1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá sự nhận thức về năng suất lao động của người xây dựng và các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động trong xây dựng ở nước công hòa dân chủ nhân dân lào

182 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 182
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng 5.8 Mối tương quan giữa kinh nghiệm làm việc đối với xu thế năng suất tại cấp độ ngành 78 Bảng 5.9 Phân bố ý kiến đối với xu thế năng suất lao động Bảng 5.10 Mối tương quan giữa kin

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM PHÒNG ĐÀO TẠO SĐH ĐỘC LẬP – TỪDO - HẠNH PHÚC

……… ………

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên: KIMALA VILOTH Phái: nam

Ngày,tháng,năm sinh: 22/3/1976 Nơi sinh: Lào

Chuyền ngành: CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG MSSV: 00803905

I TÊN ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ SỰ NHẬN THỨC VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG

CỦA NGƯỜI XÂY DỰNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG

ĐẾN NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG Ở NƯỚC

CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ:

IV NGÀY HOÀN TOÀN NHIỆM VỤ:

V HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN:

PSG LÊ VĂN KIỂM

GVC ThS ĐỖ THỊ XUÂN LAN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM CHUYÊN NGÀNH BỘ MÔN QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH

Nội dung và đề cường luận văn thạc sĩ đã được hội đồng chuyên ngành thông qua

PHÒNG ĐÀO TẠO SĐH Ngày………tháng………năm 2006

KHOA QUẢN LÝ NGÀNH

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Với tấm lòng chân thành của em, em trân trọng biết ơn các Thầy, Cô hướng dẫn là PSG Lê Văn Kiểm và GVC ThS Đỗ Thị Xuân Lan, những người đã đưa ra những ý tưởng ban đầu giúp em có được một hướng chọn đề tại phù hợp với khả năng của em Sau đó, bằng kiến thức sâu rộng, Thầy và Cô đã tận tình hướng dẫn cho em cách phân tích vấn đề và phương pháp nghiên cứu có hiệu quả, cũng như chỉ ra những thiếu sót, yếu kém của em và đã có những lời khuyên cần thiết và qui báu trong suốt quá trình làm luận án

Em xin chân thành cảm ơn GVC ThS Đỗ Thị Xuân Lan vì Cô đã chăm chỉ tận tụy giảng dạy, hướng dẫn cho em và lòng nhiệt tình của cô đã dành cho luận án của em được hoàn thành Các tài liệu tham thảo và sự cẩn thận, chu đáo khi duyệt bài của Cô thật sự đã góp phần rất lớn để luận án này được thành công Em xin gưỉ lời chúc Cô và gia đình những lời chúc sức khoẻ tốt đẹp nhất và chúc Cô và gia định gặp nhiều may mắn, luôn luôn thành công trong công việc

Em xin cảm ơn Ban Giám Hiệu, Khoa Đào Tạo Sau Đại Học và các Thầy, Cô trường Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh đã tổ chức chương trình đào tạo, trực tiếp tham gia giảng dạy để em có được những kiến thức và phương pháp nghiên cứu học tập mới

Em xin cảm ơn Ban Giám Hiệu, trường Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh, Ban Chủ Nhiệm Khoa Kỹ Thuật Xây Dựng, Chủ Nhiệm Bộ môn đã chấp thuận và tạo điều kiện để em có thể tham gia và hoàn thành khoá học

Cuối cùng, em xin gửi lòi cám ơn đến gia đình, bạn bè, các Thầy, Cô trong Bộ môn đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để em có thể thực hiện tốt các nhiệm vụ của em

Trang 3

TÓM TẮT LUẬN ÁN

Xây dựng là một trong những ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Sự phát triển của ngành xây dựng sẽ tạo cơ sở cho các ngành khác phát triển Vai trò của ngành xây dựng thể hiện rất rõ qua việc đóng góp vào tổng thu nhập quốc dân, tạo việc làm cho người lao động của toàn xã hội cũng như cho ngành xây dựng

Trong những năm gần đây, cạnh tranh trong lĩnh vực xây dựng ngày càng gay gắt Các công ty xây dựng, các nhà thầu cần phải trang bị cho mình những kỹ năng và năng lực cần thiết để tồn tại và phát triển trong một thị trường có tính cạnh tranh ngày càng cao như hiện nay Vì vậy, việc tăng năng suất lao động, tạo việc làm, tăng thêm thu nhập cải thiện đời sống cho công nhân xây dựng là một phần không thể thiếu trong chiến lược hoạt động của các công ty và nhà thầu xây dựng

Các nghiên cứu trước đây cho thấy phần lớn các nhà thầu có khả năng cạnh tranh cao là những nhà thầu quản lý tốt lao động, có phương pháp làm việc hiệu quả và hiểu rõ được nhân viên của mình Từ nhu cầu thực tiễn đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu sự nhận thức về năng suất lao động của người xây dựng, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động Những kết luận rút ra từ nghiên cứu sẽ giúp nhà thầu hiểu rõ hơn về nhân tố chính ảnh hưởng đến năng suất lao động, từ đó có thể đưa ra một chính sách quản lý thích hợp, sử dụng được tối đa nguồn nhân lực có trong tay, cải tiến năng suất lao động và tiết kiệm chi phí thi công

Trang 4

MỤC LỤC

1.3 Phương pháp và công cụ nghiên cứu 3

1.4 Vấn đề đặt ra đề nghiên cứu 4

2.3 Sự phát triển ngành xây dựng Lào 7

2.4 Những vấn đề cơ bản trong ngành công nghiệp xây dựng ở Lào 9

2.4.1 Việc đánh giá năng suất kém hiệu quả 9

2.4.2 Thiếu lao động xây dựng có tay nghề và thiếu biện pháp

3.1 Ngành công nghiệp xây dựng và cải tiến năng suất lao động 12

3.1.1 Nhu cầu cải tiến năng suất lao động 12

3.1.2 Đặc diểm của ngành công nghiệp xây dựng 14

3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động 15

3.2.1 Các nhân tố liên quan đến quá trình thi công xây lắp 15

3.2.2 Các nhân tố liên quan đến tài nguyên và lao động xây dựng 18

3.2.3 Các nhân tố liên quan đến điều kiện bên ngoài 25

3.2.4 Các nhân tố liên quan đến quản lý 26

Trang 5

3.3 Đo lường năng suất lao động 28

3.3.2 Phương pháp lấy mẫu công việc 29

4.4 Nghiên cứu lấy mẫu công việc 36

4.4.1 Lấy mẫu công việc-một phương cách hiệu quả để xác định

4.5.1 Bảng câu hỏi – Một cách hiệu quả để lấy dữ liệu 39 4.5.2 Thiết kế bảng câu hỏi 40

4.5.3 Phân loại bảng câu hỏi 40 4.5.4 Phương pháp phân tích thống kê 41 4.5.5 Thiết kế bảng câu hỏi 44

5.2 Phân tích dữ liệu và sự nhận thức về năng suất lao động 63

Trang 6

5.2.1 Tìm hiểu về định nghĩa năng suất lao động 63

5.2.2 Tầm quan trọng trong việc cải tiến năng suất lao động 65

5.2.3 Đánh giá tình trạng năng suất lao động 76

5.2.4 Lao động trong xây dựng và năng suất lao động 80

5.2.5 Sự đóng góp đối với cải tiến năng suất lao động 85

5.3 Phân tích dữ liệu các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề

năng suất lao động thấp trên công trình 89

5.3.1 Thiếu hụt tài chính do phía chủ đầu tư 92

5.3.3 Tay nghề của công nhân kém 94

5.3.4 Sử dụng thiết bị không hiệu quả 96

5.3.5 Động cơ làm việc của công nhân thấp 100

5.3.6 Tổ chức mặt bằng công trường không hợp lý 103 5.3.7 Việc lập kế hoạch và tiến độ không hợp lý 104

5.3.9 Thiếu giám sát công trường 107

5.3.10 Thời tiết không thuận lợi 108

5.3.11 Công nhân làm ngoài giờ và quá sức 109

5.3.12 Quản lý thầu phụ không hiệu quả 110

5.3.13 Gián đoạn công việc vì mùa mưa 111

5.3.15 Phân công công việc không hợp lý 113

5.3.16 Phân tích kết quả sự đánh giá của kỹ sư làm việc tại

văn phòng và trên công trường 114

Trang 7

5.3.17 Phân tích kết quả sự đánh giá của nhà quản lý và nhân viên 115

6.1 Kết luận và kiến nghị cho việc nhận thức về năng suất lao động và các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động 118

6.2 Kiến nghị cho những nghiên cứu sâu hơn 120

Trang 8

LIỆT KÊ BẢNG

Bảng 2.1 Tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng GDP 6 Bảng 2.2 Số lượng dự án đầu tư nước ngoài và tổng vốn đấu tư

