Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu cơ sở lý thuyết về giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt, từ đó nghiên cứu vấn đề
Trang 1DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
2 MGS Hiệp định liên vận hàng hóa đường sắt quốc tế"
4 GTVT Giao thông vận tải
5 GDP Thu nhập bình quân đầu người
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐÔNG VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG SẮT 5
1.1 Khái niệm, đặc điểm về tranh chấp hợp đồng vận chyển hàng hóa bằng đường sắt ở Việt Nam 5 1.2 Tranh chấp Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt và giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt 19 1.3 Pháp luật về phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt 21 1.4 Giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển tại tòa án 23 Kết luận chương 1 24
Chương 2: TRẠNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG SẮT TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA 26
2.1 Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt tại Tòa án 26 2.1.1 Văn bản pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt 26 2.1.2 Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp về vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt tại Tòa án 29 2.1.3 Về nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết tranh chấp về hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt tại tòa án 31 2.1.4 Chủ thể và đối tượng của tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt 31 2.1.5 Nội dung tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt 36 2.1.6 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các bên trong Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt 37
Trang 32.1.7 Về trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa
bằng đường sắt 38
2.2 Thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt từ thực tiễn xét xử tại tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa 39
2.2.1 Tổng quan tình hình vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 39
2.2.2 Thực trạng quyết giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt từ thực tiễn xét xử tại tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa 41
2.2.3 Một số bất cập trong giải quyết tranh chấp Hợp đồng vận chyển hàng hóa bằng đường sắt 50
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG SẮT 58
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt 58
3.2 Giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt 60
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 67
KẾT LUẬN 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tổng khối lượng vận chuyển trên địa bàn cả nước theo năm 40 Bảng 2.2 Doanh thu vận tải hàng hóa bằng đường sắt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, từ năm 2012 đến 2015 40 Bảng 2.3: Tình hình thụ lý và giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa từ 2013 đến 2018 42
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Tranh chấp thương mại nói chung và tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt ở Việt Nam ngày càng trở nên phức tạp và số lượng tăng cao Các cơ quan có trách nhiệm giải quyết tranh chấp cũng thường trong tình trạng quá tải Sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tính đa dạng và phức tạp trong quan hệ thương mại làm cho tranh chấp thương mại cũng trở nên phức tạp về nội dung, mức độ tranh chấp tăng cao Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng trong lĩnh vực vận chuyển là cần thiết bởi giải quyết tranh chấp kinh doanh trong lĩnh vực vận chuyển là là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tạo môi trường kinh doanh hiệu quả, tạo niềm tin cho các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước
Thanh Hoá là một tỉnh nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động
từ vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh
tế Trung bộ, ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ, có hệ thống giao thông thuận lợi về đường bộ và đường sắt Mạng lưới thương mại Thanh Hoá ngày càng được mở rộng, hệ thống siêu thị ở đô thị và hệ thống chợ ở nông thôn phát triển nhanh, văn minh thương mại đã có nhiều chuyển biến tích cực
Với lý do như trên, học viên xin chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt từ thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa” để nghiên cứu và làm luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chủ đề về tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa nói chung đã có nhiều giáo trình, công trình nghiên cứu và luận văn nhắc đến, cụ thể như sau:
Giáo trình Luật Thương mại (2017), Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân; TS Phan Thị Thanh Thủy (2013), Tập bài giảng về Giải quyết tranh chấp thương mại, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội: Trong giáo trình có nghiên cứu và giảng dạy về Hợp đồng vận chuyển
Phạm Việt Cảm (2013), Phát triển dịch vụ vận chuyển hàng hóa tại địa bàn tỉnh Quảng Nam, Trường Đại học Đà Nẵng: Nng
Nguyễn Thị Ái Vân (2010), Hoạch định chiến lược kinh doanh dịch vụ vận tải đường sắt tại công ty vận tải đa phương thức Viettranstimex, Trường Đại học Đà Nẵng;
Trang 6về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt tại một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Ngoài ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển trong lĩnh vực vận chuyển đang tiếp tục được đặt ra và có nhu cầu giải quyết hoặc chưa được cập nhật trong pháp luật hiện hành Đây là vấn đề cấp thiết đặt
ra trong tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, hệ thống pháp luật thương mại nói riêng ở Việt Nam
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu cơ sở lý thuyết về giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt, từ đó nghiên cứu vấn đề thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng trong vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa để từ đó rút ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp giải quyết tranh chấp thương mại trong lĩnh vực này
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu thì nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận của pháp luật của vấn đề giải quyết tranh chấp hợp đồng trong vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt
- Nghiên cứu đánh giá về thực trạng áp dụng pháp luật và cơ chế áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển trong lĩnh vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt, tìm ra thực tiễn, đánh giá và chỉ ra những bất cập trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
- Nghiên cứu sự phù hợp và đưa ra những kiến nghị về áp dụng pháp luật
và nâng cao hiệu quả thực hiện vấn đề giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển trong lĩnh vực vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt Cuối cùng là đề xuất những giải pháp để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp về vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt
Trang 73
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề áp dụng pháp luật vào giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển về vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung làm rõ đối tượng nghiên cứu
trên các phương diện:
- Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển về vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt;
- Giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển chỉ tập trung vào tranh chấp giữa các chủ thể trong hoạt động vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt mà không đi vào tranh chấp kinh doanh thương mại nói chung hay việc vận chuyển hàng hóa bằng các đường khác
- Địa bàn nghiên cứu: Tỉnh Thanh Hóa
- Thời gian nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn từ năm
2015 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ đối tượng nghiên cứu nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
- Chương 1: Phương pháp tổng hợp, thống kê, thu thập, phân tích, nhằm làm rõ khái niệm, đặc điểm của giải quyết chấp kinh doanh thương mại; phương pháp lịch sử, thống kê, quy nạp, phân tích, diễn giảng, chứng minh để làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản, đặc điểm cũng như cơ chế bảo đảm thực hiện của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển
- Chương 2: Phương pháp phân tích, so sánh, diễn giảng, quy nạp lịch
sử, khảo sát thực tiễn v.v nhằm khái quát và đánh giá thực trạng thực hiện giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển về vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
- Chương 3: Phương pháp phân tích, tổng hợp, dự báo, khái quát hoá để xác định các yêu cầu cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển về vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Về mặt lý luận, luận văn là công trình khoa học được nghiên cứu khá chuyên sâu về các vấn đề pháp lý nhằm đảm bảo tính an toàn, hợp pháp cho giải
Trang 84
quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển về vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt trong giai đoạn hiện nay, từ đó, góp phần hiểu rõ hơn về nội hàm của việc giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển về vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn sẽ là công trình khoa học có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập về giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển về vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt Đồng thời luận văn có thể sử dụng như nguồn tư liệu nghiên cứu trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển về vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu làm 3 chương với những nội dung cơ bản như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung và pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt
Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt
Trang 91.1.1 Vận chuyển chuyển hàng hóa bằng đường sắt ở Việt Nam
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt là sự thỏa thuận giữa doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển đường sắt với người thuê vận chuyển, theo
đó doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển đường sắt nhận vận chuyển hàng hóa từ nơi nhận đến với đến và giao hàng hóa cho người nhận hàng hóa xác định quan
hệ về nghĩa vụ và quyền lợi của các bên và được lập thành văn bản hoặc hình thức khác mà hai bên thỏa thuận
Hiện nay, cơ cấu vận tải hiện nay đường bộ chiếm tỷ lệ lớn là 90%, đường sắt chiếm tỷ lệ là 2%, đường hàng không chiếm tỷ lệ 6%, đường thủy nội địa chiếm tỷ lệ là 2% và đường hàng hải chiếm tỷ lệ là 1% Do đó, đối với vận tải hàng hóa bằng đường bộ hiện nay vẫn chiếm hơn 70% làm mất cân đối giữa các phương thức vận tải Vận tải hàng hóa bằng đường sắt nửa đầu năm nay đạt 705,2 triệu tấn, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước và 130,6 tỷ tấn, tăng 5,8%.1Giao thông vận tải đường sắt có vai trò quan trọng trong hệ thống giao thông vận tải của nước ta, góp phần lưu thông hàng hóa, tạo thuận lợi cho việc
đi lại của hành khách trong phạm vi toàn quốc cũng như quốc tế, phục vụ đắc lực cho sự tăng trưởng kinh tế của đất nước Giao thông vận tải đường sắt có những ưu thế so với các phương thức giao thông vận tải khác, đó là:
- Vận tải được khối lượng lớn, đi xa, ít phụ thuộc vào thời tiết;
- Hành khách đi bằng đường sắt được hưởng tiện nghi và an toàn hơn so với đường bộ Đường sắt cao tốc trên thế giới hiện đang cạnh tranh với hàng không về thời gian đi lại và sự tiện lợi, tiện nghi;
- Diện tích đất để xây dựng đường sắt ít hơn so với đường bộ;
1
Vận tải đường sắt và sức ép từ đường bộ, hàng không - Nguồn: su/van-tai-duong-sat-va-suc-ep-tu-duong-bo-hang-khong-20170707121540988.htm, truy cập ngày 20/01/2020
Trang 10http://vneconomy.vn/thoi-6
- Mức độ ô nhiễm môi trường thấp (nếu dùng đầu máy diesel) hoặc không
ô nhiễm môi trường (nếu dùng đầu máy điện);
- Vận tải công cộng bằng đường sắt trong đô thị lớn là giải pháp ưu việt nhất trong việc giải quyết ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông; góp phần nâng cao văn minh đô thị;
- Có vai trò đặc biệt đối với quốc phòng, an ninh
1.1.2 Quy trình vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt
Quy trình vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt là một hình thức vận chuyển hiện đại tiện lợi và hàng hóa được vận chuyển an toàn Vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt ngày nay được nhiều đơn vị lựa chọn bởi nó mang lại những hiệu quả như: chi phí thấp, giá cả ổn định, hàng hóa vận chuyển an toàn, điều đặc biệt là khối lượng vận chuyển hàng hóa lớn và thời gian giao nhận chính xác theo lịch trình của tàu
Hệ thống đường sắt Việt Nam có tổng chiều dài 2652 km, trong đó tuyến đường chính Hà Nội – thành phố Hồ Chí Minh dài 1726 km được gọi là Đường sắt Bắc Nam, cũng góp phần quan trọng giảm tải vận tải nội địa
Khi sử dụng dịch vụ vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt thì đơn vị vận chuyển đảm bảo tất cả các hàng hóa trong quá trình vận chuyển đều an toàn, nguyên vẹn và đúng thời hạn Đảm bảo được sự hợp tác giữa đường sắt và chủ hàng trong quá trình chuyên chở theo quy định của thể lệ vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt và các quy định liên quan
Trong hoạt động vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt có thể được thực hiện thông qua các hình thức: Vận chuyển hàng từ kho tới kho, hoặc từ ga tới ga; Hàng hóa có toa xe chuyên dụng để vận chuyển ô tô hoặc chuyển nhà an toàn; vận tải trọn gói hoặc vận chuyển bằng các toa tàu chuyên dụng phù hợp với hàng rời và hàng siêu trường Cuối cùng là hoạt động lưu kho và phân phối hàng hóa
Thông thường, quy trình vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt được thực hiện như sau:
Bước 1: Tiếp nhận thông tin/nhu cầu vận chuyển hàng hóa từ Khách hàng Bước 2: Khảo sát lượng hàng cần vận chuyển
Bước 3: Báo giá vận chuyển, sau khi thống nhất kí hợp đồng vận chuyển Bước 4: xác định tiến độ giao hàng, bốc xếp chuyển hàng từ kho đến tàu
Trang 117
Bước 5: Hàng hoá được vận chuyển đến địa điểm của khách hàng
Bước 6: Sau khi khách hàng nghiệm thu, đề nghị khách hàng thanh toán theo hợp đồng Giao hoá đơn nếu khách hàng yêu cầu
Vận tải nói chung và vận tải đường sắt nói riêng có vai trò rất quan trọng và
có tác dụng to lớn đối với nền kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia cũng như đối với nền kinh tế thế giới, đặc biệt nó thúc đẩy quá trình buôn bán quốc tế và hội nhập giữa các nước trong khu vực và trên thế giới Hệ thống vận tải đường sắt phục vụ tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như sản xuất, lưu thông, tiêu dùng quốc phòng, do đó nó phản ánh một phần trình độ phát triển của một đất nước Vai trò của vận tải đường sắt thể hiện rõ nét trong những mặt sau: Đường sắt là một trong các loại phương tiện giao thông quan trọng hình thành nên mạng lưới giao thông vận tải quốc gia Cũng như các ngành vận tải khác, vận tải đường sắt không tạo ra sản phẩm mới cho xã hội, nhưng nó thực hiện nhiệm vụ đưa các sản phẩm, hàng hóa đến nơi tiêu thụ Với mạng lưới đường sắt hình xương cá chạy dọc Bắc Nam, nối hành lang Đông Tây và đặc biệt với các tuyến đường sắt liên vận quốc tế hiện có thì vận tải đường sắt không chỉ đáp ứng nhu cầu đi lại của dân cư mà quan trọng hơn nó là cầu nối các nhà máy xí nghiệp, các khu kinh tế, các địa phương, vùng, lãnh thổ và hiện tại còn là cầu nối với nước láng giềng Trung Quốc, trong tương lai khi được mở rộng sẽ thúc dẩy sự giao lưu buôn bán giữa các quốc gia, khắc phục sự phát triển không dồng đều giữa các vùng miên, góp phần cải thiện đủi sống nhân dân Với ý nghĩa dó, có thể nói rằng hiệu quả sản xuất của nền kinh tế nói chung và của các ngành kinh
tế nói riêng phụ thuộc một phần vào năng lực và chất lượng hoạt động của vận tải đường sắt Với ưu thế nổi bật của vận tải đường sắt là vận chuyển đường dài vói khối lượng lớn, ngành đường sắt đảm đương vận chuyển một lượng lớn sản lượng hàng hóa, hành khách, góp phần thúc đẩy các ngành sản xuất khác phát triển, Ngược lại, doanh nghiệp vận tải đường sắt cũng là một trong những doanh nghiệp tiêu thụ khối lượng lớn vật tư, nguyên liệu do các ngành khác sản xuất
Do vậy kinh tế đất nước phát triển đổng đều sẽ thúc đẩy ngành vận tải đường sắt phát triển Với ý nghĩa đó, doanh nghiệp vận tải đường sắt là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế nói chung và các ngành vận tải khác nói riêng Ngoài ra, vận tải đường sắt còn
có mối quan hệ mật thiết với các ngành vận tải khác (sông, biển, ô tô, hàng không) Điều này thể hiện rõ nét nhất ở sự kết hợp vận chuyển đa phương thức
Trang 128
để hoàn thành chu trình vận chuyển “Door to Door” (Cửa đến cửa) phục vụ khách hàng Do đó các phương thức vận tải khác và vận tải đường sắt có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, vừa cạnh tranh vừa kết hợp Tuy hiện nay Ngành đường sắt còn chưa phát triển, doanh thu còn thấp và Nhà nước vãn tiếp tục phải bù lỗ để duy trì hoạt động, nhưng trong tương lai, cùng với sự phát triển của kinh tế đất nước và khi mạng lưới giao thông vận tải được mở rộng thì doanh thu của Ngành đường sắt sẽ đóng góp một phần không nhỏ ngoại tệ cho đất nước và sẽ có tác động đến cán cân thanh toán quốc gia Vai trò chủ đạo của Ngành vận tải đường sắt còn biểu hiện ở sự đầu trong ứng dụng khoa học công nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế
xã hội và chấp hành luật pháp Sự tiêu vong của vận tải đường sắt đặc biệt là đường sắt liên vận quốc tế cũng đồng nghĩa với việc mất đi một lực lượng dự bị quan trọng trong chiến lược phát triển nền kinh tế độc lập tự chủ, đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước
1.1.3 So sánh sự khác nhau giữa các hình thức vận chuyển
So với vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ, thì vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ cũng đã và đang được sử dụng phổ biến từ rất lâu và được dùng đầu tiên để vận chuyển hàng hóa, qua thời gian phát triển lâu dài, hệ thống phương tiện đường bộ ngày càng tiên tiến và tối ưu Trong khi hệ thống vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt cũng tồn tại từ lâu đời nhưng không được nâng cấp cải tạo thường xuyên Vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ có ưu điểm hơn so với vận chuyển đường sắt là người vận chuyển có thể dùng các loại xe máy, xe tải nên rất linh hoạt trong quá trình vận tải hàng hóa, không phụ thuộc vào giờ giấc
