PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN GIÁ THÀNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG VÀXÂY DỰNG QUẢNG NINH NĂM 2008 Phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh là đi sâu nghiên cứu nội dung kết c
Trang 1PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN GIÁ THÀNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG VÀ
XÂY DỰNG QUẢNG NINH NĂM 2008
Phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh là đi sâu nghiên cứu nội dung kết cấu
và mối quan hệ qua lại giữa các số liệu biểu hiện hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp bằng những phương pháp khoa học, trên cơ sở những tài liệu thống
kê, hạch toán và tìm hiểu các điều kiện sản xuất cụ thể Nhằm thấy được chất lượnghoạt động, nguồn năng lượng sản xuất tiềm tàng, từ đó đề ra những phương án mới
và biện pháp khai thác có hiệu quả, để không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh
Phân tích kinh tế hoạt động kinh doanh giúp cho doanh nghiệp tự đánh giámình về thế mạnh, thế yếu để củng cố, phát huy hay khắc phục, cải tiến quản lý.Phát huy mọi tiềm năng thị trường, khai thác tối đa những nguồn lực cảu doanhnghiệp, nhằm đạt đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Kết quả của phân tích là cơ sở
để ra các quyết định quản trị ngắn hạn và dài hạn Phân tích hoạt động sản xuất kinhdoanh còn giúp dự báo, đề phòng và hạn chế những rủi ro bất định trong kinhdoanh
Công ty Cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh là một doanh nghiệp sảnxuất kinh doanh và hạch toán độc lập, vì vậy trong quá trình sản xuất kinh doanhCông ty luôn cố gắng vươn tới mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận và mở rộng sản xuấtkinh doanh Để làm được điều này, công ty đã tiến hành phân tích đánh giá tìnhhình sản xuất kinh doanh trong những năm trước dựa vào kết quả thống kê để rút ranhững kết luận tổng quát về chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thời phântích những chi tiết, những nguyên nhân đem lại kết quả đó Từ đó duy trì, phát huy
Trang 2những mặt mạnh và khắc phục những nhược điểm còn tồn tại để cho Công ty ngàycàng hoàn thiện hơn.
Để biết được kết quả mà Công ty đạt được trong năm 2008 cần phải đi sâuphân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty năm 2008
2.1 ĐÁNH GIÁ CHUNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY NĂM 2008
Trong năm 2008 Công ty CP xi măng và xây dựng Quảng Ninh đã nỗ lực phấnđấu hoàn thành và vượt mức kế hoạch phần lớn các chỉ tiêu đã đề ra Tình hình thựchiện các chỉ kế hoạch chủ yếu của Công ty được thực hiện qua số liệu bảng 2-1.Công ty CP xi măng và xây dựng Quảng Ninh là một doanh nghiệp vừa sảnxuất vừa kinh doanh sản phẩm xi măng, do đó nhu cầu về vốn là rất lớn, năm 2008
số vốn mà Công ty cần nhiều hơn năm 2007 là 270 tỷ đồng, so với kế hoạch đề rathì cũng đã dùng nhiều hơn dự tính là 94 tỷ đồng
Sản lượng sản xuất xi măng Lam Thạch các loại của Công ty năm 2008 thựchiện được so với năm 2007 tăng 178% tương ứng với 189.686 tấn và đã hoàn thànhvượt mức kế hoạch năm là 3% tương ứng với 12.275 tấn Sản lượng Clinke bánngoài của Công ty năm 2008 so với năm 2007 giảm 30% tương ứng với 119.092 tấnnhưng lại tăng 24.876 tấn so với kế hoạch đề ra Qua các số liệu trên cho ta thấynăm 2008 Công ty đã đẩy mạnh sản xuất xi măng các loại, do sản phẩm đã có uy tíntrên thị trường, được người tiêu dùng chấp nhận, Công ty không phải bán Clinke rangoài thị trường nữa, do đó sản lượng clinke bán ngoài giảm Đây là một tín hiệuvui vì bán thành phẩm là xi măng thì công ty thu được lợi nhuận cao hơn
