1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Truyền thuyết về các nhân vật tổ sư bách nghệ trong không gian văn hóa châu thổ bắc bộ​

155 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 9,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến nay, mảng truyền thuyết về các vị tổ sư bách nghệ chưa có nhiều đề tài nghiên cứu cụ thể, phân loại rõ ràng để người đọc có thể dễ dàng tìm hiểu.Các nhân vật tổ sư bách nghệ đa s

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

–––––––––––––––––––––––––––

NGUYỄN THỊ SÁNG

TRUYỀN THUYẾT VỀ CÁC NHÂN VẬT "TỔ

SƯ BÁCH NGHỆ" TRONG KHÔNG GIAN

VĂN HÓA CHÂU THỔ BẮC BỘ

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Hà Nội, 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

–––––––––––––––––––––––––––

NGUYỄN THỊ SÁNG

TRUYỀN THUYẾT VỀ CÁC NHÂN VẬT "TỔ

SƯ BÁCH NGHỆ" TRONG KHÔNG GIAN

VĂN HÓA CHÂU THỔ BẮC BỘ

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Văn học dân gian

Mã số: 60220125

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Nguyệt

Hà Nội, 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Thị Nguyệt Các số liệu thống kê, kết quả nghiên cứu, phát hiện mới là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kì công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây Luận văn có sử dụng, phát triển, kế thừa một số tư liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu từ các sách, giáo trình, tài liệu, liên quan đến nội dung đề tài.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Sáng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn Cao học, tôi đã nhận được rất nhiều sự chỉ dẫn nhiệt tình của các thầy, cô giáo khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN) Tôi vô cùng quý trọng, biết ơn sự chỉ bảo đó và xin được chân thành gửi lời tri ân đến toàn thể các thầy, cô giáo Đặc biệt, tôi xin ngỏ lời cám ơn sâu sắc nhất đến PGS TS Nguyễn Thị Nguyệt đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ dạy, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Và hơn hết, trong quá trình làm luận văn, tôi đã học tập ở cô một tinh thần nghiên cứu khoa học nghiêm túc, cẩn thận, tỉ mỉ và một thái độ làm việc hết mình Xin được gửi đến cô sự biết ơn và lòng kính trọng chân thành nhất.

Cảm ơn bạn bè và đồng nghiệp tại Công ty cổ phần Dịch vụ xuất bản Giáo dục Hà Nội (Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam) đã tạo điều kiện về thời gian và cung cấp những tài liệu cho tôi trong quá trình viết luận văn.

Cảm ơn gia đình và những người thân yêu đã luôn tin tưởng, động viên

và ủng hộ.

Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế nhất định Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp chân thành của Hội đồng Khoa học, của quý thầy, cô giáo cùng với sự góp ý của bạn bè đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện có chất lượng tốt hơn.

Hà Nội, tháng 6 năm 2020

Nguyễn Thị Sáng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Đóng góp của luận văn 12

7 Cấu trúc của luận văn 12

PHẦN NỘI DUNG 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 13

1.1 Đặc trưng không gian văn hóa châu thổ Bắc Bộ 13

1.1.1 Đặc điểm tự nhiên vùng châu thổ Bắc Bộ 13

1.1.2 Đặc điểm lịch sử – kinh tế – xã hội 13

1.1.3 Đặc điểm văn hoá 14

1.2 Khái niệm truyền thuyết và truyền thuyết nhân vật 15

1.2.1 Khái niệm và bản chất của truyền thuyết 15

1.2.2 Phân loại truyện truyền thuyết 17

1.2.3 Truyền thuyết nhân vật 19

1.3 Khái niệm “tổ sư bách nghệ” và “truyền thuyết về tổ sư bách nghệ” 21

1.3.1 Tổ sư bách nghệ 21

1.3.2 Truyền thuyết về “Tổ sư bách nghệ" trong vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ 23

Tiểu kết chương 1 35

CHƯƠNG 2 TRUYỀN THUYẾT VỀ “TỔ SƯ BÁCH NGHỆ” NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NHÂN VẬT, KẾT CẤU VÀ MOTIF 36

2.1 Truyền thuyết về nhân vật tổ sư bách nghệ nhìn từ phương diện nhân vật 36

2.1.1 Nguồn gốc, xuất thân của các nhân vật tổ sư bách nghệ 36

2.1.2 Các nhân vật Nam thần là tổ sư bách nghệ 39

2.1.3 Các nhân vật Nữ thần là tổ sư bách nghệ 40

2.2 Truyền thuyết về nhân vật tổ sư bách nghệ nhìn từ phương diện kết cấu 42

Trang 6

2.2.1 Cấu trúc mở và kết cấu lỏng lẻo 42

2.2.2 Cấu trúc đơn nhất và tính dở dang của kết cấu 44

2.2.3 Kết cấu hoàn chỉnh 4 phần 46

2.3 Truyền thuyết về nhân vật tổ sư bách nghệ nhìn từ phương diện motif 50

2.3.1 Những lí luận cơ sở về type truyện và motif truyện 50

2.3.2 Các dạng motif tiêu biểu 52

Tiểu kết chương 2 64

CHƯƠNG 3 TRUYỀN THUYẾT VỀ CÁC NHÂN VẬT “TỔ SƯ BÁCH NGHỆ” TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC THÀNH TỐ VĂN HÓA KHÁC TRONG KHÔNG GIAN VĂN HOÁ CHÂU THỔ BẮC BỘ 65

3.1 Truyền thuyết về “Tổ sư bách nghệ” với tín ngưỡng dân gian 65

3.1.1 Khái niệm tín ngưỡng 65

3.1.2 Tín ngưỡng thờ tổ nghề 66

3.1.3 Tín ngưỡng thờ Nước 66

3.1.4 Tín ngưỡng thờ Mẫu 68

3.1.5 Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng 69

3.2 Truyền thuyết dân gian về “Tổ sư bách nghệ” với nghề và làng nghề thủ công truyền thống 70

3.3 Truyền thuyết về “Tổ sư bách nghệ” với lễ hội dân gian gắn liền với di tích và danh lam thắng cảnh 75

3.3.1 Tìm hiểu về lễ hội……… 78

3.3.2 Một số lễ hội tiêu biểu thờ tổ nghề……… … 82

3.4 Bảo tồn, phát huy và khai thác các giá trị văn hoá của truyền thuyết về “Tổ sư bách nghệ” trong không gian văn hóa châu thổ Bắc Bộ phục vụ phát triển du lịch 83

Tiểu kết chương 3 86

KẾT LUẬN 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 93

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong quá trình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì việc giữ gìnbản sắc văn hóa dân tộc là vô cùng quan trọng Nó không chỉ giúp Việt Nam hòanhập với thế giới, phát huy những truyền thống vốn có, coi trọng cội nguồn mà còn

có thể cho bạn bè năm châu thấy tinh thần sức mạnh của dân tộc là phương hướnghành động là hướng đi tất yếu của thời đại Ở văn kiện Hội nghị lần thứ năm Banchấp hành Trung ương khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1998 có viết:

“Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắcdân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Cần phải hết sứccoi trọng, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống” [3, 63] Mộttrong những việc bảo tồn văn hóa dân gian là những công trình ghi chép và nghiêncứu về các thể loại truyện dân gian Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam,truyền thuyết là một thể loại quan trọng Hiện nay, thể loại truyền thuyết đã pháttriển ở cả phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật Tuy nhiên tronggiới nghiên cứu lại có nhiều quan điểm khác nhau về thể loại này Sự phức tạp có lẽbắt nguồn từ bản thân đối tượng nghiên cứu Vì vậy nghiên cứu về truyền thuyếtdân gian trong thời điểm hiện tại là việc làm rất cần thiết

1.2 Truyền thuyết được sinh ra, lưu truyền trong môi trường văn hóa cụ thể và

nó có đặc trưng gắn với các vùng văn hóa, địa phương cụ thể Vì vậy, nghiên cứutheo vùng là hướng nghiên cứu mới mẻ tránh sự trùng lặp các công trình nghiên cứutrước đây Cho đến nay, mảng truyền thuyết về các vị tổ sư bách nghệ chưa có nhiều

đề tài nghiên cứu cụ thể, phân loại rõ ràng để người đọc có thể dễ dàng tìm hiểu.Các nhân vật tổ sư bách nghệ đa số không có nhiều ảnh hưởng sâu rộng như các vịanh hùng dân tộc, các nhân vật “Tứ bất tử” nhưng nó có một sức sống mạnh mẽtrong lòng bộ phận những người dân ở các làng nghề Trong kho tàng truyện truyềnthuyết Việt Nam, các nhân vật tổ sư bách nghệ là những nhân vật mang vẻ đẹp độcđáo, chiều sâu văn hóa của con người Việt Nam Chúng tôi sẽ đề cập đến vấn đềnghiên cứu từ góc độ chuyên ngành đến liên ngành bằng các phương pháp

Trang 8

tiếp cận khác nhau từ lịch sử tư tưởng đến tín ngưỡng, lễ hội, văn hóa dân gian,…dưới góc nhìn văn học và văn hóa, đồng thời khảo sát các nhân vật tổ sư trong cáinhìn rộng lớn, bao quát của văn hóa dân gian, góp phần giải mã những vấn đề xungquanh nhân vật Khảo sát các nhân vật tổ sư bách nghệ trong văn học dân gian vớinhững đặc trưng thẩm mĩ riêng, đồng thời khảo sát các type, motif truyện Ở loạihình tự sự, các nhân vật tổ nghề được khắc họa rõ nét qua những cốt truyện hànhđộng phi thường, kì ảo và cũng rất đỗi đời thường thông qua thể loại truyền thuyết.

Ở loại hình tín ngưỡng và lễ hội dân gian, các nhân vật tổ nghề hiện lên khi nó gắnliền với hình thức tôn giáo sơ khai, niềm tin vào các vị tổ nghề như những vị thần vànhững hình thức diễn xướng, nghi lễ tập thể của nhân dân

1.3 Vùng châu thổ Bắc Bộ là một vùng văn hóa cổ nằm giữa lưu vực nhữngdòng sông lớn như sông Hồng, sông Đà, sông Cả, sông Mã, Đây là vùng văn hoáđúng như GS.TS Ngô Đức Thịnh nhận xét: “Trong các sắc thái phong phú và đadạng của văn hóa Việt Nam, đồng bằng Bắc Bộ như là một vùng văn hóa độc đáo vàđặc sắc.” Do vậy, khi nói vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ là nói tới vùng văn hóathuộc địa phận các tỉnh Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình;thành phố Hà Nội, Hải Phòng; phần đồng bằng của các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc,Bắc Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh Tuy nhiên cũngphải thừa nhận rằng, vùng Nghệ - Tĩnh có những nét rất riêng ngoài những nétchung so với khu vực văn hóa sông Hồng Cũng cần nói thêm về Nghệ An, Hà Tĩnh,ngay từ thời Văn Lang – Âu Lạc, thậm chí ngược lên xa hơn, Nghệ An – Hà Tĩnhvẫn gắn bó với Bắc Bộ Có lẽ, việc tách ra theo địa giới hành chính để có khu Bốn,chỉ có thời chống Pháp, chống Mỹ Như vậy, vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ nằmgiữa lưu vực những dòng sông lớn như sông Hồng, sông Mã,

Vùng đồng bằng Bắc Bộ ra đời từ rất xa xưa, vì vậy nền văn hóa rất đáng để khámphá Truyền thuyết về nơi đây trở thành những công trình văn hóa phi vật thể vô cùng

có giá trị khi muốn tìm hiểu về cội nguồn người Việt Ở đây, chúng tôi sẽ đi nghiên cứu

về truyền thuyết về các vị tổ sư bách nghệ, gợi mở ra không gian văn hóa tín ngưỡng và

du lịch nơi đây để độc giả có thêm hiểu biết thú vị và thêm yêu quý,

Trang 9

trân trọng con người, đất nước Việt Nam, tự hào hơn về lịch sử dân tộc Điều quantrọng là thêm hiểu biết về nghề, làng nghề truyền thống đang dần bị mai một.