và không có quy định về thời gian cụ thể như đường sắt mà các bên chỉ cần thống nhất thời gian cũng có thể thay đổi trong quá trình vận chuyển Có thể lựa chọn được phương tiện, số lượng hàng hóa hay tuyến đường yêu cầu thay vì chỉ
đi những đường thống nhất như tải hàng hóa bằng đường sắt Vì vậy, hình thức vận tải hàng hóa bằng đường sắt giúp tiết kiệm chi phí và nhân công, trừ trường hợp vận chuyển đường dài có thể phát sinh thêm chi phí phụ Tuy nhiên, vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ cũng có nhược điểm là vận chuyển hàng hóa đường dài thì phải nộp thêm các khoản phụ phí đường bộ như trạm thu phí, phí nhiên liệu, phí cầu đường,… hoặc tiềm ẩn rủi ro như tai nạn giao thông, kẹt xe, ảnh hưởng đến việc giao hàng hóa nếu hàng hóa có khối lượng lớn, khó khăn
Trang 13So với vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không thì vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt khó khăn hơn về mặt thời gian vận chuyển Hàng không là một con đường vận chuyển nhanh gọn, dễ sử dụng, ít xảy ra rủi ro Tuy nhiên, vận chuyển bằng đường hàng không tốn chi phó cao, khối lượng hàng hóa cũng
bị hạn chế và thủ tục hải quan vốn phức tạp, mất thời gian nhiều hơn so với vận chuyển đường sắt
1.1.4 Vai trò vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt ở Việt Nam
Ở Việt Nam đường sắp là phương tiện quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa bởi lẽ đường sắt là tuyến đường kéo dài từ Bắc vào Nam
Khi xu thế toàn cẩu hoa thương mại trong nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển đã kéo theo xu thế toàn cầu hoa vận tải trong đó có vận tải đường sắt, cũng theo các cấp độ trong khu vực, khu vực và toàn cầu Nếu như trong hợp tác kinh tế quốc tế có các tổ chức kinh tế như WTO, APEC, AFTA, NAFTA thì biểu hiện về liên kết vận tải đường sắt là công ước quốc tế về chuyên chở hàng hóa bằng đường sắt (Convention International Concernant la Transport de Marchandises par Chemins de Fer - CIM) gọi tắt là “Công ước CIM” hay “Công ước Bec nơ”, công ước COTIF hay hiệp định liên vận hàng hóa đường sắt quốc
Trang 1410
tế (Intemational Convention ôn Cariage of Goods by Rail- MGS), gọi tắt là
“Hiệp định MGS” và sau này là “Hiệp định SMGS” 2
Trước xu thế của thời đại, việc tham gia vào quá trình toàn cầu hoa khu vực hoa cùng với việc thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế Việt Nam nói chung và vận tải đường sắt nói riêng là thực sự cần thiết và là một đòi hỏi mang tính khách quan Tại đại hội Đảng lần thứ IX của Bộ chính trị ra quyết định số
07 - NQ/TW ngày 27/11/2001 về hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tạo thế và lực mới cho cho công cuộc phát triển kinh tế tiến nhanh tiến mạnh và vững chắc trong thế kỉ 213
Nước ta với địa hình dài từ Bắc vào Nam, đi qua các trung tâm kinh tế, chính trị lớn của cả nước, đặc biệt là việc kết nối Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, đường sắt đã có đóng góp to lớn trong thời gian qua, nhất là trong giai đoạn chiến tranh, thời gian khôi phục đất nước sau khi thống nhất
Các nghiên cứu chỉ ra rằng khi kinh tế phát triển thì nhu cầu vận tải tăng
từ 1,1 – 1,3 lần với tốc độ tăng trưởng kinh tế thông thường Những phương thức vận tải khác như đường sắt, đường thủy… với điều kiện hiện tại của nước
ta cũng không thể đáp ứng hết được nhu cầu Với lợi thế của mình như vận chuyển an toàn, tốc độ khá cao, đáp ứng được nhu cầu vận tải với khối lượng lớn, đường sắt đã có vai trò nhất định trong việc vận chuyển hàng hóa và hành khách Đặc biệt, với xu thế phát triển của thế giới, tại các đô thị lớn đều đã hình thành đường sắt, từ đó làm thay đổi bộ mặt đô thị Xác định vai trò đó, định hướng phát triển giao thông vận tải đường sắt đã được nêu rõ trong Nghị quyết
số 13-NQ/TW, Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành TW Đảng (Khóa XI) về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Chiến lược Quy hoạch phát triển giao thông vận tải nói chung và đường sắt nói riêng trong thời gian tới.4
2
Hiệp định khung Hợp tác Kinh tế, Nguồn:
https://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BB%87p_%C4%91%E1%BB%8Bnh_khung_H%E1% BB%A3p_t%C3%A1c_Kinh_t%E1%BA%BF, truy cập ngày 11/1/2020
3
Nội dung văn kiện Đại hội Đảng, Nguồn:
http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ThongTinTongHop/ noidungvankiendaihoidang, truy cập ngày 20/1/2020
4
Báo cáo của Hội nghị Ban chấp hành TW Đảng khóa XI
Trang 1511
Ở Việt Nam, đường sắt chỉ có 3 khổ, đường 1m là chủ yếu, nên chỉ có một đường, nếu có phát triển đi chăng nữa cũng không tăng được quá 20 đôi tàu nên rất khó Vào những năm 80 của thế kỷ XX, đường sắt vận chuyển chuyên chở chiếm 29,2% tổng vận chuyển hành khách, nhưng đến năm 2014 chỉ còn 0,39% Như thấy ta có thể nhìn thấy sự tụt hậu của đường sắt như thế nào Việc tụt hậu này làm cho chi phí xã hội thấp xuống Một đất nước hẹp và đông dân như thế này mà vận tải đường sắt không phát triển thì nó tăng áp lực lên đường sắt, dẫn đến việc duy tu đường sắt hết sức tốn kém, tất cả vận chuyển quá tải đường sắt đều phải chịu.5
Hệ thống đường sắt của nước ta có tổng chiều dài là 3.143 km, trong đó đường chính tuyến là 2.531km, 612 km đường ga và đường nhánh; bao gồm 3 loại khổ đường 1m, 1,435m và khổ lồng giữa 1m và 1,435m, trong đó khổ 1m chiếm 85% Với “tuổi đời” hơn 100 năm, đến nay hệ thống này không những lạc hậu, xuống cấp do không được đầu tư đúng mức mà còn phải đối mặt với tình trạng xâm lấn hành lang an toàn giao thông và mở lối đi dân sinh trái phép làm phát sinh nhiều yếu tố gia tăng gây mất an toàn chạy tàu…6
Chỉ cần những nơi có hệ thống đường mà xe tải vào được đều có thể giao
hàng đến Không cần phải có hệ thống đường ray như vận tải đường sắt, không cần phải gần những nơi có cảng biển hoặc phải chạy một tuyến đường thật xa mới kinh tế như từ cảng TP Hồ Chí Minh đến cảng Hải Phòng
Cách thức hoạt động đơn giản: chỉ cần bốc hàng lên xe tải là có thể chuyển hàng đến kho nhận, sử dụng công nhân bốc xếp, xe nâng, xe cẩu, xe cẩu tự hành,… tất cả những loại hình này đều có ở những công ty chuyên vận tải hàng hóa đường sắt nhiều hoặc ở những bãi xe tải lớn
Do có nhiều ưu điểm về thời gian, tính thuận tiện cơ động cũng như sự dễ dàng tìm kiếm nhà vận tải hàng hóa đường sắt như vậy, khách hàng sử dụng dịch vụ vận chuyển phải chịu cước vận chuyển cao trên đơn vị hàng hóa vận chuyển Nguyên nhân là do xe tải chỉ có tải trọng thấp, vài chục tấn trở lại (không thể chở nhiều như đường sắt – vài trăm tấn, đường biển – vài nghìn tấn)
Từ đó, cước vận chuyển tính trên đơn vị hàng hóa sẽ cao do tiêu thụ nhiên liệu
Trang 1612
Từ năm 2005, vốn đầu tư cho ngành Đường sắt chiếm 3,3% trong tổng đầu
tư của ngành GTVT nhưng đến năm 2015 thì đầu tư chỉ chiếm 1,6% trong toàn ngành GTVT Đường sắt với tình trạng như vậy khó phát triển được Đầu máy, toa xe cũng đã rất cũ, được sản xuất từ cách đây từ 12 đến 40 năm mà vẫn phải
sử dụng vì hiện nay trên thế giới các đầu máy đó cũng không còn được sản xuất nữa Tuy trong điều kiện như vậy nhưng tôi đánh giá rất cao ngành Đường sắt khi vẫn đáp ứng được khối lượng vận chuyển đường sắt ngày càng tăng với những đổi mới dễ nhận thấy ngay ở Ga Hà Nội trong khi ngành không được đầu tư nhiều Đây là những điều cần ghi nhận sự nỗ lực rất lớn của ngành Đường sắt.7
Hiện nay xu thế này đang diễn ra với tốc độ nhanh và theo các cấp độ khác nhau như tiểu khu vực, khu vực và toàn cầu Khi xu thế toàn cẩu hoa thương mại trong nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển đã kéo theo xu thế toàn cầu hoa vận tải trong đó có vận tải đường sắt, cũng theo các cấp độ khu vực, khu vực và toàn cầu Nếu như trong hợp tác kinh tế quốc tế có các tổ chức kinh tế như WTO, APEC, AFTA, NAFTA thì biểu hiện về liên kết vận tải đường sắt là công ước quốc tế về chuyên chở hàng hóa bằng đường sắt" (Convention International Concernant la Transport de Marchandises par Chemins de Fer - CIM gọi tắt là
"Công ước CIM" hay "Công ước Bec nơ", công ước COTIF hay hiệp định liên vận hàng hóa đường sắt quốc tế" (Intemational Convention ôn Cariage of Goods
by Rail- MGS), gọi tắt là "Hiệp định MGS" và sau này là “Hiệp định SMGS” Trước xu thế của thời đại, việc tham gia vào quá trình toàn cầu hoa khu vực hóa cùng với việc thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế Việt Nam nói chung và vận tải đường sắt nói riêng là thực sự cần thiết và là một đòi hỏi mang tính khách quan
Đường sắt của Việt Nam ra đời sớm nhất Đông Nam Á, nhưng “chậm lớn”
so với khu vực và thế giới Không chỉ chậm lớn mà còn dừng lại có nghĩa là đã tụt hậu nhiều Trong một thời gian dài không quan tâm đến chiến lược phát triển đường sắt và loại hình vận tải đường sắt, không quan tâm thì không có đầu tư, không có đầu tư thì không thay đổi được công nghệ Đó là nguyên nhân lý giải
7
Phát biểu của Phó TBT Nguyễn Quốc Thắng – Phó tổng biên tập báo đại biểu nhân dân tại Tọa đàm “Vai trò của giao thông đường sắt trong phát triển kinh tế - xã hội”, nguồn: http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=390418, truy cập 20/1/2020
Trang 1713
vì sao ngành Đường sắt gồm sản xuất, chế tạo đầu máy toa xe, sản xuất các nguyên vật liệu để làm hạ tầng, thậm chí công tác tổ chức nhân sự cũng không chú trọng đào tạo để thúc đẩy quá trình cải tổ hệ thống đường sắt.8
