Nghiên cứu vềnguồn hợp chất thiên nhiên từ biển đã được bắt đầu từ những năm 50 của thế kỷtrước và đang ngày càng nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới.Trong số các lo
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-NGUYỄN THỊ HƯỜNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ
KHẢO SÁT HOẠT TÍNH SINH HỌC LOÀI SAN HÔ MỀM
SINULARIA ERECTA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-NGUYỄN THỊ HƯỜNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ
KHẢO SÁT HOẠT TÍNH SINH HỌC LOÀI SAN HÔ MỀM
SINULARIA ERECTA
Chuyên ngành: Hóa hữu cơ
Mã số : 8440112.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Hà Nội – 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan : Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng em, đượcthực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Hoài Nam và TS Trần Mạnh Trí Các
số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được cá nhân hoặcnhóm tác giả công bố trong bất kỳ công trình nào khác Em xin hoàn toàn chịu tráchnhiệm về các nghiên cứu của mình
HỌC VIÊN CAO HỌC
Nguyễn Thị Hường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin gửi lời cám ơn chân thành sâu sắc tới các thầy cô giáo trongKhoa Hóa Học - Trường Đại học Khoa học tự nhiên, đã tận tình giảng dạy, truyền đạtcho em những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn thầy TS Nguyễn Hoài Nam và TS TrầnMạnh Trí đã tận tình hướng dẫn, hết lòng chỉ bảo, tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trongsuốt thời gian làm luận văn
Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn đến tập thể cán bộ phòng Dược liệu biển,Viện Hóa sinh biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã tận tình giúp
đỡ, trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp.Trong thời gian làm việc, em không ngừng tiếp thu thêm nhiều kiến thức chuyên môn
bổ ích mà còn học tập được tinh thần làm việc, thái độ nghiên cứu khoa học nghiêmtúc, hiệu quả, đây là những điều rất cần thiết cho em trong quá trình học tập và côngtác sau này
Luận văn được giúp đỡ về mặt kinh phí và thực hiện trong khuôn khổ nội dungbởi Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và VAST-FEB RAS trong chuyến thámhiểm Akademik Oparin thứ 5 [VAST.HTQT.NGA.15–04/16–17]
Em xin chân thành cảm ơn !
HỌC VIÊN CAO HỌC
Nguyễn Thị Hường
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC
iii DANH MỤC CÁC BẢNG
vii DANH MỤC CÁC HÌNH
viii ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Giới thiệu về san hô mềm 3
1.1.1 Khái quát chung về san hô mềm 3
1.1.2 Giới thiệu về san hô mềm Sinularia 5
1.1.3 Giới thiệu về san hô mềm Sinularia erecta 7
1.2 Tình hình nghiên cứu hóa học và hoạt tính sinh học một số loài san hô mềm điển hình thuộc giống Sinularia 7
1.2.1 Tình hình nghiên cứu về hóa học và hoạt tính sinh học một số loài san hô mềm điển hình thuộc giống Sinularia trên thế giới .7
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về hóa học và hoạt tính sinh học một số loài san hô mềm điển hình thuộc giống Sinularia ở Việt Nam 15
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 18
2.2.1 Mục tiêu của luận văn 18
2.2.2 Các nội dung nghiên cứu 18
2.3 Phương pháp nghiên cứu 19
2.3.1 Phương pháp xử lý mẫu, tạo dịch chiết, phân lập các hợp chất 19
2.3.2 Xác định cấu trúc các hợp chất sử dụng phổ cộng hưởng từ hạt nhân 21
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm hoạt tính diệt tế bào ung thư 22
2.3.4 Phương pháp đánh giá hoạt tính kháng viêm 23
3.1 Phân lập các hợp chất từ san hô mềm Sinularia erecta 25
3.1.1 Phân lập các hợp chất 25
3.1.2 Hằng số vật lý và dữ liệu phổ của các hợp chất phân lập được 27
3.2 Đánh giá hoạt tính gây độc tế bào ung thư các hợp chất phân lập được 28
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
Trang 64.1.2 Hợp chất 2: 4(15)-Eudesmene-1β,6α-diol 35
iii
Trang 74.1.3 Hợp chất 3 : 6α -Hydroxy-eudesm-4(15)-ene-1-one 40
4.1.4 Hợp chất 4: 4 β ,15-Epoxyeudesmane-1 β ,6 α -diol 45
4.1.5 Hợp chất 5: Aromadendrane-4β ,10 α -diol 49
4.1.6 Hợp chất 6: Aromadendrane-4α ,10 α -diol 54
4.1.7 Hợp chất 7: Aromadendrane-4β ,10 β -diol 58
IV.1.8 Hợp chất 8: Alloaromadendrane-4β ,10α -diol 63
4.2 Kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào ung thư các hợp chất phân lập được 69
KẾT LUẬN 72
PHỤ LỤC 79
1 Phụ lục phổ 79
2 Công trình đã công bố 96
Trang 9PANC-1 Epithelioid carcinoma cancer
RAW264.7 Murine macrophage cell line
ROESY Rotating-frame nuclear Overhauser
effect correlation spectroscopy
Ung thư biểu mô tuyến tụy Đại thực bào chuột
Sắc ký lớp mỏng
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các loài san hô mềm thuộc chi Sinularia 06
Bảng 4.1 Số liệu phổ NMR của hợp chất 1 31
Bảng 4.2 Số liệu phổ NMR của hợp chất 2 37
Bảng 4.3 Số liệu phổ NMR của hợp chất 3 42
Bảng 4.4 Số liệu phổ NMR của hợp chất 4 47
Bảng 4.5 Số liệu phổ NMR của hợp chất 5 52
Bảng 4.6 Số liệu phổ NMR của hợp chất 6 56
Bảng 4.7 Số liệu phổ NMR của hợp chất 7 61
Bảng 4.8 Số liệu phổ NMR của hợp chất 8 65
Bảng 4.9 Kết quả thử sàng lọc độc tế bào của các mẫu 69
Bảng 4.10 Kết quả thử sàng lọc hoạt tính ức chế sản sinh NO của các mẫu…… 70
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ phả hệ của giống Sinularia 04
Hình 2.1 San hô mềm Sinularia erecta Tixier-Durivault, 1945 18
Hình 3.1 Sơ đồ chiết tách các hợp chất từ mẫu Sinularia erecta 24
Hình 3.2 Sơ đồ phân lập các hợp chất từ phân đoạn n-Hexan (H) 25
Hình 4.1.1a Phổ HR-ESI-MS của hợp chất 1 28
Hình 4.1.1b Phổ 1H-NMR của hợp chất 1 28
Hình 4.1.1c Phổ 13C-NMR của hợp chất 1 29
Hình 4.1.1d Phổ HSQC của hợp chất 1 30
Hình 4.1.1e Phổ HMBC của hợp chất 1 31
Hình 4.1.1f Phổ NOESY của hợp chất 1 32