Nhận rõ vị trí, tầm quan trọng của việc tìm hiểu giá trị của mảng truyềnthuyết dân gian về tổ sư bách nghệ và sức sống của nó trong đời sống văn hóa cộng

đồng, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: Truyền thuyết về các nhân vật “Tổ

sư bách nghệ” trong không gian văn hóa châu thổ Bắc Bộ.

Truyền thuyết anh hùng trong thời kỳ phong kiến; Đỗ Bình Trị: Nghiên cứu tiến trình của văn học dân gian Việt Nam; Lê Chí Quế: Văn học dân gian Việt Nam; đã

khẳng định sự ra đời và phát triển của thể loại truyền thuyết với những đặc trưng

riêng của nó.

Năm 1990, trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam, NXB Đại học và Trung

học chuyên nghiệp (NXB Đại học Quốc gia in lại năm 1996, 1998, 2001, 2004), tácgiả Lê Chí Quế đã khẳng định sự tồn tại độc lập của thể loại truyền thuyết được sưutầm và những kết quả nghiên cứu lí thuyết thể loại của giới nghiên cứu văn học dângian Việt Nam công bố

Năm 2000 với luận án tiến sĩ, Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam của Trần Thị An, tác giả đã đi sâu nghiên cứu một cách

sâu sắc, có hệ thống về đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dângian của người Việt

Trang 10

Có thể hình dung tổng thể văn học dân gian Việt Nam như một tấm thổ cẩmnhiều màu sắc được dệt nên từ sự chung tay của các dân tộc, các vùng miền Chínhbởi thế mà ít có loại hình văn học nào như văn học dân gian được mọi người gáncho một cái tên là “kho tàng”.

Năm 1999, Viện Văn học, Nhà xuất bản Giáo dục ra mắt bạn đọc Tuyển tập Văn học dân gian Việt Nam gồm 5 tập chia làm 7 quyển Tập 1: thần thoại và truyền

thuyết chứa đựng những kiến thức quý báu về thể loại thần thoại và truyền thuyết

cũng như truyền thống anh hùng của dân tộc Việt Nam Năm 2004, bộ sách Tổng tập Văn học dân gian người Việt do Viện Khoa học xã hội Việt Nam giữ bản quyền,

nhà xuất bản Khoa học xã hội chủ trì, phối hợp với Viện nghiên cứu Văn hóa dângian tổ chức biên soạn đã ra mắt bạn đọc Bộ sách bao quát toàn bộ kho tàng vănhọc dân gian phong phú và đa dạng của dân tộc ta Tập 4 và tập 5 của bộ sách dành

cho thể loại: Truyền thuyết dân gian người Việt đã cung cấp những kiến thức, tài

liệu đầy đủ hơn về thể loại truyền thuyết Theo số liệu thống kê được trong hai tậpsách này, có tất cả 28 truyện viết về các vị tổ nghề

Trong cuốn Truyền thuyết Hà Nội của Nguyễn Thị Bích Hà được NXB Đại

học Quốc gia Hà Nội in năm 2005 giúp ta có thêm tư liệu thống kê những truyệntruyền thuyết Hà Nội trong đó có 15 truyện truyền thuyết về các vị tổ nghề

Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, các công trình nghiên cứu về truyềnthuyết xuất hiện rải rác dưới dạng các bài nghiên cứu đăng trên tạp chí hoặc cácluận văn, luận án với cách tiếp cận từ một chủ đề cụ thể, một cốt truyện hay mộtvùng truyền thuyết cụ thể

Tiêu biểu như Nguyễn Huy Bỉnh với Truyện kể dân gian trong không gian văn hóa xứ Bắc Tác giả đã khảo sát nội dung những văn bản theo các kiểu truyện

nhằm làm rõ nét hơn truyện kể dân gian xứ Bắc và đặc trưng của nó trong kho tàngtruyện kể dân gian Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả còn đi phân tích nội dung, thipháp truyện kể dân gian xứ Bắc trong các hình thái đã được phân định Công trìnhnghiên cứu của Nguyễn Huy Bỉnh không chỉ cung cấp một bức tranh về diện mạotruyện kể dân gian xứ Bắc để từ đó chúng ta có thể nhận diện được sự tồn tại của hệthống truyện kể dân gian xứ Bắc với ba thể loại đặc trưng là truyền thuyết, truyện

Trang 11

cổ tích và truyện cười Công trình còn lý giải và làm rõ mối quan hệ giữa nội dungcốt truyện của truyện kể dân gian xứ Bắc với các hình thức văn hóa dân gian kháctheo những quy luật tồn tại của chúng.

Năm 2000, tác giả Trần Thị An đã bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ: Đặc trưng thể loại và vấn đề văn bản hóa truyền thuyết Luận án này đã được xuất bản thành sách chuyên khảo năm 2014.

Tiếp theo là công trình Khảo sát và nghiên cứu truyền thuyết dân gian xứ Nghệ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Lưu đã khảo sát nghiên cứu truyền thuyết dân

gian xứ Nghệ nhìn từ đặc trưng thể loại và trong không gian văn hóa xứ Nghệ.Công trình đã có những đóng góp lớn cho việc nghiên cứu và giảng dạy truyềnthuyết dân gian Việt Nam nói chung Luận án không chỉ trình bày một cái nhìn hệthống về truyền thuyết dân gian xứ Nghệ mà còn tái khẳng định củng cố hệ thốngthi pháp thể loại của truyền thuyết dân gian bằng các dẫn chứng và phân tích cụ thể

từ kho tàng truyền thuyết dân gian Xứ Nghệ Bên cạnh đó việc sưu tầm truyềnthuyết dân gian cũng gặt hái được nhiều thành tựu Các địa phương đều có tuyển tậptruyện dân gian của địa phương mình, trong đó không thể thiếu truyền thuyết dângian về các vị tổ sư bách nghệ

Có những nghiên cứu ít nhiều có chạm đến vấn đề lý thuyết motif truyện kể

dân gian trong đó có trong công trình Nghiên cứu văn hóa dân gian – Phương pháp, lịch sử, thể loại của nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên tương đối đầy đủ Trong bài

viết “Truyện cổ tích dưới mắt các nhà khoa học”, ông tổng hợp các lý thuyết nghiêncứu motif đã xuất hiện trong nghiên cứu văn học dân gian từ trước nay trên thế giới.Sau phần trình bày về các quan điểm của các trường phái folklore về đơn vị motif,ông đã ứng dụng thực tế các phương diện nghiên cứu của các trường phái đó trong

bài viết “Về cái chết của mẹ con dì ghẻ trong truyện Tấm Cám”.

Ngoài ra còn các công trình có tính ứng dụng cụ thể các bình diện nghiên cứumotif truyện kể dân gian ở Việt Nam của các nhà nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh

vực nghiên cứu folklore ở nước ta như công trình Người anh hùng làng Dóng của Cao Huy Đỉnh; Truyện kể dân gian đọc bằng type và motif của Nguyễn Tấn Đắc,

Cổ tích thần kỳ người Việt – đặc điểm cấu tạo cốt truyện của Tăng Kim Ngân;

Trang 12

Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á của Nguyễn Bích Hà; Nhân vật xấu xí mà tài ba trong truyện cổ tích thần kì Việt Nam

của Nguyễn Thị Huế Trong những công trình này, các nhà nghiên cứu đã tiến hànhkhảo sát vị trí và vai trò của các motif tạo nên cốt truyện, tìm kiếm sự biến đổi củamotif và nguồn gốc phong tục, tín ngưỡng của motif,…

Một số công trình quan tâm nghiên cứu về các nghề thủ công truyền thống gắnvới các vị tổ nghề:

Cuốn Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các vị tổ nghề (Trần Quốc

Vượng – Đỗ Thị Hảo,1996, NXB Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Hà Nội) viết vềcác vị tổ nghề của làng nghề thủ công, mĩ thuật được truyền lại qua các đời và ảnhhưởng của nghề tới đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội Nhưng công trình mới chỉdừng lại ở ngành nghề thủ công tiêu biểu và còn rất nhiều nghề khác vẫn chưa đượccác nhà nghiên cứu quan tâm đúng mức

Cuốn sách Nghề cổ nước Việt: Từ truyền thống đến hiện đại của tác giả Vũ

Từ Trang xuất bản năm 2020, NXB Phụ Nữ Ông đã mất nhiều năm tháng lăn lộntrong thực tế để khảo cứu nhiều nghề một cách nghiêm túc có chiều sâu Mỗi bàiviết là một chuyên khảo nghiên cứu công phu từ địa lý làng nghề, tổ nghề và thờiđiểm xuất phát, nghi lễ tín ngưỡng cho làng nghề, sự truyền nghề và những đặcđiểm kỹ thuật và sản phẩm của nghề Ông cũng chú trọng nhiều đến khía cạnh vănhóa của làng nghề.”

Tiếp nữa là đề tài nghiên cứu khoa học của Trần Yêm – Nguyễn Thị Ánh

Tuyết – Nguyễn Thị Hà – Nguyễn Đức Tùng mang tên Đánh giá sự tham gia của các tổ chức quần chúng trong bảo vệ môi trường làng nghề trong quá trình công nghiệp, hiện đại hóa nông thôn (lấy làng nghề giấy Phong Khê làm ví dụ) đã cho

chúng ta thấy được sự cần thiết, nghiêm túc trong việc nghiên cứu và bảo vệ cáclàng nghề truyền thống trong giai đoạn hiện đại ngày nay

Một số công trình khác quan tâm đến việc thực hành tín ngưỡng thờ tổ nghề,quan tâm đến các lễ hội tôn vinh, tưởng niệm các vị tổ nghề:

Trong cuốn sách Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam xuất bản năm 2000 là

một công trình lớn tập hợp nhiều bài viết về các lễ hội truyền thống của Việt Nam

Trang 13

Công trình đã khảo sát được 212 lễ hội ở khắp các vùng văn hóa trên đất nước.Trong đó có các bài viết về lễ hội xung quanh các nhân vật tổ sư bách nghệ.

Năm 2005, Lê Trung Vũ và Lê Hồng Lí đồng chủ biên đã cho ra mắt công trình

Lễ hội Việt Nam của nhiều tác giả viết về hơn 300 lễ hội trong đó có một số lễ hội

viết về các vị tổ nghề trên cả nước

Ở thành phố Hồ Chí Minh, Vietbooks đã tổ chức họp báo về Hành trình tìm kiếm tổ nghề Việt Nam vào ngày 9/12/2009 Ông Lê Trần Trường An cho biết: “Ở

Việt Nam và trên thế giới, có rất nhiều người không biết tổ nghề của mình là ai Bởivết trầm tích thời gian đã phủ mờ nhiều kí ức, bởi cuộc sống mưu sinh hối hả, nhọcnhằn cuốn con người trôi đi với những lo toan bất tận, bởi không có điều kiện tiếpcận, tìm hiểu thông tin…” Chương trình truyền hình đầu tiên phát sóng vào ngày15/1/2010 Trung tâm dữ liệu CEO và các hiệp hội, hội ngành nghề thực hiện nhằmmục đích tôn vinh các ngành nghề và tưởng nhớ, tri ân các tổ nghề ở Việt Nam.Hành trình này của Vietbooks đã công bố hơn 100 người được cho là những vị tổnghề Việt Nam Những người đang theo đuổi các ngành nghề trong xã hội có thểđến đây tìm hiểu lịch sử nghề và tỏ lòng biết ơn những vị tổ đã sáng lập nên nghềnghiệp của họ Theo dự kiến, đình thờ Tổ nghề Việt Nam sẽ được xây dựng với quy

mô lớn tại cố đô Hoa Lư (Ninh Bình) và một tỉnh thành phía Nam Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, Hội dạy nghề Việt Nam đã đồng ý bảo trợ cho Hành trình tìm kiếm tổ nghề Việt Nam cho đến nay đã có nhiều công

trình nghiên cứu sâu hơn về các làng nghề

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Chúng tôi thực hiện việc thống kê các bản truyện truyền thuyết tổ sư bách nghệtrong không gian văn hóa châu thổ Bắc Bộ Việc hệ thống này sẽ cho ta có cái nhìntổng quát về văn học dân gian viết về các vị tổ nghề Không chỉ nghiên cứu về diệnmạo mà chúng tôi còn tập trung khảo sát nội dung những văn bản theo các motifnhằm làm rõ đặc điểm truyền thuyết về các tổ sư bách nghệ và đặc trưng của nótrong kho tàng truyện kể dân gian Việt Nam Bên cạnh đó, chúng tôi muốn đi sâu lígiải văn bản truyền thuyết theo hướng làm rõ nội dung và thi pháp truyền thuyết vềcác nhân vật tổ nghề

