các ngân hàng tại Việt Nam” được thực hiện nhằm tìm hiểu các yếu tố về động cơ, lợi ích và trở ngại và tìm hiểu sự khác biệt theo nhóm trong các yếu tố đặc trưng của các ngân hàng thương
Trang 1NGUYỄN THÀNH NAM
ĐỘNG CƠ, LỢI ÍCH VÀ TRỞ NGẠI CỦA HOẠT ĐỘNG THÂU TÓM VÀ SÁP NHẬP
Ở CÁC NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 8 năm 2010
Trang 2Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thu Hiền
Trang 3sự giúp đỡ, đóng góp của thầy cô, bạn bè, gia đình, đồng nghiệp và đồng môn của tôi Vì vậy, tôi trân trọng:
Lời đầu tiên, tôi xin cảm ơn chân thành sự hướng dẫn tận tâm và nhiệt tình của Cô Nguyễn Thu Hiền trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn tất cả thầy cô khoa Quản lý công nghiệp Trường Đại học Bách khoa Tp Hồ Chí Minh đã nhiệt tình truyền đạt các bài học lý thuyết, thực hành, những phương pháp nghiên cứu khoa học cũng như những kinh nghiệm thực
tế tạo thành nền tảng kiến thức giúp tôi có thể hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn những người thân trong gia đình tôi đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn những người bạn, đồng nghiệp, đồng môn đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi tin rằng việc thực hiện luận văn này sẽ là tiền đề, kinh nghiệm quý báu giúp tôi thành công trong công việc cũng như trong cuộc sống ở tương lai
Trân trọng!
Trang 4Acquiring activities among banks in Vietnam” is studied for a more understanding the related factors about The motivation, the benefices and the challenges and to explain the groups of the differences among the typical factors of commercial joint-stock banks of Vietnam in connection with the motivation, the benefice and the challenge of the merging & acquiring activities
The study method is the quantifying one based on the questionnaires, of which the variables are the expressions from the syntheses, the selection from the secondary document sources The normal group has a dimension n = 78 so after the feedback of the recovered questionnaires has been treated Data from the normal groups will be treated step by step through the statistic application software: The Cronbach ‘s Alpha Analysis to test the reliance level, the Explorary Factor Analysis (EFA) for value assessing ; The One-way ANOVA to evaluate the relation between these factors (such as: the business experience, the charter capital, the total assets, the before tax profit, the staff number, the counter number, the M&A performing) and the motivation, the benefice and the challenge in the merging & acquiring activities among the banks
The study result would show 08 motivations and main benefices in M&A activities among banks in Vietnam, they are: (1) The variability ; (2) The fast extending in operation territories - the survival of the indigenous banks from the acquisition; (3) The cost lowering - the market widening; (4) The survalue of the combination local, (5) The financial capacity, and administration improving, (6) The meeting of the requirement about the charter capital - increase of financial source - the attraction of indigenous banks, (7) The situation strategy in market implantation, (8) The stock increasing for a control Ans of which the 05 main obtacles of the M&A activities among banks in Vietnam are: (1) The potential risks due to the capital structure, the investment structures, the law contouring and bypass and the debt ad capital dealing after the transaction ; (2) The difficulties in assessing, the low quality of the information, (3) The obtacles from the economic ambiances; (4) The legal regulations for M&A are still missing and inadequate; (5) The obtacles from the legislature
Trang 5các ngân hàng tại Việt Nam” được thực hiện nhằm tìm hiểu các yếu tố về động cơ, lợi ích và trở ngại và tìm hiểu sự khác biệt theo nhóm trong các yếu tố đặc trưng của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam về các yếu tố về động cơ, lợi ích và trở ngại của hoạt động thâu tóm và sáp nhập
Phương pháp nghiên cứu là nghiên cứu định lượng bằng các bảng câu hỏi với các biến là các phát biểu được tổng hợp, chọn lọc từ các nguồn dữ liệu thứ cấp Tập mẫu có kích thước là n = 78 sau khi thu thập và loại các bảng câu hỏi không hợp lệ Dữ liệu của tập mẫu được xử lý bằng phần mềm thống kê theo trình tự: Phân tích Cronbach’s Alpha để kiểm tra độ tin cậy; Phân tích nhân tố khám phá (EFA) để kiểm tra độ giá trị và rút trích các nhân tố; Phân tích phương sai một yếu tố (One - way ANOVA) để đánh giá mối liên quan giữa các yếu tố về động
cơ, lợi ích và trở ngại trong các hoạt động thâu tóm và sáp nhập trong ngành ngân hàng với các yếu tố đặc trưng (Số năm hoạt động; Vốn điều lệ; Tổng tài sản; Lợi nhuận trước thuế; Số lượng nhân viên; Số điểm giao dịch; Động thái M&A) của
các ngân hàng
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 08 động cơ, lợi ích chủ yếu trong hoạt động M&A ngành ngân hàng Việt Nam là: Đa dạng hóa; Mở rộng mạng lưới hoạt động nhanh - Ngân hàng nội địa tránh bị thôn tính; Chiến lược giảm chi phí - mở rộng thị trường; Giá trị hợp lực; Cải thiện khả năng tài chính, quản trị; Đáp ứng yêu cầu
về vốn điều lệ - Tăng nguồn tài chính - Sự hấp dẫn của ngân hàng nội địa; Chiến lược tình thế khi thâm nhập thị trường; Tăng cổ phần để kiểm soát, 05 trở ngại chủ yếu trong hoạt động M&A ngành ngân hàng Việt Nam là: Các rủi ro tiềm ẩn do cấu trúc vốn, cơ cấu đầu tư, sự lách luật và vấn đề xử lý nợ, vốn sau giao dịch;
Khó khăn trong định giá, chất lượng thông tin thấp; Trở ngại do yếu tố môi trường kinh tế; Luật pháp quy định hoạt động M&A chưa hoàn chỉnh; Trở ngại pháp lý
Trang 6MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ 5
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do hình thành đề tài 7
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 11
1.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 11
1.4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 11
1.5 Phương pháp nghiên cứu 11
CHƯƠNG 2 LÝ THUYẾT VỀ M&A 2.1 Lý thuyết về Thâu tóm - Sáp nhập (M&A) 12
2.1.1 Khái niệm sáp nhập và mua lại (M&A) 12
2.1.2 Phân loại sáp nhập và mua lại 13
2.1.2.1 Dựa trên mức độ liên kết 13
2.1.2.2 Dựa vào phạm vi lãnh thổ 16
2.1.2.3 Dựa trên chiến lược mua lại công ty 16
2.1.2.4 Dựa trên phương pháp tiến hành tài trợ (bằng nợ hoặc vốn tự có) 17
2.1.2.5 Các cách phân loại khác 18
2.1.3 Các phương thức thực hiện sáp nhập, mua lại 18
2.1.3.1 Chào thầu (Tender offer) 19
2.1.3.2 Lôi kéo cổ đông bất mãn (Proxy fights) 20
2.1.3.3 Thương lượng tự nguyện với ban quản trị và điều hành 21
2.1.3.4 Thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán 21
2.1.3.5 Mua lại tài sản công ty 21
2.1.4 Động cơ thực hiện sáp nhập và thâu tóm 22
Trang 72.1.4.1 Hợp lực thay cạnh tranh 22
2.1.4.2 Nâng cao hiệu quả 22
2.1.4.3 Tham vọng bành trướng tổ chức và tập trung quyền lực thị trường 23
2.1.4.4 Giảm chi phí gia nhập thị trường 23
2.1.4.5 Chiến lược đa dạng hóa và dịch chuyển trong chuỗi giá trị 24
2.1.5 Rủi ro và những cạm bẫy trong M&A 24
2.1.5.1 Những rủi ro trong M&A 24
2.1.5.2 Những cạm bẫy trong M&A 25
2.2 Các nghiên cứu liên quan đến vấn đề Thâu tóm - Sáp nhập 27
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG THÂU TÓM SÁP NHẬP NGÀNH NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM 3.1 Sơ lược về ngành ngân hàng Việt Nam 29
3.2 Tình hình Thâu tóm - Sáp nhập trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam 31
