Theo các văn bản pháp luật hiện hành, tham gia vào hoạt động kinh doanh còn có hợp tác xã được điều chỉnh bởi Luật Hợp tác xã năm 2012; hộ kinh doanh được điều chỉnh bởi Nghị định 78/201
Trang 1MỤC LỤC
Contents
LỜI NÓI ĐẦU 9
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỦ THỂ KINH DOANH VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHỦ THỂ KINH DOANH 10
1 Khái quát về chủ thể kinh doanh 10
1.1 Khái niệm chủ thể kinh doanh 10
1.2 Đặc điểm cơ bản của chủ thể kinh doanh 20
1.3 Phân loại chủ thể kinh doanh 23
2 Khái quát pháp luật về chủ thể kinh doanh 29
2.1 Khái niệm pháp luật về chủ thể kinh doanh 29
2.2 Cấu trúc pháp luật về chủ thể kinh doanh 30
3 Quy chế pháp lý chung về chủ thể kinh doanh 32
3.1 Quyền tự do kinh doanh của chủ thể kinh doanh 32
3.2 Hình thức pháp lý phổ biến của chủ thể kinh doanh 36
3.3 Các điều kiện trở thành chủ thể kinh doanh 45
3.4 Đăng ký kinh doanh 49
3.5 Tổ chức lại 53
3.6 Tạm ngừng, đình chỉ hoạt động, chấm dứt kinh doanh 62
3.7 Giải thể doanh nghiệp, hợp tác xã 64
Câu hỏi hướng dẫn ôn tập, định hướng thảo luận Chương I 67
Tài liệu tham khảo gợi ý đọc thêm Chương I 67
CHƯƠNG II: PHÁP LUẬT VỀ HỘ KINH DOANH VÀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 68
1 Pháp luật về hộ kinh doanh 68
Trang 21.1 Khái niệm, đặc điểm pháp lý của hộ kinh doanh 68
1.2 Quyền và nghĩa vụ của hộ kinh doanh 74
2 Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân 78
2.1 Khái niệm, đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp tư nhân 78
2.2 Tổ chức, quản lý doanh nghiệp tư nhân 88
2.3 Quyền và nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp tư nhân 89
Câu hỏi hướng dẫn ôn tập, định hướng thảo luận Chương II 95
Tài liệu tham khảo gợi ý đọc thêm Chương II 95
CHƯƠNG IV: PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY 96
PHẦN I PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY HỢP DANH 96
1 Khái niệm và đặc điểm pháp lý của công ty hợp danh 96
1.1 Khái niệm công ty hợp danh 96
1.2 Đặc điểm chung của công ty hợp danh 99
2 Quy chế pháp lý về vốn của công ty hợp danh 101
2.1 Tài sản của công ty hợp danh 101
2.2 Huy động vốn 102
2.3 Chuyển nhượng phần vốn góp 102
3 Quy chế pháp lý về thành viên của công ty hợp danh 104
3.1 Thành viên hợp danh 104
3.2 Thành viên góp vốn 107
4 Tổ chức, quản lý công ty hợp danh 109
4.1 Hội đồng thành viên 109
4.2 Các chức danh quản lý, điều hành 110
PHẦN II: PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN 112
Trang 31 Khái niệm, đặc điểm của công ty cổ phần 112
1.1 Khái niệm công ty cổ phần 112
1.2 Đặc điểm của công ty cổ phần 112
2 Tổ chức, quản lý công ty cổ phần 117
2.1 Đại hội đồng cổ đông 120
2.2 Hội đồng quản trị 127
2.3 Chủ tịch Hội đồng quản trị 131
2.4 Giám đốc (Tổng giám đốc) công ty 132
2.5 Ban kiểm soát 133
3 Chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần 134
3.1 Các loại cổ phần, cổ phiếu 134
3.2 Góp vốn 137
3.3 Huy động vốn 139
3.4 Tăng , giảm vốn điều lệ 143
3.5 Chuyển nhượng và mua lại cổ phần 144
3.6 Thừa kế cổ phần trong công ty cổ phần 148
4 Kiểm soát giao dịch có khả năng tƣ lợi trong công ty cổ phần 149
4.1 Khái niệm giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần 149
4.2 Khái niệm và phương thức kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi 151
4.3 Nội dung pháp luật về kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi 152
PHẦN III: PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 155
1 Khái niệm, đặc điểm pháp lý của công ty TNHH 2 thành viên trở lên 155
1.1 Đặc điểm về thành viên 156
1.2 Đặc điểm về chế độ chịu trách nhiệm 158
Trang 41.3 Đặc điểm về tư cách pháp lý 161
1.4 Đặc điểm về phát hành chứng khoán 163
2 Quy chế pháp lí về vốn của công ty TNHH 2 thành viên trở lên 164
2.1 Vốn điều lệ và tăng, giảm vốn điều lệ 164
2.2 Mua lại phần vốn góp 168
2.3 Chuyển nhượng vốn góp và xử lý phần vốn góp trong một số trường hợp đặc biệt 169
3 Quy chế pháp lý về thành viên của công ty TNHH 2 thành viên trở lên 172
3.1 Quyền của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 173
3.2 Nghĩa vụ của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 175
4 Tổ chức, quản lý công ty TNHH 2 thành viên trở lên 177
4.1 Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên 177
4.2 Giám đốc hoặc Tổng giám đốc 181
4.3 Ban kiểm soát 182
5 Kiểm soát giao dịch có nguy cơ phát sinh tƣ lợi trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên 183 PHẦN IV: PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN 186
1 Khái niệm, đặc điểm pháp lý của công ty TNHH 1 thành viên 186
1.1 Đặc điểm về thành viên 187
1.2 Đặc điểm về chế độ chịu trách nhiệm 190
1.3 Đặc điểm về tư cách pháp lý 191
1.4 Đặc điểm về phát hành chứng khoán 191
2 Quy chế pháp lí về vốn của công ty TNHH 1 thành viên 191
3 Tổ chức, quản lý công ty TNHH 1 thành viên 192
3.1 Cơ cấu tổ chức quản lý đối với chủ sở hữu công ty là tổ chức 192
3.2 Cơ cấu tổ chức quản lý đối với chủ sở hữu công ty là cá nhân 196
Trang 54 Kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty TNHH 1 thành viên 197
Câu hỏi hướng dẫn ôn tập, định hướng thảo luận Chương III 199
Tài liệu tham khảo gợi ý đọc thêm Chương III 200
CHƯƠNG IV: PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC XÃ 202
1 Khái niệm, đặc điểm pháp lý, nguyên tắc tổ chức hoạt động của Hợp tác xã 203
1.1 Khái niệm, đặc điểm pháp lý của hợp tác xã 203
1.2 Nguyên tắc tổ chức hoạt động của Hợp tác xã 210
2 Quy chế pháp lí về thành viên hợp tác xã 212
2.1 Điều kiện để được trở thành thành viên 212
2.2 Quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp tác xã 217
2.3 Chấm dứt tư cách thành viên hợp tác xã 220
3 Chế độ pháp lí về tài sản và tài chính của hợp tác xã 221
3.1 Tài sản của Hợp tác xã 221
3.2 Tài sản không chia của hợp tác xã 223
3.3 Chế độ về tài chính của Hợp tác xã 226
4 Tổ chức, quản lý hợp tác xã 228
4.1 Đại hội thành viên 228
4.2 Hội đồng quản trị hợp tác xã 233
4.3 Giám đốc (Tổng giám đốc) 234
4.4 Ban Kiểm soát 235
Câu hỏi hướng dẫn ôn tập, định hướng thảo luận Chương IV 238
Tài liệu tham khảo gợi ý đọc thêm Chương IV 238
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
Pháp luật về chủ thể kinh doanh là học phần bắt buộc, có vai trò quan trọng
trong cấu trúc chương trình đào tạo cử nhân các ngành Luật, Luật Kinh tế và
Luật Quốc tế của Khoa Luật, Trường Đại học Mở Hà Nội
Trước năm 2017, học phần Pháp luật về chủ thể kinh doanh được thiết kế ở
phần 1 của học phần Luật Kinh tế Việt Nam Để phục vụ cho quá trình đào tạo,
Trường Đại học Mở Hà Nội đã biên soạn và xuất bản các cuốn “Giáo trình Luật
Kinh tế Việt Nam” năm 2007 do PGS.TS Nguyễn Như Phát chủ biên; năm 2016
do TS Nguyễn Thị Nhung chủ biên cùng sự cộng tác của tập thể tác giả giàu
kinh nghiệm giảng dạy Các cuốn giáo trình trên là tài liệu giảng dạy, nghiên cứu
và tham khảo quý báu đối với các thế hệ sinh viên thuộc các hệ đào tạo trong và
ngoài trường
Năm 2017, cùng sự thay đổi toàn diện và căn bản chương trình các ngành
đào tạo, học phần Luật Kinh tế Việt Nam được cấu trúc lại với nhiều nội dung
đổi mới So với các giáo trình trước đây, Giáo trình Pháp luật về chủ thể kinh
doanh của Trường Đại học Mở Hà Nội xuất bản năm 2020 gồm 6 chương, có kết
cấu nội dung viết mới hoàn toàn, phù hợp với đề cương chi tiết học phần và cập
nhật hệ thống các văn bản pháp luật mới nhất
Với tinh thần cầu thị, tập thể tác giả chân thành cảm ơn và mong nhận được
những ý kiến đóng góp của đồng nghiệp và bạn đọc để cuốn giáo trình được
hoàn thiện hơn ở những lần tái bản sau
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 7 năm 2020
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 7CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỦ THỂ KINH DOANH
VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHỦ THỂ KINH DOANH
Nội dung chính: Pháp luật về chủ thể kinh doanh là bộ phận cấu thành
