1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa

87 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 789,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

---PHAN THÀNH TRUNG NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG – TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CỔ PHẦN HÓA Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH LUẬN VĂN THẠC SĨ TP...

Trang 1

-PHAN THÀNH TRUNG

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG – TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ

NƯỚC SAU CỔ PHẦN HÓA

Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TP HỒ CHÍ MINH, tháng 11 năm 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

Cán bộ hướng dẫn khoa học : TS VÕ THỊ QUÝ

(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)

Cán bộ chấm nhận xét 1 : TS DƯƠNG NHƯ HÙNG

(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)

Cán bộ chấm nhận xét 2 : TS NGUYỄN THIÊN PHÚ

(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, ngày 15 tháng 12 năm 2010

Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:

(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ luận văn thạc sĩ)

1

2

3

4

5

Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ và bộ môn quản lý chuyên ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)

Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV Bộ môn quản lý chuyên ngành

Trang 3

Tp HCM, ngày 01 tháng 11 năm 2010

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ và tên học viên: PHAN THÀNH TRUNG Giới tính : Nam

Ngày, tháng, năm sinh: 30/06/1982 Nơi sinh: Tp Hồ Chí MinhChuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH

MSHV: 01708109

1- TÊN ĐỀ TÀI: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động – tài chính

của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa.

2- NHIỆM VỤ LUẬN VĂN:

─ Xác định các chỉ số tài chính và hoạt động đại diện cho kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần hóa

─ Kiểm định so sánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trước và sau khi cổ phần hóa Kiểm định so sánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp cổ phần

─ Tìm các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa

─ Đưa ra kết luận về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa và đề xuất kiến nghị

3- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 01/02/2010

4- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 01/11/2010

5- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN (Ghi đầy đủ học hàm, học vị ): Tiến Sĩ VÕ

THỊ QUÝ

Nội dung và đề cương Luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua

(Họ tên và chữ ký)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành dưới sự giúp đỡ và hỗ trợ của Khoa Quản Lý Công Nghiệp, Giáo viên hướng dẫn, gia đình và các bạn Tôi muốn nhân cơ hội này viết lời cảm ơn chân thành đến tất cả những người luôn bên cạnh tôi trong suốt quá hoàn thành luận văn

Đầu tiên, tôi muốn gởi lời cám ơn chân thành và sâu sắc của mình đến Giáo viên hướng dẫn, Tiến sĩ Võ Thị Quý – Giảng viên Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Tôi đề cao sự nhiệt tình của Cô trong công tác Giáo dục và Khoa học Những kiến thức tôi đã học được từ Cô là rất quý báu, chúng sẽ luôn đi bên tôi trên con đường tương lai

Thứ hai, tôi đặc biệt cám ơn các Thầy/Cô công tác ở Khoa Quản Lý Công Nghiệp

đã truyền đạt những kiến thức từ cơ bản đến nâng cao Những kiến thức này giúp ích rất nhiều trong quá trình làm luận văn của tôi Trong đó, tôi xin gởi lời biết ơn của mình đến Tiến sĩ Cao Hào Thi về những kiến thức nền tản trong thống kê

Cuối cùng, tôi cũng cám ơn gia đình và các bạn bè đã hỗ trợ, động viên, đóng góp ý kiến giúp tôi hoàn thành luận văn

Thành phố Hồ Chí Minh, Ngày 01 tháng 11 năm 2010

Người thực hiện luận văn

Phan Thành Trung

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Quá trình cổ phần hóa ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1992 rất khác với các quá trình

cổ phần hóa của các nước phương Tây ở chỗ phần trăm số cổ phần nằm trong tay nhà nước và người lao động trong doanh nghiệp là khá lớn sau khi doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa Điều này đã đặt ra câu hỏi rằng có tồn tại sự ảnh hưởng của tiến trình cổ phần hóa lên kết quả kinh doanh của doanh nghiệp hay không

Luận văn này đo lường sự tác động của cổ phần hóa lên kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua các chỉ số về tài chính và hoạt động của doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn trước và sau cổ phần hóa ở 63 doanh nghiệp nhà nước trong địa bàn thành phố, phân nữa trong số đó đã cổ phần hóa vào năm 2004 Tôi tìm thấy

sự gia tăng đáng kể về mặt lợi nhuận, hiệu quả hoạt động, doanh thu bán hàng, lao động và thu nhập của người lao động Kết quả của việc áp dụng phương pháp khác-biệt-trong-khác-biệt, trong đó so sánh giữa doanh nghiệp nhà nước chưa cổ phần hóa và doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa cùng một thời kỳ, cho thấy thật sựdoanh nghiệp cổ phần thể hiện sự phát triển tốt hơn, từ đó có thể kết luận rằng cổphần hóa tác động lên doanh nghiệp cổ phần một cách tích cực có ý nghĩa thống kê Phân tích hồi quy cũng tìm ra rằng quy mô doanh nghiệp, sở hữu nhà nước và loại hình doanh nghiệp (sản xuất, dịch vụ,…) là các yếu tố có ảnh hưởng đến kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 7

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU SƠ NÉT VỀ NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do hình thành đề tài: 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu: 2

1.4 Ý nghĩa thực tiễn: 3

1.5 Bố cục của đề tài: 3

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cải cách doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh của chương trình cải cách tổng thể nền kinh tế: 4

2.2 Tổng quan về quá trình cổ phần hóa ở Việt Nam: 10

2.2.1 Giai đoạn thí điểm của chương trình cổ phần hóa (1992 -1996) 11

2.2.2 Giai đoạn mở rộng của chương trình cổ phần hoá (từ 1996 đến nay): 12

2.3 Nhận xét về tiến trình cổ phần hóa ở Việt Nam: 15

2.4 Cổ phần hóa của các nước trên thế giới: 16

2.5 Các nghiên cứu thực nghiệm về cổ phần hóa: 17

2.5.1 Nghiên cứu so sánh về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trước và sau khi cổ phần hóa: 17

Trang 8

2.5.2 Nghiên cứu so sánh về kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp cổ phần

hóa với các doanh nghiệp nhà nước: 24

2.6 Các giả thiết nghiên cứu: 27

2.7 Các chỉ số đại diện cho kết quả kinh doanh: 29

2.7.1 Tỉ số lợi nhuận trên tài sản (ROA - Return on Assets): 29

2.7.2 Lợi nhuận biên (Profit Margin): 29

2.7.3 Tỉ số đòn bẩy tài chính (Financial Leverage): 30

2.7.4 Tỉ số lợi nhuận trên vốn cổ phần (ROE – Return on Equity): 30

2.7.5 Các tỉ số về hiệu quả hoạt động: 31

2.8 Các biến tác động lên các chỉ số tài chính và hoạt động: 31

2.9 Chọn mô hình nghiên cứu: 35

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KIỂM ĐỊNH GIẢ THIẾT 37

3.1 Cách chọn mẫu: 37

3.2 Mô tả thống kê mẫu về các chỉ số đại diện cho kết quả kinh doanh: 37

3.2.1 Các biến liên quan đến lợi nhuận: 38

3.2.2 Các biến liên quan tới hiệu quả hoạt động: 40

3.2.3 Doanh thu bán hàng: 42

3.2.4 Các biến về lao động: 43

3.2.5 Tỉ số đòn bẩy tài chính: 45

Trang 9

3.3 Các mô hình kiểm định: 46

3.3.1 Kiểm định Wilcoxon Paired Sign-Rank Test: 48

3.3.2 Phương pháp khác-biệt-trong-khác-biệt (DID): 49

3.4 Các yếu tố tác động lên kết quả kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần hóa: 50

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 52

4.1 Giới thiệu: 52

4.2 Sự thay đổi trong kết quả kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần hóa: 52

4.3 So sánh các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp cổ phần hóa: 57

4.4 Các yếu tố tác động lên kết quả kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần: 61

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63

5.1 Giới thiệu: 63

5.2 Kết luận về tiến trình cổ phần hóa ở Việt Nam: 63

5.3 Giới hạn của luận văn và kiến nghị nghiên cứu sâu hơn: 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

PHỤ LỤC 70

LÝ LỊCH TRÍCH NGANG 75

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Cơ cấu vốn và quyền sở hữu của 5 công ty cổ phần hóa đầu tiên 11Bảng 2.2: Số lượng doanh nghiệp cổ phần hóa ở Việt Nam từ 1993 đến 2005 14Bảng 2.3: Cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp cổ phần hóa ở Việt Nam và các quốc gia khác 16Bảng 2.4: Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệp về việc so sánh kết quả kinh doanh trước và sau khi cổ phần hóa của các doanh nghiệp cổ phần 23Bảng 2.5: Tóm lượt các tiêu chí để đo kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp cổphần trong các nghiên cứu 24

Bảng 2.6: Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm so sánh hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp cổ phần hóa với các doanh nghiệp nhà nước 27

Bảng 2.7: Mô hình nghiên cứu của loc (2006) về sự tác động của các biến lên các chỉ số tài chính và hoạt động 32

