quy định pháp luật
và đề ra các giải pháp thực hiện tốt hơn nữa cho một công việc có ý nghĩa nhân văn này
Chính vì những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề: “Pháp luật về CSSK NCT và thực tiễn thực hiện tại quận Long Biên” làm đề tài cho luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu ở Việt Nam về hoạt động CSSK cho NCT, việc đánh giá công tác quản lý đối với vấn đề này chỉ dừng lại ở các bài phân tích, báo cáo, phản ánh của các cơ quan chức năng cũng như các
cơ quan thông tin truyền thông Trên cơ sở nghiên cứu và đánh giá tác giả đã tìm hiểu một số công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài luận văn tác giả đang nghiên cứu như sau:
- Giáo trình của đồng tác giả GS.TS Nguyễn Đình Phan và TS Đặng
Ngọc Sự (2012), Quản trị chất lượng, Nhà xuất bản Đại học kinh tế Quốc
dân, đã chỉ ra được những bản chất của dịch vụ và chất lượng dịch vụ, đồng thời tác giả đã đưa ra 10 tiêu chí để đánh giá và đo lường chất lượng dịch vụ
10 tiêu chí này chính là tiêu chí cơ bản để làm cơ sở cho việc đo lường chất lượng dịch vụ bằng các dữ liệu định lượng cụ thể
- Giáo trình của Chủ biên PGS.TS.Nguyễn Thu Linh (2004), Quản lý
nhà nước về văn hóa - giáo dục - y tế, Nhà xuất bản Học Viện hành chính
Trang 10quốc gia đã đề cập đến vai trò quan trọng của hoạt động quản lý nhà nước về
y tế nhằm tạo tiền đề để các cơ quan NN có thẩm quyền thực hiện chức trách, nhiệm vụ đã được quy định
- Đề tài của TS.Nguyễn Trọng Chương, “Quản lý nhà nước về chất
lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại các Bệnh viện chuyên khoa trực thuộc Sở Y
tế Thừa Thiên Huế” Theo đề tài tác giả đã đưa ra giải pháp QĐPL về CSSK
cho NCT tại các bệnh viện chuyên khoa trực thuộc Sở Y tế tỉnh Thừa Thiên Huế Hiện nay, các công trình trên đưa ra các tiêu chí về dịch vụ CSSK cho NCT mà chưa tập trung nghiên cứu về quản lý của nhà nước đối với việc áp dụng các quy định pháp luật về CSSK cho NCT nói chung và trên địa bàn quận Long Biên nói riêng Vì vậy, trên cơ sở nghiên cứu của các tác giả, tôi tập trung nghiên cứu về vấn đề CSSK cho NCT nhằm góp phần thực hiện có hiệu quả các quy định pháp luật này trong thực tế
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu thực trạng chính sách pháp luật đối với NCT ở Việt Nam hiện nay Từ đó, đưa ra những giải pháp để hoàn thiện chính sách đối với NCT, nhằm nâng cao hiệu quả việc CSSK NCT tại quận Long Biên
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu này, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu hệ thống cơ sở lý luận và cơ sở QĐPL về CSSK cho NCT;
- Phân tích thực trạng các quy định pháp luật về CSSK cho NCT tại quận Long Biên;
- Đánh giá thực trạng, tìm ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong công tác áp dụng quy định pháp luật về CSSK cho NCT tại quận Long Biên;
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện QĐPL về CSSK cho NCT tại quận Long Biên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Trang 11Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quy định pháp luật CSSK đối với NCT ở Việt Nam hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Luận văn chỉ nghiên cứu các nội dung quản lý nhà nước, chính sách pháp luật đối với CSSK NCT hiện nay ở Việt Nam;
- Giới hạn về không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại quận Long Biên, Thành phố Hà Nội;
- Giới hạn về thời gian: Nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về CSSK cho NCT tại quận Long Biên từ năm 2010 đến tháng 7/2020
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về y tế, bảo vệ và CSSK cho nhân dân
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đồng thời sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu để làm rõ những vấn đề lý luận và tập trung phân tích, đánh giá thực tiễn hoạt động áp dụng quy định pháp luật về CSSK cho NCT, trong đó tập trung vào một số phương pháp chủ yếu sau: Phương pháp thu thập, phân tích, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp logic, phương pháp phỏng vấn sâu…
● Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu
Là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu, các tài liệu được lựa chọn để thu thập, phân tích thông tin là những văn bản pháp luật liên quan đến Chính sách về NCT; Chính sách trợ giúp xã hội đối với NCT; Thông tin về tình hình kinh tế-chính trị-xã hội tại địa phương; Những thông tin có liên quan đến đề tài nghiên cứu
từ các nguồn tạp chí, internet; Báo cáo tổng kết các năm của phòng Lao động thương binh và xã hội quận Long Biên, Báo cáo của Hội NCT quận Long Biên
Trang 12● Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Phương pháp điều tra bảng hỏi là phương pháp thu thập thông tin thông qua việc sử dụng một bảng hỏi soạn sẵn, người điều tra phát bảng hỏi, hướng dẫn cách trả lời, người được hỏi sẽ tự mình ghi câu trả lời ra phiếu bảng hỏi Điều tra viên thu lại phiếu và xử lý thông tin
Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống để chọn
ra 100 mẫu tiến hành khảo sát Nội dung bảng hỏi liên quan đến: Các hình thức tuyên truyền, phổ biến kiến thức về CSSK của NCT; Công tác hướng dẫn NCT kỹ năng phòng bệnh, chữa bệnh và tự CSSK của Trạm y tế; Công tác lập hồ sơ theo dõi, quản lý sức khỏe NCT tại địa bàn quận Long Biên
Phỏng vấn sâu là phương pháp thu thập thông tin bằng cách tác động tâm lý, xã hội một cách trực tiếp giữa người phỏng vấn và người trả lời Phỏng vấn là phương tiện được sử dụng phổ biến trong các điều tra, nghiên cứu khoa học nhằm thu thập, khai thác thông tin từ đối tượng được phỏng vấn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu đề tài có những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn sau:
- Hệ thống hóa các quy định pháp luật về CSSK cho NCT
- Phân tích, đánh giá tính thực tế việc áp dụng các QĐPL về CSSK cho NCT tại quận Long Biên
- Luận văn đóng góp một phần làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản
lý ngành và địa phương trong việc hoàn thiện QĐPL về CSSK cho NCT tại địa bàn quận Long Biên nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
● Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật CSSK cho NCT
● Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật Việt Nam về CSSK cho NCT
và thực tiễn thực hiện tại quận Long Biên, thành phố Hà Nội
● Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện QĐPL về CSSK cho NCT tại quận Long Biên, thành phố Hà Nội
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT CSSK CHO NCT
1.1 NCT và đặc điểm CSSK cho NCT
Khái niệm và đặc điểm NCT
NCT là một khái niệm được tiếp cận khác nhau tùy theo quy định của từng quốc gia, từng lĩnh vực Trước đây khái niệm “người già” thường được dùng để chỉ người có tuổi, hiện nay khái niệm “NCT” ngày càng được sử dụng nhiều hơn Theo quan điểm y học: NCT là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể Theo WHO: NCT phải từ 70 tuổi trở lên Một số nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ, … lại quy định NCT là những người từ 65 tuổi trở lên Quy định ở mỗi nước có sự khác nhau là do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau Những nước có hệ thống CSSK tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng cao
Qua lịch sử lập pháp, khái niệm NCT được đề cập tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật:
- Hiến pháp 1946, tại Điều 14 quy định: “Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ”