Bảng 2.3 Số dự án được tỉnh cấp giấy phép 7

Bảng 2.4 Tổng giá trị ngành xây dựng/tổng sản phẩm quốc gia 8

Bảng 2.5 Đ ầu tư vào ngành xây dựng trong giai đoạn 1998-2002 8

Bảng 2.6 Lao động trong ngành xây dựng (‘000 người) 9

Bảng 2.7 Số lao động xây dựng trung bình trong khu vực nhà nước 10

Bảng 5.1 Tóm tắt kết quả lấy mẫu công việc 61

Bảng 5.2 Mối tương quan giữa vị trí công việc với định nghĩa

Bảng 5.3 Kinh nghiệm làm việc đối với nhận thức Ęcải tiến năng suất

Bảng 5.4 Sự tương quan giữa kinh nghiệm làm việc với nhân tố

Ęnăng suất cao sẽ kéo theo sự cạnh tranhę 69

Bảng 5.5 Mối tương quan giữa loại hình công việc đối với nhận thức

Ęlợi ích lớn nhất của việc cải tiến năng suất lao động là giảm thời gian thực hiện dự ánę 70

Bảng 5.6 Mối tương quan giữa kinh nghiệm làm việc đối với

nhận thức Ęnâng cao năng suất lao động sẽ xảy ra đồng thời

Bảng 5.7 Phân bố ý kiến đối với xu thế năng suất trong nghành

Trang 9

Bảng 5.8 Mối tương quan giữa kinh nghiệm làm việc đối với

xu thế năng suất tại cấp độ ngành 78

Bảng 5.9 Phân bố ý kiến đối với xu thế năng suất lao động

Bảng 5.10 Mối tương quan giữa kinh nghiệm làm việc đối với

Bảng 5.11 Loại hình công việc đối với xu thế năng suất lao động

Bảng 5.12 Mối tương quan giữa loại hình công việc với quan điểm

Ęviệc trả lương khoán là một trong những các tốt nhất để

Bảng 5.13 Mối tương quan giữa kinh nghiệm làm việc đối với vấn để

Ęcung cấp điều kiện làm việc tốt hơn là một trong những các cải tiến năng suất lao động 84

Bảng 5.14 Xếp hạng những nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động 91

Bảng 5.15 Mối tương quan giữa loại hình công việc và nhân tố thiếu hụt

tài chính ảnh hưởng đến năng suất lao động 92

Bảng 5.16 Mối tương quan giữa loại hình công việc và nhân tố thiếu

vật tư ảnh hưởng đến năng suất lao động 93

Bảng 5.17 Mối tương quan giữa loại hình công việc và nhân tố ảnh

hưởng đến năng suất: tay nghề của công nhân xây dựng 95

Bảng 5.18 Mối tương quan giữa vị trí công việc và nhân tố ảnh hưởng

đến năng suất: tay nghề của công nhân xây dựng 96

Trang 10

Bảng 5.19 Mối tương quan giữa loại hình công việc và nhân tố ảnh hửơng

đến năng suất lao động: sử dụng thiết bị không hiệu quả 97

Bảng 5.20 Mối tương quan giữa loại hình công việc và nhân tố ảnh hưởng

đến năng suất: sử dụng thiết bị không hiệu quả 97

Bảng 5.21 Mối tương quan giữa vị trí công việc và nhân tố ảnh hưởng

đến năng suất: động cơ làm việc của công nhân thấp 100

Bảng 5.22 Mối tương quan giữa loại hình công việc và nhân tố ảnh hưởng

đến năng suất: động cơ làm việc của công nhân thấp 101

Bảng 5.23 Mối tương quan giữa vị trí công việc và nhân tố ảnh hưởng đến

năng suất lao động: tố chức mặt bằng công trường không hơp lý 103

Bảng 5.24 Mối tương quan giữa vị trí công việc và nhân tố ảnh hưởng đến

năng suất lao động: việc lập kế hoạch và tiến độ không hợp lý 105

Bảng 5.25 Mối tương quan giữa vị trí công việc và nhân tố ảnh hưởng đến

năng suất lao động: thiếu công cụ lao động 107

Bảng 5.26 Mối tương quan giữa vị trí công việc và nhân tố ảnh hưởng đến

năng suất lao động: thiếu khả năng giám sát công trường 108 Bảng 5.27 Mối tương quan giữa vị trí công việc và nhân tố ảnh hưởng đến

năng suất lao động: thời tiết không thuận lợi 109

Bảng 5.28 Mối tương quan giữa loại hình công việc và nhân tố ảnh hưởng

đến năng suất: làm việc quá giờ và mệt mỏi 110

Bảng 5.29 Mối tương quan giữa vị trí công việc và nhân tố ảnh hưởng dến

năng suất lao động: quản lý thầu phụ không hiệu quả 111

Bảng 5.30 Mối tương quan giữa vị trí công việc và nhân tố ảnh hưởng đến

năng suất: gián đoạn công việc vì mùa mưa 112

Trang 11

Bảng 5.31 Mối tương quan giữa vị trí công việc và nhân tố ảnh hưởng

đến năng suất lao động: thiết kế sai sót 113

Bảng 5.32 Mối tương quan giữa loại hình công việc và nhân tố ảnh hưởng

đến năng suất: phân công công việc không hợp lý 113

Bảng 5.33 Nhận thức của kỹ sư làm việc trên công trường và kỹ sư

làm việc trên văn phòng đối với xếp hạng các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động 115

Bảng 5.34 Nhận thức của người quản lý và nhân viên đối với xếp hạng

các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động 116

Trang 12

LIỆT KÊ HÌNH ẢNH

Hình 2.1 Tổng giá trị ngành xây dựng/tổng sản phẩm quốc gia 8

Hình 2.2 Vốn đầu tư vào ngành xây dựng trong giai đoạn 1998-2002 9

Hình 3.1 Trình bày sơ bộ các thành phần của một chương trình

Hình 5.2 Phân bố ý kiến đối với mức độ quan trọng của

Hình 5.3 Phần trăm phân bố các nguồn của sự hiểu biết và

Hình 5.4 Phân bố ý kiến đối với nhận thức Ęnăng suất cao

sẽ làm giảm tổng chi phí xây dựngę 67

Hình 5.5 Phân bố ý kiến đối với nhận thức Ęnăng suất cao

sẽ mang đến khả năng cạnh tranh nhiều hơnę 68

Hình 5.6 Phân bố ý kiến đối với nhận thức Ęlời ích lớn nhất của việc

cải tiến năng suất lao động là giảm thời gian thực hiện dự ánę 69

Hình 5.7 Phân bố ý kiến đối với nhận thức Ęnăng suất lao động cao

Hình 5.8 Phân bố ý kiến đối với nhận thức Ęnâng cao năng suất

lao động sẽ xảy ra đồng thời với việc nâng cao chất lượngę 73

Hình 5.9 Phân bố ý kiến đối với nhận thức Ęcải tiến năng suất

sẽ tiết kiệm nhân công và cắt giảm việc làmę 74

Hình 5.10 Phân bố ý kiến đối với nhận thức Ęcải tiến năng suất sẽ

không mang lại lợi ích cho nhân viên và công nhânę 75

Trang 13

Hình 5.11 Phân bố ý kiến đối với nhận thức Ęnếu công nhân cảm thấy hài

lòng công việc của họ thì họ sẽ đạt năng suất lao động caoę 80

Hình 5.12 Phân bố ý kiến đối với nhận thức Ętrả lương khoán là một

cách tốt để tăng năng suất lao độngę 81

Hình 5.13 Phân bố ý kiến đối với nhận thức Ęcung cấp điều kiện làm việc

tốt hớn là một trong những cách cải tiến năng suấtę 83

Hình 5.14 Phân bố ý kiến về sự đóng góp đối với cải tiến năng

Hình 5.15 Phân bố ý kiến của những người được khảo sát về

vấn đề năng suất thấp trên công trường 90

Hình 5.16 Xếp hạng những nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động 91