Những năm gần đây chúng ta đã đạt đựơc mức tăng trưởng GDP khá cao,
cụ thể là từ năm 2015 GDP là 6,68%, năm 2016 là 6,21%, năm 2017 là 6,81%, năm 2018 tăng 7,08%, Tính chung 9 tháng đầu năm 2019, GDP ước tính tăng 6,98% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng cao nhất trong hơn thập niên qua Mức tăng GDP cao nhất tính theo chín tháng đầu năm lần gần nhất vào năm
2007, tăng 8,16% 9
Chính sách mở cửa nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng được mở rộng, quan hệ kinh tế với các nước ngày càng phát triển góp phần nâng cao vủ trí của nước ta trên trường quốc tế Hiện nay nước ta có quan hệ kinh tế với hơn một trăm nước trên thế giới, chính điều này tạo điều kiện cho Ngành vận tải đường sắt phát triển do có nhiều nguồn hàng vận chuyển kết hợp với các phương thức vận tải khác Khi Việt Nam ký hiệp định vận tải với các nước trong khối ASEAN thì ngành vận tải nói chung được đặt lên vủ trí quan trọng trong công tác đối ngoại, trong khi đó vận tải đường sắt có những ưu điểm lợi thế riêng của mình phù hợp với điều kiện địa lý cũng như kinh tế xã hội Việt Nam Hơn nữa trong những năm tới khi cơ sở hạ tầng từng bước được xây dựng
và hoàn thiện thì nhu cầu vận tải chắc chắn sẽ tăng Trước mắt có những điều kiện hết sức thuận lợi cho vận tải đường sắt - loại hình vận tải sẽ chiếm ưu thế trong tương lai
Như vậy, vận tải hàng hóa bằng đường sắt hiện nay đang được sử dụng rộng rãi do có nhiều ưu điểm cơ động, nhanh, đơn giản, thích hợp cho tuyến đường ngắn, hàng hóa ít, nhẹ Tuy nhiên giá cước vận chuyển cao, giảm tính cạnh tranh của sản phẩm; tính an toàn hàng hóa chưa cao, phụ thuộc vào thời tiết Tùy vào yêu cầu của thời gian vận chuyển, an toàn hàng hóa và ngân sách cho phép, chúng ta sẽ đưa ra quyết định chọn phương thức vận chuyển phù hợp
8
Ông Lê Thanh Vân - Ủy viên Thường trực Ủy ban Tài chính- Ngân sách của Quốc hội; Nguồn: Tọa đàm “Vai trò của giao thông đường sắt trong phát triển kinh tế - xã hội”, nguồn: http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=390418, truy cập 20/1/2020
9
Nguồn: Tổng cục thống kê
https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=382&idmid=2&ItemID=19041, truy cập
20/1/2020
Trang 1814
Càng thuận lợi hơn khi ngành được sự chỉ đạo trực tiếp, kịp thời của Bộ Giao thông vận tải; đồng thời đội ngũ cán bộ lãnh đạo của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam cũng được đào tạo sâu, có sự gắn bó với ngành, không ngừng học hỏi những kinh nghiệm lẫn nhau và kinh nghiệm của các nước phát triển Công nhân viên chức ngành vận tải đường sắt luôn có tinh thần tự chủ, sáng tạo, đoàn kết và tin tưởng vào đưòng lối phát triển của Đảng và Nhà nước
1.1.5 Lợi thế cạnh tranh của vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt so với các phương tiện khác
Thứ nhất, ngành đường sắt Việt Nam bất đầu xây dựng và phát triển từ năm
1881 đến nay đã trên 120 năm, tổng chiều dài đường sắt đang khai thác là 2632
km đường chính tuyến Mạng lưới đường sắt Việt Nam được hình thành từ các tuyến trục giao thông quan trọng nối liền các trung tâm kinh tế, chính trị của đất nước, gắn kết với giao thông đường sắt, dường sông và đường biển Trong đó đường sắt liên vận quốc tế được nối lại từ ngày 14/2/1996 thực hiện nghiệp vụ vận chuyển hàng hóa, hành khách liên vận quốc tế giữa nước ta với nước khác, đặc biệt là với Trung Quốc, quốc gia láng giềng hữu nghị lâu đời với nước ta.10Những năm gần đây kim ngạch đầu tư nước ngoài vào Việt Nam không ngừng tăng lên, một số khu chế xuất và xí nghiệp liên doanh đã đi vào hoạt động dẫn đến nhu cẩu vận tải nguyên vật liệu và sản phẩm hàng hóa đang có xu hướng tăng mạnh Hiện nay trên thị trường vận tải thế giới xu thế vận chuyển hàng hóa bứng Container đang phát triển mạnh, sự phát triển của phương thức vận tải Container sẽ tác dộng đến cơ cấu hàng hóa vận chuyển bứng đường sắt của Việt Nam trong thời gian tới
Thứ hai, hầu hết các tuyến đường sắt đều chạy song song với đường bộ Đây là điều kiện tốt để ngành đường sắt cạnh tranh với ô tô và các phương thức vận tải khác nhờ chi phí thấp, vận chuyển với khối lượng lớn và đặc biệt đối với vận tải Container sẽ được áp dụng và phát triển mạnh trong tương lai
Thứ ba, dựa trên ưu thế của việc vận chuyển được hàng hóa cồng kềnh, trọng tải lớn, mà trên thực tế đa số hàng hóa chuyên chở trên hai tuyến liên vận quốc tế đều là các loại hàng hóa nguyên nhiên liệu như than đá, quặng các loại,
Trang 1915
sắt thép kim loại, vôi gạch ngói kính nên trong tương lai việc áp dụng vận chuyển vận tải hàng hóa bứng đường sắt sẽ ngày càng khởi sắc, vì với các mặt hàng cồng kềnh như trên nếu vận chuyển bứng ô tô thì cần có loại ô tô chuyên dụng, điều này sẽ gây hư hỏng mặt đường do tải trọng trục quá lớn Mặt khác, vận chuyển Container với những ưu thế rõ nét đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong vận chuyển vận tải hàng hóa, mà khối lượng mỗi Container vận chuyển: Container 20 feet nặng 20 tấn, 40 feet nặng 30 tấn nên xu thế chủ yếu hiện nay là dùng đưòng sắt chuyên chở Container sang những thị trường lân cận Thứ tư, về cơ sở vật chất, trong những năm qua, trước những khó khăn và thử thách của cơ chế thị trường Ngành Đường sắt nói chung và công ty vận tải hàng hóa đường sắt nói riêng không ngừng tự đổi mới để vươn lên, khối lượng vận tải và doanh thu năm sau cao hơn năm trước, việc đóng mới các toa xe của ngành đường sắt cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể, ngang với sản phẩm của các nước trong khu vực Ngoài ra, Nhà nước đã tập trung ưu tiên về vốn, kỹ thuật cho Ngành đường sắt, do đó các công trình hạ tâng cơ sở giao thông vận tải như cầu đường, nhà ga, đường ray đã được đầu tư xây dựng, đến nay đã có nhiều công trình được đưa vào sị dụng có hiệu quả, các ga trên tuyến được đầu tư trang thiết bị mới, nhiều ga có điều kiện thuận lợi để tổ chức xếp dỡ Container Do trong điều kiện hiện nay, khi nền kinh tế nước ta còn yếu, tiền dành để đầu tư, làm mới tuyến đường còn hạn chế nên việc tận dụng mạng lưới đường sắt sẵn có cho việc vận chuyển hàng hóa là cần thiết và có tính kinh tế Đây là ưu thế rõ rệt của vận tải đường sắt
Thứ năm, thông qua hai tuyến đường sắt liên vận quốc tế hiện tại và tuyến đường sắt xuyên Á sắp được xây dựng trong tương lai, Ngành đường sắt thông qua quá trình hội nhập và hợp tác có thể tranh thủ được nguồn vốn và kỹ thuật tiên tiến để xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, đổng thời có điều kiện để học tập và trao đổi với Trung Quốc và trong tương lai là các nước Châu Á và Châu
Âu để nâng cao trình độ cho cán bộ về cả quản lý và kỹ thuật do Đường sắt Việt Nam đã có nhiều năm hợp tác đường sắt liên vận vói Tổ chức hợp tác Đường sắt các nước xã hội chủ nghĩa và có một số năm tham gia hợp tác đường sắt với các nước ASEAN Hiện nay các nước ASEAN đang tích cực triển khai dự án phát triển tuyến đường sắt Singapore - Côn Minh trong đó có hơn 2000 km chạy qua Việt Nam Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với đường sắt Việt Nam
Trang 2016
trong tiến trình hội nhập Ngoài ra các doanh nghiệp trong ngành đường sắt cũng
có cơ hội mở rộng và thâm nhập thị trường nước ngoài, trước mắt là thị trường Trung Quốc nhiều tiềm năng, tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế trên cơ sở các khuôn khổ pháp lý và các Hiệp định cam kết khu vực và quốc tế qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như nước ngoài, tạo động lực cho ngành phát triển mạnh hơn trong tương lai Thứ sáu, lợi thế cạnh tranh của vận tải bằng đường sắt so với các phương thức vận tải khác Không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của vận tải đường sắt, bất cứ một quốc gia nào khi bước vào quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng đều phải chú trọng đến viợc xây dựng hợ thống đường sắt, bởi đường sắt giống như
hợ thống huyết mạch trong cơ thể sống, giúp thu hẹp khoảng cách, nối các vùng miền, thúc đẩy giao lưu với bên ngoài Đường sắt Việt Nam được xây dựng từ thời Pháp thuộc, đã trải qua bao thăng trầm cùng đất nước Trong chiến tranh, từng chuyến tàu ngày đêm đưa bộ đội, vũ khí, đạn dược vào chiến khu kháng chiến thì ngày nay mạng đường sắt lại đưa hàng hóa Viợt Nam từng bước tiếp cận với thị trường nước ngoài Hiợn nay một trong những phương án của mạng đường sắt Xuyên Á là mạng đường sắt từ các nước thuộc khối ASEAN qua Lào, qua Trung Quốc và vào Việt Nam qua tuyến Lào Cai, Hà Nội - Hải Phòng, khi tuyến đường sắt này hoàn thành khối lượng hàng hóa vận chuyển sẽ tăng lên đáng kể, hàng hóa sẽ đa dạng và phong phú han Theo dự báo khối lượng hàng hóa từ Trung Quốc vận chuyển sang nước ta sẽ không nhỏ hơn 0.5 triợu tấn vào năm 2010 Bàn về lợi thế của vận tải đường sắt so với các phương thức vận tải khác, có 5 vấn đề cần được nhấn mạnh, đó là thời gian chung chuyển, cơ sở hạ tầng, tính liên tục, độ tin cậy an ninh và khả năng vận chuyển từ cửa tới cửa hay
sự linh hoạt