quan trọng của hệ thống pháp luật kinh doanh Chương I - Khái quát chung về chủ thể kinh doanh và pháp luật về chủ thể kinh doanh sẽ giúp người học tiếp cận các khái niệm cơ bản như chủ thể kinh doanh, thương nhân, doanh nghiệp; tìm hiểu về khái niệm, đối tượng điều chỉnh, cấu trúc của pháp luật về chủ thể kinh doanh và quy chế pháp lý chung về chủ thể kinh doanh
1 Khái quát về chủ thể kinh doanh
1.1 Khái niệm chủ thể kinh doanh
Có thể nói hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh doanh giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với sức tăng trưởng của nền kinh
tế và sự tồn tại của xã hội Hiện nay, trình độ về phát triển kinh tế xã hội cũng như hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã phát triển sâu rộng; cùng với đó, khung pháp lý và thể chế quản lý nhà nước đối với các loại hình chủ thể kinh doanh đã phát triển khá hoàn thiện Các quy định thông thoáng, cởi mở của Luật doanh nghiệp năm 2014, Luật doanh nghiệp năm 2020 (đã được thông qua ngày 17.6.2020, có hiệu lực thi hành từ ngày 1.1.2021) và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành, hệ thống các văn bản pháp luật có liên quan đã góp phần huy động tối đa mọi nguồn lực cho mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi nhất để các thành phần kinh tế và các loại hình chủ thể kinh doanh phát triển
Trang 8Thuật ngữ "chủ thể kinh doanh" được dùng rất phổ biến trong các báo, tạp chí, giáo trình, tài liệu tham khảo chuyên ngành pháp lý - kinh tế Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có một khái niệm chính thức nào định nghĩa về chủ thể kinh doanh
Để làm rõ thuật ngữ này, có thể bắt đầu bằng thuật ngữ "kinh doanh" Theo khoản 21 điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2020: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận” (định nghĩa tương tự cũng được quy định tại khoản 16 điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2014) Như vậy, “kinh doanh” được hiểu với nội hàm rộng, không chỉ bao gồm các hành vi buôn bán, trao đổi, mà còn bao gồm một hoặc nhiều hoạt động trong chuỗi sản xuất của chủ thể kinh doanh Với định
nghĩa "kinh doanh" rộng như vậy, có thể định nghĩa: “Chủ thể kinh doanh là bất
kỳ cá nhân, tổ chức, đơn vị nào theo quy định của pháp luật thực hiện một, một
số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”
“Khái niệm chủ thể kinh doanh thường được dùng với nghĩa là hình thức tổ chức các hoạt động kinh doanh Để làm rõ khái niệm chủ thể kinh doanh, cần xem xét từ các góc độ kinh tế - xã hội và pháp lý, gắn với những yếu tố của kinh
tế thị trường Từ góc độ kinh tế - xã hội, chủ thể kinh doanh là thành tố cơ bản của hệ thống kinh tế - xã hội Bản chất của chủ thể kinh doanh là những thực thể
xã hội, sinh ra với chức năng chủ yếu là hoạt động kinh doanh Chủ thể kinh doanh được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau như cơ sở vật chất (vốn, tài sản), bộ máy quản lý điều hành, người lao động… Từ góc độ pháp lý, chủ thể kinh doanh được hiểu là một loại chủ thể pháp luật có nghề nghiệp kinh doanh Trong điều kiện kinh tế thị trường, chủ thể kinh doanh, trong đó nhóm trụ cột là
Trang 9các doanh nghiệp trở thành đối tượng trung tâm chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật kinh doanh”1
Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý - kinh tế hiện nay có một số quan điểm khác nhau về vấn đề này2:
Quan điểm thứ nhất: đồng nhất khái niệm "chủ thể kinh doanh" với khái
niệm "doanh nghiệp" Về mặt từ vựng, doanh nghiệp (trong tiếng Anh là Enterprise) có nghĩa là công việc kinh doanh (business venture or undertaking)3
Tuy nhiên, trên thực tế khái niệm doanh nghiệp thường được dùng với nghĩa là hình thức tổ chức các hoạt động kinh doanh Trong giới nghiên cứu, có quan điểm hiểu khái niệm doanh nghiệp với nội hàm rất rộng, bao gồm tất cả các chủ thể hành nghề kinh doanh (không phân biệt chủ thể đó là pháp nhân hay thể nhân): “Doanh nghiệp được hiểu là đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh”4; “Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh được thành lập hợp pháp, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh và lấy hoạt động kinh doanh làm nghề nghiệp chính”5
Theo quan điểm này, khái niêm doanh nghiệp được hiểu đồng nghĩa với khái niệm chủ thể kinh doanh hay nhà kinh doanh Quan điểm khác lại cho rằng doanh nghiệp chỉ bao gồm các chủ thể kinh doanh đáp ứng được những điều kiện nhất định về
cơ cấu tổ chức, tư cách pháp lý…: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng,
có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập theo quy định của pháp
1
Bộ Giáo dục và Đào tạo – Viện Đại học Mở Hà Nội, Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam, TS Nguyễn
Thị Nhung (Chủ biên), NXB Tư pháp, Hà nội, 2016, trang 23, 24
2
Phần viết này tham khảo bài viết Một số vấn đề về chủ thể kinh doanh, Phan Công Thương,
https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2007/11/19/7894/ , truy cập ngày 19/11/2007
Trang 10luật nhằm thực hiện hoạt động kinh doanh”6 Theo đó, doanh nghiệp chỉ là một loại chủ thể kinh doanh Vì vậy có thể suy luận, sẽ có những chủ thể là chủ thể kinh doanh (thực hiện nghề nghiệp kinh doanh) nhưng không được coi là doanh nghiệp (đơn cử là nếu chủ thể kinh doanh đó không có trụ sở giao dịch ổn định…)
Bên cạnh đó cũng có quan điểm cho rằng, doanh nghiệp cần được hiểu theo hai nghĩa rộng hẹp khác nhau Ở nghĩa rộng, doanh nghiệp là tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh; ở nghĩa hẹp, doanh nghiệp chỉ bao gồm các cơ sở kinh doanh thuộc khu vực chính thức (có đăng ký tư cách theo quy định của pháp luật), không tính các cơ sở thuộc khu vực phi kết cấu (non-structure)7 Quan điểm này cũng cho rằng, việc hiểu doanh nghiệp theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định chính sách và thực hiện các chế độ quản
lý của Nhà nước đối với các cơ sở kinh tế
Pháp luật đa số các nước quan niệm doanh nghiệp chỉ là những chủ thể kinh doanh thuần tuý (có nghề nghiệp chính là hoạt động kinh doanh) Tuy nhiên ở một số nước (ví dụ Cộng hoà Liên bang Đức), doanh nghiệp được hiểu không chỉ bao gồm các chủ thể kinh doanh thuần tuý (thương gia), mà còn bao gồm cả những tổ chức kinh tế hoạt động vì mục tiêu công ích Theo pháp luật Cộng hoà Liên bang Đức, “Doanh nghiệp bao gồm doanh nghiệp thành lập theo luật công
và doanh nghiệp thành lập theo luật tư Khi phân biệt hai loại hình doanh nghiệp này, người ta dựa trên cơ sở phân chia theo trật tự pháp luật công và pháp luật
tư Doanh nghiệp theo luật công có thể là: xí nghiệp trực thuộc, những thực thể chính quyền, đơn vị sự nghiệp”8 Tuy nhiên pháp luật Đức có sự phân biệt rõ
Trang 11ràng trong cơ chế điều chỉnh pháp luật về tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp thành lập theo luật công và thành lập theo luật tư Cơ sở của sự phân biệt này là chức năng và mục đích hoạt động của hai loại doanh nghiệp có sự khác nhau: doanh nghiệp được thành lập theo luật công có chức năng chủ yếu là hoạt động công ích, trong khi đó doanh nghiệp được thành lập theo luật tư có chức năng chủ yếu là hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận Hầu hết các nước đều tồn tại những tổ chức kinh tế công (thông thường do Nhà nước đầu tư vốn) giống như ở Cộng hoà Liên bang Đức Song thông thường những tổ chức này không được coi là doanh nghiệp; hay chí ít thì cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với chúng cũng khác với những doanh nghiệp kinh doanh thuần tuý
Đối với những doanh nghiệp kinh doanh thuần tuý, hình thức pháp lý của chúng cũng được pháp luật quy định khá đa dạng Luật pháp các nước thông thường không quy định khái niệm chung về doanh nghiệp, mà chỉ đưa ra định nghĩa pháp lý về từng loại hình doanh nghiệp cụ thể Thực tiễn pháp luật các nước phản ánh một quan điểm phổ biến coi doanh nghiệp là tất cả các đơn vị kinh doanh hợp pháp Khái niệm doanh nghiệp (Enterprise) dường như đồng nghĩa với khái niệm chủ thể kinh doanh (Business Entity), theo đó doanh nghiệp