Trang 14

Luận văn còn đặt truyền thuyết trong không gian văn hóa để tìm hiểu, làm rõ

sự tác động, ảnh hưởng, mối quan hệ hữu cơ giữa truyền thuyết và những thành tốvăn hóa khác Chúng tôi không chỉ đi sâu tìm hiểu truyền thuyết như những văn bảnkhô cứng mà tìm hiểu nó trong nội hàm văn hóa dân gian và các sinh hoạt trong đờisống cổ truyền của người dân vùng châu thổ Bắc Bộ Mặt khác, qua hiện trạng tồntại của các di tích lịch sử trên vùng văn hóa này người viết muốn truyền tải thôngđiệp hãy giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của lớp cha anh đi trước – nhữngngười đã trực tiếp viết nên những trang sử vẻ vang của vùng đất quan trọng, linhthiêng bậc nhất của dân tộc Việt Nam

Việc nghiên cứu đề tài này có thể bổ sung tư liệu tham khảo về các tổ nghề, qua

đó giúp bảo tồn văn hóa dân tộc – dân gian bao gồm việc bảo tồn các nghề truyềnthống, thủ công Việt Nam có tầm quan trọng hàng đầu đối với thế hệ tương lai của

Việt Nam Cũng theo GS Trần Quốc Vượng viết trong cuốn Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các vị tổ nghề nhận định, đấy là lời giải đúng cho phép biện

chứng qua lại giữa:

TRUYỀN THỐNG ––––––––––– HIỆN

ĐẠI GIÀ ––––––––––– TRẺGIỮ GÌN TINH HOA VỐN CŨ ––––––––––– SÁNG TẠO MỚI

Ông không muốn bất cứ một thế lực nào phá vỡ hình ảnh truyền thống văn hóa ViệtNam trong đó có truyền thống nghề thủ công nghiệp Việt Nam

Mong rằng, công trình nghiên cứu này sẽ giúp người đọc hiểu được mối quan

hệ giữa các vị tổ nghề với làng nghề và lễ hội cũng như biết rõ hơn về nguồn gốcquá trình hình thành, phát triển, nhớ đến nó để chúng không bị mai một bị rơi vàoquên lãng Từ đó thêm tự hào hơn về lịch sử vùng miền cũng như dân tộc ta đã sinhsống và làm ăn ra sao vào những thế kỉ trước

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong luận văn là truyền thuyết dân gian về các vị tổ sư bách nghệ qua các bản

kể đã được sưu tầm, qua thần tích, cũng như các sách đã xuất bản

Trang 15

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Do vấn đề hạn hẹp về thời gian và kinh phí mà luận văn xin tập trung nghiêncứu thể loại truyền thuyết, một số truyện về tổ sư tiêu biểu trong giới hạn khônggian văn hóa vùng châu thổ Bắc Bộ

Với mong muốn có cái nhìn toàn diện về đối tượng nghiên cứu, cho nên chúngtôi mở rộng tối đa sức mình về phạm vi tư liệu khảo sát Đầu tiên chúng tôi tìm

kiếm truyền thuyết tổ sư bách nghệ trong các công trình đã xuất bản như: Tổng tập văn học dân gian người Việt do Kiều Thu Hoạch chủ biên (Tập 4 + 5) Tuyển tập Văn học dân gian Việt Nam gồm 5 tập chia làm 7 quyển trong đó Tập 1+2: thần thoại và truyền thuyết do Viện Văn học, Nhà xuất bản Giáo dục in ấn Còn Truyện

kể dân gian Hà Nội chứa rất nhiều truyện truyền thuyết Hà Nội được NXB Hà Nội

ra mắt bạn đọc và còn nhiều tài liệu tham khảo nữa Cuối cùng là một số truyềnthuyết, thần tích chúng tôi sưu tầm tại địa phương, nơi có những đình, đền thờ tổ sưbách nghệ trong quá trình khảo sát thực địa

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp loại hình: Thực chất của việc nghiên cứu theo phương pháp loại

hình là nghiên cứu kết cấu và các motif cơ bản của truyền thuyết về tổ nghề để làm

rõ hình tượng nhân vật, làm rõ những đặc trưng thể loại, những giá trị nội dung vànghệ thuật của truyền thuyết

5.2 Phương pháp hệ thống, thống kê, phân loại: Chúng tôi tập hợp các bản kể

truyền thuyết về các vị tổ sư và sưu tầm thêm một số truyền thuyết dân gian lưutruyền ở địa phương Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành phân loại các truyền thuyết

về nhân vật tổ sư thành các tiểu loại, dựa vào đặc trưng thể loại truyền thuyết và dựavào đặc điểm của truyền thuyết dân gian tại địa phương này

5.3 Phương pháp điều tra thực địa: Đây là phương pháp quan trọng khi chúng tôi

thực hiện đề tại này Vì thời gian và kinh phí có hạn, chúng tôi không thể tiến hànhđiền dã ở tất cả những nơi lưu hành truyền thuyết dân gian về nhân vật tổ sư toànvùng châu thổ Bắc Bộ, do vậy chúng tôi chỉ lựa chọn những địa điểm gắn với truyềnthuyết và lễ hội dân gian tiêu biểu trên địa phương vùng châu thổ Bắc Bộ

Trang 16

5.4 Phương pháp liên ngành: Truyền thuyết là thể loại có mối quan hệ chặt chẽ

với lịch sử, phong tục, lễ hội,… Vì vậy trong luận văn chúng tôi sẽ sử dụng phươngpháp liên ngành để xem xét truyền thuyết dân gian dưới nhiều góc độ để có được cáinhìn tổng thể và toàn diện về truyền thuyết dân gian tổ nghề lưu truyền vùng đồngbằng châu thổ Bắc Bộ

5.5 Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được chúng tôi sử dụng

thường xuyên để phân tích các bản truyện, phân tích kết cấu và các truyện theo đặctrưng thể loại nhằm chứng minh cho các luận điểm mà luận văn đưa ra Trên cơ sởphân tích đó mà tổng hợp, đưa ra được những nhận xét, đánh giá về nhân vật và cốttruyện

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Trình bày cái nhìn hệ thống về truyền thuyết về tổ sư bách nghệ trong khônggian văn hoá châu thổ Bắc Bộ Luận văn đã khai thác truyền thuyết dân gian về cácnhân vật tổ nghề, đặc trưng hình tượng, các motif thể hiện nhân vật, hình thức kếtcấu truyện Từ đó góp phần bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu và giảng dạy truyềnthuyết dân gian Việt Nam

6.2 Thông qua việc tìm hiểu mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và tínngưỡng, lễ hội, nghề thủ công truyền thống, luận văn sẽ tái dựng diễn biến lưutruyền của truyền thuyết dân gian về tổ sư bách nghệ vùng châu thổ Bắc Bộ Xemxét mối quan hệ giữa hình tượng tổ nghề trong không gian văn hoá châu thổ Bắc Bộvới tín ngưỡng thờ thần ở đây

6.3 Tổng hợp tương đối một số lượng tư liệu nghiên cứu về các nhân vật tổ nghề để

có cái nhìn đầy đủ và toàn diện về hình tượng tổ nghề trong văn học, văn hóa dângian Hiểu biết về các nhân vật tổ sư bách nghệ trong không gian văn hóa châu thổBắc Bộ sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về văn hóa, văn học và con người cũng như sựphát triển xã hội, truyền thống yêu nước của con người ở vùng đất đặc biệt này

7 Cấu trúc của luận văn

– Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu

– Chương 2: Truyền thuyết về “tổ sư bách nghệ” nhìn từ phương diện nhân vật, kết cấu và motif

– Chương 3: Truyền thuyết về các nhân vật “tổ sư bách nghệ” trong mối quan hệ với các thành tố văn hóa khác trong không gian văn hóa châu thổ Bắc Bộ

Trang 17

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Đặc trưng không gian văn hóa châu thổ Bắc Bộ

1.1.1 Đặc điểm tự nhiên vùng châu thổ Bắc Bộ

chương 4 trong cuốn sách Cơ sở văn hóa của tác giả Trần Quốc Vượng

(Chủ biên) từ trang 208 đến trang 212 có nói đến cơ sở việc chia không gian văn hóa ViệtNam ra thành sáu vùng văn hóa cụ thể là: vùng văn hóa Tây Bắc, vùng văn hóa Việt Bắc,vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ, vùng văn hóa Trung Bộ, vùng văn hóa Trường Sơn – TâyNguyên, vùng văn hóa Nam Bộ

Khi nói vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ là nói tới vùng văn hóa thuộc địa phậncác tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương,Thái Bình; thành phố Hà Nội, Hải Phòng; phần đồng bằng của các tỉnh Phú Thọ,Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh

Về vị trí địa lí, vùng châu thổ Bắc Bộ là tâm điểm của con đường giao lưuquốc tế theo hai trục chính: Đông – Tây và Bắc – Nam

Mặt khác, khí hậu vùng Bắc Bộ thật độc đáo, khác hẳn với các đồng bằngkhác Khí hậu vùng này lại rất thất thường, có gió mùa Đông Bắc vừa lạnh vừa ẩmrất khó chịu, gió mùa hè nóng và ẩm

Một đặc điểm nữa là môi trường nước Đồng bằng Bắc Bộ có một hệ thống sôngngòi khá dày đặc (khoảng 0,5 – 1km/km 2 ) từ những hệ thống sông lớn như sôngHồng, sông Mã, sông Thái Bình, cung cấp nước cho vùng nông nghiệp rộng lớn

1.1.2 Đặc điểm lịch sử – kinh tế – xã hội

Những người nông dân Bắc Bộ này lại sống quần tụ thành làng Làng là đơn vị

xã hội cơ sở của nông thôn Bắc Bộ, tế bào sống của xã hội Việt Nó là kết quả củacông xã nông thôn sản xuất nông nghiệp

Môi trường xã hội: Cư dân ở đồng bằng Bắc Bộ là cư dân sống với nghề trồnglúa nước, làm nông nghiệp một cách thuần túy Người nông dân Việt ở Bắc Bộ làngười nông dân đồng bằng, đắp đê lấn biển trồng lúa, làm muối, đánh cá ở ven biển.Trước kia nghề khai thác hải sản không mấy phát triển như bây giờ Họ tận dụng ao,

Trang 18

hồ, đầm để khai thác thủy sản là một phương thức được người nông dân rất chútrọng Đã có lúc việc khai thác ao hồ thả cá tôm được đưa lên hàng đầu như một câu

ngạn ngữ: Nhất canh trì, nhì canh viên, ba canh điền (nhất thả cá ao, nhì làm vườn,

ba làm ruộng) Dù sao, phương thức canh tác chính của cư dân đồng bằng sôngHồng vẫn là trồng lúa nước (chiếm khoảng 82% diện tích trồng cây lương thực).Trong khi đó, đất đai ở Bắc Bộ không phải là nhiều, dân cư lại đông Vì thế,

để tận dụng thời gian rảnh rỗi của vòng quay mùa vụ, người nông dân đã làm thêmnhiều nghề thủ công Ở đồng bằng châu thổ Bắc Bộ trước đây, người ta đã từng đếmđược hàng trăm nghề thủ công, có một số làng phát triển thành chuyên nghiệp vớinhững người thợ có tay nghề cao Một số nghề đã rất phát triển, có lịch sử tồn tạilâu đời như nghề gốm, nghề dệt, nghề luyện kim, đúc đồng,…

