Áp dụng các lý thuyết truyền thông trong việc đánh giá tác động của truyền hình tiếng dân tộc đài PT-TH Lạng Sơn đối với cộng đồng dân tộc địa phương ...27 1.3.1... Nhu cầu tiếp nhận thô
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-VƯƠNG SỸ THÀNH
TÁC ĐỘNG CỦA TRUYỀN HÌNH TIẾNG DÂN TỘC CỦA ĐÀI PT-TH LẠNG SƠN ĐỐI VỚI CỘNG
ĐỒNG DÂN TỘC ĐỊA PHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Hà Nội - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sựhướng dẫn khoa học của TS Trần Duy Các kết quả nghiên cứu, phát hiện mới làtrung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa họcnào trước đây Luận văn có sử dụng, phát triển, kế thừa một số tư liệu, số liệu, kếtquả nghiên cứu từ các sách, giáo trình, tài liệu liên quan đến nội dung đề tài
Tác giả luận văn
Vương Sỹ Thành
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn Cao học, tôi đã nhận được rấtnhiều sự chỉ dẫn nhiệt tình của các thầy, cô giáo Viện Đào tạo Báo chí và Truyềnthông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN) và Học viện Báochí và Tuyên truyền Tôi vô cùng quý trọng, biết ơn sự chỉ bảo đó và xin được chânthành gửi lời tri ân đến toàn thể các thầy, cô giáo
Đặc biệt, tôi xin ngỏ lời cám ơn sâu sắc nhất đến TS Trần Duy đã nhiệt tìnhhướng dẫn, chỉ dạy, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Và hơn hết, trong quá trìnhlàm luận văn, tôi đã học tập ở thầy một tinh thần nghiên cứu khoa học nghiêm túc,cẩn thận, tỉ mỉ và một thái độ làm việc hết mình Xin được gửi đến thầy sự biết ơn
và lòng kính trọng chân thành nhất
Cám ơn bạn bè và đồng nghiệp những người luôn sẵn sàng giúp đỡ tôi hoànthành tốt luận văn của mình Cảm ơn gia đình và những người thân yêu đã luôn tintưởng, động viên và ủng hộ
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, do địa bàn nghiên cứu tập trung ởmiền núi – khó khăn về nhiều mặt và thời gian nghiên cứu cũng có hạn Do vậy, luậnvăn chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế nhất định Tác giả rất mong nhận được
sự đóng góp chân thành của Hội đồng khoa học, của quý thầy cô giáo cùng với sự góp
ý của bạn bè đồng nghiệp để luận văn hoàn thiên có chất lượng tốt hơn
Hà Nội, tháng 06 năm 2020
Vương Sỹ Thành
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1 Lí do chọn đề tài 7
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 9
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu 13
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn 13
7 Đóng góp mới của luận văn 14
8 Bố cục luận văn 15
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TRUYỀN HÌNH TIẾNG DÂN TỘC 16
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 16
1.1.1 Tác động 16
1.1.2 Truyền hình 16
1.1.3 Chương trình truyền hình 19
1.1.4 Chương trình truyền hình tiếng dân tộc 21
1.2 Quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và tỉnh Lạng Sơn về truyền hình tiếng dân tộc thiểu số 22
1.3 Áp dụng các lý thuyết truyền thông trong việc đánh giá tác động của truyền hình tiếng dân tộc đài PT-TH Lạng Sơn đối với cộng đồng dân tộc địa phương 27
1.3.1 Lý thuyết “viên đạn ma thuật” 28
1.3.2 Lý thuyết sử dụng và hài lòng 28
1.4 Điều kiện tự nhiên - xã hội và nhu cầu tiếp nhận thông tin của đồng bào Tày - Nùng - Dao ở Lạng Sơn 29
1.4.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội 29
Trang 61.4.2 Nhu cầu tiếp nhận thông tin của người dân tộc thiểu số bản địa
Lạng Sơn 31
Tiểu kết chương 1: 38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TIẾNG DÂN TỘC TRÊN ĐÀI PH-TH LẠNG SƠN ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC ĐỊA PHƯƠNG 40
2.1 Vài nét về Đài PT-TH Lạng Sơn và chương trình truyền hình tiếng dân tộc trên sóng Đài PT-TH Lạng Sơn 40
2.1.1 Đài PT-TH Lạng Sơn 40
2.1.2 Chương trình truyền hình tiếng dân tộc trên sóng Đài PT-TH Lạng Sơn 41
2.2 Nghiên cứu thực trạng nhu cầu và hiệu quả chương trình truyền hình tiếng Dân tộc trên sóng Đài PT-TH Lạng Sơn 45
2.3 Đánh giá những tác động của truyền hình tiếng dân tộc của đài PT-TH Lạng Sơn đối với cộng đồng dân tộc địa phương 57
2.3.1 Tác động tích cực trong việc nâng cao nhận thức về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước 61
2.3.2 Tác động tích cực trong việc nâng cao dân trí, trình độ văn hóa, giáo dục và đời sống vật chất 64
2.3.3.Tác động tích cực trong việc nâng cao đời sống tinh thần 66
2.3.4 Tác động tích cực trong việc nâng cao ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc 68
2.4 Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả tác động tích cực của chương trình tiếng Dân tộc 70
2.4.1 Những hạn chế 70
2.4.2 Nguyên nhân hạn chế 74
Tiểu kết chương 2: 75
Trang 7CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TIẾNG DÂN TỘC ĐÀI PH-TH LẠNG SƠN ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC ĐỊA
PHƯƠNG 76
3.1 Những thách thức đặt ra hiện nay 76
3.2 Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tác động tích cực của chương trình truyền hình tiếng dân tộc đài PH-TH Lạng Sơn đối với cộng đồng dân tộc địa phương 77
3.2.1 Nhóm giải pháp chung 77
3.2.2 Nhóm giải pháp cụ thể 79
Tiểu kết chương 3: 94
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 102
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC HÌNH, BẢNG
Bảng 1.1 Số xã thu được tín hiệu phát thanh, truyền hình và có báo Đảng đến trong ngày 36
Bảng 2.1 Thống kê thiết bị máy phát sóng TH-TH Lạng Sơn 41
Bảng 2.2 Kết cấu chương trình truyền hình tiếng Tày – Nùng của Đài PT-TH Lạng Sơn 44
Bảng 2.3 Kết cấu chương trình truyền hình tiếng Dao của Đài PT-TH
Lạng Sơn 45
Bảng 2.4 Những lợi ích về nội dung thông tin trong chương trình truyền hình tiếng Dân tộc đến công chúng Lạng Sơn 59
Trang 10DANH MỤC NỘI DUNG BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN VĂN
Biều đồ 2.1 Các phương tiện truyên thông hiện đang sử dụng của công chúng tại Lạng Sơn 46
Biểu đồ 2.2 Tần xuất xem chương trình truyền hình tiếng dân tộc của công chúng tại Lạng Sơn 47
Biều đồ 2.3 Các chuyên mục trong chương trình truyền hình tiếng Dân tộc yêu thích của công chúng tại Lạng Sơn 48
Biểu đồ 2.4 Độ tin cậy của công chúng Lạng Sơn vào thông tin trên chương trình truyền hình tiếng Dân tộc 49
Biểu đồ 2.5 Đánh giá của công chúng Lạng Sơn về thời lượng phát sóng chương trình truyền hình tiếng Dân tộc trên Đài PT-TH Lạng Sơn 50
Biểu đồ 2.6 Lựa chọn của công chúng Lạng Sơn về thời điểm tốt nhất trong ngày
để phát sóng chương trình TH tiếng Dân tộc trên Đài PT-TH Lạng Sơn 52
Biểu đồ 2.7 Ý kiến của công chúng Lạng Sơn về việc sử dụng tiếng dân tộc làm phương tiện truyền tải thông tin cho các chương trình truyền hình tiếng Dân tộc trên Đài PT-TH Lạng Sơn 54
Biểu đồ 2.8 Ý kiến của công chúng Lạng Sơn về việc sử dụng phụ đề cho các
chương trình truyền hình tiếng Dân tộc trên Đài PT-TH Lạng Sơn 55
Biểu đồ 2.9 Ý kiến đánh giá của công chúng Lạng Sơn về chất lượng hình ảnh, âm thanh trong các chương trình truyền hình tiếng Dân tộc trên Đài PT-TH Lạng Sơn
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng taluôn xác định vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc có một vị trí
vô cùng quan trọng với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Trong những năm qua, nhờ vào sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đờisống của đồng bào dân tộc thiểu số trong cả nước nói chung và dân tộc thiểu số ởtỉnh Lạng Sơn nói riêng đã có những bước chuyển biến, văn hóa truyền thống đượcgiữ gìn, các hủ tục được từng bước đẩy lùi Tuy nhiên, đời sống vật chất và tinhthần của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn rất chênh lệch so với các vùng khác:kinh tế còn nhiều khó khăn, đặc biệt là ở những vùng sâu vùng xa vẫn còn tệ nạn mêtín dị đoan, trình độ dân trí của số đông đồng bào còn hạn chế… Công tác thông tintuyên truyền của các kênh báo chí về những chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước đền với đồng bào các dân tộc thiểu số chưa được thường xuyên, kịp thời,
do vậy hiệu quả đạt chưa cao Trên thực đây là nơi thiếu thông tin và đang bị tranhchấp thông tin Chính vì vậy, ở một số địa phương, đồng bào dân tộc đã bị kẻ xấulợi dụng xúi giục, kích động, gây mất đoàn kết, làm mất ổn định an ninh chính trị,lòng tin của đồng bào và sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước phần nào bị suy giảm
Tỉnh Lạng Sơn hiện nay có 11 huyện, thành phố trong đó có 10 huyện miềnnúi, vùng cao, là địa bàn sinh sống của các dân tộc thiếu số Nùng, Tày, Dao, Hoa,Mông Theo số liệu điều tra năm 2019, dân số Lạng Sơn có 781.655 người trong
đó, đồng bào dân tộc Nùng chiếm 42,97%, sinh sống chủ yếu ở các xã vùng cao,biên giới thuộc các huyện Văn Lãng, Tràng Định, Bình Gia, Văn Quan, Cao Lộc;đồng bào người Tày ở chiếm 35,92%, cư trú chủ yếu ở các huyện miền núi, vùngcao như Văn Lãng, Chi Lăng, Tràng Định, Lộc Bình; người Kinh chiếm 16,5%;người Dao, Hoa, Sán Chay, H’Mông chiếm 20,4% dân số So với các dân tộc thiểu
số khác ở Lạng Sơn, dân tộc Tày, dân tộc Nùng là 2 dân tộc có dân số tương đốiđông, thể hiện rõ nét đặc trưng về phong tục tập quán trong sản xuất, sinh hoạt,truyền thống văn hóa của mỗi tộc người trên dải đất Xứ Lạng Đặc biệt, đồng bào
Trang 12dân tộc dân tộc Tày, dân tộc Nùng, dân tộc Dao sinh sống chủ yếu tại các huyệnvùng cao, biên giới, nơi có vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng của tỉnh Nhiềunăm qua, nhờ vào sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, đồng bào thiểu số tỉnh LạngSơn đã tiếp cận với nguồn thông tin chính thống, yên tâm chăm lo phát triển kinh tế,xóa đói giảm nghèo, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nơi vùng cao,biên giới.