3.2.1 Tổng quan về tình hình Thâu tóm - Sáp nhập tại Việt Nam 31
3.2.2 Tình hình Thâu tóm - Sáp nhập ngành ngân hàng ở Việt Nam 33
3.2.2.1 Thực tiễn hoạt động Thâu tóm - Sáp nhập ngành ngân hàng ở Việt Nam 33
3.2.2.2 Xu hướng M&A trong ngành ngân hàng ở Việt Nam 35
3.3 Các yếu tố về động cơ, lợi ích và trở ngại 38
3.3.1 Trường hợp tiêu biểu 38
3.3.2 Tổng hợp, chọn lọc thông tin thứ cấp từ các tài liệu, bài báo, ý kiến, nhận định của các chuyên gia về M&A, lãnh đạo các ngân hàng 47
CHƯƠNG 4 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 4.1 Các bước nghiên cứu 52
4.2 Thiết kế nghiên cứu 54
4.3 Mô hình nghiên cứu 55
4.4 Mẫu 56
Trang 84.5 Thang đo 56
4.6 Các giả thuyết của đề tài 57
4.7 Xây dựng bảng câu hỏi 58
CHƯƠNG 5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5.1 Mô tả mẫu 60
5.2 Phân tích đánh giá công cụ đo lường 62
5.2.1 Phân tích độ tin cậy 66
5.2.1.1 Thang đo “Động cơ, lợi ích của hoạt động M&A trong ngành ngân hàng” 66
5.2.1.2 Thang đo “Trở ngại của hoạt động M&A trong ngành ngân hàng” 70
5.2.2 Phân tích nhân tố 76
5.2.2.1 Thang đo “Động cơ, lợi ích của hoạt động M&A trong ngành ngân hàng” 76
5.2.2.2 Thang đo “Trở ngại của hoạt động M&A trong ngành ngân hàng” 79
5.2.3 Phân tích phương sai một nhân tố 83
CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN 6.1 Kết quả chính 94
6.1.1.Kết quả phân tích dữ liệu các biến quan sát 94
6.1.2 Kiểm định các giả thiết 95
6.2 Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ANOVA (Analysis of Variance): Phân tích phương sai
CN: Chi nhánh
EFA (Exploratory Factor Analysis): Phân tích nhân tố khám phá
EPS (Earning Per Share): Thu nhập trên cổ phiếu
FDI (Foreign Direct Investment): Đầu tư trực tiếp nước ngoài
OTC (Over-the-counter): Cổ phiếu chưa niêm yết (Phi tập trung)
PwC: Hãng kiểm toán PricewaterhouseCoopers
SPSS (Statistical Package for the Social Sciences): Chương trình máy tính phục vụ công tác thống kê
Techcombank: Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
Bảng 1.1: So sánh số lượng và giá trị các thương vụ M&A năm 2008 và 2009 7
Bảng 3.1: Số lượng ngân hàng qua các năm từ 1991 đến năm 2009 31
Bảng 3.2: Số lượng thương vụ M&A ở Việt Nam từ 2003 - 2009 33
Bảng 3.3: Số thương vụ M&A ngành ngân hàng ở Việt Nam từ 2005 - 2009 34
Bảng 3.4: Thống kê các thương vụ giữa ngân hàng TMCP đô thị và nông thôn 36
Bảng 3.5: Thống kê các thương vụ M&A tổ chức nước ngoài mua ngân hàng trong nước 37
Bảng 3.6: Thống kê các thương vụ M&A nắm giữ cổ phiếu của nhau giữa các ngân hàng trong nước 38
Bảng 3.7: Thống kê các thương vụ M&A giữa tổ chức trong nước với các ngân hàng nội địa 39
Bảng 4.1: Thang đo các đặc điểm đặc trưng của ngân hàng 57
Bảng 5.1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu 60
Bảng 5.2: Thống kê sự liên quan giữa động thái M&A và số năm hoạt động 62
Bảng 5.3: Thống kê sự liên quan giữa động thái M&A và và vốn điều lệ 62
Bảng 5.4: Thống kê sự liên quan giữa động thái M&A và số điểm giao dịch 62
Bảng 5.5: Bảng thống kê mô tả các biến quan sát thuộc về động cơ, lợi ích 64
Bảng 5.6: Bảng thống kê mô tả các biến quan sát thuộc về trở ngại 65
Bảng 5.7: Thống kê biến quan sát và hệ số Cronbach’s Alpha sau khi phân tích độ tin cậy 75
Bảng 5.8: Tổng hợp các biến thang đo “Động cơ, lợi ích của hoạt động M&A trong ngành ngân hàng” sau khi phân tích nhân tố 78
Bảng 5.9: Tổng hợp các biến thang đo “Trở ngại của hoạt động M&A trong ngành ngân hàng” sau khi phân tích nhân tố 81
Trang 11Bảng 5.10: Tổng hợp giá trị thống kê các biến quan sát 82
Bảng 5.11: Tổng hợp các biến phân tích phương sai một nhân tố 83
Hình 1.1: Biểu đồ số lượng thương vụ M&A ở Việt Nam giai đoạn 2003 - 2009 7
Hình 1.2: Biểu đồ giá trị các thương vụ M&A ở Việt Nam giai đoạn 2003 - 2009 8
Hình 1.3: Biểu đồ phân bổ thương vụ M&A ở Việt Nam của 05 ngành nghề năng động nhất năm 2008 - 2009 8
Hình 4.1: Sơ đồ cấu trúc bảng câu hỏi 58
Trang 12CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
Ở Việt Nam, các hoạt động M&A đã bắt đầu từ năm 1990 và phát triển mạnh trong các năm gần đây
Theo tài liệu của hãng kiểm toán PricewaterhouseCoopers (PwC), số thương vụ M&A ở Việt Nam có tốc độ tăng nhanh nhất trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương:
Năm 2005 có 22 vụ với tổng giá trị 61 triệu USD;
Năm 2006 với 38 vụ, tổng giá trị 299 triệu USD;
Năm 2007 tăng lên 108 vụ, tổng giá trị 1.753 tỉ USD, riêng 6 tháng cuối năm
2007, tổng giá trị M&A là hơn 1 tỉ USD
Tổng số vụ mua bán, sáp nhập năm 2008 của VN đã tăng lên 167 vụ với tổng giá trị 1.117 tỉ USD, hơn gấp ba lần giá trị các giao dịch M&A trong năm 2006;
Năm 2009 có 295 vụ với tổng giá trị 1.138 triệu USD với diễn biến trầm lắng vào đầu năm nhưng tăng rất nhiều vào nửa cuối năm, nhất là quý IV/2009 Một số thương vụ sáp nhập lớn ở Việt Nam: Tập đoàn Qantas (Úc) mua 18% cổ phần của Paciffic Airlines, Morgan Stanley mua 48,33% cổ phần của Chứng khoán Hướng Việt, SwissRe mua 25% cổ phần của Tổng công ty Tái bảo hiểm, Petro
Trang 13Vietnam nắm 20% cổ phần của Oceanbank, Viettel nắm 20% cổ phần của Ngân hàng Quân đội hay HSBC nắm 20% cổ phần của Techcombank
Bảng 1.1: So sánh số lượng và giá trị các thương vụ M&A năm 2008 và 2009
2009 (triệu USD)
2008 (triệu USD)
% tăng/giảm
2009 (Số GD)
2008 (Số GD)
% thay đổi
Nguồn: Thomson Reuters, PricewaterhouseCoopers research
Thống kê số lượng và giá trị các giao dịch M&A tại Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2009 được thể hiện qua 02 biểu đồ dưới đây:
Hình 1.1: Biểu đồ số lượng thương vụ M&A ở Việt Nam giai đoạn 2003 - 2009
167
38 41
108
295
23 22
0 40 80 120 160 200 240 280 320
Trang 14Hình 1.2: Biểu đồ giá trị các thương vụ M&A ở Việt Nam giai đoạn 2003 - 2009
1.138 1.117
Nguồn: Thomson Reuters, PricewaterhouseCoopers research
Như vậy, thị trường M&A của Việt Nam còn rất non trẻ nhưng có tốc độ tăng trưởng cao và là một thị trường vô cùng tiềm năng
Hình 1.3: Biểu đồ phân bổ thương vụ M&A ở Việt Nam của 05 ngành nghề
Ngành tàichính
Ngành nguyênvật liệu
Ngành hàngtiêu dùng
Trang 15Theo các số liệu về M&A thì thị trường M&A ở Việt Nam đang phát triển theo chiều hướng đi lên, nhất là từ năm 2006 tới nay mặc dù có giai đoạn chững lại trong năm 2004 Qua đó, ta thấy thị trường M&A có nhiều sự thu hút và hấp dẫn đối với các nhà đầu tư
Xét riêng ngành ngân hàng ở Việt Nam, một ngành đang trong giai đoạn phát triển khá nhanh chóng và rầm rộ từ sau khi “mở cửa” năm 1990, thì các thương vụ M&A trong ngành chiếm tỷ trọng rất đáng kể về số lượng và giá trị trong các thương
vụ M&A
Các thương vụ M&A trong ngành ngân hàng tại Việt Nam có chiều hướng gia tăng nhanh chóng về số và lượng, nhất là trong thời gian gần đây Năm 2008 là năm bùng nổ các giao dịch M&A trong ngành ngân hàng: chỉ riêng tháng 8/2008, các ngân hàng thương mại Việt Nam đã có một làn sóng mua lại cổ phần Ngân hàng Sociéte Générale của Pháp mua lại 15% cổ phần của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Nam Á (SeAbank); Ngân hàng OCBC của Singapore mua lại 15% cổ phần của VPBank…
Sự lớn mạnh của thị trường M&A tại Việt Nam và trong ngành ngân hàng, một trong số các ngành có hoạt động M&A sôi nổi nhất, tạo ra nhu cầu thông tin của các cá nhân, các tổ chức cũng như các nhà đầu tư về hoạt động M&A trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Các câu hỏi đặt ra trong hoạt động thâu tóm và sáp nhập ở các ngân hàng tại Việt Nam là:
Động cơ của hoạt động thâu tóm và sáp nhập?
Lợi ích của hoạt động thâu tóm và sáp nhập?