Hình 4.1.1g Các tương tác HMBC chính và cấu trúc hóa học của hợp chất 1 33
Hình 4.1.2a Phổ 1H-NMR của hợp chất 2 34
Hình 4.1.2b Phổ 13C-NMR của hợp chất 2 34
Hình 4.1.2c Phổ HSQC của hợp chất 2 35
Hình 4.1.2d Phổ HMBC của hợp chất 2 36
Hình 4.1.2e Các tương tác HMBC chính và cấu trúc hóa học của hợp chất 2 37
Hình 4.1.3a Phổ 1H-NMR của hợp chất 3 38
Hình 4.1.3b Phổ 13C-NMR của hợp chất 3 38
Hình 4.1.3c Phổ HSQC của hợp chất 3 39
Hình 4.1.3d Phổ HMBC của hợp chất 3 40
Hình 4.1.3e Các tương tác HMBC chính và cấu trúc hóa học của hợp chất 3 41
Hình 4.1.4a Phổ 1H-NMR của hợp chất 4 42
Hình 4.1.4b Phổ 13C-NMR của hợp chất 4 42
Hình 4.1.4c Phổ HSQC của hợp chất 4 43
Hình 4.1.3d Phổ HMBC của hợp chất 4 44
Hình 4.1.4e Các tương tác HMBC chính và cấu trúc hóa học của hợp chất 4 45
Hình 4.1.5a Phổ 1H-NMR của hợp chất 5 46
Hình 4.1.5b Phổ 13C-NMR của hợp chất 5 46
Hình 4.1.5c Phổ HSQC của hợp chất 5 47
Hình 4.1.5d Phổ HMBC của hợp chất 5 48
Trang 12Hình 4.1.5e Các tương tác HMBC chính và cấu trúc hóa học của hợp chất 5 49
Hình 4.1.6a Phổ 1H-NMR của hợp chất 6 50
Hình 4.1.6b Phổ 13C-NMR của hợp chất 6 50
Hình 4.1.6c Phổ HSQC của hợp chất 6 50
Hình 4.1.6d Phổ HMBC của hợp chất 6 51
Hình 4.1.6e Các tương tác HMBC chính và cấu trúc hóa học của hợp chất 6 52
Hình 4.1.7a Phổ 1H-NMR của hợp chất 7 53
Hình 4.1.7b Phổ 13C-NMR của hợp chất 7 54
Hình 4.1.7.c Phổ HSQC của hợp chất 7 54
Hình 4.1.7d Phổ HMBC của hợp chất 7 56
Hình 4.1.7e Các tương tác HMBC chính và cấu trúc hóa học của hợp chất 7 57
Hình 4.1.8a Phổ 1H-NMR của hợp chất 8 57
Hình 4.1.8b Phổ 13C-NMR của hợp chất 8 58
Hình 4.1.8c Phổ HSQC của hợp chất 8 58
Hình 4.1.8d Phổ HMBC của hợp chất 8 60
Hình 4.1.8e Các tương tác HMBC chính và cấu trúc hóa học của hợp chất 8 61
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Trái đất là hành tinh của các đại dương với hơn 70% diện tích bề mặt trái đấtđược bao phủ bởi nước mặn, đồng thời đại dương cũng là nơi chiếm đến trên 90%thể tích khu vực sinh sống của trái đất và hầu hết các hoạt động của sự sống đều cóliên quan đến cuộc sống dưới biển Vì vậy không có gì đáng ngạc nhiên khi nói rằngmôi trường biển chính là nơi ẩn chứa sự đa dạng sinh học loài lớn nhất
Đặc biệt, điều kiện sống khắc nghiệt trong môi trường biển dẫn tới sự cạnhtranh gay gắt về môi trường sống, nhiều sinh vật nhỏ bé phải tự sản sinh ra các chất
để bảo vệ, tạo điều kiện thuận lợi cho các sinh vật biển tổng hợp các hợp chất hữu
cơ có cấu trúc khác biệt so với các hợp chất có nguồn gốc thực vật Nghiên cứu vềnguồn hợp chất thiên nhiên từ biển đã được bắt đầu từ những năm 50 của thế kỷtrước và đang ngày càng nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới.Trong số các loài sinh vật biển, san hô mềm đang được rất nhiều nhà khoa học trênthế giới tìm hiểu và nghiên cứu bởi sự dồi dào về nguyên liệu, tính đa dạng về thànhphần hoá học và hoạt tính sinh học của chúng Các rạn san hô là một trong những hệsinh thái lâu đời nhất, đa dạng nhất về mặt sinh học và phong phú về các loài trêntrái đất
San hô mềm là nhóm sinh vật biển thuộc ngành Cnidaria, lớp Anthozoa, theođánh giá của các nhà khoa học ở Việt Nam có rất nhiều loài san hô mềm có chứa cáchoạt tính sinh học đã được công bố, điểm rất đáng lưu ý là các nghiên cứu khởi đầucủa Việt Nam về san hô mềm trong các đề tài nghiên cứu được thực hiện ở ViệtNam theo hướng này đều phân lập, tìm kiếm và phát hiện được các lớp chất thuộclớp chất sesquiterpen, terpenoid và steroid Ngoài ra, các hoạt tính sinh học chínhcủa các loài san hô mềm là hoạt tính diệt tế bào ung thư, hoạt tính kháng vi sinh vậtkiểm định, và hoạt tính kháng viêm Có thể thấy hướng nghiên cứu tìm kiếm cácchất từ nguồn san hô mềm theo hướng hoạt tính diệt tế bào ung thư và hoạt tínhkháng vi sinh vật kiểm định rất có ý nghĩa và cần thiết
Mặc dù trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về san hô mềm và đạtđược những thành tựu có ý nghĩa phục vụ cho công tác nghiên cứu, tuy nhiên ở Việt
Trang 14Nam mới chỉ có rất ít các công trình nghiên cứu về đối tượng này Chính vì vậy,việc nghiên về các chất hóa học từ san hô mềm là một hướng nghiên cứu mới, cónhiều triển vọng ở nước ta.
Do đó, học viên đã lựa chọn đề tài luận văn: “Nghiên cứu thành phần hóa
học và khảo sát hoạt tính sinh học loài san hô mềm Sinularia erecta” với mục
đích góp phần khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú
để tạo ra các sản phẩm có giá trị phục vụ cuộc sống, luận văn đã được thực hiện nộidung chính với các mục tiêu chính như sau:
Nghiên cứu phân lập các hợp chất từ loài san hô mềm Sinularia erecta
ở Việt Nam.
Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất đã phân lập được
Đánh giá hoạt tính sinh học các hợp chất phân lập được nhằm định hướng cho các nghiên cứu ứng dụng tiếp theo
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu về san hô mềm
1.1.1 Khái quát chung về san hô mềm
San hô là loài sinh vật biển thuộc lớp San hô (Anthozoa), tồn tại dưới dạngcác thể polip nhỏ giống hải quỳ, thường sống thành các quần thể gồm nhiều cá thểgiống hệt nhau Các cá thể này tiết ra calcium carbonate để tạo bộ xương cứng, xâynên các rạn san hô tại các vùng biển nhiệt đới
San hô lớp Anthozoa được chia thành hai phân lớp tùy thuộc theo số xúc tu(tua cảm), hoặc các đường đối xứng và một loạt các bộ phận tương ứng với kiểuxương ngoài và bao gồm phân lớp san hô có tám xúc tu được gọi là san hô tám ngăn
(Octocorallia), và phân lớp san hô có số xúc tu lớn hơn tám và là bội số của sáu được gọi là san hô sáu ngăn (Hexacorallia) Các san hô mềm (Alcyonacea), san hô sừng (Gorgonacea) và san hô bút biển (Pennatulacea) thuộc phân lớp san hô (Octocorallia) (Hình 1.1a), san hô cứng nằm trong phân lớp (Hexacorallia)[28].