Bảng 2.8: Mô hình nghiên cứu của Anna P I Vong và Y J Lin về sự tác động của các biến lên tỉ số lợi nhuận trên tổng tài sản 34Bảng 2.9: Mô hình nghiên cứu của Mohammed Omran về sự tác động của các biến lên kết quả hoạt động kinh doanh 35Bảng 2.10: Mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động lên kết quả kinh doanh 35Bảng 3.1: Tóm tắt các chỉ số về hiệu quả tài chính và hoạt động dùng trong nghiên cứu 46Bảng 3.2: Chỉ số lạm phát ở Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2007 48

Trang 11

Bảng 3.3: Mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động lên biểu hiện của doanh nghiệp sau cổ phần hóa 51Bảng 4.1: Thống kế tác động của các yếu tố trước và sau khi cổ phần hóa 53Bảng 4.2: Thống kê thứ hạng của các phần tử các chỉ số tài chính và hoạt động 55

Bảng 4.3: Kết quả kiểm định sự khác biệt trong phát triển của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp cổ phần hóa 58

Bảng 4.4: Kết quả bảng thứ hạng của kiểm định Mann-Whitney về so sánh sự khác biệt của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp cổ phần 59

Bảng 4.5: Thống kê độ lệch của kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp trước và sau cổ phần hóa 60Bảng 4.6: Thống kê các giá trị p-value và dấu của hệ số trong các phương trình hồi quy 61Bảng 4.7: Thống kê các giá trị p-value và dấu của hệ số trong các phương trình hồi quy sau khi đã bỏ các biến kém ý nghĩa 61

Trang 12

Đồ thị 2.4: Đồ thị so sánh sự thay đổi năng suất doanh thu của doanh nghiệp cổ

phần và doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn từ 2001 đến 2007 41

Đồ thị 2.5: Đồ thị so sánh sự thay đổi năng suất lợi nhuận của doanh nghiệp cổ phần

và doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn từ 2001 đến 2007 42

Đồ thị 2.6: Đồ thị so sánh sự thay đổi doanh thu bán hàng của doanh nghiệp cổ phần

và doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn từ 2001 đến 2007 43

Đồ thị 2.7: Đồ thị so sánh sự thay đổi lao động của doanh nghiệp cổ phần và doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn từ 2001 đến 2007 44

Đồ thị 2.8: Đồ thị so sánh sự thay đổi thu nhập lao động của doanh nghiệp cổ phần

và doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn từ 2001 đến 2007 44

Đồ thị 2.9: Đồ thị so sánh sự thay đổi đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp cổ phần

và doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn từ 2001 đến 2007 45

Trang 13

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU SƠ NÉT VỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do hình thành đề tài:

Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là giải pháp quan trọng nhất của quá trình đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước ở nước ta Ngay trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương và nhiều biện pháp chỉ đạo triển khai thực hiện rất tích cực tiến trình đổi mới, sắp xếp và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước này Cổ phần hoá các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn đã được coi như là một giải pháp có tính chất chiến lược nhằm khắc phục những mặt khiếm khuyết, yếu kém vốn có của cơ chế bao cấp trong doanh nghiệp; huy động được thêm vốn, tạo được động lực và cơ chế quản lý năng động để phát triển, nâng cao năng lực và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đại hôi IX của Đảng

đề ra mục tiêu là trong 5 năm 2001 – 2005 phải cơ bản hoàn thành việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp nhà nước và thực hiện tốt chủ trương cổ phần hoá, đa dạng hoá sở hữu đối với những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn…

Thực hiện theo chủ trương này từ 2001 đến 2005 số doanh nghiệp nhà nước đã được

cổ phần hoá và trở thành các công ty cổ phần có vốn nhà nước đã tăng lên khá nhanh

cả về số lượng công ty, lẫn năng lực vốn, lao động, tài sản và kết quả hoạt động Theo

số liệu điều tra doanh nghiệp hằng năm của Tổng cục Thống kê từ năm 2000 cho thấy,

từ số lượng công ty cổ phần có vốn nhà nước chỉ có 305 doanh nghiệp trong năm

2000 đã lên 470 doanh nghiệp trong năm 2001, tăng 54,1%; lên 557 doanh nghiệp trong năm 2002, tăng 18,7%; lên 669 doanh nghiệp trong năm 2003, tăng 19,9%; lên

815 doanh nghiệp trong 2004, tăng 21,8% và lên 1.096 doanh nghiệp trong năm 2005, tăng 34,5% Sau 5 năm đã tăng thêm 791 doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước, tăng gấp gần 3,6 lần và bình quân mỗi năm tăng 158 doanh nghiệp, tương ứng với tốc độtăng bình quân là 29,8%/năm

Trang 14

Với tốc độ tằng bình quân hằng năm về số lượng công ty cổ phần có vốn nhà nước (DNNN cổ phần hoá) chỉ ở mức tăng 29,8% và về số lao động chỉ tăng 35,9%/năm, nhưng các chỉ tiêu về vốn, tài sản và kết quả sản xuất kinh doanh đã tăng lên với tốc

độ gấp đôi Cụ thể tốc độ tăng bình quân về vốn là 65,6%/năm, tài sản cố định và đầu

tư tài chính dài hạn đã tăng 59,9%/năm và doanh thu thuần sản xuất kinh doanh đã tăng 61,1%/năm Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hoá năng lực sản xuất kinh doanh và kết quả sản xuất kinh doanh đã được tăng lên rất đáng kể Từ đó có thể thấy rằng, mục tiêu quan trọng nhất của tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đặt ra là nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp đã đạt được ở mức rất cao

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là thực sự các doanh nghiệp phát triển mạnh, đạt được một

số thành tựu đáng kể do sự cơ cấu lại quyền sở hữu của doanh nghiệp, nghĩa là do tác động của tiến trình cổ phần hóa, do sự chuyển đổi hình thức sở hữu trong doanh nghiệp hay đây là một sự phát triển chung với đà phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập với nền kinh tế thế giới

1.2 Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu của nghiên cứu này là xem xét tác động của tiến trình cổ phần hóa của các doanh nghiệp nhà nước thông qua việc so sánh kết quả kinh doanh của công ty nhà nước thuần túy và công ty nhà nước cổ phần hóa Đồng thời so sánh quá trình phát triển của các doanh nghiệp trong giai đoạn trước và sau khi cổ phần hóa Sau cùng là xác định các yếu tố tác động lên kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa

1.3 Phạm vi nghiên cứu:

Mặc dù có nhiều yếu tố khác đặc trưng cho các biểu hiện của một doanh nghiệp như là yếu tố về văn hóa công ty, các yếu tố về thương hiệu…, nghiên cứu này sẽ chỉ tập trung vào các yếu tố tài chính của công ty như các chỉ số về lợi nhuận, hiệu quả hoạt động, doanh thu, đòn bẩy tài chính và nhân công Đối tượng nghiên cứu của đề tài này

Trang 15

là các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa và các doanh nghiệp nhà nước thông thường ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh

1.4 Ý nghĩa thực tiễn:

Kết quả nghiên cứu này sẽ khẳng định sự đúng đắn trong việc thực hiện cổ phần hóa cho các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam Qua đó, cung cấp một cái nhìn tổng quát

về tiến trình cổ phần hóa đang được thực hiện ở nước ta Đồng thời, tìm hiểu các yếu

tố tác động đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa để đưa ra kiến nghị Sau cùng, nghiên cứu có thể được sử dụng làm cơ sở để nghiên cứu sâu hơn

về các vấn đề cổ phần hóa và việc phát hành cổ phiếu lần đầu tiên ra công chúng ởViệt Nam

1.5 Bố cục của đề tài:

Nội dung dự kiến của luận văn bao gồm 5 chương:

Chương 1: Giới thiệu sơ nét về nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và kiểm định giả thiết

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 16

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Cải cách doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh của chương trình cải cách tổng thể nền kinh tế:

Sau thất bại của người Pháp vào năm 1954, Việt Nam được tạm chia thành hai phần, miền Bắc và miền Nam Ở miền Bắc, chính phủ ngay lập tức thông qua một mô hình quy hoạch tập trung kiểu Liên Xô nhằm chăm sóc các nhiệm vụ về tái thiết kinh tế và phát triển xã hội Các yếu tố chính của mô hình là công nghiệp hóa nhanh chóng, tập thể hóa nông nghiệp và điều khiển trung tâm mạnh mẽ của nền kinh tế Để đạt được những mục tiêu này các nhà lãnh đạo Việt Nam tại thời điểm đó cho rằng doanh nghiệp nhà nước sẽ đóng một vai trò hàng đầu trong nền kinh tế Do đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước đã nhanh chóng được thành lập thông qua cả một chương trình quốc hữu hóa toàn diện của các doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân và cả tạo ra những doanh nghiệp mới Thật vậy, vào cuối năm 1960, 100% của các doanh nghiệp sản xuất, 99,4% của doanh nghiệp thương mại, và 99% của các doanh nghiệp vận tải, thuộc về chủ sở hữu nước ngoài và tư bản trong nước đã được quốc hữu hoá và chuyển đổi thành doanh nghiệp nhà nước Ngoài ra, trong kế hoạch năm năm lần thứnhất, từ năm 1961 đến 1965, chính phủ đầu tư trung bình là 61,2% tổng số chi ngân sách trong việc thành lập doanh nghiệp nhà nước mới (Vũ, 2002)