là các chủ thể pháp luật (cá nhân hoặc pháp nhân) được thành lập theo quy định của pháp luật để tiến hành hoạt động kinh doanh9
Ở Việt Nam, khái niệm doanh nghiệp lần đầu tiên được đề cập đến một cách chính thức trong Luật Công ty năm 1990: "Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh” (khoản 2 điều 3) Theo khái niệm này, tất cả các chủ thể có nghề nghiệp
9 Đồng Ngọc Ba, “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam”, Luận
án tiến sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2005, trang 7-10
Trang 12kinh doanh được xác lập tư cách hợp pháp đều là doanh nghiệp Quan điểm này
là phù hợp với cách hiểu phổ biến trên thế giới về chủ thể kinh doanh
Luật doanh nghiệp năm 1999 (thay thế Luật Công ty năm 1990 và Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990), Luật doanh nghiệp năm 2005, Luật doanh nghiệp năm 2014 và Luật doanh nghiệp năm 2020 ra đời đã có nhiều đổi mới, trong đó có quan điểm về doanh nghiệp Cụ thể khoản 10 điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” Theo định nghĩa này, chỉ có những chủ thể kinh doanh thoả mãn các điều kiện nhất định mới được gọi là doanh nghiệp Phù hợp với quan điểm chung về doanh nghiệp như vậy, các văn bản pháp luật về tổ chức doanh nghiệp chỉ chính thức thừa nhận các chủ thể kinh doanh có tư cách doanh nghiệp là: doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty cổ phần, công
ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên10
Xuất phát từ thực tiễn và trên cơ sở quy định của pháp luật, có thể khẳng định rằng: "chủ thể kinh doanh" không chỉ giới hạn ở các loại hình doanh nghiệp Theo các văn bản pháp luật hiện hành, tham gia vào hoạt động kinh doanh còn có hợp tác xã (được điều chỉnh bởi Luật Hợp tác xã năm 2012); hộ kinh doanh (được điều chỉnh bởi Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp); ngoài ra còn có một lượng đông đảo cá nhân kinh doanh nhỏ (được điều chỉnh bởi Nghị định 39/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007 về cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh)
10 Đồng Ngọc Ba, “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam”, Luận
Trang 13Theo Hiệp định đối tác thương mại và toàn diện xuyên Thái Bình Dương CPTPP, khái niệm “doanh nghiệp” được định nghĩa rộng hơn khái niệm “doanh nghiệp” theo Luật doanh nghiệp năm 2020 Cụ thể: “Doanh nghiệp là một pháp nhân bất kỳ được lập hoặc tổ chức theo luật hiện hành, hoạt động vì lợi nhuận hoặc không vì lợi nhuận, và do Chính phủ hay tư nhân sở hữu hoặc kiểm soát, bao gồm bất kỳ tập đoàn, quỹ, công ty hợp danh, công ty tư nhân, liên doanh, liên kết, hoặc tổ chức tương tự” (điều 1.3) Khái niệm này bao gồm không chỉ các doanh nghiệp được thành lập vì mục đích lợi nhuận mà còn bao gồm các tổ chức, pháp nhân hoạt động không vì mục đích lợi nhuận; được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau mà không chỉ tồn tại dưới các hình thức doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp
Quan điểm thứ hai: đồng nhất khái niệm "chủ thể kinh doanh" và khái niệm
"thương nhân" Thuật ngữ "thương nhân" có từ lâu đời trong luật pháp của các nước trên thế giới; và ở các nước tồn tại hai trường phái định nghĩa về thương nhân:
Một là, định nghĩa thương nhân theo học thuyết khách thể, nghĩa là căn cứ
vào các hoạt động mà chủ thể đó thực hiện Nếu các hoạt động mà chủ thể thực hiện là hoạt động thương mại, thì chủ thể đó được gọi là thương nhân Đại diện cho trường phái này có thể kể đến: (i) Cộng hòa Pháp, cụ thể, Điều 1 Bộ luật thương mại Pháp năm 1807 định nghĩa: “Thương nhân là người thực hiện các hành vi thương mại và lấy chúng làm nghề nghiệp thường xuyên của mình; (ii) Nhật Bản, cụ thể, Điều 4 Bộ luật thương mại Nhật Bản năm 1899 định nghĩa:
“Thương nhân là một người nhân danh bản thân mình tham gia và các giao dịch thương mại như là một nhà kinh doanh”; (iii) Hoa Kỳ, cụ thể, Bộ luật thương mại Hoa Kỳ năm 1974 (Luật Mẫu) định nghĩa: “Thương nhân là những người
Trang 14thực hiện các nghiệp vụ đối với một loại nghề nghiệp nhất định là đối tượng của các hoạt động thương mại” (điều 104)…
Hai là, định nghĩa theo học thuyết chủ thể, nghĩa là nếu chủ thể thực hiện
các hành vi được liệt kê là thương nhân, thì chủ thể đó sẽ thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật thương mại Đại diện cho trường phái này có thể kể đến: (i) Đức,
cụ thể, khoản 1 điều 1 Bộ luật thương mại Đức năm 1897 định nghĩa: “Thương nhân là người tiến hành việc hoạt động hành nghề kinh doanh, hay nói cách khác
đó là người thực hiện một hoạt động kinh doanh thương mại” Khoản 2 điều này định nghĩa về hoạt động kinh doanh thương mại, bao gồm không chỉ việc mua vào và bán ra hàng hóa và giấy tờ có giá trị; mà còn bao gồm cả việc chế tạo hoặc cải tiến hàng hóa cho người khác, việc thực hiện các dịch vụ bảo hiểm có thu phí bảo hiểm, các giao dịch ngân hàng, việc vận chuyển hàng hóa và hành khách bằng đường biển, đường bộ, đường thủy, các giao dịch đại lý vận tải, kho vận, các giao dịch của người đại diện thương mại, môi giới thương mại và các giao dịch khác; (ii) Séc, cụ thể, khoản 2 điều 2 Bộ luật thương mại Séc 1991 quy định: Người (thể nhân hoặc pháp nhân) được ghi tên vào Sổ đăng ký thương mại gồm: người thực hiện hoạt động kinh doanh trên cơ sở một giấy phép cho tiến hành một số hoạt động buôn bán nhất định; người thực hiện hoạt động kinh doanh trên cơ sở một giấy phép theo các luật hoặc quy định đặc biệt khác với các quy định điều chỉnh cấp giấy phép buôn bán; thể nhân hoạt động nông nghiệp (sản xuất nông nghiệp) mà được đăng ký vào sổ đăng ký thích hợp theo luật hoặc theo quy định đặc biệt…
Ở Việt Nam, khái niệm “thương nhân” được thừa nhận trong các văn bản pháp luật khá muộn so với các nước trên thế giới Có thể tìm thấy khái niệm này trong văn bản đầu tiên là Bộ luật thương mại Việt Nam Cộng hoà năm 1972, theo đó “Thương gia là những người làm hành vi thương mại cho chính mình và
Trang 15lấy hành vi ấy làm nghề nghiệp thường xuyên của minh” Trải qua một thời gian miền Bắc (sau năm 1954) cũng như cả nước (sau năm 1975) xây dựng nền kinh
tế xã hội chủ nghĩa, nghề thương mại và những người làm nghề thương mại không được đánh giá đúng và không được tạo điều kiện để hoạt động, phát triển Đến năm 1997, với sự ra đời của Luật Thương mại năm 1997, khái niệm này mới được chính thức ghi nhận trở lại Tuy nhiên, khoản 5 điều 6 Luật Thương mại năm 1997 không định nghĩa trực tiếp mà chỉ nêu những đối tượng có thể trở thành thương nhân kèm theo các điều kiện ở những điều khoản sau đó, cụ thể: “Thương nhân bao gồm cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng
ký kinh doanh hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên" Khái niệm thương nhân theo Luật Thương mại năm 1997 còn bị bó hẹp bởi khái niệm
“hoạt động thương mại”, cụ thể, chỉ bao gồm 14 hành vi thương mại theo Luật
Luật Thương mại năm 2005 tiếp thu tinh thần của Luật Thương mại năm
1997 khi không định nghĩa thương nhân, mà chỉ quy định các loại chủ thể được liệt kê là thương nhân Cụ thể, theo khoản 1 điều 6 Luật Thương mại năm 2005:
“Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” Quy định này không được diễn đạt theo hình thức của một định nghĩa khái niệm, tuy nhiên nó chứa đầy đủ các yếu tố nội dung của một định nghĩa, vì vậy cần được xem là một định nghĩa khái niệm thương nhân
Theo định nghĩa trên, thương nhân có các đặc điểm sau:
(i) Thương nhân phải là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động thương mại,
cụ thể, phải thực hiện một, một số hoạt động thương mại được Luật thương mại điều chỉnh như mua bán hàng hoá, đại lý thương mại…