Đài PT-TH địa phương là một kênh thông tin quan trọng của Đảng bộ, chínhquyền và nhân dân các dân tộc của các tỉnh, thành Và để đáp ứng yêu cầu thúc đẩyphát triển kinh tế ở địa phương và các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đảm bảo anninh quốc phòng Hơn 10 năm qua, các đài địa phương đã xây dựng chương trìnhtruyền hình tiếng dân tộc và chương trình tiếng dân tộc của tỉnh Lạng Sơn ra đờicũng nằm trong xu hướng đó Ngoài việc phát sóng ở Đài tỉnh trên các phương tiệntruyền dẫn như: Analog, truyền hình cáp, MyTV, trang thông tin điện tử, từ đầu năm
2013 chương trình còn phát trên vệ tinh Vinasat 2 Các chương trình đã thông tinđược chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước và những vấn đề củađịa phương đến với đồng bào dân tộc không chỉ của tỉnh mà còn của cả nước Đồngthời cũng phản ánh được những tâm tư nguyện vọng của đồng bào dân tộc với Đảng
và Nhà nước, góp phần vào việc nâng cao đời sống cho bà con dân tộc trên địa bàntỉnh đặc biệt là những vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn Chương trình truyền hìnhtiếng dân tộc đã trở thành người bạn gần gũi, hữu ích, là món ăn tinh thần không thểthiếu trong sinh hoạt hàng ngày của công chúng dân tộc địa phương Thông qua nộidung thông tin, chương trình đã góp phần tích cực trong việc định hình tính chínhtrị, phát triển KT-XH ở các địa phương, nâng cao dân trí đồng bào dân tộc thiểu sốtrên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
Hiện nay, việc sản xuất các chương trình truyền hình tiếng dân tộc ở Đài
PT-TH Lạng Sơn cũng đã đạt được một số thành tựu: Chương trình truyền hình tiếngdân tộc đã và đang đem lại hiệu quả tích cực phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo,xây dựng đời sống văn hóa mới tại cộng đồng dân cư Ngoài việc giúp đồng bàonắm vững các các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước,chương trình truyền hình tiếng dân tộc thiểu số còn giúp bà con tiếp cận với các tiến
Trang 13bộ khoa học kỹ thuật, áp dụng vào sản xuất, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiệnđời sống, xây dựng quê hương, bản làng ngày một thêm no ấm, yên vui Bên cạnhnhững thành công không thể phủ nhận của các nhà báo Đài phát thanh truyền hìnhLạng Sơn trong nỗ lực xây dựng các kênh truyền hình tiếng dân tộc cho bà con,mức độ tác động thông tin của những chương trình này vẫn đăt ra nhiều vấn đề vàkhoảng trống nghiên cứu cho bản thân những người làm nghề trực tiếp, cũng nhưcho các chuyên gia về báo chí truyền thông Cần thiết phải có sự đổi thay một cáchkhoa học và hợp lý, tạo nên một bước đột phá mới trong kết cấu nội dung cũng nhưhình thức chương trình truyền hình tiếng dân tộc nhằm đạt thông tin hiệu quả caonhất, đó là mục tiêu mà các Đài PT-TH địa phương nói chung và Đài TH-PT tỉnhLạng Sơn nói riêng cần hướng tới hướng tới.
Là người trực tiếp tham gia thực hiện các chương trình truyền hình tiếng dântộc ở Đài PT-TH Lạng Sơn và thường tác nghiệp ở địa bàn miền núi, vùng cao, nơi
có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, tác giả quyết định lựa chọn vấn đề
“Tác động của truyền hình tiếng dân tộc của đài PT-TH Lạng Sơn đối với cộng đồng dân tộc địa phương” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành báo chí học của
mình với mong muốn giải quyết những vấn đề nêu trên
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay có một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về vấn đềnâng cao chất lượng và hiệu quả thông tin, tuyên truyền cho đồng bào dân tộc thiểu
Tác giả Hồ Anh Dũng – nguyên Tổng giám đốc Đài truyền hình Việt Nam có
bài viết “Sự nghiệp phát triển truyền hình ở dân tộc thiểu số” (trong cuốn Sổ tay công tác dân tộc và miền núi), với kinh nghiệm nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực
Trang 14truyền hình, tác giả đã chỉ sự cần thiết và dự báo khả năng đóng góp, tăng cườngđầu tư cho công tác thông tin tuyên truyền của Đài truyền hình Việt Nam đối vớivùng dân tộc thiểu số trong tình hình mới.
Tháng 02/2001, Bộ Văn hóa – Thông tin tổ chức hội thảo “Tăng cường và đổi mới công tác thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi” đã đề
cập đến một số vấn đề về yêu cầu đổi mới công tác thông tin, phục vụ đồng bào dântộc thiểu số Tuy nhiên, các tham luận tại Hội thảo đề cập đến nhiều báo cáo, tổngkết hoạt động thông tin, tuyên truyền của đại diện các cơ quan báo chí mà chưa đisâu vào bàn thảo để tìm ra các giải pháp tăng cường đổi mới nội dung, hình thức,chất lượng và hiệu quả công tác thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số củađơn vị mình
Nhìn chung, các bài viết ở các đề tài trên, của các tác giả, nhà nghiên cứutrên đã góp phần làm sáng tỏ quan điểm, tầm quan trọng về kinh tế - chính trị, anninh quốc phòng của các địa phương miền núi, vùng cao, các tác giả nhấn mạnh vaitrò của báo chí, đặc biệt là báo chí truyền hình trong giai đoạn hiện nay đối với côngtác thông tin, tuyên truyền vùng đồng bào dân tộc thiểu số Đây sẽ là những tư liệuquý báu về phát thanh tiếng dân tộc
Đối với vấn đề nâng cao chất lượng và hiệu quả thông tin, tuyên truyền chođồng bào dân tộc thiểu số, cách đây nhiều năm cũng đã có nhiều tác giả tiến hànhcác đề tài nghiên cứu, đáng chú ý có các đề tài sau:
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học Thông tin về dân tộc miền núi trên VTV1 – Đài truyền hình Việt Nam của Nguyễn Xuân An Việt, năm 2001 tại Học viện Báo chí tuyên truyền Luận văn đã khảo, nghiên cứu, và đưa ra một số giải
pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng chương trình, tăng cường hiệu quả thông tin
về vấn đề dân tộc miền núi của Đài Truyền hình Việt Nam
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học Chương trình Dân tộc và Miền núi trên sóng VTV1 – Đài Truyền hình Việt Nam của Phan Ngọc Bách, năm 2005, tại Học viện Báo chí tuyên truyền Qua việc nghiên cứu, khảo sát các chương trình
dân tộc miền núi trên VTV1 từ tháng 01/2004 - 06/2005, tác giả đã đưa ra nhữnggiải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả chương trình
Trang 15Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học Nâng cao chất lượng chương trình truyền hình tiếng dân tộc của các đài tỉnh miền núi Đông Bắc của Ân Thị
Thanh Thu, năm 2009, tại Học viện Báo chí tuyên truyền Trên cơ sở đánh giá đúngthực trạng chất lượng chương trình truyền hình tiếng dân tộc của các đài PT-TH khuvực miền núi Đông Bắc về nội dung, hình thức, thời lượng phát sóng, cách tổ chứcsản xuất chương trình; luận văn đã đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng các chương trình truyền hình tiếng dân tộc của các đài PT-TH các tỉnh miềnnúi Đông Bắc
Chúng tôi nhận thấy, ở những đề tài trên, các tác giả hoặc nghiên cứu ở bìnhdiện lớn của cả khu vực, ở Đài truyền hình quốc gia hoặc nghiên cứu về mộtchương trình truyền hình tiếng dân tộc thiểu số ở Đài PT-TH của một địa phương cụ
thể Đề tài luận văn “Tác động của truyền hình tiếng dân tộc của đài PT-TH Lạng Sơn đối với cộng đồng dân tộc địa phương” sẽ kế thừa những vấn đề mang tính lí
luận đã có từ trước, đồng thời, có những nghiên cứu, khảo sát về chương trìnhtruyền hình tiếng dân tộc thiểu số - một chương trình có tính chuyên biệt trên sóngtruyền hình của Đài PH-TH Lạng Sơn Với đề tài này, chúng tôi mong muốn gópphần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả các chương trìnhtruyền hình tiếng dân tộc trên Đài PH-TH Lạng Sơn Và vì vậy, có thể nói, cho đếnnay, đề tài này hoàn toàn mới, không trùng lặp với bất cứ đề tài nào đã từng đượccông bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là trên cơ sở hệ thống hóa những lí luận và thực tiễn vềtác động của truyền hình tiếng dân tộc Luận văn sẽ phân tích, đánh giá đúng thựctrạng tác động thông tin của chương trình truyền hình tiếng dân tộc đến bà con địaphương Cụ thể là phân tích thực trạng nhu cầu và hiệu quả chương trình truyềnhình tiếng Dân tộc trên sóng Đài PT-TH Lạng Sơn Từ đó, đề xuất các giải phápnâng cao chất lượng chương trình truyền hình tiếng dân tộc thiểu số trên sóngtruyền hình Đài PH-TH Lạng Sơn trong thời gian tới
