LỜI MỞ ĐẦUTrước hết,Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, quan hệngoại giao, kinh tế và giao lưu văn hóa giữa hai nước đã được hình thành rấtlâu.Trên lĩnh vực kinh tế, các nhà đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-PHAN LỘ (PAN LU)
SO SÁNH XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
Hà Nội - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-PHAN LỘ (PAN LU)
SO SÁNH XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số: 60220113
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BÙI THÀNH NAM
Hà Nội-2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơnPGS.TS.Bùi Thành Nam, người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trongsuốt quá trình làm luận văn Nếu thiếu sự giúp đỡ của Thầy Nam, tôi chắcchắn không thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp thuận lợi được
Tôi xin cảm ơn các thầy cô của khoa Việt Nam học và tiếng Việt tận tìnhtruyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhấtcho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tàiluận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và cácbạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập,nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh
Hà Nội, tháng 10 năm 2020 Học viên thực hiện
Phan Lộ(Pan Lu)
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 9
1.1 Khái niệm THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 9
1.2 Lịch sử ra đời và Các hình thức THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 11
1.2.1 Lịch sử ra đời của THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 11
1.2.2 Các hình thức THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 12
1.3 Điều kiện phát triển THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 13
1.3.1 Vai trò của THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 13
1.3.2 Lợi ích của THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 14
1.3.3 Điều kiện phát triển THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 17
1.4 Một số công ty tiêu biểu trong khu vực 21
1.4.1.Amazon 22
1.4.2 Alibaba 27
1.4.3 Shopee và Lazada 32
Chương 2: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC 37
2.1.Quá trình phát triển THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ tại Việt Nam 37
2.2.Thực trạng THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VIỆT NAM 42
2.2.1 Quy mô thị trường THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ hình thức doanh nghiệp với khách hàng Việt Nam 42
Trang 52.3.Tổng quan thị trường THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Việt Nam 44
2.3.1.Thành tích hiện nay 44
2.3.2.Chiến lược lan tỏa 45
2.3.3.Thu hút đầu tư 47
2.3.4.Hàng triệu chiến binh 48
2.3.5.Những vấn đề còn tồn tại 53
2.4.Quá trình phát triển và thực trạng THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ tại Trung Quốc 58
2.4.1.Qúa trình phát triển của ngành THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Trung Quốc 58 2.4.2.Hiện trạng phát triển THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Trung Quốc 66
2.4.3.Bài học từ kinh nghiệm phát triển THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ của Trung Quốc 75
CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN NGÀNH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VIỆT NAM 83
3.1.Cải thiện môi trường thanh toán điện tử 83
3.1.1 Cải thiện môi trường internet 83
3.1.2.Thống nhất hệ thống thanh toán điện tử 84
3.2.Hoàn thiện hệ thống giao hàng và phân phối 85
3.3 Hoàn thiện hệ thống pháp luật thị trường 87
3.4 Tăng cường phát triển nguồn nhân lực THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 88
Trang 63.4.1.Tăng cường đào tạo xã hội 88
3.4.2.Tăng cường đào tạo trong khuôn viên trường 89
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHQG Hà Nội Đại học Quốc gia Hà Nội
VECOM Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Ảnh minh họa “hiệu ứng bánh đà” Amazon 24Hình 1.2: Thị phần điên toán đám mây trên thế giới 25Hình 1.3: Bảng xếp hàng ứng dụng di động có lượng người sử dụng nhiềunhất trong quý 3 năm 2019 tại sáu nước Đông Nam Á 36Hình 4: Doanh thu THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ B2C Việt Nam năm 2015 –
2019 (tỷ USD) 42
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
Trước hết,Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, quan hệngoại giao, kinh tế và giao lưu văn hóa giữa hai nước đã được hình thành rấtlâu.Trên lĩnh vực kinh tế, các nhà đầu tư, kinh doanh Trung Quốc đi vào thịtrường Việt Nam rất sớm, đồng thời Trung Quốc đã nhanh chóng trở thànhnhà đầu tư và là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam Trung Quốc làđối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong năm 2016, theo số liệu thống
kê được Tổng cục Hải quan Việt Nam,kim ngạch thương mại song phươngđạt 98,21 tỷ USD,và sẽ cán mốc 100 tỷ USD vào năm 2017
Thứ hai, Việt Nam và Trung Quốc đều trong giai đoạn phát triển thươngmại điện tử (THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ) nhanh chóng, có nền văn hóa tươngđồng và có nhiều điểm giống nhau, Việt Nam có thể rút được nhiều kinh nghiệm
từ quá trình phát triển THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ của thị trường TrungQuốc.Với sự tăng trưởng lên tới 22%/năm, thị trường thương mại điện tử(THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ) Việt Nam được cho là hấp dẫn hàng đầu thế giới.Trong 5 năm tới, quy mô thị trường có thể đạt 10 tỷ USD Châu Á đang dẫn đầuthế giới về cách mạng THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Xu hướng THƯƠNG MẠIĐIỆN TỬ bùng nổ tại Trung Quốc với doanh thu 470 tỷ USD (năm 2014), vượt
Mỹ Việt Nam nằm tại khu vực Đông Nam Á, nơi có tốc độ phát triển THƯƠNGMẠI ĐIỆN TỬ nhanh tại châu Á và nhận được nhiều sự quan tâm của các doanhnghiệp lớn trên thế giới như Google, Facebook…
Trang 10Thư ba, Việt Nam cho thấy hiện nay trung bình một người Việt Nam sởhữu 1,3 chiếc điện thoại, trong đó 70% là smartphone Hạ tầng công nghệvững vàng là nền tảng để thương mại điện tử Việt Nam tạo ra doanh số 4 tỷUSD trong năm qua tiềm năng phát triển của thương mại điện tử Việt Namtrong năm 2017 và những năm tiếp theo, dự báo có 5 xu hướng sẽ dẫn dắtthương mại điện tử phát triển trong những năm tới, 5 xu hướng đó là gia tăngkết nối, gia tăng đô thị hoá, người tiêu dùng kết nối, những đột phá về thanhtoán điện tử và cải tiến mô hình kinh doanh, trong đó xu hướng gia tăng kếtnối trong thế giới số là chính.
