1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Từ hán việt trong tiếng việt hiện đại (so sánh với từ hán nhật)​

99 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 457,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài “Nghiên cứu từ Hán Việt trong tiếng Việt hiện đại so sánh với từHán Nhật là một lựa chọn bước đầu của tôi trong quá trình tìm hiểu tiếngViệt với hy vọng rằng có thể tìm thấy mộ

Trang 1

ĐẠI HỌC QU ỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1

3 Mục tiêu nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 8

Chương I: TỔNG QUAN ĐẶC THÙ ẢNH HƯỞNG VĂN HÓA CHỮ HÁN TRONG NGÔN NGỮ VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN 8

1 Lịch sử từ Hán- Việt 8

1 1 Quá trình tiếp xúc với tiếng Hán của người Việt 8

1 2 Đặc điểm từ Hán- Việt 11

Chương II:19 SO SÁNH CÁCH SỬ DỤNG CHỮ HÁN CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ NGƯỜI NHẬT THỜI KÌ HIỆN ĐẠI 19

1 Từ giống với tiếng Nhật 39

2. Từ xuất hiện trong tiếng Nhật nhưng có ý nghĩa và hình thức sắp xếp khác nhau 39 3 Từ không tìm thấy trong tiếng Nhật hiện đại 40

Chương Ⅲ: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CÁCH DÙNG TỪ HÁN- VIỆT TỪ CÁCH NHÌN CỦA NGƯỜI NHẬT 41

1 Giới thiệu 41

2. Ví dụ về âm hán việt chỉ sử dựng cách đọc biến âm khi đứng một mình46 3. Ví dụ về từ Hán việt có ý nghĩa và cách sử dụng khác nhau phụ thuộc vào sự có hay không chuyển đổi âm điệu 49

4 Về quy tắc chuyển đổi thanh điệu 52

Trang 3

Chương IV: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA VIỆC SỬ DỤNG TỪ HÁN VIỆT

Trang 4

THEO QUAN ĐIỂM CỦA NGƯỜI HỌC TIẾNG NHẬT 55

1 Giới thiệu 55

2 Đặc điểm hình thức của danh từ Hán Việt và bối cảnh 56

3 Phân loại danh từ Hán Việt theo đặc trưng về ý nghĩa 59

3.1.Trong trường hợp danh từ Hán Việt diễn tả địa điểm hoặc đồ vật với ý nghĩa là người thực hiện hành động hoặc cách thức thực hiện hành động 60

3.1.1 Sự thể hiện của người thực hiện hành động khi thêm ”sự/ việc/ cuộc” 60 3.1.2 Phương pháp của hành động đối với danh từ biểu thị cơ sở và vật chất khi thêm “sự/ việc/ cuộc’’ 61

3.2 Danh từ Hán Việt thể hiện nội dung và kết quả của hành động 62

3.3 Trong trường hợp danh từ thể hiện vật chất và hành động 64

4 Đặc trưng trong ngữ pháp của danh từ Hán Việt 65

4.1 Cách biểu thị tính đặc trưng của danh từ Hán Việt thông qua việc sử dụng từ chỉ thị 65

4.2 Cách biểu thị tính đặc trưng của danh từ Hán Việt thông qua việc sử dụng cụm từ bổ nghĩa mang tính giới hạn 66

Tiểu kết 72

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 78

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nhật Bản và Việt Nam đều có chung đặc điểm của những quốc gia Đông

văn hóa chữ Hán

Sự giống nhau và khác nhau về cách sử dụng chữ Hán của người Việt vàngười Nhật cho thấy nhiều quan niệm và giá trị tinh thần, tư duy ngôn ngữ vàđặc điểm ngữ dụng thú vị

Việc nghiên cứu so sánh từ Hán-Việt và từ Hán-Nhật (Kanji) không chỉ

có ích về mặt ngôn ngữ học, văn hóa học nói chung mà còn có ích đối vớingười Nhật học tiếng Việt và người Việt học tiếng Nhật

Sáu năm trước, khi tôi bắt đầu học tiếng Việt ở Nhật, giáo sư của trườngđại học nói rằng tiếng Việt có 60% đến 70% là từ Hán-Việt Trong quá trìnhhọc tiếng Việt, tôi cảm nhận từ Hán-Việt có nhiều điểm tương đồng và khácbiệt với từ Hán-Nhật (Kanji) và những đặc điểm đó rất thú vị Nó giúp tôihiểu thêm về lịch sử tiếng Việt và văn hoá Việt Nam cũng như cách tư duyngôn ngữ của người Việt

Đề tài “Nghiên cứu từ Hán Việt trong tiếng Việt hiện đại (so sánh với từHán Nhật) là một lựa chọn bước đầu của tôi trong quá trình tìm hiểu tiếngViệt với hy vọng rằng có thể tìm thấy một vài đặc điểm hỗ trợ chủ yếu chocách học tiếng Việt của người Nhật (và một phần nào ngược lại, cho ngườiViệt học tiếng Nhật)