Khi mà cùng với các nước trên thế giới hội nhập WTO thị trường tiêu thụ ximăng có nhiều thuận lợi Nhu cầu xây dựng tăng mạnh dẫn tới lượng cầu về ximăng tăng cao, bên cạnh đó có sự thay đổi cơ cấu quản lý, phương thức quảng cáobán hàng và tiếp thị của đội ngũ công nhân viên giúp cho Công ty hoàn thành tốtcông tác tiêu thụ năm 2008 So với năm 2007 thì năm 2008 đạt mức sản lượng tiêuthụ tăng 194.288 tấn tương ứng tăng180%, so với kế hoạch tăng 13.767 tấn tươngứng với 3%
Sản lượng xi măng sản xuất và tiêu thụ năm 2008 tăng, làm doanh thu từ ximăng năm 2008 so với năm 2007 tăng 138 tỷ đồng tương ứng tăng 209% và đãhoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra là 15,8 tỷ đồng, dẫn đến tổng doanh thu củatoàn Công ty năm 2008 tăng so với năm 2007 là 134,8 tỷ đồng, tăng 122,6 tỷ đồng
so với kế hoạch Góp phần làm tăng sản lượng sản xuất và tăng doanh thu cho công
Trang 3ty là việc quản lý có hiệu quả về số lượng lao động và chất lượng lao động Số tăng
tỷ lệ lao động là 12% tạo ra số tăng tỷ lệ năng suất lao động tính bằng giá trị tínhcho 1 CNV toàn doanh nghiệp là 27,2% Những kết quả khả quan mà Công ty đạtđược như trên còn là do trong năm 2008 Công ty đã áp dụng các biện pháp khuyếnkhích trong lao động như khen thưởng kịp thời những công nhân có ngày công cao
và hoàn thành vượt mức kế hoạch
Tổng quỹ lương của Công ty: năm 2008 tăng lên 13.624 triệu đồng tăng so với
kế hoạch là 3.594 triệu đồng tương ứng với 5% Nguyên nhân là do sản lượng, và sốlao động tăng
Để đạt được mức sản lượng sản xuất xi măng như trên, thì yếu tố góp phầnquan trọng nhất chính là tập thể cán bộ công nhân viên của Công ty Số cán bộ côngnhân viên của Công ty năm 2008 tăng so với năm 2007 là 316 người tương ứng với12%, chủ yếu là tăng số công nhân sản xuất chính Qua chỉ tiêu này cho thấy trongnăm công ty đã sắp xếp và tuyển dụng thêm lao động để đạt hiệu quả cao trong sảnxuất
Năng suất lao động theo chỉ tiêu hiện vật tăng từ 262,46 (T/ ng-năm) năm
2007 lên 267,2 (T/ ng-năm) năm 2008 Nguyên nhân là do Công ty đã biết năngđộng, sáng tạo trong sản xuất kinh doanh tận dụng và khai thác triệt để các nguồnlực trong toàn dây chuyền, áp dụng các đòn bẩy kinh tế thích ứng, phù hợp như chế
độ khen thưởng động viên kịp thời cho từng tập thể, cá nhân người lao động cóthành tích suất sắc, cùng với trang thiết bị máy móc hiện đại Từ đó thức đẩy tăngnăng suất lao động và làm tăng sản lượng sản xuất chung của công ty Dẫn đến tiềnlương bình quân của một công nhân tăng theo kế hoạch là 2.200 triệu đồng/ người/tháng nhưng thực tế lại đạt 2.585 triệu đồng/ người/ tháng tăng 385.000 đ bằng 18%
so với kế hoạch, so với năm 2007 thì tiền lương bình quân tăng 466.000 đ Thunhập bình quân của Công ty trong năm 2008 tăng nhiều so với năm 2007 là do sảnlượng xi măng tiêu thụ tăng, thị trường mua bán ổn định, giá bán xi măng cũng tănglên Qua phân tích khái quát lao động, tiền lương năm 2008 cho thấy công ty đã cóđịnh hướng phát triển quy mô lớn hơn, số lượng công nhân viên của công ty tăng.Như vậy để đáp ứng được nhu cầu tăng về sản lượng nên Công ty đã chủ động tăng
số lượng lao động