Thứ bảy, thời gian trung chuyển của vận tải đường sắt cũng có ưu thế nhất định so với các phương thức vận tải khác Vận tải đường sông, biển ít tiêu hao năng lượng, ít ó nhiễm môi trường nhưng tốc độ lại hạn chế hơn vận tải đường sắt, mặt khác vận tải đường sông còn bị giới hạn về khối lượng Vận tải đường sắt từ trước đến nay vẫn tỏ ra có ưu thế hơn so với vận tải đường sắt khi so sánh tốc độ trung bình của tàu hoa vẫn chậm hơn ô tô khoảng 1,5 lần, tuy nhiên vận tải đường sắt vẫn có khả năng cạnh tranh với vận tải dường bộ nếu vận tải đường sắt được tổ chức hiệu quả vói việc giảm thiểu sự chậm chẽ vào lúc giao
Trang 2117
thời Hoạt động vận tải phải đảm bảo sao cho hàng hóa có thể được xếp lên và
dỡ xuống trong thời gian ngắn nhất, giảm thời gian gom hàng, hơn nữa hệ thống báo hiệu và kiểm soát giao thông cần được cải tiến cũng góp phần tăng tốc độ chuyên chở bằng đường sắt để bù lại khoảng thời gian đã mất ở các ga
Thứ tám, cơ sở hạ tầng Vận tải đường sắt hiện nay ở nước ta vẫn chưa khai thác hết công suất, hơn thế nữa do sự mất cân đối giữa hàng xuất và nhập gây nên sự lãng phí.11 Nếu cân đối được khối lượng hàng và có sự quản lý phối hợp của các cơ quan chức năng thì hiệu quả, năng suất sẽ tăng gấp đôi Đây là đặc điểm có thể cạnh tranh với vận tải đường sắt vì chi phí xây dựng cớu đường là rất lớn, mặt khác, nhiều tuyến đường đã xuống cấp gây ách tắc giao thông, nếu chuyên chở quá nặng có thể gây hư hỏng mặt đường Trong điều kiện nền kinh
tế nước ta còn nhiều khó khăn, tiền đẩu tư xây dựng cải tạo tuyến đường còn ít,
do đó cớn phải tận dụng lợi thế san có để khai thác sử dụng sao cho có hiệu quả Với cơ sở vật chất sẵn có như hiện tại, Nhà nước chỉ cớn đớu tư một ít cho việc mua sắm trang thiết bị xếp dỡ, đớu máy vận chuyển để hoàn thiện quá trình chuyên chở và phát triển vận tải Container, số tiền đớu tư này chắc chắn sẽ ít hơn nhiều so với việc xây mới, duy tu sửa chữa tuyến đường sắt
Thứ chín, tính liên tục là ưu thế nổi bật của vận tải đường sắt Là phương tiện vận tải đặc biệt hoạt động trên tuyến đường riêng, có thể hoạt động trong mọi thời tiết, mọi lúc có hàng, mọi nơi mà hệ thống đường sắt dãn tới, vận tải hàng hóa bằng đường sắt đảm bảo đưa hàng hóa đều đặn đến tay chủ hàng So sánh với vận tải đường sông biển, có thể thấy sự khác biệt rõ ràng, hàng năm các cảng đường sông đều bị phù sa bồi đắp cớn được nạo vét, mùa khô tàu khó vào dược, mùa lũ thì có cảng chỉ đi qua báo động thì các phương tiện vận tải đã không thể đi qua gầm cầu do khoảng cách giữa gầm cầu và mặt nước quá ngắn Vận tải đường biển cũng thiếu tính liên tục do phải chịu ảnh hưởng của thời tiết, mặt khác các cảng biển của nước ta chủ yếu là cảng nông, tàu khó vào sâu được gây khó khăn cho công tác xếp dỡ Xét về tính liên tục, chỉ có vận tải đường bạ
là có ưu thế vượt trại hơn vận tải đường sắt tuy nhiên hiện nay ưu thế đó cũng bị giảm sút do một số quy định của chính phủ như quy định giới hạn tải trọng, tốc
đạ nhằm hạn chế việc chuyên chở hàng hóa to nặng, cồng kềnh trên một số tuyến đường
11
Trang web của Tổng cục Đường sắt, nguồn: https://dsvn.vn, truy cập ngày 20/1/2020
Trang 2218
Mười, độ tin cậy và an ninh độ tin cậy có thể hiểu đơn giản là duy trì lời hứa về sản phẩm, cần phải tạo danh tiếng về chất lượng nhờ độ tin cậy Những sai sót trong vận tải đường sắt đòi hỏi chi phí rất cao mới khắc phục được xét cả
về ý nghĩa trực tiếp lẫn gián tiếp Ví dụ điển hình là vụ đổ tàu El đã gây ảnh hưởng xấu đến hoạt đạng của đường sắt nước ta Tuy vậy, vận tải đường sắt với đặc điểm là không chịu ảnh hưởng của thời tiết, lại có tuyến đường riêng nên vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt rất an toàn, không lo về sự hỏng hóc mất mát Tuy công suất các thiết bị xếp dỡ, đầu máy còn thấp làm thời gian vận chuyển kéo dài nhưng hàng hóa ít khi bị tổn thất, còn trong vận tải sông, biển thì mối lo ngại về sự an toàn của hàng hóa là rất lớn, nếu gặp thời tiết xấu hoặc sự
cố tàu, thuyền thì hàng hóa sẽ bị hư hỏng hết, vì vậy ngay cả khi đã mua bảo hiểm 100% thì vẫn gây thiệt hại về uy tín cho chủ hàng, bỏ lỡ cơ hại làm ăn Còn đối với vận tải đường sắt hoặc đường bạ, ngay cả khi gặp rủi ro thì hàng hóa vẫn còn, vẫn có thể khắc phục mạt cách nhanh chóng Xét về khả năng chuyên chở hàng cồng kềnh thì đường sắt lại có ưu thế vượt trại hơn hẳn so với vận tải đường bạ Trong vận tải đường bạ, khi chuyên chở hàng nặng, cồng kềnh hoặc Container thì người ta thường tận dụng các loại xe cũ sắp hết thời hạn sử dụng, kém bảo dưỡng nên tỷ lệ tai nạn cao và đạ tin cậy rất thấp Do đó vận tải đường sắt vẫn có ưu thế hơn về sự an toàn và an ninh, khả năng đổ vỡ mất cắp rất ít, ngay cả tỷ lệ tai nạn trên tổng số hàng hóa vận chuyển trên hai tuyến liên vận quốc tế cũng thấp hơn vận tải đường sắt Lợi thế này ngày càng rõ khi mật
độ giao thông đường sắt trên hai tuyến liên vận quốc tế ngày càng đông
Mười một, khả năng vận chuyển từ cửa tới cửa và tính linh hoạt vận tải đường sắt bị giới hạn bởi hệ thống đường ray, do đó từ trước đến nay tính linh hoạt vốn được coi là nhược điểm lớn nhất của vận tải đường sắt và theo lý thuyết, vận tải đường sắt không thể tiến hành vận chuyển từ cửa tới cửa như vận tải đường sắt được, nhưng hiện nay ngay cả tính linh hoạt của vận tải đường sắt cũng bị hạn chế do phải đối phó với giới hạn chính thức về tổng trọng tải xe Chính phủ ra quy định giới hạn trọng tải 13 tấn cho xe có thành cố định, 16 tấn cho xe có rơ-moóc hay xe hạng nặng Điều này làm hạn chế ưu điểm của hệ thống vận tải đường sắt trong khi đường sắt vổn được phép vận chuyển hàng hóa và Container nặng Tuy tính linh hoạt của đường sắt hơi bị hạn chế nhưng nếu có sự phối hợp quản lý với mô hình phân tách bao gồm vận chuyển hàng hóa, Container bằng đường sắt và việc phân phối cuối cùng bằng đường sắt tới
Trang 2319
tay chủ hàng vối chi phí và thời gian hợp lý thì đường sắt có khả năng tham gia
vận chuyển từ cửa tới cửa, qua đó tăng tính linh hoạt
1.2 Tranh chấp Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt và giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt
Giống như các chủng loại hợp đồng khác, hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng sắt cũng có khởi đầu bằng việc một bên đề nghị giao kết hợp đồng để mong muốn được bên kia chấp nhận Tuy nhiên việc phân biệt ai là người đưa ra đề nghị và ai là người chấp nhận trong mối quan hệ giữa người gửi hàng hoá và người vận chuyển thì không phải là không có tranh luận Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện ý định giao kết hợp đồng ra bên ngoài và với một số điều kiện nhất định để khi người được đề nghị chấp nhận, thì hợp đồng
được thiết lập Bộ luật Dân sự năm 2015 đưa ra định nghĩa: “Đề nghị giao kết
hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về
đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể”
Áp dụng Điều 530 Bộ luật dân sự 2015 có thể hiểu: Hợp đồng vận chuyển
là thỏa thuận được giao kết giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển, theo đó người vận chuyển có nghĩa vụ chuyển tài sản, hàng hóa đến địa điểm đã định theo thỏa thuận và giao tài sản, hàng hóa đó cho người có quyền nhận, bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ trả cước phí vận chuyển Bao gồm cả vận chuyển trong nước và quốc tế
Đối tượng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa là hàng hóa Theo đó hàng hóa sẽ bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai Hàng hóa trong hợp đồng vận chuyển không được là hàng cấm, hàng nguy hiểm đến tính mạng, hàng cấm lưu thông trên thị trường
Theo hướng dẫn về vận tải bằng đường sắt được pháp luật quy định tại hông tư số 22/2018/TT-BGTVT ngày 2/5/2018 đã quy định chi tiết về vận tải hàng hóa trên đường sắt quốc gia và đường sắt chuyên dùng có nối ray với đường sắt quốc gia thì sự cố thường gặp của vận tải đường sắt trong quá trình vận chuyển gồm có những sự cố như sau:
Một là, sự cố dỡ hàng vắng mặt người nhận hàng, trong trường hợp đã được báo, đã hết kỳ hạn nhận hàng mà người nhận không đến nhận thì doanh nghiệp được quyền dỡ hàng hóa vắng mặt để bảo quản Nhưng người nhận hàng phải thanh toán các chi phí dỡ hàng hóa phát sinh
Trang 2420
Hai là, trường hợp không óc người nhận hoặc người nhận từ chối nhận hàng: trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày doanh nghiệp báo tin cho người nhận đến nhận hàng mà người nhận không đến hoặc từ chối nhận thì doanh nghiệp có quyền xử lý hàng hóa
Ba là, hàng hóa coi như bị mất mát hỏng, là trường hợp doanh nghiệp chưa báo tin hàng đến đối với hàng hóa thông thường là 15 ngày, hàng hóa mau hỏng là 4 ngày
Bốn, trường hợp hàng hóa bị tịch thu trong quá trình vận chuyển bị cơ quan nhà nước tịch thu hoặc xử lý thì doanh nghiệp phải bàn giao lại cho bên thuê biên bản giao nhận
Năm, trường hợp tắc đường vận chuyển, khi tắc đường thì doanh nghiệp phải báo ngay cho người thuê và người nhận hàng biết để có phương án xử lý Trong đó hai bên tiến hành thỏa thuận về chi phí theo quy định tại Điều 47 thông tư 22/2018/TT-BGTVT
Sáu, trường hợp hàng hóa xếp sai trọng lượng, xếp quá tải thì giải quyết theo hướng lỗi của bên nào thì bên đó chịu thiệt hại, bồi thường theo quy định pháp luật
Bảy, hủy bỏ việc vận chuyển khi có yêu cầu khi tàu chưa chạy, người thuê phải chịu chi phí phát sinh nếu yêu cầu hủy bỏ
Tám, thay đổi người nhận hàng, chỉ thực hiện khi hàng hóa đó chưa được giao cho người nhận hàng trước và phải chịu phí phát sinh do thay đổi người nhận hàng
Chín, thay đổi ga đến, nếu người thuê yêu cầu thay đổi thì phải chịu chi phí phát sinh từ yêu cầu của mình