Theo kế hoạch tập trung, các doanh nghiệp nhà nước đã được trực tiếp điều khiển và quản lý bởi các Bộ tương ứng của Chính Phủ trung ương hoặc bộ phận của chính quyền địa phương Họ được xem là đơn vị sản xuất “thuần túy” và không có tự do đểquyết định những gì họ sản xuất hay sản xuất cho ai Thật vậy, nhiệm vụ của họ chỉđơn giản là nhận được đầu vào và thực hiện kế hoạch sản xuất theo sự chỉ đạo của các

Bộ, Ngành Không chú trọng nhiều đến chất lượng, thành phẩm được trực tiếp chuyển giao cho các Bộ, các Ngành Quan trọng hơn, lợi nhuận hoạt động, đã được xác định trước trong kế hoạch, được chuyển vào ngân sách chính phủ, và những thiệt hại được

bù đắp từ ngân sách của chính phủ

Trang 17

Sau khi thống nhất đất nước vào năm 1975, chính phủ Việt Nam bắt đầu áp đặt kếhoạch kinh tế tập trung vào miền Nam trong kế hoạch 5 năm cho các năm từ 1976 đến

1980 Cùng với tiến trình tương tự như đã được thực hiện ở miền Bắc sau năm 1954, nhiều doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp công theo chính quyền cũ ở miền Nam

đã được chuyển đổi nhanh chóng và mạnh mẽ thành doanh nghiệp nhà nước kiểu miền Bắc thông qua một chương trình quốc hữu hóa Vào đầu năm 1978, 1.500 doanh nghiệp tư nhân, trong đó sử dụng 130.000 lao động và 70% lực lượng lao động trong khu vực này, đã được quốc hữu hóa và chuyển đổi thành 650 doanh nghiệp nhà nước (Nguyen, 1980) Ngoài ra, các khoản đầu tư đáng kể đã được thực hiện trên doanh nghiệp công nghiệp nhà nước mới Cụ thể, theo Vũ (2002), vào năm 1976, đầu tư của nhà nước vào ngành công nghiệp nặng và nhẹ lần lượt chiếm 21,4% và 10,5% tổng sốđầu tư của nhà nước Mặc dù có sự đầu tư lớn trong lĩnh vực công nghiệp và sự mởrộng nhanh chóng của các doanh nghiệp nhà nước, kế hoạch 5 năm (1976-1980) là một thất bại hoàn toàn Không có mục tiêu nào đã đặt ra trong kế hoạch được đáp ứng

Cụ thể, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình chỉ 1,7% thay vì là giữa 13,0% và 14,0% như mục tiêu đề ra

Hơn nữa, nền kinh tế Việt Nam bị căng thẳng nghiêm trọng trong thời gian cuối những năm 1970 do các quốc gia trên thế giới cô lập về chính trị và kinh tế đối vớiViệt Nam, cùng với vụ thu hoạch nông nghiệp xấu Do đó, nhà nước đã không thểcung cấp đầu vào cho các đơn vị sản xuất (doanh nghiệp nhà nước) và thực phẩm cho người dân Đối mặt với mối đe dọa của khủng hoảng kinh tế, chính phủ bắt đầu xem xét lại các giá trị của mô hình đang theo đuổi Tại Hội nghị lần thứ Năm của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ Tư vào tháng 7 năm 1979, bước đầu thay đổi mô hình đã được thực hiện Việc đưa ra Quyết định 25/CP, vào ngày 21 tháng 1 năm 1981, được xem là quyết định quan trọng nhất đánh dấu sự thay đổi trong chiến lược kinh tế Cụ thể, có

thể gọi là “Hệ Thống Ba Kế Hoạch”, theo đó một nhà máy quốc doanh phải có một kế

hoạch duy nhất với ba yếu tố, đó là các yếu tố chính của Quyết định Yếu tố quan trọng nhất được gọi là Kế hoạch A, đây là yếu tố bắt buộc Trong Kế hoạch này nhà máy đã sản xuất và cung cấp sản phẩm theo giá thấp cho nhà nước, sử dụng đầu vào được cung cấp bởi nhà nước Hơn nữa, lợi nhuận thu được từ kế hoạch này phải được

Trang 18

chuyển vào ngân sách nhà nước Khi nhà máy có công suất dư thừa, họ có thể sử dụng một Kế hoạch thứ hai, gọi là kế hoạch B Trong trường hợp này nhà máy tự do mua đầu vào cho chính mình, nhưng nó chỉ có thể sản xuất các sản phẩm quy định tại đầu

ra Kế hoạch A Sản phẩm của Kế hoạch B thì thường được bán cho các doanh nghiệp thương mại nhà nước, và các nhà máy cũng có thể đưa các sản phẩm của mình ra thịtrường tự do Một Kế hoạch thứ ba, Kế hoạch C, là không bắt buộc và được thành lập bởi các nhà máy (Fforde và De Vylder, 1996) Theo Kế hoạch, sản lượng các sản phẩm thường là nhỏ và được thực hiện thông qua sự nỗ lực riêng của nhà máy nhằm

đa dạng hoá Đối với sản phẩm này, công ty hoàn toàn có thể quyết định đầu vào và đầu ra của nó Điều quan trọng cần lưu ý ở đây rằng lợi nhuận theo kế hoạch thứ hai

và thứ ba có thể được giữ lại bởi các nhà máy sản xuất với một tỷ lệ nhất định

Mặc dù có một số thành tựu đáng kể đối với sản xuất công nghiệp, các biện pháp cải cách trong những năm 1980-1985 đã không thể cứu hệ thống kinh tế tập trung Cụ thể, nền kinh tế vẫn trì trệ với mức thâm hụt ngân sách nhà nước và lạm phát cao Trong một nỗ lực nhằm hồi sinh nền kinh tế và kiểm soát lạm phát, một gói chính sách (giá

cả, tiền lương và cải cách tiền tệ) đã được đưa ra vào tháng 9 năm 1985 Gói chính sách này là một thất bại, bởi vì nó không hoàn toàn giải quyết được gốc rễ của vấn đề

Do đó, giá cả vẫn còn trực thuộc Trung ương quyết định và doanh nghiệp nhà nước được trợ cấp nhiều hơn nữa Các ràng buộc về ngân sách dẫn đến sự thâm hụt ngân sách lớn của nhà nước Thâm hụt này chỉ có thể được tài trợ bởi việc in tiền, điều này

đã góp phần mạnh mẽ vào xu hướng lạm phát từ trước Trong thực tế, trong năm 1986 chỉ số giá tiêu dùng tăng 487% Những tác động kinh tế vĩ mô không mong đợi của gói chính sách đã khuyến khích Nhà Nước có thêm quyết tâm để thực hiện các biện pháp cải cách kinh tế trong nửa cuối những năm 1980

Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3 khóa 6 vào cuối năm 1986 đánh dấu một sự thay đổi quan trọng trong cải cách kinh tế Cụ thể, cơ chế kinh tế tập trung

đã được chính thức bị hủy bỏ và thay thế bằng một nền kinh tế thị trường Chính sách này thường được gọi là cải cách kinh tế (Đổi Mới) Các biện pháp đầu tiên và quan trọng nhất trong khuôn khổ đổi mới được thực hiện trong Quyết định 217/HĐBT, ban

Trang 19

hành vào ngày 14 tháng 11 năm 1987 Theo Quyết định này, các yếu tố của cơ chế kếhoạch tập trung cũ dựa trên các doanh nghiệp nhà nước bị loại bỏ Cụ thể, các doanh nghiệp nhà nước được giao quyền tự chủ để thiết lập và thực hiện kế hoạch tự sản xuất của họ dựa trên nguyên tắc phát triển kinh tế xã hội đã ban hành bởi nhà nước Ngoài

ra, cơ chế trong đó các yếu tố đầu vào được cung cấp bởi nhà nước và đầu ra phải được chuyển giao cho nhà nước đã bị bãi bỏ Thay vào đó, các doanh nghiệp nhà nước trực tiếp có thể bán sản phẩm của họ cho các công ty kinh doanh khác hoặc thậm chí cho người tiêu dùng cuối cùng Hơn nữa, lợi nhuận tính toán trên cơ sở chi phí thực tếđược giữ lại bởi các doanh nghiệp nhà nước và được sử dụng theo quyết định của mình, trừ trường hợp chuyển giao bắt buộc cho ngân sách nhà nước Hơn nữa, giá của sản phẩm được xác định trên cơ sở các điều kiện cung và cầu trên thị trường trong trường hợp các sản phẩm không bị kiểm soát giá Đối với trường hợp của các sản phẩm bị kiểm soát giá, các doanh nghiệp nhà nước có thể tham khảo bảng giá (giá sàn

và giá trần) trước khi thiết lập giá cho sản phẩm của họ Tuy nhiên, số lượng các sản phẩm bị kiểm soát giá cả đã nhanh chóng giảm