Trong tương lai THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ sẽ ảnh hưởng rất sâu vàocuộc sống, sự phát triển của THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Việt Nam cũng sẽbụng nổ trong mấy năm tới, bên cạnh đó sẽ gặp phải nhiều thách thức và khókhăn Nắm bắt được xu hướng phát triển của THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ sẽgiúp cho chúng tôi lý giải rõ hơn xu hướng phát triển của xã hội, cũng nhưnắm bắt được mạch đập của thời đại
Chính vì những yếu tố nêu trên, khiến tôi muốn nghiên cứu về đề tài này.Thông qua học tập và sưu tập tài liệu, tôi phát hiện có rất nhiều học giả cóviết về so sánh thương mại điện tử Việt Nam và các nước Đông Nam Á hoặc
Mỹ, nhưng viết về gốc độ so sánh thị trường Việt Nam và Trung Quốc sốlượng các tác phẩm học thuật nghiên cứu cùng chù đề rất hạn chế, hơn nữa,năm toàn cầu chịu ảnh hưởng của Covid-19, tôi không thể về Trung Quốc tìm
Trang 11kiếm tài liệu liên quan đến đề tài, chủ yếu là sưu tập online, vì vậy đã gây ranhiều khó khăn trong quá trình tôi tiến hành nghiên cứu và so sánh để hoànthành luận văn.
Nội dung chính của chương 1 là giới thiệu khái niệm của thương mạiđiện tử, lịch sử và điều kiện phát triển, cùng với một số công ty tiêu biểu trênthế giới và trong khu vực Đông Nam Á Chương 2 chủ yếu là giới thiệu quátrình phát triển và thực trạng thương mại điện tử tại Việt Nam và Trung Quốc.Chương 3 tập trung giới thiệu các biện pháp thúc đẩy phát triển ngànhthương mại điện tử Việt Nam, bao gồm hoàn thiện môi trường thanh toánđiện tử, hoàn thiện hệ thống giao hàng và phân phối, hoàn thiện hệ thống phápluật, tăng cường phát triển nguồn nhân lực về thương mại điện tử Còn phầncuối là kêt luận và triển vọng phát triển của ngành thương mại điện tử tại ViệtNam
Trong quá trình viết luận văn tôi đã áp dụng những phương pháp nghiêncứu khoa học như phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp thống kê,phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp phân tích tổng hợp, phươngpháp nghiên cứu liên ngành kết hợp ngôn ngữ học, kinh tế học Tôi cũng đãtham khảo một số tác phẩm khoa học bằng tiếng Việt, tiếng Trung như báocáo sách trắng nghành thương mại điện tử Việt Nam và Trung Quốc, một sốluận văn đã được công bố trên tạp chí học thuật để hoàn thành luận văn tốtnghiệp này
Trang 12CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.1 Khái niệm THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ, hay còn gọi là e-commerce, e-comm hay
EC, là sự mua bán sản phẩm hay dịch vụ trên các hệ thống điện tử nhưInternet và các mạng máy tính THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ dựa trên một sốcông nghệ như chuyển tiền điện tử, quản lý chuỗi dây chuyền cung ứng, tiếpthị Internet, quá trình giao dịch trực tuyến, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), các
hệ thống quản lý hàng tồn kho, và các hệ thống tự động thu thập dữ liệu.THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ hiện đại thường sử dụng mạng World Wide Web
là một điểm ít nhất phải có trong chu trình giao dịch, mặc dù nó có thể baogồm một phạm vi lớn hơn về mặt công nghệ như email, các thiết bị di độngnhư là điện thoại.[1]
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ thông thường được xem ở các khía cạnhcủa kinh doanh điện tử (e-business) Nó cũng bao gồm việc trao đổi dữ liệutạo điều kiện thuận lợi cho các nguồn tài chính và các khía cạnh thanh toáncủa việc giao dịch kinh doanh
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ theo nghĩa rộng được định nghĩa trong Luậtmẫu về THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ của Ủy ban Liên Hợp quốc về LuậtThương mại Quốc tế (UNCITRAL): Thuật ngữ Thương mại cần được diễngiải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mangtính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng Các quan hệ mang tính
Trang 13thương mại bao gồm các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về thươngmại về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối;đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xâydựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng;bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh các hình thức khác
về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hànhkhách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ Như vậy,
có thể thấy rằng phạm vi của THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ rất rộng, bao quáthầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, việc mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ
là một trong hàng ngàn lĩnh vực áp dụng của THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Theo WTO: THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ bao gồm việc sản xuất, quảngcáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạngInternet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình cả các sản phẩm đượcgiao nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng Internet
Khái niệm về THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ do Tổ chức hợp tác pháttriển kinh tế của Liên Hợp quốc đưa ra là: THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ đượcđịnh nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua cácmạng truyền thông như Internet
Theo các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu được rằng theo nghĩahẹp THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ chỉ bao gồm những hoạt động thương mạiđược thực hiện thông qua mạng Internet mà không tính đến các phương tiện
Trang 14điện tử khác như điện thoại, fax, telex
Qua nghiên cứu các khái niệm về THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ nhưtrên, hiểu theo nghĩa rộng thì hoạt động thương mại được thực hiện thôngqua các phương tiện thông tin liên lạc đã tồn tại hàng chục năm nay và đạt tớidoanh số hàng tỷ USD mỗi ngày Theo nghĩa hẹp thì THƯƠNG MẠI ĐIỆN
TỬ chỉ mới tồn tại được vài năm nay nhưng đã đạt được những kết quả rấtđáng quan tâm, THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ chỉ gồm các hoạt động thươngmại được tiến hàng trên mạng máy tính mở như Internet Trên thực tế, chínhcác hoạt động thương mại thông qua mạng Internet đã làm phát sinh thuậtngữ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.2 Lịch sử ra đời và Các hình thức THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.2.1 Lịch sử ra đời của THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Về nguồn gốc, THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ được xem như là điềukiện thuận lợi của các giao dịch THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ, sử dụng côngnghệ như EDI và EFT Cả hai công nghệ này đều được giới thiệu thập niên
70, cho phép các doanh nghiệp gửi các hợp đồng điện tử như đơn đặt hànghay hóa đơn điện tử Sự phát triển và chấp nhận của thẻ tín dụng, máy rút tiền
tự động (ATM) và ngân hàng điện thoại vào thập niên 80 cũng đã hình thànhnên THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Một dạng THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ khác là
hệ thống đặt vé máy bay bởi Sabre ở Mỹ và Travicom ở Anh[3]
Vào thập niên 90, THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ bao gồm các hệ thống
Trang 15hoạch định tài nguyên doanh nghiệp (ERP), khai thác dữ liệu và kho dữ liệu.