- Hiến pháp 1959, Điều 32 quy định: “Người lao động có quyền được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật, hoặc mất sức lao động Nhà nước
mở rộng dần các tổ chức bảo hiểm xã hội, cứu tế và y tế để đảm bảo cho người lao động được hưởng quyền đó”
- Hiến pháp 1992, Điều 64 quy định: “Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái Con cái có trách nhiệm kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ”; Điều 87 Hiến pháp 1992 ghi: “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được nhà nước và xã hội giúp đỡ”
- Hiến pháp 2013, Khoản 3 Điều 37 quy định: “NCT được nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
- Hiến pháp 2013 tại Khoản 2, Điều 59, quy định: “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an
Trang 14sinh xã hội, có chính sách trợ giúp NCT, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác”
- Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Khoản 2 Điều 71 quy định: “Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ”
- Luật Bảo vệ CSSK nhân dân 1989, tại Khoản 1 Điều 41 quy định
“NCT được ưu tiên khám, chữa bệnh, được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khỏe của mình”
- Bộ Luật Hình sự 2015, Khoản 2 Điều 40 quy định: Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người tử tù đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử
Hiện nay, theo Điều 2 Luật NCT năm 2009 quy định: “NCT được quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”1 Với đặc thù nhiều tuổi, sức khỏe giảm sút, NCT là một đối tượng yếu thế, đối tượng cần
sự trợ giúp của cơ quan chức năng để đảm bảo về vấn đề CSSK trong thực tế NCT có vai trò và vị trí hết sức quan trọng trong đời sống xã hội, bởi vì họ vừa là kho kinh nghiệm, kiến thức vô giá của đất nước, vừa là tấm gương sáng để các thế hệ trẻ noi theo nên việc CSSK là điều hoàn toàn cần thiết
Theo Nhà xuất bản Y học Hà Nội năm 1995 thì: “CSSK là việc làm thỏa mãn
các nhu cầu trong sinh hoạt (nhu cầu đầy đủ dinh dưỡng, được vui chơi, giải trí ), để đảm bảo trạng thái thỏa mãn về thể chất, tinh thần, xã hội của mỗi thành viên trong xã hội”
Trong việc xây dựng, duy trì và phát triển những giá trị truyền thống của gia đình, NCT với vị trí là ông bà, cha mẹ được xem là trụ cột của gia đình, giữ vai trò vô cùng quan trọng Bởi họ là bậc “tiền bối”, có công sinh thành, nuôi dạy con cháu, xây dựng gia đình hòa thuận, có trách nhiệm giáo dục thế
hệ trẻ về nhân cách, giữ gìn gia phong, kỷ cương phép nước Những giá trị ấy luôn được đề cao trong việc xây dựng nề nếp, giáo dục đạo đức cho con cháu
1 Xem Điều 2 Luật người cao tuổi 2009
Trang 15Năm 2019 cả nước có khoảng 11,41 triệu NCT, chiếm khoảng 12% dân số; 7.294.100 NCT sống ở khu vực nông thôn (chiếm 64%) Ngân sách Nhà nước đã dành hơn 17.517 tỷ đồng trợ giúp xã hội cho NCT (bao gồm trợ cấp hàng tháng và mua thẻ bảo hiểm y tế), khoảng 10.000 NCT đang được nuôi dưỡng, chăm sóc tại các cơ sở bảo trợ xã hội Đồng thời, có khoảng 1,4 triệu NCT hưởng trợ cấp người có công; trên 3,1 triệu NCT đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội Cả nước có trên 106 bệnh viện cấp trung ương
và cấp tỉnh có Khoa Lão khoa; gần 1.000 khoa khám bệnh có buồng khám riêng hoặc bố trí bàn khám riêng cho NCT; hơn 10.183 giường điều trị nội trú
ưu tiên cho NCT, hơn 1,57 triệu NCT được lập hồ sơ theo dõi sức khỏe (theo Cổng thông tin Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, trên 1,7 triệu NCT được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, http://www.molisa.gov.vn/, http://www.molisa.gov.vn/Pages/tintuc/chitiet.aspx?tintucID=222363)
Tuy tuổi thọ trung bình của người Việt Nam là 73 tuổi, nhưng khoảng 95% NCT có bệnh, chủ yếu là bệnh mãn tính không lây truyền Do hoàn cảnh lịch sử, nên có tới trên 70% NCT không được đi học trong hệ thống giáo dục chính quy Tuy nhiên, do nhiều người đã tự học nên có gần 60% NCT biết đọc, biết viết Trong số NCT, có 0,034% là giáo sư (chiếm 40% tổng số giáo
sư trong cả nước); có 0,044% là tiến sĩ; 0,019% số người có trình độ thạc sỹ; 0,106% số người có trình độ đại học; 1,2% có trình độ trung cấp; 0,89% số người nguyên là công nhân kỹ thuật bậc cao
Hiện nay, trên 75% số NCT đang sống cùng với con cháu, nên họ có cuộc sống cả về vật chất và tinh thần tương đối tốt; 8,3% số NCT sống độc thân tại cộng đồng; 13,06% số NCT đang sống 2 vợ chồng đều là NCT, 3% số NCT còn lại, đang sống tại các cơ sở bảo trợ xã hội, các trung tâm dưỡng lão, nhà thờ, nhà chùa… 70% NCT Việt Nam hiện nay không có tích luỹ vật chất cho tuổi già Chính vì vậy, khi đất nước chuyển đổi sang cơ chế thị trường, họ
là những người đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc thích nghi
với nhiều thay đổi chưa từng có trước đây (Nguyễn Văn Trung(2018), Bảo vệ
nhân quyền cho NCT Việt Nam)
Lịch sử Việt Nam đã ghi nhận từ xa xưa, Nhà nước cũng như làng xã và gia đình đều rất quan tâm đến NCT Kế tục truyền thống đó, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng và bảo đảm thực hiện chế độ chính sách đối với NCT Điều
Trang 16đó được quy định và thể hiện từ Hiến pháp 1946, được kế thừa và phát triển trong các Hiến pháp 1959, 1980, 1992, được cụ thể hóa trong Luật Hôn nhân
và gia đình, Luật Bảo vệ và CSSK nhân dân, Bộ Luật Lao động, Bộ Luật Hình sự …và nhiều văn bản dưới luật
Việc cần thiết phải nâng các quy phạm đạo đức, truyền thống của dân tộc đối với NCT thành quy phạm pháp luật, nhằm quy định rõ quyền và nghĩa vụ của NCT, trách nhiệm gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc phụng dưỡng, chăm sóc NCT đồng thời phát huy hơn nữa vai trò của cá nhân và tổ chức Hội NCT Khác với các luật trực tiếp liên quan đến quan hệ giữa các thành viên gia đình như “Luật Hôn nhân và gia đình”; “Luật Bình đẳng giới”; “Luật Bảo
vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em”; “Luật Phòng, chống bạo lực gia đình”…, là những đạo luật dựa trên nguyên tắc bình đẳng, luật về NCT không chỉ dựa trên các nguyên tắc pháp luật nói chung mà đặc biệt dựa trên các quy phạm đạo đức, truyền thống và văn hoá dân tộc
Năm 2000, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh NCT tạo khung pháp lý riêng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NCT và phát huy tiềm năng to lớn của họ Năm 2009, Quốc hội thông qua Luật NCT Luật NCT với
6 Chương, 31 Điều đã thể hiện rất rõ nét tính ưu việt cũng như truyền thống
"uống nước nhớ nguồn" của xã hội ta thông qua việc quy định về quyền và nghĩa vụ của NCT; trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò NCT
Ngoài những quy định về quyền và nghĩa vụ của NCT, Luật cũng quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân và các hành vi
bị cấm thực hiện đối với NCT như: Lăng mạ, ngược đãi, xúc phạm, hành hạ, phân biệt đối xử đối với NCT; xâm phạm, cản trở NCT thực hiện quyền về hôn nhân, quyền về sở hữu tài sản và các quyền hợp pháp khác; Không thực hiện nghĩa vụ phụng dưỡng NCT hay lợi dụng việc chăm sóc, phụng dưỡng NCT để vụ lợi… Luật còn dành nguyên hai chương quy định về phụng dưỡng, CSSK cho NCT trong đó đáng chú ý nhất là quy định Nhà nước, các
tổ chức, đoàn thể chúc thọ, mừng thọ theo quy định, NCT sẽ được CSSK thông qua việc định kỳ khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế, đặc biệt ưu tiên cho người đủ 80 tuổi trở lên Các bệnh viện thành lập các khoa lão khoa hoặc dành một số giường để điều trị người bệnh cao tuổi Cụ thể: Người từ đủ 80