Trang 16(ii) Thương nhân phải thực hiện hoạt động thương mại một cách độc lập, mang danh nghĩa và vì lợi ích của bản thân minh, cụ thể, thương nhân phải thực hiện hoạt động thương mại một cách tự thân, nhân danh mình, vì lợi ích của bản thân mình, tự chịu trách nhiệm về việc thực hiện hành vi thương mại đó Khi thực hiện hoạt động thương mại, thương nhân không bị chi phối bởi ý chí của chủ thể khác mà kinh doanh theo ý chí của mình
(iii) Thương nhân phải thực hiện hoạt động thương mại mang tính nghề nghiệp thường xuyên, cụ thể, thực hiện hoạt động thương mại cách thực tế, lặp
đi lặp lại, liên tục, mang tính nghề nghiệp nhằm tạo ra thu nhập chính cho mình
(iv) Thương nhân phải có đăng ký kinh doanh (đăng ký doanh nghiệp, đăng
ký hộ kinh doanh, đăng ký hợp tác xã) để thực hiện hoạt động thương mại Đăng
ký kinh doanh là sự ghi nhận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
về mặt pháp lý cho sự ra đời của thương nhân Đăng ký kinh doanh được thực hiện theo trình tự pháp luật quy định, áp dụng thống nhất trong cả nước, xác nhận sự tồn tại hợp pháp của thương nhân
Trong một số trường hợp đặc biệt, có những tổ chức kinh tế được thành lập
mà không tiến hành thủ tục đăng ký kinh doanh Đó là các doanh nghiệp kinh doanh trong những lĩnh vực kinh doanh đặc thù, được cơ quan quản lý chuyên ngành cấp giấy phép thành lập, giấy phép hoạt động…, ví dụ: ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm, công ty luật…
Như vậy, khái niệm thương nhân theo quy định của Luật Thương mại năm
2005 hẹp hơn khái niệm chủ thể kinh doanh; vì chỉ giới hạn ở những chủ thể có đăng ký hoạt động thương mại, thực hiện các hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên nhằm mục tiêu lợi nhuận mà không bao gồm các chủ thể kinh doanh nhỏ, thực hiện hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên nhưng
Trang 17không phải đăng ký kinh doanh Do đó, không thể đồng nhất khái niệm "chủ thể kinh doanh" và "thương nhân"
Tóm lại, trong ba khái niệm “doanh nghiệp”, “thương nhân”, “chủ thể kinh doanh” thì khái niệm doanh nghiệp là khái niệm hẹp nhất, bao gồm các chủ thể đáp ứng các điều kiện luật định và được quy định là doanh nghiệp theo Luật Khái niệm thương nhân rộng hơn, vì ngoài doanh nghiệp, thương nhân còn bao gồm các chủ thể có thực hiện hoạt động kinh doanh chuyên nghiệp nhưng không được gọi là doanh nghiệp, không điều chỉnh bởi Luật doanh nghiệp, đó là hợp tác xã và hộ kinh doanh Khái niệm chủ thể kinh doanh là khái niêm rộng nhất,
vì chủ thể kinh doanh ngoài các thương nhân (tức là các chủ thể kinh doanh chuyên nghiệp, có đăng ký) còn bao gồm các cá nhân kinh doanh nhỏ, có thực hiện hoạt động thương mại nhưng không phải đăng ký kinh doanh
1.2 Đặc điểm cơ bản của chủ thể kinh doanh
Xét một cách tổng quát, chủ thể kinh doanh có những đặc điểm cơ bản sau:
Một là, chủ thể kinh doanh phải được thành lập hợp pháp
Các chủ thể kinh doanh phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc công nhận Cụ thể, đối với doanh nghiệp nhà nước, mặc dù Luật doanh nghiệp năm 2020 có nhiều thay đổi so với Luật doanh nghiệp năm 2014 khi quy định: Doanh nghiệp nhà nước được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, bao gồm: doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, trừ doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ (khoản 1 điều 88) Tuy nhiên, trường hợp doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, Nhà nước
Trang 18phải ra quyết định thành lập doanh nghiệp, sau đó doanh nghiệp mới làm thủ tục đăng ký doanh nghiệp Đối với các chủ thể kinh doanh là các loại hình doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã phải làm thủ tục đăng ký doanh nghiệp, đăng ký liên hiệp hợp tác xã tại Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp tỉnh nơi doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã đặt trụ sở chính Đối với hộ kinh doanh và hợp tác xã phải làm thủ tục đăng ký hộ kinh doanh tại Phòng Tài chính
- Kế hoạch thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi đặt địa điểm kinh doanh hoặc trụ sở chính Đây là đặc điểm xác lập tư cách chủ thể pháp lý độc lập của các chủ thể kinh doanh, làm cơ sở để Nhà nước thừa nhận và bảo vệ các chủ thể kinh doanh trước pháp luật Đối với các cá nhân kinh doanh nhỏ, không phải đăng ký hoạt động theo Nghị định 39/2007/NĐ-CP, Nhà nước thừa nhận và bảo hộ đối với hoạt động kinh doanh hợp pháp của họ
Hai là, chủ thể kinh doanh phải có tài sản để thực hiện hoạt động kinh doanh
Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, tài sản bao gồm vật, tiền, giấy
tờ có giá và các quyền tài sản (điều 105) Để tham gia vào hoạt động kinh doanh, các chủ thể kinh doanh phải có tài sản; bởi tài sản là cơ sở vật chất không thể thiếu để các chủ thể kinh doanh có thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình Dấu hiệu phải có tài sản thể hiện tính độc lập và khả năng tự quyết định, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ các hoạt động của các chủ thể kinh doanh; nghĩa là các chủ thể kinh doanh có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó cũng như có quyền điều phối khối tài sản này theo nhu cầu sản xuất kinh doanh và phải chịu trách nhiệm bằng chính tài sản đó trước pháp luật
Ba là, chủ thể kinh doanh phải có nghề nghiệp kinh doanh
Trang 19Nghề nghiệp kinh doanh là phương diện hoạt động thường xuyên, cơ bản
và chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh Nghề nghiệp kinh doanh thể hiện ở các mặt sau:
- Phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh Đây là chứng thư pháp lý quan trọng thừa nhận một chủ thể có quyền hoạt động kinh doanh; trừ cá nhân kinh doanh nhỏ không phải đăng ký
- Các chủ thể kinh doanh chỉ được kinh doanh trong lĩnh vực ngành nghề và loại hàng hoá ghi trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, hồ sơ đăng ký hợp tác xã,
hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh Trường hợp kinh doanh không đúng nội dung đăng ký, chủ thể kinh doanh phải đăng ký bổ sung Việc đăng ký bổ sung thường được diễn ra trước thời điểm chủ thể kinh doanh tiến hành hoạt động kinh doanh; nhưng cũng có thể diễn ra sau thời điểm chủ thể kinh doanh đã thực hiện hoạt động kinh doanh Nếu kinh doanh hàng hoá hoặc dịch vụ thuộc đối tượng pháp luật cấm sẽ không được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ
- Phải thực hiện hoạt động kinh doanh một cách thường xuyên nhằm mục đích chủ yếu là lợi nhuận Với tư cách là một thực thể tham gia thị trường, nếu chủ thể kinh doanh không lấy kinh doanh làm hoạt động cơ bản để tìm kiếm lợi nhuận thì tất yếu không có sự tồn tại và không có khả năng tồn tại, trừ những chủ thể kinh doanh thực hiện các hoạt động công ích do Nhà nước giao
Bốn là, chủ thể kinh doanh có tính liên quan và đối kháng với nhau
Trong điều kiện kinh tế thị trường, mỗi chủ thể kinh doanh không tồn tại như một tế bào kinh tế đơn lẻ mà nằm trong một hệ thống lớn lực lượng sản xuất
xã hội có tính liên quan một cách hữu cơ với nhau Các chủ thể kinh doanh phải
Trang 20hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình tái sản xuất xã hội Sự hỗ trợ này thực chất là cung cấp sản phẩm cho xã hội thể hiện nhu cầu đối với tiền vốn và sức lao động sản xuất Có thể thấy mỗi hoạt động của chủ thể kinh doanh này có thể ảnh hưởng đến hoạt động của chủ thể kinh doanh khác Mặt khác, với tư cách là một chủ thể tham gia thị trường, các chủ thể kinh doanh có tính đối kháng với những nhân tố tác động từ bên ngoài như: khủng hoảng tài chính tiền tệ, thiên tai hoả hoạn, các thay đổi về chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước hoặc những lợi thế từ các đối thủ cạnh tranh… để có thể tồn tại, phát triển Biểu hiện của tính đối kháng là chủ thể kinh doanh phải dựa vào chính bản thân mình để tiếp thu vật chất từ hoàn cảnh thị trường, năng động và nhạy bén thông tin, chuyển hoá nguy cơ thành cơ hội… từ đó không ngừng loại trừ, khắc phục những khó khăn; nếu không tất yếu sẽ bị quy luật thị trường đào thải