Năm 1990, Tim Berners-Lee phát minh ra WorldWideWeb trình duyệtweb và chuyển mạng thông tin liên lạc giáo dục thành mạng toàn cầu đượcgọi là Internet (www) Các công ty thương mại trên Internet bị cấm bởi NSFcho đến năm 1995 Mặc dù Internet trở nên phổ biến khắp thế giới vàokhoảng năm 1994 với sự đề nghị của trình duyệt web Mosaic, nhưng phải mấttới 5 năm để giới thiệu các giao thức bảo mật (mã hóa SSL trên trình duyệtNetscape vào cuối năm 1994) và DSL cho phép kết nối Internet liên tục Vàocuối năm 2000, nhiều công ty kinh doanh ở Mỹ và Châu Âu đã thiết lập cácdịch vụ thông qua World Wide Web Từ đó con người bắt đầu có mối liên hệvới từ "ecommerce" với quyền trao đổi các loại hàng hóa khác nhau thông quaInternet dùng các giao thức bảo mật và dịch vụ thanh toán điện tử
1.2.2 Các hình thức THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ ngày nay liên quan đến tất cả mọi thứ từ đặthàng nội dung "kỹ thuật số" cho đến tiêu dùng trực tuyến tức thời , để đặthàng và dịch vụ thông thường, các dịch vụ "meta" đều tạo điều kiện thuận lợicho các dạng khác của THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Ở cấp độ tổ chức, các tập đoàn lớn và các tổ chức tài chính sử dụng
Internet để trao đổi dữ liệu tài chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho kinhdoanh trong nước và quốc tế Tính toàn vẹn dữ liệu và tính an ninh là các vấn
đề rất nóng gây bức xúc trong THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ[1]
Trang 16Hiện nay có nhiều tranh cãi về các hình thức tham gia cũng như cáchphân chia các hình thức này trong THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Nếu phân chiatheo đối tượng tham gia thì có 3 đối tượng chính bao gồm: Chính phủ (G -Government), Doanh nghiệp (B - Business) và Khách hàng (C - Customer hayConsumer) Nếu kết hợp đôi một 3 đối tượng này sẽ có 9 hình thức theo đốitượng tham gia: B2C, B2B, B2G, G2B, G2G, G2C, C2G, C2B, C2C Trong
đó, các dạng hình thức chính của THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ bao gồm:
B2B,B2C,B2E,B2G,G2B,G2G,G2C,C2C,C2B
1.3 Điều kiện phát triển THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.3.1 Vai trò của THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Sự phát triển và phồn vinh của một nền kinh tế không còn chỉ dựa vàonguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động, mà ở mức độ lớn đượcquyết định bởi trình độ công nghệ thông tin và tri thức sáng tạo Cùng với xuthế đó, THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ xuất hiện đã làm thay đổi bộ mặt kinh tếthế giới bởi những ảnh hưởng to lớn của mình:
Làm thay đổi tính chất của nền kinh tế mỗi quốc gia và nền kinh tế toàncầu
Làm cho tính tri thức trong nền kinh tế ngày càng tăng lên và tri thức
đã thực sự trở thành nhân tố và nguồn lực sản xuất quan trọng nhất, là tài sảnlớn nhất của một doanh nghiệp[2]
Mở ra cơ hội phát huy ưu thế của các nước phát triển sau để họ có
Trang 17Cách mạng hoá marketing bán lẻ và marketing trực tuyến
1.3.2 Lợi ích của THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Khi xem xét các ứng dụng khác nhau có thể có được dùng để làm việcvới thông tin số , chúng ta thấy rằng THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ không chỉđơn giản là phân phối thông tin và hàng hoá mà nó còn có thể làm thay đổimối quan hệ giữa chúng[2]
Giúp khách hàng dễ dàng hơn trong việc chọn lựa khi mua hàng Quảngcáo điện tử cung cấp cho khách hàng thông tin chính xác về cửa hàng gầnnhất chứa mặt hàng đó, thời gian và cách kinh doanh của cửa hàng thậm chí
cả gợi ý cách xem xét sản phẩm.Nếu khách hàng không muốn tận mặt xemhàng trước khi mua, các đơn hàng có thể được đặt và được thanh toán theokiểu điện tử THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ tạo ra nhiều cơ hội mới cho cả ngườitiêu dùng đơn lẻ và các doanh nghiệp Khi THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ hoànthiện và ngày càng nhiều doanh nghiệp tổ chức kinh doanh trực tuyến, kháchhàng có thể so sánh mua hàng dễ dàng hơn Mặt khác THƯƠNG MẠI ĐIỆN
TỬ còn giúp khách hàng có thể tiếp cận mặt hàng dễ dàng hơn và
Trang 18Cơ hội giảm chi phí: Trong vài năm trở lại đây, Internet đã trở lên ngày càng thu hút sự quan tâm của ngời tiêu dùng Các trang Web khiến người tiêu dùng tự tin dùng Internet hơn, nó cung cấp cho cả người dùng cá nhân và doanh nghiệp nhiều phương thức mới để mô tả và tìm kiếm thông tin Giao dịchthương mại trên cơ sở dùng Internt cho EDI và các giao dịch ngân hàng ít tốn kém hơn dùng các mạng nội bộ chuyên dùng.Nó không chỉ tiết kiệm chi phí tiềm ẩn cho các doanh nghiệp lớn, mà còn tạo ra cơ hội kinh doanh nghiệp nhỏ
có thể dùng các tiến trình điện tử và qua đó cắt giảm bớt các khoản chi phí lớn không đáng có như trong quá khứ Mặt khác, thời gian giao dịch trên Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax, 0.05% thời gian giao dịch qua bưu điện Chi Phí giao dịch qua Internet chỉ bằng khoảng 5%
Trang 19chi phí giao dịch qua Fax hay qua bưu điện hay chuyển phát nhanh, bằng10%-20% chi phí thanh toán thông thờng THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ giúpgiảm chi phí bán hàng và tiếp thị Chi phí văn phòng cấu thành trong chi phísản phẩm, việc giảm chi phí văn phòng theo nghĩa giảm thiểu các khâu in ấngiấy tờ, giảm thiểu số nhân viên văn phòng cũng có ý nghĩa là giảm chi phísản phẩm Chính những yếu tố này sẽ tạo điều kiện cho các công ty khổng lồxuất hiện và các doanh nghiệp nhỏ có thể cung cấp những dịch vụ với chi phíthấp hơn cũng xuất hiện Các doanh nghiệp vừa và nhỏ xuất khẩu có thể lậpcác cửa hàng ảo một cách rẻ tiền so với các cửa hàng thực ở nước ngoài Qua
đó người tiêu dùng có thể mua được hàng hoá với giá thấp hơn, các nhà sảnxuất ở các nước đang phát triển có thể mua những linh kiện, bộ phận với giá
Tạo điều kiện sớm tiếp cận kinh tế số Đối với một quốc gia, THƯƠNGMẠI ĐIỆN TỬ được xem là động lực kích thích phát triển công nghiệp côngnghệ thông tin, một nghành mũi nhọn và được xem là đóng góp chủ yếu vàohình thành nền tảng cơ bản của nền kinh tế thế giới mới Đây là cơ hội cho
Trang 20việc hội nhập kinh tế toàn cầu
Đối với doanh nghiệp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tạo ra thêmhoạt động kinh doanh bằng đi vào THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Hợp lí hoákhâu cung cấp nguyên vật liệu, sản phẩm, bảo hành Tự động hoá mọi quátrình hợp tác, kinh doanh để nâng cao hiệu quả Cải tiến trong quan hệ trongcông ty với đồng nghiệp, với đối tác, bạn hàng Giảm chi phí kinh doanh tiếpthị Tăng năng lực phục vụ khách hàng ,tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Mở rộng phạm vi kinh doanh, dung lượng và vựơt qua vung biên giới
1.3.3 Điều kiện phát triển THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.3.3.1.Về cơ sở hạ tầng công nghệ
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ vừa là đỉnh cao của quá trình tự động hoáquy trình vừa là hệ quả tất yếu của kỹ thuật số nói chung và công nghệ thôngtin (CNTT) nói riêng Do vậy, để có thể triển khai THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
và triển khai thành công, cần thiết phải có được một hạ tầng cơ sở CNTTvững chắc[2]
Trang 21của giáo dục đào tạo.Yêu cầu đầu tiên là mọi người phải có thói quen sử dụngInternet và mua hàng qua mạng Tiếp đó cần thiết phải có một đội ngũ các nhàtin học đủ khả năng vận hành đồng thời nắm bắt và phát triển các công nghệphục vụ chung.