Giá thành là một trong những chỉ tiêu quan trọng, đó là yếu tố quyết định rấtlớn đến lợ nhuận của cá doanh nghiệp sản xuất nói chung và Công ty nói riêng.Trong quá trình sản xuất Công ty luôn cố gắng hạ giá thành đến mức thấp nhất.Năm 2008 giá thành một đơn vị sản phẩm theo kế hoạch của Công ty đề ra 559.370
Trang 4đồng/ tấn xi măng nhưng thực tế đạt 536.009 đồng/ tấn xi măng, giảm so với kếhoạch 23.361 đồng bằng 4% đồng thời so với năm 2007 thì giá thành năm 2008giảm 51.976 đồng/ tấn xi măng bằng 9% Nguyên nhân làm giảm giá thành là docông ty đã thực hiện tốt công tác tiết kiệm vật tư, nguyên nhiên vật liệu, động lực,chi phí khác bằng tiền… Qua số liệu trên cho thấy công ty đang trên đà phát triểnmạnh, có khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp sản xuất xi măng khác trên thịtrường, và công ty đã xây dựng hợp lý được giá thành kế hoạch sát với yêu cầu thực
tế Để công tác giảm giá thành đạt hiệu quả hơn nữa thì công ty cần tập trung xử lýcác công việc trọng điểm còn yếu kém nhằm củng cố và tăng cường công tác quản
lý như: Quản lý ngày công và năng suất lao động, có chế độ khuyến khích phù hợpnhằm kích thích sản xuất, đặc biệt là tiếp tục áp dụng các biện pháp công nghệ mới,
tổ chức sản xuất hợp lý nhằm tăng năng suất lao động
Trang 5Từ các chỉ tiêu phân tích trên có thể đưa ra nhận xét: Trong năm 2008 Công ty
Cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh đã hoàn thành tốt kế hoạch đặt ra vàvượt so với năm 2007 cả về số lượng và chất lượng Song để đẩy mạnh quy mô sảnxuất, phát triển bền vững hơn nữa thì công ty cần quan tâm đến vấn đề chất lượngsản phẩm, đầu tư trang bị bộ máy sản xuất lao động hơn nữa
2.2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY NĂM 2008
Phân tích tình hình tài chính là tổng hợp đánh giá các hoạt động tài chính củadoanh nghiệp trong quá khứ, ở hiện tại và trong tương lai Mục tiêu của phân tíchtài chính nhằm nhận dạng những biểu hiện không lành mạnh trong vấn đề tài chính
có thể ảnh hưởng đến tương lai phát triển của doanh nghiệp Phân tích tài chính cóthể được một số các tổ chức tài chính thực hiện từ bên ngoài daonh nghiệp nhằmtìm hiểu chính sách tín dụng hay tiềm năng đầu tư của doanh nghiệp đó
Hoạt động sản xuất kinh doanh tốt là tiền đề cho mọi hoạt động tài chính vàngược lại, hoạt động tài chính cũng ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của sản xuất kinhdoanh Phân tích tài chính nhằm đánh giá các chính sách tài chính trên cơ sở cácquyết định kinh doanh, nhận biết được các tiềm năng tăng trưởng và phát triển,cũng như các tồn tại về mặt tài chính, giúp cho danh nghiệp có cơ sở để lập nhu cầuvốn cần thiết cho năm kế hoạch
2.2.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính của Công ty Cổ phần xi măng
và xây dựng Quảng Ninh
Để phân tích chung tình hình tài chính ta dựa vào số liệu sau:
Bảng phân tích chung tình hình tài chính của Công ty
Trang 6Qua số liệu bảng (2-2) cho ta thấy: Tổng giá trị tài sản năm 2008 của Công tytăng so với năm 2007 là 271.272.153.625 đồng tương ứng với tỷ lệ 27,27% Điềunày cho thấy quy mô của Công ty tăng lên Nguyên nhân là do tài sản dài hạn tăng75.655.184.494 đồng (tỷ lệ tăng 47,72%), tài sản ngắn hạn tăng 195.616.969.131đồng (tỷ lệ tăng 12,94%), cũng qua số liệu trên cho thấy Công ty chưa chú trọngđầu tư vào tài sản cố định để tăng năng lực sản xuất.