Sự thay đổi trong cơ chế quản lý của các doanh nghiệp nhà nước theo Quyết định 217/HĐBT, kết hợp với các chính sách khác, ví dụ như việc ban hành Luật Đầu Nước Ngoài Tư Trực Tiếp vào năm 1987, dẫn đến một số lượng lớn các doanh nghiệp nhà nước phải đối mặt với khó khăn và thiệt hại phát sinh Để giải quyết vấn đề này, nhà nước ban hành Nghị định 388/HĐBT ngày 20 tháng 11 năm 1991, cung cấp một khuôn khổ pháp lý để cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước Theo Nghị định điều kiện thành lập doanh nghiệp nhà nước mới và đóng cửa doanh nghiệp nhà nước hiện có đều xác định rõ ràng Cụ thể, doanh nghiệp nhà nước là có thể bị buộc phải giải thểhoặc sáp nhập với các doanh nghiệp khác nếu đang nằm trong một trong các trường hợp sau: (1) thực hiện không tốt (liên tục thua lỗ), (2) thiếu vốn hoặc công nghệ, (3) không đủ nhu cầu thị trường cho sản phẩm của mình Hơn nữa, dựa trên Nghị quyết của Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 10, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 202/CT để khởi động một chương trình cổ phần hoá vào giữa năm 1992 Những

nỗ lực này trong cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước đạt được một kết quả ấn tượng trong việc giảm số lượng các doanh nghiệp nhà nước Trong thực tế, số lượng các

Trang 20

doanh nghiệp nhà nước giảm từ 12.297 vào năm 1991 đến 6.264 của tháng 4 năm

1994 (Vũ, 2002)

Các doanh nghiệp nhà nước đã tiếp tục tái cơ cấu cùng với sự ban hành Quyết định 90

và 91 vào năm 1994 về việc thành lập Tổng công ty, đó là các Tổng công ty 90 và 91

Cụ thể, Quyết định 90 kêu gọi thành lập các Tổng công ty nhà nước với ít nhất 5 thành viên doanh nghiệp nhà nước tự nguyện và vốn pháp định tối thiểu là 100 tỷ đồng, trong khi Quyết định 91 kêu gọi hình thành các Tổng công ty lớn hơn với ít nhất 7thành viên doanh nghiệp nhà nước được chỉ định của nhà nước và vốn pháp định tối thiểu 1.000 tỷ đồng Về mặt quản lý, Tổng công ty 90 thuộc Bộ hoặc chính quyền cấp tỉnh, trong khi Tổng công ty 91 thì trực tiếp dưới sự kiểm soát của Thủ tướng Chính phủ Lý do đằng sau việc thành lập các Tổng công ty nhà nước là để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa của nền kinh tế

Các doanh nghiệp nhà nước đã được tổ chức lại đáng kể sau khi ban hành Luật doanh nghiệp nhà nước vào năm 1995 Theo Luật, doanh nghiệp nhà nước được phân loại thành hai nhóm Nhóm đầu tiên là nhóm doanh nghiệp nhà nước tạo ra lợi nhuận, trong đó mục tiêu chính của nhóm là làm cho có lợi nhuận Trong khi nhóm thứ hai là nhóm doanh nghiệp nhà nước phi lợi nhuận, trong đó sản xuất và phân phối các dịch

vụ công hoặc chịu trách nhiệm về quốc phòng hoặc các hoạt động an ninh Hơn nữa, vai trò của các Bộ và chính quyền tỉnh trong việc kiểm soát các doanh nghiệp nhà nước (cơ quan kiểm soát) được xác định rõ trong Luật Cụ thể, các cơ quan kiểm soát

có quyền hạn cơ cấu lại hoặc giải thể doanh nghiệp nhà nước cũng như bổ nhiệm các

vị trí cấp cao trong các doanh nghiệp nhà nước (Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng quản trị, quản lý và kế toán trưởng) Hơn nữa, trách nhiệm của Bộ Tài chính trong việc quản lý vốn của nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước, mối quan hệgiữa Bộ Tài chính và các cơ quan kiểm soát khác của các doanh nghiệp nhà nước được cũng được xác định rõ trong Luật Quan trọng hơn, các doanh nghiệp nhà nước được phép quyết định sản xuất những gì, làm thế nào và cho ai Thêm vào đó, họ được

tự do làm ăn với nhau và với các doanh nghiệp ngoài nhà nước, bao gồm các công ty

Trang 21

nước ngoài theo hình thức liên doanh hoặc hợp đồng kinh doanh Ngoài ra, các doanh nghiệp nhà nước gần như độc lập trong việc sử dụng vốn, tài sản nhận được từ việc vay, chính phủ và đầu tư, trừ các dự án lớn, thiết bị quan trọng đòi hỏi sự chấp thuận của cơ quan tài chính Cuối cùng, thu nhập ròng hoàn toàn thuộc về các doanh nghiệp nhà nước và được phân bố thành ba quỹ, cụ thể là một phúc lợi, khen thưởng, quỹphát triển kinh doanh.

Các biện pháp cải cách doanh nghiệp nhà nước trong thời kỳ này, kết hợp với sự thành công của cải cách kinh tế vĩ mô, dần đưa Việt Nam đạt được một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế khá tốt, đặc biệt là vào những năm 1992 và 1997 Ngoài ra, lạm phát đã được kiểm soát Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhà nước bước vào một giai đoạn khó khăn từcuối năm 1997 do khủng hoảng tài chính ở châu Á Thật vậy, họ phải đối mặt với vấn

đề nghiêm trọng trong việc bán sản phẩm của họ trên thị trường cả trong nước và thịtrường quốc tế vì sự phá giá đồng tiền của các nước láng giềng Do đó, biểu hiện của các doanh nghiệp nhà nước thường là bị suy thoái, và trong đó nhiều doanh nghiệpphát sinh lỗ Trong thực tế, theo Vũ (2002), thua lỗ của doanh nghiệp nhà nước chiếm 60% tổng số doanh nghiệp nhà nước vào cuối năm 1997 Biểu hiện yếu kém của các doanh nghiệp nhà nước một phần dẫn đến sự suy giảm tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn từ năm 1998 đến năm 1999

Để khắc phục việc biểu hiện kém cỏi của các doanh nghiệp nhà nước và tránh được những gánh nặng cho ngân sách nhà nước, một số biện pháp cải cách ấn tượng về các doanh nghiệp nhà nước đã được liên tục tiến hành từ năm 1998 Những biện pháp này

đã tập trung vào việc cải thiện hiệu suất và đồng thời giảm số lượng các doanh nghiệp nhà nước Các chính sách quan trọng nhất liên quan đến cải cách doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn này là việc ban hành Nghị định 44/1998/NĐ-CP vào ngày 27 tháng 6 năm 1998, kết thúc giai đoạn thử nghiệm và bắt đầu giai đoạn mở rộng của chương trình cổ phần hóa Nghị định này có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của quá trình cổ phần hóa Ngoài ra, nhà nước ban hành Nghị định 103/1999/NĐ-CP vào tháng 9 năm 1999 về "chuyển giao, bán, hợp đồng quản lý và cho thuê của doanh

Trang 22

nghiệp nhà nước" áp dụng cho doanh nghiệp nhà nước nhỏ và thua lỗ không đủ điều kiện để cổ phần hoá.

Tóm lại, phần này cung cấp tổng quan về các yếu tố chính của chính sách kinh tế, nói chung, và các chính sách doanh nghiệp nhà nước, nói riêng, tại Việt Nam cho giai đoạn từ năm 1976 trở đi Điều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là cải cách kinh tế ởViệt Nam chính thức chỉ bắt đầu vào năm 1986 Nền kinh tế Việt Nam đã bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thành tích ấn tượng Như thành phần chính của cải cách kinh tế, nhà nước đã đưa ra một số biện pháp để cải cách các doanh nghiệp nhà nước với mục tiêu cải thiện hiệu suất và giảm số lượng các doanh nghiệp nhà nước Trong số các biện pháp này, cổ phần hoá được xem như là một biện pháp chính để đạt được những mục tiêu này Theo kết quả của những biện pháp này, số lượng các doanh nghiệp nhà nước đã giảm đáng kể, từ 12.297 năm 1991 xuống còn 5.364 vào cuối

2002 (Tổng cục Thống kê, 2004) Tuy nhiên, doanh nghiệp nhà nước vẫn đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam Trong thực tế, họ đã tạo được một vị trí quan trọng trong nhiều lĩnh vực kinh tế trọng điểm và đóng góp một phần đáng kể vào GDP của Việt Nam

2.2 Tổng quan về quá trình cổ phần hóa ở Việt Nam:

Chương trình cổ phần hóa tại Việt Nam bắt đầu vào năm 1992 như một phần của Chương trình cải cách các doanh nghiệp nhà nước, trong bối cảnh cải cách tổng thểnền kinh tế Cổ phần hóa được định nghĩa là việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần và bán một phần cổ phần trong công ty cho nhà đầu tư bên ngoài để cải thiện năng suất của các doanh nghiệp Tuy nhiên, Chính phủ Việt Nam vẫn giữ quyền bỏ phiếu, biểu quyết và quyết định trong một số trường hợp Thông tin

về quá trình cổ phần hóa được thảo luận chi tiết trong các phần phụ sau

Các giai đoạn cổ phần hóa

Trang 23

Quá trình cổ phần hóa tại Việt Nam có thể được chia thành hai giai đoạn Giai đoạn đầu thường được gọi là giai đoạn thí điểm, từ năm 1992 đến năm 1996, và giai đoạn thứ hai là giai đoạn mở rộng, từ năm 1996 đến nay.