1.3.3.3 Bảo mật và an toàn
Giao dịch thương mại trên các phương tiện điện tử đặt ra các đòi hỏirất cao về bảo mật và an toàn, đặc biệt là trên Internet Bản chất của giao dịchTHƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ là gián tiếp, bên mua và bên bán ít biết, thậm chíkhông biết về nhau, giao dịch hoàn toàn thông qua các kênh truyền không xácđịnh được Điều này đẫn đến những lo ngại riêng của cả người mua và ngờibán:
+Người mua: lo sợ số thẻ tín dụng của họ khi truyền đi trên mạng cóthể bị kẻ xấu hoặc bên bán lợi dụng và sử dụng bất hợp pháp
+Người bán: lo ngại về khả năng thanh toán và quá trình thanh toáncủa bên mua Tất cả các giao dịch đó đều liên quan đến các thông tin dướidạng dữ liệu tồn tại và chuyển đi trên mạng
Về mặt công nghệ, kỹ thuật mã hoá là nền tảng cơ bản giải quyết vấn
đề này Kỹ thuật mã hoá về cơ bản bao gồm một thuật toán mã hoá -giải mã
và một khoá được dùng để mã hoá - giải mã Thách thức là kĩ thuật này chỉ cóhiệu lực trong một thời gian nhất định, viêc dò và giải mã là hoàn toàn có thểnếu loại bỏ yếu tố thời gian Hơn nữa, đối với các nước chưa phát triển, năng
Trang 22lực CNTT và năng lực tự tạo ra các sản phẩm riêng chưa có nên hoàn toànphụ thuộc công nghệ vào các nước phát triển, đây là điều không mong muốn.
1.3.3.4 Thanh toán tự động
Để THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ có thể hoạt động cần phải có hệ thốngthanh toán tự động (TTTĐ) Khi chưa có hệ thống TTTĐ, THƯƠNG MẠIĐIỆN TỬ chỉ sử dụng được phần trao đổi thông tin, quảng cáo tiếp thị cáchoạt động thương mại vẫn chỉ kết thúc bằng hình thức thanh toán trực tiếp
Có một đặc điểm đặc trưng của hệ thống thanh toán, cho dù là truyền thốnghay điện tử, là đều đòi hỏi chế độ bảo mật cao Chính vì vậy các nghiên cứu
và kết quả nghiên cứu nhằm vào lĩnh vực này ngày càng nhiều Ngoài ra, hệthống THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ cũng luôn đi kèm hệ thống mã hoá sảnphẩm trên phạm vi toàn cầu
1.3.3.5.Bảo vệ sở hữu trí tuệ
Chất lượng sản phẩm càng cao hàm lượng chất xám càng nhiều Khitham gia vào THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ, thông tin trở thành tài sản, và bảo vệtài sản cuối cùng sẽ là bảo vệ thông tin Do đó vấn đề đặt ra là bảo vệ sở hữu trítuệ và bản quyền của các thông tin trên Web ( Các hình thức quảng cáo, các nhãnhiệu thương mại, các cơ sở dữ liệu, các dung liệu truyền gửi qua mạng ) Đốivới dữ liệu, vấn đề đặt ra là bản thân việc số hoá nhị phân các dữ liệu văn bản,hình ảnh, âm thanh để thành dung liệu truyền gửi đã là hành động sao chép,phiên dịch và phải được tác giả đồng ý, nhưng vì đưa lên mạng, nên số
Trang 23bản Internet không thể biết là bao nhiêu ( có thể tới vô hạn) , nên việc thoả thuận
và xử lí trở nên hết sức khó khăn Ở mức cao hơn người ta còn tính đến khíacạnh phức tạp hơn nữa của vấn đề phân chia tài sản trí tuệ mua bán qua mạng.Cần phải đưa ra khái niệm mang tính pháp lí hơn là “thế nào là tác giả”,”thanhtoán vi phần” mà sẽ phải xử lí bằng các công cụ kỹ thuật cao Những điều nàyđòi hỏi cần phải sửa đổi hệ thống pháp luật về các mối quan hệ về sở hữu trí tuệ
1.3.3.6 Bảo vệ người tiêu dùng
Nhìn nhận trên cơ sở lí luận thương mại và lí thuyết thông tin, một thịtrường bị sụp đổ bao giờ cũng bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa là thông tinkhông tương xứng( nghĩa là người bán biết khác với cái người mua) TrongTHƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ thông tin về hàng hoá đều là thông tin số( ngườimua không có điều kiện “xem thử”, “nếm thử” hàng trước khi mua, khả năngmua phải những sản phẩm chất lượng thấp-mà chỉ người bán mới biết, là rấtlớn, thậm chí còn có khả năng bị nhầm lẫn cơ sở dữ liệu, bị lừa gạt bởi cácthông tin và các tổ chức phi pháp có mặt trên mạng Vì thế, đang xuất hiệnnhu cầu phải có một trung gian bảo đảm chất lượng hoạt động hữu hiệu và íttốn kém Cơ chế đảm bảo chất lượng đặt biêt có ý nghĩa quan trọng đối vớicác nước đang phát triển-nơi mà dân cư cho tới nay vẫn có thói quen tiếp xúctrực tiếp với hàng hoá để kiểm tra, để thử trước khi mua
1.3.3.7.Hạ tầng cơ sở kinh tế và pháp lí
Internet ngày nay trở thành một thị trường kinh doanh đầy tiềm năng
Trang 24Tuy nhiên thị trường này có thể tồn tại và phát triển hay không còn tuỳ thuộcvào chính sách của từng quốc gia Môi trường quốc gia: chính phủ từng nướcphải quyết định xem xã hội thông tin nói chung và Internet nói riêng là mộthiểm hoạ hay là một cơ hội Từ khẳng định mang tính chiến lược ấy mới thiếtlập môi trường kinh tế, pháp lí và xã hội (kể cả giáo dục, văn hoá) cho nềnkinh tế số nói chung và cho THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ nói riêng (ví dụ nhưđưa vào mạng các dịch vụ hành chính,các dịch vụ thu trả thuế ), và đa cácnội dung của kinh tế số vào văn hoá và giáo duc các cấp.