Trang 163.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn tập trung thực hiện nhiệm vụ sau đây:
- Xác định cơ sở lí luận: những khái niệm, thế mạnh của báo chí truyền hình
– một loại hình báo chí phát triển mạnh mẽ, sâu rộng, có vai trò tác động và manglại hiệu quả xã hội cao đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Lạng Sơn; chủtrương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc cũng nhưvai trò của chương trình truyền hình tiếng dân tộc
- Khảo sát nhu cầu thông tin, điều kiện tiếp cận sản phẩm báo chí truyền hìnhcủa đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Lạng Sơn để từ đó thấy được: thực trạng tácđộng chương trình truyền hình tiếng dân tộc, cụ thể là tiếng Tày-Nùng, tiếng Daocủa Đài PH-TH Lạng Sơn từ tháng 07/2017 - 07/2018; phân tích đánh giá một cáchtoàn diện và sâu sắc những tác động của truyền hình tiếng dân tộc của đài PT-THLạng Sơn đối với cộng đồng dân tộc địa phương nhằm rút ra được những ưu –nhược điểm; tìm ra nguyên nhân của những hạn chế trong hiệu quả chương trìnhtiếng dân tộc của đài PT-TH Lạng Sơn đối với cộng đồng dân tộc địa phương
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng chương trình truyền hình tiếng dân tộc thiểu số của Đài PH-TH Lạng Sơn
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tác động của truyền hình tiếng dân tộc của đài PT-TH Lạng Sơn đối với cộng đồng dân tộc địa phương
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu và khảo sát các tác phẩm báo chí truyền hình trongchương trình tiếng dân tộc (Tày – Nùng, và Dao) do Đài PT-TH Lạng Sơn sản xuất
Sở dĩ, chúng tôi chọn 2 chương trình truyền hình tiếng dân tộc Tày – Nùng, Dao
vì hiện nay được biệt ngoài chương trình truyền hình phổ thông bằng tiếng Kinh thì ĐàiPT-TH Lạng Sơn đang thực hiện 2 chương trình truyền hình dành cho người dân tộc đólà: chương trình truyền hình tiếng dân tộc Tày – Nùng, và chương trình truyền hìnhtiếng dân tộc Dao Cơ sở nghiên cứu của đề tài dựa trên sự theo dõi hàng ngày chươngtrình truyền hình tiếng dân tộc của Đài PT-TH Lạng Sơn, đọc kịch bản chương trình,xem lại một số chương trình có tin, bài quan trọng, lấy ý kiến của thính giả người
Trang 17Ngoài ra, tác giả luận văn còn dựa vào khung lí thuyết về báo chí – truyềnthông để làm căn cứ chung cho quá trình nghiên cứu.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của các khoa học xãhội như:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: thống kê, phân loại, phân tích, đánh giá
tổng hợp về các tài liệu đã có liên quan đến đề tài như các văn kiện, các công trìnhnghiên cứu đã có về lý luận và thực tiễn…
- Phương pháp điều tra xã hội học: chúng tôi tiến hành phát 400 phiếu cho
đối tượng là công chúng đồng bào dân tộc Tày – Nùng, dân tộc Dao ở 4 huyện: ChiLăng, Văn Lãng, Lộc Bình, Hữu Lũng
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Được thực hiện đối với 3 lãnh đạo địa
phương, 1 lãnh đạo Đài, 3 phóng viên biên tập viên thực hiện chương trình truyềnhình tiếng dân tộc thiểu số ở Đài PH-TH Lạng Sơn, một số người dân ở các huyện:Chi Lăng, Văn Lãng, Lộc Bình, Hữu Lũng
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lí luận
Việc nghiên cứu đề tài luận văn có ý nghĩa hết sức quan trọng và thiết thực.Tìm ra những mặt đạt được, hạn chế tồn tại và những giải pháp hữu hiệu nhằm
Trang 18không ngừng nâng cao hiệu quả chương trình truyền hình tiếng dân tộc, công táctuyên truyền đối với đối với đồng bào dân tộc tỉnh Lạng Sơn.
Đề tài sẽ giúp cho các cấp, các ngành chức năng của tỉnh Lạng Sơn hiểu rõhơn về vai trò của truyền thông nói chung, PT-TH nói riêng trong công tác lãnh đạo,điều hành; giúp cho đội ngũ lãnh đạo và những người làm chương trình truyền hìnhtiếng dân tộc tốt hơn Do đó, kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa khoa học đốivới công tác thông tin tuyên truyền như: về phương pháp tác nghiệp, xây dựng nộidung và hình thức thể hiện trong các chương trình truyền hình tiếng dân tộc ở ĐàiPH-TH Lạng Sơn
Kết quả nghiên cứu cũng sẽ là tài liệu tham khảo cho các sinh viên chuyênngành truyền hình
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu cũng là cơ sở để những người đang làm việc tại các cơquan báo chí cấp tỉnh ở các địa phương nhìn nhận và đánh giá đúng thực trạngchương trình tiếng Tày-Nùng, tiếng Dao Qua đó, các cơ quan báo chí có thể lựachọn giải pháp đổi mới, nâng cao chất chương trình Đây cũng là cơ sở khoa học đểĐài PH-TH Lạng Sơn có thêm kinh nghiệm, tiếp tục có sự đầu tư, đổi mới, nhằmnâng cao chất lượng, hiệu quả chương trình phát thanh truyền hình mang tínhchuyên biệt khác ở Đài
7 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên, đề cập một cách cụ thể đến tácđộng của truyền hình tiếng dân tộc của Đài PT-TH Lạng Sơn đối với cộng đồng dântộc địa phương Mặc dù, đối tượng và phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào mộtlĩnh vực truyền thông cụ thể ở Đài PT-TH Lạng Sơn, nhưng hy vọng, những kết quảnghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm phong phú hệ thống lí luận báo chí ở nước
ta về các chương trình phát thanh, truyền hình chuyên biệt tại các đài PT-TH địaphương
Đóng góp mới của đề tài này là góp phần làm sáng tỏ năng lực, tác động củatruyền hình tiếng dân tộc của Đài PT-TH Lạng Sơn đối với cộng đồng dân tộc địaphương Từ việc nghiên cứu, khảo sát lí luận và thực tiễn, luận văn cũng rút ra
Trang 19những bài học kinh nghiệm trong công tác tổ chức thực hiện các chương trìnhtruyền hình tiếng dân tộc ở Đài PT-TH địa phương; qua đó đề xuất các giải pháp cầnthiết nhằm góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả các chương trình phát thanhtruyền hình, nhất là chương trình cho đồng bào dân tộc thiểu số.
8 Bố cục luận văn
Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ Lục, Nội dungchính của luận văn gồm có 3 chương sau đây:
Chương 1 Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về truyền hình tiếng dân tộc Chương
2 Thực trạng về những tác động của chương trình truyền hình tiếng dân
tộc trên Đài PH-TH Lạng Sơn đối với cộng đồng dân tộc địa phương
Chương 3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tác động tích cực của chươngtrình truyền hình tiếng dân tộc đài PH-TH Lạng Sơn đối với cộng đồng dân tộc địaphương
Trang 20CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA
TRUYỀN HÌNH TIẾNG DÂN TỘC
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Tác động
Trong xã hội loài người, mỗi cá nhân không thể tồn tại nếu như không có sựtác động đến cá nhân khác hay cộng đồng của mình Sự tác động này diễn ra cũngrất đa dạng và trên nhiều lĩnh vực, bằng những cách thức khác nhau
Theo Từ điển Tiếng Việt, tác động là “làm cho một đối tượng nào đó có những biến đổi nhất định” [37, tr 851] Vậy tác động là một khái niệm rộng, bao
trùm nhiều lĩnh vực, chỉ cần một sự kích thích nào đó gây ra sự biến đổi (nội dung,hình thức ) đều có thể coi là tác động, trong đó tác động đến con người là hìnhthức phức tạp nhất
Tóm lại, có thể hiểu tác động là sự khác biệt có thể thông báo được, có thể xác định được mà một chương trình hay dự án mang lại cho con người Thông
thường tác động ở đây thường được biểu hiện ở 2 khía cạnh: tích cực và tiêu cực.Tuy nhiên, đối với đề tài tác động của truyền hình tiếng dân tộc của Đài PT-THLạng Sơn đối với cộng đồng dân tộc địa phương, theo quan điểm của tác giả, xét vềmục đích và tôn chỉ hoạt động của chương trình truyền hình tiếng dân tộc thì chỉxuất hiện yếu tố tích cực
Trang 21Có nhiều khái niệm khác nhau về truyền hình Hai tác giả người PhápBrigitte và Didier Deormeaux, trong cuốn Phóng sự truyền hình, quan niệm rằngtruyền hình là “truyền thanh có minh họa”.
Tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn Truyền thông đại chúng, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2001 cho rằng: “Truyền hình là một loại phương tiện thông tin đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô tuyến truyền hình bắt đầu bằng hai từ Tele có nghĩa “ở xa” và Vision có nghĩa “thấy được”, tức là “thấy được ở xa” [44, tr 143].