Tổng nguồn vốn của Công ty trong năm 2008 cũng tăng một khoản tương ứng
so với tìa sản là 271.272.153.625 đồng Điều này cho thấy huy động vốn của Công
ty để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh tăng Nguồn vốn tăng do các khoản
nợ phải trả của công ty tăng từ 788.751.494.922 đồng lên 1.076.854.815.718 đồng,tương ứng tăng 288.103.420.796 đồng (tỷ lệ tăng 36,53%); vốn chủ sở hữu giảm16.831.267.172 đồng (tỷ lệ giảm 8,17%) Điều này cũng cho thấy Công ty đangchiếm dụng vốn của khách hàng cũng như của công ty khác để bổ sung vào nguồnvốn tạm thời của mình
Tuy nhiên để đánh giá được tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuấtkinh doanh của Công ty một cách chính xác hơn ta đi sâu vào phân tích một số chỉtiêu sau:
2.2.2 Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Để cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty được thường xuyên và liêntục vấn đề quan trọng hàng đầu là phải đảm bảo nguồn vốn trong suốt quá trình đó.Nếu Công ty không đảm bảo được nguồn vốn cho hoạt động của mình thì hiệu quảsản xuất kinh doanh sẽ ngưng trệ và gây thiệt hại lớn cho sản xuất và kinh doanh
Do vậy phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanhgiúp cho công ty đánh giá được trình độ sử dụng nguồn vốn, trình độ quản lý tàichính, từ đó có những biện pháp tích cực đảm bảo được nguồn vốn cho hoạt độngsản xuất kinh doanh
Có thể phân loại nguồn vốn, tài sản dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanhcủa Công ty Cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh làm 2 loại như sau:
- Nguồn tài trợ thường xuyên: Là nguồn vốn mà công ty được sử dụng thườngxuyên, lâu dài vào hoạt động sản xuất kinh doanh Nguồn tài trợ thường xuyên baogồm nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay – nợ dài hạn, trung hạn (trừ vay và nợquá hạn)
Trang 7- Nguồn tài trợ tạm thời: Là nguồn vốn mà công ty tạm thời sử dụng vào hoạtđộng sản xuất kinh doanh trong một thời gian ngắn Nó bao gồm các khoản vayngắn hạn, nợ ngắn hạn, các khoản vay – nợ quá hạn, vay và nợ dài hạn, các khoảnchiếm dụng bất hợp pháp của người bán, người mua Có thể khái quát nguồn đảmbảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty qua bảng phân tích nguồn tài trợnhư sau:
Bảng phân tích nguồn tài trợ của Công ty CP xi măng và XD QN
Bên cạnh đó nguồn tài trợ tạm thời của Công ty cuối năm so với đầu năm tănglên 50,04% tương ứng với 75.568.260.592 đồng, chủ yếu là từ nguồn vay và nợngắn hạn Điều này chứng tỏ rằng nguồn vốn ngắn hạn từ bên ngoài để tài trợ cáchoạt động sản xuất kinh doanh trong ngắn hạn còn thiếu, công ty cần nhiều vốnngắn hạn để tài trợ cho các nhu cầu sản xuất kinh doanh do đó công ty cần thu hútcác khoản vay ngắn hạn từ bên ngoài
Trang 8Để hiểu rõ hơn tình hình tài chính, khi phân tích cần phải sử dụng một số nhưchỉ tiêu tỷ suất nợ và tỷ suất tự tài trợ
- Tỷ suất nợ phản ánh mức độ sử dụng vốn vay của doanh nghiệp, đồng thời