1.4 Một số công ty tiêu biểu trong khu vực
Trang 25Amazon.com, Inc là một công ty công nghệ đa quốc gia của Mỹ,được Jeff Bezos thành lập vào ngày 5 tháng 7 năm 1994, tập trung vào điệntoán đám mây, truyền phát kỹ thuật số, trí tuệ nhân tạo và thương mại điện tử.Công ty này được coi là một trong những công ty công nghệ Big Four cùngvới Google, Apple và Facebook Từ năm 1997 niêm yết lên sàn cổ phiếu, giátrị cổ phiếu vốn hóa thị trường từ 400 triệu đo la Mỹ lên đến hơn 1000 tỷ đo
la Mỹ năm 2018, là công ty thứ 2 trên thế giới sau công ty Apple[4]
Amazon được biết đến với việc làm thay đổi tư duy của các ngànhcông nghiệp đã được thiết lập thông qua đổi mới công nghệ và phát triển quy
mô lớn Công ty này là thị trường thương mại điện tử lớn nhất thế giới.Amazon là công ty Internet lớn nhất tính theo doanh thu trên thế giới
Công ty ban đầu kinh doanh như một nhà phân phối trực tuyến sáchnhưng sau đó mở rộng thêm để bán đồ điện tử, phần mềm, trò chơi video,may mặc, đồ nội thất, thực phẩm, đồ chơi và trang sức Năm 2015, Amazon
đã vượt qua Walmart trở thành nhà bán lẻ có giá trị nhất tại Hoa Kỳ tính theogiá trị vốn hóa thị trường Vào năm 2017, Amazon đã mua lại Whole FoodsMarket với giá 13,4 tỷ đô la, điều này đã làm tăng đáng kể sự hiện diện củaAmazon với tư cách là một nhà bán lẻ truyền thống Năm 2018, Bezos tuyên
bố rằng dịch vụ giao hàng trong hai ngày của họ (Amazon Prime) đã có trên
100 triệu người đăng ký trên toàn thế giới
Trang 26Amazon phân phối tải xuống và phát trực tuyến video, âm nhạc,audiobook thông qua các công ty con Amazon Prime Video, Amazon Music
và Audible Amazon cũng có một chi nhánh xuất bản, Amazon Publishing,một hãng phim và truyền hình, Amazon Studios và một công ty con về điệntoán đám mây, Amazon Web Services Công ty cũng sản xuất hàng điện tửtiêu dùng bao gồm thiết bị đọc ebook Kindle, máy tính bảng Fire, Fire TV, vàcác thiết bị Echo Ngoài ra, các công ty con của Amazon cũng bao gồm Ring,Twitch.tv, Whole Foods Market và IMDb
Giai đoạn phát triển của Amazon:
+ Giai đoạn 1: Mở rộng mặt hang bán online toàn diện, xây dựng dây xích công ứng hiệu quả cao(1994-2009)
Mấy năm đầu sáng lập, Amazon thông qua đầu tư và thâu tóm đối thủcạnh tranh trở thành hiệu sách online lớn nhất trên toàn cầu (Earth„s biggestbookstore), mặt hang từ video, âm nhạc, audiobook mở rộng đến đồ chơi trẻ
em, đồ điện tử, đồ gia dụng vv…sau khi mở rộng mặt hàng sản phẩm và nângcao hiệu suất dây xích công ứng, mang lại giá cả cạnh tranh thu hút càngnhiều khách hang Năm 1998 Amazon bắt đầu khai thác thị trường quốc tế,hiện đã thâm nhập vào thị trường Đức, Anh, Pháp, Nhật vv…hơn 15 quốcgia, doanh thu cuối năm 2009 đặt 24,5 tỷ đô la Mỹ[5]
Giai đoạn này Amazon đầu tư nhiều vào xây dựng hệ thống logisticshiện đại và nghiên cứu khai thác website, dần dần vượt qua công ty Walmart
Trang 27trở thành công ty bán lẻ online lớn nhất trên thế giới (the Internet‟s No.1 retailer).
+ Gia đoạn 2: Duy trì sáng tạo đổi mới khoa học kỹ thuật và dịch vụ, Amazon Web Services (AWS) tràn đầy tiềm năng (Năm 2010-2016) Gian đoạn này Amazon tập trụng xây dựng” kế hoạch bánh đà”
(Flyweel plan), các bộ phận dịch vụ tương tác hữu cơ, giống như bánh răng
ăn khớp với nhau để truyền chuyển động một cách cao tốc[6]
Hình 1.1: ảnh minh họa “hiệu ứng bánh đà” Amazon
Nguồn: https://zhuanlan.zhihu.com
Trong kế hoạch này có 3 bộ phận quan trọng, thứ nhất là chế độ hộ viênPrime (Amazon Prime), chi phí hội viên là 99 đo la Mý mỗi năm, hội viên cóthể hưởng thụ dịch vụ miễn phí chuyển phát nhanh trong 2 ngày, giá ưu đãihàng triệu mặt hang vv…, chế độ này thu hút hơn 80 triệu quốc dân Mỹ và 50triệu hội viên ngoài Mỹ trở thành hội viên của họ, đây cũng là thu nhập đáng
kể của Amazon Thứ 2 là “Amazon web service”, không những nâng cao dịch
vụ hệ thống Amazon, họ cũng cung cấp dịch vụ IT cloud (điện toán đám mây)như server ảo, dư trữ data, internet, email v.v…cho bên thứ ba, các khách
Trang 28hang của họ cũng trở thành một bộ phần hệ sinh thái của Amazon Tính đếncuối năm 2019, AWS chiếm thị phần 32.3% trên toàn cầu, doanh thu đạt 34,6
tỷ đo la Mỹ, chiếm doanh thu 12.5% của Amazon trong năm 2019, dịch vụAWS có nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai
Hình 1.2: Thị phần điên toán đám mây trên thế giới
Nguồn: Canalys Cloud Channels Analysis, January, 2020
Thứ 3 là mở rộng dịch vụ cho phép bên thứ ba bán hàng trên sànAmazon (marketplace), trước Amazon là tự bán hàng online trên website,năm 2001 bắt đầu cho phép bên thứ ba bán hàng trên Amazon, chính sách nàykhông những là có thể mở rộng them mặt hàng bán trong Amazon cho kháchhang có nhiều sự lựa chọn hơn, Amazon cũng có thể thu phí phí quản lý vớibên thứ ba tăng trường thu nhập, sau khi quy mô marketpace mở rộngAmazon tung ra dịch vụ gửi hàng trong trung tâm logistics Amazon cho bênthứ ba (Fulfillment By Amazon), sau khi khách hang đặt hang online, Amazonphụ trách chuyển phát và thu phí vận chuyển với các nhà bán hàng
Trang 29bên thứ ba.