Hình 5.17 Phân bố nguyên nhân gây ra vấn đề thiếu vật tư tại công trường 94

Hình 5.18 Phân bố ý kiến của kỹ sư đối với tay nghề của công nhân 95

Hình 5.19 Phân bố sự nhận thức của người được khảo sát về việc

Hình 5.20 Phân bố ý kiến của người được khảo sát về việc

sử dụng thiết bị tại công trường 99

Hình 5.21 Phân bố ý kiến của người được khảo sát về chương trình

quản lý và bảo dưỡng thiết bị 100

Hình 5.22 Phân bố ý kiến của người được khảo sát về động cơ

Hình 5.23 Phân bố ý kiến của người được khảo sát về điều kiện sống

và làm việc của công nhân xây dựng 102

Trang 14

Hình 5.24 Phân bố ý kiến của người được khảo sát về điều kiện

Hình 5.25 Phân bố ý kiến của người được khảo sát về việc

tổ chức mặt bằng công trường 104

Hình 5.26 Phân bố ý kiến của người được khảo sát về lý do có

thể làm cho tiến độ dự án không được áp dụng hiệu

Hình 5.27 Phân bố ý kiến của người được khảo sát về việc làm

Trang 15

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU

1.1 GIỚI THIỆU:

Lào là một nước ở Đông Nam Á, có diện tích 236.800 Kilômét vuông, có biên giới phía bắc giáp Trung Quốc, đông và đông bắc giáp Việt Nam, tây bắc giáp Miến Điện, tây giáp Thái Lan và nam giáp Campuchia Địa hình của Lào nổi bật với vùng núi ở phía bắc và phía đông:

- phía bắc và đông bắc là ngọn núi có độ cao từ 500 – 2000 mét

- phía tây có độ cao từ 100 – 300 mét

có 17 nhánh sông chảy từ bắc đến nam và có sông Mekong chảy qua từ bắc đến nam dài 1870 km, lượng mưa hàng năm khoảng 1600 – 2000 milimét, có hai mùa: mùa mưa và mùa khô, nhiệt độ trung bình là 26OC Dân số khoảng 5,5 triệu người

Nước Lào là một nước đang phát triển về nền kinh tế, và cùng với đà phát triển chung của kinh tế đất nước ngành Công nghiệp xây dựng cũng phát triển đáng kể

Công nghiệp xây dựng có vai trò quan trọng trong hệ thống kinh tế của các nước trên thế giới Không có việc xây dựng nhà máy, các hệ thống đường giao thông, nhà ở và những công trình khác thì xã hội hiện đại của chúng ta hiện nay không thể tồn tại được Ở nhiều nước trên thế giới, vốn đầu tư xây dựng cơ bản chiếm khoảng 1/2 vốn đầu tư của cả nước, và hàng năm ngành xây dựng đóng góp 3 – 8% của tổng sản phẩm quốc nội (Arditi và Mochtar, 1994) Do đó năng suất lao động trong xây dựng có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của đất nước, và cải tiến năng suất lao động là một vấn đề lớn trong ngành xây dựng Số liệu cho thấy cải tiến năng suất lao động trong xây dựng được 10% thì tổng sản

Trang 16

các ngành công nghiệp khác năng suất lao động trong xây dựng chưa được cải tiến nhiều Vì vậy trong những thập niên gần đây năng suất lao động trong xây dựng đang được quan tâm nhiều hơn (Laufer,1985)

Nhiều nghiên cứu về năng suất lao động và các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động trong ngành công nghiệp xây dựng đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới Những nhân tố này liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đặc điểm công trường xây dựng, việc quản lý, cách sử dụng tài nguyên và động cơ làm việc của công nhân Có một vài nhân tố khó thay đổi và điều khiển Nhưng cũng có nhiều nhân tố có thể tác động để cải tiến năng suất Có nhiều chương trình cải tiến năng suất đã được đề nghị và được thực hiện bằng cách phân tích những nhân tố này

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

Đề tài hướng đến các chương trình cải tiến năng suất trên công trường và quá trình lập kế hoạch cải tiến năng suất dài hạn ở cấp độ công ty xây dựng Các mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là:

1 Đo lường tình trạng năng suất lao động trong xây dựng tại hiện trường một cách gián tiếp bằng phương pháp lấy mẫu công việc (Work Sampling)

2 Đánh giá thái độ và mức độ hiểu biết của người xây dựng về năng suất

3 Tìm ra những nhân tố chính ảnh hưởng đến năng suất lao động, có xét đến tình hình kinh tế – xã hội và đặc điểm của ngành công nghiệp xây dựng ở Lào

4 Tìm ra những cơ hội cải tiến năng suất lao động tại hiện trường và trong quản lý dựa trên các nhân tố năng suất đã được xác định

Trang 17

1.3 PHƯƠNG PHÁP VÀ CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU

Trong nghiên cứu này, phương pháp dùng là phương pháp khảo sát định lượng, sử dụng bảng câu hỏi và kỹ thuật lấy mẫu công việc (work sampling) để

đo lường năng suất lao động

* Bảng câu hỏi

Là một phương pháp hiệu quả để xác định các vấn đề thuộc về nhân sự, tổ chức, yếu tố ảnh hưởng năng suất lao động, và quản lý trong thi công xây dựng dựa trên ý kiến của người xây dựng

+ Quy trình thực hiện của bảng câu hỏi:

thiết kế bảng câu hỏi, phỏng vấn thử, thu thập số liệu, phân tích số liệu

- Nghiên cứu và thiết kế “bảng câu hỏi” một cách khoa học để việc thu thập số liệu được tiến hành chính xác, phục vụ thiết thực cho nghiên cứu

- Áp dụng lý thuyết xác suất thống kê và chương trình SPSS để xử lý số liệu đã thu thập được

+ Ưu điểm của bảng câu hỏi :

- Là một phương pháp thu thập số liệu có hiệu quả để xác định các vấn đề thuộc về nhân sự, tổ chức và quản lý

- Có thể sử dụng cho tất cả các công trường của công ty và có thể so sánh được

* Work sampling

Là một phương pháp đo lường năng suất lao động một cách gián tiếp bằng

cách xác định tỉ lệ thời gian người công nhân sự dụng để trực tiếp thực hiện công việc làm ra sản phẩm và thời gian người công nhân làm việc ở công trường + Quy trình thực hiện của work sampling

- Phân loại công việc; công việc hiệu quả, công việc phụ trợ, công viêc

Trang 18

- Sử dụng lý thuyết về khảo sát định lượng bao gồm các nghiên cứu khảo sát, phương pháp thu thập số liệu và trình tự lấy mẫu từ thực tế

+ Ưu điểm của work sampling:

- Chi phí ít tốn kém hơn so với phương pháp đo lường năng suất trực tiếp

- Không đòi hỏi những người quan sát có kinh nghiệm và chuyên môn đặc biệt

- Đạt được độ chính xác cần thiết

- Ít gây ra sự xáo trộn so với phương pháp khác

- Có thể so sánh với kết quả khảo sát lần trước để đánh giá sự tiến bộ 1.4 VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỂ NGHIÊN CỨU

Cải tiến năng suất lao đông là một cách thức để tiết kiệm và gia tăng lợi nhuận, vì năng suất thấp làm cho chi phí xây dựng cao (Drewin, 1982) Hiện nay, chưa có nghiên cứu chính thức nào về việc cải tiến năng suất lao động trong ngành công nghiệp xây dựng ở Lào Hơn nữa năng suất lao động ở Lào còn thấp

so với các nước khác trên thế giới Nguyên nhân có thể là do thiếu kinh nghiêm tích luỹ và kiến thức sử dụng quản lý, việc sử dụng thiết bị kém hiệu quả, công nghệ lạc hậu, cũng như sử dụng lao động không phù hợp, nên có nhiều cơ hội để cải tiến năng suất trong ngành công nghiệp xây dựng Vì lý do đó, thật sự rất cần thực hiện những nghiên cứu về các năng suất lao động ở Lào

1.5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Nên xem xét việc cải tiến năng suất ở mọi công ty xây dựng và nghiên cứu nên thực hiện thực tế với các người xây dựng Các công ty và công trường xây dựng là các đối tượng của đề tài nghiên cứu này Đề tài được thực hiện thông qua kỹ thuật lấy mẫu công việc, các bảng câu hỏi Đối tượng nghiên cứu là những kỹ sư đang làm việc trong ngành xây dựng Dữ liệu thu thập và được

Trang 19

phân tích theo phương pháp thống kê và được thảo luận liên quan đến năng suất lao động

Dữ liệu sử dụng để đánh giá nhận thức của người xây dựng về năng suất, thái độ của họ đối với việc cải tiến năng suất cũng như các nhân tố ảnh hưởng dựa trên cuộc khảo sát bằng bảng câu hỏi với các kỹ sư xây dựng đang làm việc tại văn phòng và các công trường xây dựng Dữ liệu dùng để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất tại hiện trường Các kết quả khảo sát được so sánh và đánh giá thông qua việc phân tích bảng câu hỏi, các nhân tố ảnh hưởng và đo lường năng suất với việc lấy mẫu công việc