Trong Giáo trình báo chí truyền hình của Dương Xuân Sơn (2009), Khoa Báo chí, Trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN): “truyền hình là một phương tiện thông tin đại chúng truyền đạt thông tin nhờ phương tiện kỹ thuật đến đối tượng tiếp nhận là người xem Thông tin trong truyền hình gồm: hình ảnh
và âm thanh Hình ảnh trong truyền hình có cả hình ảnh động và hình ảnh tĩnh”
[42, tr 3]
Tác giả Nguyễn Văn Dững trong Cơ sở lí luận báo chí, Nxb Lao động đưa ra quan niệm: “Truyền hình là kênh truyền thông đại chúng ra đời sau, kế thừa các thế mạnh của kênh trước đó như điện ảnh, báo in, phát thanh và ngày nay đang tận hưởng tối đa môi trường truyền thông số trên mạng internet Truyền hình là kênh truyền thông chuyển tải thông điệp bằng hình ảnh động với nhiều màu sắc vốn có từ cuộc sống cùng với lời nói, âm nhạc, tiếng động Nhờ thế, truyền hình đem lại cho công chúng bức tranh sống động với cảm giác như đang trực tiếp tiếp xúc và cảm thụ Đó là bức tranh về cuộc sống thật nhưng được thu nhỏ, được “rút gọn”, được làm giàu thêm về ý nghĩa, làm sáng rõ hơn về hình thức” [14, tr 118].
Cả ba định nghĩa trên đều xác định phương tiện ngôn ngữ của truyền hình làhình ảnh và âm thanh Đây chính là đặc trưng của truyền hình Thực chất, cội nguồntrực tiếp của truyền hình là điện ảnh Chính điện ảnh đã cung cấp cho truyền hìnhnhững ý tưởng đầu tiên về một phương thức truyền thông cũng như một kho tàngnhững phương tiện biểu hiện phong phú, có sức thuyết phục mạnh mẽ, làm cơ sở chotruyền hình có thể thích ứng nhanh chóng với những đặc trưng kỹ thuật của riêng mình.Cho dù có những khác biệt về nhiều phương diện thì điện ảnh và truyền hình vẫn cóchung một cơ sở ngôn ngữ, cũng như một phương pháp tiếp nhận thông tin
Trang 22Về kỹ thuật, truyền hình hoạt động theo nguyên lí cơ bản sau: hình ảnh về sựvật được máy ghi hình biến đổi thành tín hiệu điện trong đó mang thông tin về độsáng tối, màu sắc Đó là tín hiệu hình ảnh (tín hiệu video) Sau khi được xử lí,khuyếch đại, tín hiệu hình được chuyển đi trên sóng truyền hình nhờ máy phát sónghoặc hệ thống dây dẫn Tại nơi nhận, máy thu hình tiếp nhận tín hiệu rồi đưa đếnđèn hình để biến đổi ngược từ tín hiệu hình thành hình ảnh trên màn hình Phần âmthanh cũng được thực hiện theo một nguyên lí tương tự như thế rồi đưa ra loa.
Ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, truyền hình được sử dụng như là công cụ giảitrí, thông tin Đến ngày nay, truyền hình đã trực tiếp tham gia vào quá trình quản lí
và giám sát xã hội, có vai trò quan trọng trong định hướng dư luận xã hội So vớicác loại hình truyền thông đại chúng khác, truyền hình là phương tiện ra đời muộn,song nó là sản phẩm của nền văn minh khoa học công nghệ phát triển Truyền hìnhkết hợp phương pháp tạo hình, tiếng của điện ảnh và phát thanh Truyền hình tổnghợp được nhiều ưu điểm từ các loại hình báo chí khác như có sự khái quát triết lícủa báo in, có tính chuẩn xác cụ thể bằng hình ảnh, âm thanh của điện ảnh, phátthanh có thể xem truyền hình là loại truyền thông có các yếu tố kỹ thuật hiện đại,
là sự kết hợp giữa kỹ thuật, mỹ thuật, nghệ thuật, kinh tế, báo chí
Nhờ kết hợp các yếu tố kỹ thuật hiện đại, truyền hình có ưu điểm là cùng lúccung cấp cả hình và tiếng cho người xem Do đó, truyền hình có khả năng hấp dẫncao hơn so với các loại hình báo chí khác Tuy nhiên, vì phụ thuộc vào yếu tố kỹthuật nên truyền hình phụ thuộc vào phát sóng và phải có máy thu hình để theo dõithông tin Cũng vì đặc tính riêng nên việc xây dựng một chương trình truyền hìnhkhó khăn hơn so với các loại hình báo chí khác
Đội ngũ tham gia làm chương trình truyền hình mang tính tập thể cao baogồm sự tham gia của biên tập, phóng viên, đạo diễn, quay phim, họa sĩ, kỹ thuật vàcác bộ phận hành chính phụ trợ khác dưới sự điều hành tổ chức chặt chẽ của một cơchế thống nhất
Kế thừa quan điểm chung về truyền hình của các nhà nghiên cứu, tác giả
quan niệm: Truyền hình là một kênh chuyển tải thông tin một cách rõ ràng, trung thực và hiệu quả đến công chúng qua sự kết hợp giữa hình ảnh và âm thanh.
Trang 231.1.3 Chương trình truyền hình
Tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn Truyền thông đại chúng, đã định nghĩa chương trình truyền hình như sau: “Thuật ngữ chương trình truyền hình được thực hiện trong hai trường hợp Trường hợp thứ nhất, người chương trình truyền hình để chỉ toàn bộ nội dung thông tin phát ti trong ngày, trong tuần hai tháng của mỗi kênh truyền hình hai của cả đài truyền hình Trường hợp thứ hai, chương trình truyền hình dùng để chỉ một hai hay nhiều tác phẩm hoàn chỉnh hoặc kết hợp với một số thông tin tài liệu khác được tổ chức theo một chủ đề cụ thể với hình thức tương đối nhất quán, thời lượng ổn định và được phát đi theo định kỳ” [44, tr 142].
Tác giả Dương Xuân Sơn trong Giáo trình báo chí truyền hình, đưa ra khái niệm cụ thể hơn về chương trình truyền hình: “Chương trình truyền hình là sự liên kết, sắp xếp, bố trí hợp lý các tin bài, bảng biểu, tư liệu bằng hình ảnh và âm thanh được mở đầu bằng giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả” [42, tr 113].
Có thể thấy, các yếu tố tin, bài, tư liệu, hình ảnh Đều là những bộ phậnquan trọng tạo nên một cấu trúc truyền hình phức tạp hơn - mà các chương trìnhtruyền hình Dựa trên nhiệm vụ tuyên truyền và đối tượng công chúng tiếp nhậnthông tin, ta có thể thấy các chương trình truyền hình được phát sóng hàng ngày hayhàng tuần như: thời sự, chuyên đề, giao lưu tọa đàm, phim truyện… Được theotừng khung thời gian trong kênh truyền hình hoặc theo các kênh truyền hình
Một chương trình truyền hình được phát sóng là sản phẩm của một tập thể,hoàn chỉnh, thống nhất về hình thức và nội dung thể hiện, được xâu chuỗi một cáchhợp lý, đáp ứng nhu cầu thị hiếu của công chúng, đồng thời truyền tải trọn vẹn mụcđích ý tưởng sáng tạo của nhà truyền thông bằng phương tiện truyền hình
Các tác phẩm báo chí truyền hình thể hiện bản lĩnh chính trị, năm và tráchnhiệm xã hội của phóng viên Uy tín, ảnh hưởng của mỗi đài truyền hình trước hếtđược quy định bởi khả năng nắm bắt thực tiễn, phát hiện những vấn đề nổi cộm, có
ý nghĩa và phản ánh kịp thời, chân thực tới công chúng, góp phần nâng cao nhậnthức, mở rộng hiểu biết và định hướng tư tưởng cho công chúng
Trang 24Chương trình truyền hình là chương trình tổng hợp của nhiều loại chươngtrình đề cập đến mọi mặt của cuộc sống như các vấn đề chính trị, kinh tế, VH-XH,
an ninh quốc phòng Chất lượng của một chương trình truyền hình được đánh giámột phần dựa trên mức độ thu hút sự quan tâm của khán giả đối với chương trình đó
và mức độ đạt được mục đích của những người làm chương trình
Thực tế cho thấy, bất cứ một chương trình truyền hình nào cũng hàm chứanhững giá trị tư tưởng, văn đặc thù của mỗi dân tộc, quốc gia, giai cấp hay tầng lớp
xã hội cụ thể Những giá trị này được phóng viên không những truyền tải qua nộidung mà còn biểu hiện trong phương pháp sáng tạo và hình thức thể hiện mỗi tácphẩm, cũng như cách thức xây dựng chương trình truyền hình
Ngày nay để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khán giả, truyền hìnhtrung ương cũng như địa phương đã không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng cácchương trình hình theo hướng phong phú, đa dạng và chuyên sâu hơn
Việc sắp xếp các chương trình trong ngày hay trong tuần cũng được các đàitruyền hình cân nhắc kỹ lưỡng, bố trí sao cho tạo được sức hút liên tục đối với côngchúng Để làm được điều này thì việc nghiên cứu công chúng đối tượng của chươngtrình đó phải được đầu tư thực hiện một cách bài bản nhằm xây dựng các chươngtrình truyền hình thu hút người xem và xác định được giờ phát sóng phù hợp đối vớiđối tượng người xem
Sự cạnh tranh về thông tin đã dẫn đến cuộc đua tăng kênh, tăng thời lượngphát sóng của đài truyền hình Điều này được thể hiện rõ qua việc hợp tác trao đổichương trình giữa các đài trong nước với nhau cũng như trao đổi, hợp tác sản xuất,khai thác các chương trình truyền hình với các đài nước ngoài để đảm bảo sản xuấtchương trình đa dạng, phục vụ phát sóng và nhu cầu thông tin đến khán giả xem đài
Như vậy, có thể hiểu chương trình truyền hình là sản phẩm lao động của một tập thể bao gồm các nhà báo,các cán bộ kỹ thuật, bộ phận tài chính Chương trình truyền hình chính là sự gặp nhau giữa nhu cầu, thị hiếu của công chúng với mục đích, ý tưởng sáng tạo của những người làm chương trình thông qua phương tiện truyền hình Chất lượng của một chương trình truyền hình được đánh giá bằng mức
độ thu hút sự quan tâm của khán giả đối với chương trình đó và mức độ đạt được mục đích của người làm chương trình.