+ Gia đoạn 3: Online và offline kết hợp lẫn nhau, cải cách mô hình
“Bán lẻ mới (New Retailing)” (Năm 2017- hiện nay)
Đặc trưng của giai đoạn này là phát triển mô hình“bán lẻ mới”, Môhình này là một loại hình thức bán lẻ mới cá nhân hoặc xí nghiệp dựa trêninternet, nhờ vào kỹ thuật tiên tiến như big data, trí tuế nhân tạo thông minh
AI nâng cấp và cải tạo lại quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu thụ của sản phẩm
và tiến tới đắp nặn lại hệ sinh thái vùng với kết cấu trặng thái và hình thứckinh doanh, bên cạnh đó dung hợp độ sâu dịch vụ online, trả nghiệm offline
và hệ thống logistics hiện đại Năm 2017 Amazon đã mua lại Whole FoodsMarket với giá 13,4 tỷ đô la Mỹ, điều này đã làm tăng đáng kể sự hiện diệncủa Amazon với tư cách là một nhà bán lẻ truyền thống, cũng cùng năm nàycửa hàng tiện lợi không người bán Amazongo có mặt tại thị trường, nhờ vào
kỹ thuật trí tuệ thông minh AI như tăng cường thực tế AR(AugmentedReality), thực tế ảo VR(Virtual Reality), kỹ thuật thị giác máytính(Computational Vision) v.v… hỗ trợ người tiêu dùng quyết mã QR hoặcbar code thanh toán, hoàn thành lưu trình thanh toán tư động phát huy ưu thếonline kết hợp offline của mô hình “bán lẻ mới”[5]
Ngoài ra thị trường tươi sống cũng là bộ phần quan trọng của mô hình
“bán lẻ mới” của Amazon,Amazon có dịch vụ “Amazon Fresh” phụ vụ kháchhàng.Theo thống kê của bộ phận phân tích kinh tế Mỹ, thị trường tươi sống
Trang 30Mỹ năm 2016 dạt 795 tỷ đo la Mỹ, Walmart chiếm 14% thị phận trong nước
Mỹ, dự kiến tới năm 2019 thị phận Amazon sẽ chiếm tới 3% của Mỹ Cácphần cứng thông min như sách điện tử Kindle, loa thông minh Echo, Alexa,
kỹ thuật nhận diện giọng nói và khuôn mặt, chuyển phát bằng flycam hoặcRobot đều có thể kết hợp với mô hình “bán lẻ mới”
Amazon có hơn 40 công ty con với các dịch vụ tương tác với nhau,hình thành “hiệu ứng bánh đà”, sau khi trải qua thời kỳ chạy rà sẽ truyềnchuyển động một cách cao tốc và hiệu quả
1.4.2 Alibaba
Tập đoàn Alibaba được thành lập bởi Jack Ma cùng với 17 nhà đồngsáng lập khác vào năm 1999 Sản phẩm đầu tiên của họ là trang webAliExpress Đây là một website thương mại điện tử B2B Nó hoạt động vớimục đích kết nối các nhà sản xuất Trung Quốc với khách hàng quốc tế.Ngàynay, Alibaba Group Holding Limited là một trong những doanh nghiệp lớnnhất ở Trung Quốc Tập đoàn này cung cấp dịch vụ bán hàng theo hình thứcB2B, B2C và cả C2C Những hoạt động này được thực hiện thông qua webthương mại điện tử cũng như cổng thông tin ngoại tuyến Các dịch vụ manglại doanh thu chính cho Alibaba bao gồm dịch vụ thanh toán điện tử, thịtrường và điện toán đám mây[7]
Mô hình kinh doanh của Alibaba khác với những công ty khác nhưeBay hay Amazon Nó tập trung nhiều hơn vào các giao dịch thương mại giữa
Trang 31các doanh nghiệp với nhau (B2B) Hình thức này không giống như cách tiếpcận giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng thông thường (B2C) Alibaba tậptrung vào việc trở thành một nền tảng cho các nhà cung cấp bán sỉ sản phẩmvới giá bán buôn Đối tượng khách hàng của họ là các doanh nghiệp vừa hoặcnhỏ (SME) trên toàn thế giới Ngoài ra họ cũng bán chúng ở thị trường nộiđịa để kiếm lợi nhuận.
Alibaba tập trung vào kinh doanh thương mại Đồng thời, tập đoàncũng hỗ trợ việc kinh doanh của những chủ thể khác thông qua các websitethương mại điện tử Taobao là website cho người tiêu dùng giao dịch muabán với nhau Còn Tmall dành cho tầng lớp trung lưu mua các sản phẩm cóthương hiệu Ngoài ra Alibaba còn kiếm tiền thông qua nhiều công ty conkhác
Các giai đoạn phát triển của Alibaba:
+Giai đoạn 1: Bắt đầu với nền tảng E-commerce
Trang 32Alibaba.com trở thành nền tảng B2B trực tuyến lớn nhất thế giới,Alibaba có 3 dịch vụ chính: Ailibaba.com là thị trường bán buôn trực tuyếnlớn nhất thế giới tính đến thời điểm này Trang web cho phép các nhà xuấtkhẩu ở Trung Quốc cũng như ở các quốc gia khác kết nối với người mua ởhơn 200 quốc gia Người mua thường là các nhà bán buôn, nhà bán lẻ, nhàsản xuất và doanh nghiệp vừa và nhỏ Tất cả họ đều tham gia vào hoạt độngkinh doanh xuất nhập khẩu quy mô khổng lồ này 1688.com được Alibaba ramắt vào năm 2010 Nền tảng này chủ yếu nhắm vào phân khúc kinh doanhbán buôn tại Trung Quốc Có hơn 500.000 nhà cung cấp với hơn 150 triệu loạisản phẩm giá rẻ khác nhau trên website này 1688.com phục vụ cho các cánhân và doanh nghiệp từ khắp nơi trên thế giới Hiện tại, đây là trang web số
1 về tìm kiếm các nhà bán buôn và nhà cung cấp ở Trung Quốc AliExpress làmột thị trường bán lẻ toàn cầu Nền tảng này cho phép người tiêu dùng từkhắp nơi trên thế giới mua trực tiếp từ các nhà sản xuất và nhà phân phối tạiTrung Quốc, cho phép người tiêu dùng từ các nước như Nga, Mỹ, Anh…mua sắm trực tiếp từ các doanh nghiệp3 Trung Quốc
+Giai đoạn 2: Fintech và nền tảng thanh toán trực tuyến
Năm 2004, Alibaba đã ra mắt Alipay, một nền tảng thanh toán trựctuyến bên thứ 3 mà không mất phí giao dịch, ứng dung này đảm bảo ngườitiêu dung thực hiên thanh toán trong quá trình mua hàng mà không thể gianlận và lừa dối.Việc gian lận và lừa dối là một vấn đề nhức nhối trong thời kỳ
Trang 33thị trường E-commerce phát triển ở Trung Quốc Alipay làm cho doanhnghiệp vừa và nhỏ có một môi trường kinh doanh an toàn hơn, giúp Alibabagiữ chân khách hàng ở lại, ứng dụng này cũng cấp dịch vụ ký quỹ, cho phépngười mua có thể xác minh xem họ có hài long với hàng hóa họ đã mua trướckhi trả tiền cho người bán hàng hay không Một trong những sư yếu tố tạonên sự thành công của Alibaba khi cho ra đời nền nảng này là hệ thông thanhtoán nhanh chóng và đáng tin cậy, các hệ thống thanh toán này giúp các giaodịch dòng tiền trở nên dễ dàng và thuận tiện Năm 2014, công ty Alipay đượcđổi tên thành Ant Financial Services, cũng là công ty Fintech có giá trị caonhất thế giới và là công ty kỳ lân (khởi nghiệp) có giá trị nhất thế giới, vớimức định giá 200 tỷ đo la Mỹ[8].