Theo thống kê trên thế giới, phân lớp Octocorallia có khoảng 2000 loài chia làm
310 giống và 45 họ
San hô là những sinh vật rất đơn giản, tồn tại ở khắp các vùng biển, nôngcũng như sâu và là những cá thể hình trụ rất nhỏ có hàng xúc tu ở đỉnh, được sửdụng để bắt mồi trong môi trường nước Mặc dù san hô nhìn giống như cây nhưngchúng là động vật và có cấu tạo như sứa và hải quỳ, chúng thuộc vào nhóm động vậtbiển có các trâm gây ngứa Có đến hàng trăm kiểu san hô khác nhau nhưng tất cảđều do các cá thể nhỏ bé, còn gọi là polip tạo nên Các cá thể này tiết ra canxiumcarebonate để tạo bộ xương cứng, xây nên các rạn san hô tại các vùng biển nhiệtđới Trên thế giới, rạn san hô ngầm ước tính bao phủ trên 284.300 km2, chủ yếu ởvùng biển Ấn Độ - Thái Bình Dương (91,9%)
Các loài san hô mềm có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rạn san hô,chúng tạo ra nguồn vật chất hữu cơ, tham gia tạo rạn Cuộc sống cộng sinh của san
hô mềm với các loài tảo biển đã tạo nên đặc điểm sinh học vô cùng thú vị của san
hô mềm Nhiều loài có chất hoạt tính sinh học có giá trị làm thuốc chữa bệnh Nhiều
Trang 16loài có màu sắc đẹp thường được dùng để chế tác đồ mỹ nghệ Rất nhiều các hợpchất thứ cấp như các ditecpennoid dạng cembranoid từ san hô mềm có thể được tạọ
ra từ những mối tương tác với môi trường sinh thái như vậy [19]
Hình 1.1 Sơ đồ phả hệ của giống Sinularia
Nhóm nghiên cứu thuộc Việt Tài nguyên và Môi trường biển, Viện Hàn lâmKhoa học và Công nghệ Việt Nam, đã tiến hành một nghiên cứu về san hô mềm ở
Trang 17vùng biển ven bờ vịnh Bắc Bộ Tiến hành khảo sát, thu thập mẫu san hô mềm trêncác rạn san hô ở vùng biển Hạ Long, quần đảo Long Châu (Quảng Ninh), đảo Cồn
Cỏ (Quảng Trị), bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) và vùng bờ biển Hải Vân (Thừa ThiênHuế) trong nhiều năm Kết quả phân tích những mẫu vật thu thập được tại 4 khuvực này, bước đầu đã phát hiện có 46 loài san hô mềm, thuộc 10 họ, 24 chi Trong
đó, nhiều nhất là họ san hô Alcyoniidae (có 13 loài, chiếm 28,2) ; tiếp đến là hai họsan hô Paramuriceidae và Ellellidae, mỗi họ có 9 loài (19,5%); ba họ Melithaeidae,Goroniidae, Plexauridae mỗi họ có 3 loài, các loài san hô mềm này phân bố khárộng rãi Tại bốn khu vực điều tra (kể trên), nơi được phát hiện nhiều nhất là vùngquần đảo Long Châu (có 32 loài), tiếp đến là vùng ven biển Hải Vân và bán đảo SơnTrà (25 loài), vịnh Hạ Long (23 loài), ít nhất là vùng Cồn Cỏ (chỉ có 10 loài) Tuynhiên, xét về mật độ thì Cồn Cỏ là nơi có độ phủ san hô mềm cao nhất, hai chi
Lobophytum và Sinularia phát triển mạnh, tạo thành từng đám lớn [2].
Theo báo cáo kết quả đánh giá độ đa dạng sinh học của Khu bảo tồn biểnvịnh Nha trang do Viện Hải dương học thực hiện năm 2005 cho thấy mức độ giàu
có, phong phú và duy trì ổn định của san hô ở khu vực này Điển hình, ở khu đôngHòn Tre có khoảng 150 loài, ở tây nam Hòn Mun có khoảng 120 loài, trong đó có
chi Sinularia, Lobophytum [3].
1.1.2 Giới thiệu về san hô mềm Sinularia
Chi Sinularia là một trong những san hô mềm được phân bố rộng rãi nhất.
Chúng tạo thành một phần chi phối của sinh khối trong môi trường rạn san hô nhiệt
đới San hô mềm thuộc chi Sinularia phát triển rất mạnh mẽ, chúng phân bố rộng rãi
từ Đông Phi đến Tây Thái Bình Dương, sống ở các rạn san hô hay trên đá ở vùngnước nông, nhưng hiếm khi hình thành những quần thể lớn, với khoảng 100 loài đãđược phát hiện, trong đó có khoảng 40 loài đã được khảo sát hoá học [4] Chi
Sinularia đã cho thấy nó là một nguồn cung cấp phong phú các hợp chất thứ cấp,
bao gồm: sesquiterpene, diterpene, steroid và các hợp chất polyamine Các hợp chấtthứ cấp gần đây đã chứng tỏ các hoạt tính sinh học của chúng như: kháng sinh,
Trang 18chống viêm, chuyển hoá glucose trong tế bào mỡ chuột, ức chế sự phát sinh histamine và các hoạt tính gây độc tế bào.
Bảng 1.1 Các loài san hô mềm thuộc chi Sinularia
Trang 191.1.3 Giới thiệu về san hô mềm Sinularia erecta
San hô mềm Sinularia erecta Tixier-Durivault, 1945 thuộc ngành Cnidaria, lớp
Anthoazoa, phân lớp Octocorallia, bộ Alcyonacea, họ Alcyoniidae, chi Sinularia.
Sinularia erecta Tixier-Durivault là một loài san hô mềm sinh sống ở vùng nước
biển mặn, tập trung nhiều và đa dạng ở độ sâu 15-20m, quanh các rạn san hô củacác đảo hay các bãi đá ngầm Loài san hô này được phân bố rải rác dọc bờ biển ViệtNam như Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu), quần đảo Trường Sa, vịnh Vân Phong(Khánh Hòa), đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), Cù Lao Chàm, Cù Lao Xanh (Bình Định),bán đảo Sơn Trà, quần đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng), đảo Cát Bà, đảo Cô Tô
1.2 Tình hình nghiên cứu hóa học và hoạt tính sinh học một số loài san hô mềm
điển hình thuộc giống Sinularia
1.2.1 Tình hình nghiên cứu về hóa học và hoạt tính sinh học một số loài san
hô mềm điển hình thuộc giống Sinularia trên thế giới.