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu so sánh từ Hán-Việt và từ Hán-Nhật trong các văn bản và văn

1

Trang 6

cảnh hiện đại là đề tài ít được nghiên cứu rộng rãi Ngoài công trình của giáo sưImai Akio và nhóm tác giả có nhan đề “現代ベトナム語における漢越語の研ベトナム語における漢越語の研語における漢越語の研における漢越語の研漢越語における漢越語の研の研研

究 (A Study on Chinese Vocabularies in Vietnamese)” trực tiếp khảo sát và đốichiếu từ gốc Hán trong tiếng Việt và tiếng Nhật thì vấn đề so sánh từ Hán – Việt

và từ Hán – Nhật chưa được quan tâm nhiều Công trình nói trên cũng là cơ sởchính để chúng tôi tham khảo, suy nghĩ và triển khai nghiên cứu

Chúng tôi đã tìm hiểu và chọn một số công trình chính liên quan đếnluận văn như:

- Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nguyễn Tài

Cẩn, Nxb Khoa học xã hội, 1979.

Công trình này được xem là một chuyên luận có uy tín cao trong giớinghiên cứu ngữ âm Việt Nam, đặc biệt là cách đọc Hán Việt Tác giả đã đi từđịnh nghĩa cách đọc Hán Việt đến tầm quan trọng của cách đọc Hán Việt.Cuối cùng là phương hướng nghiên cứu cách đọc Hán Việt khả thi nhất trongbối cảnh nghiên cứu ngữ âm ở Việt Nam

Công trình đã cung cấp cho tôi nhiều kiến thức bổ ích, từ các vấn đềnhư hoàn cảnh lịch sử đã đặt nền móng cho cách đọc Hán Việt như thế nào,

có chứng tích nào không chứng tỏ sự tiếp xúc tiếng Hán sau khi Việt Namgiành độc lập, những cứ liệu đáng tin cậy về xuất phát điểm của cách đọc HánViệt và đặc biệt là phần giải thích về hệ thống ngữ âm tiếng Hán vào khoảnghai thế kỉ XVIII và IX Vì đây là công trình chuyên sâu về ngữ âm nên sẽ khóđọc đối với người nước ngoài như tôi Tuy nhiên, những tri thức của giáo sưNguyễn Tài Cẩn đã giúp tôi rất nhiều khi viết luận văn này

Trang 7

- Từ Hán Việt gốc Nhật trong tiếng Việt, Trần Đình Sử, [Thông báo Hán

Nôm học 1997 (tr.552-559)]

Trong bài viết ngắn này, tác giả đã nêu ra một số thông tin quan trọng:

“trong số từ Hán Việt tiếp thu từ nhiều thời điểm, nhiều nguồn, có một loạt từHán Việt, tuy tiếp thu chủ yếu qua con đường sách báo Trung Quốc, nhưng lại

có nguồn gốc Nhật Bản” để nhấn mạnh loại từ Hán Việt pha trộn với Hán Nhật

Theo tác giả, từ Hán Việt gốc Nhật “đánh dấu một bước phát triển mớicủa từ Hán Việt, tạo nên tiềm lực của đời sống tinh thần và tư duy khoa họchiện đại, bên cạnh từ Hán Việt có gốc từ tiếng Hán hiện đại do người TrungQuốc tạo ra và từ Hán Việt do người Việt cấu tạo” Luận văn của tôi cũng đãdựa vào một số quan điểm của tác giả để triển khai so sánh từ Hán Việt và từHán Nhật Đặc biệt, tôi rất chú ý đến các con số mà tác giả cung cấp như:

“Theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc cho biết, các từ ngữ, thuật ngữ khoahọc xã hội và nhân văn Trung Quốc hiện đại có tới 70% nhập từ tiếng Nhật

(dẫn lời Vương Bân Bân trong Mối quan hệ giữa từ vựng Trung Quốc cận đại

với Nhật Bản)” Điều đáng quý là tác giả đã xác định trên 350 từ gốc Nhật

ngày nay vẫn được sử dụng trong tiếng Việt Các từ này hầu hết đều chỉ cáckhái niệm về xã hội, chính trị, khoa học, triết học, giáo dục Tác giả cũng chobiết không phải mọi từ Hán gốc Nhật đều được người Việt vay mượn đểchuyển thành từ Hán gốc Nhật

Về cơ bản, tác giả chia ra hai loại từ Hán Việt gốc Nhật chủ yếu như sau:

từ của mình nhằm phiên dịch, diễn đạt các khái niệm mới về khoa học, giáo dục,chính trị, xã hội như các từ chính đảng, giai cấp, tuyên

3

Trang 8

truyền, công dân, dân chủ, xã hội chủ nghĩa, hư vô chủ nghĩa, tế bào, chân không…

từ nguồn thư tịch cổ rồi phú cho nó một ý nghĩa mới như văn minh, văn hoá, cáchmạng, văn học, tưởng tượng, tinh thần, pháp luật, phân tích, phân phối, phép tắc”

Tác giả đã có sự phân tích rất thú vị về các trường hợp từ Hán Việt như:

cách mạng, văn hoá, văn học vốn có nguồn gốc từ cách dịch của người Nhật.