Trang 251.1.4 Chương trình truyền hình tiếng dân tộc
Khái niệm dân tộc thực chất phải được hiểu là tộc người (ethnic) Tộc người
là “hình thái đặc biệt của một tập đoàn xã hội xuất hiện không phải là do ý nguyện của con người mà là trong kết quả của quá trình tự nhiên-lịch sử” [21, tr 8]
“Dân tộc thiểu số” là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thếgiới hiện nay Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữchuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít.Ngoài ra,còn có một số thuật ngữ có ý nghĩa gần gũi như: Dân tộc bản địa, Dân tộcthiểu số bản địa, Bộ lạc, Bộ tộc, Sắc tộc, Tộc người, Dân tộc thiểu số, Dân tộc ítngười Sự tồn tại nhiều thuật ngữ đó, do những nguyên nhân gắn liền với sự pháttriển của các dân tộc trên thế giới và sự xáo trộn của mỗi nước qua các thời kỳ biếnthiên lịch sử
Khái niệm “dân tộc thiểu số” hiện đang được sử dụng tương đối phổ biếntrong các văn bản của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và trong đờisống xã hội Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh,
xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì khái niệm “dân tộc thiểu số không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc Tiêu chí để xác định thành phần dân tộc ở nước ta là: (1) Sự cộng đồng về mặt ngôn ngữ
(2); Có các đặc điểm chung về sinh hoạt – văn hóa; (3) Có ý thức tự giác tộc người” [21, tr.137].
Những năm trước, khái niệm “dân tộc thiểu số”, có lúc, có nơi, nhất là còn
được gọi là “dân tộc ít người”, nhưng hiện nay đã có qui định sử dụng một kháiniệm thống nhất là “dân tộc thiểu số”
Trang 26- Chương trình truyền hình tiếng dân tộc
Có thể hiểu một cách đơn giản nhất chương trình truyền hình tiếng dân tộc làmột chương trình truyền hình được thực hiện bằng tiếng dân tộc Như vậy, chươngtrình truyền hình tiếng dân tộc cũng mang đặc điểm chung của chương trình truyềnhình, có gồm các tiêu chuẩn quy định về chủ đề, thời lượng, tính định kỳ và hìnhthức thể hiện mang đặc thù của loại hình truyền hình khác ở ngôn ngữ được sử dụng
bằng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số
Lực lượng báo chí đã và đang tham gia có hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụtuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước,đồng thời chuyển tải nhiều thông tin thiết thực đến với đồng bào dân tộc thiểu số đãnâng cao nhận thức tư tưởng chính trị cho cán bộ Đảng viên và nhân dân Củng cố
và tăng cường niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sức mạnh khối đại đoàn kếtcác dân tộc, giúp đồng bào xây dựng, ổn định cuộc sống ở thôn Bản, góp phần nângcao dân trí, xây dựng bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Tuyên truyền nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng trước mọi âm mưu, thủđoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền và diễnbiến hòa bình để chống phá cách mạng Việt Nam Tuyên truyền, vận động đồng bàoxây dựng phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống; giới thiệu những mô hình, điển hìnhgia đình làm kinh tế chăn nuôi, trồng trọt Nhằm xóa đói giảm nghèo và làm giàuchính đáng Các báo, đài địa phương đã chú ý thông tin về khuyến nông, khuyếnlâm, khuyến ngư nhằm phổ biến kiến thức làm ăn cho đồng bào, hướng dẫn cáchtrồng và chăm sóc vật nuôi, giống cây phù hợp với điều kiện tự nhiên từng vùngmiền
Hiện thực hóa những chính sách của Đảng và nhà nước với đồng bào dântộc, tăng cường và chiếm lĩnh thông tin ở các vùng dân tộc miền núi, đáp ứng nhucầu của đồng bào các dân tộc thiểu số muốn có một chương trình truyền hình bằng
Trang 27tiếng dân tộc, đặc biệt là những tin tức của địa phương mình, từ các lý do đó chươngtrình truyền hình tiếng dân tộc của các địa phương ra đời.
Cùng với các chương trình truyền hình tiếng dân tộc khác của cả nướcchương trình truyền hình tiếng dân tộc của tỉnh Lạng Sơn sau khi ra đời đã nhanhchóng trở thành một kênh thông tin quan trọng với nhiệm vụ đưa chính sách củaĐảng, nhà nước đến với bà con đồng bào dân tộc tỉnh, góp phần thúc đẩy phát triểnkinh tế, nâng cao dân trí, bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc và ổn định tình hình anninh trật tự trên địa bàn có đồng bào dân tộc Những hiệu quả do chương trình manglại một phần do thế mạnh đặc trưng của truyền hình nói chung và truyền hình tiếng
dân tộc nói riêng Trong Giáo trình báo chí truyền hình chỉ rõ: “truyền hình có khả năng đến với tất cả các tầng lớp dân chúng rộng rãi nhất, thậm chí cả những tầng lớp nằm bên ngoài ảnh hưởng của các phương tiện thông tin đại chúng” [42, tr 43].
Điều này đặc biệt đúng với đồng bào dân tộc thiểu số thường sinh sống ở địa bànchia cắt, các báo, tạp chí phải mất thời gian lâu mới có thể phát hành đến nơi thìchương trình truyền hình với khả năng “hiện diện khắp nơi” là một trong nhữngphương tiện thông tin đại chúng hiệu quả nhất
Cũng như truyền hình nói chung, truyền hình tiếng dân tộc của Đài PT-THLạng Sơn với thế mạnh của một loại hình báo chí truyền hình là thông tin nhanhnhạy, kịp thời, có sự lôi cuốn rất lớn Truyền hình tiếng dân tộc rất phù hợp với tâm
lý tiếp nhận của bà con dân tộc tỉnh Lạng Sơn với tư duy trực quan, đơn giản, dễhiểu vì bằng chính thứ tiếng của người dân tộc mình vì không phải đồng bào dân tộcnào cũng nghe, hiểu rõ ràng tiếng Việt Truyền hình tiếng dân tộc Đài PT-TH LạngSơn còn đáp ứng tâm lý tự tôn dân tộc, muốn nghe bằng chính tiếng của dân tộcmình Chính vì vậy, phải phát huy những lợi thế mạng của chương trình để nâng caohiệu quả tuyên truyền, góp phần tích cực trong việc tuyên truyền đường lối củaĐảng, chính sách pháp luật của nhà nước, ổn định chính trị xã hội, phát triển kinh tế
và tạo lập môi trường văn hóa tinh thần lành mạnh đập bản sắc riêng của các dân tộc
Trang 28dân tộc và xây dựng đất nước Vấn đề này được thể hiện thông qua việc xác địnhmục tiêu, tạo lập các thể chế hoạt động, định hướng nội dung chiến lược và cụ thểcho từng giai đoạn, đầu tư nhân lực, vật lực, lãnh đạo tổ chức thực hiện… Có thểnói, vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở Việt Nam là biểu hiện của truyền thốngvăn hóa, tính nhân văn sâu sắc của cha ông ta.
Bộ Chính trị, Ban bí thư, Chính phủ cũng như các Bộ, ngành trung ương liêntục đưa ra nhiều chủ trương, chính sách, nhiều chương trình dự án đầu tư chăm lotới đồng bào dân tộc Có thể kể tới một số nghị quyết của Bộ Chính trị, của Chínhphủ từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước đến nay:
Ngay từ những năm đầu của công cuộc đổi mới đất nước, ngày 27/1/1989
Bộ chính trị đã ra nghị quyết 22-NQ/TW về một số chủ trương chính sách lớn củachính phủ đối với việc phát triển kinh tế xã hội miền núi, trong đó có lĩnh vực
truyền thông đại chúng: “Tăng cường các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả các phương tiện hiện đại như máy thu thanh các sét, máy thu hình, băng ghi hình,
để cải tiến và nâng cao các chương trình phát thanh, truyền hình ở địa phương, phổ biến các văn hóa phẩm và tài liệu có nội dung thiết thực, phù hợp với yêu cầu và truyền thống của đồng bào các dân tộc Chú trọng sử dụng ngôn ngữ dân tộc (và chữ viết nếu có) trong công tác thông tin tuyên truyền” [7, tr 5].
Nghị quyết số 24 của ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX tại Hội nghịlần thứ 7 về công tác dân tộc đã tổng kết đánh giá sau 15 năm thực hiện đường lốiđổi mới của Đảng, đặc biệt mà từ khi có nghị quyết 22-NQ/TW Hội nghị đã đưa ramột số các tiêu chí chủ yếu trong lĩnh vực thông tin tuyên truyền, đến năm 2010phấn đấu 90% đồng bào được xem truyền hình, 100% được nghe đài phát thanh, cácgiá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số được bảo tồn
Trang 29Đài truyền hình Việt Nam đã thực hiện dự án “Đưa sóng truyền hình về miềnnúi”; xây dựng được 227 trạm phát lại truyền hình có công suất từ 100 - 300W, cấphàng chục nghìn máy thu hình các loại cho đồng bào dân tộc Cùng với đó là mởrộng diện phủ sóng, Đài truyền truyền hình Việt Nam còn chú trọng tăng cường xâydựng các chương trình tiếng dân tộc nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của đồng bàodân tộc thiểu số Tháng 4/1997, Đài truyền hình Việt Nam mở chuyên mục “Dântộc” phát định kỳ vào 20 giờ thứ tư hàng tuần với thời lượng 15 phút trên sóngVTV1.