Những nghiên cứu về các chất có hoạt tính sinh học từ san hô mềm thuộcgiống Sinularia thực sự khởi phát từ những nghiên cứu khảo sát tác dụng chữa ung
thư vòm họng các dịch chiết của các loài san hô mềm như Sinularia grandilobata,
S parva, S.triangula, S.scabra, S nanolobata và S.gibberosa đã được tiến hành với
mô hình sử dụng dòng tế bào SCC25 và dòng tế bào HaCaT, kết quả nghiên cứutrên mô hình trên cho thấy dịch chiết của các loài nêu trên có tác dụng gây chết các
tế bào SCC25 và HaCaT theo chương trình, các kết quả này cũng mở ra một hướngnghiên cứu tìm kiếm các hoạt chất có khả năng điều trị bệnh ung thư vòm họng từ
loài san hô mềm Sinularia [32]
Trên thế giới, rất nhiều công trình nghiên cứu về san hô mềm đã được công
bố Hàng nghìn hợp chất đã được phát hiện và phân lập từ san hô mềm, chúngthường hiện diện ở các lớp chất steroid, sesquiterpene, terpenoit, acid amine, cáchợp chất phenol, hợp chất thơm, các acid béo, và vô số các dạng khác từ những loài
thuộc các chi Cespitularia, Clavularia, Gersemia, Lobophytum, Nephthea,
Sarcophyton, và Sinularia rất nhiều trong số này thể hiện các đặc đểm dược học
độc đáo , duy nhất Tuy nhiên, trong khuôn khổ tổng quan luận văn chỉ tập trung
Trang 20trình bày những nghiên cứu về 2 lớp chất sesquiterpene, diterpene và steroid là
những lớp chất tiêu biểu từ loài san hô mềm Sinularia hoạt tính sinh học điển hình của một số loài san hô mềm thuộc giống Sinularia, những loài này được nghiên cứu
nhiều và có những kết quả hoạt tính rất đáng quan tâm
1.2.1.1 Các hợp chất sesquiterpene
Năm 2013, Dawei Chen cùng công sự đã phân lập được 14 hợp chất mớisesquiterpene dạng astericane được thu thập mẫu tại Biển Đông từ loài san hô mềm
Sinularia capillosa, cụ thể là capillosananes A - N (1-14) cùng với 4 hợp chất khung
seco-asteriscanes mới, capillosananes O - R (15-18) Đây là nghiên cứu đầu tiên về sesquiterpene khung asteriscane, đặc biệt hai hợp chất capillosananes Q và R (17 - 18) đại diện cho khung seco-asteriscane mới Về hoạt tính sinh học, hợp chất
1 có hoạt tính chống độc mạnh với giá trị IC50 là 9,70µM, đồng thời hai hợp chất
capillosananes B (2) và I (9) thể hiện hoạt tinh kháng viêm TNF-α bằng phương
pháp in vitro [10]
Trang 21Năm 2015, Wun-Jie Lin và các cộng sự đã phân lập được hai eudesmane
sesquiterpenoids từ loài san hô mềm Sinularia gaweli, là hợp chất verticillatol (19) and 5α-acetoxy-4(14)-eudesmene-1β-ol (20) là một hợp chất mới, được phân lập đầu tiên từ loài san hô mềm Sinularia gaweli Hai hợp chất (19) và (20) có thể hiên
hoạt tính kháng viêm, ảnh hưởng của hai hợp chất này trên protein iNOS và COX-2gây viêm thể hiện trên dòng tế bào đại thực bào được kích thích LPS RAW264.7
[20]
San hô mềm Sinularia mayi, thu thập ở các vùng ven biển khác nhau, đã
được nghiên cứu thành phần hóa học một số lần Năm 1978, Bennchan và cộng sự
tiếp tục phân lập được hai hợp chất sesquiterpene aromandendrane mới (21) và (22)
[18]
Sesquiterpene cyclopropan, 9(15) africanene (23), đã được công bố lần đầu
tiên từ loài san hô mềm Sinularia polydactyla và sau đó cũng được phân lập từ
Sinulara erecta vào năm 1980 được phân lập bởi tác giả Brackman Như là một
phần của công trình nghiên cứu dược phẩm, africanene (23) đã được thử nghiệm
Trang 22hoạt tính gây độc tế bào in vitro trên các tế bào u cổ trướng Ehrlich (EAC) và các tế
bào khối u cổ trướng lymphoma Dalton (DLAT) tại nồng độ 10µg/mL, với kết quảgây chết các tế bào EAC và DLAT tương ứng là 100% và 92% Trong thí nghiệm
gây độc tế bào in vitro, việc xác định sự ức chế các khối u cổ trướng Ehrlich đã
được tiến hành với chuột, africanene (23) được dùng ở chuột theo đường tiêm trong
màng bụng và đã quan sát thấy rằng tuổi thọ của chuột tăng 22,68 % và 53,32 %tương ứng ở nồng độ 10 và 20 mg/kg trọng lượng cơ thể Năm 1999, Ramesh đã
phân lập thêm hai dẫn xuất của africanene, 10(S)-hydroxy-9(15) africanene (24), 9(S), và africanene 15-dihydroxy (25) được phân lập từ loài san hô mềm S.dissecta
từ miền Nam Ấn Độ [18]
Năm 2013, Bin Yang và cộng sự đã phân lập được 4 hợp chất sesquiterpen
mới sinularianin C - F (28 -31), cùng 2 hợp chất đã biết sinularianin A và B (26-27)
từ loài san hô mềm Sinularia sp từ khu vực biển phía Nam của Trung Quốc Tất cả
các hợp chất này đều được đánh giá khả năng ức chế hoạt hóa NF-κB, nổi bật trong
số này có hai hợp chất (26) và (29) thể hiện hoạt tính khá tốt với tỷ lệ ức chế là
41,3% và 43,0% ở nồng độ 10 µg / mL [34]
Trang 23Năm 2018, Qin GF và cộng sự đã phân lập được 3 hợp chất sesquiterpen mới
bao gồm sinuketal (32), sinulin A và B (33 và 34) từ loài san hô mềm Sinularia sp.