- Việc nghiên cứu âm Hán Việt và ngữ âm tiếng Việt ở Trung Quốc và Nhật Bản, Hồ Minh Quang, Science & Technology development, Vol 17, No.X5-

2014, trang 30 – 38

Đây là bài viết chú trọng giới thiệu một số nghiên cứu tiêu biểu của các

học giả Trung Quốc và Nhật Bản về hệ thống ngữ âm Hán Việt trong đối chiếu,

so sánh với với ngữ âm Hán trung cổ Tác giả đề cập sự giao hoà giữa hai hệthống ngữ âm này tạo thành hệ thống ngữ âm hoàn chỉnh của âm Hán Việt tạiViệt Nam Có thể nói, đây là bài viết tương đối đầy đủ về bức tranh nhiều mặtxung quanh vấn đề âm đọc Hán Việt Ngoài nhà ngôn ngữ học người Pháp H.Maspéro, tác giả còn đề cập hai công trình ngữ âm của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn,một bài nghiên cứu chuyên sâu so sánh âm Hán Việt và chữ Nôm của Hoa NgọcSơn, hai bài nghiên cứu của Nghiêm Thuý Hằng về âm hệ Hán Việt và quan hệvới thanh mẫu tiếng Hán cũng như đặc điểm âm vận tiếng Việt, giáo sư Vương

Lực (Trung Quốc) với công trình Nghiên cứu tiếng Hán Việt (1939) Một số tên

tuổi khác cũng được tác giả điểm qua như Phan Ngộ Vân, Chu Hiểu Nông, MạchVân, Vi Thụ Quan, Vương Phúc Đường… Đóng góp quan trọng của bài

Trang 9

viết này là giới thiệu một số nhà nghiên cứu người Nhật có đóng góp trong lĩnh

vực nghiên cứu từ Hán Việt như Kondo Morishige với An Nam ký lược cảo (thế kỉ 19), Nanjo Fumio, Takakusu Junjiro và Sawai Tsuneshiro với Vùng đất mới

của nước Phật – Nhật Nam (1903), Takahata Hikojiro với Nghiên cứu ngôn ngữ học của tiếng Indochina (1928)… với nhiều nội dung khoa học mới mẻ và đáng

chú ý Tác giả cũng nhấn mạnh trường hợp Toru Mineya với công trình Nghiên

cứu An Nam dịch ngữ (1943), được xem là người tiên phong trong việc nghiên

cứu âm Hán Việt với “một hệ thống và phương pháp rõ ràng” Từ năm

1948 đến 1951, theo tác giả bài báo, ông còn viết tiếp hai bài nghiên cứu nữa:

Luận về âm An Nam của chữ Hán và Luận về hệ thống thanh điệu của âm tiếng An Nam.

- Tác giả cũng phân tích trực diện công trình quan trọng của Todo

Akiraho: Những phát sinh về hai tự mẫu ảnh – dụ trong tiếng Việt Nam với nhận định

rằng “những vết tích cổ xưa của ngữ âm tiếng Hán thời Hán – Nguỵ

trong tiếng Việt ngày nay”

đặc trưng của âm chữ Hán ở An Nam.

phú các tác giả Trung Quốc và Nhật Bản nghiên cứu âm Hán Việt một cách súctích, hữu ích

- Thời gian hình thành và cơ sở ngữ âm của âm Hán Việt trung cổ, Nguyễn

Đình Hiền, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Ngoại ngữ 27 (2011) 6-16 Trong bài viết này, tác giả đặt vấn đề âm Hán Việt trung cổ được truyềnvào Việt Nam từ khi nào Cách giới thiệu và giải thích cho thấy

5

Trang 10

(1) Thời gian âm Hán Việt trung cổ truyền vào Việt Nam: Vương Lựctrong bài “Nghiên cứu về âm HV” cho rằng âm HV được truyền vào VN từthời trung Đường Trong khi đó, Maspero trong “Nghiên cứu ngữ âm lịch sửViệt – các âm đầu”: phân biệt âm trọng thần và âm khinh thần nghiêng về giảthuyết cho rằng âm Hán Việt truyền vào Việt Nam từ thế kỉ 9, 10 Tuy nhiên,giáo sư Nguyễn Tài Cẩn căn cứ vào một số vấn đề âm vận đã cho rằng âmHán Việt truyền vào Việt Nam từ thế kỉ 8,9 , đặc biệt là do từ thế kỉ X, ViệtNam không còn chịu ảnh hưởng của tiếng Hán nữa Tác giả nêu các tiêu chí:

CN, Nho giáo được truyền bá vào nước ta từ thời Tây Hán tức năm 111 trước

CN thông qua hệ thống trường học dạy chữ Hán tại Giao Chỉ Cuối đời ĐôngHán, Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) của Trung Quốc được truyền vào Việt Nammạnh mẽ

Từ các cứ liệu lịch sử và văn hoá nêu trên, tác giả bài viết cho rằng khả

Trang 11

năng âm Hán Việt trung cổ được truyền vào Việt Nam vào thế kỉ 5, 6.