Đặc biệt, từ ngày 1/1/2004 kênh VTV5 của Đài truyền hình Việt Nam đượctách thành một ban, một kênh độc lập chuyên sản xuất các chương trình truyền hình
về dân tộc miền núi với nhiều thứ tiếng Đến nay, VTV5 đã phát sóng gần 30 thứtiếng, thời lượng phát sóng 24 giờ một ngày Hiện tại, Đài truyền hình Việt Nam tiếptục thực hiện dự án truyền hình tiếng dân tộc giai đoạn 2016 - 2021, hướng mục tiêunâng cao chất lượng, tăng thời lượng và mở rộng thêm kiến dân tộc Ngoài ra, Đàitruyền hình Việt Nam còn phối hợp với các địa phương lập kế hoạch đào tạo, phốihợp với Bộ Thông tin và Truyền thông tổng hợp, đưa vào chương trình mục tiêuquốc gia “Đưa thông tin cơ sở về khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới hảiđảo” giai đoạn 2011- 2015 VTV5 là kênh có tính tổng hợp thông tin tuyên truyềnđường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước bằng tiếng dântộc thiểu số, góp phần nâng cao dân trí, thúc đẩy sự phát triển KT-XH và đáp ứngnhu cầu thủ hưởng văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số Nếu như năm 2004,mới chỉ có 14 Đài PT-TH địa phương tham gia dự án thực hiện sản xuất các chươngtrình truyền hình tiếng dân tộc thiểu số thì đến năm 2013, đã có gần 50 Đài PT-THcác tỉnh, thành phố tổ chức sản xuất chương trình truyền hình tiếng dân tộc thiểu số
để phát sóng trên kênh địa phương và cộng tác với ban truyền hình tiếng dân tộc Đàitruyền hình Việt Nam
Hệ thống chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta với mục tiêu baotrùm là thực hiện quyền bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, cùng phát triển giữa các dântộc trong công cuộc đổi mới đất nước Để chủ trương chính sách của Đảng và nhànước đi vào cuộc sống, công tác thông tin, tuyên truyền luôn được xác định đóng
Trang 30vai trò quan trọng Lĩnh vực PT-TH nói chung, truyền hình tiếng dân tộc nói riêngcũng đã nhận được sự quan tâm thích đáng của các bộ, ngành từ Trung ương đến địaphương Truyền hình tiếng dân tộc thiểu số dân trở thành một loại phương tiệntruyền thông đại chúng không thể thiếu, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xâydựng và phát triển đất nước nói chung, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng.
- Chủ trương, chính sách của tỉnh Lạng Sơn về truyền hình tiếng dân tộc
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XV đã ra Nghị quyết về pháttriển KT-XH trọng tâm của tỉnh trong giai đoạn 2010-2015 Theo đó, Ban Chấphành Đảng bộ tỉnh đã ban hành quyết định số 196-QĐ/TU ngày 27/4/2011 vềchương trình phát triển KH-XH miền núi Lạng Sơn đến năm 2020, với mục tiêuquan trọng mang tính chiến lược, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội tại 10huyện miền núi Tỉnh Lạng Sơn cũng đã xây dựng lồng ghép nhiều chương trình dự
án đầu tư tại khu vực có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, vùng sâu vùng xa,vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh Theo đó, kết cấu hạ tầng điện - đường - trường -trạm đã và đang từng bước hoàn thiện, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu đời sốngcủa đồng bào dân tộc Đến nay, điện lưới quốc gia đã phủ hầu khắp các bản làngvùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh Đây là một trong những điềukiện quan trọng, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào cácdân tộc
Đặc biệt, trên lĩnh vực PT-TH, tỉnh Lạng Sơn đã có sự quan tâm đầu tư về cơ
sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực con người Chỉ tính từ năm 2008 đếnnay, riêng nhân lực cho chương trình PT-TH tiếng dân tộc, tỉnh Lạng Sơn đã bổsung thêm 8 biên chế cùng nhiều chế độ chính sách khác cho những người trực tiếpthực hiện các chương trình tiếng dân tộc là con em đồng bào các dân tộc thiểu số
Về trang thiết bị, tỉnh Lạng Sơn cũng đã hỗ trợ, đầu tư hàng tỷ đồng cho việc xâydựng, lắp đặt các trạm thu phát lại truyền hình ở khu vực miền núi và đầu tư thêmhai dây chuyền sản xuất chương trình mới cho Đài
Thực hiện chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Lạng Sơn, năm 2013, Đài PT-THLạng Sơn đã xây dựng dự án phủ sóng PT-TH tại huyện vùng cao và tăng cườngthời lượng, chất lượng chương trình tiếng Tày - Nùng của Đài PT-TH Lạng
Trang 31Sơn Dự án đã được Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn phê duyệt thực hiện trong 3năm, từ năm 2013 đến năm 2015 Mục tiêu của dự án, sau khi hoàn thành, sẽ chotrên 90% các hộ đồng bào Tày Nùng thuộc các địa phương vùng sâu vùng xa, vùng
có điều kiện được theo dõi các chương trình PT-TH của Đài PT-TH Lạng Sơn nóichung, và chương trình truyền hình tiếng dân tộc Tày, Nùng nói riêng
Đặc biệt, nhằm tăng cường các chương trình khoa học, giáo dục phục vụđồng bào các dân tộc trong tỉnh, trong đó chủ yếu và chú trọng đối tượng khu vựcnông thôn, miền núi, góp phần thực hiện chủ trương đẩy mạnh tiến trình xây dựngnông thôn mới, giảm nghèo nhanh và bền vững ở khu vực nông thôn và miền núitrong tỉnh, được sự đồng ý của UBND tỉnh, Đài PT-TH Lạng Sơn đã và đang hoàntất các thủ tục đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép mở thêm chuyênmục truyền hình tiếng dân tộc Tày của Đài PT-TH Lạng Sơn, vào tháng 7/2017chương trình tiếng Tày đã chính thức được phát sóng Như vậy, có thể thấy hiện nay
ở Đài PT-TH Lạng Sơn đã có 2 chương trình tiếng dân tộc Tày – Nùng và tiếngDao, điều này cho thấy những cố gắng của Đài PT-TH Lạng Sơn trong việc đưathông tin báo chí đến với bà con dân tộc thiểu số
1.3 Áp dụng các lý thuyết truyền thông trong việc đánh giá tác động của truyền hình tiếng dân tộc đài PT-TH Lạng Sơn đối với cộng đồng dân tộc địa phương
Có thể khẳng định, mối quan hệ giữa các phương tiện truyền thông đối vớicông chúng hiện nay ngày càng mật thiết, những tác động của truyền hình tiếng dântộc của đài PT-TH Lạng Sơn ngày càng có ảnh hưởng đến nhận thức và tình cảm đốivới cộng đồng dân tộc địa phương Việc bị ảnh hưởng bởi thông điệp truyền thôngtrong các chương trình truyền hình tiếng dân tộc của đài PT-TH Lạng Sơn đối vớicộng đồng dân tộc địa phương tuy chưa thực sự rõ nét nhưng cũng đã mang lạinhững tác động nhất định Vì vậy, để nghiên cứu đề tài này, lý thuyết truyền thông
có vị trí quan trọng
Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn này, tác giả áp dụng Lý thuyết “viênđạn ma thuật” – “Magic bullet” và Lý thuyết sử dụng hài lòng - Uses andGratifications vào nghiên cứu
Trang 321.3.1 Lý thuyết “viên đạn ma thuật”
Lý thuyết này còn gọi là lý thuyết “mũi tiêm dưới da” đề phòng chống dịchbệnh lây lan trong xã hội, được nghiên cứu bởi 2 tác giả là Laswell (1927) vàHovland et.al (1953) Harold Lasswell đã cho thấy vai trò cực kỳ quan trọng củatruyền thông nói chung và các phương tiện truyền thông như báo chí, đài phát thanh
và sau này là truyền hình nói riêng trong quá trình xảy ra các xung đột xã hội trongnước và quốc tế Tên gọi của lý thuyết này cho thấy truyền thông có tác dụng củaviệc tạo ra hệ miễn dịch đối với những thông tin sai lệch, đồng thời lại như “viênđạn ma thuật” không gây sát thương mà vẫn làm cho đối thủ phải khuất phục, tâmphục, khẩu phục
Lý thuyết này nhấn mạnh vai trò quyết định của truyền thông đối với nhậnthức, thái độ và hành vi của cá nhân, từ đó cho rằng có thể sử dụng truyền thông đểlàm cho khán thính giả miễn dịch với các chiến dịch tuyên truyền của đối phương.Theo lý thuyết này, việc cấm đoán những thông tin sai trái là chưa đủ Lãnh đạo,quản lý cần đảm bảo truyền thông cung cấp được các thông tin chân thực, chínhxác, đầy đủ, liên tục, thường xuyên để đảm bảo người dân miễn dịch với những tinđồn và những luồng thông tin sai trái Một nguyên lý truyền thông để hình thành vàđịnh hướng dư luận xã hội ở đây là cung cấp thông tin tốt, xác thực lấn át thông tinxấu, sai trái Trên cơ sở lý thuyết “viên đạn ma thuật”, truyền hình tiếng dân tộc củađài PT-TH Lạng Sơn cần tăng cường truyền tải những thông điệp hình ảnh tích cực
để tac động tích hơn hơn nữa trong cuộc sống của cộng đồng dân tộc địa phương
1.3.2 Lý thuyết sử dụng và hài lòng
Thuyết sử dụng và hài lòng (Uses và gratifications – U&G) được khởi xướngvào đầu năm 1920 trong Nghiên cứu của Quỹ Payne Nghiên cứu này nhận định conngười là nạn nhân của những tác động mạnh mẽ từ truyền thông đại chúng Đếnnăm 1960, 1970, 1980, các học giả đặt câu hỏi: “Con người sử dụng ứng xử vớitruyền thông ra sao?” chứ không phải: “Truyền thông tác động đến con người nhưthế nào?”