Hợp chất (32) thể hiện hoạt tính chống sốt rét tương đối yếu so với Plasmodium
falciparum 3D7, hoạt tính gây độc tế bào yếu đối với các dòng tế bào thử nghiệmJurkat, MDMB-231 và U2OS, ức chế tác dụng chống lại virus cúm A H1N1 và PR8.Các hợp chất khác được đánh giá về khả năng gây độc tế bào đối với các dòng tế bàoung thư thử nghiệm HeLa, HCT-116, và A549 [24]
1.2.1.2 Các hợp chất diterpene
Năm 2015, Chen WF và cộng sự phân lập được hợp chất diterpene (35) và
một hợp chất tương tự mới 4α-hydroxy-5-episinuleptolide (36) từ loài Sinularia
numerosa Hợp chất episinuleptolide acetate (35) có kết quả gây độc tế bào đối với
một số dòng tế bào gây u, theo các đánh giá về hoạt tính trên in vitro cho thấy đây
Trang 24là một hợp chất tiềm năng trong việc bảo vệ tế bào gây u và gây chết tế bào này
[11]
Năm 2012, Huei-Jyun Shih và cộng sự đã tìm ra 7 hợp chất diterpene
metabolite mới (37-43) và 7 cembranoid diterpene cũ (44-50) bao gồm: flexibilisolides C-G (37-41), flexibilisin C (42), 11,12-secoflexibillin (43), 11- dehydrosinulariolide (44), flexilarin D (45), 14-deoxycrassin (12), 11-epi- sinulariolide acetate (47), 3,4:8,11-bisepoxy-7-acetoxycembra-15(17)-en-1,12-olide
(48), sinulariolide (49) và 11-epi-sinulariolide (50) từ san hô mềm Sinularia
flexibilis Hợp chất mới flexibilisin C ( 42) và 11,12-secoflexibillin (43) có kết quả
gây độc tế bào trên hai dòng tế bào HeLa và B16 Ngoài ra flexibilisin C (42) còn
được coi là hoạt chất có tác dụng gây độc tế bào tiềm năng trên hai dòng tế bào Hep1 và B16 [26]
Trang 25SK-Năm 2012, Shen.S và cộng sự còn phân lập được 5 hợp chất diterpene thuộc
khung cembrane mới từ loài san hô mềm Sinularia pavida, các hợp chất này lần
lượt được đặt tên là pavidolides A-E (51-55) cùng với sarcophytin (56) và chatantin (57) Các nghiên cứu về cấu trúc kết hợp cùng với nghiên cứu về hoạt tính gây độc
tế bào cho thấy pavidolines B-C (52-53) thể hiện khả năng ức chế mạnh dòng tế bào
ung thư máu người HL-60 [25]
Năm 2015, Wun-Jie Lin và cộng sự đã phân lập được hai cembranoid
diterpene từ loài san hô mềm Sinularia gaweli, đó là (–)-leptodiol acetate (58) và
hợp chất mới sinulacembranolide A (59) Qua nghiên cứu, các nhà khoa học đã ghi nhận được sinulacembranolide A (59) có khả năng ức chế mạnh sự sản sinh NO trên
dòng tế bào đại thực bào chuột ( tế bào RAW264.7) bị kích hoạt bởi LPS [20]
Trang 26Năm 2018, Chuan Zhao và các cộng sự đã phân lập được 5 hợp chất
diterpenoid dạng cembrane đã biết từ loài san hô mềm Sinularia flexibils thuộc vùng
biển phía nam Trung Quốc Các hợp chất phân lập được kiểm tra về khả năng ức
chế sự sản xuất LPS induced NO và TNF-α trong các tế bào RAW264.7 giống như
đại thực bào, hoạt tính chống viêm trong ống nghiệm của các hợp chất (60-64) là đo
bằng cách kiểm tra hiệu ứng ức chế của sản xuất NO và mức độ TNF-α trong phần
nổi phía trên của lipopolysaccharide (LPS) –induced tế bào RAW264.7, sử dụngphương pháp Griess và ELISA [14]
1.2.1.3 Các hợp chất steroid
Năm 2013, Huang CY và cộng sự đã phân lập được 7 hợp chất steroid mới
cũng từ san hô mềm Sinularia brassica, đáng chú ý khi đây là 7 steroid dạng
withanolide, dạng rất hiếm gặp khi nghiên cứu các sinh vật trong môi trường biển
Các hợp chất đó là sinubrasolides A−G (63-69), các hợp chất (63-69) được thử
nghiệm ở nồng độ IC50 trên các dòng tế bào ung thư người P388, MOLT 4, K-562,HT-29 và cho thấy hoạt tính của chúng có khả năng gây độc tế bào mạnh [13]
Trang 27palmitoyl-palmitoyl-của loài san hô mềm Sinularia còn có nhiều hợp chất khác [1].
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về hóa học và hoạt tính sinh học một số loài san
hô mềm điển hình thuộc giống Sinularia ở Việt Nam
Trong một vài năm trở lại đây, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu
về san hô mềm, phần lớn tập trung ở giống Sinularia Năm 2013, Thao N P và cộng
sự đã nghiên cứu loài san hô mềm Sinularia maxima và phân lập được thêm 7 hợp
chất norditecpene là: scabrolide A (70), 12-hydroxy-scabrolide A (71), yonarolide (72), ineleganolide (73), 5-epinorcembrene (74), 13-epi-scabrolide C
(75) và norcembrene 5 (76), trong đó hợp chất (71) và (75) là hai hợp chất mới Qua các khảo sát hoạt tính sinh học cho thấy hợp chất (70) thể hiện hoạt tính ức chế ở
Trang 28mức độ trung bình sự tạo thành IL-12 và IL-6 với giá trị IC50 tương ứng là 23,52 và
69,85 µm, hợp chất (70) ức chế mạnh sự tạo thành IL-12 và IL-6 trong tế bào
BMDCs được kích thích bởi LPS với giá trị IC50 tương ứng là 5,30 và 13,12 µm
[29][ 30]
Năm 2017, Ngoc NT và các cộng sự đã phân lập được 4 hợp chất sesquiterpenes
(77-80) bao gồm hai hợp chất mới, nanolobatols A và B (77 và 78), được phân lập
từ san hô mềm Sinularia nanolobata thu thập tại Việt Nam Cấu trúc của chúng
được xác định trên cơ sở dữ liệu quang phổ (1H và 13C NMR, HSQC, HMBC, 1H– 1H COZY, NOESY và FT-ICR-MS) Các hợp chất trên đều thể hiện hoạt tính gây độc tế bào của các hợp chất bị cô lập chống lại 8 tế bào ung thư ở người [23]
San hô mềm nguồn dược liệu dồi dào, đa dạng và đáng quý bởi chúng chứarất nhiều hợp chất thể hiện hoạt tính sinh học thú vị như tác dụng gây độc tế bào,hoạt tính chống ung thư và kháng viêm v.v Tuy nhiên, việc nghiên cứu thành phần
Trang 29hoá học và hoạt tính sinh học của các loài trong chi Sinularia này vẫn còn hạn chế,
mới chỉ thấy tập trung vào một số loài Hơn nữa, mặc dù Việt Nam được coi là cóvùng biển giàu tài nguyên và sự đa dạng về san hô do điều kiện khí hậu nhiệt đới làmột trong những nơi có số lượng san hô mềm rất phong phú, song các công trìnhnghiên cứu về san hô mới chỉ có rất ít Do đó, việc nghiên cứu hoá học và hoạt tínhsinh học của loài san hô mềm không chỉ làm sáng tỏ thêm thành phần hoá học củacác loài này, mà còn tìm ra những chất có hoạt tính sinh học đáng quý, có khả năngứng dụng cao
Trang 30CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nguyên liệu: Mẫu san hô mềm Sinularia erecta Tixier-Durivault, 1945 thuộc
họ san hô mềm Alcyoniidae Loài san hô này phân bố tại khu vực Vịnh Bắc Bộ vàkhu vực đảo Cù Lao Chàm, Quảng Nam
Mẫu nghiên cứu được thu vào năm 2016, tại Cù Lao Chàm, Quảng Namtrong chuyến khảo sát bằng tàu "Viện sỹ Oparine" vào khảo sát tại Việt nam lần thứ
5, mẫu tiêu bản (mã số: 20161123) được PGS.TS Đỗ Công Thung, Viện Tài nguyên
và Môi trường Biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam giám định vàđược lưu giữ tại Viện Hoá sinh biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ ViệtNam
Mẫu sinh vật biển sau khi thu thập được rửa sạch nhiều lần bằng nước cất đểloại muối và tạp bẩn, sau đó để ráo nước và được lưu giữ trong điều kiện lạnh âmsâu (−20oC) cho tới khi sử dụng để nghiên cứu
Hình 2.1 San hô mềm Sinularia erecta Tixier-Durivault, 1945
2.2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
2.2.1 Mục tiêu của luận văn
Nghiên cứu thành phần hóa học và khảo sát hoạt tính sinh học loài san hô
mềm Sinularia erecta.