(2) Cơ sở ngữ âm của âm Hán Việt trung cổ

Tác giả luận chứng xung quanh vấn đề “hệ thống thanh mẫu, vận mẫucủa âm HV trung cổ đối ứng chặt chẽ với hệ thống âm vận của Thiết vận” đểnhấn mạnh cơ sở ngữ âm của âm HV là một phương ngôn nào đó của tiếng Hán.Đặc biệt, dẫn lời Vi Thụ Quan: “âm HV trong tiếng Việt không phải mượn từ âmTrường An, mà được mượn từ phương ngôn Bình Thoại”, chủ yếu do “BìnhThoại gần với các phương ngôn của Quảng Tây hơn”, có lịch sử lâu đời và trùngvới khu vực phân bố tiếng Việt, có nhiều âm tương tự với âm Hán Việt

Ngoài một số công trình nêu trên, tôi cũng tham khảo đoạn “Phân lớp từngữ theo nguồn gốc: các từ ngữ gốc Hán”, Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu,

Hoàng Trọng Phiến, sách Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt Nxb Giáo dục, H,

1997, trang 213-219; Sách Dạy và học Từ Hán Việt ở trường phổ thông của

Đặng Đức Siêu, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006 và một phần lời dẫn trong cuốn

Ngữ văn Hán Nôm tập 4, Hán văn Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, 2004 Tôi

cũng tham khảo bài viết của giáo sư Simizu Masaaki, Sáng tạo văn hóa của

Kanji và chữ Nôm tại Việt Nam – (Trường Đại học ngôn ngữ và văn hóa Osaka).

Trong điều kiện hạn chế về thời gian và vốn tiếng Việt, tôi chỉ mongmuốn đọc và viết những gì mình hiểu được một chút về từ Hán Việt trongtiếng Việt hiện đại, so sánh với từ Hán Nhật

3 Mục tiêu nghiên cứu

người Việt và người Nhật dựa trên các cứ liệu lịch sử và thực tiễn sử dụng

- Về thực tiễn: giúp ích cho việc dạy và học tiếng Nhật, tiếng Việt

7

Trang 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Kanji của người Nhật từ giai đoạn từ thế kỷ XX (khi người Việt bắt đầu sử dụng chữ Latinh làm Quốc ngữ) cho đến nay

- Qua hệ thống tư liệu, khảo sát chính gồm các phần dưới đây:

+ Từ xuất hiện trong tiếng Nhật nhưng có ý nghĩa khác nhau

+ Từ không tìm thấy trong tiếng Nhật hiện đại

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: tìm hiểu về chữ Hán Việt và Kanji sau

đó tìm ra điểm chung và riêng để so sánh

tiêu và mục đích của nó và tạo ra hệ thống thông tin

kết quả khách quan hơn

Chương I:

TỔNG QUAN ĐẶC THÙ ẢNH HƯỞNG VĂN HÓA CHỮ HÁN TRONG

NGÔN NGỮ VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN

Trang 13

Công nguyên cho đến thế kỉ thứ X sau Công nguyên Sự kiện quan trọng nhấtlàm rõ sự lệ thuộc nhà Hán là chiến thắng của Triệu Đà trước nhà nước ÂuLạc, mở đầu một giai đoạn lịch sử chịu ảnh hưởng tư tưởng, văn hoá chữ Háncủa người Việt Từ thời Triệu Đà, bộ máy thống trị và tư tưởng Hán hoá chưathật sâu đậm (theo sử sách ghi lại, giai đoạn này chỉ có vài quan sứ trông coiquận Cửu Chân và Giao Chỉ) Trên thực tế thì người Việt vẫn có thực quyềncai trị (trường hợp Triệu Đà vẫn sử dụng Lạc tướng) nhưng càng về sau, đặcbiệt từ sau thời kì bị Đông Hán xâm lược, thì công cuộc Hán hoá mới đượctriển khai khắp các miền Sau khi khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, Mã Viện

đã đưa toàn bộ quyền cai trị vào tay người Hán Như vậy, chữ Hán đã có quátrình rất dài xâm nhập vào đời sống người Việt nhưng về cơ bản là dựa vàonhững biến động lớn về mặt chính trị

b Hệ quả di dân

Theo quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn, vấn đề di dân của người Hán thờicổ trung đại đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá chữ Hán Không thểthống kê các đợt di dân từ phương Bắc sang khu vực Giao Chỉ nhưng có thể nói,việc sống trà trộn với người Việt và giao lưu lẫn nhau giữa hai nền văn hoá đãkhiến cho chữ Hán sớm đi vào quảng đại quần chúng Đáng chú ý là hiện tượng