1.1.3 Đặc điểm văn hoá

Như đã trình bày ở trên, Bắc Bộ là cái nôi hình thành dân tộc Việt, vì thế,cũng là nơi sinh ra các nền văn hoá lớn, phát triển nối tiếp lẫn nhau: Văn hoá ĐôngSơn, văn hoá Đại Việt và văn hoá Việt Nam

Trước tiên là sự ứng xử với thiên nhiên Hàng ngàn năm lịch sử, người dânViệt đã chinh phục thiên nhiên, tạo nên một diện mạo đồng bằng như ngày nay bằngviệc đắp mương, đắp bờ, đắp đê

Ăn uống của cư dân Việt trên châu thổ vẫn như mô hình bữa ăn của ngườiViệt trên các vùng đất khác đặc trưng là: cơm + rau + cá, nhưng thành phần cá ởđây chủ yếu hướng tới các loại cá nước ngọt Hải sản đánh bắt ở biển chủ yếu giớihạn ở các làng ven biển, còn các làng ở sâu trong đồng bằng, thủy hải sản chưa phải

là thứ ăn chiếm ưu thế, các thức ăn gia súc, gia cầm được lựa chọn

Cách mặc của người dân Bắc Bộ cũng là một sự lựa chọn thích ứng với thiênnhiên của vùng đó là màu nâu Ngày nay, y phục người Việt Bắc Bộ đã có sự thayđổi khá nhiều, cập nhật xu hướng ăn mặc hiện đại, nhiều màu sắc và kiểu dáng đadạng hơn

Các di tích khảo cổ, các di sản văn hoá hữu thể tồn tại ở khắp các địa phương.Đền, đình, chùa, miếu,… có mặt ở hầu khắp các địa bàn, các làng quê Nhiều di tíchnổi tiếng không chỉ trong nước mà cả nước ngoài biết đến như Đền Hùng, khu vực

Trang 19

Cổ Loa, Hoa Lư, Lam Sơn, phố Hiến, chùa Dâu, chùa Hương, chùa Tây Phương,đình Tây Đằng, đền ông Hoàng Mười,…

Kho tàng văn học dân gian Bắc Bộ có thể coi như một loại mỏ với nhiềukhoáng sản quý hiếm Từ thần thoại đến truyền thuyết rồi cổ tích, từ ca dao đến tụcngữ, từ truyện cười đến truyện trạng,…mỗi thể loại đều có một tầm mức dày dặn,mang nét riêng của Bắc Bộ Chẳng hạn truyện trạng ở Bắc Bộ như truyện TrạngQuỳnh, Trạng Lợn,…, sử dụng các hình thức câu đố, câu đối, nói lái, chơi chữ nhiềuhơn truyện trạng ở các vùng khác hay truyền thuyết về các vị anh hùng chống giặcngoại xâm, anh hùng văn hóa chiếm số lượng lớn, nhiều nhất so với các vùng cònlại như truyện về Hùng Vương, Sơn Tinh, Hai Bà Trưng, Lê Lợi, Các thể loạithuộc nghệ thuật biểu diễn dân gian cũng khá đa dạng và mang sắc thái vùng đậmnét Đó là hát quan họ, hát xoan, hát trống quân, hát chầu văn, hát chèo, múa rối,…Đáng kể nhất là những sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của cư dân Bắc Bộ Mọitín ngưỡng của cư dân trồng lúa nước như thờ Thành Hoàng, thờ Mẫu, thờ tổ nghề,

… có mặt trên hầu khắp các làng quê Bắc Bộ Theo dữ liệu cung cấp trong cuốn Cơ

sở văn hóa thì cả nước có khoảng hơn 800 lễ hội quy mô lớn và vùng châu thổ Bắc

Bộ là vùng diễn ra nhiều lễ hội nhất với hơn 240 loại hình sinh hoạt văn hóa Nhưvậy, ta có thể thấy rõ ràng lễ hội là một nét tiêu biểu trong văn hóa tín ngưỡng củavùng văn hóa Châu thổ Bắc Bộ

Khi nói về nét đẹp văn hoá vùng châu thổ Bắc Bộ, người ta không thể khôngnhắc đến những làng nghề thủ công đã có lịch sử phát triển cách đây hàng trămnăm Đầu thế kỷ 20, nhà nghiên cứu Piere Gourou đã đếm được 108 nghề thủ công

ở 7000 làng thuộc vùng châu thổ sông Hồng Ở đây có tới 500 làng nghề, tập trungnhiều nhất ở Nam Định, Hà tây, Thái Bình, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, VĩnhPhúc, Hà Nam, Hà Nội Tóm lại, với những sắc thái đặc trưng với những giá trị lớn, vănhóa tín ngưỡng ở vùng Bắc Bộ đã góp phần không nhỏ trên hành trình xây dựng một nềnvăn hóa tiến bộ, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc

1.2 Khái niệm truyền thuyết và truyền thuyết nhân vật

1.2.1 Khái niệm và bản chất của truyền thuyết

Đã có nhiều ý kiến, nhiều công trình nghiên cứu về khái niệm truyền thuyết

và đa số đều coi truyền thuyết là một thể loại của Văn học dân gian Nhân

Trang 20

vật trong truyền thuyết là những nhân vật đã được hình tượng hóa do sự phản ánh

có tính lịch sử, truyền thuyết phản ánh nhận thức và tình cảm của nhân dân đối vớilịch sử Trong sự phản ánh đó, không phải lúc nào người ta cũng tôn trọng lịch sử

mà chỉ nhấn mạnh đến một số chi tiết có dụng ý và quan tâm nhiều hơn những điềunên có theo mong ước của nhân dân Vì vậy, điều mà truyền thuyết phản ánh khôngphải là lịch sử như thế nào mà là lịch sử đem lại cái gì cho nhận thức và tình cảmcủa nhân dân Do đó, có thể coi tất cả những truyện truyền miệng, có đặc trưng nghệthuật, có liên quan đến lịch sử dân tộc từ trước đến nay đều là truyền thuyết Vìnhững quan niệm khác nhau nên cũng có nhiều khái niệm khác nhau về truyềnthuyết

Tác giả Đỗ Bình Trị trong giáo trình Văn học dân gian (phần truyền thuyết) của

trường Đại học Sư phạm do nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 1970 đã đưa rađịnh nghĩa riêng: “Truyền thuyết là những truyện cổ dính líu đến lịch sử mà lại có

sự kì diệu - là lịch sử hoang đường - hoặc là những truyện tưởng tượng ít nhiều gắnvới lịch sử” [ tr.102]

Bài viết tiểu luận Truyền thuyết anh hùng trong thời kì phong kiến của tác giả

Kiều Thu Hoạch năm 1971, có đưa ra quan niệm về truyền thuyết: “Truyền thuyết

là một thể loại truyện kể truyền miệng, nằm trong loại hình tự sự dân gian, nội dungcốt truyện của nó kể lại truyện tích của nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốccác phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổbiến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng các yếu tố hư ảo,thần kì như cổ tích và thần thoại; nó khác cổ tích ở chỗ không nhằm phản ánh xungđột gia đình, sinh hoạt xã hội và số phận cá nhân mà thường phản ánh những vấn đềthuộc phạm vi quốc gia, dân tộc rộng lớn; nó khác thần thoại ở chỗ nhào nặn tựnhiên và xã hội trên cơ sở sự thật lịch sử cụ thể chứ không phải là hoàn toàn trongtrí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng” [tr.16]

Trong Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của Trường Đại học Quốc gia

Hà Nội xuất bản năm 2001, tác giả Lê Chí Quế định nghĩa: “Truyền thuyết là mộtthể loại trong loại hình tự sự dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử,danh nhân văn hóa hay nhân vật tôn giáo thông qua sự hư cấu nghệ thuật thầnkì.”[tr.49]

Trang 21

Nhìn chung thì các ý kiến trên đều gặp nhau ở điểm chung về truyền thuyết đólà: truyền thuyết là một thể loại truyện kể dân gian có liên quan đến hiện thực lịch

sử, phản ánh lịch sử thông qua hư cấu, tưởng tượng của nhân dân

1.2.2 Phân loại truyện truyền thuyết

Vấn đề phân loại truyền thuyết là một vấn đề phức tạp Mỗi cách phân loạicủa các nhà folklore đều có lí riêng và căn cứ vào những tiêu chí nhất định

Nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch mô tả khá tỉ mỉ sự phức tạp cách chia

truyền thuyết trong bài viết Xác định thể loại truyền thuyết [23,125] Trong bài viết

này, tác giả đã trình bày chi tiết những khuynh hướng khác nhau khi phân loạitruyền thuyết của giới folklore quốc tế Ở Nhật Bản có ít nhất 4 phương án phân loạiđược thực hiện dưới 4 tiêu chí khác nhau Khi lấy sự vật khách thể có liên quan đếnnội dung truyền thuyết là tiêu chí phân loại, truyền thuyết được chia làm 6 loại: Loạicây cối; Loại hang động, đá nói; Loại nước; Loại mồ mả; Loại sườn đèo, dốc núi;Loại nhà thờ Khi tiêu chí phân loại là hình thái tồn tại và chức năng của truyềnthuyết thì truyền thuyết được chia làm 3 loại: Truyền thuyết thuyết minh (giải thíchnguồn gốc các sự vật); Truyền thuyết lịch sử (về các nhân vật và sự kiện lịch sử);Truyền thuyết tín ngưỡng Khi căn cứ vào tính chất của nội dung truyền thuyết lạiphân thành 6 loại lớn như: Truyền thuyết thần tiên; Truyền thuyết thị tộc; Truyềnthuyết nữ giới; Truyền thuyết động thực vât; Truyền thuyết địa lí, thiên văn; Truyềnthuyết tôn giáo Căn cứ vào quan điểm lịch sử cội nguồn, có nhà folklore lại chiatruyền thuyết làm 3 loại: Truyền thuyết thần thoại; Truyền thuyết lịch sử; Truyềnthuyết văn nghệ

Đối với giới nghiên cứu folklore Trung Quốc tình hình phân loại truyền thuyếtcũng diễn ra tương tự Có tài liệu chia truyền thuyết thành 6 loại: Truyền thuyếtnhân vật (danh nhân lịch sử); Truyền thuyết lịch sử (sự kiện lịch sử); Truyền thuyếtđịa phương (nguồn gốc địa danh); Truyền thuyết sản vật; Truyền thuyết phong tục;

Truyền thuyết thời sự Còn tác giả cuốn Từ điển truyện dân gian Quảng Tây lại

phân loại truyền thuyết gọn gàng hơn, chỉ gồm 3 loại: Truyền thuyết nhân vật;Truyền thuyết sự kiện lịch sử; Truyền thuyết phong vật địa phương Đặc biệt trong

một công trình đồ sộ Trung Quốc truyền thuyết cố sự đại từ điển, các tác giả đã đề

Trang 22

xuất phân loại truyền thuyết thành 23 loại hình như: Loại hình gà gáy; Loại hình phụ nữ hiến thân; Loại hình đá vọng phu;….

Ở Việt Nam, vấn đề phân loại truyền thuyết từ trước đến nay đã được bàn

đến Trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam, tác giả Lê Chí Quế, người biên soạn mục

“Truyền thuyết” chia truyền thuyết thành 3 loại: Truyền thuyết lịch sử; Truyền thuyết anh hùng; Truyền thuyết về các danh nhân văn hóa.

Tác giả Hoàng Tiến Tựu trong sách Văn học dân gian Việt Nam, tập II [tr.97] lại chia truyền thuyết thành 4 nhóm: Truyền thuyết về họ Hồng Bàng và thời kỳ Văn Lang; Truyền thuyết về thời kỳ Âu Lạc và Bắc thuộc; Truyền thuyết về thời kỳ phong kiến tự chủ; Truyền thuyết về thời kỳ Pháp thuộc.