Khác với các thuyết khác luôn nhấn mạnh đến sức mạnh tác động đến nhậnthức, thái độ, hành vi, khả năng lôi cuốn sự chú ý và thuyết phục công chúng của
Trang 33thông điệp truyền thông, thuyết sử dụng và hài lòng nhấn mạnh đến người tiêu dùng
- một bộ phận công chúng Thuyết khẳng định rằng, hiệu quả và sự tác động củatruyền thông tới công chúng bị quyết định bởi lối sống, cách sống và cá tính riêngcủa từng cá nhân tiếp nhận Mỗi người có một cách sử dụng truyền thông riêng và
họ là chủ động tìm kiếm, lựa chọn và ứng xử với các phương tiện truyền thông vàchọn các nội dung thông tin cụ thể để thỏa mãn nhu cầu cụ thể của bản thân
Lý thuyết sử dụng và hài lòng là lý thuyết quan trọng được sử dụng trongluận văn Bởi lẽ, theo các học giả, hiện này công chúng là những người hoàn toànchủ động và có mục đích khi sử dụng các sản phẩm truyền thông Họ biết cách khaithác lợi ích của truyền thông để thỏa mãn nhu cầu thông tin của mình Họ không dễ
bị thuyết phục bởi những lời lẽ thu hút và thuyết phục của một thông điệp truyềnthông mà trên thực tế quyết định của họ có thể bị chi phối chính nhu cầu của bảnthân Chính vì vậy, người làm truyền hình tiếng dân tộc của đài PT-TH Lạng Sơncần phải thay đổi cách thức truyền thông một chiều sang hai chiều hoặc đa chiều,tăng cường khai thác các kênh, bao gồm cả kênh truyền thông truyền thống và kênhtruyền thông mới để thu hút sự chú ý, tăng cường tính tương tác, tính chủ động vàtính dân chủ trong hoạt động truyền thông
1.4 Điều kiện tự nhiên - xã hội và nhu cầu tiếp nhận thông tin của đồng bào Tày - Nùng - Dao ở Lạng Sơn
1.4.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội
- Về vị tri địa lý: Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, biên giới, thuộc vùng Đông
Bắc với diện tích tự nhiên 8.310,09 km2, hẹp nhất là thành phố Lạng Sơn 77,94
km2, rộng nhất là huyện Đình Lập 1.189,56 km2 Lạng Sơn nằm ở vị trí đường quốc
lộ 1A, 1B, 4A, 4B, 279 đi qua, là điểm nút giao lưu kinh tế với các tỉnh phía Tây làCao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, phía Đông là tỉnh Quảng Ninh, phía Nam là BắcGiang và phía Bắc tiếp giáp với Khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây, Trung Quốc,với 2 cửa khẩu quốc tế, 1 cửa khẩu chính và 9 cửa khẩu phụ
- Địa hình: địa hình phức tạp, chủ yếu là núi thấp và đồi chiếm hơn 80%, độ
cao trung bình 252 m so với mặt nước biển, nơi thấp nhất là 20 m ở phía nam huyệnHữu Lũng và nơi cao nhất là núi Mẫu Sơn 1.541 m Khu du lịch Mẫu Sơn được quy
Trang 34hoạch là khu du lịch Quốc gia, cách thành phố Lạng Sơn 31 km về phía Đông.
- Khí hậu: tỉnh Lạng Sơn tuy nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa nhưng có nét
đặc thù của khí hậu á nhiệt đới, nền nhiệt không quá cao, có mùa đông tương đốidài và khá lạnh
- Tài nguyên khoáng sản: có diện tích đất lâm nghiệp có rừng là
512.559 ha,
chiếm 61,6% diện tích đất tự nhiên Tài nguyên khoáng sản không nhiều, trữ lượngcác mỏ nhỏ, chủ yếu là mỏ đá vôi với khoảng 40 mỏ đang khai thác có tổng trữlượng 405 triệu m3 để làm vật liệu xây dựng
- Dân số: dân số đến tháng 4/2019 là 782.666 người, chủ yếu sinh sống ở
khu vực nông thôn (chiếm 79,55%); mật độ dân số bình quân 94,18 người/km2, caonhất là thành phố Lạng Sơn 1.326 người/km2, thấp nhất là huyện Đình Lập 24,05người/km2 Người trong độ tuổi lao động là 514,3 nghìn người, chiếm 66,1% dân
số Tỉnh Lạng Sơn có 7 dân tộc chủ yếu là: Nùng chiếm 42,8%, Tày 35,4%, Kinh17,11%, Dao 3,5%, Sán chay 0,6%, Hoa 0,3%, Mông 0,17%, các dân tộc khácchiếm 0,12%
- Đơn vị hành chính: toàn tỉnh có 10 huyện và 1 thành phố loại II, với
Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm giai đoạn 2011
-2017 đạt 8 - 9% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành nônglâm nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ Nông lâmnghiệp chiếm 20,30%, công nghiệp - xây dựng 19,68%, dịch vụ 49,78%, thuế sảnphẩm trừ trợ cấp sản phẩm 10,24% Thu nhập bình quân đầu người năm 2018 đạt38,4 triệu đồng
- Về văn hóa - xã hội: tỷ lệ thôn, khối phố có nhà văn hóa đến năm 2018 đạt
Trang 3530
Trang 36chiếm 50,4% số xã Có 10,5 bác sỹ/vạn dân, 28,3 giường bệnh/vạn dân, Tỷ lệ ngườidân tham gia bảo hiểm y tế đạt 95,5%.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2018 đạt 50%, lao động được giải quyết việclàm hàng năm trên 14.600 người Giảm tỷ lệ hộ nghèo hàng năm đều giảm trên 3%,năm 2017 giảm 3,3%, năm 2018 giảm 3,24% Hiện còn 30.583 hộ nghèo, chiếm15,83%; 21.267 hộ cận nghèo, chiếm 11,01%
1.4.2 Nhu cầu tiếp nhận thông tin của người dân tộc thiểu số bản địa Lạng Sơn
1.4.2.1 Đặc điểm các dân tộc thiểu số Lạng Sơn
- Người Tày – Nùng
Tày và Nùng là hai tộc người nói ngôn ngữ thuộc nhóm Tày – Thái ở ViệtNam Người Tày - Nùng có số dân đông nhất trong các tộc người thiểu số ở ViệtNam Theo tài liệu thống kê năm 2019, số lượng người Tày là 1.626.392 người(đứng sau tộc người Kinh), người Nùng là 968.800 người (đứng thứ 6 sau tộc ngườiKinh) Riêng đối với Lạng Sơn, là tỉnh có người Nùng sống đông nhất Việt Nam
Người Tày – Nùng sống chủ yếu ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang,Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái và ngoài ra còn có một số ít bộ phận nhỏ sống ởcác tỉnh khác như Quảng Ninh, Bắc Giang, đặc biệt sau 1975, số lượng người Tày –Nùng di cư vào phía Nam
Trước đây người Tày và người Nùng tự phân biệt mình và gọi nhau một cáchthân mật là Cần lửa khao (người áo trắng) chỉ người Tày với Cần lửa đăm (người áođen) chỉ người Nùng Người Tày ít có sự phân biệt giữa các nhóm địa phương cònngười Nùng thì điều này rất nổi bật
Hai tộc người Tày, Nùng có quan hệ mật thiết, sống xem cài với nhau, giaolưu văn hóa với nhau, nhất là sự hòa nhập giữa người Nùng Phàn Xình với ngườiTày diễn ra rất mạnh mẽ, nên hiện nay nhiều nơi để phân biệt giữa văn hóa Tày vàNùng rất khó, đặc biệt trong quá trình sinh sống họ còn tạo nên những yếu tố vănhóa chung Tày – Nùng, thể hiện trong ngôn ngữ, phong tục, tín ngưỡng, văn hóadân gian…
Tín ngưỡng: người Tày – Nùng ở Lạng Sơn thờ tổ tiên và bái vật giáo Bàn
thờ tổ tiên của người Tày – Nùng đặt chính giữa nhà và làm thành một không gian
Trang 37riêng và được cung kính hết mực Khách và phụ nữ có thai, mới sinh không đượcphép ngồi hay nằm trên ghế, giường trước bàn thờ Trong tôn giáo của người Tày-Nùng, ngày tảo mộ (3/3 âm lịch) là ngày lễ quan trọng nhất của người Tày - Nùng.