Trang 17tuổi trở lên được ưu tiên khám trước người bệnh khác, trừ bệnh nhân cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, người khuyết tật nặng; NCT được CSSK ban đầu tại Trạm
y tế xã, phường, thị trấn nơi cư trú
Theo Luật NCT, NCT được chăm sóc đầy đủ hơn về đời sống tinh thần trong hoạt động văn hóa, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch, hưởng phúc lợi từ các công trình công cộng và giao thông công cộng do Nhà nước và
xã hội đầu tư Chính phủ đã ban hành danh mục dịch vụ mà NCT sử dụng với mức miễn, giảm nhất định cũng như quy định việc bố trí một phần ngân sách nhà nước để thực hiện bảo trợ xã hội đối với NCT, hộ gia đình nghèo có NCT như: người đủ 80 tuổi trở lên không có lương hưu và bảo hiểm xã hội sẽ được trợ cấp hàng tháng, được hưởng bảo hiểm y tế, được hỗ trợ chi phí mai táng khi chết và những ưu đãi NCT trong các hoạt động Tại Điều 16 Luật quy định: NCT được giảm giá vé, giá dịch vụ khi sử dụng một số dịch vụ theo quy định như giao thông vận tải, văn hóa, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch; Về việc thành lập và vận hành của các cơ sở chăm sóc NCT nhất là đối với NCT có hoàn cảnh khó khăn thông qua chính sách bảo trợ xã hội như: NCT thuộc hộ gia đình nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hằng tháng; Người từ đủ 80 tuổi trở lên mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, trợ cấp xã hội hằng tháng và hỗ trợ chi phí mai táng khi chết
Riêng đối với NCT thuộc hộ gia đình nghèo không có người có nghĩa vụ
và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, có nguyện vọng và được tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội thì được hưởng các chế độ như: Trợ cấp nuôi dưỡng hằng tháng bằng mức nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ
xã hội; Được hưởng bảo hiểm y tế; được cấp tư trang, vật dụng phục vụ cho sinh hoạt thường ngày, thuốc chữa bệnh thông thường, dụng cụ, phương tiện
hỗ trợ phục hồi chức năng và được hỗ trợ chi phí mai táng khi chết
Bên cạnh đó, Luật cũng quy định: Các cơ quan nhà nước cũng có trách nhiệm tạo điều kiện tốt nhất để NCT phát huy vai trò phù hợp với khả năng của mình thông qua việc bày tỏ ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị, việc trực tiếp cống hiến trong khoa học, sản xuất, kinh doanh Như vậy, ngoài nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, chăm sóc của gia đình, người thân, nhà nước có những
Trang 18cơ chế, chính sách cụ thể, phù hợp và sẽ bổ sung, tăng dần theo xu thế đà tăng trưởng của nền kinh tế để bảo đảm chăm sóc và phát huy vai trò của NCT Việc ban hành và thi hành Luật NCT là một chính sách phù hợp, bảo đảm NCT được chăm sóc và phát huy vai trò quan trọng của mình trong đời sống xã hội Mặt khác, nó thể hiện tinh thần nhân văn - truyền thống "uống nước nhớ nguồn" thấm đượm tình cảm quý báu từ ngàn đời của dân tộc ta Thực hiện cam kết Madrid, Chính phủ Việt Nam đã nhanh chóng triển khai thành lập Ủy ban Quốc gia về NCT Việt Nam theo Quyết định số 141/2004/QĐ-TTg, ngày 5/8/2004, của Thủ tướng Chính phủ Ủy ban là tổ chức liên ngành, có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ trong việc xây dựng các chủ trương, chính sách, chương trình, kế hoạch chăm sóc và phát huy vai trò của NCT; chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra và đánh giá hoạt động của các bộ, ngành, địa phương trong việc triển khai thực hiện pháp luật, chính sách của Nhà nước đối với công tác chăm sóc và phát huy vai trò NCT; tổ chức sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, các đoàn thể trong việc tuyên truyền, phổ biến và vận động nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách của của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với NCT; thực hiện chỉ đạo các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực về NCT; tổng hợp và định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ tình hình thực hiện công tác chăm sóc và phát huy vai trò NCT Ban Công tác NCT được thành lập ở cấp tỉnh và cấp huyện; cấp
xã là Ban Văn hóa - Xã hội; cơ cấu tổ chức tương tự ở trung ương, giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp phối hợp với các sở, ban, ngành, tổ chức đoàn thể tổ chức triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách của Nhà nước đối với NCT trên địa bàn
Trên phương diện lý luận và thực tế thì việc CSSK NCT có vai trò như sau: Trong điều kiện kinh tế, xã hội ở nước ta ngày càng có sự biến đổi mạnh
mẽ và nhanh chóng theo chiều hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, điều đó
đã đặt ra nhiều yêu cầu bức thiết đối với công tác quản lý Nhà nước nói chung
và đối với công tác chăm sóc NCT nói riêng Tốc độ già hóa dân số ở nước ta đang có xu hướng ngày càng nhanh hơn trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế lại đang có xu hướng chững lại Hậu quả là ở nước ta sẽ có một số lượng lớn NCT cần được chăm sóc trong ít năm tới trong khi tiềm lực về kinh tế của đất nước còn hạn chế; hệ thống các chính sách bảo hiểm còn nhiều bất cập; mạng
Trang 19lưới các cơ sở trợ giúp xã hội còn chưa nhiều Trong bối cảnh đó vai trò CSSK NCT càng trở nên quan trọng và được thể hiện qua những tác động cụ thể như sau:
Một là, CSSK cho NCT tạo nên nhiều cơ hội giảm thiểu các nguy cơ các vấn đề sức khỏe có thể gặp phải của NCT, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi tốc độ già hóa dân số diễn ra nhiều và đa phần NCT ở nước ta là những người có công với cách mạng, đất nước nên yêu cầu của chính sách an sinh xã hội chính là tạo mọi điều kiện để CSSK cho NCT trong thực tế;
Hai là, nâng cao tính độc lập của NCT khi họ được tiếp cận với các dịch
vụ CSSK của các cơ sở cung cấp dịch vụ, từ đó làm giảm sự phụ thuộc của NCT vào gia đình, người thân và cộng đồng;
Ba là, góp phần cải thiện các mối quan hệ của NCT với người thân và các mối quan hệ xã hội khác của NCT, giúp cho NCT tránh được cảm giác cô đơn, lạc lõng và tạo ra mối liên hệ bền chặt hơn giữa NCT với xung quanh, giúp NCT phát huy được khả năng đóng góp cho gia đình, cộng đồng và cho
xã hội;
Bốn là, huy động thêm các nguồn lực để phục vụ cho công tác CSSK NCT thông qua việc kết nối vận động nguồn lực và tư vấn, hướng dẫn chính sách và tạo tiền đề quan trọng trong hoàn thiện chính sách an sinh xã hội ở nước ta nói chung
1.2 Pháp luật về CSSK cho NCT
1.2.1 Khái niệm pháp luật về CSSK cho NCT
CSSK cho NCT không chỉ là trách nhiệm của một cá nhân mà là của toàn xã hội Hoạt động về CSSK cho NCT muốn đạt hiệu quả cao nhất thiết phải được pháp điển hoá thành các quy phạm, các đạo luật Mặc dù vậy, hiện nay khái niệm pháp luật CSSK cho NCT vẫn còn những cách hiểu khác nhau Tốc độ già hóa dân số nhanh sẽ phát sinh rất nhiều các vấn đề, đa phần NCT không có tích lũy vật chất, 70% vẫn phải làm việc kiếm sống, trong khi NCT rất dễ bị tổn thương với những rủi ro kinh tế, xã hội khi con cái không
có việc làm và cuộc sống ổn định Ngoài ra, cơ cấu và mô hình bệnh tật NCT nước ta hiện nay đang thay đổi theo xu hướng bệnh không lây nhiễm, các bệnh mãn tính như bệnh về xương khớp, hô hấp, tim mạch, cao huyết áp, đột
Trang 20quỵ, tiểu đường, rối loạn chuyển hóa tăng nhanh, dẫn đến chi phí chăm sóc