Trở ngại của hoạt động thâu tóm và sáp nhập như thế nào?
Đó là lý do tác giả chọn đề tài “Động cơ, lợi ích và trở ngại của hoạt động
thâu tóm và sáp nhập ở các ngân hàng tại Việt Nam”.
Trang 161.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Tìm hiểu các yếu tố về động cơ, lợi ích và trở ngại của hoạt động thâu tóm và sáp nhập ở các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam
Tìm hiểu sự khác biệt theo nhóm trong các yếu tố đặc trưng của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam với các yếu tố về động cơ, lợi ích và trở ngại của hoạt động thâu tóm và sáp nhập
1.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào các ngân hàng thương mại cổ phần
có trụ sở, các chi nhánh đặt tại Tp HCM với các đối tượng nghiên cứu là 39 ngân hàng thương mại cổ phần trong hệ thống ngành ngân hàng Việt Nam
1.4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Đề tài kỳ vọng sẽ nhận diện được các yếu tố xác đáng về động cơ, lợi ích và trở ngại của hoạt động thâu tóm và sáp nhập ở các ngân hàng tại Việt Nam và nhận diện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm khác nhau trong các yếu tố đặc trưng của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam với các yếu tố về động cơ, lợi ích và trở ngại của hoạt động thâu tóm và sáp nhập Từ đó, tác giả có thể kết luận và đánh giá một số quan niệm, xu hướng chung trong hoạt động thâu tóm và sáp nhập ở các ngân hàng tại Việt Nam
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài này hy vọng có thể sẽ là cơ sở tham khảo có ích cho các nhà đầu tư cũng như các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam
1.5 Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng Nghiên cứu định tính thông qua việc thu thập thông tin để lập bảng câu hỏi khảo sát các yếu tố về động cơ, lợi ích
và trở ngại của hoạt động thâu tóm và sáp nhập của các ngân hàng thương mại cổ phần
ở Việt Nam Nghiên cứu định lượng thực hiện thông qua việc phân tích dữ liệu của những bảng câu hỏi thu thập bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0
Trang 17CHƯƠNG 2
LÝ THUYẾT VỀ M&A
2.1 Lý thuyết về Thâu tóm - Sáp nhập (M&A)
2.1.1 Khái niệm sáp nhập và mua lại (M&A)
Sáp nhập (Merge) là sự kết hợp của hai hay nhiều công ty để tạo thành một công ty duy nhất có quy mô lớn hơn Kết quả của việc sáp nhập là một công ty tồn tại (Giữ được tên và đặc thù), công ty còn lại ngưng tồn tại và không còn là một
tổ chức riêng biệt
Trường hợp cả hai công ty đều ngưng hoạt động và một công ty mới ra đời
từ thương vụ sáp nhập gọi là hợp nhất (Consolidation) Hợp nhất là một trường hợp đặc biệt của sáp nhập, vì vậy để đơn giản và thuận tiện, tác giả sẽ sử dụng thuật ngữ “sáp nhập” ngầm ý bao gồm cả trường hợp hợp nhất
Mua lại (Acquisition) là hành động mua lại cổ phiếu hoặc tài sản một công ty
để trở thành chủ sở hữu Công ty mua lại gọi là công ty đi mua (Acquirer), công ty được mua lại gọi là công ty mục tiêu (Target) Trong trường hợp mua lại, công ty đi mua và công ty mục tiêu vẫn hoạt động bình thường, nhưng công ty mục tiêu trở thành tài sản thuộc quyền sở hữu của công ty đi mua
Hoạt động mua lại về cơ bản giống với sáp nhập, đều là hoạt động qua đó các công ty tìm kiếm lợi ích kinh tế nhờ tăng quy mô, giảm chi phí, mở rộng thị trường nhưng chúng có những điểm khác biệt đó là sáp nhập thường để chỉ sự kết hợp giữa hai công ty “tương đồng” tức là có quy mô, uy tín, sức mạnh tài chính… như nhau xét trên nhiều mặt và kết quả thường tạo ra một công ty mới, mục đích của sáp nhập
là sự hợp tác cùng có lợi của cả hai bên sáp nhập Trong khi đó mua lại thường để chỉ hành động một công ty “nuốt chửng” một công ty khác (thường là yếu hơn) để biến công ty đó thành một phần sở hữu của mình, kết quả mua lại thường không hình thành công ty mới, mục đích của mua lại là nhằm “thâu tóm” công ty mục tiêu
Trang 18Xét về mặt kỹ thuật, điểm tạo nên sự khác biệt giữa sáp nhập và mua lại chính là ở cách thức tài trợ, cụ thể:
- Sáp nhập: tài trợ được thực hiện thông qua trao đổi cổ phiếu, có nghĩa là một công ty sẽ phát hành cổ phiếu để đổi lấy một lượng cổ phiếu của công
ty kia
- Mua lại: không giống với sáp nhập, trong các thương vụ mua lại không có sự trao đổi cổ phiếu Một công ty có thể mua lại một công ty khác bằng tiền, trái phiếu hoặc cả hai Đối với trường hợp mua lại có giá trị nhỏ hơn, một công ty có thể mua tất cả tài sản và thanh toán bằng tiền mặt cho công ty được mua lại, hoặc cũng có trường hợp công ty mua lại phát hành các trái phiếu lãi suất cao (Junk bonds) để gọi vốn
2.1.2 Phân loại sáp nhập và mua lại
2.1.2.1 Dựa trên mức độ liên kết
M&A được phân thành 3 loại:
Sáp nhập và mua lại theo chiều ngang (Horizontal merger)
Sáp nhập theo chiều ngang được áp dụng cho các công ty hoạt động trong cùng lĩnh vực, loại hình kinh doanh Nói cách khác, đó là sự sáp nhập giữa các công ty cạnh tranh trực tiếp về cùng dòng sản phẩm và cùng thị trường Ví dụ, trường hợp sáp nhập giữa JPMorgan và BankOne trong lĩnh vực tài chính, hay thương vụ sáp nhập lớn nhất trong lĩnh vực ngân hàng từ trước đến nay giữa hai ngân hàng Algemene Bank Nederland (ABN) và Amsterdamsche - Rotterdamsche Bank (AMRO)
Kết quả từ những vụ sáp nhập này theo dạng này sẽ đem lại cho bên sáp nhập lợi thế kinh tế nhờ quy mô, cơ hội mở rộng thị trường, kết hợp thương hiệu, giảm chi phí cố định, tăng cường hiệu quả của hệ thống phân phối và hậu cần Rõ ràng, khi hai đối thủ cạnh tranh trên thương trường kết hợp lại với nhau (Sáp nhập hay mua lại) họ không những giảm bớt cho mình một đối thủ mà còn tạo nên một sức mạnh lớn hơn để đương đầu với các đối thủ còn lại
Trang 19Sáp nhập theo chiều ngang thường diễn ra khi có sự củng cố, hợp nhất trong ngành,
đi cùng với việc các quy định được dỡ bỏ và sự phát triển vượt bậc của công nghệ, tạo điều kiện cho các công ty kết hợp với nhau để tạo ra một quy mô và trình độ công ty mà ở đó, việc kinh doanh có hiệu quả hơn Đa số các vụ sáp nhập theo chiều ngang diễn ra trong các ngành ôtô, dược, viễn thông, dầu khí, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán…
Sáp nhập và mua lại theo chiều dọc (Vertical merger)
Sáp nhập theo chiều dọc là sự sáp nhập hoặc mua lại giữa hai công ty nằm trên cùng một chuỗi giá trị, dẫn tới sự mở rộng về phía trước hoặc phía sau của công ty sáp nhập trên chuỗi giá trị đó Sáp nhập theo chiều dọc diễn ra giữa các công ty nằm
ở những giai đoạn khác nhau của một quy trình sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ Các công ty sáp nhập theo chiều dọc có quan hệ người mua - người bán với nhau M&A theo chiều dọc được chia thành hai phân nhóm:
(a) Sáp nhập về phía trước (Forward merger) khi một công ty mua lại công ty khách hàng của mình Sáp nhập về phía trước diễn ra khi một nhà cung cấp nguyên vật liệu hoặc thành phẩm tìm được công ty mua sản phẩm của mình một cách thường xuyên Ví dụ, công ty may mặc mua lại chuỗi cửa hàng bán lẻ quần áo;
(b) Sáp nhập về phía sau (Backward merger) khi một công ty mua lại nhà cung cấp của mình Sáp nhập về phía sau diễn ra khi một nhà sản xuất tìm được nhà cung cấp nguyên vật liệu với chi phí thấp, chẳng hạn như công