2.2.2 Các nội dung nghiên cứu
- Phân lập một số hợp chất hóa học từ san hô mềm Sinularia erecta.
- Xác định cấu trúc hóa học các hợp chất bằng các phương pháp hóa lý
Trang 31- Khảo sát hoạt tính gây độc tế bào các hợp chất phân lập được.
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp xử lý mẫu, tạo dịch chiết, phân lập các hợp chất
2.3.1.1 Phương pháp xử lý mẫu
Việc xử lý các mẫu sinh vật biển được thực hiện theo quy trình thống nhất đã đượcxây dựng qua các nhiệm vụ khoa học của Viện Hóa sinh biển:
Bước 1: Mẫu san hô mềm sau khi lấy ra khỏi tủ lạnh âm sâu được tiến hành
rã đông bằng cách để trên bệ rửa thí nghiệm, cho nước sạch chảy đều trên bề mặtcủa mẫu nghiên cứu, các lớp đá bao quanh mẫu san hô mềm được tan từ từ để lộphần thân của mẫu san hô mềm Mẫu được ngâm trong nước lạnh trong thời gian từ2-3 giờ nhằm loại bỏ từ từ hàm lượng muối vô cơ
Bước 2: Sau khi mẫu san hô mềm đã được rã đông, loại bỏ các phần túi
nylon và các thành phần vi sinh vật biển khác bám trên bề mặt của mẫu san hômềm Lưu lại tiêu bản mẫu, để mẫu sinh vật biển lên mặt bàn thí nghiệm và chụpảnh để lưu phần mẫu trước khi xử lý
Bước 3: Sau khi mẫu san hô mềm đã được loại bỏ các thành phần nylon và
các thành phần khác, mẫu được để trên túi lưới ở nhiệt độ phòng cho đến khi khôhết bề mặt của phần thân mẫu san hô mềm Mẫu được cân để thu được khối lượngthực tế trước khi tiến hành xử lý
Bước 4: Mẫu được cắt nhỏ thành từng phiến, chiều rộng và dài của phiến tùy
theo độ cứng của mẫu san hô mềm Các phiến càng mỏng thì khả năng làm khô mẫu
và xay mẫu càng thuận lợi
Bước 5: Sấy và làm khô các mẫu san hô mềm Các mẫu san hô mềm sau khi
đã được cắt thành các phiến nhỏ được chuyển vào túi lưới và tiến hành làm khô sơ
bộ bằng phương pháp sấy khô trên thiết bị tủ sấy chân không hoặc phơi dưới điềukiện ánh sáng mặt trời (có tránh tia tử ngoại) Trong quá trình sấy mẫu này, khốilượng mẫu san hô mềm giảm xuống rất nhanh
Bước 6: Làm khô mẫu trên thiết bị đông khô.
Bước 7: Nghiền mẫu thành bột mịn bằng thiết bị nghiền mẫu.
Trang 322.3.1.2 Phương pháp nghiên cứu tạo dịch chiết phân đoạn
Bước 1: Chuẩn bị mẫu thử: Các mẫu san hô mềm được lấy lượng 5 mg mẫu
khô, cho vào bình định mức 10 ml
Bước 2: Đánh số thứ tự và ký hiệu các bình chiết mẫu Thêm dung môi theo
thứ tự tăng dần độ phân cực, dung môi được thêm đến vạch định mức
Bước 3: Toàn bộ các bình chiết được cho lên máy lắc ngang, lắc đều cho
dung môi thấm đều trên bột san hô mềm Để lắng trong khoảng 1-2 giờ
Bước 4: Lọc mẫu, phần dịch lọc được cất loại dung môi trên thiết bị cất quay,
dịch thô thu được cho vào lọ nhỏ phục vụ cho việc kiểm tra lượng vết chất và khảnăng hòa tan mẫu nghiên cứu
Bước 5: Sử dụng sắc ký bản mỏng TLC và hệ dung môi CH2Cl2 : MeOH với
tỷ lệ thích hợp để đánh giá các mẫu thô thu được
2.3.1.3 Phương pháp phân lập chất
- Sắc ký lớp mỏng: Sắc ký lớp mỏng là một kỹ thuật tách các chất được tiến hành
khi cho pha động di chuyển qua pha tĩnh trên đó đã đặt hỗn hợp các chất cần tách.Pha tĩnh là chất hấp phụ được chọn phù hợp theo từng yêu cầu phân tích Pha động
là một hệ dung môi đơn hoặc đa thành phần được trộn với nhau theo tỷ lệ quy địnhtrong từng chuyên luận Trong quá trình di chuyển qua lớp hấp phụ, các cấu tử tronghỗn hợp mẫu thử được di chuyển trên lớp mỏng, theo hướng pha động, với nhữngtốc độ khác nhau Kết quả, ta thu được một sắc ký đồ trên lớp mỏng
Sắc ký lớp mỏng được thực hiện trên bản mỏng tráng sẵn DC-Alufolien 60 F254
(Merck 1,05715), RP18 F254s (Merck) Phát hiện chất bằng đèn tử ngoại ở hai bướcsóng 254 nm và 365 nm hoặc dùng thuốc thử là dung dịch H2SO4 10% được phunđều lên bản mỏng, sấy khô rồi hơ nóng trên bếp điện từ đến khi hiện màu
- Sắc ký cột: Nguyên lí tách của sắc kí cột cũng như của các loại sắc ký khác: một
mẫu thử được nạp lên một cột chứa chất hấp phụ (thường là silica gel, nhôm
oxide).Cột chứa chất hấp phụ này đóng vai trò là một pha tĩnh Một dung môi khaitriển (pha động) di chuyển dọc theo cột sẽ làm di chuyển các cấu tử của mẫu thử, docác cấu tử này có độ phân cực khác nhau nên ái lực của chúng với pha tĩnh cũng
Trang 33khác nhau Sắc ký cột được tiến hành với chất hấp phụ là silica gel pha thường vàpha đảo Silica gel pha thường có cỡ hạt là 0,040-0,063 mm (240-430 mesh) Silicagel pha đảo ODS hoặc YMC (30-50 μm, FuJisilisa Chemical Ltd.).