+Giai đoạn 3: Mở rộng sang thị trường E-commerce
B2C (Business-to-Consumer) và C2C (Consumer-to-Consumer)
Thời điểm này, Alibaba tim cách phát triển thị trường nước ngoài đểphát triển thị Trường E-Commerce trong nước Thông qua nền tảng Taobao ởthị trường Trung Quốc và AliExpress.com cho thị trường nước ngoài, đánhvào tâm lý những người tiêu dung tìm kiến mặt hàng Trung Quốc giá rẻ
Năm 2008 Alibaba ra mắt Taobao Mall (sau này là Tmall.com), mộtnền tảng bán lẻ B2C trực tuyến hướng tới phân khúc khách hàng Trung Quốccao cấp hơn Năm 2009 Alibaba bắt đầu tổ chức ngày lẽ mua sắm trực tuyến
Trang 34ngày độc thân 11/11 trên Tmall, daonh thu trong ngày lẽ đạt 7,5 triệu USD,đến năm 2019 lên đến 39,5 tỷ USD.
+Giai đoạn 4: Thâu tóm công cụ tìm kiếm và nền tảng nhắn tin
Từ năm 2005, Yahoo Trung Quốc đã được tiếp quản bởi Alibaba.Việc sở hữu Yahoo Trung Quốc cho phép Alibaba giám sát tất cả hoạt độnggiao dịch, sau đó nó tạo ra một công cụ tìm kiếm THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬmới cho Alibaba Bênh cạnh đó, công ty bắt đầu phát triển các phầm mềmnhắn tin tức thời riêng để thuận tiện trong việc theo dõi các cuộc đối thoạigiữa khách hàng và chủ shop[8]
+Giai đoạn 5: Đầu tư ty công ty logistics
Khi các chuỗi trang web bán lẻ của Alibaba đã thu hút hàng chụctriệu đơn hàng xuyên biên giới Jack Ma bắt đầu lên ý tưởng về “Mạng lướilogistics thông minh” có thể giao hàng đến khắp mọi miền Trung Quốc chỉtrong 24 giờ Khác với Amazon chọn cách đầu tư cơ sở hạ tầng để tạo ramạng lưới giao hàng cho riêng mình, Alibaba dung số lượng đơn hàng khổng
lồ của mình để làm nam châm thu hút các công ty logistics tham gia Năm
2013 Alibaba và sáu công ty logistics lớn của Trung Quốc đã thành lập mộtcông ty có tên Cainiao để giao hàng tại Trung Quốc.Bằng việc kết nối,Cainiao chỉ có khoảng 1.400 nhân viên để cáng đáng gấp nhiều lần công việccủa cả Jingdong và SF Express cộng lại Cainiao chủ yếu là đầu tư hạ tầngcông nghệ để kết nối tất cả các nhà vận chyển
Trang 35+Giai đoạn 6: Tham gia một số thị trường phụ
Doanh thu và lợi nhuận từ việc bán hàng trực tuyến của Alibaba đã vượt qua các nhà bán lẻ ở Mỹ (bao gồm Walmart, Amazon và eBay) cộng lại
kể từ năm 2015 Sau khi đã thành công trong lĩnh vực bán lẻ THƯƠNG
MẠI ĐIỆN TỬ, Alibaba cũng phát triển them sang một sối thị trường khác
Điện toán đám mây và công nghệ trí tuệ nhân tạo
Alibaba Clound thành lập năm 2009 nhằm xây dựng một nền tảng dịch
vụ điện toán đám mây, bao gồm khai thác dữ liệu THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ,
xử lý dữ liệu THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ và tùy chỉnh dữ liệu Alibaba cloundchiếm thị phận 4.9% trên toàn cầu và đạt doanh thu 52 tỷ USD Năm 2017Alibaba ra mắt AliGenie, một trợ lý cá nhân thông minh hiện đang được sửdụng trong loa thông minh Tmall Genie
Ngoài ra, Alibaba có đầu tư vào ngành nghề công nghiệp giải trí, y tế,thể thao v.v…
Mô hình kinh doanh của Alibaba được tạo thành từ 3 website chính
Đó là AliExpress, Taobao và Tmall Tất cả đều phục vụ cho mục đích kết nốinhiều loại người mua và người bán Tuy nhiên, Alibaba còn có 6 công ty con lớn Chúng bao gồm AliExpress, 1688, Alimama, Alibaba Cloud, Ant Financial và Cainiao Network Tất cả các công ty con này được tích hợp tốt đến mức chúng làm cho tập đoàn Alibaba trở thành một hệ sinh thái lớn
1.4.3 Shopee và Lazada
Trang 36Shopee là sàn giao dịch thương mại điện tử có trụ sở đặt tạiSingapore, thuộc sở hữu của tập đoàn SEA (trước đây là Garena), được thànhlập vào năm 2009 bởi Forrest Li Shopee được giới thiệu lần đầu tạiSingapore vào năm 2015, và hiện đã có mặt tại các quốc gia: Singapore;Malaysia; Thái Lan; Đài Loan; Indonesia; Việt Nam, Philipines và Brazil Vàonăm 2015, Shopee được ra mắt tại Singapore với định hướng là sàn thươngmại điện tử phát triển chủ yếu trên thiết bị di động,hoạt động như một mạng
xã hội phục vụ nhu cầu mua bán mọi lúc, mọi nơi cho người dùng Tích hợp
hệ thống vận hành, giao nhận và hỗ trợ về khâu thanh toán, Shopee là bêntrung gian giúp việc mua sắm trực tuyến dễ dàng và an toàn hơn cho cả bênmua lẫn bên bán[9]
Mô hình ban đầu của Shopee Việt Nam là C2C Marketplace - Trunggian trong quy trình mua bán giữa các cá nhân với nhau.Tuy nhiên, hiện nayShopee Việt Nam đã trở thành mô hình lai khi có cả B2C (doanh nghiệp đếnngười tiêu dùng) Shopee đã tính phí của người bán / hoa hồng và phí đăngbán sản phẩm
Shopee đang xếp số một trong bảng xếp hạng các ứng dụng nhóm Muasắm xét cả về lượng người dùng trung bình hàng tháng và số lượng tải về ởĐông Nam Á, theo App Annie
Ra đời mới chỉ có 5 năm, bí quyết thành công của Shopee là gì?