Theo Lê Trường Phát trong cuốn Thi pháp văn học dân gian (NXB Giáo dục, Hà

Nội, 2000), tác giả Đỗ Bình Trị đặt ra hai cách phân loại truyền thuyết Cách thứ

nhất: tác giả căn cứ theo lịch sử và căn cứ vào “phạm vi những sự kiện và nhân vật lịch sử được nhân dân quan tâm” [tr.91] để chia truyền thuyết thành hai bộ phận: Những truyền thuyết về thời vua Hùng và Những truyền thuyết về sau thời vua Hùng Trong bộ phận hai này lại chia thành các nhóm nhỏ: truyền thuyết về “những cuộc khởi nghĩa và những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm với nhân vật trung tâm là những anh hùng dân tộc”; truyền thuyết về “những danh nhân văn hóa và những vị quan nổi tiếng công minh chính trực hoặc có tài kinh bang tế thế”; truyền thuyết về “những cuộc nổi dậy chống ách áp bức của vua quan tham tàn, bạo ngược, với nhân vật trung tâm được ngày nay gọi là anh hùng nông dân” Cách

phân loại thứ hai: Đỗ Bình Trị căn cứ vào những đặc trưng của thể loại và sự khácbiệt của đối tượng được truyện kể đến, ông chia truyền thuyết thành ba tiểu loại:Truyền thuyết địa danh (gồm “những truyện kể dân gian về nguồn gốc lịch sử củanhững tên gọi địa lí khác nhau hoặc về nguồn gốc bản thân những địa điểm, địahình, sự vật địa lý ấy’’; Truyền thuyết phổ hệ (gồm “những truyện kể dân gian vềnguồn gốc các thị tộc, bộ lạc, gia tộc, các làng xã, thành thị, xưởng máy… và cácthủy tổ, tổ sư cùng những đại biểu tài năng nhất của các nghề thủ công mĩ nghệ,…);Truyền thuyết về nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử [tr.184 – 195]

Trong bài Tổng quan về thể loại truyền thuyết, nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch đã

đưa ra những bất cập, những chỗ chưa thỏa đáng cần trao đổi bàn bạc thêm Trên cơ

Trang 23

sở đó, ông đưa ra phương án phân loại truyền thuyết thành ba loại lớn: Truyền thuyết nhân vật; Truyền thuyết địa danh; Truyền thuyết phong vật (phong tục, sản vật) Tác giả cũng định hình rõ mỗi loại trên bằng cách “trong mỗi loại lớn lại tùy theo đề tài, chức năng của nội dung truyện kể mà phân chia tiếp thành các biến thể, thể loại hoặc tiểu loại” [24, 144 - 145] Ví như truyền thuyết nhân vật, sẽ bao gồm

các tiểu loại: truyền thuyết về các anh hùng chống xâm lược; truyền thuyết về cácanh hùng văn hóa; truyền thuyết về các anh hùng nông dân [24, 144 -145]

Mỗi cách phân loại của các nhà nghiên cứu folklore trong và ngoài nước đềucăn cứ vào những tiêu chí khá cụ thể Tuy nhiên khó có phương án phân loại nào cóthể coi là chìa khóa vạn năng để có thể sử dụng trong mọi tình huống nghiên cứu.Với mục đích nghiên cứu thể loại truyền thuyết gắn với một địa phương cụ thể, gắnvới không gian văn hóa cụ thể, tôi nhận thấy cách phân loại của nhà nghiên cứuKiều Thu Hoạch phù hợp với vấn đề nghiên cứu mà luận văn đặt ra Truyền thuyếtcác vị tổ sư bách nghệ cùng những đại biểu tài năng nhất của các nghề thủ công mĩnghệ được xếp vào truyền thuyết nhân vật

1.2.3 Truyền thuyết nhân vật

Truyền thuyết nhân vật nói chung chiếm số lượng lớn nhất trong các thể loại truyềnthuyết cũng là trung tâm của mọi sự sáng tạo trong tiềm thức dân gian vùng châuthổ Bắc Bộ Các motif, các diễn biến của truyện đều nhằm lột tả nhân vật theo cách

mà dân gian tưởng tượng về nhân vật đó

Trong loại truyền thuyết nhân vật, căn cứ vào đối tượng được kể, chúng tôi chia làm

hai bộ phận, gồm: Truyền thuyết nhiên thần và truyền thuyết nhân thần Truyền

thuyết nhiên thần trở thành nơi nương náu cho những tín ngưỡng cổ xưa bậc nhấtcủa người Việt – tín ngưỡng thờ vật tổ và tín ngưỡng thờ tự nhiên Còn truyềnthuyết nhân thần, các nhân vật là những người anh hùng sáng tạo văn hóa, là nơivun đắp cho tín ngưỡng thờ tổ tiên và thờ phụng những vị có công lao với nhân dân.Nhưng chủ yếu truyện truyền thuyết về các nhân vật tổ sư bách nghệ được xếp vàotruyền thuyết nhân thần, cụ thể là truyền thuyết về các anh hùng văn hóa, phản ánhtín ngưỡng thờ tổ nghề của cư dân bản địa Mặt khác nó sẽ cho thấy con đường bóctách các lớp văn hóa trong truyền thuyết qua thời gian và qua sự biến đổi trong tưduy con người

Trang 24

Qua Bảng 1.1: Thống kê số lượng bản truyện dân gian về các nhân vật tổ nghề, chúng tôi nhân thấy có 79/ 84 truyện truyền thuyết vị tổ sư là nhân thần Có 5/

84 truyện truyền thuyết các vị tổ sư là nhiên thần như các nhân vật như Âu Cơ, LạcLong Quân, Sơn Tinh, ông Đùng, các bách nghệ tổ sư này có nòi giống rồng, giốngtiên đã được biến đổi nửa tự nhiên nửa lịch sử hóa chứ không phải là các nhân vật nhiênthần ở dạng nguyên bản (đá, nước, núi, ) Theo nhận thức của người xưa, Lạc LongQuân và Âu Cơ là tổ tiên của người Việt, vua Hùng là người chủ giang sơn, người chacủa trăm họ; các nhân vật Sơn Tinh, … là những người giúp nước trợ dân, được dân gianlập đền tưởng nhớ, họ trở thành biểu tượng trong tiềm thức dân tộc qua nhiều thời đại.Truyền thuyết lưu lại trong kí ức dân gian hình ảnh các vua Hùng cày cuốc cùng dân,tham gia lễ hội; dạy nghề cho dân; các Mị Nương thường xuyên đi đó đây để xem xétcuộc sống dân tình

Nếu như trong các tín ngưỡng thờ thần Nước, thần Đá, thần Núi ở các vùngvăn hóa miền núi nổi bật nhất là tục thờ thần Đá thì đồng bằng châu thổ Bắc Bộ chủyếu là tục thờ nước và những lễ hội liên quan đến nước

Như vậy, truyền thuyết về các vị tổ nghề chủ yếu là các nhân vật nhân thần.Nhân vật trong truyền thuyết về các tổ sư bách nghệ trở nên hiện thực hơn Sự xuấtthân của họ dần được lịch sử hóa như nhân vật Sơn Tinh có bản kể vốn có nguồngốc xuất thân tự thiên là thần núi, sơn thánh tuấn tú, tài giỏi cai quản cả một vùngnúi Tản Viên rộng lớn Nhưng cũng có bản kể, Sơn Tinh xuất hiện một cách kì lạnhưng là con của người dân thường Ngay từ lọt lòng, Sơn Tinh đã biết nói biếtcười, tài trí hơn người, tạo ra đồng lúa, rừng núi Khi trưởng thành, ngài tham giatranh tài đánh thắng Thủy Tinh trong cuộc thi kén rể, cưới được Mị Nương Ngàilập được nhiều chiến công hiển hách đánh giặc Thục, giúp vua Hùng giữ nước Khiđất nước thái bình, ngài lại khi khắp nơi dạy nghề cho dân chúng sinh sống Trảiqua chiều dài lịch sử, qua sự du nhập văn hóa và sự thẩm thấu văn hóa đã dần trởthành vị anh hùng chống giặc ngoại xâm, rồi sau khi hoàn thành nhiệm vụ giết giặclại được người dân thờ làm một vị phúc thần bảo hộ cho dân làng Chính quá trình

ấy đã làm cho diện mạo và hành trạng của nhân vật Sơn Tinh có sự vận động biếnđổi từ một vị nhiên thần đã trở thành một vị nhân thần, và trở thành một Thành

Trang 25

hoàng làng Hay Lạc Long Quân và Âu Cơ cũng vậy, sinh ra là giống rồng, giốngtiên con của Thần Nông được cử xuống phàm trần thuở dân tộc Việt còn sơ khai.Lạc Long Quân gặp nàng Âu Cơ, hai người yêu thương nhau và lấy nhau sinh rađược trăm trứng nở trăm con Việc này, dân gian dùng để lí giải nguồn gốc tạo ratộc Việt đầy thiêng liêng và cao quý, mở đầu là sự trị vì của Hùng Vương – mộttrong những người con của Long Quân và Âu Cơ Dần dần nàng Âu Cơ trở thànhQuốc mẫu rồi tổ nghề nông trang khi dạy dân sống bằn nghề trồng trọt, chăn nuôi.

Dù áp dụng cách phân loại này chúng ta cũng không thể rạch ròi tuyệt đối giữa hailoại nhân vật nhiên thần và nhân vật nhân thần Bởi khi xây dựng lên các loại nhânvật này tác giả dân gian bị chi phối bởi hai xu hướng biến đổi ngược chiều nhausong lại cố gắng làm sao để hai loại nhân vật ấy trở nên gần gũi nhau Các nhân vậtnhiên thần thì được phàm tục hóa để trở nên gần gũi hơn với cuộc sống con ngườicòn các nhân vật nhân thần thì lại được sáng tác theo khuynh hướng linh thiêng hóa

để hài hòa tương xứng với vũ trụ Ví dụ như công chúa Thiều Hoa – con gái vuaHùng Vương thứ 6, nhưng nàng không thích cuộc sống giàu sang trong cung, liềnxin vua cha cho đi du ngoại Nàng có biệt tài nói chuyện được với các ong bướm.Chính điều này, giúp nàng sáng tạo ra nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa Hay TrạngPhùng là tổ nghề dệt nước Nam thời Hậu Lê, thông minh tài giỏi, thi đỗ làm quanlớn trong triều Vua cử ông sang Trung Quốc ngoại giao và nhờ sự quan sát tỉ mỉông học được nghề dệt Khi đi sứ về qua tỉnh Lạng Sơn, ông còn gặp được chúaLiễu Hạnh hiện hình Hai bên đối đáp thơ văn với nhau một hồi không phân thắngbại, Như vậy khi các nhận vật tổ nghề có nguồn gốc là người thường thì tài năng,hành trạng của họ cũng được đề cao, mang dấu ấn kì ảo để nâng tầm vị thế nhân vậtdần trở thành Hoàng làng, tổ sư

1.3 Khái niệm “tổ sƣ bách nghệ” và “truyền thuyết về tổ sƣ bách nghệ”

1.3.1 Tổ sư bách nghệ

Nguyễn Minh San nêu khái niệm “Tổ nghề” khi nói về tín ngưỡng thờ tổ

nghề ở Việt Nam: “Tổ nghề (còn gọi: Tổ sư, Thánh sư, Nghệ sư) – là người phát

minh, sáng lập, gây dựng nên một nghề (thường là nghề thủ công mỹ nghệ) hoặc làngười thứ nhất đem nghề ở nơi khác truyền lại cho dân chúng trong một làng hay

Trang 26

miền nào đó, được người đời sau tôn thờ như bậc thánh Tổ nghề có thể là nam giới

hoặc nữ giới.” [Nhiều tác giả (1998), Hỏi và đáp về văn hóa Việt Nam, NXB Văn

hóa dân tộc, Hà Nội, tr.111]

Tổ nghề hay Đức thánh tổ/ tổ sư/ thánh sư là một hoặc nhiều người có công lớn đối với việc sáng lập và truyền bá một nghề nào đó Tổ sư bách nghệ là cụm từ

chỉ chung những người có công sáng lập hay truyền dạy lại nhiều nghề nghiệp nào

đó cho nhân dân, do đó được các thế hệ sau tôn kính Tổ nghề thường là nhữngngười có thật, nhưng lại được người đời sau tôn thờ như một vị thần để tỏ lòngthành kính, biết ơn cũng như muốn nâng cao vị thế tổ nghề của mình