nó còn cho biết mức độ rủi ro tài chính mà doanh nghiệp đang phải đối diện cũngnhư mức độ đòn bẩy tài chính mà doanh nghiệp đang được hưởng
- Tỷ suất tự tài trợ cho biết mức độ tự chủ của doanh nghiệp về mặt tài chính
Trang 9Tổng nguồn vốn 994.819,3 1.266.091,4 27,27
Năm 2008 tỷ suất tự tài trợ giảm, nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do tốc
độ tăng của vốn chủ hữu chậm hơn tốc độ tăng của tổng nguồn vốn Cụ thể: tốc độtăng của vốn chủ sở hữu trong năm 2008 là - 8,17% so với năm 2007, trong khi đótốc độ tăng của tổng nguồn vốn là 27,27% Từ kết quả này cho thấy tỷ suất tự tài trợcủa Công ty giảm chứng tỏ khả năng tự tài trợ của Công ty giảm, Công ty thiếu vốn
và không đủ sức để chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Ngoài ra phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinhdoanh của Công ty CP xi măng và xây dựng Quảng Ninh ta còn phải phân tích theo
3 cân đối lý thuyết như sau:
a) Cân đối lý thuyết thứ nhất
Trang 10Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh khi nguồn vốn chủ sở hữukhông đáp ứng đủ nhu cầu kinh doanh thì doanh nghiệp được phép đi vay để đápứng đủ nhu cầu sản xuất của mình Tuy nhiên việc đi vay và chiếm dụng vốn đóchưa thể khẳng định được tốt hay xấu vì sẽ là hợp lý nếu đó là nguồn chiếm dụngvốn hợp pháp Để có thể đưa ra được kết luận chính xác hơn cần xem xét đến cáccân đối tiếp theo.
b) Cân đối lý thuyết thứ hai
BNV + ANV {I(1)+II(4)} = ATS {I+II+IV+V(1,2)} + BTS {II+III+IV+V(1)} (2-4)Bản chất của bảng cân đối này là từ cân đối thứ nhất, nếu doanh nghiệp khôngtrang trải được các nhu cầu về tài sản của mình thì doanh nghiệp sẽ huy động đếncác nguồn tài trợ hợp pháp tiếp theo để trang trải đó là vốn vay trong hạn trả số liệutính toán được thể hiện qua bảng dưới đây:
Bảng cân đối lý thuyết thứ hai Bảng 2-7
c) Cân đối lý thuyết thứ ba
BNV + ANV {I(1)+II(4)} - ATS {I+II+IV,V(1,2)} - BTS {II+III+IV+V(1)}
= ATS{III+V(3,4)} + BTS{I+V(2,3)} – ANV{I(210)+II(1,2,3,5,6,7)} 5)
Trang 11(2-Theo cân đối này thì số vố doanh nghiệp đi chiếm dụng (hoặc bị chiếm dụng)
đúng bằng số công nợ phải thu và công nợ phải trả
Bảng cân đối lý thuyết thứ ba Bảng 2-8
- Tài sản của Công ty cuối năm tăng so với đầu năm với số tăng tuyệt đối là271.272.153.625 đồng tương ứng với mức tăng là 27,27%, Trong đó:
+ Tiền và các khoản tương tương tiền của Công ty năm 2008 tăng 3.594 triệuđồng tương ứng mức tăng 10,9% so với năm 2007 chủ yếu là do tiền mặt tăng lên,điều này cho thấy khả năng thanh toán tức thời của Công ty có nhiều thuận lợi.+ Các khoản phải thu ngắn hạn năm 2007 tăng 33.219 triệu đồng tương ứngtăng 14,36%, số liệu trên cho thấy năm 2008 công ty vẫn tiếp tục bị khách hàngchiếm dụng vốn, dẫn đến hệ số thanh toán tức thời của công ty giảm đi Tuy nhiênbên cạnh đó các khoản phải thu dài hạn lại giảm 3.409 triệu đồng, đây là biểu hiệntốt chứng tỏ công ty đã tích cực trong việc thu hồi các khoản nợ dài hạn của mình