y tế rất cao và tất yếu tạo thêm áp lực quá tải cho các bệnh viện vốn chưa được giải quyết dứt điểm Một NCT thường mắc nhiều bệnh lý, có những đặc điểm riêng không giống với các lứa tuổi khác Chính vì vậy trong điều trị, chăm sóc NCT đòi hỏi phải có các biện pháp tổng thể
Trong những năm qua, đất nước ta đã và đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, song song với phát triển kinh tế cũng cần ban hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực ASXH Nhận thức rõ vai trò quan trọng của hoạt động CSSK cho NCT, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã hoạch định, xây dựng và ban hành hệ thống văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh Có thể nói rằng, phạm vi và đối tượng điều chỉnh cụ thể trong từng văn bản pháp luật, các quan hệ về CSSK cho NCT với luật chuyên ngành đã được
xử lý một cách hài hoà và ngày càng mang tính khả thi cao Thông qua hoạt động ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật chung và văn bản pháp luật chuyên ngành khác có quy định về nghĩa vụ CSSK cho NCT đã tạo nên nền tảng pháp lý cơ bản trong lĩnh vực ASXH, xây dựng và phát triển bền vững Dựa trên các phân tích trên tác giả đưa ra khái niệm pháp luật CSSK
cho NCT như sau: Pháp luật CSSK cho NCT là tập hợp các văn bản quy
phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình các chủ thể CSSK cho NCT Đồng thời quy định quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động CSSK cho NCT Pháp luật CSSK cho NCT được cấu thành bởi hệ thống quy phạm pháp luật được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Hiến pháp, Luật cho đến những văn bản hướng dẫn thi hành do Chính phủ, các Bộ, ban ngành hay chính quyền địa phương ban hành
Trên cơ sở đó, pháp luật CSSK cho NCT có những đặc điểm sau:
- Thứ nhất, pháp luật CSSK cho NCT ở nước ta chịu sự điều chỉnh của công ước quốc tế về an sinh xã hội và quy định pháp luật riêng điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động CSSK cho NCT nhằm hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật ASXH ở nước ta đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
- Thứ hai, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, việc xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật CSSK cho NCT ở nước ta ra đời muộn hơn so với một số lĩnh vực pháp luật khác Tuy rằng, khẳng định vai trò quan trọng của
Trang 21hoạt động CSSK cho NCT là tất yếu khách quan, cũng như yêu cầu luật hóa các công cụ pháp lý nhằm điều chỉnh việc thực hiện các biện pháp CSSK cho NCT
- Thứ ba, pháp luật CSSK cho NCT ở Việt Nam ra đời muộn hơn so với các lĩnh vực luật pháp khác nhưng pháp luật về ASXH đã có sự phát triển nhanh chóng và ngày càng hoàn thiện hơn Cùng với sự quan tâm của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về chiến lược ASXH đã và đang được hoàn thiện trên cả hai phương diện: Lý luận và thực tiễn
- Thứ tư, pháp luật CSSK cho NCT có liên quan trực tiếp đến hoạt động quản lý nhà nước nói chung, vấn đề về an sinh xã hội nói riêng Đặc biệt, pháp luật về ASXH ở nước ta có liên quan mật thiết đối với nhiều lĩnh vực pháp luật khác Hoạt động CSSK cho NCT nói chung với mục tiêu là CSSK cho NCT sống không chỉ riêng với đất nước ta mà còn là toàn cầu Nhà nước với vai trò là chủ thể thay mặt nhân dân quản lý bảo vệ những lợi ích chung của cộng đồng, do vậy phải ban hành các quy phạm pháp luật nhằm quản lý
xã hội trong đó có vấn đề ASXH
1.2.2 Nội dung pháp luật về CSSK cho NCT
Do đặc thù về tuổi tác nên sức khỏe của NCT bị giảm sút nghiêm trọng
và họ trở thành đối tượng có nhiều nguy cơ bệnh tật nhất trong xã hội Chính
vì đặc điểm này trên thực tế mà vấn đề trọng tâm nhất của chính sách đối với NCT ở nhiều quốc gia trên thế giới là CSSK cho NCT CSSK cho NCT theo khung phân tích của Tổ chức Y tế thế giới bao gồm các can thiệp tác động vào quá trình già hóa, nâng cao năng lực nội tại và khả năng hoạt động nhằm mục tiêu người già khỏe mạnh, trải suốt vòng đời
Vấn đề CSSK NCT được quy định tại Điều 12 và Điều 13 Luật NCT
20092, Thông tư Số: 96/2018/TT-BTC ngày 18 tháng 10 năm 2018 của Bộ
Tài chính, Quyết định 7618/QĐ-BYT Đề án CSSK NCT của Bộ y tế…
Cụ thể là các can thiệp về dịch vụ y tế, bao gồm các can thiệp cung cấp dịch vụ y tế dự phòng, chẩn đoán sớm và kiểm soát bệnh mãn tính; thực hiện can thiệp chăm sóc dài hạn để hỗ trợ NCT nâng cao năng lực, hành vi và chăm sóc bảo đảm nhân phẩm cho NCT ở giai đoạn cuối vòng đời, khi năng
2 Xem điều 12 và Điều 13 Luật người cao tuổi năm 2009:
Trang 22lực đã bị suy giảm nặng nề; can thiệp vào môi trường văn hóa, xã hội, bao gồm các can thiệp nhằm nâng cao năng lực, đẩy mạnh lối sống, hành vi lành mạnh cho sức khỏe một cách mạnh mẽ ngay từ giai đoạn đầu của vòng đời,
hỗ trợ NCT loại bỏ những rào cản trong tham gia hoạt động kinh tế - xã hội,
bù đắp sự mất mát về năng lực sống ở giai đoạn cuối Điều này thể hiện trên một số phương diện sau:
Đầu tiên là phải ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh cho NCT được thực hiện như sau: Trong đó người từ đủ 80 tuổi trở lên được ưu tiên khám trước người bệnh khác trừ bệnh nhân cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, người khuyết tật nặng Đồng thời phải bố trí giường nằm phù hợp khi điều trị nội trú3 Ngoài ra, vấn
đề chăm sóc y tế cho NCT phải được đảm bảo nhằm tạo điều kiện quan trọng CSSK cho NCT Bên cạnh đó, phát huy hơn nữa việc CSSK cho NCT tại cộng đồng theo quy định tại Điều 12 Luật NCT 2009
3 Xem Khoản 1 Điều 11 Luật NCT 2009
Trang 23Ngoài ra, phải đảm bảo việc CSSK ban đầu tại nơi cư trú cho NCT nói chung, điều này quy định tại Điều 13 Luật NCT 2009 Trong đó, vai trò của Trạm y tế xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phải triển khai các hình thức tuyên truyền, phổ biến kiến thức phổ thông về CSSK; hướng dẫn NCT kỹ năng phòng bệnh, chữa bệnh và tự CSSK Các Trạm y tế cũng phải lập hồ sơ theo dõi, quản lý sức khỏe NCT, bên cạnh đó, phải tiến hành khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với chuyên môn cho NCT Chú trọng thêm công tác phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trên tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ cho NCT Cùng với các yêu cầu về chăm sóc NCT phải có sự cắt cử các cán
bộ y tế đến khám bệnh, chữa bệnh tại nơi cư trú đối với NCT cô đơn bị bệnh nặng không thể đến khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm hỗ trợ việc đưa người bệnh quy định tại khoản này tới cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo đề nghị của trạm y tế xã, phường, thị trấn Bên cạnh đó chú trọng công tác khuyến khích
tổ chức, cá nhân khám bệnh, chữa bệnh cho NCT tại nơi cư trú nhằm tăng cường hơn nữa công tác quản lý nhà nước về CSSK cho NCT nói chung trong thực tế.4
* Quyền được yêu cầu đáp ứng các yêu cầu về chăm sóc y tế
NCT là đối tượng được hướng đến việc CSSK trong thực tế thì phải có các yêu cầu nhằm đáp ứng với yêu cầu về CSSK cho NCT nói chung Điều này được đặt ra với các bệnh viện, trừ bệnh viện chuyên khoa nhi, có trách nhiệm như: Tổ chức khoa lão khoa hoặc dành một số giường để điều trị người bệnh là NCT Đây là khoa dành riêng cho NCT và áp dụng các bệnh nhân là NCT nói chung Bên cạnh việc tổ chức lão khoa thì cần phải hình thành các hoạt động nhằm phục hồi sức khoẻ cho người bệnh là NCT sau các đợt điều trị cấp tính tại bệnh viện và hướng dẫn tiếp tục điều trị, chăm sóc tại gia đình Đồng thời phải kết hợp các phương pháp điều trị y học cổ truyền với y học hiện đại, hướng dẫn các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc ở tuyến y