Qua việc tìm hiểu khái niệm và đặc điểm của chủ thể kinh doanh, có thể thấy rằng chủ thể kinh doanh tồn tại dưới nhiều hình thức, nhiều loại với quy mô hoạt động khác nhau
1.3 Phân loại chủ thể kinh doanh
Việc phân loại chủ thể kinh doanh dựa trên các căn cứ cơ bản sau:
1.3.1 Căn cứ vào tính chất sở hữu và mục đích hoạt động
Theo tiêu chí này, chủ thể kinh doanh được chia thành doanh nghiệp tư và doanh nghiệp công Doanh nghiệp tư có bản chất kinh doanh thuần tuý, hoạt động chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận, lấy lợi nhuận làm cơ sở để tồn tại và phát triển Các doanh nghiệp tư thường được hình thành từ sở hữu tư nhân hoặc đa sở hữu Doanh nghiệp công được thành lập với sự can thiệp và chi phối của Nhà
Trang 21nước trong chiến lược và mục tiêu hoạt động, thông qua việc nắm giữ một phần hoặc toàn bộ vốn chủ sở hữu
Ngoài ra, từ góc độ sở hữu, chủ thể kinh doanh còn được phân chia thành các loại: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… Việc phân loại chủ thể kinh doanh theo cách này có ý nghĩa trong việc hoạch định chính sách của Nhà nước đối với các khu vực kinh tế khác nhau; và đặc biệt có ý nghĩa trong việc điều chỉnh pháp luật đối với các chủ thể kinh doanh Cụ thể, trước đây:
- Doanh nghiệp nhà nước được điều chỉnh riêng bởi Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995, được thay thế bởi Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003; cùng với đó là một hệ thống đồ sộ các văn bản hướng dẫn thi hành và các văn bản pháp luật có liên quan
- Doanh nghiệp của khối kinh tế tư nhân bao gồm doanh nghiệp tư nhân và các loại hình công ty, được điều chỉnh bởi Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990, Luật công ty năm 1990; được thay thế bởi Luật doanh nghiệp năm 1999, Luật doanh nghiệp năm 2005, Luật doanh nghiệp năm 2014, Luật doanh nghiệp năm
2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành, các văn bản pháp luật liện quan
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được điều chỉnh bởi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, các Luật sửa đổi, bổ sung năm 1990, 1992; được thay thế bởi Luật đầu tư nước ngoài năm 1996, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2000; các văn bản hướng dẫn thi hành, các văn bản pháp luật liên quan
Từ khi Quốc hội ban hành Luật doanh nghiệp năm 2005, hệ thống pháp luật
về doanh nghiệp đã có sự thay đổi căn bản Luật doanh nghiệp năm 2005 điều chỉnh hoạt động của cả nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; hoạt
Trang 22động của cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp của tư nhân, không phân biệt về góc độ sở hữu Luật doanh nghiệp năm 2005 đã thay thế Luật doanh nghiệp năm 1999; Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003, các quy định về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp tại Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 Luật doanh nghiệp năm 2014, Luật doanh nghiệp năm
2020 hoàn toàn kế thừa quan điểm trên của Luật doanh nghiệp năm 2005, điều chỉnh chung các loại hình doanh nghiệp tại Việt Nam
1.3.2 Căn cứ vào cơ cấu nhà đầu tư và phương thức góp vốn
Theo tiêu chí này, chủ thể kinh doanh được chia thành: chủ thể kinh doanh một chủ sở hữu và chủ thể kinh doanh nhiều chủ sở hữu Chủ sở hữu có thể là cá nhân hoặc tổ chức không bị cấm kinh doanh Theo pháp luật hiện hành, các chủ thể kinh doanh một chủ sở hữu bao gồm: doanh nghiệp tư nhân; công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; doanh nghiệp nhà nước (trường hợp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ); doanh nghiệp 100% vốn nnước ngoài do một
cá nhân hoặc một tổ chức nước ngoài sở hữu, thành lập theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 mà không chuyển đổi thành doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp; hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ Đối với
mô hình kinh doanh một chủ, toàn bộ vốn, tài sản của chủ thể kinh doanh đó thuộc sở hữu của một chủ thể duy nhất, vì vậy, các vấn đề về tổ chức quản lý thường đơn giản, dễ thực hiện; quyền tự quyết định đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của chủ sở hữu là tuyệt đối vì không bị chi phối bởi ý chí của bất kỳ
cá nhân, tổ chức nào, chỉ tuân theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, vì chỉ có một chủ sở hữu nên mô hình kinh doanh này cũng bị hạn chế về vốn (vì không
có sự góp vốn từ những người khác), về quản lý (vì chỉ theo ý chí của một chủ),
về chia sẻ rủi ro (vì rủi ro không chia sẻ được cho ai)
Trang 23Chủ thể kinh doanh nhiều chủ sở hữu được hình thành trên cơ sở sự liên kết của nhiều cá nhân, tổ chức; do nhiều cá nhân, tổ chức góp vốn thành lập Chủ thể kinh doanh nhiều chủ được chia thành: công ty hợp danh; công ty cổ phần; công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; hợp tác xã; doanh nghiệp nhà nước (trường hợp Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết); doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996
mà không chuyển đổi thành doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp; hộ gia đình, nhóm người đăng ký dưới hình thức hộ kinh doanh Đối với các chủ thể kinh doanh nhiều chủ, việc tổ chức quản lý trong nội bộ chủ thể kinh doanh thường phức tạp, gồm nhiều cơ quan có chức năng kiềm chế và đối trọng lẫn nhau, nhằm đảm bảo cho chủ thể kinh doanh hoạt động hiệu quả, đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư cũng như các chủ thể có liên quan Tuy nhiên, ưu điểm của mô hình kinh doanh nhiều chủ là khả năng tập trung vốn từ nhiều người, khả năng tập trung trí tuệ quản lý của nhiều người, và khả năng chia sẻ rủi ro cho nhiều người
Đây là phương pháp phân loại phổ biến được áp dụng để cấu trúc hệ thống pháp luật về chủ thể kinh doanh, cả về hình thức văn bản và nội dung quy phạm pháp luật
1.3.3 Căn cứ vào tư cách pháp lý của chủ thể kinh doanh
Theo tiêu chí này, chủ thể kinh doanh được chia thành: chủ thể kinh doanh
có tư cách pháp nhân và chủ thể kinh doanh không có tư cách pháp nhân Pháp nhân là một khái niệm kinh điển trong khoa học pháp lý cũng như luật pháp Việc xác lập tư cách pháp nhân cho một chủ thể kinh doanh có liên hệ mật thiết
Trang 24đến khả năng độc lập chịu trách nhiệm tài sản, kể cả các khoản nợ và các nghĩa
vụ tài sản khác của chủ thể kinh doanh
Các dấu hiệu pháp lý của pháp nhân được quy định cụ thể trong Bộ luật dân
sự năm 2015; cụ thể, một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: (i) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; (ii) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này; (iii)
Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; (iv) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập (điều 74)
Việc xác định một chủ thể kinh doanh là pháp nhân dựa trên điều kiện quan trọng, đó là sự độc lập về tài sản của pháp nhân với các chủ thể khác; vì trên nguyên tắc những chủ thể kinh doanh nào có sự độc lập về tài sản và độc lập chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình thì được gọi là pháp nhân Theo tiêu chí này, các loại hình công ty, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác xã theo quy định của pháp luật Việt Nam là các chủ thể kinh doanh có tư cách pháp nhân; các chủ thể còn lại như: doanh nghiệp tư nhân (có
tư cách doanh nghiệp nhưng không có tư cách pháp nhân), hộ kinh doanh (không
có tư cách doanh nghiệp và không có tư cách pháp nhân)
Việc được hưởng quy chế pháp nhân hay không được hưởng quy chế pháp nhân ảnh hưởng tới địa vị pháp lý của các chủ thể kinh doanh, nhất là trong việc tham gia vào các giao dịch do chủ thể kinh doanh đó thiết lập với các đối tác Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, chủ thể tham gia vào giao dịch dân
sự là cá nhân, pháp nhân (điều 1) mà không bao gồm các chủ thể khác như hộ gia đình, tổ hợp tác như Bộ luật dân sự năm 2005 Vì vậy, trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân
Trang 25sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự Trường hợp thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự không được các thành viên khác ủy quyền làm người đại diện thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ dân sự do mình xác lập, thực hiện (khoản 1 điều 101 Bộ luật dân sự năm 2015) Do vậy, chủ thể kinh doanh không có tư cách pháp nhân như: doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh do một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ phải thực hiện mọi giao dịch thông qua người đại diện của mình với tư cách là một cá nhân
1.3.4 Căn cứ và chế độ chịu trách nhiệm tài sản của chủ sở hữu chủ thể kinh doanh
Theo tiêu chí này, cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu chủ thể kinh doanh có thể được áp dụng một trong hai chế độ chịu trách nhiệm tài sản là: trách nhiệm vô hạn và trách nhiệm hữu hạn Theo thông lệ, các chủ sở hữu chủ thể kinh doanh không có tư cách pháp nhân thường bị áp dụng chế độ trách nhiệm vô hạn, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân và chủ hộ cũng như các thành viên trong hộ kinh doanh Tuy nhiên ở Việt Nam, thành viên hợp danh của công ty hợp danh – là chủ sở hữu công ty cũng phải chịu chế độ trách nhiệm vô hạn, mặc dù công ty hợp danh được thừa nhận là một pháp nhân
Đối với chủ sở hữu chủ thể kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn, chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của chủ thể kinh doanh bằng toàn bộ tài sản của mình; không phụ thuộc vào số vốn họ đưa vào kinh doanh Các chủ sở hữu chủ thể kinh doanh có tư cách pháp nhân thường được áp dụng quy chế chịu trách nhiệm hữu hạn, trừ thành viên hợp danh của công ty hợp danh Những chủ
Trang 26sở hữu này chịu trách nhiệm về các khoản nợ của chủ thể kinh doanh trong phạm
vi số vốn đã góp vào chủ thể kinh doanh
2 Khái quát pháp luật về chủ thể kinh doanh
2.1 Khái niệm pháp luật về chủ thể kinh doanh
Pháp luật về chủ thể kinh doanh là bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống pháp luật kinh doanh Pháp luật về chủ thể kinh doanh điều chỉnh các quan
hệ về tổ chức hoạt động của các chủ thể kinh doanh, trong đó bộ phận trụ cột là các doanh nghiệp Các quan hệ xã hội về tổ chức hoạt động kinh doanh phát sinh trực tiếp từ quá trình tạo lập, duy trì, biến đổi và chấm dứt tư cách chủ thể pháp luật của doanh nghiệp (thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh, tổ chức quản lý nội bộ của doanh nghiệp, tạo lập cơ cấu vốn, tổ chức lại doanh nghiệp,
giải thể doanh nghiệp…) Như vậy, theo nghĩa này: Pháp luật chủ thể kinh
doanh là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình gia nhập thị trường, quản trị hoạt động và rút khỏi thị trường của các chủ thể kinh doanh
Với đối tượng điều chỉnh là các quan hệ xã hội về tổ chức hoạt động của các chủ thể kinh doanh, chức năng chủ yếu của pháp luật về chủ thể kinh doanh
là bảo đảm an toàn pháp lý cho các nhà đầu tư trong quá trình tạo lập, đầu tư vốn
và tổ chức vận hành chủ thể kinh doanh Nội dung của pháp luật về chủ thể kinh doanh thể hiện sự tiếp tục phát triển các quy định của dân luật về chủ thể pháp luật, phù hợp với tính chất của hoạt động kinh doanh, thương mại Nếu như các quy định trong pháp luật dân sự truyền thống là cơ sở pháp lý bảo đảm quyền tài sản trong trạng thái “tĩnh”, thì pháp luật về chủ thể kinh doanh với tư cách là
Trang 27một chế định của pháp luật kinh doanh, là cơ sở pháp lý để bảo đảm quyền sở hữu tài sản trong trạng thái vận động của thị trường14
2.2 Cấu trúc pháp luật về chủ thể kinh doanh
Hệ thống pháp luật về chủ thể kinh doanh là khái niệm chỉ toàn bộ các bộ phận cấu thành có mối quan hệ với nhau theo những nguyên tắc pháp lý nhất định, tạo nên chỉnh thể pháp luật về chủ thể kinh doanh Hệ thống pháp luật về chủ thể kinh doanh có thể được tiếp cận từ hai phương diện: hệ thống cấu trúc bên trong và hệ thống văn bản pháp luật
Về cấu trúc bên trong, hệ thống pháp luật về chủ thể kinh doanh được cấu thành bởi các quy phạm, các chế định pháp luật liên quan đến vấn đề tổ chức hoạt động của các chủ thể kinh doanh Các nhóm quy phạm chủ yếu của pháp luật về chủ thể kinh doanh bao gồm:
- Các quy định về bản chất pháp lý của loại hình chủ thể kinh doanh
- Các quy định về thành lập chủ thể kinh doanh
- Các quy định về tổ chức quản lý chủ thể kinh doanh
- Các quy định về cấu trúc vốn của chủ thể kinh doanh
- Các quy định về tổ chức lại, giải thể, phá sản chủ thể kinh doanh
Hệ thống văn bản pháp luật về chủ thể kinh doanh bao gồm các văn bản pháp luật thuộc nhiều cấp độ hiệu lực khác nhau, chứa đựng các quy phạm pháp luật về doanh nghiệp Các văn bản pháp luật về chủ thể kinh doanh có nhiều cấp
14
Bộ Giáo dục và Đào tạo – Viện Đại học Mở Hà Nội, Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam, TS
Nguyễn Thị Nhung (Chủ biên), NXB Tư pháp, Hà nội, 2016, trang 31, 32
Trang 28độ hiệu lực, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, có mối liên hệ mật thiết với nhau và tạo thành một hệ thống Trung tâm của hệ thống pháp luật
về chủ thể kinh doanh là các luật về tổ chức doanh nghiệp Thực tiễn cho thấy,
hệ thống các văn bản pháp luật về chủ thể kinh doanh theo pháp luật các nước được thiết kế rất phong phú và đa dạng cả về tên gọi và đối tượng, phạm vi điều chỉnh Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, thông thường mỗi loại hình chủ thể kinh doanh được điều chỉnh bằng một luật đơn hành, trên cơ sở các quy định chung về chủ thể kinh doanh (thương nhân) trong Bộ luật dân sự hoặc
Bộ luật thương mại16
Các văn bản pháp luật chủ yếu về tổ chức hoạt động của chủ thể kinh doanh
ở Việt Nam hiện nay bao gồm:
- Bộ luật dân sự năm 2015
- Luật doanh nghiệp năm 2020, 2014
- Các văn bản hướng dẫn thi hành
- Điều ước quốc tế
16
Bộ Giáo dục và Đào tạo – Viện Đại học Mở Hà Nội, Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam, TS
Trang 29- Tập quán thương mại quốc tế…
Trong nội dung của Giáo trình này, pháp luật về chủ thể kinh doanh bao gồm các vấn đề sau:
- Vấn đề 1 Khái quát chung về chủ thể kinh doanh và pháp luật về chủ thể kinh doanh
- Vấn đề 2 Quy chế pháp lý chung về chủ thể kinh doanh
- Vấn đề 3: Pháp luật về hộ kinh doanh và doanh nghiệp tư nhân
- Vấn đề 4: Pháp luật về công ty, bao gồm pháp luật về công ty hợp danh, công ty cổ phần, công ti trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên
- Vấn đề 5: Pháp luật về hợp tác xã
3 Quy chế pháp lý chung về chủ thể kinh doanh
3.1 Quyền tự do kinh doanh của chủ thể kinh doanh
Theo nghĩa phổ thông "quyền" là "điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi" Theo nghĩa pháp lý "quyền" là khả năng được tự do lựa chọn hành động, khả năng này do Hiến pháp và pháp luật ghi nhận Chủ thể được hưởng quyền có quyền thực hiện hoặc không thực hiện các quyền mà mình được hưởng; hay nói cách khác, quyền không có giá trị bắt buộc thực hiện
Quyền tự do kinh doanh là quyền cơ bản của chủ thể kinh doanh, được chính thức ghi nhận tại Việt Nam trong Hiến pháp năm 1992 (điều 57 Hiến pháp
năm 1992 quy định: Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của
Trang 30pháp luật); được mở rộng nội hàm theo Hiến pháp năm 2013 (điều 33 Hiến pháp
năm 2013 quy định: Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành
nghề mà pháp luật không cấm) Quyền tự do kinh doanh của chủ thể kinh doanh
là một phạm trù pháp lý, được hiểu theo nghĩa chủ quan và khách quan:
Theo nghĩa chủ quan hay nhìn nhận dưới góc độ quyền chủ thể: quyền tự
do kinh doanh được hiểu là khả năng hành động một cách có ý thức của cá nhân hay pháp nhân trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Theo nghĩa này, quyền tự do kinh doanh bao hàm những khả năng mà cá nhân hay pháp nhân có thể xử sự như: tự do đầu tư tiền vốn để thành lập doanh nghiệp, tự do lựa chọn