và đây cũng là nguyên nhân dẫn đến lượng tiền của Công ty tăng lên
Trang 12+ Giá trị hàng tồn kho của Công ty tăng 158.049.169.132 đồng tương ứng là212,38%, làm cho tỷ trọng của hàng tồn kho cuối năm chiếm 18,36% trong tổng tàisản Việc tăng tài sản nhất là tăng lượng hàng tồn kho nguyên nhân là do Công ty đãtăng cường dự trữ nguyên vật liệu để mở rộng sản xuất kinh doanh và do năm 2008
là năm có biến động lớn về giá cả, thị trường nguyên vật liệu để sản xuất xi măngkhông ổn định, nên công ty đã phải dự trữ nguyên vật liệu để ổn định sản xuất.Nếu kết hợp phân tích theo chiều dọc, ta thấy tỷ trọng tài sản ngắn hạn trongtổng tài sản cuối năm tăng lên 6,62% (47,83%-41,21%), chủ yếu là do tỷ trọng hàngtồn kho tăng lên 10,88% (18,36%-7,48%), kế đến là sự giảm nhẹ trong tỷ trọng củacác khoản phải thu ngắn hạn và tài sản ngắn hạn khác Như vậy, qua đây đã thể hiệntrong khi quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh tăng lên nhưng công ty vẫn giảmđược mức tồn đọng tài sản ngắn hạn bằng cách đẩy nhanh thu hồi các khoản phảithu Ngoài ra việc tăng các khoản mục có tính thanh khoản cao như tiền sẽ giúp chokhả năng thanh toán của Công ty hiệu quả hơn
+ Trong khi tài sản ngắn hạn của Công ty tăng nhiều thì tài sản dài hạn củaCông ty lại tăng rất ít chỉ tăng 75.655.184.494 đồng với tỷ lệ tăng 12,94%, xét vềmặt tỷ trọng thì giảm 6,62% (58,79%-52,17%) trong đó tài sản cố định tăng 74.655triệu đồng tương ứng 12,94% so với đầu năm Các khoản đầu từ dài hạn cuối năm
2008 tăng 5.189 triệu đồng tương ứng mức tăng 37,28%, ngoài ra các khoản chi phítrả trước dài hạn giảm 220 triệu đồng Xét về mặt kết cấu, thì tỷ trọng tất cả cáckhoản mục trong tài sản dài hạn đều giảm, trừ các khoản đầu tư tài chính dài hạntăng 0,11% (1,51%-1,4%) Như vậy, trong năm 2008 cơ sở vật chất của Công tycũng đã tăng cường, quy mô về năng lực sản xuất được mở rộng, đồng thời Công ty
đã thu hẹp phạm vi đầu tư vào các công ty con mà tăng cường đầu tư vào công tyliên doanh, liên kết và đầu tư dài hạn khác, sự gia tăng này tạo nguồn lợi tức trongdài hạn cho doanh nghiệp
Sau khi phân tích đánh giá các khoản mục ảnh hưởng đến sự biến động củatài sản, để có cái nhìn tổng hợp hơn, ta xem xét đánh giá một số khoản mục tiêubiểu ảnh hưởng đến sự biến động của nguồn vốn
+ Khoản nợ phải trả tăng 288.103.420.796 đồng tương ứng tăng 36,53% trong
đó tập trung chủ yếu là nợ dài hạn tăng 173.205.419.531 đồng tương ứng với 42,2%
so với đầu năm, trong khi đó nguồn vốn chủ sở hữu lại giảm đi, điều này được đánhgiá là chưa tích cực Trong xu thế hiện nay thì hạn chế vay nợ tăng đồng thời nguồnvốn chủ sở hữu tăng nhưng vẫn đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh thuận lợi,
Trang 13giảm rủi ro đồng thời tự chủ về tài chính cho doanh nghiệp mới là mục tiêu màdoanh nghiệp cần đạt được.