Hiện tại, ngành xây dựng ở Lào đang phát triển rất nhanh và phần lớn dự án xây dựng được tập trung trong thủ đô Viên Chăn Số dự án đầu tư nước ngoài vào thủ đô Viên Chăn từ 1995 đến cuối năm 2002 là 157 (văn phòng thống kê quốc gia 2003) So với tổng số 367 dự án toàn quốc Số công ty xây dựng ở thủ đô Viên Chăn là 116 (văn phòng thống kê quốc gia 2003) Và tổng số doanh nghiệp đang hoạt động ngành xây dựng trong cả nước là 355 Như vậy, các công trường và công ty xây dựng đưa vào nghiên cứu này sẽ là các công trường và công ty xây dựng tại thủ đô Viên Chăn và các tỉnh lân cận

Theo Koehn và Caplan (1987) các công ty vừa và nhỏ đại diện cho ngành công nghiệp xây dựng nhiều hơn và các thông tin của họ về việc cải tiến năng suất lao động có ý nghĩa đáng kể Do vậy, công trình xây dựng dân dụng và các công ty xây dựng được lựa chọn như là các đối tượng của nghiên cứu này Đề tài được thực hiện tại thủ đô Viên Chăn và các tỉnh lân cận Chúng đại diện cho hầu hết các công ty của Lào và các dự án đang thực hiện; chúng cũng có quy mô thích hợp và có đủ điều kiện để tiến hành các chương trình cải tiến năng suất ngắn hạn cũng như dài hạn

Trang 20

CHƯƠNG II NGÀNH XÂY DỰNG LÀO

2.1 GIỚI THIỆU

Nước Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Lào là một nước nông nghiệp trong vùng Đông Nam Á Dân số khoảng 5,5 triệu người Năm 1999 Lào đã tham gia Hiệp hội các quốc gia đông Nam Á Kế từ đó, Lào trở thành một thị trường hấp dẫn đầu tư nước ngoài Những sự kiện này ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế đang bắt đầu phát triển Nhờ sự ổn định kinh tế, sự bùng nổ đầu tư của nước ngoài, và do mối quan hệ chặt chẽ giữa sự phát triển kinh tế và xây dựng, ngành xây dựng ở Lào đang phát triển

2.2 TỔNG QUAN NỀN KINH TẾ LÀO

Vào những năm 90, nền kinh tế Lào kém phát triển, với những khó khăn như: sản xuất kém, đầu tư thấp, lạm phát cao, nợ nước ngoài cao Các chương trình phục hồi kinh tế được bắt đầu vào năm 1992 và kéo dài đến 1997 đã có kết quả (bảng 2.1) Tỷ lệ lạm phát đã giảm từ 3.8% (1995) còn 5.2% (2002) sau 7 năm thay đổi

Bảng 2.1 Tỉ lệ lạm phát và tăng trưởng GDP thực

Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003

Nguồn: Văn phòng thống kê quốc gia 2003

Trong giai đoạn 1995-1999, tốc độ phát triểu GDP tăng khoảng 4.2% mỗi năm Tốc độ tăng trưởng cao và ngang bằng với nhiều nước trong khu vực Đầu

tư nước ngoài trực tiếp tăng nhanh (bảng 2.2)

Trang 21

Bảng 2.2 số lượng dự án đầu tư nước ngoài và tổng vốn đầu tư trong giai đoạn 1999 đến 2002

Nguồn: Văn phòng thống kê quốc gia 2003

Có sự khác nhau lớn giữa thủ đô và các tỉnh lân cận về vốn đầu tư (bảng

2.3) Kết quả là, xây dựng ở thủ đô Viên Chăn phát triển nhanh hơn nhiều so với các vùng khác

Bẳng 2.3 Số dự án được tỉnh cấp giấy phép

Nguồn: Văn phòng thống kê quốc gia 2003

2.3 SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH XÂY DỰNG LÀO

Ngành công nghiệp xây dựng Lào đã phát triển nhanh, là một phần quan trọng trong nền kinh tế quốc dân GDP của ngành công nghiệp xây dựng đã đóng góp 6.3 % tổng GDP năm 2003 (bảng 2.4)

Trang 22

Bảng 2.4 Tổng giá trị ngành xây dựng/tổng sản phẩm quốc gia (triệu Kịp

Hình 2.1 Tổng giá trị ngành xây dựng/ Tổng sản phẩm quốc gia

Hiện nay, đầu tư vào ngành xây dựng tăng đáng kể (bảng 2.5 và hình 2.2) tổng đầu tư trong giao đoạn 1998 -2002, (Bộ xây dựng 2003)

Bảng 2.5 đầu tư vào ngành xây dựng trong giao đoạn 1998-2002 (giá hiện hành) 1 USD = 1045 Kịp Lào

(‘000 triệu kịp Lào) Năm 1998 1999 2000 2001 2002

Trang 23

Hình 2 vốn đầu tư vào nganh xây dựng trong giao đoạn 1998-2002

Vi xây dựng đã bùng nổ, số người làm việc trong ngành này hàng năm cũng tăng lên, (bảng 2.6)

Bảng 2.6 lao động trong ngành xây dựng (‘000người)

Năm 2000 2001 2002

Nguồn: Văn phòng Bộ lao động 2003

2.4 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP XÂY

DỰNG Ở LÀO

2.4.1 Việc đánh giá năng suất kém hiệu quả

Trong ngành công nghiệp xây dựng ở Lào, chưa có số liệu chính thức về năng suất lao động Năng suất lao động đã không được tính đến để đánh giá hoạt động sản xuất Do thiếu kiến thức quản lý và hệ thống kiểm soát, đánh giá năng suất dường như là công việc quá khó khăn và hầu như không thể thực hiện được (đối với các nhà thầu), khi mà mối quan tâm cao nhất của nhà thầu là làm sao thu được lợi nhuận nhiều nhất, đáp ứng được ngân sách cho các dự án và

Trang 24

Ngoài ra, phần lớn công việc của các công trình xây dựng lại được chia cho các nhà thầu phụ Đa số các nhà thầu phụ là những công ty xây dựng nhỏ, nên không thể có được cách quản lý hiện đại nhất, và không thể tuyển được những người có khả năng quản lý cao Vì thể, các công ty này không nắm giữ các dữ liệu về năng suất và cũng không chú ý đến việc cải tiến năng suất lao động Kết quả tất yếu là năng suất lao động trong xây dựng chưa hề được đánh giá, so sánh hay ghi nhận lại một cách có hệ thống để sử dụng trong tương lai cho các chương trình cải tiến năng suất lao động trong xây dựng.

2.4.2 Thiếu lao động xây dựng có tay nghề và thiếu biện pháp an toàn lao động

Lào là một nước nông nghiệp Khi có sự bùng nổ về công nghiệp xây

dựng thì nhu cầu về lao động trong ngành xây dựng tăng cao Nhưng hầu hết nhu cầu về lao động đều được đáp ứng bằng cách sử dụng những công nhân không có tay nghề đến từ các vùng nông thôn, đa số họ là nông dân và có trình độ văn hoá thấp Số công nhân làm trong các công ty quốc doanh giảm đi trong khi tỷ lệ lao động trong ngành xây dựng gia tăng Bảng 2.7 trình bày số công nhân làm trong bộ phận nhà nước

Bảng 2.7 Số lao động xây dựng trung bình trong khu vực nhà nước

Nguồn: Văn phòng Bộ lao động

Hơn phân nửa lực lượng lao động được tuyển dụng tạm thời cho các nhà thầu tư nhân nên không được đào tạo nghề cũng như không có bảo hiểm xã hội

Do tính chất cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn, các nhà thầu không quan tâm nhiều đến an toàn lao động, điều kiện làm việc, hoặc đào tạo tay nghề cho công nhân Công nhân xây dựng không có được điều kiện sống và làm việc thích hợp

Năm 1996 2000 2004

Trang 25

Hơn nữa, vì nhu cầu lao động trong xây dựng luôn luôn cao hơn khả năng đáp ứng, công nhân xây dựng không bị buộc phải nâng cao tay nghề do dễ tìm được việc làm Các nhà thầu thường phải thuê nhiều công nhân hơn để hoàn tất những công trình đến hạn mà không hề quan tâm đến tay nghề của công nhân Số học sinh đăng ký các trường dạy nghề xây dựng giảm hàng năm trong khi nhu cầu về lực lượng lao động xây dựng tăng mỗi năm Tất cả những lý do đó đã dẫn đến việc thiếu lao động có tay nghề và chất lượng thực hiện công việc thấp Ngoài ra, do nhu cầu lao động cao, nên lương của công nhân xây dựng tăng nhanh Người ta ghi nhận là khi lương tăng mà năng suất không tăng theo hợp lý có thể gây tác động không tốt đến nền kinh tế và ảnh hương xấu đến vốn, nguyên vật liệu và con người trong ngành công nghiệp xây dựng Điều này lại một lần nữa dẫn đến kết quả giảm năng suất (Kim, 1993)