mô hình tổ chức kinh doanh, tự do lựa chọn đối tác để thiết lập các quan hệ kinh
tế, tự do cạnh tranh, tự do định đoạt trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh… Những khả năng xử sự này là thuộc tính tự nhiên của cá nhân (hay pháp nhân) chứ không phải do Nhà nước ban tặng Song những khả năng xử sự đó muốn trở thành hiện thực thì phải được Nhà nước thể chế hoá bằng pháp luật và khi đó nó mới trở thành “thực quyền” Cũng chính vì vậy, quyền tự do kinh doanh với tư cách là quyền năng chủ thể cũng có giới hạn nhất định
Theo nghĩa khách quan hoặc được xem xét dưới góc độ là một chế định
pháp luật, quyền tự do kinh doanh là hệ thống các quy phạm pháp luật và những bảo đảm pháp lý do Nhà nước ban hành, nhằm tạo điều kiện cho các cá nhân hay pháp nhân thực hiện quyền chủ thể nói trên Với quan niệm đó, quyền tự do kinh doanh – một mặt bao gồm những quyền mà họ được hưởng; mặt khác đó là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, công chức nhà nước khi thực hiện chức năng quản lý của mình phải tôn trọng, bảo vệ những quyền của chủ thể kinh doanh Hai mặt này tồn tại thống nhất trong chế định pháp lý tự do kinh doanh Nếu chỉ
Trang 31thừa nhận những quyền của chủ thể mà không bảo đảm cho nó những điều kiện
để thực hiện thì quyền tự do kinh doanh cũng chỉ mang tính hình thức
Tóm lại, có thể nói, quan niệm về quyền tự do kinh doanh phải được nhìn nhận, xem xét một cách toàn diện trên những khía cạnh cơ bản sau đây:
Một là, quyền tự do kinh doanh là một phần hợp thành và đóng vai trò quan
trọng trong hệ thống các quyền tự do của con người Như vậy, quyền tự do kinh doanh phải được xem như là một giá trị tự thân của con người mà Nhà nước thừa nhận và bảo vệ
Hai là, quyền tự do kinh doanh có trở thành hiện thực và phát huy tác dụng
trong thực tiễn hay không tuỳ thuộc vào việc Nhà nước có đáp ứng được những đòi hỏi mà quyền tự do kinh doanh đặt ra để kịp thời thể chế hoá và bảo vệ bằng pháp luật
Ba là, quyền tự do kinh doanh của công dân tồn tại như một nhu cầu tất yếu
của sự phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, nó phải là mục tiêu mà Nhà nước hướng tới nếu như muốn thực hiện địa vị hợp pháp, tính nhân văn tiến bộ trong quá trình thực hiện quyền quản lý xã hội của mình18
Dưới góc độ pháp lý, quyền tự do kinh doanh là quyền của các chủ thể kinh doanh trong việc lựa chọn các lĩnh vực ngành nghề để đầu tư vốn, sức lao động, máy móc thiết bị, cách thức quản lý… nhằm tiến hành hoạt động kinh doanh Quyền tự do kinh doanh có cơ sở pháp lý là toàn bộ các quy định của Nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể kinh doanh thực hiện hoạt động kinh doanh một cách hợp lý
18 TS Bùi Ngọc Cường, Sách chuyên khảo: Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong
pháp luật kinh tế hiện hành ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, trang 19, 20,
21
Trang 32Quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh có nội hàm rộng, bao gồm nhiều quyền khác nhau như: quyền chủ động mở rộng quy mô ngành nghề kinh doanh; quyền chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng; quyền tuyển, thuê sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh; quyền từ chối và tố cáo mọi yêu cầu cung cấp các nguồn lực không được pháp luật quy định của bất kỳ cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào… Ở mỗi loại hình chủ thể kinh doanh, pháp luật có những quy định cụ thể, chi tiết về quyền của chúng trong các văn bản quy phạm pháp luật tương ứng Thông thường khi hưởng quyền tự do kinh doanh cũng như các quyền khác do pháp luật ghi nhận, các chủ thể kinh doanh đồng thời phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định Đó là những nghĩa vụ
về thống kê, tài chính, kế toán, kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng ký cũng như tuân thủ các quy định về an ninh quốc phòng, bảo vệ tài nguyên môi trường,
di tích lịch sử, văn hoá, danh lam, thắng cảnh…
Ở nội hàm hẹp, quyền tự do linh doanh của chủ thể kinh doanh là những quyền mà các bên có được, được ghi nhận trong các cam kết, thoả thuận do các bên ký kết trong quá trình hoạt động kinh doanh Đó là các hợp đồng có mục đích kinh doanh về sản xuất, mua bán, trao đổi, ký gửi sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ; hoặc các bản điều lệ về góp vốn thành lập công ty, về phân chia lợi nhuận hoặc những văn bản thoả thuận về việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu giữa công ty với thành viên
Như vậy, dù hiểu theo nội hàm rộng hay hẹp thì quyền tự do kinh doanh nói riêng hay các quyền của chủ thể kinh doanh nói chung phải xuất phát từ những quy định của pháp luật và phải phù hợp với những quy định của pháp luật; là những quyền hợp pháp, được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ Nó tạo lập một hành lang pháp lý an toàn chung cho các chủ thể kinh doanh, hạn chế những
"sách nhiễu" từ phía các cơ quan quản lý nhà nước Đây cũng là cơ sở để Nhà
Trang 33nước xác định cách thức, phương pháp, công cụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh một cách phù hợp khi chúng bị xâm hại
3.2 Hình thức pháp lý phổ biến của chủ thể kinh doanh
Trên cơ sở quy định của các văn bản pháp luật về chủ thể kinh doanh và tổng hợp các tiêu chí phân loại chủ thể kinh doanh, các nhà đầu tư có thể lựa chọn một trong các hình thức pháp lý sau đây để thực hiện hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế Việt Nam
Một là, doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và
tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân; chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên hợp danh của công ty hợp danh Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần
Chủ doanh nghiệp có thể tự mình trực tiếp quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc thuê người khác quản lý điều hành, nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với tư cách là chủ
sở hữu Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân, chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản của chủ doanh nghiệp, bao gồm cả tài sản mà chủ doanh nghiệp không sử dụng vào hoạt động kinh doanh tại doanh nghiệp tư nhân
Hai là, công ty hợp danh: là doanh nghiệp, trong đó: Phải có ít nhất 02
thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên
Trang 34chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh), ngoài các thành viên hợp danh, công
ty có thể có thêm thành viên góp vốn Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào
Đây là loại hình chủ thể kinh doanh còn khá mới mẻ ở Việt Nam, việc thành lập chủ yếu dựa vào nhân thân thành viên tham gia và thường liên quan đến điều kiện về chứng chỉ hành nghề nên số lượng đăng ký thành lập trên thực
tế khá hạn chế Công ty hợp danh theo Luật doanh nghiệp của Việt Nam khá khác biệt với công ty hợp danh theo Luật các nước, vì không chỉ có thành viên hợp danh mà còn có cả thành viên góp vốn; và công ty hợp danh được thừa nhận
là pháp nhân
Ba là, công ty cổ phần: là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia
thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân;
số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cấm chuyển nhượng (đối với cổ phần ưu đãi biểu quyết) và hạn chế chuyển nhượng (đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập trong ba năm tính từ ngày thành lập công ty) Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn
Trang 35Công ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, theo đó các cổ đông liên kết với nhau dựa vào vốn góp mà không dựa vào nhân thân người tham gia Đây là loại hình có thể huy động rộng rãi mọi đối tượng, từ người có vốn nhiều, người có vốn ít; người hiểu biết về kinh doanh, người không hiểu biết