Trước hết phải thừa nhận rằng, quan niệm về tổ sư ngành nghề của người laođộng Việt Nam là rất rộng rãi, đã có một cách hiểu rất nhân văn cho định nghĩa này.Ngay hai chữ “bách nghệ” là đã nói lên khuynh hướng bao gồm, không muốn đểthiếu sót trong tâm lí người dân Chúng ta thường có ý nghĩ, nghề nghiệp đây lànhững nghề thủ công, song rõ ràng người dân không muốn quan niệm một cách hẹpnhư thế “Nghệ” không chỉ là nghề cụ thể hẳn hoi, mà bất cứ những hành động nàođảm bảo cho sự tạo ra của cải vật chất, đem đến một sự bình an, đảm bảo được sựsinh tồn của con người, thì đều có thể gọi là nghề Nhìn vào những của cải vật chất,không ai phân biệt cao thấp sang hèn, cấp độ to nhỏ, cứ phục vụ được nhu cầu sinhhoạt của con người là đều được trân trọng ngang nhau Theo Vụ Quản lý nghề – BộNông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Việt Nam), năm 2009, cả nước có hơn 2.000làng nghề, 60% số làng nghề có tổ nghề được nhân dân thờ phụng nhiều đời

Thực chất nhu cầu tín ngưỡng bách nghệ tổ sư xuất phát từ ba nguyên nhân cơbản Thứ nhất, tâm lí của người Việt Nam là luôn muốn biết rõ nguồn gốc của mình;không phải chỉ nguồn gốc đất nước, chủng tộc mà cả nguồn gốc tông chi, họ hàng,nguồn gốc (truyền thống) của gia đình, thậm chí là cả bản thân mình nữa Biết đếnnguồn gốc của một ngành nghề cũng chỉ là một khía cạnh trong tâm lí chung ấy chứkhông có gì đáng ngạc nhiên Nguyên nhân thứ hai là dân tộc ta luôn có một đứctính nổi trội là lòng biết ơn Người Việt Nam luôn luôn nghĩ rằng mình phải biết ơntất cả, ơn thần Phật, tổ tiên, cha mẹ, hoặc những người chỉ lối dẫn đường Như vậy,thì đối với một con người thực hay người trong tâm tưởng đã chỉ vẽ nghề

Trang 27

nghiệp, hướng cho mình lao động sinh tồn, chắc chắn phải dành một sự biết ơn trân

trọng Thi ân vật niệm, thu ân vật vong (Làm ơn đừng nhớ, chịu ơn đừng quên) đó

là đức tính cố hữu của người Việt Đức tính ấy đã thể hiện một cách sâu lắng trongtín ngưỡng thờ bách nghệ tổ sư Nguyên nhân thứ ba là lòng mong mỏi vào sự bảotrợ, phù hộ bình an để làm việc, mơ ước về sự phát triển kinh tế trong nghề nghiệp

“thuận buồm xuôi gió”

Các nghề đều có tổ nghề, có khi nhiều người là tổ cùng một nghề (như nghềgốm ở Bát Tràng là Hứa Vĩnh Kiều, Đào Trí Tiến, Lưu Phương Tú hay nghề dệt làcông chúa Thụ La, công chúa Quỳnh Hoa) Hoặc cùng một nghề nhưng mỗi nơi thờmột vị tổ khác nhau như nghề bún ở Phú Đô thì thờ ông Hồ Nguyên Thơ nhưng ởHuế lại thờ người phụ nữ mà người ta hay gọi là bà Bún Truyện kể rằng, khi bà đếnđất Phú Đô (Huế) lập nghiệp và dạy nghề cho hàng xóm Một hôm bà đang làm búngiữa buổi trưa nắng gắt thì nhà bùng bùng cháy lan sang cả các nhà xung quanh.Thế là bà bị bắt tội đày giữa sân đình cho đến chết Hằng năm cứ ngày giỗ của bà làmột nhà trong làng cháy Dân làng cho rằng bà bị oan nên đã lập đền thờ bà và từ đótai qua nạn khỏi Không biết bà Bún và ông Hồ Nguyên Thơ có quan hệ gì khôngnhưng họ đều quê gốc Thanh Hóa mang đến nghề bún cho quê mới và lễ hội hailàng ở Thăng Long và Huế lại có những phong tục, lễ hội giống nhau đến lạ thường.Hay nghề trồng dâu nuôi tằm ở Thái Bình có nơi thờ Bát cung phi Liên Hương, cónơi thờ Ả Lã Phương Dung, có nơi lại thờ Trần Thị Nguyệt,

1.3.2 Truyền thuyết về “Tổ sư bách nghệ “trong vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ

1.3.2.1 Các truyền thuyết thành văn kể về tổ sư bách nghệ

Vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ là sản phẩm được tạo nên từ sự bồi đắp phù

sa chủ yếu của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình Khí hậu ở đây cũng đượcchia ra làm bốn mùa đặc trưng: xuân, hạ, thu, đông và cư dân chủ yếu sinh sốngbằng nghề trồng lúa nước Ở các làng ven biển có nghề làm muối, đánh cá Để tậndụng thời gian rảnh rỗi, nhàn hạ kiếm thêm thu nhập giữa các mùa vụ trong năm,người nông dân đã làm thêm rất nhiều nghề thủ công và dần dần phát triển thànhcác làng nghề truyền thống

Trang 28

Trong quá trình sưu tầm, chúng tôi tìm thấy nhiều bản kể, truyền thuyết thànhvăn đã được in ấn, xuất bản Sau khi thống kê, phân tích, chúng tôi đã lựa chọn vàliệt kê một số truyện để nghiên cứu viết đề tài Dưới đây là bảng thống kê các bảntruyện truyền thuyết mà chúng tôi đã tìm và sưu tầm được trong các cuốn sách đãđược xuất bản.

STT Tên truyền thuyết Nhân vật Tổ nghề Vùng lưu Nguồn

nghiệp truyền phổ

biến

1 Sơn Tinh dậy dân Sơn Tinh Săn bắn Miền Bắc Tổng tập văn học dân

(trang 186 – 187)

2 Sơn Tinh làm lửa Sơn Tinh Đánh lửa Miền Bắc Tổng tập văn học dân

gian người Việt, tập 4

(trang 187)

3 Sơn Tinh cùng dân Sơn Tinh Đánh bắt cá Miền Bắc Tổng tập văn học dân

(trang 188)

4 Truyện ông tổ nghề Người cầm Rèn sắt Làng Mòi, Tổng tập văn học dân

7 Ông tổ nghề in là Lương Như In Hải Dương Tổng tập văn học dân

(trang 821)

8 Bà chúa dệt: Thụ Nguyễn Thị La Dệt lụa Hà Nội Tổng tập văn học dân

(trang 839)

9 Bà chúa dệt vải Nguyễn Thị La Dệt lụa Hà Nội Tổng tập văn học dân

gian người Việt , tập 4

(trang 840)

Trang 29

10 Truyện sư Nguyễn Nguyễn Minh Nghề y Bắc Bộ Tổng tập văn học dân

(trang 895 – 896)

11 Nguyễn Minh Nguyễn Minh Nghề y Bắc Bộ Tổng tập văn học dân

(trang 897 – 899)

12 Vị tổ nghề giấy Thái Luân Giấy Làng Giấy, Truyền thuyết Việt

Hồ Khẩu, Nam (trang 404 – 405)

Nghè, Nghĩa Đô

13 Bà chúa Muối Nguyệt Ánh Làm muối Thái Bình Truyền thuyết Việt

Nam (trang 407 – 408)

14 Bà chúa Vót Một người phụ Nghề đan Làng Vạn Truyền thuyết Việt

nữ (theo thần lát Vót, Thanh Nam (trang 408 – 410)

theo sách Bà chúa Chè của Nguyễn Triệu Luật là Đặng Thị Huệ; theo sách Lê Hoàn của ty văn hoá Thanh Hoá là

Nga; )

15 Lê Cốc Thánh cả Lê Tổ trò vui Đông Sơn, Truyền thuyết Việt

16 Hội hát huầy dô Thánh Tản Múa hát Liệp Tuyết, Truyền thuyết Việt

Viên huầy dô Ba Vì, Hà Nam (trang 410)

Nội

17 Mẹ Âu Cơ, tổ nghề Mẹ Âu Cơ Tổ nghề Bắc Bộ Truyền thuyết Việt

biến thực phẩm

18 Bà Choá – tổ nghề Bà Choá Trồng dâu Yên Phong, Truyền thuyết Việt trồng dâu nuôi tằm nuôi tằm Hà Bắc Nam (trang 413 – 414)

19 Bà chúa Vĩnh Chúa Vĩnh Khai Phật Tích Truyền thuyết Việt

trồng lúa

20 Ông tổ nghề rèn Người đứng Rèn Quế Võ Truyền thuyết Việt

thợ rào

Trang 30

21 Ông Đùng – tổ nghề Ông Đùng Rèn Nghệ An Truyền thuyết Việt

22 Thần Nga Áp, tổ Thần Nga Áp Nuôi vịt Vĩnh Phú Truyền thuyết Việt

23 Ông Khổng Lồ – tổ Ông Khổng Lồ Đúc đồng Bắc Bộ Truyền thuyết Việt

24 Vua bà Nhữ Nương Nhữ Nương Hát quan Hà Bắc Truyền thuyết Việt

25 Thánh Tản Viên – vị Sơn Tinh Làm ruộng, Bắc Bộ Truyền thuyết Việt

bắn, kéo

vó, tạo lửa, múa hát, luyện võ

26 Lý Anh Nghị - tổ Lý Anh Nghị Dệt Hoa Truyền thuyết Việt

27 Mười vị tiên sư – tổ Mười vị tiên sư Dệt the La Khê Truyền thuyết Việt

thuyết dệt the

28 Lão La – tổ nghề Lão La Chạm gỗ La Xuyên Truyền thuyết Việt

29 ÔngSần,ông Ông Sần, ông Thợ mộc Bắc Bộ Truyền thuyết Việt

Nam Hoa) tổ nghề

mộc

30 Ông thánh họ Đoàn Chàng trai họ Nghề vật Liễu Đôi Truyền thuyết Việt

31 Bà Quế Hoa – tổ Quế Hoa Hát xoan Bắc Bộ Truyền thuyết Việt

32 Mãn Đào hoa công Đinh Lễ, Mãn Ca công Bắc Bộ Truyền thuyết Việt

33 Định Dự, Mãn Hoa Đinh Lễ, Mãn Ca công Bắc Bộ Truyền thuyết Việt

công

34 Trần Quốc Đĩnh – Trần Quốc Hát xẩm Bắc Bộ Truyền thuyết Việt

35 Đào Hoa – tổ nghề Đào Hoa Ca công Bắc Bộ Truyền thuyết Việt

36 Lê Cốc – ông tổ các Lê Cốc Trò vui Bắc Bộ Truyền thuyết Việt

Trang 31

37 Từ Đạo Hạnh và Từ Đạo Hạnh Tuồng chèo Miền Bắc Truyền thuyết Việt

tuồng chèo

trồng mía

39 Triệu Cơ – tổ khai Triệu Cơ Khai canh, Yên Thành, Truyền thuyết Việt

40 Sự tích cái chuông Nguyễn Minh Nghề y, Bắc Bộ Tổng tập văn học dân dưới sông Phả Lại Không đúc đồng gian người Việt , tập 5

(trang 494 – 495)

41 Truyện Ả Đào Đào Thị Ca hát Hải Hưng Tổng tập văn học dân

gian người Việt, tập 5

(trang 198)

42 Nói về sự tích thuộc Nguyễn Thì Thuộc da Trúc Lâm, Tổng tập văn học dân

da làm giày dép ở Trung làm giày Tứ Kỳ, Hải gian người Việt, tập 5

43 Vua Bà Nhữ Nương Hát quan Kẻ Diềm – Tổng tập văn học dân

họ Viêm Xá gian người Việt, tập 5

(trang 481 – 485)