Tranh chấp hợp đồng là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia trong hợp đồng mà chủ yếu là liên quan đến việc thực hiện hoặc không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng Tranh chấp có thể phát sinh từ nội dung của hợp đồng, giải thích hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, thực hiện hợp đồng, sửa đổi, bổ sung chấm dứt hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng…
Vi phạm hợp đồng là căn cứ làm phát sinh tranh chấp giữa các bên Điều kiện để quy trách nhiệm cho bên vi phạm hợp đồng phải bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm, hay nói cách khác những điều kiện nào được coi là cần và đủ để
Trang 2521
quy trách nhiệm bồi thường thiệt hại? Nhìn chung, Công ước Viên năm 1980, pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước trên thế giới đều có những quy định tương đối giống nhau về các căn cứ để quy trách nhiệm cho bên vi phạm hợp đồng Nếu người bán không thực hiện một nghĩa vụ nào đó của họ được quy định trong hợp đồng, trong Công ước hay trong pháp luật, thì người mua có căn
cứ để yêu cầu bồi thường thiệt hại Ví du, Theo Công ước Viên năm 1980 (Điều 61), nếu người mua không thực hiện một nghĩa vụ nào đó trong hợp đồng hay trong Công ước này thì người bán có căn cứ đòi bồi thường thiệt hại Như vậy, khi một bên vi phạm bất cứ một nghĩa vụ nào mà gây thiệt hại cho phía bên kia thì phải bồi thường thiệt hại
Việc ký kết hợp đồng vận chuyển mang lại cho hai bên những quyền lợi nhất định, hay nói cách khác là khi các bên tiến hành ký kết một hợp đồng vận chuyển thì hợp đồng đó hẳn mang lại cho họ những hi vọng về nhu cầu vnaja chuyển Đồng thời, hợp đồng đó cũng ràng buộc các bên những nghĩa vụ nhất định Các nghĩa vụ này không phải sẵn có mà xuất phát trên cơ sở hợp đồng mà các bên đã ký kết với nhau Tranh chấp về hợp đồng vận chuyển hàng hóa phát sinh khi các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng những điều khoản
đã cam kết trong hợp đồng Các đặc điểm của tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa được phân tích trên cơ sở các yếu tố làm phát sinh tranh chấp để qui trách nhiệm thuộc về bên thuê vận chuyển hay bên vận chuyển
1.3 Pháp luật về phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng vận
chuyển hàng hóa bằng đường sắt
Ở Việt Nam tồn tại bốn phương thức giải quyết tranh chấp thương mại cơ bản gồm: Thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và tòa án Theo Điều 56 Thông tư số 22/2018/TT-BGTVT về giải quyết tranh chấp đã quy định: Trong quá trình vận tải hàng hóa bằng đường sắt, nếu phát sinh sự cố làm ảnh hưởng đến lợi ích của các bên thì doanh nghiệp và người thuê vận tải, người nhận hàng giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải hoặc khởi kiện tại Tòa án Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật
Thứ nhất, thương lượng: Là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua
việc các bên cùng nhau bàn bạc, thảo luận để tự giải quyết bất đồng Đây là phương thức đơn giản, không tốn kém và đảm bảo được quan hệ kinh doanh giữa các bên
Trang 2622
Thứ hai, hòa giải: Là phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia
của bên thứ ba làm trung gian hòa giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh Phương thức này đòi hỏi bên thứ ba làm trung gian phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, am hiểu pháp luật, có kinh nghiệm thực tiễn và có sự độc lập Như vậy người thứ ba mới có đủ uy tín và độ tin cậy cần thiết để các bên tranh chấp mời làm trung gian Hòa giải được chia làm hai loại là hòa giải trong tố tụng và hòa giải ngoài
tố tụng Hòa giải trong tố tụng nếu hòa giải thành thì kết quả hòa giải được đảm bảo thi hành bằng pháp luật, hòa giải ngoài tố tụng nếu hòa giải thành thì phụ thuộc vào sự tự nguyện thực hiện cam kết của các bên tranh chấp mà không có bất kì cơ chế pháp lý nào đảm bảo thi hành những cam kết của các bên
Thứ ba, phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài: Là
phương thức tranh chấp được thực hiện bởi các trung tâm trọng tài Theo đó, thông qua hoạt động của trọng tài viên tranh chấp được giải quyết bằng một phán quyết trọng tài mà hai bên tranh chấp phải thực hiện Lựa chọn phương thức này các bên có quyền tự do định đoạt về tổ chức trọng tài, trọng tài viên giải quyết tranh chấp Phương thức giải quyết tranh chấp này có tính ràng buộc cao, thủ tục nhanh chóng, đơn giản, đảm bảo được uy tín và bí mật kinh doanh Để áp dụng phương thức trọng tài để giải quyết tranh chấp thương mại đòi hỏi các bên phải có thỏa thuận trọng tài Tại khoản 2 điều 3 Luật trọng tài
thương mại năm 2010 quy định: “Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các
bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh” Thỏa thuận trọng tài phải được các bên tranh chấp lập ra trước hoặc sau
khi xảy ra tranh chấp Trọng tài thương mại tồn tại dưới hai hình thức là trọng tài vụ việc và trọng tài thường trực Trọng tài vụ việc là phương thức trọng tài
do các bên tranh chấp thỏa thuận để giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên và trọng tài sẽ chấm dứt tồn tại khi giải quyết xong vụ tranh chấp Và trọng tài quy chế là hình thức trọng tài được thành lập có tổ chức, có trụ sở cố định, có danh sách trọng tài viên, hoạt động theo điều lệ tổ chức và các quy tắc tố tụng riêng
Thứ tư, phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án: Là
phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước là Tòa án tiến hành theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định Theo đó, Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước ra một bản án bắt buộc các bên phải chấp hành và được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của
Trang 2723
Nhà nước Phương thức này được các bên lựa chọn khi việc áp dụng phương thức thương lượng, hòa giải không có hiệu quả và các bên cũng không thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyết tranh chấp tại trọng tài
Mỗi phương thức giải quyết tranh chấp thương mại trên đều có những ưuđiểm và nhược điểm nhất định Lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp nào là quyền của các bên căn cứ vào tính chất, phạm vi, mức độ và thiện chí của các bên tranh chấp Ngoài các phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến và được pháp luật quy định thì còn có các phương thức giải quyết tranh chấp khác như hành chính, tham vấn, hoạt động tư vấn Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này chỉ tập trung vào phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt tại Tòa án nhân dân
Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ Bản án, quyết định của Tòa án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế Nhà nước
1.4 Giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt tại tòa án
Giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt là cách thức, phương pháp cũng như các hoạt động để khắc phục và loại trừ các tranh chấp phát sinh, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tranh chấp Có thể chia thành bốn phương thức giải quyết tranh chấp là thương lượng, hòa giải, trọng tài và Tòa án
Giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt bằng Tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán nhà nước, nhân danh quyền lực của nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, kể cả sức mạnh cưỡng chế Trong quá trình giải quyết các tranh chấp, Tòa án phải tuân theo một trình tự, thủ tục nhất định
mà pháp luật đã quy định, cụ thể đó là những nguyên tắc cơ bản, trình tự, thủ tục nhất định mà pháp luật đã quy định trong việc khởi kiện; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án, thi hành bản án, quyết định của Tòa án; quyền và nghĩa
vụ của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng cũng như của những cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan Trình tự, thủ tục này được quy định tại pháp luật tố tụng, được áp dụng để giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Tòa án
Trang 2824
Ở hầu hết các quốc gia, cùng với việc ban hành những đạo luật về nội dung, Nhà nước cũng ban hành những quy định về thủ tục tố tụng để Tòa án giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh thương mại Thủ tục tố tụng Tòa án áp dụng cho các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại được dựa trên nền tảng thủ tục tố tụng dân sự cùng với một số quy định đặc thù cho phù hợp với hoạt động kinh doanh, chẳng hạn như về hội đồng xét xử, về thời gian của các trình
tự tố tụng Do vậy, ở các quốc gia này người ta không hình thành pháp luật tố tụng riêng cho các tranh chấp trong kinh doanh thương mại mà thường chỉ có pháp luật về tố tụng dân sự Ví dụ: Ở Cộng hòa Liên bang Đức Luật tố tụng đối với các vụ án dân sự và thương mại được quy định thống nhất trong Bộ luật Tố tụng dân sự; ở Pháp, Anh và Mỹ các tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đều được áp dụng theo thủ tục tố tụng dân sự
Từ phân tích trên, có thể định nghĩa: “Giải quyết tranh chấp hợp đồng vận
chuyển bằng Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định
và bản án hay quyết định của Tòa án về vụ tranh chấp có thể được nhà nước cưỡng chế thi hành nếu có yêu cầu.”