2.2.1 Giai đoạn thí điểm của chương trình cổ phần hóa (1992 -1996)

Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 10, Thủ tướng Chính phủban hành Quyết định 202-CT để khởi động chương trình cổ phần hóa vào ngày 08 tháng 06 năm 1992 Theo Quyết định này, doanh nghiệp nhà nước tham gia chương trình thí điểm cổ phần hóa là doanh nghiệp vừa và nhỏ, có lợi nhuận hoặc ít nhất là doanh nghiệp có khả năng sinh lợi, nhưng không phải là "doanh nghiệp chiến lược".Ngoài ra, Quyết định này quy định rằng các nhân viên của các doanh nghiệp cổ phần hoá có quyền đầu tiên mua cổ phần với điều kiện ưu đãi Lo ngại sự sụp đổ xã hội ởĐông và Trung Âu, chính phủ Việt Nam tiến hành quá trình cổ phần hóa rất thận trọng Trong giai đoạn thí điểm 1992-1996, chỉ có năm doanh nghiệp nhà nước được

cổ phần hóa Nó liên quan đến doanh nghiệp nhà nước nhỏ từ việc vận chuyển, giày dép, máy móc và các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm Trong hầu hết các doanh nghiệp, các nhân viên giữ phần chi phối của cổ phiếu, và nhà nước vẫn còn sởhữu gần 30% cổ phần Cơ cấu vốn và quyền sở hữu của 5 công ty đầu tiên trong giai đoạn thí điểm được tóm tắt trong bảng 2.1:

Công ty Chế biến thức ăn

Trang 24

2.2.2 Giai đoạn mở rộng của chương trình cổ phần hoá (từ 1996 đến nay):

Nhận thấy sự cần thiết cho sự tiếp cận tích cực hơn, Chính phủ ban hành Nghị định 28-CP ngày tháng 05 năm 1996 để kết thúc giai đoạn thử nghiệm và để bắt đầu một giai đoạn mới của quá trình cổ phần hóa Nghị định này duy trì các nguyên tắc chung của chương trình cổ phần hóa thí điểm, mở rộng phạm vi cổ phần hoá cho tất cả các doanh nghiệp nhà nước nhỏ và vừa không phải là doanh nghiệp chiến lược, và đòi hỏi

có cơ quan kiểm soát doanh nghiệp nhà nước (Bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, Tổng công

ty nhà nước) lựa chọn doanh nghiệp để cổ phần hóa Tuy nhiên, kể từ khi Nghị định này đi vào hiệu lực tốc độ của quá trình cổ phần hóa đã không nhanh chóng cải thiện

so với mong đợi Trong thực tế, chỉ có 6 doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa hoàn toàn trong nửa cuối năm 1996, và thêm 4 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa vào năm 1997

Quá trình cổ phần hoá đã tăng tốc kể từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số44/1998/NĐ-CP ngày vào ngày 29 tháng 6 năm 1998 Nghị định này cung cấp một khuôn khổ khá rõ ràng và toàn diện cho việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần hóa Do đó, hàng năm có hàng trăm doanh nghiệp nhà nước được cổphần hóa theo Nghị định này Mặc dù Nghị định 44 đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa, nó vẫn có một số hạn chế, ví dụ, liên quan đến phương pháp định giá trị công ty Kết quả là, chính phủ ban hành Nghị định 64/2002/NĐ-CP vào ngày 19 tháng 6 năm 2002 để thay thế Nghị định 44 Nghị định mới, có khoảng 10 thay đổi lớn so với Nghị định 44, chẳng hạn như phương pháp xác định giá trị công ty, phát hành cổ phiếu ra công chúng, nghĩa vụ người sáng lập,… đãtác động mạnh mẽ đến tiến triển của quá trình cổ phần hóa Thật vậy, số lượng các doanh nghiệp nhà nước, được thành công chuyển đổi thành công ty cổ phần hóa trong giai đoạn 2003-2005, đạt 2.016, chiếm khoảng 52,55% tổng số của các doanh nghiệp

cổ phần hóa tính đến ngày 18 tháng 10 năm 2009

Hơn 12 năm thực hiện, quá trình cổ phần hóa tại Việt Nam đã dẫn đến một số kết quảquan trọng Tính đến cuối năm 2004, tổng số 2.242 doanh nghiệp nhà nước, với tổng

số vốn khoảng 17.700 tỷ đồng, đã hoàn thành quá trình cổ phần hóa Tuy nhiên, quá

Trang 25

trình đã tiến triển từ từ, và thật khó để đạt được mục tiêu của Chính phủ về cổ phần hóa khoảng 3.000 doanh nghiệp nhà nước vào năm 2005 Ngoài ra, hầu hết các doanh nghiệp nhà nước đã được lựa chọn để cổ phần hoá có quy mô nhỏ và vừa Thật vậy, theo một báo cáo của Ban Đổi mới doanh nghiệp nhà nước quốc gia, 81,5% các công

ty có vốn đầu tư ít hơn 10 tỷ đồng trong tổng số doanh nghiệp cổ phần hóa Điều quan trọng cần lưu ý ở đây là doanh nghiệp nhà nước "chiến lược" không được tham giatrong chương trình cổ phần hóa Về cơ cấu sở hữu của các doanh nghiệp cổ phần hóa báo cáo cho thấy rằng trong nội bộ (nhân viên và Ban quản lý) nắm giữ cổ phần chi phối trong các công ty, và nhà nước vẫn sở hữu hơn một phần ba tổng số cổ phần của công ty Cụ thể, trong 2.242 doanh nghiệp cổ phần hóa vào cuối năm 2004, trong nội

bộ, trung bình kiểm soát 46,5%, và nhà nước vẫn nắm giữ trung bình 38,1%, tổng số

cổ phần của công ty Phần còn lại, trung bình chỉ có 15,4% thuộc về nhà đầu tư bên ngoài Hơn nữa, các công ty trong đó nhà nước sở hữu hơn 50% cổ phần chiếm khoảng 29,5% tổng số doanh nghiệp cổ phần hóa Bảng 2.2 trình bày số lượng doanh nghiệp cổ phần hóa ở Việt Nam giai đoạn 1993-2005:

được cổ phần hóa

Tổng số vốn (triệu đồng)

Vốn bình quân trên mỗi công ty

Trang 26

2003 537 n.a n.a.

Bảng 2.2: Số lượng doanh nghiệp cổ phần hóa ở Việt Nam từ 1993 đến 2005.

Các Trung tâm giao dịch chứng khoán ra đời và phát triển mạnh mẽ đã góp phần thúc đẩy quá trình phát triển của các công ty cổ phần hóa thông qua các Nghị Định Cụ thể

là ngày 11 tháng 07 năm 1998 theo Quyết định 127/1998/QĐ-TTg, Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HASTC) chính thức ra đời Đến ngày 17 tháng 01 năm

2009 được đổi tên thành Sở Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội Bên cạnh đó, ngày 20 tháng 07 năm 2000 chính thức khánh thành Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, sau ngày 08 tháng 08 năm 2007 đổi tên thành Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Để bắt kịp nhịp độ phát triển của thị trường chứng khoán, Nghị Định 64 được thay thế bằng Nghị Định 187 ban hành ngày 16 tháng 11 năm 2004 Bên cạnh những điều lệ cơ bản, Nghị định 187 quy định rõ hơn về cơ chếbán cổ phần Ví dụ, về phương thức bán cổ phần, nghị định quy định việc bán cổ phần buộc phải qua đấu giá Việc đấu giá trực tiếp tại doanh nghiệp được thực hiện với trường hợp tổng mệnh giá của số cổ phần lần đầu từ 1 tỉ đồng trở xuống; đấu giá tại các tổ chức tài chính trung gian với trường hợp có tổng mệnh giá của số cổ phần bán đấu giá từ trên 1 tỉ đồng đến 10 tỉ đồng; đấu giá tại trung tâm giao dịch chứng khoán

có tổng mệnh giá của số cổ phần bán đấu giá trên 10 tỉ đồng hoặc 10 tỉ đồng trở xuống nếu có nhu cầu