tế cơ sở đối với người bệnh là NCT Quá trình thực hiện thì các bệnh viện được khuyến khích CSSK miễn phí cho NCT Các bệnh viện thành lập khoa Lão khoa khi có đủ điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế và nhân lực; lập sổ theo dõi các bệnh mạn tính cho NCT trong hồ sơ theo dõi, quản lý sức
4 Luật người cao tuổi 2009
Trang 24khỏe NCT Đối với các trạm y tế xã, phường, thị trấn tổ chức khám bệnh, chữa bệnh cho NCT tại trạm y tế, hướng dẫn NCT các kỹ năng phòng bệnh, chữa bệnh và tự CSSK, đồng thời lập hồ sơ theo dõi, quản lý sức khỏe, quản
lý bệnh mạn tính cho NCT tại địa phương, hướng dẫn phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng NCT bị tàn tật để phòng ngừa và phục hồi các di chứng do chấn thương, tai nạn hoặc do các bệnh tai biến mạch máu não, bệnh mạn tính, bệnh nghề nghiệp và các bệnh khác Bên cạnh đó, trạm y tế sẽ cử cán bộ y tế đến khám bệnh, chữa bệnh tại nơi cư trú đối với NCT cô đơn, bị bệnh nặng không thể đến khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
* Quyền được nghỉ ngơi của NCT
Liên quan đến sức khỏe NCT thì vai trò của hoạt động nghỉ ngơi được đánh giá quan trọng Quá trình này đã bắt đầu ngay từ khi con người sinh ra
và liên tục cho đến chết Đó là quá trình suy yếu các cấu trúc và chức năng của cơ thể, một số biểu hiện như giảm chuyển hóa năng lượng nên NCT hay
bị lạnh, cảm ốm Một NCT thường mắc nhiều bệnh lý, có những đặc điểm riêng không giống lứa tuổi khác Với tốc độ già hóa dân số nhanh sẽ phát sinh rất nhiều các vấn đề Chính vì vậy trong điều trị, chăm sóc NCT đòi hỏi phải
có các biện pháp tổng thể CSSK của NCT còn nhiều thách thức bởi lẽ sức khỏe là tiêu chí quan trọng nhất khi phân tích thực trạng về phúc lợi của NCT Đây cũng là nền tảng quan trọng cho quá trình nghỉ ngơi của người già, từ đó đảm bảo sức khỏe cho NCT trong thực tế
CSSK cho NCT là một chế định pháp lý quan trọng, là cơ sở cần thiết trong việc thiết lập và hoàn chỉnh một hệ thống pháp luật về ASXH ở nước ta hiện nay Việc xác định đặc điểm, tính tất yếu, những yếu tố đảm bảo trong việc xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này sẽ hỗ trợ một phần lớn trong việc thiết lập các quy phạm pháp luật chặt chẽ nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật về lĩnh vực ASXH tại Việt Nam Cùng với thời gian thì những quy định của việc xử lý vi phạm pháp luật ASXH đã được thay đổi nhằm phù hợp hơn với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta Qua đó, đảm bảo hoạt động thực hiện pháp luật là quá trình đưa pháp luật vào đời sống, áp dụng những quy định trong văn bản vào hiện thực, góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Chương 1 của Luận văn đã phân tích một cách khái quát về cơ sở lý luận về việc CSSK cho NCT ở nước ta hiện nay, bao
Trang 25gồm: Khái niệm và đặc điểm về NCT, sự cần thiết phải CSSK cho NCT và pháp luật về CSSK NCT Trên cơ sở lý luận về CSSK cho NCT ở Chương 1, tác giả vận dụng thực tiễn tại quận Long Biên, thành phố Hà Nội, đánh giá tình hình thi hành pháp luật, kết quả đạt được trong việc áp dụng và những hạn chế, khó khăn gặp phải trong quá trình thi hành, từ đó tìm ra nguyên nhân của những kết quả đạt được cũng như nguyên nhân của những hạn chế được trình bày trong Chương 2 của luận văn
Trang 26Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CSSK CHO NCT
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Các quy định của pháp luật về CSSK cho NCT
Đảng và Nhà nước đã thể hiện sự quan tâm đến cuộc sống cũng như các vấn đề về sức khỏe, việc làm của NCT, những điều đó được thể hiện trong các văn bản, pháp luật đã ban hành nhằm đảm bảo quyền lợi cũng như tạo điều kiện cho NCT có cuộc sống tốt hơn Sự quan tâm, tôn trọng NCT không chỉ đến ngày hôm nay mới giáo dục cho các thế hệ mà điều đó đã được thể hiện rất rõ trong các văn bản từ thời dựng nước và giữ nước, nó đã trở thành truyền thống tốt đẹp từ bao đời nay của dân tộc Việt Nam Trong các cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước, NCT luôn đóng vai trò quan trọng, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã từng nói: “Trách nhiệm của các cụ phụ lão chúng ta đối với nhiệm
vụ đất nước thật là trọng đại Đất nước hưng thịnh do phụ lão gây dựng, Đất nước tồn tại do phụ lão giúp sức Nước mất phụ lão cứu, nước suy sụp phụ lão phù trì” Ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ
trương thành lập “Phụ lão cứu quốc hội” Nhưng cùng với sự phát triển của xã hội, kinh tế đã ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các thế hệ, sự mâu thuẫn trong cuộc sống, cách sống, cách làm việc, lối suy nghĩ, sự thay đổi của mô hình gia đình tất cả đã ảnh hưởng đến cuộc sống NCT Để NCT có cuộc sống tốt hơn, không bị cô đơn, Nhà nước đã ban hành Hiến pháp và Luật Hiện nay, như đã trình bày thì nội dung về CSSK cho NCT ở nước ta được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật NCT và được quy định tại Điều 12 và Điều 13 của Luật NCT Trong đó, tập trung vào một số vấn đề chủ yếu:
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 Luật NCT 2009 thì việc ưu tiên khám, chữa bệnh cho NCT được thực hiện như sau:
- Người từ đủ 80 tuổi trở lên được ưu tiên khám trước người bệnh khác trừ bệnh nhân cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, người khuyết tật nặng;
- Bố trí giường nằm phù hợp khi điều trị nội trú; Bên cạnh đó, trừ bệnh viện chuyên khoa nhi ra thì các bệnh viện còn có trách nhiệm sau đây:
- Tổ chức khoa lão khoa hoặc dành một số giường để điều trị người bệnh
là NCT;
Trang 27- Phục hồi sức khỏe cho người bệnh là NCT sau các đợt điều trị cấp tính tại bệnh viện và hướng dẫn tiếp tục điều trị, chăm sóc tại gia đình;
- Kết hợp các phương pháp điều trị y học cổ truyền với y học hiện đại, hướng dẫn các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc ở tuyến y tế cơ sở đối với người bệnh là NCT
- Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân khám bệnh, chữa bệnh miễn phí cho NCT
Khâu CSSK ban đầu tại nơi cư trú cũng được quy định trong Luật NCT với trách nhiệm của từng chủ thể liên quan Trạm y tế xã, phường, thị trấn có trách nhiệm triển khai các hình thức tuyên truyền, phổ biến kiến thức phổ thông về CSSK; hướng dẫn NCT kỹ năng phòng bệnh, chữa bệnh và tự CSSK; lập hồ sơ theo dõi, quản lý sức khỏe NCT; khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với chuyên môn cho NCT; phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trên tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ cho NCT Không những vậy, trạm y tế xã, phường, thị trấn cử cán bộ y tế đến khám bệnh, chữa bệnh tại nơi
cư trú đối với NCT cô đơn bị bệnh nặng không thể đến khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm hỗ trợ việc đưa người bệnh tới cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo
đề nghị của trạm y tế xã, phường, thị trấn
Thông tư 35/2011/TT-BYT ngày 15/10/2011 của Bộ y tế hướng dẫn thực hiện CSSK NCT còn quy định chi tiết nội dung CSSK NCT tại cộng đồng Trong đó tuyên truyền phổ biến kiến thức về rèn luyện thân thể, tăng cường sức khỏe và phòng bệnh, đặc biệt là các bệnh thường gặp ở NCT để NCT tự phòng bệnh Tùy theo điều kiện của từng địa phương để lựa chọn hình thức tuyên truyền phù hợp như tài liệu, sách, tờ rơi, áp phích, băng rôn, khẩu hiệu, hội thảo, nói chuyện và các phương tiện truyền thông tin đại chúng; Hướng dẫn NCT các kỹ năng phòng bệnh, chữa bệnh và tự CSSK; Tổ chức khám sức khỏe để lập hồ sơ theo dõi sức khỏe cho NCT Khuyến khích tổ chức mạng lưới bác sĩ gia đình và dịch vụ CSSK tại nhà cho NCT; Khám sức khỏe định