Xuất phát từ đặc trưng của hoạt động kinh doanh thương mại, khi xảy ra tranh chấp, các bên luôn muốn giải quyết các tranh chấp một cách nhanh chóng, hiệu quả nhất Vì thế, việc giải quyết tranh chấp trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt tại tòa án cần đáp ứng yêu cầu:
- Nhanh chóng, thuận lợi, dứt điểm, không làm cản trở hoạt động kinh doanh;
- Duy trì các quan hệ hợp tác, sự tín nhiệm giữa các bên trong kinh doanh;
- Giữ bí mật kinh doanh, không làm ảnh hưởng đến uy tín của các bên trên thương trường;
- Giải quyết tranh chấp ít tốn kém về thời gian, tiền bạc và công sức
Kết luận chương 1
Như vậy, trong chương 1, học viên đã nghiên cứu và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận chung về giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển về vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt, cụ thể là đã chỉ ra các khái niệm, đặc điểm của
Trang 2925
tranh chấp, vai trò, ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực vận chuyển bằng đường sắt Đồng thời, luận văn cũng làm rõ đặc trưng các tranh chấp và giải quyết tranh chấp hợp đồng về vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt
và Pháp luật về phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt Nói tóm lại, trong chương 1 đã đưa ra được cơ sở lý luận cũng như một số vấn đề pháp lý làm nền tảng cho việc nghiên cứu thực tiễn về
tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt trong chương sau
Trang 3026
Chương 2: TRẠNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG SẮT
TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
2.1 Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt tại Tòa án
2.1.1 Văn bản pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt
Nước ta có đặc điểm địa hình trải dài và hẹp, mật độ dân cư tương đối cao, đặc biệt các đô thị lại tập trung sát vùng biển, do vậy nhu cầu có một tuyến đường sắt hiện đại chạy dọc từ Bắc vào Nam là hết sức cần thiết Đặc biệt là địa bàn tỉnh Thanh Hóa Tuy nhiên, trong những năm qua, hệ thống đường sắt của chúng ta không có nhiều thay đổi Và một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành Đường sắt, đó là hệ thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động liên quan đến lĩnh vực này Luật Đường sắt được ban hành lần đầu tiên năm 2005, lần đầu tiên lĩnh vực Đường sắt Việt Nam có Luật để điều chỉnh toàn diện mọi hoạt động của ngành Nhưng qua thực tế thi hành Luật đã bộc lộ một
số tồn tại, bất cập và không còn phù hợp với thực tiễn hoạt động Vì vậy, cần thiết phải điều chỉnh một số nội dung đã quy định của Luật Đường sắt 2005 để phù hợp với nội dung Hiến pháp 2013 và các luật, pháp lệnh mới ban hành Luật Đường sắt 2005 cũng là một luật có bước tiến tốt, gặt hái được nhiều kết quả cho ngành Đường sắt Nhưng qua thời gian, Luật cũng thể hiện những hạn chế với việc thực thi luật của những người liên quan Đặc biệt, tuy Luật Đường sắt năm 2005 ra đời, trao trách nhiệm cho rất nhiều cơ quan nhưng cuối cùng tai nạn giao thông đường sắt xảy ra lại giao cho các địa phương xử lý Tai nạn xảy ra nhiều khiến ngành Đường sắt chịu nhiều hậu quả nghiêm trọng
Luật Đường sắt (sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018 Hiện nay Bộ GTVT đã hoàn thiện xây dựng 5 Nghị định dưới luật để triển khai thực hiện kịp thời khi luật có hiệu lực Đáng chú ý, Luật Đường sắt (sửa đổi) đã bổ sung một số quy định được cho những hành lang pháp lý thuận tiện cho lĩnh vực đường sắt, trong đó nổi bật là việc kinh doanh vận tải đường sắt được xác định
là ngành, nghề được ưu đãi đầu tư; tổ chức, cá nhân hoạt động đường sắt được hưởng ưu đãi, hỗ trợ như miễn tiền sử dụng đất đối với diện tích đất xây dựng
Trang 3127
kết cấu hạ tầng, các mức ưu đãi cao nhất về thuế suất thu nhập doanh nghiệp, vay tín dụng ưu đãi nhất; áp dụng cơ chế giá đối với phương thức cho thuê hoặc chuyển nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng đường sắt Trong bối cảnh việc dùng tiền ngân sách Nhà nước để đầu tư cho hạ tầng đường sắt gặp nhiều khó khăn thì việc Luật Đường sắt có hiệu lực sẽ mở đường cho việc xã hội hóa cho phép các công ty trong nước và nước ngoài, các đơn vị ngoài quốc doanh chung tay cùng với Nhà nước phát triển hệ thống đường sắt Đây là quy định rất phù hợp với hoàn cảnh hiện nay và Luật Đường sắt sửa đổi sẽ đáp ứng được nhu cầu
và mong đợi về sự phát triển của hệ thống đường sắt
Bên cạnh đó, Thông tư 22/2018/TT-BGTVT ngày 2/5/2018 đã quy định chi tiết về vận tải hàng hóa trên đường sắt quốc gia và đường sắt chuyên dùng có nối ray với đường sắt quốc gia thay thế cho Thông tư 83/2014/TT-BGTVT quy định về việc vận tải hàng hóa trên đường sắt quốc gia do Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải ban hành, đây là các văn bản quan trọng tạo cơ sở pháp lý cho việc vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt
Ngày 12/5/2018 Nghị định 65/2018/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật đường sắt cũng đã hướng dẫn chi tiết về vấn đề vận chuyển hàng hóa là hàng nguy hiểm; Ngày 2/3/2018, thông tư 09/2018/TT-BGTVT đã ban hành quy định về vận tải hành khách, hành lý trên đường sắt quốc gai và đường sắt chuyên dùng có đường ray nối với Đường sắt quốc gia
Bên cạnh Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa của Tòa án còn được quy định rải rác ở các văn bản pháp luật như Hiến pháp năm 2013; Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm
Trang 3228
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị xâm phạm, góp phần bảo đảm pháp luật được tôn trọng và chấp hành nghiêm minh Tại khoản 3 Điều 2 và
khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền lực nhà nước là thống
nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”; “Tòa án nhân dân là
cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền
2002 Với 11 chương, 98 điều, Luật cơ bản thay đổi một số nội dung như quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của TAND; về Thẩm phán, Hội thẩm và các chức danh khác trong TAND; về bảo đảm hoạt động của TAND
Về chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân, Điều 2 của Luật quy định: Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống
xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác
Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các
vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy
đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình
tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc
Trang 3329
không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân
Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được
cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành
Với những quy định mới về chức năng nhiệm vụ của Toà án, Luật tổ chức TAND năm 2014 đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, bảo đảm Tòa án là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp; có nhiệm vụ bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân ; bảo đảm nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; thể chế hóa những định hướng của Đảng về cải cách tư pháp
Về tổ chức bộ máy TAND gồm 4 cấp theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính Theo đó, tổ chức Tòa án nhân dân gồm: Tòa án nhân dân tối cao; các Tòa án nhân dân cấp cao; các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; các Toà án quân sự (Điều 3)
2.1.2 Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp về vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt tại Tòa án
Về thẩm quyền của các Toà án Luật quy định:
- Đối với Tòa án nhân dân cấp cao có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm các bản
án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị; giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ
đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị bằng Hội đồng 3 Thẩm phán hoặc Hội đồng toàn thể Uỷ ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao
- Về Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, theo quy định của Luật, Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét xử
Trang 3430
phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị và xét xử sơ thẩm một số vụ án không thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; không thực hiện nhiệm vụ giám đốc thẩm, tái thẩm
- Về Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, theo quy định của Luật, Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương có nhiệm vụ, quyền hạn xét xử sơ thẩm hầu hết các
vụ, việc thuộc thẩm quyền của Toà án và giải quyết các loại việc khác theo quy định của pháp luật
- Về Toà án quân sự, theo quy định tại Điều 49 của Luật, các Toà án quân
sự được tổ chức trong Quân đội nhân dân Việt Nam để xét xử những vụ án mà
bị cáo là quân nhân tại ngũ và những vụ án khác theo quy định của luật
Với quy định trên của Luật Tổ chức toà án nhân dân năm 2014 thì tổ chức bộ máy của các Toà án được quy định theo hướng chuyên môn hoá nhưng linh hoạt, tránh cồng kềnh, gây tốn kém, lãng phí, bảo đảm phù hợp với các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của cơ quan thực hiện quyền tư pháp, đó là
tổ chức theo thẩm quyền xét xử, bảo đảm độc lập xét xử , góp phần khắc phục những hạn chế, bất cập trong tổ chức và hoạt động của Tòa án hiện nay Đây cũng là phương thức để nâng cao vị trí, vai trò của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền XHCN
- Quy định pháp luật về thẩm quyền giải giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa của Tòa án trong Bộ luật Tố tụng dân sự
BLTTDS năm 2015 là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc quy định về thẩm quyền giải giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa tại Tòa
án Cụ thể Bộ luật tố tụng dân sự đã hướng dẫn cụ thể về thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền theo các cấp, thẩm quyền theo lãnh thổ và thẩm quyền theo
sự lựa chọn của nguyên đơn BLDS năm 2015 đã có những hướng dẫn cụ thể
về thẩm quyền của Tòa án trong giải giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa
Trang 3531
Theo quy định của Điều 30 BLTTDS năm 2015 thì những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án bao gồm:
“1 Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá
nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
2 Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
3 Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty
4 Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty
5 Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.”