Điều đáng chú ý nhất tại Nghị định 187/NĐ-CP là việc không quy định khống chếquyền mua cổ phần của các nhà đầu tư Theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Thị Băng Tâm, đối với nhà đầu tư nước ngoài thì mặc dù hiện nay Luật Khuyến khích đầu tư trong nước có quy định là tỷ lệ nắm giữ CP của nhà đầu tư nước ngoài tại các công ty Việt Nam tối đa là 30%; tuy nhiên, Chính phủ đã giao cho Bộ Tài chính nghiên cứu, sửa đổi quy định nói trên theo hướng nâng tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài lên

Trang 27

Để thể hiện sự quyết tâm trong tiến trình cổ phần hóa, ngày 26 tháng 06 năm 2007, Nghị định 109 ra đời cùng với các quy định về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần, Nghị định này bổ sung thêm cho Nghị định 187 ởmột số mặt như mở rộng đối tượng cổ phần hóa, mở rộng đối tượng nhà đầu tư chiến lược cho cả doanh nghiệp nước ngoài, xóa bỏ cơ chế ưu đãi giảm 20% giá bán cổphần so với giá đấu bình quân Bổ sung thêm phương thức mới về bán cổ phần lần đầu: bảo lãnh phát hành và thoả thuận trực tiếp Nếu áp dụng phương thức đấu giá công khai, doanh nghiệp có khối lượng cổ phần bán ra dưới 10 tỷ đồng thì được đấu giá tại các tổ chức tài chính trung gian Ngược lại, nếu khối lượng cổ phần bán ra trên

10 tỷ đồng thì nhất thiết phải đấu giá tại Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán…

2.3 Nhận xét về tiến trình cổ phần hóa ở Việt Nam:

Sau khi hoàn tất giai đoạn thử nghiệm của tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, bước đầu giai đoạn mở rộng cũng thực hiện cổ phần hóa được một số lượng lớn các doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên, những năm gần đây số lượng doanh nghiệp được cổ phần hóa hàng năm dần dần giảm Một trong những nguyên nhân chính là do khung pháp lý còn lỏng lẻo Theo PGS.TS Nguyễn Đình Tài: “Từ năm 2002 đến 2007 qui định pháp luật về cổ phần hóa được thay đổi 3 lần (Nghị định 64/2002/NĐ-CP, Nghị định 187/2004/NĐ-CP và Nghị định 109/2007/NĐ-CP) và các thông tư hướng dẫn thường ban hành chậm nên đã ảnh hưởng đến tiến độ triển khai kế hoạch cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Trong một nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Đình Tài khảo sát tại 934 doanh nghiệp cho thấy, thời gian cổ phần hóa một doanh nghiệp bình quân mất 437 ngày và điển hình là thời gian cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương mất tới hơn 4 năm Bên cạnh đó, phần trăm sở hữu của nhà nước trong một doanh nghiệp sau cổ phần hóa cũng chiếm một tỉ lệ khá lớn Bảng 2.3 thể hiện cấu trúc sở hữu của các công ty cổ phần hóa ở Việt Nam và một số quốc gia khác

Trang 28

Quốc gia Nhà nước Nội bộ Bên ngoài

Theo bảng trên số lượng cổ phần bình quân mà nhà nước còn nắm giữ ở các công ty

cổ phần hóa là khá lớn (38.1%), trong khi phần trăm số cổ phần thuộc quyền sở hữu của các cá nhân và tổ chức bên ngoài lại nhỏ (15.4%) Điều này có mâu thuẫn với mục tiêu của cổ phần hóa là: “Huy động vốn từ nhân viên và các nhà đầu tư bên ngoài, bao gồm cả các nhà đầu tư trong và ngoài nước, cho đổi mới công nghệ và phát triển kinh doanh của doanh nghiệp” hay không Bên cạnh đó, việc nắm phần lớn cổ phần của nhà nước có làm chi phối các doanh nghiệp và ảnh hưởng đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh hay không? Phần nghiên cứu sau sẽ giúp trả lời có hay không sự tác động của cổ phần hóa lên các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa

2.4 Cổ phần hóa của các nước trên thế giới:

Lịch sử gần đây của tư nhân hóa (theo cách gọi của các nước phương Tây) bắt đầu từ đầu những năm 1980 khi chính phủ Anh bắt đầu tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trên một quy mô rộng Sau sự sụp đổ của hệ thống chính trị ở Liên Xô và các nước Đông Âu, cuối những năm 1980, nhiều nền kinh tế quá độ cũng thực hiện chương trình tư nhân hóa toàn diện Ngày nay, tư nhân hóa là một hiện tượng trên toàn thế giới trong đó hình thức chủ yếu của nó là thông qua cơ chế thị trường để phân

bổ nguồn lực

Trang 29

Mặc dù tư nhân hóa dường như được chấp nhận như là một phương pháp hữu ích để

cơ cấu lại nền kinh tế, nhưng vẫn còn chưa rõ ràng về các điều kiện tư nhân hóa thành công, và nó ảnh hưởng đến hành vi của doanh nghiệp và hoạt động kinh tế vĩ mô của đất nước như thế nào Một số nghiên cứu cho thấy sự chuyển đổi thành công của quá trình tư nhân hóa, trong khi những nghiên cứu khác lập luận rằng có những thất bại lớn, chẳng hạn như các chương trình tư nhân hóa tại Nga (theo Megginson và Netter, 2001; Parker và Kirkpatrick, 2005) Do đó, không có gì ngạc nhiên khi một cuộc tranh luận sôi nổi đang diễn ra về hiệu quả của tư nhân hóa cuộc tranh luận này tập trung vào một danh sách dài các vấn đề, chẳng hạn như các điều kiện tiên quyết tối ưu của

tư nhân hóa; việc định giá thấp khi lần đầu tiên doanh nghiệp phát hành cổ phiếu ra công chúng (IPO); hình thức thích hợp nhất của tư nhân hóa; các ảnh hưởng của tư nhân hóa vào hoạt động công ty và việc làm; tác động của môi trường kinh tế; về hiệu quả của quản lý tư nhân; các mối tương quan giữa quản trị doanh nghiệp và tư nhân;

và tác động của tư nhân vào sự phát triển của hệ thống tài chính trong nước, đặc biệt

là đối với các thị trường chứng khoán

2.5 Các nghiên cứu thực nghiệm về cổ phần hóa:

Với sự gia tăng của cổ phần hóa ở các quốc gia trong những thập kỷ qua, các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến cổ phần hóa cũng tăng lên Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến tác động của cổ phần hóa lên biểu hiện của doanh nghiệp(xem Megginson và Netter, 2001; Parker và Kirkpatrick, 2005) Trong đó bao gồm ba nhóm nghiên cứu, nhóm đầu tiên so sánh biểu hiện của các doanh nghiệp trước và sau khi cổ phần hóa Nhóm thứ hai so sánh biểu hiện của các doanh nghiệp cổ phần hóa vàcác doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện tương tự

2.5.1 Nghiên cứu so sánh về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trước và sau khi cổ phần hóa:

Các nghiên cứu thực nghiệm kiểm tra tác động cổ phần hóa lên kết quả kinh doanhcủa doanh nghiệp bằng cách so sánh hiệu quả tài chính, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trước và sau khi cổ phần hóa được tóm tắt trong Bảng 2.4 Nói chung, tất cả

Trang 30

các nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm để hỗ trợ các đề xuất rằng cổphần hóa cải thiện hiệu quả tài chính và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Cụthể, lợi nhuận, sản lượng bán hàng, hiệu quả hoạt động và đầu tư tăng đáng kể sau khi

cổ phần hóa Ngoài ra, các nghiên cứu này chỉ ra rằng đòn bẩy tài chính giảm đáng kểsau khi cổ phần hoá Điều quan trọng cần lưu ý ở đây rằng tác động của cổ phần hóa lên việc làm là không rõ ràng Thật vậy, Boubakri và Cosset (1998) chỉ ra rằng việc làm tăng lên đáng kể trong khi Megginson et al (1994), D'Souza và Megginson (1999) và D'Souza et al (2001) tìm thấy sự thay đổi không đáng kể trong việc làm sau khi cổ phần hoá Mặt khác, La Porta và López-de-Silanes (1999) và Harper (2002) cho thấy giảm đáng kể trong việc làm trong thời kỳ sau cổ phần hóa

ty từ 18 quốc gia

và 32 ngành công nghiệp, cổ phần hóa một phần hay toàn phần thông qua quá trình bán

cổ phần ra công chúng, trong giai đoạn từ 1961 đến 1990

So sánh hiệu quả tài chính và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong 3 năm trước và sau khi

cổ phần hóa

Sử dụng lợi nhuận, hiệu quả hoạt động, đầu tư vốn, doanh thu bán hàng, nhân công, các đòn bẩy và cổ tức như là các thước đo hiệu quảtài chính và hoạt động