kỳ NCT được thực hiện ít nhất một lần một năm (01 lần/năm); Khám bệnh, chữa bệnh cho NCT tại trạm y tế xã, phường, thị trấn và tại nơi cư trú của NCT; Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng NCT bị tàn tật để phòng ngừa
Trang 28và phục hồi các di chứng do chấn thương, tai nạn hoặc do các bệnh tai biến mạch máu não, bệnh mạn tính, bệnh nghề nghiệp và các bệnh khác
Ngoài ra, trách nhiệm thực hiện CSSK cho NCT tại cộng đồng thuộc về
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn Các cơ quan này hỗ trợ chi phí đi lại từ trạm y tế xã đến nơi ở của NCT (đi và về) cho cán bộ y tế để đến khám bệnh, chữa bệnh tại nhà cho NCT đối với trường hợp NCT cô đơn bị bệnh nặng không thể đến khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; Hỗ trợ chi phí hoặc phương tiện đi lại cho NCT cô đơn, bị bệnh nặng phải đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo đề nghị của trạm y tế xã, phường, thị trấn; Trạm y
tế xã triển khai thực hiện CSSK cho NCT tại cộng đồng theo quy định, cử cán
bộ y tế đến khám bệnh, chữa bệnh tại nơi cư trú đối với NCT cô đơn, bị bệnh nặng không thể đến khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Hằng năm, lập kế hoạch, dự trù kinh phí CSSK cho NCT tại địa phương, bao gồm cả khám sức khỏe định kỳ Người nhà, người thân của NCT có trách nhiệm chủ động CSSK NCT; phối hợp với tình nguyện viên và cán bộ y tế trong CSSK NCT NCT có trách nhiệm tự bảo vệ, CSSK; phối hợp với tình nguyện viên và cán bộ y tế để CSSK cho bản thân Khuyến khích cán bộ y tế nghỉ hưu tham gia tình nguyện viên hoặc tham gia tập huấn cho tình nguyện viên về kiến thức cần thiết trong CSSK NCT
Với Hội NCT xã, phường, thị trấn: Tham mưu cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và phối hợp với trạm y tế xã tổ chức mạng lưới tình nguyện viên để CSSK NCT tại nhà; Tổ chức các hình thức câu lạc bộ NCT như: Câu lạc bộ dưỡng sinh, câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời Tùy điều kiện và yêu cầu của NCT, Hội NCT xã, phường, thị trấn phối hợp với trạm y tế xã tổ chức các câu lạc bộ của những người mắc các bệnh mạn tính thường gặp như bệnh đái tháo đường, bệnh tăng huyết áp, bệnh tim mạch, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản, bệnh sa sút trí tuệ và một số bệnh thường gặp khác
Với NCT có bệnh mạn tính, các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa và các bệnh viện khác lập sổ theo dõi các bệnh mạn tính cho NCT trong hồ sơ theo dõi, quản lý sức khỏe NCT; Trạm y tế xã có trách nhiệm lập hồ sơ theo dõi, quản lý sức khỏe, quản lý bệnh mạn tính cho NCT tại địa phương theo mẫu quy định của Bộ Y tế
Trang 29Chính sách CSSK cho NCT còn được thể hiện trong Đề án CSSK NCT giai đoạn 2017-2025 được ban hành vào ngày 30/12/2016 của Bộ trưởng Bộ
Y tế Theo đó, Bộ Y tế đặt mục tiêu đến năm 2025 sẽ đạt 100% NCT hoặc người thân trực tiếp chăm sóc NCT biết thông tin về già hóa dân số, quyền được CSSK của NCT và các kiến thức CSSK NCT; 80% NCT có khả năng tự chăm sóc, được cung cấp kiến thức, kỹ năng tự CSSK; 80% NCT được khám sức khỏe định kỳ ít nhất một lần/năm và được lập hồ sơ theo dõi, quản lý sức khỏe; 90% NCT khi bị bệnh được tiếp cận dịch vụ CSSK; 100% bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến tỉnh (trừ bệnh viện chuyên khoa Nhi) có tổ chức Khoa Lão hoặc dành một số giường để điều trị người bệnh là NCT; khuyến khích thành lập mới Bệnh viện Lão khoa tại các thành phố trực thuộc trung ương Đặc biệt, 100% NCT phải có thẻ bảo hiểm y tế Chế độ bảo hiểm y tế dành cho NCT cũng được quy định rõ trong chính sách NCT, cụ thể là được ghi nhận trong Luật bảo hiểm y tế Quỹ bảo hiểm y tế sẽ thanh toán 95% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội Luật NCT cũng quy định về việc ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh cho NCT, bao gồm: (1) người từ đủ 80 tuổi trở lên được ưu tiên khám trước người bệnh khác trừ bệnh nhân cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, người khuyết tật nặng; (2) bố trí giường nằm phù hợp khi điều trị nội trú
Chính sách chăm sóc NCT trong hoạt động văn hoá, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch, sử dụng công trình công cộng và tham gia giao thông công cộng Ở chính sách này, Nhà nước đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở văn hóa, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần và rèn luyện sức khỏe của NCT Nhà nước và xã hội tạo điều kiện thuận lợi để NCT được học tập, nghiên cứu
và tham gia hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch thông qua nhiều biện pháp Thứ nhất là cung cấp thông tin, tài liệu, người hướng dẫn để NCT tham gia học tập, nghiên cứu Thứ hai là hỗ trợ, hướng dẫn NCT tham gia hoạt động văn hóa, giải trí du lịch, luyện tập dưỡng sinh và các hoạt động thể dục, thể thao khác phù hợp với sức khỏe và tâm lý Thứ ba là hỗ trợ địa điểm, dụng cụ, phương tiện và cơ sở vật chất khác phù hợp với hoạt động của NCT Thứ tư là khuyến khích doanh nghiệp, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hoá phù hợp với nhu cầu của NCT Ngoài ra, việc xây dựng mới
Trang 30hoặc cải tạo khu chung cư, công trình công cộng khác phải thiết kế sao cho phù hợp với đặc điểm, nhu cầu sử dụng của NCT Mặt khác, khi tham gia giao thông công cộng, NCT được giúp đỡ, sắp xếp chỗ ngồi thuận tiện NCT còn được giảm giá vé, giá dịch vụ khi sử dụng một số dịch vụ theo quy định
2.2 Tổ chức thực hiện Pháp luật về CSSK cho NCT
2.2.1 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về CSSK cho NCT
Vấn đề về CSSK cho NCT hiện nay đã và đang được Nhà nước ta quan tâm, chú trọng trong giai đoạn xây dựng và phát triển hiện nay Hiện nay, hầu hết quốc gia trên thế giới đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về lĩnh vực này một cách hoàn chỉnh nhất Có thể kể đến hệ thống văn bản pháp luật của Hoa Kỳ, Nhật Bản hay một số quốc gia láng giềng của nước ta như Trung Quốc Những quy định về hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động CSSK cho NCT đã đáp ứng, thậm chí vượt qua nhiều các tiêu chuẩn nhằm phục vụ cho quá trình xây dựng các đất nước trong giai đoạn hiện nay Đối với vấn đề về CSSK cho NCT đã và đang trở thành vấn đề nhận được nhiều quan tâm của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và toàn xã hội Nhận thức được tầm quan trọng của lĩnh vực này, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước cũng như điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội phát sinh thì pháp luật ngày càng được sửa đổi, bổ sung một cách hoàn thiện hơn, trong đó
có nội dung về CSSK cho NCT
Ở nước ta hiện nay, tại Hiến pháp 2013 - đạo luật cơ bản của nhà nước
có giá trị pháp lý cao nhất quy định về CSSK cho NCT là cơ sở, nền tảng pháp lý cơ bản cho văn bản luật và dưới luật triển khai chi tiết quy định về vấn đề này
Cùng với Hiến pháp, các văn bản luật cũng quy định theo hướng ngày càng hoàn thiện và phù hợp hơn về nội dung CSSK cho NCT, đáp ứng với yêu cầu chính trị, quá trình xây dựng kinh tế - xã hội ở nước ta trong tình hình mới