- Hệ thống sắc ký lỏng trung áp (MPLC): Hệ thống bao gồm Detector UV-vis bước
sóng từ 200-900 nm, bộ lấy mẫu tự động (fraction collector) kèm theo với các dãyống nghiệm kích thước thay đổi tùy theo lượng mẫu, hệ thống bơm với khả năngđiều chỉnh áp từ 1 đến 10 bar, tốc độ dòng từ 1ml/phút đến 200 ml/phút Cột táchSNAP loại C8, C18 với dung lượng từ 100g đến 450g mẫu đầu vào
- Hệ thống lấy mẫu tự động (Fraction collector): Mẫu được đưa qua cột sắc ký bằng
thủy tinh với pha tĩnh là silica gel pha thường hoặc pha đảo Cơ chế phân tách dựatrên sự tương tác giữa chất và pha tĩnh, dung môi với tỷ lệ phù hợp Mẫu được thu thập thông qua máy lấy mẫu tự động
Các thiết bị sử dụng nêu trên thuộc Viện Hoá sinh biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2.3.2 Xác định cấu trúc các hợp chất sử dụng phổ cộng hưởng từ hạt nhân
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR - Nuclear Magnetic Resonance) là một phương pháp vật lý hiện đại nghiên cứu cấu tạo của các hợp chất hữu cơ, nó có
ý nghĩa quan trọng để xác định cấu tạo các phân tử phức tạp như các hợp chất thiên nhiên
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân, một chiều và hai chiều được đo trên máy
Bruker Avance AM500 FT-NMR Spectrometer, Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Chất nội chuẩn được sử dụng là TMS (tetramethyl silane)
Các kỹ thuật phổ cộng hưởng từ hạt nhân sử dụng:
- Phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều: 1H-NMR, 13C-NMR
- Phổ cộng hưởng từ hạt nhân hai chiều: 1H-1H COSY, ROESY, HSQC,HMBC
Dung môi được sử dụng bao gồm các dung môi CD3OD, CDCl3
Trang 342.3.3 Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm hoạt tính diệt tế bào ung thư
Phương pháp thử độ độc tế bào in vitro được Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ
(National Cancer Institute – NCI) xác nhận là phép thử độ độc tế bào chuẩn nhằmsàng lọc, phát hiện các chất có khả năng kìm hãm sự phát triển hoặc diệt tế bào ung
thư ở điều kiện in vitro.
Phương pháp MTT được sử dụng để nghiên cứu thử nghiệm hoạt tính diệt tếbào ung thư Nguyên tắc của phương pháp này là đánh giá hoạt động trao đổi chấtcủa tế bào sống thông qua hoạt động của enzyme oxidoreductase phụ thuộcNADPH Enzyme này sẽ khử thuốc nhuộm 3-(4,5-dimethylthiazol-2-yl)- 2,5diphenyltetrazolium bromide (MTT) thành sản phẩm formazan có màu tím vàkhông tan Giá trị mật độ quang học (OD – Optical Density) đo được của formazansau khi hòa tan trong dung môi thích hợp sẽ phản ánh mức độ hoạt động của
enzyme, tương ứng với độ sống của tế bào [7][ 22] Phép thử được thực hiện trongđiều kiện cụ thể như sau:
- Tế bào được nuôi trong đĩa 96 giếng với mật độ 2.0 x 104 tế bào/ml, ủ ởnhiệt độ 37oC, 5% CO2 trong 24 giờ
- Tế bào được xử lý với các hợp chất ở những nồng độ khác nhau (0.3, 1, 3,
10, 30, và 100 µl trong DMSO), ủ ở nhiệt độ 37oC, 5% CO2 trong 48 giờ
- Sau đó, dung dịch MTT 0.5 mg/ml lần lượt được thêm vào và tiếp tục ủ ởnhiệt độ 37oC, 5% CO2 trong 4 giờ
- Hàm lượng formazan tạo thành được đánh giá bằng phương pháp đo mật độquang OD ở bước sóng 570 nm, sẽ phản ánh số lượng tế bào sống trong dịch nuôi cấy
Khả năng sống sót của tế bào khi có mặt chất thử sẽ được xác định thông quacông thức sau:
% sống sót =
% ức chế = 100% − % sống sót
% ức chế ˃ 50% sẽ được chọn ra để thử nghiệm tiếp trên giá trị IC50 (nồng
độ ức chế 50% sự phát triển)
Trang 35- Các phép thử được lặp lại 3 lần để đảm bảo tính chính xác Etoposide và camptothecin được sử dụng như là chất đối chứng dương.
- DMSO 10% luôn được sử dụng như đối chứng âm Giá trị IC50 sẽ được xácđịnh nhờ vào phần mềm TableCurve Trong khuôn khổ luận văn này, chất thử nào
có IC50 < 100 μg/ml (với chất chiết thô hoặc phân đoạn hóa học) hoặc IC50 ≤ 100
µM (với hoạt chất tinh khiết) sẽ được xem là có biểu hiện hoạt tính gây độc tế bào
và có khả năng ức chế sự phát triển hoặc diệt tế bào ung thư
Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm hoạt tính diệt tế bào ung thư được thửnghiệm tại phòng Hoạt chất sinh học, Viện Hoá sinh biển, Viện Hàn lâm Khoa học
và Công nghệ Việt Nam
2.3.4 Phương pháp đánh giá hoạt tính kháng viêm
Nguyên lý
Gốc tự do nitric oxide (•NO) được sản sinh ở nhiều loại tế bào khác nhau.Dạng •NO xuất tiết có mặt ở các tế bào như đại thực bào, nguyên bào sợi hay tế bàogan thường được sản sinh với lượng lớn khi xuất hiện các đáp ứng viêm [40]
Một phương pháp được sử dụng để xác định gián tiếp •NO là đo màu cácthành phần sản phẩm của nó (nitrate và nitrite) Phản ứng này đòi hỏi rằng nitrate(NO3) đầu tiên được giảm thành nitrite (NO2), do tác động của nitrate reductase
Trang 36Phương pháp MTT (3-(4,5-dimethythiazol-2-yl)-2,5-diphenyl tetrazoliumbromide) là một phương pháp so màu, đo độ suy giảm màu để đánh giá khả năngsống sót của tế bào Ở các tế bào sống, hệ enzyme oxidoreductase hoạt động mạnh,những enzyme này có khả năng phân giải MTT thành dạng formazan không hoà tan,màu tím đậm Do vậy, tỉ lệ tế bào sống sót được suy ra từ lượng formazan tạo thành
từ MTT Lượng formazan tạo thành được hoà tan bởi dung môi hữu cơ (DMSO,propanol) và đo độ hấp thụ ở bước sóng 570 mm Khả năng gây độc tế bào của cácmẫu thử nghiệm được suy ra từ việc đánh giá khả năng sống sót của tế bào