ty sản xuất sữa mua lại công ty bao bì, đóng chai hoặc công ty chăn nuôi
bò sữa
Sáp nhập theo chiều dọc có thể đem lại những lợi ích sau:
- Tiết giảm được các chi phí cố định như chi phí đốt nóng, lưu kho, vận chuyển
- Tiết kiệm các chi phí giao dịch (Chi phí mềm) như chi phí tìm kiếm đối tác
có giá cả hợp lý, chi phí thương thảo giao kết hợp đồng, thu tiền thanh toán,
Trang 20thông tin liên lạc, quảng cáo, phối hợp thực hiện
- Truyền đạt thông tin thông suốt và hiệu quả hơn, hoạch định hàng tồn kho chính xác hơn
Tuy nhiên, xét trong một chừng mực nào đó, sáp nhập theo chiều dọc tạo ra những rào cản gia nhập ngành, tạo yếu tố tiêu cực trong cạnh tranh Do đó, các thị trường phát triển cũng có những quy định điều tiết hoạt động sáp nhập theo chiều dọc này
Sáp nhập và mua lại hình thành tập đoàn (Conglomerate merger)
Là trường hợp xảy ra đối với các công ty hoạt động ở các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh không liên quan tới nhau, không có quan hệ người mua kẻ bán và cũng chẳng phải là đối thủ cạnh tranh của nhau Nói cách khác nếu một thương vụ M&A không rơi vào hai trường hợp trên thì đó là M&A hình thành tập đoàn M&A hình thành tập đoàn rất phổ biến vào thập niên 60, khi các luật chống độc quyền ngăn cản các công ty có ý định thực hiện M&A theo chiều ngang hay chiều dọc, bởi vì M&A hình thành tập đoàn không ảnh hưởng lập tức đến mức độ tập trung của thị trường Sáp nhập và mua lại hình thành tập đoàn còn gọi là sáp nhập tổ hợp
Những công ty theo đuổi chiến lược đa dạng hóa các dãy sản phẩm sẽ lựa chọn chiến lược liên kết thành lập tập đoàn Lý do thật đơn giản: nếu một công ty tham gia vào nhiều lĩnh vực sản xuất, họ khó có thể cùng lúc đáp ứng được các yêu cầu về một số chức năng quản trị nghiên cứu, kỹ thuật ứng dụng, sản xuất, marketing… Thay vì vậy, công ty này có thể sáp nhập với một công ty đang hoạt động trong lĩnh vực muốn nhắm đến để thông qua công ty bị sáp nhập xâm nhập vào thị trường đó
M&A hình thành tập đoàn được phân thành 3 nhóm:
(a) M&A tổ hợp thuần túy: hai bên không hề có mối quan hệ nào với nhau, như một công ty thiết bị y tế mua công ty thời trang;
(b) M&A bành trướng về địa lý: hai công ty sản xuất cùng một loại sản phẩm nhưng tiêu thụ trên hai thị trường hoàn toàn cách biệt về địa lý, chẳng hạn
Trang 21một tiệm ăn ở Hà Nội mua một tiệm ăn ở Singapore;
(c) M&A đa dạng hóa sản phẩm: mở rộng dãy sản phẩm của công ty, qua đó tạo ra danh mục gồm các sản phẩm phụ bao quanh các sản phẩm cốt lõi
Về mặt ưu điểm, sáp nhập tổ hợp giúp giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa, chi phí gia nhập thị trường mới được tiết kiệm đáng kể, lợi nhuận gia tăng nhờ tìm được những cơ hội phát triển mới Mặt khác, sáp nhập hình thành tập đoàn cũng có một số hạn chế như các công ty sáp nhập tổ hợp phải đối mặt với rủi ro gia tăng quy mô nhưng không đạt được tính kinh tế (tiết kiệm chi phí hoạt động), rủi ro gia nhập thị trường mới, có thể làm tăng chi phí quản lý
2.1.2.2 Dựa vào phạm vi lãnh thổ:
M&A được phân thành 2 loại:
Sáp nhập và mua lại trong nước (Dosmetic merger)
Đây là những thương vụ M&A giữa các công ty trong cùng lãnh thổ một quốc gia
Sáp nhập và mua lại xuyên biên (Cross - border merger)
Được thực hiện giữa các công ty thuộc hai quốc gia khác nhau, là một trong những hình thức đầu tư trực tiếp phổ biến nhất hiện nay Trong những năm gần đây, làn sóng toàn cầu hóa đã dần xóa bỏ biên giới kinh doanh của các công ty đa quốc gia, khiến cho xu hướng M&A xuyên biên ngày càng trở thành một phần tất yếu của bức tranh toàn cảnh nền kinh tế thế giới
2.1.2.3 Dựa trên chiến lược mua lại công ty
Mua lại công ty thông qua con đường thương lượng (Friendly takeover)
Khi có ý định mua lại “thân thiện”, công ty mua lại đặt vấn đề chào mua trực tiếp với ban giám đốc và hội đồng quản trị của công ty mục tiêu và nếu mọi việc diễn tiến tốt đẹp, họ sẽ đạt được mục đích thông qua quá trình thương lượng, thống nhất giữa hai bên
Trang 22 Mua lại có ý đồ thôn tính (Hostile takeover)
Mua lại có ý đồ thôn tính diễn ra khi một công ty bằng mọi cách mua lại công ty khác cho dù công ty mục tiêu có thích hoặc đồng tình hay không Hành động thôn tính này thường được thực hiện thông qua việc âm thầm mua lại các cổ phiếu của hội đồng quản trị để cuối cùng đạt được tỷ lệ sở hữu đa số và nắm quyền kiểm soát công ty Điều này cũng không dễ thực hiện trừ phi cổ phần của công ty mục tiêu được sở hữu rộng rãi
và dễ mua lại (Tính thanh khoản cao) Mua lại với ý đồ thôn tính được coi là hành động
“cướp công ty” (Corporate raid)
2.1.2.4 Dựa trên phương pháp tiến hành tài trợ (bằng nợ hoặc vốn tự có)
Mua công ty sử dụng đòn cân nợ (Leveraged Buyouts – LBOs)
LBOs diễn ra khi có một công ty vay nợ (lên từ 90% đến 100% giá trị thương vụ) để đi mua một công ty mục tiêu Cách thức phổ biến là công ty mua lại sẽ sử dụng phương thức vay ứng trước (Prepayable bank facilities), đồng thời phát hành trái phiếu
ra công chúng hoặc cho một số cá nhân để vay tiền (loại trái phiếu này được xếp vào dạng trái phiếu có lãi suất cao và mang tính rủi ro cũng rất cao) Thông thường, công ty
đi mua sẽ sử dụng tài sản của mình để thế chấp và sử dụng dòng ngân lưu tự do của công ty mục tiêu như nguồn hoàn trả các khoản nợ Cuối cùng, công ty đi mua bán công
ty mục tiêu cho công ty khác dưới hình thức phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng IPO (Initial Public Offering) hoặc trả lãi cho chính mình nếu tiếp tục tài trợ
Những người ủng hộ LBOs cho rằng hình thức này giúp các công ty mục tiêu sử dụng các nguồn lực của mình có hiệu quả hơn Tuy nhiên, những người phản đối LBOs thì lại cho rằng hình thức này phá hủy giá trị (của công ty mục tiêu) và đem đến những khó khăn kinh tế nghiêm trọng cho một quốc gia bằng cách gây ra sự đổ vỡ hàng loạt các công ty trong nền kinh tế
Mua công ty sử dụng vốn chủ sở hữu ( Management Buyouts – MBOs)
MBOs là trường hợp mua lại đặc biệt, xảy ra khi các giám đốc của một công ty mua lại phần lớn cổ phiếu công ty từ những người chủ thực sự để chuyển từ vị trí quản
Trang 23trị “ làm công ăn lương” sang vị trí trực tiếp làm chủ doanh nghiệp Mục đích của việc mua lại này có thể là để gia tăng khả năng kiểm soát công ty, củng cố lợi ích cá nhân trong niềm tin vào tương lai xán lạn của công ty Đa số trường hợp, sau khi thực hiện MBOs, ban quản trị sẽ biến công ty cổ phần thành công ty tư nhân MBOs đóng vai trò quan trọng trong việc tái cấu trúc công ty
2.1.2.5 Các cách phân loại khác
Sáp nhập trong cùng thị trường (In-market merger)
Công ty sáp nhập và công ty mục tiêu hoạt động kinh doanh trên các thị trường địa lý giống nhau Việc xóa bỏ sự trùng lắp trong bộ máy tổ chức và hoạt động chức năng giữa hai công ty cho phép tiết kiệm đáng kể chi phí hoạt động và tổng chi phí
Sáp nhập mở rộng thị trường (Market-extensions merger)
Sáp nhập diễn ra giữa các công ty hoạt động trên các thị trường khác biệt, không trùng nhau Hình thức sáp nhập này không quá chú trọng đến những cơ hội giảm chi phí