- Luật NCT 2009;
- Nghị định số 06/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NCT;
Trang 31- Thông tư số 96/2018/TT-BTC ngày 18/10/2018 quy định quản lý và sử dụng kinh phí CSSK ban đầu cho NCT tại nơi cư trú; chú trọng việc mừng thọ; ưu đãi tín dụng và biểu dương, khen thưởng NCT
- Quyết định số 1781/QĐ-TTg ngày 22/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về NCT Việt Nam giai đoạn
2012 - 2020 với mục tiêu tổng quát là phát huy vai trò của NCT; nâng cao chất lượng chăm sóc NCT; đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động chăm sóc và phát huy vai trò NCT phù hợp với tiềm năng và trình độ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Trên cơ sở tuân thủ quy định của sự vận động khách quan của đất nước trong tình hình mới, Việt Nam đã xây dựng và ban hành những quy định nhằm điều chỉnh vấn đề CSSK cho NCT phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn ở nước ta Hình thành nền tảng pháp lý cơ bản trong việc thực thi pháp luật về CSSK cho NCT ở Việt Nam, góp phần không nhỏ trong quá trình xây dựng
và phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay Như vậy, có thể thấy pháp luật quy định khá thống nhất và xuyên suốt về vấn đề CSSK cho NCT Điều này đã thể hiện sự quan tâm thường xuyên của Đảng và Nhà nước khi khẳng định vai trò quan trọng của ASXH khi xây dựng đất nước Đồng thời, cùng với hoạt động ban hành các văn bản hướng dẫn nêu trên đã giúp cho quá trình áp dụng những quy định của pháp luật về CSSK cho NCT
ở Việt Nam thực hiện một cách hoàn thiện hơn
2.2.2 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển và đảm bảo chất lượng CSSK cho NCT
Việc quy hoạch chiến lược, kế hoạch phát triển và đảm bảo chất lượng CSSK cho NCT là việc các cơ quan chức năng sắp xếp bố trí các cơ sở tiến hành hoạt động thực hiện trong lĩnh vực ASXH có mục tiêu, có định hướng phải được định sẵn phù hợp với các tiêu chí đề ra Việc quy hoạch và thực hiện quản lý nhằm đảm bảo quyền lợi của NCT trên khắp cả nước nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan quản lý và là trách nhiệm và quyền lợi trong thực tiễn nói chung
Việc xây dựng quy hoạch chiến lược, kế hoạch và đảm bảo chất lượng CSSK cho NCT ở nước ta được xây dựng với mục tiêu là: Xây dựng một hệ thống CSSK cho NCT phù hợp với sự phát triển nền kinh tế cơ sở quản lý nhà
Trang 32nước về CSSK cho NCT ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Chiến lược CSSK cho NCT giữ một vị trí quan trọng là khâu đột phá trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, đồng thời là mục tiêu, động lực của chiến lược phát triển kinh tế xã hội
Chính quyền cấp tỉnh theo quy định hiện nay là chủ thể hoạch định chiến lược ASXH, thực hiện quy hoạch, kế hoạch hóa CSSK cho NCT trong phạm
vi của các địa phương Chiến lược ASXH được xây dựng trên cơ sở dự báo nhu cầu ASXH cần phải có để thích ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế xã hội nói chung
Bằng chức năng hoạch định chiến lược và thực hiện kế hoạch hóa ASXH
mà chính quyền cấp tỉnh/thành phố thực hiện vai trò của người tổ chức trong chuẩn bị cung cấp ASXH cho mỗi giai đoạn của quá trình phát triển Chiến lược CSSK cho NCT phải xác định được những chỉ tiêu chính phù hợp với quy hoạch, định hướng phát triển trên địa bàn toàn tỉnh, gắn với chiến lược quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm Chiến lược ASXH đúng đắn phải phát huy tối đa nguồn lực con người, đồng thời phản ánh ASXH là động lực, đối tượng và là mục tiêu cuối cùng của công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước,
là cơ sở của chiến lược hoàn thiện nhằm chuẩn bị ASXH đáp ứng cho từng thời kỳ phát triển kinh tế xã hội nói chung Để có thể xây dựng được chiến lược, quy hoạch, kế hoạch CSSK cho NCT phù hợp với điều kiện, đặc điểm của từng tỉnh/thành phố đòi hỏi các ban, ngành có liên quan phải nghiên cứu, điều tra, tổng hợp, công bố và quản lý các cơ sở dữ liệu về lĩnh vực ASXH
Để thực hiện nội dung này các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chịu trách nhiệm thống kê các thông tin, số liệu hành chính; điều tra, nghiên cứu về cơ
sở dữ liệu; quản lý và công bố để các chủ thể trong xã hội đều có thể tiếp cận
và sử dụng nguồn số liệu này để phục vụ cho các hoạt động kinh tế - xã hội Việc quy hoạch xây dựng kế hoạch CSSK cho NCT cần phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo định hướng lâu dài, đáp ứng các yêu cầu về tuyển dụng, đào tạo, phát triển, các chế độ đãi ngộ Việc quy hoạch, kế hoạch phát triển và đảm bảo chất lượng CSSK cho NCT phải căn
cứ vào điều kiện thực tế của địa phương, đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực,
có bước đi phù hợp để giải quyết những yêu cầu trước mắt và định hướng lâu
Trang 33dài, làm thay đổi thói quen về lĩnh vực ASXH trong quá trình xây dựng và phát triển hiện nay
2.2.3 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện các quy chuẩn và các tiêu chí đánh giá CSSK cho NCT
Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay thì CSSK cho NCT rất được quan tâm về mọi mặt Các nghị quyết, chỉ thị của Đảng cũng như các nội dung có liên quan được tổ chức triển khai thực hiện kịp thời, sâu rộng trên thực tế Việc triển khai các chủ trương nói chung là điều kiện quan trọng trong quá trình thực hiện các chính sách về ASXH nói chung về xây dựng và chỉ đạo thực hiện các quy chuẩn và các tiêu chí đánh giá CSSK cho NCT trong thực tế Cùng với việc triển khai các công tác nhằm định hướng phát triển cho hoạt động xây dựng và chỉ đạo thực hiện các quy chuẩn và các tiêu chí đánh giá CSSK cho NCT trong thực tế cũng nhấn mạnh việc áp dụng
và thực hiện trong thực tế Về tổng thể, công tác xây dựng và chỉ đạo thực hiện các quy chuẩn và các tiêu chí đánh giá CSSK cho NCT trong thực tế phải được đặt ra là công việc thường xuyên, được quan tâm đặc biệt, có như vậy mới thực sự mang lại hiệu quả Công tác lập xây dựng và chỉ đạo thực hiện các quy chuẩn và các tiêu chí đánh giá CSSK cho NCT trong thực tế là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đưa ra các công việc phải làm thông qua bản kế hoạch nhằm cụ thể hóa công tác CSSK NCT vào thực tiễn Với vai trò quan trọng của các QĐPL là nền tảng phát huy hơn nữa vai trò của xây dựng và chỉ đạo thực hiện các quy chuẩn và các tiêu chí đánh giá CSSK cho NCT trong thực tế ở nước ta hiện nay Thông qua việc ban hành và tiến hành thực hiện các quy chuẩn, tiêu chí đánh giá để thực hiện hợp lý trong thực tế, phù hợp với sự phát triển của chính sách ASXH và đáp ứng với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nói chung Từ đó, có thể xem xét được vai trò quan trọng của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động quản lý Nhà nước về xây dựng và chỉ đạo thực hiện các quy chuẩn và các tiêu chí đánh giá CSSK cho NCT trong thực tế Cơ quan quản lý Nhà nước với các hình thức tuyên truyền, chỉ đạo, thực hiện và tiến hành hoạt động kiểm tra, giám sát, từ đó, chỉ rõ những kết quả đạt được và những hạn chế yếu kém trong quá trình áp dụng trong thực tiễn Hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật
đã được Đảng, Nhà nước chỉ đạo hoàn thiện Chính Phủ là cơ quan thống nhất
Trang 34ở Trung ương, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội phối hợp với các cơ quan