Tế bào RAW264.7 được nuôi cấy 48 giờ trong môi trường DMEM ở 37oC,5% CO2 với 10% FBS, penicillin và streptomycin sulphate Sau đó chúng được nuôicấy trong giếng phiến 96 với mật độ 2,5 x 105 tế bào/giếng Tế bào được kích thíchvới LPS trong 24 giờ với sự có mặt của các hợp chất thử ở nhiều nồng độ khácnhau, được pha sẵn trong DMSO Dịch nổi của tế bào phản ứng với thuốc thửGriess NaNO2 ở các nồng độ khác nhau được sử dụng để xây dựng đường chuẩn
Độ hấp thụ được đo ở 570 nm Cardamonin được sử dụng làm mẫu đối chứng [41]
Phần tế bào còn lại sau khi đã sử dụng để đánh giá các hoạt tính invitro được
bổ sung dung dịch MTT (5mg/mL), ủ 4h ở 37oC và 5% CO2 Sau đó hút bỏ hết môitrường trên bề mặt, kết tủa formazan được hòa tan trong isopropanol Độ hấp thụđược đo ở 570 nm
Trang 37CHƯƠNG 3- THỰC NGHIỆM
3.1 Phân lập các hợp chất từ san hô mềm Sinularia erecta
3.1.1 Phân lập các hợp chất
Mẫu san hô mềm Sinularia erecta tươi (1,5 kg) sau khi được xử lý theo
phương pháp xử lý mẫu sinh vật biển, được cắt thành từng miếng nhỏ và ngâm chiếtMeOH sử dụng sóng siêu âm 3 lần (mỗi lần 2h) ở nhiệt độ phòng thu được cặn chiếtMeOH tổng (150 g, M) Cặn MeOH được hòa vào nước (1.0 lít) và chiết phân lớpvới n-hexane Cô quay loại bỏ dung môi dưới áp suất giảm thu được cặn chiết n-hexane (48g, H) Sau đó phần dịch nước được bổ sung dichloromethane tỉ lệ 1 : 1thu được căn chiết dichloromethane (2g , D)
Hình 3.1 Sơ đồ chiết các phân đoạn từ mẫu Sinularia erecta
Cặn chiết H và D được tiến hành phân tách thô bằng hệ thống sắc ký lỏng trung ápvới cột nhồi silica gel pha thường Rửa giải gradient bằng hệ dung môidichloromethane : methanol (từ 100:1 đến 1:1) thu được 9 phân đoạn (H1→H9).Phân đoạn H3 (2g) tiếp tục được phân tách bằng hệ thống sắc ký lỏng trung áp với
Trang 38cột pha đảo YMC RP-18, sử dụng pha động là methanol: nước (2:1) thu được 2phân đoạn ký hiệu H3A và H3B Phân đoạn H3A (120 mg) được phân tách tiếpbằng sắc ký cột silica gel pha thường, rửa giải bằng hệ dung môi dichloromethane :acetone (20/1) kết hợp với sắc ký cột silica gel pha thường rửa giải bằng hệ dung
môi n-hexane : etyl acetate 5/1 thu được hợp chất 4 (1,8 mg) Phân đoạn H3B (900
mg) được phân tách tiếp bằng sắc ký cột silica gel pha thường, rửa giải bằng hệdung môi n-hexane : acetone (10/1) kết hợp với sắc ký cột silica gel pha thường rửa
giải bằng hệ dung môi dichloromethane: etyl acetate 5/1 thu được hợp chất 5 (2,8
mg)
Hình 3.2 Sơ đồ phân lập các hợp chất từ phân đoạn n-Hexan (H)
Phân đoạn H4 + H5 (10g) được phân tách bằng hệ thống sắc ký lỏng trung ápvới cột pha đảo YMC RP-18, sử dụng pha động là methanol: H2O (1/1 →10/1) thu
Trang 39được 7 phân đoạn ký hiệu H5A →H5G Phân đoạn H5B (120 mg) được phân táchtiếp bằng sắc ký cột silica gel pha thường, rửa giải bằng hệ dung môidichloromethane : acetone (10/1) kết hợp với sắc ký cột silica gel pha thường rửa
giải bằng hệ dung môi n-hexane : acetone 7/1 thu được 3 hợp chất: 1 (1,5 mg), 2 (3mg), 3 (3,5mg) Phân đoạn H5C (190 mg) được phân tách tiếp bằng sắc ký cột
silica gel pha thường, rửa giải bằng hệ dung môi dichloromethane: acetone (15/1)thu được 4 phân đoạn H5C1- H5C4 Phân đoạn H5C3(16mg) được phân tách trênsắc ký cột silica gel pha thường rửa giải bằng hệ dung môi n-hexane : acetone 5/1
thu được hợp chất 6 (5 mg) Phân đoạn H5E (55mg ) được phân tách tiếp bằng sắc
ký cột silica gel pha thường, rửa giải bằng hệ dung môi dichloromethane: acetone(10/1) kết hợp với sắc ký cột silica gel pha thường rửa giải bằng hệ dung môi n-
hexane: acetone 5/1 thu được hợp chất 7 (1,6 mg) và hợp chất 8 (4,7mg).
3.1.2 Hằng số vật lý và dữ liệu phổ của các hợp chất phân lập được
- Hợp chất 1: 3β,5α-dihydroxyeudesma-4(15),11-diene (chất mới)
Chất không màu, dạng dầu; [α]D + 10 ( c = 0,05; CHCl3); Phổ khối phân giải cao
HR-ESI-MS m/z 237,18549 [M + H]+ , M =236 Số liệu phổ 1H-NMR (500 MHz,CDCl3) và 13C-NMR (125 MHz, CDCl3) được trình bày trên bảng 4.1
Trang 40- Hợp chất 6 : Aromadendrane-4α, 10α-diol
Chất bột màu trắng; [α]D - 42 ( c = 0,05; CHCl3); Số liệu phổ 1H-NMR (500 MHz, CDCl3) và 13C-NMR (125 MHz, CDCl3) được trình bày trên bảng 4.6
- Hợp chất 7: Aromadendrane-4β, 10β-diol.
Chất bột màu trắng; [α]D - 13 ( c = 0,05, CHCl3); Số liệu phổ 1H-NMR (500 MHz, CDCl3) và 13C-NMR (125 MHz, CDCl3) được trình bày trên bảng 4.7
- Hợp chất 8: Alloaromadendrane-4β, 10α-diol
Chất bột màu trắng; [α]D + 8 ( c = 0,05; CHCl3); Số liệu phổ 1H-NMR (500 MHz,CDCl3) và 13C-NMR (125 MHz, CDCl3) được trình bày trên bảng 4.8
3.2 Đánh giá hoạt tính gây độc tế bào ung thư các hợp chất phân lập được
Hoạt tính diệt tế bào ung thư thử nghiệm được tiến hành tại Viện Hoá sinhbiển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Tất cả các hợp chất phân lậpđược được kiểm tra hoạt tính gây độc tế bào ung thư đối với 3 dòng tế bào ung thưngười bao gồm: ung thư phổi (A-549), ung thư cổ tử cung (Hela), và ung thư biểu
mô tuyến tụy (PANC-1) Các dòng tế bào này được đánh giá bằng các xét nghiệm
đo màu dựa trên phương pháp MTT Kết quả được trình bày trong bảng 4.9 và bảng4.10