Trang 26

CHƯƠNG III

LƯỢC KHẢO CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Chương này lược khảo những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu để giúp cho việc khảo sát, nghiên cứu và thảo luận trong các chương sau Các vấn đề được xem xét trình bày gồm có các tính chất của ngành công nghiệp xây dựng, tầm quan trọng của việc cải tiến năng suất, các nhân tố chính ảnh hưởng đến năng suất lao động trong xây dựng; các phương pháp đánh giá năng suất lao động

3.1 NGÀNH CÔNG NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ CẢI TIẾN NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG

3.1.1 Nhu cầu cải tiến năng suất lao động

Việc cải tiến năng suất lao động có một tác động quan trọng đến sự thành công hay thất bại của cả nền kinh tế một đất nước, từ đó ảnh hưởng đến mức sống của người dân Đó là điều không ai có thể phủ nhận được Để đạt được mức sống cao hơn, số lượng hàng hóa và dịch vụ phải tăng bằng cách tăng năng suất Theo Kendrich, (1956 được trích trong Chau và Walker, 1988) thì việc cố gắng nâng cao năng suất lao động cũng là nỗ lực của con người để đưa họ ra khỏi cái nghèo Người ta cũng đã nhận thấy tình trạng lạm phát, thất nghiệp cũng như khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế của một quốc gia cũng bị ảnh hưởng đáng kể bởi sự tăng năng suất (Kim 1993)

Có thể nói công nghiệp xây dựng là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất ở hầu hết các nước nếu xét về vốn đầu tư, số nhân công tuyển dụng và đóng góp của ngành vào tổng sản lượng quốc dân (GNP) Thường thì sản lượng của công nghiệp xây dựng chiếm khoảng một nửa vốn đầu tư của quốc gia (Oglesby, 1988 được trích trong Arditi và Mochtar, 1995) Như vậy, việc cải tiến

Trang 27

năng suất xây dựng cũng có một tác dụng quan trọng đến cải tiến tổng thu nhập quốc dân (GNP)

Trong ngành công nghiệp xây dựng, việc cải tiến năng suất cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự thành công hay thất bại của một dự án, ảnh hửơng đến mức thu lợi nhuận và khả năng cạnh tranh của một công ty Theo nghiên cứu của Adrian (1987), năng suất thấp có ảnh hưởng xấu tới tất cả các bên liên quan của một dự án xây dựng một cách trực tiếp hay gián tiếp Trước tiên là chủ đầu tư phải chịu tác động của việc phát sinh thêm chi phí Để hạn chế việc gia tăng chi phí, chủ đầu tư sẽ phải cố gắng tăng năng suất đến hết mức có thể, nếu không thì phải tính toán để chi phí giảm, có thể bằng cách giảm chất lượng công trình, hay đơn giản nhất là thôi không đầu tư nữa Các nhà thầu xây dựng cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi lợi nhuận thấp, phải chấp nhận nhiều rủi

ro hơn và tỷ lệ thất bại cao hơn Khi khoảng cách giữa năng suất và chi phí xây dựng tăng, bộ phận thiết kế cũng sẽ phải chịu trách nhiệm nặng nề hơn về các sai sót trong thiết kế Ngay cả công nhân xây dựng cũng không tránh khỏi bị ảnh hưởng Bởi vì nếu như việc đầu tư bị giảm sút thì số công trình có sẵn cho công nhân xây dựng làm việc có thể bị giới hạn Từ đó công việc sẽ giảm mà số người tìm việc thậm chí có thể tăng, người lao động phải chấp nhận một mức lương thấp hơn để có việc dẫn đến thu nhập của công nhân lại càng eo hẹp

Ở Lào, hiện nay, xây dựng là một trong những ngành đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, qui mô hoạt động xây dựng ngày càng mở rộng, thị trường xây dựng ngày càng sôi động, tính xã hội hóa của quá trình sản xuất sản phẩm xây dựng ngày càng cao Ngành xây dựng phát triển tạo cho các ngành khác có cơ sở để phát triển Những năm qua, tổng vốn đầu tư xây dựng của nền kinh tế đã tăng nhanh chóng,

Trang 28

Vai trò của ngành xây dựng thể hiện rất rõ qua việc đóng góp vào tổng thu nhập quốc dân (≈ 5% GDP vào năm 2003), tạo việc làm cho người lao động

3.1.2 Đặc diểm của ngành công nghiệp xây dựng

Có những khác biệt nổi bật giửa ngành xây dựng và các ngành công nghiệp khác Những khác biệt này nên được xem xét trước khi cố gắng áp dụng những phát hiện, những nguyên cứu nói chung về năng suất cho ngành xây dựng Những khác biệt chính được tóm tắt như sau (Borcherding, 1978)

1 Hầu hết các công việc của ngành xây dựng là được thực hiện ngoài trời,

vì thế công việc có thể bị gián đoạn do điều kiện thời tiết không thuận lợi, hoặc do điều kiện làm việc khắc nghiệt… dẫn đến việc chậm trể thời gian hoàn thành công trình

2 Trong ngành công nghiệp xây dựng, tiến trình xây dựng được thực hiện ở những nơi khác nhau Vật tư phải được vận chuyển đến công trường Quá trình vận chuyển sẽ làm tăng thời gian, dẫn đến mất năng suất Ngoài ra, công trình xây dựng thì phải được thực hiện theo trình tự Do trình tự này mà không gian làm việc có sẵn có thể bị hạn chế Vì thế, vấn đề công việc bị gián đoạn và vượt quá chi phí dự tính là hầu như không thể tránh khỏi trừ khi việc lập kế hoạch và tiến độ thi công được thực hiện cẩn thận và được áp dụng có hiệu quả

3 Mỗi dự án xây dựng đều có các đặc điểm riêng của nó Việc tổ chức thi công luôn coi trọng nhân tố thời gian khi tính toán hiệu quả và lựa chọn phương án, nhằm rút ngắn thời gian thi công, sớm đưa công trình ra hoạt động để phát huy tác dụng của đồng vốn Vì thế mà có rất ít cơ hội để tận dụng những gì đã rút ra được từ dự án trước và ứng dụng những bài học đã học được từ những lỗi trước đó cũng do hạn chế về thời gian thực hiện

Trang 29

công việc, mà kế hoạch lâu dài có thể bị bỏ qua, việc điều chỉnh và cải tiến về quản lý và nhân công của có thể bị xem nhẹ

4 Cơ cấu tổ chức ở công trường xây dựng thường xuyên thay đổi, các tổ chức lao động phải liên tục được hình thành và giải tán

5 Mỗi dự án đều khác nhau về địa điểm, yêu cầu kỹ năng, phương pháp được ứng dụng và đặc điểm tổ chức, cho nên những người tham gia dự án sẽ có nhiều khả năng được trưng cầu ý kiến cho những quyết định của dự án

3.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG

Trong ngành công nghiệp xây dựng, việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động là một trong những thông tin cần thiết nhất Những yếu tố này và một quan hệ của chúng với nhau và với năng suất lao động đã được nghiên cứu nhiều Chúng được thảo luận dước đây theo các mục chính ở nhiều chủ đề: (1) các nhân tố liên quan đến quá trình thi công xây dựng; (2) các nhân tố liên quan đến lao động và tài nguyên xây dựng; (3) các nhân tố liên quan đến điều kiện và môi trường bên ngoài; (4) các nhân tố liên quan đến quản lý

3.2.1 Các nhân tố liên quan đến quá trình thi công xây lắp

3.2.1.2 Điều kiện an toàn lao động ảnh hưởng đến năng suất lao động

Trong các nghiên cứu trước đây (Hinze và Appelate, 1991; Oglesby và những người khác, 1989) đã cho thấy rõ mối liên quan giữa năng suất và an toàn lao động trong xây dựng Do tính chất của ngành công nghiệp xây dựng, công nhân ngành xây dựng có nguy cơ gặp tai nạn cao nhất so với những công nhân ở các ngành khác Điều kiện làm việc ngoài trời, thời tiết không thuận lợi, công việc lại nặng nhọc, tỷ lệ tai nạn xấp xỉ gấp hai lần, tỷ lệ tử vong xấp xỉ gấp ba lần so với các ngành khác (Hinze và Appelate, 1991)