mà nhắm đến nhiều hơn là những cơ hội thâm nhập các thị trường mới, đa dạng hóa nguồn thu nhập, và tăng doanh thu
Ngoài các chiến lược mua lại đã liệt kê trên, hoạt động M&A còn diễn ra dưới các hình thức:
- Một công ty nhỏ mua lại một công ty lớn hơn
- Một công ty tư nhân “mua lại” công ty cổ phần
- Sáp nhập tăng thêm EPS (Accretive mergers): Đây là hình thức một công
ty có P/E cao sáp nhập với một công ty có P/E thấp và tạo ra một công ty mới có EPS tăng cao
- Sáp nhập làm giảm EPS (Delulive merger): Đây là hình thức một công ty
có P/E thấp sáp nhập với một công ty có EPS cao và tạo ra một công ty mới có EPS thấp hơn
2.1.3 Các phương thức thực hiện sáp nhập, mua lại
Trong trường hợp M&A theo tính chất “thân thiện” thì việc xử lý các vấn đề
Trang 24xác định giá trị chuyển nhượng, phương thức thanh toán, chia nhập cổ phiếu, tài sản, thương hiệu, cơ cấu tổ chức của công ty mục tiêu hậu sáp nhập hoặc mua lại là nội dung hoàn toàn nằm trong phạm vi thỏa thuận giữa các bên liên quan, được thể hiện trên hợp đồng chuyển nhượng công ty đó C á c thỏa thuận này mang tính chất chuyên biệt hóa đậm nét và sẽ là căn cứ cao nhất để xử lý tất cả các vấn đề liên quan hậu chuyển đổi, với điều kiện chỉ cần không vi phạm các quy định pháp luật về công ty, cạnh tranh và thuế của nước được chọn áp dụng luật Trong trường hợp M&A mang tính chất “thù địch”, “thôn tính” ban quản trị và điều hành của công ty mục tiêu ít có sự lựa chọn và quyền quyết định trong các vấn đề hậu sáp nhập nói trên
Do đó, cách thức thực hiện sáp nhập và mua lại cũng rất đa dạng tùy thuộc vào mục tiêu, đặc điểm quản trị, cấu trúc sở hữu và ưu thế so sánh của các công ty liên quan trong từng trường hợp cụ thể Có thể tổng hợp một số cách thức phổ biến thường được sử dụng sau:
2.1.3.1 Chào thầu (Tender offer)
Công ty sáp nhập, đi mua có ý định mua đứt toàn bộ công ty mục tiêu sẽ đề nghị cổ đông hiện hữu của công ty đó bán lại cổ phần của họ với một mức giá cao hơn thị trường rất nhiều Giá chào thầu đó phải đủ hấp dẫn để đa số cổ đông tán thành việc từ bỏ quyền sở hữu cũng như quản lý công ty của mình Ví dụ như công ty A đưa ra mức giá 65 USD/cổ phần của công ty B trong khi giá của cổ phiếu đó trên thị trường chỉ là 55 USD Nếu công ty B có 70 triệu cổ phần thì có nghĩa công ty A đã trả 4.550 triệu USD (So với thị giá 3.850 triệu USD - chênh lệch 700 triệu USD) để mua lại toàn bộ công ty B Nếu cổ đông của công ty B thấy mức giá đó hấp dẫn, theo luật pháp của nhiều nước, họ phải tiến hành họp đại hội đồng cổ đông và tại đó quyết định bán toàn bộ cổ phần của mình cho công ty A để nhận một lượng giá trị tiền mặt tương ứng Công ty A sau khi nắm giữ sở hữu, có thể cơ cấu lại công ty B và bán dần cổ phần của công ty này lại cho công chúng
Hình thức đặt giá chào thầu này thường được áp dụng trong các vụ thôn tính
Trang 25mang tính thù địch đối thủ cạnh tranh Công ty bị mua thường là công ty yếu hơn Tuy vậy, vẫn có một số trường hợp một công ty nhỏ “nuốt” được một đối thủ nặng ký hơn, đó là khi họ huy động được nguồn tài chính khổng lồ từ bên ngoài để thực hiện được vụ thôn tính
Các công ty thực hiện thôn tính theo hình thức này thường huy động nguồn tiền mặt bằng cách:
và cổ đông của công ty mục tiêu, trong khi ban quản trị (thường chỉ là người đại diện
do đó trực tiếp nắm không đủ số lượng cổ phần chi phối) bị gạt ra bên ngoài Thông thường, ban quản trị và các vị trí quản lý chủ chốt của công ty mục tiêu sẽ bị thay thế, mặc dù thương hiệu và cơ cấu tổ chức của nó vẫn có thể được giữ lại mà không nhất thiết bị sáp nhập hoàn toàn vào công ty thôn tính Để chống lại vụ sáp nhập bất lợi cho mình, ban quản trị công ty mục tiêu có thể “chiến đấu” lại bằng cách tìm kiếm sự trợ giúp hoặc bảo lãnh tài chính mạnh hơn, để có thể đưa ra mức giá chào thầu cổ phần cao hơn nữa cổ phần của các cổ đông hiện hữu đang ngã lòng
2.1.3.2 Lôi kéo cổ đông bất mãn (Proxy fights)
Thường được sử dụng trong các vụ “thôn tính mang tính thù địch” Khi lâm vào tình trạng kinh doanh yếu kém và thua lỗ, luôn có một bộ phận không nhỏ
cổ đông bất mãn muốn thay đổi ban quản trị và điều hành công ty mình Công ty cạnh tranh có thể lợi dụng tình cảnh này để lôi kéo bộ phận cổ đông đó Trước tiên, thông qua thị trường, họ sẽ mua một số lượng cổ phần tương đối lớn (Nhưng chưa đủ
để chi phối) cổ phiếu trên thị trường để trở thành cổ đông của công ty mục tiêu Sau
Trang 26khi đã nhận được sự ủng hộ, họ và các cổ đông bất mãn sẽ triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông, hội đủ số lượng cổ phần chi phối để loại ban quản trị cũ và bầu đại diện của bên thôn tính vào Hội đồng quản trị mới
Cảnh giác với hình thức thôn tính này, ban quản trị của công ty mục tiêu có thể sắp đặt các nhiệm kỳ của ban điều hành và ban quản trị xen kẽ nhau ngay từ trong điều lệ công ty Bởi vì mục đích cuối cùng của công ty thôn tính và các cổ đông bất mãn là thay đổi ban điều hành
2.1.3.3 Thương lượng tự nguyện với ban quản trị và điều hành
Đây là hình thức phổ biến trong các vụ sáp nhập, mua lại “thân thiện” Nếu
cả hai công ty nhận sáp nhập và công ty mục tiêu đều nhận thấy lợi ích chung tiềm tàng trong một vụ sáp nhập và những điểm tương đồng giữa các công ty (Về văn hóa tổ chức, hoặc thị phần, sản phẩm ), người điều hành sẽ xúc tiến để ban quản trị của hai công ty ngồi lại và thương thảo cho một hợp đồng sáp nhập, mua lại
Có không ít trường hợp, chủ sở hữu các công ty nhỏ, thua lỗ hoặc yếu thế trong cuộc cạnh tranh tìm cách rút lui bằng cách bán lại, hoặc tự tìm đến các công ty lớn hơn để đề nghị được sáp nhập hòng lật ngược tình thế của công ty mình trên thị trường
2.1.3.4 Thu gom cổ phiếu trên thị trường chứng khoán
Công ty có ý định sáp nhập, mua lại sẽ giải ngân để gom dần cổ phiếu của công ty mục tiêu thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán, hoặc mua lại của các cổ đông chiến lược hiện hữu Phương án này đòi hỏi thời gian, đồng thời nếu
để lộ ý đồ, giá của cổ phiếu đó có thể tăng vọt trên thị trường Ngược lại, cách thâu tóm này nếu được thực hiện dần dần và trôi chảy, có thể đạt được mục đích cuối cùng của mình một cách êm thấm, không gây xáo động lớn cho “con mồi” của mình, trong khi chỉ cần trả một mức giá rẻ hơn so với hình thức chào thầu rất nhiều
2.1.3.5 Mua lại tài sản công ty
Công ty sáp nhập, đi mua có thể đơn phương hoặc cùng công ty mục tiêu
Trang 27định giá tài sản của công ty đó (họ thường thuê một công ty tư vấn chuyên định giá tài sản độc lập) Sau đó các bên sẽ tiến hành thương thảo để đưa ra mức giá phù hợp (có thể cao hoặc thấp hơn) Phương thức thanh toán có thể bằng tiền mặt và nợ Điểm hạn chế của phương thức này là các tài sản vô hình như thương hiệu, thị phần, bạn hàng, nhân sự, văn hóa tổ chức rất khó được định giá và được các bên thống nhất
2.1.4 Động cơ thực hiện sáp nhập và thâu tóm
Làn sóng sáp nhập và mua lại đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới, không chỉ diễn ra ở trong nước mà còn có các cuộc sáp nhập xuyên biên Điều đó, càng khẳng định những tác động tích cực của hoạt động này Động cơ của hoạt động này rất đa dạng, sau đây là một số động cơ thường gặp:
2.1.4.1 Hợp lực thay cạnh tranh
Hoạt động mua bán sáp nhập diễn ra tất yếu sẽ giảm đi các số lượng người chơi vốn dĩ là các đối thủ cạnh tranh của nhau trên thương trường cũng có nghĩa sức nóng cạnh tranh không những giữa các bên liên quan mà cả thị trường nói chung sẽ được hạ nhiệt Hơn nữa, tư duy cùng thắng (win - win) đang ngày càng chiếm ưu thế đối với tư duy cũ thắng - thua (win - lose)
Trong một thương vụ M&A thành công, giá trị của tổ chức sau kết hợp thường lớn hơn tổng giá trị của từng công ty khi hoạt động riêng lẻ Trong đó, F(A) là giá trị của Công ty A; F(B) là giá trị của công ty B, F(A+B) là giá trị của công ty A và B sau khi sáp nhập Giá trị cộng hưởng là giá trị tăng thêm tạo ra khi kết hợp hai công ty:
Giá trị cộng hưởng = F(A + B) – [F(A) + F(B)]
2.1.4.2 Nâng cao hiệu quả
Nâng cao năng lực tài chính: thông qua M&A, các công ty có thể tăng vốn chủ sở hữu, giảm chi phí đi vay, chủ động nguồn vốn cho các dự án đầu tư, tạo lòng tin cho các chủ nợ chi phí huy động vốn sẽ giảm
Nâng cao hiệu quả nhờ quy mô khi nhân đôi thị phần, giảm chi phí cố định,
Trang 28chi phí nhân công, hậu cần, phân phối do loại trừ các yếu tố trùng lắp Các công ty còn có thể bổ sung cho nhau về nguồn lực (Đầu ra) và các thế mạnh khác của nhau như thương hiệu, thông tin, bí quyết, dây chuyền công nghệ, cơ sở khách hàng, hay tận dụng những tài sản mà mỗi công ty chưa sử dụng hết giá trị (Chẳng hạn một công ty chứng khoán sáp nhập với một ngân hàng) nhờ đó mà chất lượng sản phẩm được nâng cao Ngoài ra, còn có trường hợp công ty thực hiện M&A với một công
ty đang thua lỗ nhằm mục đích trốn thuế cho phần lợi nhuận của bản thân
Nâng cao hiệu quả nhờ sự năng động, tăng tính linh hoạt, phản ứng nhanh với những thay đổi của thị trường do đa dạng hóa danh mục đầu tư, phân tán rủi ro nhờ đa dạng hóa sản phẩm, nắm bắt thông tin tốt nhờ có mối quan hệ rộng rãi và nắm nhu cầu thị trường tốt, hạn chế bất lợi về thông tin không cân xứng
2.1.4.3 Tham vọng bành trướng tổ chức và tập trung quyền lực thị trường
Các công ty đã thành công thường nuôi tham vọng rất lớn trong việc phát triển tổ chức của mình ngày một lớn mạnh và thống trị không những trong phân khúc và dòng sản phẩm hiện tại mà còn lan sang cả những lĩnh vực khác Hoạt động sáp nhập này là công cụ để các nhà quản lý thu mua gia tăng quyền lực và thu nhập Điều này khiến nhiều khi đưa ra những quyết định sáp nhập và mua lại không cần thiết gây lãng phí và không hiệu quả
2.1.4.4 Giảm chi phí gia nhập thị trường
Ở những thị trường có sự điều tiết mạnh của chính phủ, việc gia nhập thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải đáp ứng nhiều điều kiện khắt khe, hoặc chỉ thuận lợi trong một giai đoạn nhất định, thì những công ty đến sau chỉ có thể gia nhập thị trường đó thông qua thâu tóm những công ty đã hoạt động trên thị trường Điều này rất phổ biến đối với đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, đặc biệt là ngành ngân hàng, tài chính, bảo hiểm
Hơn nữa, không những tránh được các rào cản về thủ tục để đăng ký thành lập (Vốn pháp định, giấy phép), bên mua lại còn giảm được cho mình chi phí và
Trang 29rủi ro trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất và cơ sở khách hàng ban đầu Nếu sáp nhập một công ty đang ở thế yếu trên thị trường, những lợi ích này còn lớn hơn giá trị vụ chuyển nhượng, và chứng minh quyết định gia nhập thị trường theo cách này của người “đến sau” là một quyết định đúng đắn Trong một số trường hợp mục đích chính của người thực hiện M&A không chỉ là gia nhập thị trường mà còn nhằm mua lại một ý tưởng kinh doanh có nhiều triển vọng
2.1.4.5 Chiến lược đa dạng hóa và dịch chuyển trong chuỗi giá trị
Nhiều công ty chủ động thực hiện M&A để hiện thực hóa chiến lược đa dạng hóa sản phẩm hoặc mở rộng thị trường của mình Khi thực hiện chiến lược này, công ty sẽ xây dựng được cho mình một danh mục đầu tư cân bằng hơn nhằm tránh rủi ro phi hệ thống
2.1.5 Rủi ro và những cạm bẫy trong M&A
2.1.5.1 Những rủi ro trong M&A
Tác động xấu đến sự phát triển của nền kinh tế:
- Không phải hoạt động M&A nào cũng làm gia tăng năng lực sản suất và giá trị thị trường, hoạt động M&A tràn lan không suy tính kỹ càng, không
có chiến lược quản lý hiệu quả có thể là con đường dẫn đến sự phá sản, gây
ra những hoang mang, sự suy sụp cho ngành nghề lĩnh vực mà nó tham gia
- Mặc dù M&A xuyên quốc gia cũng là một hình thức đầu tư FDI, nhưng M&A không phải là đầu tư xây dựng mới, do đó không những không tạo
ra thêm công việc, nghề nghiệp, trái lại còn tinh giản bộ máy hoạt động, đôi khi còn thay đổi cơ cấu, đào thải những lao động không phù hợp, chính vì vậy làm tăng gánh nặng quản lý của Nhà nước
- Hoạt động M&A đã tạo ra sân chơi không công bằng cho các doanh nghiệp nhỏ, thông qua M&A các công ty lớn, công ty đa quốc gia có thể thao túng dễ dàng một thị trường nào đó, làm gia tăng tính độc quyền Đặc biệt với hình thức thao túng cổ phần sẽ là nỗi lo âu của các doanh nghiệp
Trang 30vốn cổ phần còn thấp
- Hoạt động M&A còn mang một nguy cơ tiềm tàng rất nguy hiểm, một nền kinh tế có được động lực tăng trưởng, phát triển không phải nhờ vào
sự đóng góp của những công ty, tổ chức lớn, mà đấy chính là nhờ vào
sự năng động của những doanh nghiệp vừa và nhỏ với sự quản lý của những cá nhân ít tên tuổi muốn khẳng định mình Chính hoạt động M&A
sẽ giết đi những cá nhân và công ty đó, làm mất đi động lực, sức sáng tạo của quá trình phát triển kinh tế Đặc biệt đối với những quốc gia đang phát triển, hoạt động M&A sẽ triệt tiêu nội lực phát triển của những quốc gia này và biến chúng trở thành cái bóng theo sự quản lý cho những quốc gia giàu có
Tác động bất lợi đến hoạt động của các doanh nghiệp:
- M&A trong nhiều trường hợp sẽ làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường khi những doanh nghiệp sau sáp nhập có vị trí thống lĩnh trên thị trường
- M&A thường tạo ra các vấn đề xã hội liên quan đến việc người lao động bị dôi dư do cơ cấu lại hoạt động doanh nghiệp
- Bên mua lại có thể đánh giá công ty được mua với giá quá cao, thường là
do họ qua lạc quan về lợi ích do sự cộng hợp giữa công ty đi mua và công
ty được mua
- Sự khác biệt về văn hóa tổ chức và cách vận hành sẽ tạo ra sự mâu thuẫn dẫn đến tính hiệu quả kinh tế thấp
2.1.5.2 Những cạm bẫy trong M&A
Nền kinh tế phát triển đã sinh ra cạnh tranh thương mại và hoạt động M&A
ra đời như là một xu thế tất yếu, nhưng cũng chính M&A đã thúc đẩy quá trình cạnh tranh trở nên khốc liệt hơn Các tổ chức, công ty sử dụng M&A để đạt được những mục đích của mình, nhưng không phải ai cũng hài lòng với những kết quả đó, bản thân M&A có những rủi ro, cạm bẫy mà nếu không cẩn thận thì cả bên bán, bên
Trang 31mua đều có thể mắc phải Có thể kể ra sáu cạm bẫy phổ biến:
Thứ nhất, cảnh giác với người sáp nhập ngang hàng: Quá trình sáp nhập giữa các công ty ngang hàng nhau thường kéo dài và có lúc bị trì hoãn xuất phát từ chính câu hỏi tại sao nên chấp nhận các hành động, chính sách, hay con người của công ty đó?