+ Ta nhận thấy rằng quỹ khen thưởng phúc lợi của Công ty trong năm đãgiảm đi 441 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 41,25%, điều này cho thấy trongnăm công ty đã hạn chế nhiều hoạt động văn hoá và phúc lợi cho người lao động đểtiết kiệm chi phí, đây là một chủ trương hoàn toàn đúng của Công ty
+ Về quan hệ tín dụng, trong năm 2008, các khoản công ty vay ngân hàng vàcác tổ chức tín dụng tăng 75.568 triệu đồng tương ứng tăng 50,04% Tuy nhiên,công ty đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ khá tốt không để xảy ra tình trạng nợ quá hạn.Tóm lại, qua phân tích ta thấy qui mô sản xuất kinh doanh cảu Công ty ngàycàng tăng, tuy nhiên kết cầu vốn chủ sở hữu trong tổng vốn thì giảm thể hiện tínhchủ động trong kinh doanh của công ty giảm Mặt khác, các khoản nợ phải trả lạităng lên mà chủ yếu là lượng vốn tín dụng Nếu kết hợp phân tích theo chiều ngang
ta thấy tốc độ gia tăng của vốn chủ sở hữu chậm so với gia tăng của nợ phải trả.Đây là dấu hiệu không tốt, vì nó cho thấy khả năng đảm bảo nợ vay bằng nguồn vốnchủ sở hữu đang có chiều hướng giảm dần Do đó, trong những năm tới công ty nên
bố trí lại cơ cấu vốn sao cho phù hợp hơn, bằng cách giảm bớt lượng vốn vay vànâng dần tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng vốn
Xét về kết cấu giữa tài sản và nguồn vốn, dễ dàng nhận thấy tỷ lệ giá trị tài sảndài hạn so với tổng tài sản năm 2008 là 52,17% so với năm 2007 là 58,79% nghĩa làgiảm 6,62% Tỷ lệ này phản ánh mức độ ổn định sản xuất kinh doanh lâu dài Tỷ lệnày giảm đi cho thấy công ty đang giảm đầu tư dài hạn, để giảm rủi ro trong đầu tưđây là một chính sách đúng với tình hình kinh tế của Việt Nam năm 2008 Bên cạnh
Trang 14đó tỷ lệ vốn chủ sở hữu năm 2008 cũng giảm 5,71% so với năm 2007 Điều nàyphản ánh vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng càng thấp thì độ an toàn trong sản xuấtkinh doanh của công ty càng giảm.
2.2.4 Phân tích mối quan hệ và tình hình biến động của các chỉ tiêu trong báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (Bảng 2-10)
Qua bảng (2-10) – Bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh củaCông ty cho ta thấy rằng các chỉ tiêu doanh thu của Công ty năm 2008 đều tăng sovới năm 2007 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng 134.847.647.980 đồngtương ứng mức tăng là 23,75% Kết quả kinh doanh của Công ty trong những nămgần đây có sự tăng trưởng vượt bậc do tất cả cá lĩnh vực kinh doanh của công ty đềutăng trưởng mạnh mẽ
- Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2008 tăng so với năm
2007 là 136.075.787.412 đồng tương ứng mức tăng 24,02%, đây là kết quả cao dotrong năm 2008 công ty đã tăng được sản lượng xi măng tiêu thụ dẫn đến doanh thutăng
- Giá vốn hàng bán tăng so với năm 2007, số tăng tuyệt đối là 105.850.512.909đồng tương ứng 24,33%
- Các chỉ tiêu chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp giảm so với năm
2007 Khi doanh thu tăng lên mà các khoản chi phí bán hàng và chi phí quản lýgiảm đi điều đó cho thấy Công ty đã quản trị tốt nguồn vốn của mình sử dụng tronghoạt động sản xuất kinh doanh
- Cũng qua bảng (2-10) ta thấy doanh thu hoạt động tài chính của Công ty năm
2008 giảm đi bên cạnh đó chi phí hoạt động tài chính tăng lên, bên cạnh đó chi phíkhác tăng lên nhiều hơn so với mức tăng thu nhập khác, do đó đã làm giảm tổng lợinhuận sau thuế của Công ty là 1.249.246.130 đồng Như vậy hoạt động sản xuấtkinh doanh của Công ty trong năm 2008 là chưa hiệu quả, đó cũng là tình trạngchung của các doanh nghiệp Việt Nam trước ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tàichính năm 2008