“Việt hoá” những người Hán di dân, tạo ra một lớp văn hoá giao lưu bên cạnhnền văn hoá bản địa và văn hoá ngoại lai Tất cả những tình hình trên đây tất yếuphải dẫn đến sự tiếp xúc chặt chẽ, lâu dài giữa hai ngôn ngữ Hán và Việt

c Quan hệ giữa trí thức Việt và tầng lớp quan lại người Hán

9

Trang 14

Một trong những nhân tố đặc biệt quan trọng ảnh hưởng đến quá trìnhtiếp xúc chữ Hán của người Việt thời cổ trung đại là việc tiếp nhận và truyền

bá chữ Hán của chính những trí thức người Việt Sự xuất hiện của Triệu Đàtrong lịch sử của người Việt đánh dấu sự chuyển biến lớn lao của tầng lớp quýtộc Âu Lạc, khiến họ buộc phải tiếp thu và chịu ảnh hưởng những giá trị, ảnhhưởng của Trung Quốc Nguyễn Tài Cẩn nhận xét: “Chính cơ sở kinh tế xãhội này đã tạo điều kiện cho việc dễ dàng tiếp thu nền văn hóa Hán, làm choảnh hưởng của nền văn hóa này càng ngày càng thấm sâu vào xã hội ViệtNam, thúc đẩy xã hội Việt Nam lại càng đi nhanh hơn vào con đường phongkiến hóa Lực lượng góp phần “ đắc lực” nhất cho quá trình “Hán hóa” này,trước hết phải kể đến bộ máy thống trị do quan lại Trung Quốc nắm, và tầnglớp đông đảo các kiều nhân người Hán, trong đó có một bộ phận rất có uy thế.Nhưng càng về sau, vai trò của tầng lớp phong kiến, tầng lớp quyền quí Việt

Nhà nghiên cứu Trương Hữu Quýnh, qua cứ liệu lịch sử, cho rằng chữHán theo Nho giáo truyền vào Việt Nam từ thời Tây Hán (111 trước CN) Khi

đó, hệ thống trường học dạy chữ Hán tại Giao Chỉ đã xuất hiện Một số tư liệulịch sử cũng ghi chép rằng Tích Quang (Thái thú Giao Châu và Nhâm Diên (Tháithú Cửu Chân) được xem là hai vị quan đặt nền móng cho việc đồng hoá ngườiViệt Từ thời Mã Viện trở về sau, hiện tượng “trí thức người Việt” được đào tạotheo hướng học thức nhà Hán bắt đầu xuất hiện nhiều hơn (như Trương Trọngđời Hán Minh Đế, Lý Tiến làm đến Thái thú, Lý Cầm làm đến Tư lệ hiệu

1 Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nguyễn Tài Cẩn, Nxb Khoa học xã n Tài C n, Nxb Khoa h c xã ẩn, Nxb Khoa học xã ọc xã h i, ội,

Trang 15

uý) Hiện tượng này cho thấy mức độ tiếp thu và hoà nhập văn hoá, học vấncủa người Việt đã có truyền thống và được minh chứng bằng thực tế lịch sử.Đặc biệt là hiện tượng Sĩ Nhiếp, một nhân vật “ngoại lai” được phong là

“Nam giao học tổ”, được tôn vinh như một trong những nhân tố quan trọngtrong quá trình truyền bá chữ Hán vào Việt Nam

Cùng với sự vươn lên của tầng lớp phong kiến Việt Nam vào thế kỉ thứVII, VIII, chế độ khoa cử theo người Hán cũng cho phép người Việt tham gianhưng có phần hạn chế (mặc dù sử cũ vẫn ghi nhận có trường hợp người Việt đỗ

cả tiến sĩ, làm đến tể tướng) Có thể mượn lời Nguyễn Tài Cẩn như sau: “… đếnthời kỳ này, nền văn hóa Hán nói chung, nền ngôn ngữ văn tự Hán nói riêng, đã

có được một ảnh hưởng nhất định trên địa bàn Việt Nam, nhất là ở những nơitrung tâm của chính quyền đô hộ Và đến thời kỳ này, trong giai cấp phong kiếnViệt Nam cũng đã xuất hiện một tầng lớp khá đông đảo, am hiểu Hán học, vàthông qua Hán học nắm được cả Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo Chính đây

là một trong những lực lượng sau khi giành được độc lập, đã ra sức bảo vệ,duy là những gì là tiếp thu được trước đó về mặt văn hóa, nhất là về mặt ngônngữ, văn tự và đã góp phần đắc lực trong việc củng cố, tuyên truyền cho cái