Thứ hai, sự tương thích văn hoá giữa hai công ty là quan trọng không kém
sự tương thích chiến lược, nếu không muốn nói là quan trọng hơn
Thứ ba, đừng để rơi vào tình thế đảo ngược: Đôi lúc, các công ty mua lại thực
sự muốn một công ty nào đó và cứ thế bắt đầu nhượng bộ Và đến khi các thoả thuận được hoàn tất, công ty bị mua lại bỗng nhiên có nhiều lợi ích và quyền hạn
Thứ tư, đừng lo ngại: Khi tiến hành sáp nhập hay hợp nhất, tính dũng cảm trở nên hết sức quan trọng Lý tưởng nhất, quy trình M&A nên hoàn thành vào thời điểm đóng cửa công ty và kéo dài thêm khoảng 90 ngày sau đó Còn bằng không, sự không chắc chắn có thể dẫn tới nỗi lo lắng, hay tệ hại hơn là
sợ hãi Cả hai rốt cục hủy hoại tinh thần và các hoạt động
Thứ năm, đừng rơi vào “hội chứng người đi xâm chiếm”: Bằng việc lấn sâu vào lãnh thổ mới và bố trí người của bạn ở khắp mọi nơi Sẽ làm môi trường làm việc của công ty mới bị thay đổi, những nhân viên quen việc cùng tinh thần làm việc thoải mái của họ là điều quan trọng nhất
Thứ sáu, đừng trả quá nhiều tiền: Chúng ta không nói đến con số 5% tiền tăng thêm, bởi vì nó sẽ được làm tròn khi thoả thuận đạt được Vấn đề nằm ở con số 20% hay 30% vượt quá so với khoản tiền M&A hợp lý Thủ phạm chính là
“sức nóng của giao dịch” (Deal heat) - Các thoả thuận chịu nhiều sức ép lớn khi phải cạnh tranh với nhiều đối thủ khác cũng rất muốn mua lại
Trang 322.2 Các nghiên cứu liên quan đến vấn đề Thâu tóm - Sáp nhập
Mặc dù các hoạt động M&A đã xuất hiện cách đây 120 năm nhưng các hoạt động M&A ở Việt Nam chỉ mới bắt đầu trong gần hai thập niên qua (từ năm 1990) Do
đó, số lượng các thương vụ M&A, dữ liệu về lịch sử, kinh nghiệm và số liệu về M&A
ở Việt Nam còn hạn chế
Các nghiên cứu liên quan đến vấn đề Thâu tóm – Sáp nhập ở Việt Nam cũng chỉ mới bắt đầu từ vài năm gần đây (nghiên cứu về M&A của ngành ngân hàng chỉ mới có khoảng 4-5 nghiên cứu)
Một số đề tài và bài viết về tình hình Thâu tóm – Sáp nhập liên quan đến ngành tài chính ngân hàng ở Việt Nam như sau:
Đề tài “Hợp nhất - thâu tóm doanh nghiệp dưới góc nhìn tài chính”, Huỳnh Thị Cẩm Hà, 2008;
Đề tài “Giải pháp thúc đẩy hoạt động sáp nhập và mua lại ngân hàng theo định hướng hình thành tập đoàn tài chính ngân hàng tại Việt Nam”, Trần Ái Phương, 2008;
Đề tài “Thâu tóm và sáp nhập – Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt nam thời kỳ hội nhập”, Phạm Đức Nguyện, 2008;
Bài viết “Thâu tóm và hợp nhất từ khía cạnh quản trị công ty: lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam”, Trần Đình Cung và Lưu Minh Đức, Ban Nghiên cứu Chính sách kinh tế Vĩ Mô - Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương;
Bài viết “Đổi thương hiệu sau sáp nhập và mua lại trong ngành ngân hàng”, Lưu Trọng Tuấn, 2009;
Bài viết “Sáp nhập và mua lại các công ty chứng khoán: Cơ hội cho cả đôi bên”,
TS Phạm Trí Hùng, Công ty Luật Indochine Counsel
Trang 33Riêng đối với các nghiên cứu về động cơ, lợi ích và trở ngại trong ngành ngân hàng, tác giả chưa thu thập được nên không tổng hợp, so sánh và đưa ra các ý kiến được
Trang 34CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG THÂU TÓM SÁP NHẬP
NGÀNH NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
3.1 Sơ lược về ngành ngân hàng Việt Nam:
Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam có thể được xếp vào hàng ngũ hệ thống ngân hàng non trẻ nhất thế giới Lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam chỉ bắt đầu tạo dấu ấn rõ nét trong hai thập niên trở lại đây khi đất nước bắt đầu bước vào thời kỳ “Đổi mới và mở cửa” vào đầu thập niên 1990
Trước năm 1990, hệ thống ngân hàng Việt Nam là hệ thống một cấp, ngân hàng Nhà nước đóng vai trò vừa là ngân hàng Trung ương vừa là ngân hàng thương mại
Sau năm 1990, với các pháp lệnh Ngân hàng ra đời, cơ chế hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam chuyển từ một cấp sang hai cấp
Thời kỳ 1992-1997 là thời kỳ phát triển nhanh chóng của các ngân hàng quốc doanh cùng với sự ra đời của đông đảo các ngân hàng cổ phần, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam Đây là thời kỳ hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã bước vào giai đoạn tăng trưởng, đáp ứng nhu cầu phát triển của khu vực kinh
tế tư nhân đang bắt đầu khởi động mạnh mẽ
Năm 1997 là năm cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á bùng phát Tuy nhiên, nó lại có một hệ quả tích cực đối với các ngân hàng Việt Nam đang trên bờ vực mất khả năng thanh toán đối ngoại Mặc dù vậy, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã phải
đi vào một giai đoạn thoái trào
Sự suy yếu của hệ thống ngân hàng sau năm 1997 có thể là một trong những nguyên nhân của tình hình suy giảm kinh tế Việt Nam từ thời điểm đó cho đến sau năm
2000 và ngược lại tình hình suy giảm kinh tế lúc đó cũng đã làm chậm đi tốc độ tăng trưởng của hệ thống ngân hàng
Sau năm 2000, hệ thống ngân hàng Việt Nam bắt đầu hồi phục và phát triển
Trang 35Trong thời gian 05 năm, từ 2004 đến 2008, các ngân hàng Việt Nam ăn nên làm
ra và phát triển với tốc độ chóng mặt Tổng tài sản Có tăng mạnh, đương nhiên là tổng
dư Nợ cũng tăng mạnh không kém, lợi nhuận tăng và vốn tăng Từ năm 2005, giá trị cổ phiếu ngân hàng tăng nhanh nhất trong các loại cổ phiếu doanh nghiệp, dù là cổ phiếu đăng kí trên thị trường chứng khoán chính thức hay OTC Có những ngân hàng vào năm 2000 giá cổ phiếu chỉ còn phân nửa mệnh giá nay đã tăng vọt lên gấp 10 lần, thậm chí có những ngân hàng giá cổ phiếu tăng đến trên 20 lần Điều nay tạo giá trị ảo cho
hệ thống ngân hàng tại Việt Nam, nguy cơ tiềm ẩn về tài chính lơ lửng trên đầu các ngân hàng ở Việt Nam
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu ập đến trong những tháng còn lại của năm
2008 có thể được xem là một vị cứu tinh của hệ thống ngân hàng Việt Nam Tình hình trở nên dễ thở hơn khi chính sách tiền tệ đảo chiều, lãi suất sụt giảm, thanh khoản trở nên dồi dào hơn khi Ngân hàng Nhà nước nới lỏng các biện pháp tiền tệ thắt chặt và gói kích cầu hỗ trợ lãi suất trở thành một liều thuốc tốt cho các ngân hàng Việt Nam, quốc doanh cũng như cổ phần
Hiện tại ở Việt Nam có 89 ngân hàng (39 ngân hàng thương mại cổ phần, 04 ngân hàng quốc doanh, 41 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 05 ngân hàng liên doanh),
29 công ty tài chính và cho thuê tài chính, 915 hợp tác xã tín dụng và quỹ tín dụng nhân dân với chức năng huy động tiền gửi, cho vay, tài trợ vốn như ngân hàng
Bảng 3.1: Số lượng ngân hàng qua các năm từ 1991 đến năm 2009
Trang 36Tổng vốn điều lệ của các Tổ chức tín dụng Việt Nam đến thời gian gần đây tương đương khoảng 6,5 tỉ USD Hiện còn 24 Ngân hàng thương mại cổ phần có vốn điều lệ dưới 3.000 tỉ đồng/ngân hàng (dưới 156 triệu USD)
Trong khối ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng ngoại thương Việt Nam
và ngân hàng công thương Việt Nam là 02 ngân hàng thương mại Nhà nước chuyển sang thành ngân hàng thương mại cổ phần Hai ngân hàng này cũng là 02 ngân hàng có quy mô lớn nhất trong khối ngân hàng thương mại cổ phần Các ngân hàng như: ngân hàng Kỹ thương Việt Nam, ngân hàng thương mại Á Châu, ngân hàng Sài Gòn Thương tín, ngân hàng Xuất nhập khẩu là những ngân hàng thương mại cổ phần có hiệu quả hoạt động tốt nhất Ngân hàng công thương Việt Nam là ngân hàng có mức vốn điều lệ lớn nhất trong số các ngân hàng thương mại cổ phần với 17.758 tỷ đồng (Số liệu tháng 6/2010)
3.2 Tình hình Thâu tóm - Sáp nhập trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam
3.2.1 Tổng quan về tình hình Thâu tóm - Sáp nhập tại Việt Nam