Kiểm định mức ý nghĩa của

Lợi nhuận, hiệu quảhoạt động, doanh thu bán hàng, chi tiêu đầu tư, thanh toán cổ tức, và đòn bẩytăng đáng kể sau khi cổphần hóa Nhân công cũng tăng lên sau khi cổ phầnhóa, nhưng không đáng kể

Trang 31

Nghiên cứu Mẫu Phương pháp Kết quả

những thay đổi trong giá trị trung bình của các tỷ số giữa hai giai đoạn trước và sau khi

cổ phần hóa trong

21 quốc gia đang phát triển trong gia đoạn từ 1980 đến 1992

Sử dụng cùng phương pháp và cách

đo như Megginson,

Randenborgh (1994)

Lợi nhuận, hiệu quảhoạt động, doanh thu bán hàng, chi tiêu đầu tư, thanh toán cổ tức, và nhân côngtăng đáng kể trong khi đòn bẩy giảm đáng kể trong quá trình sau cổ phần hóa.D’Sou

Megginson

(1999)

Sử dụng mẫu của 85 công

ty ở 28 quốc gia

và 21 ngành công nghiệp được cổphần hóa thông qua quá trình bán

cổ phần ra công chúng từ 1990 đến 1996

Sử dụng cùng phương pháp và cách

đo như Megginson,

Randenborgh (1994)

Lợi nhuận, hiệu quảhoạt động, doanh thu bán hàng, thanh toán cổ tức, và đòn bẩy tăng đáng kể trong thời gian sau cổ phần hóa Hơn nữa, đầu tư vốn cũng tăng đáng kể, nhưng không liên quan đến doanh thu và tài sản Cuối cùng, nhân công giảm sau cổ phần hóa, nhưng không đáng kể

ty nhà nước ở 26 lĩnh vực được cổphần hóa khác nhau từ 1983 đến

So sánh từng tỉ

số hoạt động và tài chính trước và sau khi

cổ phần hóa

Doanh thu hoạt động và doanh thu ròng từbán hàng tăng 24,1% và 40,0%, tương ứng, và doanh thu bán hàng tăng 54,3% so với trước khi cổ

Trang 32

Nghiên cứu Mẫu Phương pháp Kết quả

công giảm đáng kể (bằng 53,4% đối người lao động chân tay và 53,3% đối vớingười lao động trí óc), và hiệu quả hoạt động, được

đo bằng chi phí trung bình cho mỗi đơn vị sản phẩm, giảm 21,49% sau cổ phần hóa Tuy nhiên, vốn đầu tư vào tài sản cố định hầu như

là không thay đổi Hơn nữa, việc nâng cao lợi nhuận được chia ra thành

ba thành phần: (1) 5% là do giá sản phẩm cao hơn, (2) 31% đến từ sa thải công nhân, và 64% là do tăng năng suất

D’Sou

za et al

(2001)

Dữ liệu của 118 công ty (từ 29 quốc gia và

28 ngành công nghiệp), được cổphần hóa thông qua quá trình bán

cổ phần ra công chúng từ 1961 đến 1995

Sử dụng cùng phương pháp và cách

đo như Megginson,

Randenborgh (1994)

Lợi nhuận, doanh thu bán hàng, hiệu quả hoạtđộng và chi phí vốn tăng đáng kể, và đòn bẩy giảm đáng kể sau cổ phần hóa Hơn nữa, tăng nhân công sau cổ phần hóa, nhưng không đáng kể Ngoài ra, những thay đổi trong cơ cấu sở hữu đóng góp đáng

Trang 33

Nghiên cứu Mẫu Phương pháp Kết quả

kể vào cải thiện các biểu hiện của công ty, và mức

độ phát triển thị trường vốn

có tác động tích cực vào việc cải thiện biểu hiện của công ty sau cổ phần hóa.Dewe

Sử dụng cùng phương pháp và cách

đo như Megginson,

Randenborgh (1994) – so sánh các biểu hiện của công ty trước

và sau khi cổ phần hóa

Lợi nhuận trêndoanh thu và lợi nhuận trên tài sản tăng đáng kể, nhưng lợi nhuận trên vốn chủ sởhữu và thu nhập trước thuế

và lãi vay (EBIT) giảm không đáng kể sau cổ phần hoá Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy rằng tất cảcác đòn bẩy giảm đáng kểsau khi cổ phần hóa Cuối cùng, nhân công giảm đáng

kể sau khi cổ phần hóa.Bouba

kri và Cosset

(2002)

Sử dụng

dữ liệu của 16 công ty mới cổphần hóa có trụ

sở chính đặt tại Châu Phi từ 1989 đến 1996

Sử dụng cùng phương pháp và cách

đo như Megginson,

Randenborgh (1994) với một số biến không quan sát do thiếu dữliệu

Lợi nhuận, hiệu quảbán hàng và doanh thu bán hàng tăng trong khi các chỉ

số đòn bẩy giảm sau cổphần hóa, nhưng tất cả thay đổi này được thống kê là không đáng kể Hơn nữa, đầu tư vốn, được đo bằng chi phí vốn trên doanh thu

và chi phí vốn trên tổng tài

Trang 34

Nghiên cứu Mẫu Phương pháp Kết quả

sản, tăng đáng kể sau khi

Sử dụng cùng phương pháp và cách

đo như Megginson,

Randenborgh (1994)

Sử dụng hồi quy cắt ngang để xác định nguồn gốc của những thay đổi sau cổphần hóa với các biến giải thích là ngành công nghiệp, kích thước công ty, thời gian hoạt động, nợ, quyền sở hữu, phần trăm cổ phần hóa, ảnh hưởng của nước ngoài

Lợi nhuận trên doanh thu, lợi nhuận ròng

và hiệu quả bán hàng tăng đáng kể, nhưng lợi nhuận trên tài sản giảm không đáng kể sau cổ phần hóa Ngoài ra, doanh thu bán hàng và nhân công giảm đáng kể trong thời kỳ sau

cổ phần hóa Hơn nữa, các công ty cổ phần hóa trong giai đoạn thứ hai biểu hiện tốt hơn công ty cổ phần hóatrong gia đoạn đầu tiên Ngoài ra, các công ty nhỏcho thấy những cải thiệnlớn hơn những công ty lớn sau cổ phần hóa Cuối cùng, cơ cấu sở hữu có ảnh hưởng nhỏ đến biểu hiện của các công ty sau cổ phần hóa

ty từ 10 quốc gia

ở Châu Á được cổphần hóa trong

Sử dụng cùng phương pháp và cách

đo như Megginson,

Randenborgh (1994)

Về mặt thống kê, cổphần hóa dẫn đến sự tăngđáng kể về lợi nhuận, hiệu quả và doanh thu bán hàng Nhân công cũng tăng,

Trang 35

Nghiên cứu Mẫu Phương pháp Kết quả

giai đoạn từ 1980 đến 1997

nhưng không đáng kể Hơn nữa, quản trị doanh nghiệp

và môi trường kinh tế có ảnh hưởng đến mức độ cải thiện hiệu suất Ví dụ, thịtrường chứng khoán phát triển hơn và sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài là yếu tố quyết định quan trọng của những thay đổi trong biểu hiện của các công ty sau cổ phần hóa

Bảng 2.4: Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệp về việc so sánh kết quả kinh doanh

trước và sau khi cổ phần hóa của các doanh nghiệp cổ phần.

Để được một cái nhìn tổng quát hơn về hiệu quả của quá trình cổ phần hóa lên các doanh nghiệp, bảng 2.5 tóm tắt lại các kết quả nghiên cứu trong bảng 2.4 như sau:

nhuận

Hiệu quả hoạt động

Đầu tư vốn

Doanh thu bán hàng

Nhân công

Đòn bẩy tài chính

Tăng đáng kể

Tăng đáng kể

Tăng đáng kể

Tăng không đáng kể

Tăng đáng kể

Tăng đáng kể

Boubakri và

Cosset

(1998)

Tăng đáng kể

Tăng đáng kể

Tăng đáng kể

Tăng đáng kể

Tăng đáng kể

Giảm đáng kể

Tăng đáng kể

Trang 36

Nghiên cứu Lợi

nhuận

Hiệu quả hoạt động

Đầu tư vốn

Doanh thu bán hàng

Nhân công

Đòn bẩy tài chính

Giảm đáng kể

Không

đề cập

Tăng đáng kể

Giảm đáng kể

Tăng đáng kể

Tăng đáng kể

Tăng đáng kể

Tăng không đáng kể

Giảm đáng kể

Giảm đáng kể

Tăng không đáng kể

Tăng đáng kể

Tăng không đáng kể

Không

đề cập

Giảm không đáng kể

Tăng đáng kể

Không

đề cập

Giảm đáng kể

Giảm đáng kể

Không

đề cập

Không

đề cậpBoubakri,

Cosset và

Guedhami

(2004)

Tăng đáng kể

Tăng đáng kể

Không

đề cập

Tăng đáng kể

Tăng không đáng kể

Không

đề cập

Không

đề cập

Bảng 2.5: Tóm lượt các tiêu chí để đo kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp cổ

phần trong các nghiên cứu.