44 Thánh mẫu Thượng Quế Nương Khai Lục Nam Tổng tập văn học dân

vải, chăn (trang 485 – 487) thú, làm đồ

gốm, luyện đồng,

45 Sự tích tổ sư nghề Ông cụ Tiện Hoài Đức, Tổng tập văn học dân

(trang 235 – 236)

46 Ông tổ nghề làm Bùi Nhạ Hành Làm lọng Thanh Hóa Tổng tập văn học dân

(trang 270)

47 Nói về sự tích ông Lương Nhữ Khắc bản Làng Lục Tổng tập văn học dân Lương Nhữ Hộc Hộc in Hồng, Gia gian người Việt, tập 5

Lộc, Hải (trang 306) Dương

48 Bà chúa nghề tằm Công chúa Nuôi tằm Hà Nội Tổng tập văn học dân

Quỳnh Hoa dệt vải gian người Việt, tập 5

(trang 306 – 309)

49 Trạng Bùng, ông tổ Phùng Khắc Trồng dâu Hà Nội Tổng tập văn học dân nghề dệt của nước Khoan nuôi tằm, gian người Việt, tập 5

Trang 32

Nam dệt (trang 341)

50 Bà tổ nghề dệt lụa Hoàng Phủ Dệt lụa Hà Tây, Tổng tập văn học dân

Thiếu Hoa Nam Định, gian người Việt, tập 5

Ninh Bình, (trang 470) Thái Bình

51 Vua Hùng đi săn Vua Hùng Săn bắt Phú Thọ Tổng tập văn học dân

gian người Việt, tập 5

(trang 471)

52 Vua Hùng dạy dân Vua Hùng Cấy lúa, Phú Thọ Tổng tập văn học dân

(trang 371 – 372)

53 Chuông vàng, Đặng Huyền Gốm Chu Hải Dương Tổng tập văn học dân

(trang 599 – 600)

54 Trạng Chiếu Phạm Đôn Lễ Dệt chiếu Thái Bình, Tổng tập văn học dân

Hải Dương gian người Việt, tập 5

(trang 601)

55 Sự tích hát xoan Quế Hoa Hát xoan Phong Châu Tổng tập văn học dân

gian người Việt, tập 5

(trang 474)

56 Bà Chúa Thiên Phạm Thị Dệt lĩnh Trích Sài Truyền thuyết Hà Nội

57 Nghề Cốm làng Chàng trai Làm Cốm Làng Vòng Truyền thuyết Hà Nội

Vòng

58 Ông tổ nghề đúc Không Lộ Đúc đồng Ngũ Xã (Hà Truyền thuyết Hà Nội

Không Lộ thiền sư

59 Ông tổ nghề kim Trần Hòa, Kim Hoàn Hà Nội Truyền thuyết Hà Nội

Trần Điền

Đô úy Nguyễn Làm đậu Làng Mai Truyền thuyết Hà Nội

phụ ở Thăng Long –

60 Hà Nội

Linh Khổn, Làm đậu Võng La, Truyền thuyết Hà Nội

Minh Chiêu, Đông Anh (trang 294 – 295) Cung Mục

Trang 33

61 Tổ nghề làm giấy ở Thái Luân Làm giấy Hà Nội Truyền thuyết Hà Nội

Nội

62 Truyền thuyết về bà Nguyễn Thị La Dệt Hà Nội Truyền thuyết Hà Nội

công chúa

63 Truyền thuyết về Hồ Nguyên Làm bún Phú Đô, Hà Truyền thuyết Hà Nội

64 Nghề làm thuốc Ngọc Hoa Làm thuốc Ba Đình, Truyền thuyết Hà Nội nước Nam ở làng công chúa Nam Hà Nội (trang 308 – 310)

66 Tổ nghề dát vàng Nguyễn Quý Dát vàng Kiêu Kỵ Truyền thuyết Hà Nội

67 Lụa làng trúc vừa Các cung nữ bị Dệt lụa Làng Trúc Truyền thuyết Hà Nội

68 Bà chúa nghề tằm Công chúa Từ Nghề tằm Nghi Tàm Truyền thuyết Hà Nội

Công chúa Nghề tằm Yên Thái

69 Ai làm chiếc nón Vũ Úy Dệt thao Triều Khúc Truyền thuyết Hà Nội

70 Nữ thần nghề Mộc Lỗ Ban, Lỗ Mộc Miền Bắc Tổng tập văn học dân

72 Truyền thuyết ông Nguyễn Công Đúc đồng Bắc Ninh, Vương triều nhà Lý

tổ nghề Gò Đồng Truyền Hưng Yên (trang 320 – 328)

Đại Bái

73 Ông Đùng đúc Ông Đùng Nghề rèn Nghệ An Truyện kể dân gian xứ

– 77)

74 Ông tổ nghề đóng Phạm Đà Đóng Nghệ Tĩnh Truyện kể dân gian xứ

Trang 34

75 Người thợ mộc tài Ông Chuẩn Mộc Nam Sơn, Truyện kể dân gian xứ

Châu công dệt lụa chúa) Trần Thị

Nguyệt

78 Ả Lã Phương Dung Phạm Xuân trồng dâu Bách Nữ thần và thánh mẫu

Dung nuôi tằm Thuận, Thái Thái Bình

81 Bà tổ nghề dệt lụa ở Bà Ả Lã Thị Trồng dâu Hà Nội Truyện dân gian trấn

82 Huyền thoại bà Mẫu Liễu Dệt Giáp Ba, Truyện dân gian trấn

(trang 362 – 364)

83 Truyền thuyết và Chử Đồng Tử, Buôn bán, Bắc Bộ Tứ bất tử (trang 58 – thần tích về Chử Tiên Dung trồng lúa, 40)

84 Nhất Dạ Trạch Chử Đồng Tử, Buôn bán, Bắc Bộ Lĩnh Nam trích quái

Tiên Dung trồng lúa, (trang 34 – 40)

dệt vải,

Bảng 1.1: Thống kê số lượng bản truyện truyền thuyết dân gian về các nhân vật tổ nghề

Trang 35

Theo bảng thông kê trên có thể thấy một nghề có nhiều tổ nghề khác nhau,nhiều dị bản theo đúng đặc trưng của truyện truyền thuyết Và có những nhân vậtkhông chỉ là tổ sư của một nghề mà còn của nhiều nghề – tổ sư bách nghệ Thường tổ

sư bách nghệ có nguồn gốc là các vị thần, thuộc dòng dõi tiên như Hùng Vương dạydân săn bắt, cấy lúa,…; Sơn Tinh dạy dân làm ra lửa, làm ruộng và mở hội, săn bắn,kéo vó, luyện võ, dệt lụa, múa hát…; Âu Cơ và Lạc Long Quân tổ nghề nông trang;Chử Đồng Tử và Tiên Dung dạy dân buôn bán, khai hoang, trồng dâu nuôi tằm;…

Các bản truyện thành văn ở trên cho thấy hầu hết các làng nghề, đặc biệt làthủ công truyền thống tập trung nhiều ở kinh đô Thăng Long (Hà Nội xưa) KhiThăng Long trở thành thủ đô nước ta, nơi đây đã tập trung rất nhiều tầng lớp quýtộc, doanh nhân,… những người biết hưởng thụ, thích hưởng thụ và có khả nănghưởng thụ Để phục vụ cho những tầng lớp xã hội đặc biệt đó, các phố nghề, làngnghề Thăng Long – Hà Nội mọc lên như nấm Các tổ nghề và truyền thuyết về tổnghề cũng vì thế mà phong phú và đặc biệt hấp dẫn Họ có thể sáng tạo ra nghềhoặc mang nghề từ nơi khác đến để truyền nghề cho người Thăng Long – Hà Nội đểgiữ gìn và phát triển Tổ nghề đúc đồng, nghề giấy, nghề vàng bạc, nghề trồng dâunuôi tằm, nghề thêu, nghề dệt vải, nghề làm bún, nghề dệt lĩnh,… còn được lưutruyền trong những làng nghề truyền thống cho đến ngày nay

1.2.2.2 Các truyền thuyết dân gian truyền miệng kể về tổ sư bách nghệ

Trong cuốn Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam có viết: “Do tính truyền

miệng, mà các quá trình sáng tác, lưu truyền, diễn xướng, thưởng thức văn học dângian gắn chặt với nhau, tác động, thúc đẩy lẫn nhau một cách trực tiếp.”[tr.15]Truyện kể dân gian chính là những tác phẩm ngôn từ được tập thể nhân dân sáng tạolên và được tồn tại qua hình thức truyền miệng từ đời này qua đời khác, từ vùngmiền, địa phương này sang vùng miền, địa phương khác

Để tìm hiểu truyện kể dân gian về các vị tổ nghề được lưu truyền trong dân gianhiện nay, chúng tôi đã thực hiện điền dã ở các vùng lân cận, hầu hết những ngườidân chúng tôi gặp đều biết về vị tổ nghề của làng nghề nhưng lại không biết vềtruyền thuyết về các vị ấy Tiếp cận gần hơn với những đối tượng người dân củalàng nghề, những người quanh đền chùa, nơi thờ các vị tổ nghề Vì thời gian và

Trang 36

kinh phí hạn hẹp nên chúng tôi tập trung tham quan, điền dã ở những làng nghềtruyền thống và các lễ hội về các nhân vật tổ sư bách nghệ như ở Hà Nội, NamĐịnh, Bắc Ninh, Hải Dương,…

Đến làng Đại Bái, chúng tôi tìm đến ông Nguyễn Xuân Sầm – trưởng ban quản

lí di tích và ông Nguyễn Ngọc Hướng – phó ban quản lí, kể cho chúng tôi nghetruyền thuyết về ông tổ nghề làng đúc đồng nơi đây Cụ Nguyễn Công Truyền sinhnăm 989 và mất ngày 29/9/1069 thọ 80 tuổi, ông đã phục vụ quân ngũ trong triều

Lý được phong làm Điện tiền tướng quân Dưới thời Lý Thái Tổ, ông thường đượcnhà vua giao cho đi trông nom công việc chùa chiền trong kinh đô mới, có nhiều dịpđược tiếp xúc với thợ thuyền nên hiểu được những công việc của nhiều nghề Saunày, ông tìm tòi sáng chế ra nghề gò đồng và đã có công truyền nghề, dân làng noitheo đó mà lập nghiệp rồi dần thành nghề chính của làng Về sau, người dân mangnhững đồ thừa làm bằng đồng trong gia đình ra chợ Bưởi buôn bán Sự tấp nập củachợ Bưởi làng Đại Bái còn được đi vào trong ca dao như sau:

Thuyền ngược hay là thuyền xuôi

Có về chợ Bưởi cho tôi về cùng…

Khi mất cụ được phong là Dực Bảo Trung Hưng linh phù chi thần, rồi lại gia phong:Quang Úy Dịch Bảo Trung Hưng đẳng thần, cuối cùng gia tăng Đoan Phúc tôn thần.Người dân làng Đại Bái vẫn luôn thờ cúng, hương khói quanh năm vị tổ nghề đồngNguyễn Công Truyền