Thị trường M&A Việt Nam bắt đầu khởi động từ năm 1990 với thương vụ đầu tiên là Công ty Heineken (Hà Lan) thâu tóm cổ phần của Nhà máy bia Việt Nam Trải qua gần 20 năm, hoạt động của thị trường M&A Việt Nam diễn ra với khá nhiều thăng trầm theo sự phát triển kinh tế của Việt Nam và các biến cố lớn của nền kinh tế thế giới Các thương vụ M&A ở Việt Nam rất đa dạng theo ngành, xảy ra ở hầu hết các lãnh vực kinh tế
Theo số liệu thống kê của PricewaterhouseCoopers (PwC) thì từ ngày 01/11/1990 tới ngày 14/5/2009, thị trường M&A tại Việt Nam có tất cả 757 thương vụ (bao gồm các thương vụ thành công và không thành công, trong đó có 353 thương vụ
đã hoàn tất)
Trước năm 2000, số lượng các thương vụ M&A khá ít với 95 thương vụ, tập trung nhiều nhất là từ năm 1997 - 1999 Đây cũng là thời kỳ diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á, lý giải số lượng thương vụ M&A trước năm 2000 tập trung
Trang 37vào thời kỳ này – Các công ty bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng nên phá sản hoặc bị thâu tóm Sau năm 2000, các công ty và doanh nghiệp ở Việt Nam hồi phục và phát triển trở lại Năm 2000 cũng là năm số lượng thương vụ M&A tăng vọt với 61 thương
vụ do dư âm kéo dài của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á
Từ năm 2003 đến năm 2009, hoạt động M&A tại Việt Nam phát triển khá nhanh chóng về số lượng và giá trị các thương vụ theo bảng dưới đây:
Bảng 3.2: Số lượng và giá trị các thương vụ M&A ở Việt Nam từ 2003 - 2009
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Giá trị (triệu USD) 118 34 61 299 1.719 1.117 1.138
Nguồn: Thomson Reuters, PricewaterhouseCoopers research
Nhìn chung, hoạt động M&A ở Việt Nam tăng tiến cả về số lượng thương vụ và giá trị từ năm 2005 đến năm 2009 nhưng các thương vụ nổi trội vẫn chưa xuất hiện Các ngành hoạt động M&A diễn ra sôi nổi nhất là 05 ngành: ngành công nghiệp, ngành năng lượng, ngành tài chính, ngành nguyên vật liệu và ngành hàng tiêu dùng
Giá trị của các thương vụ M&A thường dưới 10 triệu USD, số lượng các thương
vụ có giá trị từ 50 triệu USD chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (dưới 5%) trong tổng số lượng các thương vụ Các thương vụ có giá trị lớn nằm ở các ngành tài chính, năng lượng, hàng tiêu dùng (tập trung ở nhóm ngành giải khát)
Trong các thương vụ có giá trị cao, các công ty đi mua thường là các tổ chức, công ty nước ngoài Đối với hầu hết các thương vụ có giá trị thấp (dưới 10 triệu USD), các công ty đi mua thường là các công ty trong nước cùng ngành với công ty mục tiêu
3.2.2 Tình hình Thâu tóm - Sáp nhập ngành ngân hàng ở Việt Nam
3.2.2.1 Thực tiễn hoạt động Thâu tóm - Sáp nhập ngành ngân hàng ở Việt
Nam
Ngành tài chính ngân hàng là một ngành quan trọng trong nền kinh tế Do vậy, cũng như các nền kinh tế phát triển khác, hoạt động Thâu tóm - Sáp nhập ngành tài
Trang 38chính ngân hàng ở Việt Nam cũng khá sôi nổi, và là một trong năm nhóm ngành có hoạt động M&A nhiều nhất Việt Nam
Ngày 16/7/1993, thương vụ M&A đầu tiên lĩnh vực ngân hàng đã được thực hiện: Ngân hàng Dagang Nasional (Indonesia) đã thâu tóm 50% cổ phiếu của ngân hàng Indovina Xét riêng ngành ngân hàng, từ năm 1993 cho tới tháng 6/2010 có tất cả
95 thương vụ M&A, khoảng 50 thương vụ đã hoàn tất (theo số liệu của PwC) Theo thống kê thì chỉ riêng ngành ngân hàng chiếm tỷ lệ hơn 10% trong lịch sử hoạt động M&A khá non trẻ của Việt Nam
Bảng 3.3: Số thương vụ M&A ngành ngân hàng ở Việt Nam từ 2005 - 2009
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Hoạt động M&A ngành ngân hàng Việt Nam có diễn tiến tỷ lệ thuận với sự thăng trầm của nền kinh tế Việt Nam, từ đó tạo ra những trào lưu, xu hướng phổ biến
Có thể nhắc đến các giai đoạn tập trung các trào lưu, xu hướng này như sau:
- Giai đoạn 1999 - 2003: xu hướng các ngân hàng TMCP đô thị thâu tóm, sáp nhập hoặc hợp nhất với các ngân hàng TMCP nông thôn;
- Giai đoạn 2005 - 2008: xu hướng các ngân hàng hoặc tổ chức nước ngoài thâu tóm cổ phiếu các ngân hàng trong nước;
- Ngoài ra, còn có các xu hướng các ngân hàng trong nước thâu tóm cổ
Trang 39phiếu của nhau hoặc các tổ chức lớn trong nước nắm giữ cổ phần của các ngân hàng nội địa
Năm 2009, có một thương vụ ngành ngân hàng mang tính tiên phong là thương
vụ ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) mua lại hoàn toàn ngân hàng đầu
tư thịnh vượng (Campuchia) vào tháng 7 với giá trị thương vụ là 100 triệu USD Đây là một hướng đi mới của ngành ngân hàng và thương vụ M&A loại này được gọi là sáp nhập xuyên biên
Theo các số liệu thì các thương vụ M&A trong ngành ngân hàng chiếm tỷ trọng đáng kể về số lượng và giá trị trong các thương vụ M&A ở Việt Nam và có chiều hướng tăng lên về số thương vụ trong các năm gần đây Các thương vụ có giá trị lớn nhất ngành ngân hàng đã được công bố thông tin như sau:
- Tháng 6/2007, nhóm các nhà đầu tư thâu tóm 17,8% cổ phần của ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam với giá trị 248 triệu USD
- Tháng 7/2007, ngân hàng Sumitomo-Mitsui (Nhật Bản) thâu tóm 15% cổ phần của ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam, tương đương 225 triệu USD
- Tháng 3/2008, ngân hàng Maybank (Malaysia) thâu tóm 15% cổ phần của ngân hàng TMCP An Bình, giá trị 1.580 tỷ VND, tương đương 96,38 triệu USD
Như vậy, các thông tin về hoạt động M&A trong ngành ngân hàng ở Việt Nam cho thấy một tiềm năng lớn và sự duy trì phát triển liên tục thị trường M&A ngành ngân hàng
3.2.2.2 Xu hướng M&A trong ngành ngân hàng ở Việt Nam:
Hoạt động thâu tóm sáp nhập ngành ngân hàng ở Việt Nam thường diễn ra theo các xu hướng chủ yếu và phổ biến sau:
Các ngân hàng thương mại cổ phần đô thị sáp nhập, thâu tóm các ngân hàng
thương mại cổ phần nông thôn:
Trang 40Theo số liệu thống kê của PricewaterhouseCoopers thì có một số lượng đáng kể các ngân hàng TMCP đô thị thâu tóm, sáp nhập hoặc hợp nhất với các ngân hàng TMCP nông thôn
Bảng 3.4: Thống kê các thương vụ giữa ngân hàng TMCP đô thị và nông thôn
1996 Ngân hàng TMCP Phương Nam Ngân hàng TMCP Đồng Tháp
1999 Ngân hàng TMCP Phương Nam Ngân hàng TMCP Đại Nam
1999 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín Ngân hàng TMCP Quế Đô
1999 Ngân hàng TMCP Đông Á Ngân hàng TMCP Tứ giác Long Xuyên
1999 Ngân hàng TMCP Phương Nam Quỹ tín dụng nhân dân Định Công
2000 Ngân hàng TMCP Phương Nam Ngân hàng TMCP Châu Phú
2001 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín Ngân hàng TMCP Thạnh Thắng
2001 Ngân hàng TMCP Ptriển Nhà Hà Nội Ngân hàng TMCP Nthôn Quảng Ninh
2001 Ngân hàng TMCP Kỹ thương VN Ngân hàng TMCP Nông thôn Hải Phòng
2002 NH TMCP Đà Nẵng Cty CP Tài chính Sài Gòn
2002 Ngân hàng TMCP Phương Nam Ngân hàng TMCP Cái Sắn
2003 Ngân hàng TMCP Phương Đông Ngân hàng TMCP Tây Đô
2003 Ngân hàng Đầu tư Phát triển Việt Nam Ngân hàng TMCP Nam Đô
2004 Ngân hàng TMCP Đông Á Ngân hàng TMCP Tân Hiệp
Nguồn: PricewaterhouseCoopers
Xu hướng này được giải thích bởi các nguyên nhân sau:
- Sự bùng nổ việc thành lập các ngân hàng: riêng từ năm 1990 đến 1996 có
20 ngân hàng TMCP nông thôn được cấp giấy phép hoạt động
- Các ngân hàng TMCP nông thôn có ít kinh nghiệm hoạt động, nguồn vốn
ít, khả năng quản trị điều hành kém, công nghệ lạc hậu
- Sự quản lý chấn chỉnh hoạt động của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam đối với các ngân hàng thương mại cổ phần thông qua các văn bản pháp lý (Quyết định 212/1999/QĐ-TTg, quyết định 20/2000/QĐ-NHNN, quyết định số 1557/QĐ- NHNN) với các yêu cầu bắt buộc về vốn điều lệ, chuyển