về kinh doanh… đều có thể mua cổ phần để trở thành cổ đông công ty Do vậy công ty cổ phần có ưu thế hơn hẳn các loại hình chủ thể kinh doanh khác ở khả năng huy động vốn dễ dàng, khả năng chuyển dịch vốn linh hoạt, khả năng phân tán rủi ro cao; và rất thích hợp với những chủ thể kinh doanh kinh doanh ở quy
mô lớn, ngành nghề kinh doanh đa dạng, mức độ rủi ro đáng kể
Bốn là, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: là doanh
nghiệp, trong đó: Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá 50 Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty, trừ trường hợp cam kết góp trong thời hạn cam kết Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên công ty sau khi đã chào bán cho các thành viên còn lại trong thời hạn 30 ngày Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ phần
Với việc giới hạn số lượng thành viên (cả giới hạn tối thiểu và giới hạn tối đa); hạn chế khả năng chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên (phải chào bán cho các thành viên còn lại của công ty trong thời hạn quy định của Luật, sau
đó mới được bán ra bên ngoài); hạn chế khả năng huy động vốn điều lệ (công ty không được quyền phát hành cổ phần), công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên tỏ ra thích hợp với quy mô kinh doanh vừa và nhỏ, thành viên không quá nhiều, chế độ quản lý không quá phức tạp Điều này đã tạo ra sự lựa chọn tốt
Trang 36để các nhà kinh doanh có thể thoả mãn yêu cầu về một chủ thể kinh doanh có quy mô không lớn nhưng có tư cách pháp nhân và thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn
Năm là, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: là doanh nghiệp do
một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phần
Với mô hình kinh doanh này, một cá nhân có thể lựa chọn thành lập doanh nghiệp tư nhân hoặc kinh doanh dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Khi lựa chọn công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn đã bỏ vào kinh doanh (trách nhiệm hữu hạn); công ty có tư cách pháp nhân, có quyền nhân danh chính mình trong mọi hoạt động kinh doanh và tự chịu trách nhiệm đối với mọi khoản nợ bằng toàn bộ tài sản của mình); có quyền phát hành các loại chứng khoán, trừ cổ phần Mô hình kinh doanh một chủ khiến chủ sở hữu công ty có quyền quyết định về mọi hoạt động của công ty mà không bị chi phối bởi bất kỳ ai Tuy nhiên, mô hình này phù hợp với quy mô kinh doanh vừa và nhỏ, thậm chí siêu nhỏ mà không thực sự phù hợp với quy mô kinh doanh lớn
Sáu là, doanh nghiệp nhà nước: theo Luật doanh nghiệp năm 2020, doanh
nghiệp nhà nước được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, bao gồm: (i) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; (ii) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc
Trang 37tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, trừ doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ bao gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con; công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết bao gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con; công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết
Định nghĩa này đã có sự thay đổi cơ bản so với Luật doanh nghiệp năm
2014, vì doanh nghiệp nhà nước không chỉ là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý
Trước đây, doanh nghiệp nhà nước được điều chỉnh bởi Luật riêng, đó là Luật doanh nghiệp nhà nước Theo điều 1 Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995: Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành
Trang 38lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao Doanh nghiệp nhà nước
có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý Như vậy, theo Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư toàn bộ vốn điều lệ, giống với quy định của Luật doanh nghiệp năm 2014 Doanh nghiệp nhà nước tồn tại dưới hình thức doanh nghiệp độc lập (là doanh nghiệp không ở trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp khác) và tổng công ty (được thành lập và hoạt động trên cơ sở liên kết của nhiều đơn vị thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, cung ứng, tiêu thụ, dịch vụ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị, hoạt động trong một hoặc một số chuyên ngành kinh tế - kỹ thuật chính, nhằm tăng cường khả năng kinh doanh của các đơn vị thành viên và thực hiện các nhiệm vụ của chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ)
Theo Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 (thay thế Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995): Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn (điều 1) Trong Luật này: (i) Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước; công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà nước (giống mô hình doanh nghiệp nhà nước theo Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995 và Luật doanh nghiệp năm 2014; (ii) Công ty cổ phần nhà nước là công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông
là các công ty nhà nước hoặc tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp; (iii) Công ty trách
Trang 39nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên là công ty trách nhiệm hữu hạn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức quản lý và đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp; (iv) Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có hai thành viên trở lên là công ty trách nhiệm hữu hạn trong đó tất cả các thành viên đều là công ty nhà nước, hoặc có thành viên là công ty nhà nước và thành viên khác là tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp; (v) Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước là doanh nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, Nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó
Bảy là, doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều
bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc Hiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài, hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam, hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ bằng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp; các bên liên doanh chịu trách nhiệm đối với các khoản
nợ của doanh nghiệp bằng tài sản của mình góp vào liên doanh
Tám là, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp do nhà đầu
tư nước ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài có bản chất là công ty trách nhiệm hữu hạn, hoạt động kinh doanh độc lập và chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ từ hoạt động kinh
Trang 40doanh trong phạm vi tài sản của doanh nghiệp do một cá nhân nước ngoài bỏ vốn ra thành lập
Doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập và hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 Khi Luật doanh nghiệp năm
2005 và Luật đầu tư năm 2005 có hiệu lực (từ ngày 01/7/2006); Luật doanh nghiệp năm 2005 đã thay thế cho các quy định về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp tại Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập tại Việt Nam trước khi Luật doanh nghiệp năm 2005 có hiệu lực có quyền thực hiện theo một trong hai cách sau đây:
(i) Đăng ký lại và tổ chức quản lý, hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005 và pháp luật có liên quan; việc đăng ký lại được thực hiện trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật doanh nghiệp năm 2005 có hiệu lực
(ii) Không đăng ký lại; trong trường hợp này, doanh nghiệp chỉ được quyền hoạt động kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề và thời hạn được ghi trong giấy phép đầu tư và tiếp tục được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của Chính phủ
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà nhà đầu tư nước ngoài đã cam kết chuyển giao không bồi hoàn toàn bộ tài sản đã đầu tư cho Chính phủ Việt Nam sau khi kết thúc thời hạn hoạt động chỉ được chuyển đổi khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận theo quy định của Chính phủ (điều 170)