Trang 30

Công nhân xây dựng bị thương có tác động không tốt đến năng suất về nhiều mặt Người ta nói rằng thực hiện an toàn lao động kém sẽ làm tăng chi phí xây dựng xấp xỉ 6,5% (More, 1983 được trích trong Halligan và các tác giả khác, 1994) Nếu một tai nạn lao động xảy ra, chi phí tốn kém không chỉ vì phí bồi thường mà còn vì giảm năng suất lao động Trong khi có tai nạn mọi người trên công trường có thể ngưng làm việc để giúp đỡ cho người bị tai nạn Những nhóm thợ làm việc ở những khu vực kế cận cũng có thể ngưng công việc để quan sát những hoạt động xảy ra chung quanh người bị nạn Năng suất cũng có thể giảm trong những ngày tiếp theo khi những người công nhân vẫn còn bàn tán về tai nạn Tai nạn càng nghiêm trọng, thời gian bị mất càng nhiều càng làm ảnh hưởng đến năng suất lao động khi những người thợ nghĩ về sự an toàn của chính mình Trong trường hợp tai nạn không nghiêm trọng lắm, người thợ bị thương có thể quay lại công trình xây dựng trong một thời gian ngắn sau đó và sẽ làm việc với năng suất thấp hơn trong suốt thời gian chờ hồi phục Khi người thợ nghỉ làm, năng suất của nhóm giảm đáng kể Trường hợp tệ hơn là người thợ bị tai nạn không thể làm việc được nữa, khi đó sẽ phải có sự thay thế người trong nhóm Tinh thần làm việc của những người thợ trong nhóm sẽ bị giảm sút do những người thợ mới có thể ít kinh nghiệm hơn và chưa quen với cách làm việc, cũng như chưa quen với những người thợ khác của nhóm Vì thế năng suất của nhóm bị ảnh hưởng nghiêm trọng Ngoài ra, do phải mất thời gian để đào tạo những người thợ mới và giải quyết chế độ cho người bị tai nạn, việc giám sát và những công tác quản lý khác trên công trường sẽ bị bỏ qua

Những yếu tố liên quan đến tỷ lệ tai nạn cao đã được phân tích trong nhiều nghiên cứu (Hinze, 1981) Tai nạn thường xảy ra do sự cẩu thả, bất cẩn, thiếu hiểu biết và thiếu sự tập trung chú ý trong công việc đang làm Các công việc nặng cũng có thể dẫn đến nguy cơ xảy ra tai nạn do sự căng thẳng và mệt

Trang 31

mỏi của những người thợ, và họ có khuynh hướng thay đổi thao tác công việc mà họ đã quen thuộc Ngược lại, cũng đã có ghi nhận cho thấy mối quan hệ giữa việc thực hiện an toàn lao động và yếu tố tâm lý Những người thợ làm việc hòa hợp với những người khác trong nhóm và có sự hài lòng về công việc thường thực hiện tốt những quy tắc về thực hiện an toàn lao động

Vấn đề an toàn lao động đặc biệt cần được xem xét ở những nước đang phát triển như Lào Jaselskis và Suazo (1994) đã nhận thấy rằng tỷ lệ tai nạn chết người ở những nước này thường cao hơn các nước đã phát triển Điều đó có thể là do Lào cũng như các nước đang phát triển khác có quy định an toàn lao động và tiêu chuẩn an toàn lao động kém hơn, trang thiết bị bảo vệ cá nhân không đầy đủ Hơn nữa, chương trình huấn luyện an toàn lao động cũng chưa tốt, tiện nghi được thiết kế kém và chất lượng vật liệu đôi khi còn dưới chuẩn mức trung bình

3.2.1.1 Bố trí bình đồ công trường ảnh hưởng đến năng suất lao động

Bố trí bình đồ công trường xây dựng là một công việc quan trọng có ảnh hưởng đáng kể đến năng suất lao động Người ta nhận thấy rằng việc lập bình đồ công trường không tốt sẽ là một nguyên nhân của việc hoạt động không hiệu quả và làm tăng đáng kể toàn bộ chi phí xây dựng của một dự án Tập trung vào hoạt động quan trọng nhưng thường bị bỏ sót đó, nhiều nhà nghiên cứu đã ghi nhận những mối quan tâm cụ thể cho việc chuẩn bị bố trí công trường (Heap, 1987) Nói chung, việc chuẩn bị bố trí công trường là đưa ra một bản vẽ chi tiết các vị trí và khu vực dành riêng cho các nhà tạm, vật liệu và thiết bị cần cho thi công để bảo đảm tiến độ công việc trôi chảy Nghiên cứu cho rằng một bố trí bình đồ công trường tốt sẽ: (1) Làm tăng năng suất lao động do đã dự trù được tất cả những vấn đề xảy ra trong quá trình xây dựng từ khi tập kết vật tư lúc ban

Trang 32

đầu đến khi công trình hoàn thành; (2) Cải thiện được điều kiện làm việc: giảm tiếng ồn, sự nóng bức, bụi bặm… và tạo được môi trường làm việc có đủ ánh sáng, thông gió; (3) Cải tiến việc quản lý vật liệu; (4) Giảm việc kiểm kê trong tiến trình công việc bằng những kế hoạch cân đối và hiệu quả; (5) Làm cho công trường an toàn và làm cho công nhân thấy hài lòng; (6) Tận dụng giờ lao động tối đa bằng cách loại bỏ những di chuyển không cần thiết và các gián đoạn; (7) Việc giám sát sẽ đơn giản và hiệu quả hơn nhờ xác định rõ phạm vi trách nhiệm liên quan tới việc sắp xếp vị trí làm việc hay các công trình tạm

3.2.2 Các nhân tố liên quan đến tài nguyên và lao động xây dựng

3.2.2.1 Làm ngoài giờ và quá sức ảnh hưởng đến năng suất lao động

Khi một dự án xây dựng bị chậm trễ thì việc làm thêm ngoài giờ là một phương thức thường được người quản lý sử dụng để tăng tốc rút ngắn thời gian thực hiện công việc Dựa trên những yếu tố về bản chất con người (theo các lý thuyết của McGregor, Maslov và Herzberg) và điều kiện thể chất của công nhân, một số nhà nghiên cứu đã ghi nhận được những tác động xấu của việc làm thêm ngoài giờ lên năng suất lao động ở những khu vực công nghiệp và xây dựng (Oglesby và những người khác, 1989) Do công nhân mệt mỏi và động cơ

bị sút giảm, những hoạt động làm thêm giờ có thể dẫn đến việc lao động với năng suất giảm Borcherding (1976) đã nhận thấy việc kéo dài thời gian làm việc càng khiến công việc không hiệu quả do công nhân mệt mỏi nên dễ bị tai nạn hơn và thường phải nghỉ việc nhiều hơn Tất cả những điều kiện đó đều tác động không tốt đến năng suất

Tuy nhiên mất năng suất do làm thêm giờ thay đổi khác nhau giữa những nghiên cứu Theo Thomas (1992), để có được những nghiên cứu đáng tin cậy về tác động của làm việc thêm giờ lên năng suất lao động thật sự rất khó Khi

Trang 33

nghiên cứu ảnh hưởng của việc làm thêm giờ, người nghiên cứu cần đồng thời xét đến các yếu tố khác như: điều kiện làm việc, điều kiện thời tiết, số lượng công nhân trong tổ cũng như đặc điểm của những người thợ Khi các nhà quản lý quyết định làm việc thêm giờ, cần phân tích không chỉ những tác động tốt của việc làm thêm giờ đối với kế hoạch, mà cả tiền lương phải trả thêm và các tác động xấu của việc làm thêm giờ đối với năng suất để hạn chế việc mất năng suất ở mức thấp nhất

Ở một số nước đang phát triển như Lào, thời gian làm việc mỗi tuần trong ngành xây dựng vẫn còn là 48 tiếng, từ thứ hai đến thứ bảy Như vậy đã là kém hiệu quả hơn so với các nước có thời gian làm việc mỗi tuần là 40 tiếng Nếu lại làm thêm giờ, có lẽ tổng sản lượng sẽ trở nên thấp hơn một cách đáng kể Tuy nhiên, do sự bùng nổ ở ngành công nghiệp xây dựng và do các dự án trong công nghiệp xây dựng thường bị chậm trễ so với kế hoạch, nên hầu hết tất cả các dự án xây dựng đều phải làm thêm giờ Mặc dù người ta cho rằng công nhân thích làm thêm giờ để kiếm thêm tiền Nhưng thật ra làm thêm giờ có ảnh hưởng bất lợi lên năng suất vì sự mệt mỏi Vì thế, để hoàn thành dự án xây dựng đúng hạn, thì vấn đề về ảnh hưởng không tốt của việc làm thêm giờ đến năng suất vẫn còn cần được xem xét trong ngành công nghiệp xây dựng Lào