Năm 2015, hầu hết công ty THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Đông Nam Á
Trang 37đều tập trung vào phát triển website như kênh bán hàng chính Shopee chọn chiến lược khác bằng đầu tư vào ứng dụng để phục vụ thị trường Đông Nam
Á với tỉ lệ người dùng di động cao Chiến lược lấy di động làm ưu tiên đã
mang về những trái ngọt: hơn 90% số lượng giao dịch của Shopee được thực hiện qua ứng dụng
Một "bí kíp" thành công khác của Shopee khi chinh phục các thị trườngquốc tế là tích cực địa phương hoá và tuỳ chỉnh ứng dụng để đáp ứng nhu cầumỗi thị trường.Thay vì một ứng dụng chung cho tất cả người dùng, Shopee cómột ứng dụng THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ độc lập cho mỗi thị trường mà nó tham
dự Chiến lược này cho phép Shopee cho ra được những ứng dụng hấp dẫn nhấtvới đặc thù của từng người dùng tại 7 thị trường, bao gồm Singapore, Indonesia,Malaysia, Thái Lan, khu vực Đài Loan, Việt Nam và Philippines
Ví dụ, ở Indonesia, Shopee ra mắt một danh mục các sản phẩm dànhriêng cho người dùng theo Đạo hồi Trong khi đó, ở Thái Lan và Việt Nam,nơi xu hướng tiêu dùng có thể bị ảnh hưởng bởi những người nổi tiếng,Shopee ra mắt cửa hàng trực tuyến bán sản phẩm được lựa chọn bởi nhữngnhân vật được mến mộ
LAZADA
Lazada Group là một công ty thương mại điện tử của Alibaba Tính đến
2014, Lazada Group đã hoạt động tại Indonesia, Malaysia, Philippines,Singapore, Thái Lan, và Việt Nam.Với mạng lưới thanh toán và logistics lớn
Trang 38nhất trong khu vực, Lazada đã trở thành một phần không thể thiếu trong đờisống hàng ngày của người tiêu dùng tại Đông Nam Á Từ năm 2016, Lazada
là nền tảng chiến lược về thương mại điện tử ở khu vực với sự hỗ trợ về hạtầng công nghệ từ Tập đoàn Alibaba Tới năm 2030, mục tiêu của Lazada là
sẽ phục vụ cho 300 triệu khách hàng trên toàn Đông Nam Á [10]
Cả hai sàn THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Shopee và Lazada đều sở hữucác ứng dụng di động mạnh với số lượng người dùng cao trong quý 3 năm
2019 Lazada đứng đầu bảng xếp hạng tại 4 trong số 6 quốc gia được nghiêncứu, gồm Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan Không kém cạnh,Shopee đứng đầu xếp hạng này ở Indonesia và Việt Nam, hai thị trườngTHƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ mà Google đánh giá là có tiềm năng phát triển caonhất Đông Nam Á [11].
Shopee và Lazada tiếp tục cạnh tranh các vị trí hàng đầu ở Đông Nam
Á nhưng Tokopedia, Tiki và Sendo vẫn phát triển nhanh, theo báo cáo mới của bản đồ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Đông Nam Á
Trang 39Hình 1.3: Bảng xếp hàng ứng dụng di động có lượng người sử dụng nhiều
nhất trong quý 3 năm 2019 tại sáu nước Đông Nam Á
Nguồn:Google &Temasek/Bain,e-Conomy SEA 2019
Tóm lại, sau khi công nghệ internet phát triển, hình thức thương mại điện
tử phổ biến khắp thế giới, nhưng trong quá trình phát triển có rất nhiều cảntrợ và khó khăn, các nước vừa phát triển vừa hoàn thiện cơ sở hạ tầng để pháttriển ngành thương mại điện tử như cơ sở hạ tầng công nghệ, cơ sở nhân lựcv.v…
Ngành TMĐT phát triển đã nảy sinh ra khá nhiều công ty tiêu biểu trêntoàn cầu hoặc trong khu vực Châu Á và Đông Nam Á như Amazon, Alibaba,Shopee, Lazada, Tiki v.v…các công ty này đã thay đổi tính chất của nền kinh
tế mỗi quốc gia và nền kinh tế toàn cầu, cách mạng hóa marketing bán lẻ vàmarketing trực tuyến, giúp khách hàng dễ dàng hơn trong việc chọn lựa khimua hàng, giúp doanh nghiệp giảm chi phí và tạo điều kiện sớm tiếp cận kinh
tế số
Trang 40Chương 2: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG THƯƠNG
MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
2.1.Quá trình phát triển THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ tại Việt Nam
Từ năm 1998 đến nay, THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ tại Việt Nam khôngngừng phát triển, trong 23 năm qua, thị trường THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ vìthế cũng được mở rộng, mô hình THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ ngày càng đổimới, các chuỗi cung ứng truyền thống với sự hỗ trợ của sức mạnh lan tỏa của
số hóa và công nghệ thông tin trở thành chuỗi cung ứng thông minh, đem lạihiệu quả cho nền kinh tế số nói chung cũng như THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬnói riêng
Giai đoạn hình thành THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ (1998-2005)
Năm 2005 là năm cuối cùng của giai đoạn THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬhình thành và được phát luật chính thức thừa nhận tại Việt Nam Năm 2005 lànăm đầu tiên các cơ quan nhà nước đã ban hành được các chính sách và văn bảnquy phạm pháp luật quan trọng cho sự phát triển của THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ,điển hình là Kế hoạch phát triển THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ giai đoạn 2006-
2010, Luật giao dịch điện tử, Luật Thương mại và Bộ Luật Dân sự, khung chínhsách và pháp lý cho THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ đã hình thành Bên cạnh việc banhành chính sách và pháp luật, các cơ quan Nhà nước cũng đẩy mạnh những hoạtđộng hỗ trợ cho THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ, Ví dụ như là Bộ Tài chính triển khaithử nghiệm khai hải quan điện tử được coi là một