1 2 Đặc điểm từ Hán- Việt

1.2.1 Một số khái niệm liên quan đến từ Hán Việt

2 Nguyễn Tài Cẩn, sđd, trang 37.

11

Trang 16

- Tiếng Hán trung cổ: Phân biệt với tiếng Hán thượng cổ thường có

trong văn bản Giáp cốt văn Tiếng Hán trung cổ được hình thành sau thuyết về

“Thiết vận” đời nhà Tấn

- Từ Hán Việt: Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học của Nguyễn

Như Ý (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996) định nghĩa là “Từ tiếng Việt cónguồn gốc từ tiếng Hán, đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt,chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa củatiếng Việt, còn gọi là từ Việt gốc Hán”

- Từ Việt gốc Hán: theo Đặng Đức Siêu, không phải toàn bộ từ Việt gốc

Hán được xem là từ Hán Việt mà chỉ có loại từ Việt gốc Hán đọc theo

âm Hán Việt mới được gọi là từ Hán Việt

- Từ Hán đọc theo âm Hán Việt: là loại từ khác với từ Hán Việt và từ

Việt gốc Hán nêu trên

1.2.2 Đặc điểm cơ bản

- Nguồn gốc: Như phần lịch sử vấn đề tôi đã nêu, có nhiều thuyết về quá

trình hình thành từ Hán Việt nói chung Trong công trình này, tôi chọn

hướng tiếp cận của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn là cách đọc Hán Việt được xác định là xuất hiện vào đời nhà Đường, khoảng thế kỉ thứ 8

- Cách kết hợp phong phú từ gốc Hán dưới nhiều hình thức như: giữ

nguyên nghĩa chữ Hán, thay đổi nghĩa chữ Hán, ghép các thành tố chữ

Hán theo kiểu cấu trúc tiếng Việt, du nhập từ Hán Nhật theo cách phát

âm của người Việt,…

- Số lượng từ Hán Việt trong tiếng Việt hiện đại: trải qua nhiều đánh giá

và thống kê khác nhau, hiện nay có 2 quan điểm: một là lượng từ vựng

Trang 17

Hán Việt chiếm đến 70% lượng từ tiếng Việt (cứ liệu thống kê đầu thế kỉ

XX của H Maspero) ; hai là lượng từ vựng Hán Việt chỉ hiếm khoảng trên

30% lượng từ tiếng Việt (cứ liệu thống kê trên 5 cuốn tự điển mới nhất

về tiếng Việt của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đương đại tại Việt Nam).Trước thực tiễn nghiên cứu hiện nay, tôi không chọn chính xác xu hướngnào vì báo cáo tốt nghiệp của tôi không kết luận vấn đề số lượng từ HánViệt, mà tôi chỉ nêu một số trường hợp tiêu biểu về cách hiểu từ HánViệt so sánh với từ Hán Nhật qua một số tiêu chí ban đầu

1.3 Lịch sử từ Hán- Nhật

Người ta ước tính rằng lần đầu tiên những người nói tiếng Nhật bắt gặpchữ Hán là vào khoảng thế kỷ thứ 1, dựa trên tem vàng (được trích từShigajima, quận Fukuoka) và đồng xu (được khai quật từ địa điểm Shigenodan

ở Nagasaki) Cả hai đều được sản xuất tại lục địa Trung Quốc, và con dấuTrung Quốc, 漢委奴国王(Kan no wa no na no ko ku ou in)được viết trêncon dấu vàng, và 貸泉(Ka sen) Cảnh được viết trên đồng xu

Trước khi giới thiệu chữ Hán, không có một văn kiện chính thức nào ởNhật Bản Vì thế người qua người truyền nhau ghi nhớ những huyền thoại vàtruyền thuyết và nói chúng bằng lời nói

Người ta cho rằng Kanji được giới thiệu đến Nhật Bản trong thời kỳ Yayoivào nửa sau của thế kỷ thứ 4 Một chữ Hán được viết trên một đồ gốm được cho

là đã được khai quật ở Nhật Bản vào thế kỷ thứ 3, nhưng không rõ liệu chữ Hán

có được người dân xác nhận có chính xác vào thời kỳ đó hay không

Vào khoảng thế kỷ thứ 5, tên địa danh và tên các nhân của Nhật Bản bắt

13

Trang 18

đầu được viết bằng chữ Hán Cụ thể như trên thanh kiếm sắt và gương bằngđồng được sản xuất tại Nhật Bản có khắc chữ Hán Tên của những thanh kiếmsắt được khai quật từ Inariyama Kofun (Thành phố Gyoda, tỉnh Saitama) đượckhắc tên của Wow Wowake và và Oh Oh, và Oh Siki Tên cá nhân và tên địadanh được viết bằng chữ Hán của Trung Quốc trên dòng chữ của thanh kiếmsắt được khai quật từ Eda Funayama Kofun (Wasui-cho, Tamana-gun, tỉnhKumamoto) và gương đồng từ đền Sumida Hachimangu (thành phốHashimoto, tỉnh Wakayama) Tuy nhiên, có khả năng cao là đã có ngườingoại lai tham gia vào quá trình chế tác sản phẩm này.