3.2.2.2 Vấn đề công nhân thường xuyên nghỉ làm không lý do ảnh đến năng suất lao động

Người ta nhận thấy rằng sự thay đổi về nhân sự và việc công nhân thường xuyên nghỉ làm có ảnh hưởng bất lợi đến năng suất lao động (Hinze và các tác giả khác, 1984) Nếu có sự thay đổi người, thì một người công nhân mới, thường là ít kinh nghiệm hơn sẽ được đưa vào nhóm Trường hợp tỉ lệ thay thế công nhân cao, những nhóm công nhân mới phải được hình thành và nhân lực phải

Trang 34

được phân công lại Sự quen việc của nhóm công nhân sẽ bị mất đi vì cần có một giai đoạn để làm quen với nhau Sự thay đổi người và thường xuyên nghỉ làm có thể phá vỡ nhịp điệu đã được thiết lập của nhóm và phá vỡ những mối quan hệ trước đó của họ Kết quả là tinh thần của những công nhân bị giảm và tỉ lệ tai nạn có thể cao Tỉ lệ thay đổi người và sự thường xuyên nghỉ làm có thể phản ánh tinh thần làm việc của công nhân Nguyên nhân gián tiếp dẫn đến sự thường xuyên nghỉ làm và sự thay đổi người chính là do công nhân ít hài lòng với công việc (Malloney và McFlillen, 1985) Người ta nhận thấy rằng những nguyên nhân chủ yếu của việc thay đổi người và công nhân thường xuyên nghỉ làm là do điều kiện làm việc không tốt, giám sát không đủ, mức độ an toàn thấp,

cơ hội làm việc ở những chỗ khác tốt hơn hoặc do sự bất mãn của công nhân (Halligan và các tác giả khác, 1994) Vì thế các nhà quản lý nên ý thức về vấn đề này trước khi nó đi quá xa và phá hỏng việc thực hiện công việc

Người ta lưu ý rằng tỉ lệ thay đổi người và việc công nhân nghỉ làm thường xuyên trong ngành công nghiệp xây dựng Lào rất cao do sự bất mãn của công nhân với điều kiện làm việc không tốt và mức độ an toàn thấp Vì những thay đổi rất nhanh trong xây dựng, điều kiện kinh tế nghèo nàn và không cân bằng giữa cung và cầu về lao động xây dựng, đa số công nhân được tuyển dụng tạm thời mà không có hợp đồng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế Kết quả là công nhân thiếu sự trung thành đối với chủ thầu Vì thế việc thay đổi công nhân nên được xem là một trong những yếu tố quan trọng khi xem xét những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động và trong những chương trình cải tiến năng suất lao động

3.2.2.3 Quản lý vật tư

Việc quản lý vật tư cũng có ảnh hưởng đáng kể đến năng suất lao động Qua nhiều nghiên cứu thực nghiệm, những ảnh hưởng của yếu tố vật tư lên hiệu

Trang 35

quả lao động tại công trường đã được xác định Trong một nghiên cứu của Thomas và những tác giả khác (1981) đã cho thấy việc thực hiện quản lý vật tư không hiệu quả đã làm cho thời gian thực hiện vượt hơn kế hoạch đến 18% Nghiên cứu cho rằng nếu vật tư và dụng cụ có sẵn tại công trình xây dựng khi cần thì có thể tiết kiệm được 6% chi phí nhân công Theo Borcherding và những tác giả khác (1980) mỗi công nhân bị mất trung bình 6,4 giờ đến 8,4 giờ mỗi tuần chỉ vì thiếu vật tư Nghiên cứu của Olomolaiye (1991) về vấn đề này thì cho biết số giờ bị mất khoảng 5 giờ Những nguyên nhân chính của việc quản lý vật tư thiếu hiệu quả đã được Thomas và những người khác (1989) xác định như sau:

1) Phải vận chuyển nhiều chủng loại vật tư số lượng lớn

2)Vật tư được phân loại và đánh dấu không thích hợp

3) Rác rưởi và những mảnh vỡ chắn lối đi và đường vận chuyển vật tư 4) Vật tư cung cấp không phù hợp với trình tự xây dựng

5) Phải khởi động lại sau thời gian ngừng việc khá dài do hết vật tư

6) Nhóm công nhân làm việc chậm lại khi biết trước thiếu vật tư

7) Công việc phải làm lại, sửa chữa

8) Vật tư kém chất lượng

9) Những phương pháp không hiệu quả và bất hợp lý trong việc phân phối vật tư

Việc thiếu vật tư không chỉ làm ảnh hưởng đến năng suất lao động của công nhân mà còn có thể ảnh hưởng đến tinh thần làm việc của công nhân khi phải thay đổi tốc độ làm việc hoặc phải chờ đợi vật tư quá lâu

Trang 36

3.2.2.4 Quản lý thiết bị và dụng cụ lao động

Việc sử dụng thiết bị và kỹ thuật thi công phù hợp là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc tăng năng suất lao động Người ta nói rằng công việc xây dựng ngày nay có thể tiến hành ít tốn chi phí và công sức lao động hơn rất nhiều

so với trước đây (Koch và Moavenzadeh, 1979) Người ta nhận thấy nếu một công việc lao động được yêu cầu thực hiện ở một khu vực như nhau, thì nơi thiết

bị được cung cấp đầy đủ sẽ mất ít thời gian hơn nơi thiếu thiết bị Vì thế, người

ta nhận thấy rằng sử dụng thiết bị là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất lao động trên công trường xây dựng Yếu tố này đặt biệt quan trọng ở những quốc gia đang phát triển Việc bảo trì kém hiệu quả, đào tạo người vận hành không thích hợp, thay đổi quá thường xuyên những người vận hành thiết bị, thiếu phụ tùng thay thế, sử dụng loại thiết bị không đúng với điều kiện công trường và thiếu kế hoạch hiệu quả là những nguyên nhân phổ biến nhất của việc hạn chế sử dụng thiết bị Trong một nghiên cứu được tiến hành ở một nước đang phát triển, để đáng giá năng suất lao động trong công nghiệp xây dựng (Olomolaiye và Ogunlana, 1989), người ta nhận thấy vấn đề hư hỏng thiết

bị là rất phổ biến vì hầu hết thiết bị đang được sử dụng trong nước được nhập khẩu nên đã được thiết kế theo điều kiện khí hậu và điều kiện làm việc không phù hợp, cũng như do những người vận hành có kỹ năng khác nhau Vì thế, mặc dù biết rằng năng suất của việc xây dựng sẽ được cải tiến rất nhiều nhờ việc sử dụng những dụng cụ và thiết bị thích hợp, thì ở một nước đang phát triển như Aán Độ, những nhà thầu vẫn thường thích sử dụng nhiều lao động hơn là mua thiết bị mắc tiền (Koehn và Ganapathiraju, 1996) Kết quả là phần lớn tỷ lệ công việc xây dựng vẫn còn được thực hiện bằng tay thay vì sử dụng thiết bị ở những quốc gia đang phát triển

Trang 37

Vấn đề không có sẵn dụng cụ cũng được xem là một yếu tố quyết định trong việc làm suy giảm năng suất công trường Olomolaiye và Ogunlana (1989) đã chứng minh sự đóng góp quan trọng của việc cung cấp đầy đủ dụng cụ sẽ cho năng suất cao hơn bằng cách so sánh năng suất của một công trường được cung cấp đầy đủ dụng cụ với một công trường buộc công nhân tự mang dụng cụ của họ đến Kết quả cho thấy công trường đầu có năng suất cao hơn đáng kể

Việc cung cấp đầy đủ thiết bị và dụng cụ cũng có ảnh hưởng đến tinh thần làm việc của công nhân xây dựng Khi được cung cấp đầy đủ thiết bị, những công việc lao động nặng nhọc của công nhân sẽ được giảm đi, năng suất lao động tăng lên sẽ khiến cho công nhân làm việc với tinh thần hăng hái hơn 3.2.2.5 Động cơ làm việc của công nhân

Thiếu động cơ thúc đẩy cơng nhân được cho là một trong những lý do khơng thể phủ nhận được đối với vấn đề năng suất thấp trong ngành cơng nghiệp xây dựng (Adrian, 1987; Hazeltine, 1976) Nhiều lý thuyết thúc đẩy động cơ làm việc của con người như: hệ thống phân cấp các nhu cầu của Maslow, học thuyết động cơ vệ sinh của Herzberg, học thuyết X và Y của McGregor, v.v…đã phát triển lâu năm Tuy nhiên, do khơng cĩ bất kỳ học thuyết phát triển đặc biệt riêng cho ngành xây dựng, hầu hết các nghiên cứu thúc đẩy động cơ cơng nhân xây dựng là sự phân tích những đặc điểm của cơng việc xây dựng dựa trên các học thuyết thúc đẩy động cơ làm việc của con người, trong số này là học thuyết Maslow và Herzberg được sử dụng rơng rãi như nền tảng cho các nghiên cứu lý thuyết và thực tế.(Borcherding, 1975; Chang, 1994; Hazeltine, 1976; Olomolaiye và Ogunlana, 1988)