Tiếp đến, chúng tôi đi thực tế ở làng Vạn Phúc, được ông Nguyễn Tất Thanhthủ từ đền thờ bà tổ nghề dệt lụa Vạn Phúc để tìm hiểu và gặp nghệ nhân tài hoa ĐỗQuang Hùng, 77 tuổi Ông chính là người đã nghiên cứu và làm ra sản phẩm lụakhông phai, các dải màu, hoa văn trên lụa được ông pha trộn tơ bằng guồng thủcông Ông có kể cho chúng tôi về truyền thuyết mà ông nhớ là: tương truyền, cáchđây khoảng hơn 1.100 năm, bà Ả Lã Thị Nương là vợ của Cao Biền, Thái thú GiaoChỉ, từng sống ở trang Vạn Bảo Trong thời gian ở đây, bà đã dạy dân cách làm ăn

và truyền dạy nghề dệt lụa Sau khi mất, bà được phong làm thành hoàng làng

Trang 37

Nghệ nhân Đỗ Quang Hùng

Đến với đình Kim Ngân, làng Ngũ Xã thuộc quận Ba Đình, thành phố Hà Nội,gặp gỡ vị thủ từ là cụ Nguyễn Ngọc Yến có kể cho chúng tôi câu chuyện về nguồngốc ngôi đình và việc thờ cúng các vị tổ nghề ở đây Làng nghề đúc đồng Ngũ Xã

do dân từ 5 làng vốn làm nghề đúc thủ công là Đông Mai, Châu Mỹ, Làng Thượng,Diên Tiên và Dao Niên thuộc huyện Văn Lâm (Hải Hưng trước đây) và ThuậnThành (Hà Bắc trước đây) kéo về Thăng Long lập nghiệp từ thế kỷ VII Tên Ngũ

Xã ra đời để ghi nhớ 5 làng quê gốc của mình Tương truyền rằng, một số thợ đúcđồng quê ở 5 làng trên đã cùng nhau về bán đảo Trúc Bạch (nay thuộc quận BaĐình) mở lò đúc đồng, làm ra những chiếc nồi, sanh, đỉnh, chuông, tượng, đồ thờ vàcòn đúc cả tiền đồng cho triều đình Đến cuối thế kỷ 18, nghề đúc đồng ở đây đãphát đạt, sản xuất được nhiều mặt hàng có giá trị Trong quá trình dựng làng lậpnghiệp, những người dân nơi đây đã xây ngôi đình thờ ông tổ sư nghề đúc đồngNguyễn Minh Không Ông tên thật là Nguyễn Chí Thành (1066 - 1141), là nhà sưnổi tiếng thời Lý, người làng Đàm Xá, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, học trò củathiền sư Từ Đạo Hạnh Ông tu ở chùa Quốc Thanh và chùa Giao Thủy Năm 1136,ông chữa khỏi bệnh cho vua Lý Thần Tông nên được được ban thưởng nhiều vàngbạc và phong là Quốc sư Sau này, làng Ngũ Xã được tổ chức thành phường nghềriêng, gọi là phường đúc đồng Ngũ Xã, nay là phố Ngũ Xã, thuộc phường TrúcBạch Làng nghề đúc đồng Ngũ Xã nổi tiếng nhờ kĩ thuật đúc tượng đồng, trốngđồng, đồ thờ bằng đồng, chuông đồng, tranh đồng,… với những nét tinh hoa bậc

Trang 38

nhất Hai tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng nói lên trí tuệ, tài năng, ý chí, sự tinh tế củathợ đúc đồng Ngũ Xã là tượng đồng đen Trấn Vũ, còn gọi là tượng Huyền ThiênTrấn Vũ đặt tại đền Quán Thánh và pho tượng Phật Di Đà được đặt tại chùa ThầnQuang ngay trên đất làng Hiện nay, đình Ngũ Xã còn lưu giữ được một quả chuôngđồng, ba đạo sắc phong từ năm Tự Đức thứ 3 (1850) đến năm Khải Định thứ 9(1924) Hằng năm, lễ giỗ tổ làng nghề đúc đồng Ngũ Xã được tổ chức vào các ngày30/ 10 và 1/ 11 âm lịch với nhiều hoạt động văn nghệ, thể thao sôi nổi, đặc biệt là cờtướng.

Nhìn chung, truyền thuyết về tổ sư bách nghệ không có nhiều dị bản như cácnhân vật thần thoại anh hùng các bởi vì phạm vi lưu truyền truyện không lớn, chủyếu ở các làng nghề cũng như sự đồng cảm về tín ngưỡng do vị trí địa lí Nghề gắnvới nông nghiệp gồm các nghề trồng dâu, chăn tằm, ươm tơ, dệt vải, dệt lĩnh, trồngmía, làm cốm Nghề trồng dâu, ươm tơ, dệt vải đã có từ rất sớm, ít nhất được ghinhận từ thời Hùng Vương Các nghề thủ công như kim hoàn, giấy in, gốm sứ, rèn,tiện, đan lát, thuộc da và lọng ô đều là các nghề cần sự tinh xảo, khéo tay, kĩ thuậtcao Riêng nghề rèn xuất hiện từ thời Hùng Vương với sự tích các thợ rèn đúc ngựasắt, áo giáp sắt, roi sắt cho Thánh Gióng, còn lại các nghề khác chỉ được nhắc đếnsớm nhất vào thời Lý Các nghề được ghi nhận trong truyền thuyết có nghề đượcphát sinh từ bản địa, có nghề được học tập, giao lưu nhân dân với các làng nghề củacác tỉnh phía Nam Trung Hoa Việc giao lưu, học hỏi nghề giữa nhân dân các tỉnhdọc biên giới hai nước là một lẽ thường tình

Trang 39

Tiểu kết chương 1

Trong chương này, chúng tôi giới thiệu những nét chung nhất đặc trưng vùngvăn hóa châu thổ Bắc Bộ về vị trí địa lí, đặc điểm tự nhiên cũng như lịch sử, vănhóa của vùng

Vùng châu thổ Bắc Bộ từ xưa đến nay luôn là vùng đất trọng yếu mangnhững nền văn hóa cổ được xem là cái nôi của nền văn hóa người Việt Vùng đấtnày gắn liền với quá trình phát triển lịch sử dân tộc, với bản sắc văn hóa, đời sốngtinh thần mang những thành tựu văn hóa vật chất phong phú và đẹp đẽ thể hiện sựtôn kính các vị tổ nghề, tín ngưỡng sùng bái con người qua những truyền thống cần

cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, phát triển quê hương đất nước

Truyền thuyết về nhân vật tổ nghề tuy không phải là thể loại chiếm vị trítrung tâm trong kho tàng truyện truyền thuyết người Việt nhưng cũng tạo dựng chomình một “bầu khí quyển” riêng chứa đựng khí thiêng trên đất châu thổ Bắc Bộ.Với tiểu loại truyền thuyết về anh hùng văn hóa đã thể hiện một phần tính cách

và tâm hồn của con người vùng châu thổ Bắc Bộ Chương 1 khép lại để mở ranhững nghiên cứu sâu hơn ở chương tiếp theo

Trang 40

CHƯƠNG 2 TRUYỀN THUYẾT VỀ “TỔ SƯ BÁCH NGHỆ”

NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NHÂN VẬT, KẾT CẤU VÀ MOTIF

2.1 Truyền thuyết về nhân vật tổ sư bách nghệ nhìn từ phương diện nhân vật

2.1.1 Nguồn gốc, xuất thân của các nhân vật tổ sư bách nghệ

Những kiểu truyện về nhân vật tổ sư bách nghệ là là những kiểu truyện vềngười anh hùng văn hóa tiêu biểu của truyện kể dân gian Việt Nam Trong thầnthoại, kiểu truyện người anh hùng văn hóa xây dựng những hình tượng nhân vậtkhổng lồ sáng thế, kiến tạo thế giới trong buổi đầu lịch sử nhân loại Quá trình laođộng, đấu tranh của lịch sử dân tộc đầy gian nan, thử thách đã sản sinh ra người anhhùng văn hóa đã trở thành những hình tượng nghệ thuật đích thực trong truyện kểdân gian Việt Nam Trong truyền thuyết, kiểu truyện người anh hùng văn hóa xâydựng những hình tượng nhân vật người anh hùng trong công cuộc sáng tạo các giátrị văn hóa đấu tranh chinh phục tự nhiên

Nguồn gốc của các nhân vật “Tổ sư bách nghệ” tương đối đa dạng, trong đó có: Nguồn gốc là các vị thần, con trời, giống tiên: Sơn Tinh (thần núi Tản Viên); công chúa Quỳnh Hoa (con gái thứ 2 của trời); ông cụ dạy nghề tiện (thần tiên); mẹ Âu

Cơ (con gái Đế Lai thuộc dòng dõi thần nông), thần Nga Áp (là một vị thần không

rõ lai lịch nhưng được thờ rất nhiều ở các phường vịt); bà Chúa Vót, bà Chúa Muối;

bà Nhữ Nương, bà Chúa Vĩnh, bà Choá (đều là con gái của và Tồ Cô – bà tổ sinh ra đất trời); ông Khổng Lồ, ông Đùng đều là thần,

Nguồn gốc là những vị vua, vị quan, công chúa của một đất nước: Vua Hùng,Phùng Khắc Khoan (Trạng Phùng), Hoàng Phủ Thiếu Hoa (công chúa con gái vuaHùng), Nguyễn Công Truyền (làm đến chức quan Điện Tiền Tướng Quân ở thờiLý), Nguyễn Minh Không (được phong làm Lý Quốc Sư), Lương Như Học, BùiNhạ Hành (làm quan trong triều đình), công chúa Thiều Hoa (con vua Hùng Vươngthứ sáu); Trần Quốc Đĩnh (con trai vua Trần Thánh Tông); Lê Cốc (con của CaoHoàng một viên quan người Tàu đến trị nhậm Đông Sơn từ thế kỉ X); Mị Ê (con vuaHùng Vương thứ 16); Nguyễn Thị Ngọc Liệu (là cung phi của chúa Trịnh hồi đầuthế kỉ XVII),

Ngày đăng: 10/02/2021, 13:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị An (1994), Nghiên cứu truyền thuyết, những vấn đề đặt ra, Tạp chí Văn học, (số 7), tr. 34 – 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Văn học
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 1994
2. Trần Thị An (2000, 2014), Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam, Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn học dân gian, Viện Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyếtdân gian Việt Nam
3. Trần Thị An – Vũ Ngọc Khánh (1998), Truyền thuyết Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thuyết Việt Nam
Tác giả: Trần Thị An – Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 1998
4. Ban Chấp hành Trung ương (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấphành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị Quốcgia Hà Nội
Năm: 1998
5. Nguyễn Huy Bỉnh (2011), Truyện kể dân gian trong không gian văn hóa xứ Bắc, luận án tiến sĩ văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện kể dân gian trong không gian văn hóa xứBắc
Tác giả: Nguyễn Huy Bỉnh
Năm: 2011
6. Phan Kế Bính (2005), Việt Nam phong tục, NXB văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: NXB văn hóa thông tin
Năm: 2005
7. Nguyễn Chí Bền (2000), Văn hóa dân gian Việt Nam, những suy nghĩ, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Việt Nam, những suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: NXBVăn hóa dân tộc
Năm: 2000
8. Nguyễn Xuân Cần – Anh Vũ (2015), Truyền thuyết vương triều Lý, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thuyết vương triều Lý
Tác giả: Nguyễn Xuân Cần – Anh Vũ
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2015
9. Nguyễn Đổng Chi (1974), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập I, II, III, IV, V in lần thứ năm, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập I, II, III, IV, V
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1974
10. Chu Xuân Diên ( 2004), Mấy vấn đề văn hóa và văn học dân gian Việt Nam, NXB Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề văn hóa và văn học dân gian Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh
11. Chu Xuân Diên, Từ điển văn học tập 2, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
12. Nguyễn Tấn Đắc (2001), Truyện kể dân gian đọc theo type và motif, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện kể dân gian đọc theo type và motif
Tác giả: Nguyễn Tấn Đắc
Nhà XB: NXB Khoahọc xã hội
Năm: 2001
13. Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1974
14. Nguyễn Xuân Đức (2003), Những vấn đề thi pháp văn học dân gian, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp văn học dân gian
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2003
16. Ninh Viết Giao (2012), Văn hóa dân gian xứ nghệ, tập 2: Truyện kể dân gian xứ Nghệ, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian xứ nghệ, tập 2: Truyện kể dân gianxứ Nghệ
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
Năm: 2012
15. La Mai Thị Gia (2005), Motif trong nghiên cứu truyện kể dân gian: Lý thuyết và ứng dụng, NXB Văn hóa văn nghệ, Hà Nội Khác
17. Nguyễn Thị Bích Hà (1956), Bước đầu tìm hiểu truyện kể địa danh Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w