Mãi đến khoảng thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 7, người nói tiếng Nhật cókhả năng đọc chữ Hán (Kanji) mới bắt đầu tăng lên

Tại Nhật Bản, từ thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 7, Phật giáo và Đạo giáo bắtđầu được giới thiệu từ Trung Quốc đại lục và Bán đảo Triều Tiên Để hiểu rõhơn về Phật giáo và Đạo giáo này người Nhật tìm đọc các cuốn sách viết bằngchữ Hán Trung Quốc là việc cần thiết

Vào thế kỷ thứ 7, nhóm xóa mù chữ đã mở rộng, bao gồm cả những duhọc sinh trở về và trong các ký tức xá ở các trường đại học Kiến thức về chữHán dần được lan tỏa rộng rãi

Phật giáo phát triển trong thời kỳ Nara Sự khởi đầu của việc xây dựngĐại Phật của Hoàng đế Seibu là một dự án mang tính biểu tượng, Nhưng cùngvới đó, một xưởng sao chép quy mô lớn cũng được xây dựng và đưa vào thựcthi Một nơi sao chép công khai đã được thiết lập, và mọi người gọi là các bảnsao chép các câu thánh thư được viết bằng chữ Hán Ví dụ, bài viết của NhậtBản, một phần của Nhật ký Nhật Bản, ở cuối cuốn sách này có phần [nhật ký

Trang 19

ngày 1 tháng 5 năm 740] có sắp xếp ghi lại bằng kí tự Kanji.

Từ nửa sau của thế kỷ thứ 7 đến nửa sau của thế kỷ thứ 8, bộ sưu tập cácbài thơ lâu đời đâug của Nhật Bản là Nhật Bản Manyoshu, đã được biên soạn.Ngay cả ký hiệu (một- kana của Manyo-kana) ghi lại âm thanh của từng nhịpcủa bài hát 5, 7, 5, 7, 7 chỉ sử dụng các ký tự Kanji

Trang 21

岩淵本願経四分律 (執筆者蔵) (執筆者蔵)

17

Trang 22

Kanji được sao chép lại từ bức ảnh chụp lại một văn tự Đây là một trong nhữngtrang Nhật ký của hoàng đế Seibu và Hoàng hậu Mitsumei ở cuối trang sách cóghi (Nhật ký Thiên Bình năm 12 tháng 5 ngày 1) Chữ Hán trong văn bản chínhđược viết vào thời Nara, nhưng nó cũng là một tài liệu của Nhật Bản vào đầuthời Heian vì nó chứa các điểm từ Hirohito và Tennaga (thế kỷ 9).3

Trang 23

Chương II:

SO SÁNH CÁCH SỬ DỤNG CHỮ HÁN CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ NGƯỜI NHẬT THỜI KÌ HIỆN ĐẠI

Do tiếp xúc với nền văn hóa chữ Hán trong Tiếng Việt cũng như ởNhật Bản và bán đảo Bắc Triều Tiên, nói chung có rất nhiều yếu tố giốngnhau về nguồn gốc chữ Hán dựa trên từ vựng cơ bản

Hiện nay, hệ thống tự vựng có nguồn gốc chữ Hán được diễn đạt trongcác bài xã luận hay những văn bản chính thống được cho là chiếm đến hơn60% ngôn từ sử dụng trong bài viết

Đối với Hán ngữ trong tiếng Việt và tiếng Nhật, nếu có trường hợp ýnghĩa vô cùng gần gũi như là「学」習学」習」習習/học tập hoặc「学」習注意」」習/chú ý hoặc/「学」習態度」習/thái độ… thì cũng có trường hợp đánh dấu ý nghĩa trong cả hai ngôn ngữ

19

Trang 24

⑵ AB/AC,CB 診察

同じ意味を表す語が、同一の漢字を用いじ意味を表す語が、同一の漢字を用い意」味を表す語が、同一の漢字を用いを表す語が、同一の漢字を用い表す語が、同一の漢字を用いす語における漢越語の研が、同一の漢字を用い漢字を用いと しるときし いよよますます かなしかりけり)漢越語における漢越語の研では むなしきものと しるときし いよよますます かなしかりけり) Chẩn (診) Chẩn (診)一の漢字を用い字を用い異なるが同一の文字が同じ位置にあなる漢越語の研が同じ意味を表す語が、同一の漢字を用い一の漢字を用いの研文字を用いが同じ意味を表す語が、同一の漢字を用いじ意味を表す語が、同一の漢字を用い位置にあにあ Sát(察) Đoán(断)る漢越語の研場合