Học thuyết nhu cầu của Maslow phát biểu rằng con người cĩ năm loại nhu cầu rõ rệt, tạo thành dãy phân cấp thứ tự các nhu cầu từ nhu cầu cơ bản đến nhu cầu cao nhất: nhu cầu sinh lý (nhu cầu về thức ăn, đồ uống, nghỉ ngơi, ổn định nhà cửa,…), an tồn (nhu cầu bảo vệ khỏi nguy hiểm, tránh đau đớn, đảm bảo tài

Trang 38

trọng (nhu cầu về uy tín, có cấp bậc xã hội, được công nhận, được đánh giá cao và kính trọng); và nhu cầu tự khẳng định (nhu cầu về khả năng thành đạt và tự hoàn thiện) Khi nhu cầu mức thấp được đáp ứng tốt, con người sẽ chuyển sang nhu cầu bậc cao hơn Do đó, nhu cầu không được thoả mãn có ảnh hưởng mạnh đến hành vi của con người

Học thuyết Herzberg cố gắng xác định các nhân tố riêng biệt trong môi trường công việc mà ảnh hưởng đến tinh thần người lao động Ông cho rằng các khía cạnh công việc khác nhau ảnh hưởng đến cảm giác thoả mãn và không thoả mãn Các nhân tố như: lương, điều kiện làm việc, mối quan hệ con người với nhau đều được xem như dính liền với cảm giác không hài lòng; trong khi thành tựu, sự thừa nhận, bản thân công việc và trách nhiệm thì thường dính liền với cảm giác hài lòng Các nhân tố không hài lòng không thúc đẩy công nhân được gọi là các nhân tố duy trì Những nhân tố này có khuynh hướng liên đới với nhu cầu bậc thấp: (xã hội,

an toàn và sinh lý) của học thuyết Maslow Còn các nhân tố không hài lòng được gọi là động lực thúc đẩy thì liên đới với nhu cầu bậc cao hơn của học thuyết Maslow

Do mối quan hệ đã được chứng minh giữa động cơ làm việc của công nhân

và năng suất lao động, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng xác định những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ làm việc của công nhân xây dựng (Olomolaiye và Ogunlana, 1988) Từ đó, nhiều chương trình và hoạt động để cải tiến động cơ làm việc của công nhân xây dựng đã được đưa ra nhằm làm tăng thời gian làm việc hiệu quả, cải tiến năng suất (Adrian, 1987; Borcherding và các tác giả khác, 1980) Tuy nhiên, người ta nhận thấy những phát hiện về yếu tố động cơ của công nhân xây dựng có phần khác nhau ở những nước khác nhau do điều kiện kinh tế-xã hội và môi trường làm việc không giống nhau

Nghiên cứu tiên phong và mở rộng của Borcherding (1975) được tiến hành ở một quốc gia phát triển kết luận rằng những yếu tố thúc đẩy động cơ của công nhân xây dựng Mỹ chủ yếu liên quan tới những yếu tố tạo động cơ như là sự thừa nhận,

Trang 39

trách nhiệm và bản thân công việc Trong khi đó, những nghiên cứu khác được tiến hành ở những nước đang phát triển (Chang, 1994; Olomolaiye và Ogunlana, 1988;

D T B Huyền, 2002) đã xác nhận rằng tiền bạc, sự an toàn về việc làm (ít có khả năng mất việc), điều kiện làm việc an toàn, chỗ ăn ở và mối quan hệ là những yếu tố quan trọng thúc đẩy động cơ làm việc Tất cả đều liên quan đến các nhân tố duy trì của học thuyết Herzberg

3.2.3 Các nhân tố liên quan đến điều kiện và môi trường bên ngoài

- Thời tiết

Nhiều nhà nghiên cứu xem xét ảnh hưởng thời tiết đến năng suất lao động (Adrian, 1987; Koeh và Brown, 1985; Oglesby và các tác giả khác, 1989) vì một lượng lớn giờ công tổn thất do thời tiết bất lợi Tổn thất giờ công do các điều kiện thời tiết xấu bao gồm: (1) giờ công lao động bị tổn thất do thời tiết xấu tạm thời ngăn cản công nhân làm việc; (2) năng suất giảm do nhiệt độ cao hay quá thấp (quá nóng hoặc quá lạnh); (3) công việc phải làm lại do bị hư hại từ thời tiết xấu; (4) thời tiết xấu làm chậm tiến độ dự án, dẫn đến làm ngoài giờ và năng suất thấp (Clapp,

1966 trích trong Thomas và Yiakoumis, 1987)

Năng suất lao động có thể bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi điều kiện thời tiết bất lợi vì các công việc xây dựng được thực hiện bên ngoài và năng suất của công nhân xây dựng cũng như hiệu quả công việc bị ảnh hưởng của nhiệt độ không khí, tốc độ gió, độ ẩm tương đối, độ bức xạ mặt trời, lượng mưa và ánh sáng Tỉ lệ phạm vi ảnh hưởng cao nhất do quá nóng được tìm thấy liên quan trong ngành xây dựng chỉ sau ngành nông nghiệp Cũng vậy, tỷ lệ phạm vi tác động cao nhất do quá lạnh được tìm thấy trong ngành xây dựng chỉ sau ngành khai thác mỏ (Koeh và Brown, 1985)

Tuy nhiên, như đã trình bày trong nghiên cứu cho rằng, các nghiên cứu không ước lượng được ảnh hưởng của thời tiết đến năng suất lao động Kết quả từ các nghiên cứu mâu thuẫn với nhau, mặc dù chúng được thực hiện ở cùng quốc gia Adrian (1987) đã trình bày về năng suất trung bình của công nhân đạt được giữa

Trang 40

10oC đến 27oC nhưng theo Oglesby và các tác giả khác (1989) thì giữa 10oC đến

21oC

Khơng chỉ nhiệt độ và độ ẩm mà mưa cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất lao động Mưa cĩ thể giảm tốc độ sản xuất hoặc kể cả ngừng quá trình xây dựng Mưa cũng ảnh hưởng năng suất làm việc của cơng trường trong nhiều ngày sau khi đã tạnh mưa do cơng việc phải được làm lại Những cơng việc xây dựng bị ảnh hưởng nặng nề do mưa là đào đất, lát đường, đổ bê tơng và xây tơ Khí hậu Lào là khí hậu nhiệt độ giĩ mùa với nhiệt độ, độ ẩm, và lượng mưa cao Khí hậu dường như bất lợi hơn khi trời mưa suốt ngày từ tháng 6 đến tháng 10 mỗi năm Mức độ ảnh hưởng bởi thời tiết khơng thuận lợi đến năng suất lao động tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố Ở Lào, do sự thiếu hụt tài chính cũng như thiếu nghiên cứu về những tác hại thời tiết trong lĩnh vực này, các nhà quản lý khơng thể cung cấp các điều kiện làm việc khơng chịu tác động của thời tiết Do đĩ, nhân tố thời tiết đưa ra được xem xét trong trách nhiệm của cấp quản lý và việc lập kế hoạch để giảm các ảnh hưởng tai hại của điều kiện thời tiết bất lợi Chẳng hạn: các cơng việc đào đất, cơng tác xây tơ, hoặc đổ bê tơng nên được lên kế hoạch thực hiện chủ yếu vào mùa khơ từ tháng 10 đến tháng 6 Thời gian nghỉ giải lao nên được phân chia đúng đắn và đủ; nước uống nên cung cấp cho cơng nhân để tránh say nắng, chuột rút, kiệt sức và đột quỵ vì nĩng, đặc biệt là vào những ngày cĩ nắng

3.2.4 Các nhân tố liên quan đến quản lý

Trong nhiều nghiên cứu được tiến hành ở những nước khác nhau có quan tâm đến năng suất của nhà thầu cỡ nhỏ, trung bình và lớn, thì việc lập kế hoạch và tiến độ thi công luôn là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến năng suất lao động (Arditi và Mochtar, 1995; Kim, 1993) Các nghiên cứu đã xác định việc lập kế hoạch thi công xây dựng có tác động rất rõ đến năng suất lao động thực tế Nếu không có kế hoạch phù hợp thì sẽ xảy ra tình trạng lao động quá mức, làm mất thời gian vì chờ đợi thiết bị, vật tư, thiếu sự hợp tác của các nhà thầu phụ và hạn

Ngày đăng: 10/02/2021, 23:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w