Với quy định này, BLTTDS 2015 đã có điểm mới tiến bộ so với BLTTDS
2004 trước đây Khoản 1 Điều 30 chỉ quy định thẩm quyền của Tòa án đối với tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, chứ không còn liệt kê các lĩnh vực tranh chấp cụ thể như Điều 29 BLTTDS 2004 nữa Quy định mới này loại trừ được những bất cập phát sinh trong quá trình áp dụng BLTTDS 2004 khi bằng cách liệt kê đã không thể bao quát hết mọi lĩnh vực có thể phát sinh tranh chấp trong quá trình hoạt động kinh doanh của các chủ thể
2.1.3 Về nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết tranh chấp về hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt tại tòa án
Một số nguyên tắc cơ bản trong BLTTDS như sau:
Thứ nhất, nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự Theo quy định tại Điều 5 BLTTDS, nguyên tắc quyền quyết định và tự
định đoạt của đương sự được quy định như sau: “1 Đương sự có quyền quyết
định việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó 2
Trang 3632
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội”
Về nguyên tắc các quan hệ kinh tế là những quan hệ được xác lập một cách tự nguyện, xuất phát từ ý chí và nguyện vọng của các bên mà không có bất
cứ sự cưỡng ép, đe dọa nào trong quá trình xác lập, thực hiện Nói cách khác, sự xác lập các quan hệ kinh tế hoàn toàn do các bên tự quyết định, và được Nhà nước bảo đảm nếu không trái với các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Chính vì thế, khi phát sinh tranh chấp, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; nhưng ngược lại, họ cũng có quyền từ bỏ quyền lợi của mình đã bị xâm phạm cho dù đã có yêu cầu Nhà nước bảo vệ Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự được thể hiện trong suốt các giai đoạn của quá trình tố tụng: họ có thể khởi kiện hoặc không khởi kiện; trong quá trình giải quyết vụ việc, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội Việc thực hiện quyền này của đương sự không chỉ dừng lại việc giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm mà còn được thực hiện cả trong các giai đoạn của quá trình thi hành bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Tuy nhiên, thực trạng khi giải quyết tại Toà án nhân dân nguyên tắc này nhiều khi vẫn bị Toà án vi phạm, như: giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự hoặc không giải quyết hết yêu cầu đương sự, thậm chí có trường hợp giải quyết sai so với yêu cầu của đương sự dẫn đến đương sự khiếu nại kéo dài, vụ án bị Toà án cấp trên huỷ để giải quyết lại
Thứ hai, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
Quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến Pháp Quyền này đã được cụ thể hoá trong nhiều văn bản
pháp luật, trong đó có BLTTDS: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật,
trước Toà án không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu và những vấn đề khác Các đương sự đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, Toà án
có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.” (Điều 8 BLTTDS) Việc cụ thể hoá quyền bình đẳng trước pháp luật trong tố
Trang 3733
tụng kinh tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nó còn thể hiện sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế Khi các doanh nghiệp, người tham gia tố tụng thì không phân biệt đó là doanh nghiệp Nhà nước, công ty, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân… Các bên đều có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng Tuy nhiên trong thực tế không phải lúc nào đương sự cũng thực hiện được quyền này, nhiều trường hợp do trình độ hiều biết của đương sự dẫn đến họ không thực hiện được hết quyền của mình, như: vấn đề khởi kiện, cung cấp chứng cứ hay bào chữa trước toà án dẫn đến chịu phán quyết bất lợi cho họ hoặc có trường hợp xuất phát ngày từ việc vi phạm trong quá trình tiến hành tố tụng của Toà án hoặc quy định của pháp luật chưa phù hợp dẫn đến bất bình đẳng cho các đương sự Đây là vấn đề lớn, để khắc phục phải tiến hành đồng bộ
từ giai đoạn xây dựng pháp luật, cải cách cơ cấu tổ chức của Toà án, nâng cao trình độ của các thẩm phán và trình độ hiểu biết và tuân thủ pháp luật của các cá nhân, tổ chức hoạt động trong vấn đề kinh doanh
Thứ ba, nguyên tắc Tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu thập chứng cứ
Nguyên tắc này thể hiện bản chất dân sự trong việc giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại Khác với giải quyết các vụ án hình sự, giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại thì Tòa án không tiến hành điều tra mà đương sự phải cung cấp chứng cứ, Tòa án chỉ xác minh, thu thập chứng
cứ trong những trường hợp nhất định (Điều 6 BLTTDS)
Việc quy định đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình, trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán mới tự mình thu thập chứng cứ hoặc trong các trường hợp khác mà pháp luật có quy định Quy định như vậy là phù hợp song việc áp dụng nguyên tắc này trên thực tế gặp nhiều khó khăn Trong BLTTDS không quy định biện pháp chế tài mà chỉ quy định chung chung nếu không cung cấp chúng cứ thì bị bất lợi và không có quy định về thời hạn bắt buộc đương sự phải cung cấp chứng cứ nếu không cung cấp thì chứng cứ đó không có giá trị hoặc phải chịu chế tài như: phạt tiền , vì vậy, thực tế có trường hợp đương sự đang giữ chứng cứ hoặc có khả năng thu thập chứng cứ nhưng lại không thu thập chứng cứ để cung cấp cho Toà án, chỉ đến khi thấy có lợi mới cung cấp, thậm chí có trường hợp để đến giai đoạn xét xử phúc thẩm mới xuất trình chứng cứ các hoặc sau khi bản án có hiệu lực pháp luật mới xuất trình
Trang 38đề liên quan đến cơ quan quản lý hữu quan, Tòa án có văn bản yêu cầu các cơ quan này cung cấp tài liệu theo quy định của pháp luật, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau nên khó thực hiện được ngay hoặc thậm chí không được thực hiện được do chưa có quy định nào cụ thể hướng dẫn trách nhiệm cung cấp chứng cứ của các cơ quan hữu quan
Thứ tư, Nguyên tắc hòa giải
Nguyên tắc hòa giải trong tố tụng kinh tế được quy định tại Điều 10 BLTTDS, theo đó: “Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”
Bản chất của quan hệ kinh tế được thiết lập trên cơ sở tự nguyện và quyền tự định đoạt của đương sự, do đó việc giải quyết các tranh chấp phát sinh
từ các quan hệ này được thực hiện theo những biện pháp nhất định, trong đó hòa giải là một biện pháp quan trọng và là nguyên tắc bắt buộc trong tố tụng dân sự Hòa giải có ý nghĩa hết sức quan trọng, được thực hiện nhằm mục đích phát huy truyền thống đoàn kết, tương trợ giữa các bên tham gia quan hệ kinh tế, nâng cao kết quả giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại Đồng thời làm tốt hòa giải sẽ hạn chế những tốn kém về tiền bạc, thời gian của Nhà nước, công sức của cán bộ Nhà nước cũng như của công dân, hạn chế những khiếu nại,
tố cáo trong lĩnh vực tư pháp BLTTDS cũng quy định cụ thể việc hòa giải được thực hiện ở tất cả các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, từ khi chuẩn bị xét xử đến khi bắt đầu xét xử tại phiên tòa, trừ những vụ án không được hòa giải như yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản Nhà nước, hoặc những vụ án kinh tế phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội
Trang 3935
Việc hòa giải là thủ tục bắt buộc khi giải quyết các vụ án kinh tế, đặc biệt là cấp sơ thẩm, nhưng không được hướng dẫn, đào tạo có bài bản cho các Thẩm phán Việc hòa giải hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm của các Thẩm phán
Xu hướng chung của các Thẩm phán là hướng tới việc làm rõ đúng sai giữa các doanh nghiệp; chưa hoặc chưa biết quan tâm đúng mức đến vấn đề mà các đương sự hướng tới là lợi nhuận (nhiều hay ít nhưng phải có lợi) đó là điều kiện tiên quyết để đi tới xu hướng nhân nhượng hợp tác trong kinh doanh của các bên đương sự Nếu việc hòa giải không thành có thể dẫn đến căng thẳng, khi hòa giải không thành thì mâu thuẫn sẽ tăng lên bội phần và việc thúc đẩy sự thương lượng tự thỏa thuận giữa các đương sự trong các giai đoạn tố tụng tiếp sau sẽ kém hiệu quả
Thứ năm, Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời
Về nguyên tắc khi giải quyết các vụ việc thương mại phải nhanh chóng, kịp thời đảm bảo khắc phục kịp thời cho bên bị vi phạm Trong BLTTDS quy định cụ thể thời hạn ở các giải đoạn tố tụng, như thời hạn thụ lý, thời hạn thu thập chứng cứ và đưa vụ việc ra xét xử, thời hạn phát hành quyết định, bản án, thời hạn kháng cáo, khiếu nại và giải quyết theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm Phần lớn Toà án các cấp đều giải quyết vụ việc trong thời hạn luật định Tuy nhiên, trong thực tế có một số trường hợp vi phạm thời hạn dẫn đến việc giải quyết không kịp thời như: vi phạm thời gian phát hành quyết định, bản án, thời gian gian thu thập chứng cứ
Nguyên nhân việc vi phạm phần lớn do quy định thời hạn trong BLTTDS chưa hợp lý và trình độ thẩm phán còn hạn chế dẫn đến không đáp ứng với yêu cầu về thời hạn tố tụng
2.1.4 Chủ thể và đối tượng của tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt
Mỗi một hợp đồng đều có đối tượng cụ thể, trong hợp đồng vận chuyển thì đối tượng của hợp đồng là vận chuyển Trong hợp đồng phải ghi nhận đúng đối tượng làm các bên giao dịch; ngoài ra để chắc chắn, các bên thường quy định về loại thời gian, đối tượng, chất lượng… đối tượng của hợp đồng
Tranh chấp về chủ thể hợp đồng: Thông thường trong hợp đồng, nội dung này thường được ghi nhận là thông tin các bên Một hợp đồng chỉ được xác lập khi có từ hai bên tham gia thỏa thuận và xác lập Do đó, nội dung về chủ thể của hợp đồng là cơ bản và bắt buộc phải có Chủ thể của hợp đồng có thể là cá nhân,
Trang 402.1.5 Nội dung tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt
Nội dung hợp đồng là điều khoản khái quát về những gì các bên thỏa thuận trong Hợp đồng Nội dung hợp đồng có thể làm căn cứ để xác định những trách nhiệm “đương nhiên” của mỗi bên khi thực hiện hợp đồng đồng thời chỉ ra được đối tượng hợp đồng mà các bên đang hướng đến Nội dung của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt như sau:
Một, hợp đồng vận tải hàng hóa là sự thỏa thuận giữa doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt với người thuê vận tải, theo đó doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt nhận vận chuyển hàng hóa từ nơi nhận đến nơi đến và giao hàng hóa cho người nhận hàng được quy định trong hợp đồng Hợp đồng vận tải hàng hóa xác định quan hệ về quyền và nghĩa vụ của các bên và được lập thành văn bản hoặc hình thức khác mà hai bên thỏa thuận
Hai, hóa đơn gửi hàng hóa là bộ phận của hợp đồng vận tải do doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt phát hành theo quy định của pháp luật Doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt có trách nhiệm lập hóa đơn và giao cho người thuê vận tải sau khi người thuê vận tải giao hàng hóa; có chữ ký của người thuê vận tải hoặc người được người thuê vận tải ủy quyền Hóa đơn gửi hàng hóa là chứng từ giao nhận hàng hóa giữa doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt và người thuê vận tải, là chứng cứ để giải quyết tranh chấp
Ba, hóa đơn gửi hàng hóa phải ghi rõ loại hàng hóa; ký hiệu, mã hiệu hàng hóa; số lượng, khối lượng hàng hóa; nơi giao hàng hóa, nơi nhận hàng hóa, tên và địa chỉ của người gửi hàng, tên và địa chỉ của người nhận hàng; giá vận tải và các chi phí phát sinh; các chi tiết khác mà doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt và người thuê vận tải thỏa thuận ghi vào hóa đơn gửi hàng hoá;