Trường hợp từ biểu thị ý nghĩa giống nhau

nhưng chữ hán và Hán Việt có một bộ phận

nhưng vị trí của 1 chữ trong từ khác nhau

Trang 26

21

Trang 27

図2 Bảng 2: Bảng thống kê sự xuất hiện của Hán tự trong kỳ thi tiếng Nhật

JLPT theo tiêu chuẩn phân loại

Trường hợp nhìn vào các cấp độ riêng trong kỳ thi tiếng Nhật thì hầu hếtmức độ trùng hợp cao nhất với phần kiểm tra từ vựng trình độ cấp 2 là 40%,nếu gộp phần (2) đến (4) là 57% Điều này cho ta biết được đến 60% từ haichữ Hán ở cấp độ 2 có khả năng tương tự

Tuy rằng tỷ lệ xác suất trùng hợp hoàn toàn là 33% đối với từ vựng tiếngNhật cấp 1 nhưng để có được xác suất tương tự ở phần (2) chênh lệch một kýtự lên đến 16% là cao giống với cấp độ 2

Nhìn chung, tỉ lệ chữ Hán 2 từ của phần từ vựng cấp 1 chiếm cao hơn tỉ

lệ phần từ vựng cấp 2 (cấp 1 là 56%, cấp 2 là 46%), và tỉ lệ này được cho làmột sự thay đổi không lớn

Tuy nhiên, từ vựng cấp độ 1 cần chú ý nhiều hơn đến từ có một chữ lệch

so với từ vựng cấp độ hai

Hầu hết mức độ trùng hợp thấp là ở từ vựng cấp độ 4 là 18%, hợp nhấtphần từ (1) đến (4) là 30% So sánh với chữ Hán 2 chữ thì chiếm thấp hơn sovới toàn bộ từ vựng là 23%

22

Trang 28

Điều này cho thấy từ vựng cấp 4 có tỷ lệ từ thích hợp tiếng Nhật rất cao Vềmức độ kết hợp thấp của chữ Hán hai ký tự ở từ vựng cấp bốn thì được nghĩ là

do có nhiều từ trừu tượng, cụ thể ở cấp độ thấp trong chữ Hán hai ký tự cấp 4

trừu tượng cao thì nhiều từ trùng khớp với tiếng Nhật

Về cấp độ 3 cho thấy tỷ lệ trùng khớp tương đối cao so với cấp độ 2 là(38%), nhưng tỷ lệ chữ Hán hai chữ cái trong từ vựng câu hỏi cấp độ 3 là32%, thấp hơn các cấp độ khác Đã trở thành hầu hết các từ vựng ngoài những

từ 2 chữ Hán từ các từ thích hợp và chỉ có 16 từ gồm 3 ký tự chữ Hán trở lênnhư 「学」習thực liệu phẩm」習tỷ lệ trùng khớp của từ Hán 2 ký tự là cao nhưng nhìnchung với từ vựng cấp 3 được cho là rất nhiều sự không đồng nhất

Đối với các từ Hán kiểu Nhật Bản, tỷ lệ trùng khớp là 60% Tỷ lệ trùngkhớp 60% là một tỷ lệ khá cao so với các khu vực không dùng chữ Hán

Hơn nữa, cho đến nay tuy được nói là nhìn chung có một tỷ lệ không cao

về từ chuyên môn hay từ sử dụng trong học thuật, nhưng có thể khả năng đó

sẽ xảy ra cao trong thực tại

Bảng 2 cho thấy tỷ lệ trùng khớp giữa các từ Hán kiểu Nhật Bản

Theo kết quả của cuộc khảo sát thì từ nhiều nhất về sự sai lệch của chữHán như: (境界(Cảnh Giới)⇒ 辺界 (Biên Giới)theo hình mẫu số (2) là(476 từ)

Phần số (4) những từ như: 学」習校(Học Hiệu)⇒場学」習(Trường Học)tương đối ít hơn phần số (2) là (140 từ), mục thứ (3)(段階 giai đoạn⇔階段

Trang 29

đoạn giai)chỉ có 49 từ Mục thứ (3) thường được trình bày khi thể hiện sựkhác biệt giữa tiếng Nhật và tiếng Việt, Tỷ lệ phần trăm rất nhỏ Tuy nhiên, c

ó thể coi tỷ lệ sẽ tăng cao nếu được nhìn từ ngữ giống như hình mục (3) tiếngViệt theo thứ tự 「学」習các từ đủ điều kiện + bộ sửa đổi Bổn phận」習 (tiếng Nhật là

để đi) + Điện (điện)

Trang 30

24

Trang 31

背景 bối cảnh bối cảnh

Trang 32

速度 tốc độ tốc độ

25

Trang 33

直接 trực tiếp trực tiếp

Trang 34

主観 chủ quan chủ quan

26

Trang 36

信用い tín dụng tín dụng

27

Trang 38

細胞 tế bào tế bào

28

Trang 39

侵略 xâm lược xâm lược

Trang 40

私立 tư lập tư lập

29

Ngày đăng: 10/02/2021, 13:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w