Trang 152.2.5 Phân tích tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Tình hình thanh toán của doanh nghiệp phản ánh rõ nét chất lượng hoạt độngcủa Công ty Nếu hoạt động tài chính tốt, doanh nghiệp sẽ ít công nợ, ít bị chiếmdụng vốn cũng như ít đi chiếm dụng vốn Ngược lại, nếu hoạt động tài chính kémdẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau, các khoản nợ phải thu, phải trả sẽ kéodài Khả năng thanh toán của Công ty được đánh giá thông qua việc phân tích một
số chỉ tiêu sau:
a)Vốn luân chuyển: Là vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp đồng thời việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn
Vốn luân chuyển = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn (2-6)Tình hình vốn lưu động của công ty được thể hiện qua bảng sau:
Vốn luân chuyển 31.599.606.386 112.318.574.25
3 80.718.967.867Qua bảng số liệu cho ta thấy tình hình đầu năm tài sản ngắn hạn của Công tykhông được tốt, tuy vẫn có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và dự trữ.Nhưng đến cuối năm tình hình tài chính của Công ty khá hơn lên rất nhiều, vốn luânchuyển của Công ty tăng lên gần 4 lần so với đầu năm, cho nên khả năng thanh toán
nợ là rất cao
b)Hệ số thanh toán ngắn hạn: Khả năng thanh toán ngắn hạn được đo lường
bằng khả năng chuyển hoá thành tiền của tài sản lưu động để thanh toán cho cáctrách nhiệm nợ ngắn hạn của công ty Yếu tố quyết định khả năng trả nợ của công ty
là tính thanh khoản các tài sản của công ty Hệ số thanh toán ngắn hạn nhằm đo
Trang 16lường khả năng đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản lưu độngcủa công ty
Tuy nhiên, đây chỉ là chỉ tiêu phản ánh một cách khái quát khả năng thanh toán
nợ ngắn hạn Vì vậy khi phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn trên cơ sở đảm bảocác tài sản lưu động ta cần phải phân tích chất lượng của các yếu tố tài sản lưu độngcủa công ty qua các chỉ tiêu hệ số quay vòng các khoản phải thu, hệ số vòng quayhàng tồn kho và hệ số vòng quay các khoản phải trả
c)Hệ số thanh toán tức thời: Hệ số thanh toán tức thời hay còn gọi là hệ số
thanh toán nhanh thể hiện khả năng công ty có thể thanh toán ngay các khoản nợngắn hạn đến mức độ nào căn cứ vào những tài sản lưu động có khả năng chuyểnhoá thành tiền nhanh nhất
KTTT = Tiền + đầu tư ngắn hạn + các khoản phải thu (2-8)
Trang 17Hệ số thanh toán tức thời được coi là bình thường khi dao động từ 0,5 1,khi hệ số này nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn Năm 2007 hệ sốcủa Công ty là 0,7 nhưng đến năm 2008 chỉ là 0,6 điều này cho thấy Công ty có khảnăng trả đúng hạn các khoản nợ vay ngắn hạn nhưng năm 2007 tốt hơn năm 2008.Tuy nhiên ta có thể nhận thấy đối với các doanh nghiệp phần lớn tiền mặt có được
do bán các tài sản lưu động không dùng để giảm các khoản nợ ngắn hạn, bởi nóphải được tái đầu tư trở lại nhằm tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh
d) Hệ số quay vòng các khoản phải thu : Cho ta thấy doanh nghiệp đã thu
được tiền mặt nhanh hay chậm khi sử dụng phương thức bán hàng tín dụng
Số dư bình quân các khoản thu
năm)(184.371.613.637 + 231.254.839.207)/2
năm)(231.254.839.207 + 264.473.549.067)/2
Hệ số quay vòng các khoản phải thu năm 2008 lớn hơn năm 2007 chứng tỏkhả năng chuyển hoá thành tiền các khoản phải thu nhằm đáp ứng cho các nhu cầuthanh toán của công ty năm 2008 tốt hơn năm 2007 Tuy nhiên công tác theo dõi thuhồi các khoản nợ của công ty còn yếu
e) Số ngày luân chuyển các khoản phải thu: Cho thấy số ngày trung bình
để thu đợc các khoản nợ phải thu (số ngày trung bình cho khách hàng nợ)
NPT = Số dư bình quân các khoản thu 365 (2-10)
Với số ngày bình quân như trên cho thấy số ngày luân chuyển các khoản phảithu của công ty năm 2008 ngắn hơn năm 2007 Nguyên nhân là công ty đã giảmthời gian bán chịu và doanh số bán chịu Tuy nhiên một vòng thu các khoản phải