2.5.2 Nghiên cứu so sánh về kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp cổ phần hóa với các doanh nghiệp nhà nước:

Kết quả của ba nghiên cứu thực nghiệm, có so sánh hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp cổ phần hóa với các doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện tương tự, được tóm tắt trong Bảng 2.6 Những nghiên cứu này sử dụng một mẫu lớn các doanh

Trang 37

nghiệp cổ phần hóa và nhà nước ở trung tâm Châu Âu và Đông Âu để đo lường tác động của cổ phần hóa trên doanh thu bán hàng, năng suất, và việc làm của các doanh nghiệp Các bằng chứng thực nghiệm thu được từ các nghiên cứu này cho thấy rằng các doanh nghiệp cổ phần hóa nói chung tốt hơn các doanh nghiệp nhà nước về doanh thu bán hàng, năng suất, và chi phí cho mỗi đơn vị của doanh thu Cụ thể, Pohl, Anderson, Claessens và Djankov (1997) chỉ ra rằng doanh nghiệp đã được cổ phầnhóa trong 4 năm tăng năng suất trung bình từ 3 đến 5 lần so với các doanh nghiệptương tự như thuộc sở hữu của nhà nước Ngoài ra, Frydman, Gray, Hessel và Rapaczynski (1999) cho rằng trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi, hiệu quảhoạt động của các doanh nghiệp cổ phần hóa và nhà nước đều đi xuống, nhưng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp cổ phần hóa cao hơn so với các doanh nghiệp nhà nước Hơn nữa, Claessens và Djankov (2002) thấy rằng các doanh nghiệp cổ phần hóa

có kinh nghiệm tốt hơn trong doanh thu bán hàng hàng năm và năng suất lao động hàng năm tăng trưởng tốt hơn so với các doanh nghiệp nhà nước Cụ thể, có nghĩa là tăng trưởng bán hàng hàng năm của các doanh nghiệp cổ phần hóa tăng 0,11%, nhưng

sự tăng trưởng bán hàng hàng năm của doanh nghiệp nhà nước giảm 0,63% Tương tựnhư vậy, hàng năm tăng trưởng năng suất lao động của các doanh nghiệp cổ phần hóatăng 6,24% trong khi tốc độ tăng trưởng năng suất lao động hàng năm của các doanh nghiệp nhà nước chỉ tăng 1,12% Đặc biệt, các doanh nghiệp cổ phần hóa có mức giảm lao động thấp hơn so với các doanh nghiệp nhà nước Ví dụ, đối với các doanh nghiệp cổ phần hóa giảm 6,11% lao động trong khi giảm 7,42% cho các doanh nghiệp nhà nước

So sánh mức

độ chuyển dịch cơ cấu

ở các công ty

Cổ phần hóa có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu công

ty Các doanh nghiệp đã được tư nhân trong bốn năm đã tăng năng suất 3-

Trang 38

Nghiên cứu Mẫu Phương pháp Kết quả

(Bulgaria, Czech Republic,

Hungary, Poland, Romania, Cộng hòa Slovak, và Slovenia) trong thời kỳ từ 1992 đến 1995

5 lần so với các công ty nhà nước tương tự

ty nhà nước và

128 công ty cổphần hóa trong thời kỳ kinh tếquá độ của trung tâm Châu Âu (Cộng hòa Czech, Hungary, và Poland)

So sánh biểu hiện của các công ty

cổ phần hóa với các công ty nhà nước, và kiểm tra tác động của cấu trúc quyền sở hữu lên biểu hiện của công ty

Sử dụng doanh thu bán hàng, nhân công, năng suất lao động (doanh thu trên mỗi nhân viên) và chi phí nguyên vật liệu và lao động (trên một đơn vị doanh thu) để

đo các biểu hiện của các công ty

Nói chung các công ty cổ phần hóa tốt hơn các công ty nhà nước, đặc biệt là về mặt tăng trưởng doanh thu bán hàng Đặc biệt, cổphần hóa có tác động tích cực đáng kể các biểu hiện của các công

ty được kiểm soát bởi người ngoài Tuy nhiên,

cổ phần hóa không có ảnh hưởng đáng kể đến bất kỳ biểu hiện của công ty được kiểm soát bởi các chủ sở hữu bên trong

Nghiên cứu trên toàn mẫu, theo ý nghĩa

Trang 39

Nghiên cứu Mẫu Phương pháp Kết quả

Djankov

(2002)

công ty mới cổphần hóa và 3,173 công ty nhà nước

ở bảy nước Đông

Âu (Bulgaria, Cộng hòa Czech, Hungary, Poland, Romania, Cộng hòa Slovak và Slovenia) trong thời kỳ đầu của quá độ từ 1992 đến 1995

phần hóa bằng cách

so sánh những thay đổi trong biểu hiện của các công ty vừa mới cổ phần hóa và các doanh nghiệp nhà nước

Sử dụng doanh thu bán hàng, năng suất lao động và nhân công làm thước đo biểu hiện của công ty

thống kê, cổ phần hóa giúp cải tiến đáng kể các biểu hiện, trong đó có doanh thu bán hàng và năng suất lao động và nhân công Đặc biệt, các công ty đã được cổ phần hóa từ ba năm trở lên tốt hơn đáng kể so với các công ty nhà nước, nhưng các công ty đã được cổphần hóa ít hơn hai năm

có biểu hiện khác nhau không đáng kể so với các công ty nhà nước

Bảng 2.6: Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm so sánh hiệu quả hoạt động của các

doanh nghiệp cổ phần hóa với các doanh nghiệp nhà nước

2.6 Các giả thiết nghiên cứu:

Dựa vào bức tranh chung của tiến trình phát triển nền kinh tế, quá trình cổ phần hóa ởViệt Nam và các nước trên thế giới, cùng với các nghiên cứu được trình bày như trên tôi đề xuất các giả thiết nghiên cứu như sau:

Giả thiết 1: Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước sau khi

cổ phần hóa thì cao hơn trước khi cổ phần hóa

Giả thiết 2: Kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cổ phần thì cao hơn kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước cùng thời kỳ

Trang 40

Như vậy để kiểm định các giả thiết trên thì các biến đại diện cho kết quả hoạt động kinh doanh được đề xuất tương tự như các nghiên cứu trên, như sau:

Các biến về lợi nhuận gồm có tỉ số lợi nhuận trên tài sản (ROA), tỉ số lợi nhuận trên vốn cổ phần (ROE), lợi nhuận biên (PM) Theo các nghiên cứu trên thì các chỉ số

về lợi nhuận này sẽ tăng vì mục đích hoạt động chính của các doanh nghiệp cổ phần là tăng lợi nhuận

Các biến về hiệu quả hoạt động mà đại diện là năng suất doanh thu (NSDT) và năng suất lợi nhuận (NSLN) Đây là tỉ số giữa doanh thu và lợi nhuận trên tổng số lao động Kỳ vọng các biến này sẽ tăng lên vì sau khi cổ phần hóa doanh nghiệp sẽ cơ cấu lại sao cho lợi nhuận cao nhất với số lượng lao động hợp lý

Biến về doanh thu bán hàng (DTBH): doanh thu bán hàng biểu hiện tăng ở hầu hết các nghiên cứu trước vì để tiếp cận với lợi nhuận cao thì bước đầu tiên doanh nghiệp phải tăng doanh thu Do đó giả định trong nghiên cứu này là doanh thu bán hàng sẽ tăng sau khi cổ phần hóa

Các biến về lao động bao gồm số lượng lao động (LD) và thu nhập của lao động (TNLD) Số lượng lao động được kỳ vọng sẽ giảm vì khi các doanh nghiệp cơ cấu lại bộ máy tổ chức thì lượng lao động dư thừa sẽ bị tinh giảm nhằm đạt mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp Bên cạnh đó, thu nhập của lao động được mong đợi sẽtăng sau khi cổ phần hóa vì nếu lao động tạo ra năng suất doanh thu và năng suất lợi nhuận tăng thì họ phải được trả công xứng đáng cho những gì họ làm được

Biến về đòn bẩy tài chính (DBTC): đòn bẩy tài chính được kỳ vọng sẽ giảm sau khi cổ phần hóa để đảm bảo tính an toàn trong kinh doanh Các doanh nghiệp nhà nước thường duy trì đòn bẩy tài chính ở mức cao vì họ được hỗ trợ bởi nhà nước, tuy nhiên, khi trở thành doanh nghiệp cổ phần, các ưu thế bị mất nên nhà lãnh đạo phải cân nhắc ở một mức đòn bẩy tài chính an toàn

Các biến khác trong các mô hình nghiên cứu trên không được chọn như đầu tư vốn và cổ tức vì thiếu dữ liệu thích hợp nhưng tôi tin chắc rằng với chín biến nghiên

Ngày đăng: 10/02/2021, 23:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w