Kinh tế: trong lĩnh vực kinh tế truyền thống, người Tày – Nùng ở Lạng Sơn,
nghề nông chiếm vị trí hàng đầu Sản xuất nông nghiệp chủ yếu là trồng trọt và chănnuôi nhiều loại gia súc, gia cầm, đôi khi có nuôi ngựa và voi Người Tày - Nùngthạo nhiều nghề thủ công như đan lát, dệt vải, nấu rượu cần, rèn sắt, làm gốm, trong đó phổ biến nhất là đan lát của nam giới và dệt thổ cẩm của nữ giới Nền kinh
tế của người Tày - Nùng chủ yếu là tự cung tự cấp, các hoạt động trao đổi sản phẩmcòn mang tính thô sơ, theo phương thức vật dụng đổi lấy vật dụng, thường mangtính ngẫu nhiên và ước lệ
Nhà ở: nhà ở của người Tày – Nùng ở Lạng Sơn thuộc loại hình nhà sàn, nhà
đất mái lợp cỏ gianh và một số vùng giáp biên giới có loại nhà phòng thủ Trongnhà phân biệt phòng nam ở ngoài, nữ ở trong buồng Người Tày – Nùng sống định
cư, quây quần thành từng bản chừng 15 đến 20 hộ
Hôn nhân:Người Tày – Nùng ở Lạng Sơn cho phép tự do tìm hiều và lựa
chọn bạn đời Khi đôi trai gái đã lựa chọn được người bạn đời ưng ý để tiến tới hônnhân thì đôi trai gái sẽ phải lấy một vật làm tin Nếu mọi việc thuận lợi hai bên mớibàn bạc tiến hành các bước chuẩn bị cho lễ cưới Trong hôn nhân, con gái Nùngđược đề cao, nhà trai phải đáp ứng đủ các lễ như: Lễ dạm hỏi, lễ ăn hỏi, lễ cưới, lễlại mặt và một số tục lệ khác Đám cưới của người Nùng thường được tổ chức trong
3 ngày và nhiều thủ tục của lễ cưới truyền thống vẫn được duy trì
- Người Dao
Người Dao là một trong số 54 dân tộc tại Việt Nam, với số dân là 751.067người (2009) Ở Lạng Sơn, 98% dân số người Dao sinh sống tại xã Mẫu Sơn, huyệnLộc Bình
Tín ngưỡng: dân tộc Dao rất coi trọng chữ hiếu họ có phong tục thờ cúng tổ
tiên vì họ cho rằng tổ tiên, ông bà luôn dõi theo chân họ phù hộ cho họ vào các ngàyrằm.Việc thờ cúng do thầy nên người thầy cúng rất được coi trọng đối với dân
Trang 38tộc đạo thì họ luôn giúp đỡ nhau họ Sùng bãi tổ tiên nhưng ngày nay theo sự hướngphát triển thì có một số đi theo các đạo khác như thiên Chúa giáo
Kinh tế: Người Dao sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nương và ruộng nước.
Ngoài lúa họ còn trồng màu Ngài ra, còn phát triển một số nghề thủ công như dệtvải, rèn, mộc, làm giấy, ép dầu…Thức ăn của người Dao chủ yếu là măng, rau,thỉnh thoảng có thịt cá Họ nuôi nhiều lợn, gà, nhưng chủ yếu dùng trong nhữngngày ma chay, cưới xin, lễ tết
Hôn nhân: Đối với việc cưới hỏi, trong Lễ ăn hỏi nhà trai mang gà, rượu, thịt
sang nhà gái đưa đồng bạc trắng, tuỳ từng địa phương số tiền thách cưới là 1,20hoặc 30 đồng bạc hoa xoè Số bạc này nhà gái dùng để chuẩn bị quần áo, tư trang để
cô dâu về nhà chồng Từ khi ăn hỏi đến khi cưới khoảng 1 năm để cô gái phải thêuthùa quần áo cưới Để báo hỉ cho khách đến dự đám cưới, hai bên gia đình dùng vỏquả bầu khô cắt ra từng viên nhỏ như hạt bầu nhuộm bằng màu hồng Người thânthường cho hai hạt (nghĩa là người được nhận hạt vỏ bầu này được mời thêm mộtngười nữa, thường là vợ hoặc chồng) Bao nhiêu khách thì chuẩn bị bấy nhiêu hạt
1.4.2.2 Nhu cầu tiếp nhận thông tin của người dân tộc thiểu số bản địa Lạng Sơn Trong cuốn Truyền thông đại chúng, tác giả Tạ Ngọc Tấn khẳng định: “Điều kiện tiếp nhận thông điệp như trạng thái tâm lí, trình độ nhận thức, kinh nghiệm sống cũng tham gia chi phối quy mô,tính chất hiệu ứng xã hội truyền thông đại chúng” [61, tr 30].
Trong bài viết “Mối quan hệ giữa tâm lí dân tộc và chính sách dân tộc”, tiến
sĩ Lê Hữu Xanh cho rằng: “Tâm lí học dân tộc là những cảm xúc, tình cảm, nhận thức, ý chí, tâm trạng, thói quen, truyền thống, các quá trình, trạng thái, thuộc tâm
lí của mỗi dân tộc được biểu hiện trong công việc và đời sống hàng ngày, được hình thành và phản ánh các mối quan hệ giữa con người trong điều kiện KT-XH nhất định” [43, tr 8].
Như vậy, nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí được hiểu là động cơ, mục đíchtiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng, là cái công chúng cần Công chúng ởđây được hiểu là các nhóm người có tiếp cận, sử dụng và chịu ảnh hưởng của sản
Trang 39phẩm báo chí Nhu cầu về thông tin và bình đẳng về thông tin đối với đồng bào miềnxuôi là nhu cầu chính đáng, thiết thực của đồng bào dân tộc thiểu số Thông tin, tuyêntruyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước liên quan đếnđồng bào, tìm hiểu cách phát triển kinh tế, cách giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thốngcủa dân tộc mình, được phản ánh những vấn đề của đời sống xã hội của địa phươngmình là những nhu cầu thông tin chính đáng của đồng bào dân tộc thiểu số
- Loại hình thông tin trực tiếp
Thông tin trực tiếp đến đồng bào dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn được thực hiệnbằng các đội thông tin lưu động, những cuộc họp dân, lễ hội, cung cấp thông tin vềmọi mặt đời sống xã hội, đến từng người dân tộc bản địa, từng thôn bản, từng giađình Cụ thế của loại hình thông tin trực tiếp rất rõ ràng: hình thứcthông tin đa dạng,trực quan, sinh động, thu hút sự chú ý công chúng, tác động nhanh chóng đến nhậnthức và suy nghĩ của công chúng
Cuộc sống của dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn thiếu ổn định với tập quán ducanh du cư, lương thực chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên Sản xuất kémphát triển, mang nặng tính tự cung, tự cấp, độc canh là phổ biến, do đó sản phẩmlàm ra không nhiều, sức tiêu thụ thấp Tập quán này không thể thay đổi một sớmmột chiều mà phải có thời gian và sự kết hợp giữa cộng đồng dân cư với chínhquyền Thông tin liên quan đến kinh tế, đến cái ăn, cái mặc, về tác hại của việc ducanh, du cư, phá rừng làm nương rẫy, được cụ thể hoá qua những hoạt động thiếtthực, bằng các buổi nói chuyện thân mật, gần gũi sẽ dần đi vào lòng người dân.Thông tin vừa có tính loan báo, vừa có tính định hướng để bà con nhận ra lợi ích,học tập làm theo, tiếp nhận được mọi chính sách liên quan đến cuộc sống của mình.Loại hình thông tin trực tiếp thường được thực hiện thông qua đội ngũ cán bộ làmcông tác tuyên truyền miệng tại địa phương, các đội tuyên truyền lưu động của tỉnh,của huyện Các già làng, trưởng bản, trưởng các dòng họ là nhân vật đóng vai tròquan trọng để thực hiện loại hình thông tin này bởi họ là những người có uy tín,được dân làng kính trọng và noi gương theo Thông qua các cuộc nói chuyệnthường xuyên ở Nhà rông, già làng sẽ nói rõ cho dân làng biết tình hình tại địa
Trang 40phương, trong nước và thế giới, phân tích cho dân làng thấy rõ mưu đồ của bọnphản động với các chiêu thức gì để lừa bịp bà con Từ đó, bà con dân bản tự ý thứcđược những việc làm đúng sai, hoạt động trái pháp luật nguy hiểm như thế nào, ảnhhưởng đến đời sống của chính mình ra sao Hiện nay, toàn tỉnh Lạng Sơn có 12 độiTuyên truyền lưu động, với số lượng cán bộ là 101 người, kinh phí hoạt động trungbình 400 triệu đồng/năm Hoạt động của các đội thông tin cổ động đã mang đến chocông chúng nhiều thông tin quan trọng về đường lối, chủ trương chính sách củaĐảng và Nhà nước, những sự kiện quan trọng trong nước và quốc tế Hình thứcthông tin trực tiếp được phát triển ở hầu hết mọi nơi, phương thức hoạt động khôngngừng được đổi mới, đưa thông tin kịp thời đến tận cơ sở đã góp phần quan trọngvào sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, ổn định chính trị, tư tưởng trong các tầnglớp nhân dân.
Thông tin trực tiếp là loại hình thức thông tin đơn giản, ít tốn kém, dễ thực hiện,nhưng hoạt động này ít được tổ chức thường xuyên cho nên hiệu quả truyền thông sẽkhông cao, không đáp ứng đủ nhu cầu thông tin toàn diện trên mọi lĩnh vực
- Loại hình thông tin gián tiếp:
Thông qua hình thức cấp báo đến tận địa phương, tận trụ sở nhà văn hóa củabản, làng, xã Các tờ báo được cấp thông thường là: Báo Nhân dân, Báo Lạng Sơn,Báo Dân tộc và Phát triển, Báo Lao động, Báo Nông nghiệp rất được đồng bàodân tộc thiểu số yêu thích Tuy nhiên, do giao thông còn khó khăn, công tác vậnchuyển báo chưa được nhanh chóng nên không phải lúc nào thông tin cũng đến vớicông chúng kịp thời Thậm chí, phải đến cả tháng sau khi báo phát hành mới đếnđược với công chúng các xã biên giới: Xã Công Sơn (huyện Cao Lộc); xã Trấn Yên(huyện Bắc Sơn); xã Yên Lỗ (huyện Bình Gia); xã Sơn Hà (huyện Hữu Lũng); xãTân Lang (huyện Văn Lãng); xã Chi Lăng (huyện Chi Lăng); xã Đồng Thắng(huyện Đình Lập; xã Tú Mịch (huyện Lộc Bình), Bên cạnh đó, trình độ dân trí củaphần đông đồng bào còn hạn chế, tỷ lệ mù chữ và tái mù vẫn cao, số người trực tiếpđến đọc báo không nhiều Gần đây, truyền hình đã có bước phát triển khá nhanh,nhiều hộ dân ở vùng xa xôi cũng đã trang bị được máy thu hình, đón xem thườngxuyên các chương trình thời sự, kinh tế, văn hóa Đặc trưng của truyền