có liên quan trong việc tạo ra hệ thống pháp lý hoàn thiện đáp ứng với công tác quản lý nhà nước về xây dựng và chỉ đạo thực hiện các quy chuẩn, các tiêu chí đánh giá CSSK cho NCT trong thực tế để từ đó đảm bảo cho việc thực hiện tốt chế độ chính sách đối với NCT trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Quá trình ban hành xây dựng và chỉ đạo thực hiện các quy chuẩn và các tiêu chí đánh giá CSSK cho NCT trong thực tế tại mỗi địa phương sẽ được cụ thể hóa thông qua chiến lược phát triển chính sách an sinh xã hội trong một giai đoạn nào đó cụ thể và mang tính định hướng trong một thời gian dài diễn
ra tại các địa phương Đẩy mạnh công tác tuyên truyền các quan điểm, đường lối của Đảng, Luật NCT và các văn bản chính sách liên quan NCT đến các cấp, các ngành, gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân NCT để nâng cao nhận thức vai trò, trách nhiệm trong các hoạt động chăm sóc và phát huy vai trò NCT Nêu gương NCT tiêu biểu và những tập thể, cá nhân, tổ chức trong
và ngoài nước có những hoạt động hiệu quả trong việc thực hiện công tác chăm sóc và phát huy vai trò NCT Cùng với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định về an sinh xã hội và sử dụng an sinh xã hội, cơ quan quản
lý nhà nước trên cơ sở những định hướng phát triển kinh tế - xã hội, sử dụng
và phát triển nguồn nhân lực trong đó có NCT cần cụ thể hóa thành các chính sách để phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình xây dựng và phát triển tại các địa phương trong giai đoạn hiện nay
2.2.4 Tổ chức bộ máy áp dụng các quy định về CSSK cho NCT và công tác thanh tra kiểm tra
Đây là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý nhà nước đối với CSSK cho NCT Việc tổ chức thực hiện phụ thuộc rất nhiều vào
tổ chức bộ máy, cách thức tiến hành và các nguồn lực để phát triển CSSK cho NCT Để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với CSSK cho NCT, cần tăng cường bộ máy quản lý nhà nước về công tác này đủ mạnh từ Trung ương đến địa phương, bổ sung thêm lực lượng, tăng cường chất lượng của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý Vấn đề quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực được tổ chức thực hiện bằng một bộ máy hợp lý, hiệu quả sẽ là tiền đề quan trọng để đưa các chính sách, pháp luật về phát triển CSSK cho NCT đi vào
Trang 35cuộc sống, tạo ra sự thay đổi về diện mạo của CSSK cho NCT cả về số lượng
và chất lượng
Theo quy định của Luật NCT thì các cơ quan quản lý Nhà nước về NCT
có thẩm quyền được quy định tại Điều 28 như sau: :
1 Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về công tác NCT
2 Bộ lao động Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác NCT
3 Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có trách nhiệm phối hợp với Bộ lao động Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà nước về công tác NCT
4 Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về công tác NCT; lồng ghép hoạt động về NCT vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia chăm sóc, phát huy vai trò NCT
Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, thanh tra quản lý nhà nước về CSSK cho NCT là hoạt động của các ngành chức năng được nhà nước trao quyền nhằm mục đích kiểm tra đối với đối với các cơ sở quản lý nhà nước về CSSK cho NCT tập trung và cơ sở quản lý nhà nước về CSSK cho NCT Kiểm tra trước và sau khi quản lý nhà nước về CSSK cho NCT để phát hiện các hành
vi vi phạm và kịp thời xử lý, đảm bảo quyền và lợi ích của NCT trong thực tế Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra, giám sát việc quản
lý nhà nước về CSSK cho NCT ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã chủ động thành lập các đoàn Thanh tra, tổ chức các cuộc thanh kiểm tra việc tiến hành quản lý nhà nước về CSSK cho NCT đạt được hiệu quả cao hay không? Quá trình áp dụng các quy định về CSSK cho NCT trên thực tế được thực hiện một cách nghiêm túc hay không ? Quá trình kiểm tra, thanh tra sau đó sẽ tiến hành xử phạt các hành vi
vi phạm để nộp vào Ngân sách nhà nước và ban hành các kiến nghị khắc phục
vi phạm nhằm làm tốt hơn các quy định về kiểm tra, giám sát về hoạt động quản lý nhà nước về CSSK cho NCT này trong thực tế
Trang 362.3 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội của quận Long Biên, thành phố
Hà Nội
2.3.1 Khái quát về hệ thống các dịch vụ CSSK cho NCT trên địa bàn
Long Biên là một quận nội thành nằm ở phía Đông thành phố Hà Nội,
Việt Nam Quận Long Biên được thành lập theo Nghị định số
132/2003/NĐ-CP Phía Bắc là huyện Đông Anh có ranh giới tự nhiên là sông Đuống, phía
Đông giáp một số xã của huyện Gia Lâm, phía Tây giáp quận Tây Hồ, Ba
Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai với ranh giới tự nhiên là sông
Hồng Đây là quận có tỉ lệ đất phi nông nghiệp gần 82% Các phường trong
quận gần như giữ nguyên tên và hiện trạng của nó Riêng thị trấn Gia Lâm đổi
thành phường Ngọc Lâm và xã Hội Xá đổi thành phường Phúc Lợi Quận
Long Biên có diện tích hơn 6.038ha, dân số tính đến 30/6/2019 là 318.996
người sinh sống tại 14 phường/292 tổ dân phố (trong đó có: 31.938 NCT;
29.556 trẻ em dưới 5 tuổi; 5.955 phụ nữ có thai; 84.005 học sinh)
Trong những năm qua, trên địa bàn quận Long Biên tình hình CSSK
người dân được chú trọng Chính sách CSSK NCT là nội dung chính của
chính sách đối với NCT Kết quả đánh giá chính sách CSSK ban đầu NCT có
được từ khảo sát đối tượng NCT được thể hiện ở bảng dưới đây với 4 mức từ
1 đến 4 với mức 1 là mức không tốt, mức 2 là trung bình, mức 3 là tốt và mức
4 là mức tốt nhất, số phiếu khảo sát phát ra là 100 phiếu và thu về là 100
phiếu, thể hiện ở bảng đánh giá dưới đây
Bảng 2.1 Đánh giá chính sách CSSK ban đầu của NCT - khảo sát từ NCT
(Nguồn: Khảo sát tại địa bàn nghiên cứu tháng 5 năm 2020)
Trạm y tế phường có đảm bảo trách nhiệm triển
khai các hình thức tuyên truyền, phổ biến kiến thức
Trang 37Công tác khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với
chuyên môn cho NCT ở Trạm y tế; 69 21 7 3 Trạm y tế phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
tuyến trên tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ cho
NCT
54 23 11 12
Vấn đề thụ hưởng dịch vụ tư vấn về dinh dưỡng của
Hình 2.1 Biểu đồ đánh giá chính sách CSSK ban đầu của NCT - khảo sát
từ NCT thể hiện ở hình dưới đây:
Theo bảng 2.1 và hình 2.1 trên, kết quả khảo sát cho thấy về mặt chính sách, chính sách CSSK ban đầu dành cho NCT được thể hiện tương đối đầy
đủ với vai trò quan trọng của Trạm y tế cấp phường Thế nhưng trên thực tế việc thực hiện chính sách còn hạn chế, theo đánh giá của NCT tại quận Long Biên, những dịch vụ liệt kê trong bảng ở trên chưa được đánh giá cao Ở tất cả các khía cạnh mức độ rất tốt và tốt đều rất thấp Chỉ có một khía cạnh duy nhất là công tác lập hồ sơ theo dõi, quản lý sức khỏe NCT đạt cao nhất so với
các tiêu chí khác nhưng cũng chỉ với 35% cho tất cả hai mức là tốt và rất tốt
Công tác lập hồ
sơ theo dõi, quản
lý sức khỏe người cao tuổi;
Công tác khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với chuyên môn cho người cao tuổi ở Trạm y tế;
Trạm ý tế phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trên tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ cho người cao tuổi
Vấn đề thụ hưởng dịch vụ tư vấn về dinh dưỡng của Ông/bà ở địa phương
Biểu đồ đánh giá chính sách CSSK ban đầu của
người cao tuổi
Mức độ 1 Không tốt Mức độ 2 Trung bình Mức độ 3 Tốt Mức độ 4 Tốt nhất