Bên cạnh đó, công trình Đường lối chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới Sách tham khảo của tác giả Phạm Bình Minh Chủ biên NXBChính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011 gồm 16 bài viết
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-Nguyễn Thị Thùy Dung
LỢI ÍCH QUỐC GIA TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI
MỚI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
Hà Nội - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-Nguyễn Thị Thùy Dung
LỢI ÍCH QUỐC GIA TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI
MỚI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY
Chuyên ngành: QUAN HỆ QUỐC TẾ
Mã số: 60310206
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNGChủ tịch hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ khoa học
Giáo viên hướng dẫn
GS.TS Phạm Quang Minh PGS.TS Trần Nam Tiến
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu thực tế của cá nhân,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Nam Tiến
Trong luận văn, những thông tin tham khảo từ những công trình nghiên cứukhác đã được tác giả chú thích rõ nguồn
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong Luận văn này làtrung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào Tôi xin chịu tráchnhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
HỌC VIÊN
Nguyễn Thị Thùy Dung
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do lựa chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 15
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 16
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 16
7 Cấu trúc của luận văn 16
Chương 1 LỢI ÍCH QUỐC GIA: KHÁI NIỆM VÀ THỰC TIỄN 17
1.1 Về khái niệm “Lợi ích quốc gia” (National Interest) 17
1.2 “Lợi ích quốc gia” trong chính sách đối ngoại của một quốc gia 21
1.3 Bối cảnh quốc tế sau Chiến tranh Lạnh và những tác động đến “lợi ích quốc gia” trong Quan hệ quốc tế 24
Tiểu kết chương 1 44
Chương 2 VẤN ĐỀ “LỢI ÍCH QUỐC GIA - DÂN TỘC” TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY 45
2.1 Tình hình Việt Nam từ khi tiến hành công cuộc Đổi mới đến nay Phát triển, hội nhập và xác lập vị thế quốc tế mới 45
2.2 Quá trình xác định và triển khai “Lợi ích quốc gia - dân tộc” trong chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1986-2000 55
2.3 Quá trình xác định và triển khai “Lợi ích quốc gia - dân tộc” trong chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 2001 - nay 62
Tiểu kết chương 2 71
Trang 5Chương 3 BẢO VỆ “LỢI ÍCH QUỐC GIA - DÂN TỘC” TRONG HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY:
QUÁ TRÌNH VÀ KẾT QUẢ 72
3.1 Quá trình triển khai bảo vệ “lợi ích quốc gia - dân tộc” trong hoạt động đối ngoại Việt Nam từ năm 1986 đến nay 72
3.1.1 Giai đoạn 1986-2000
72 3.1.2 Giai đoạn từ năm 2001 đến nay
81 3.2 Một số kết quả đạt được 98
Tiểu kết chương 3 107
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 62
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong quan hệ quốc tế, chính sách đối ngoại không chỉ đóng một vai trò đặcbiệt đối với một quốc gia, mà còn tác động không nhỏ đến cục diện chính trị thếgiới Trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, ở bất cứ quốc gia nào, chính sách đối ngoạiđều là công cụ, phương tiện cơ bản để một quốc gia bảo vệ lợi ích của mình Việcxác định lợi ích quốc gia trong chính sách đối ngoại là một hoạt động chính trịthường xuyên của các quốc gia độc lập Đáng chú ý, lợi ích là thuật ngữ thườngđược đề cập trong chủ nghĩa hiện thực - một trong những lý thuyết chiếm ưu thếtrong nghiên cứu quan hệ quốc tế Theo đó, để tồn tại, các quốc gia phải nỗ lực tối
đa hóa lợi ích nhằm đảm bảo sự tồn tại, phát triển và ảnh hưởng của chính mình Ởcác học thuyết chủ chốt còn lại trong quan hệ quốc tế như chủ nghĩa tự do, chủnghĩa kiến tạo, lợi ích quốc gia luôn là một nội dung không thể bỏ qua Chính vìvậy, lợi ích quốc gia được thể hiện trong quá trình hoạch định lẫn triển khai chínhsách đối ngoại Không chỉ vậy, chủ nghĩa duy lý (Rationalism) cũng thường được
sử dụng để giải thích việc hoạch định chính sách đối ngoại dựa trên lợi ích quốc gia.Trong trường hợp này, các quốc gia sẽ hoạch định chính sách đối ngoại để tối đahóa lợi ích và giảm đến mức tổn thiểu chi phí cơ hội cho mỗi quyết sách Việc tìmhiểu lợi ích quốc gia cũng là một nội dung lớn trong nghiên cứu chính trị thế giới,quan hệ quốc tế và các vấn đề toàn cầu
Tại Việt Nam, lợi ích quốc gia trong chính sách đối ngoại được thể hiện rõnét từ thời kỳ Đổi mới Đứng trước sự thay đổi, biến động không ngừng của tìnhhình chính trị thế giới và khu vực, Việt Nam đã có bước chuyển mình quan trọngnhằm thích nghi với một thế giới khó đoán định Đặc biệt Đại hội Đảng toàn quốclần thứ VI vào tháng 12/1986 đã hướng tới mối quan hệ quốc tế trên “nguyên tắcbình đẳng cùng có lợi” Đồng thời, Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị vào năm 1988
đã đề cập đến “lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân Việt Nam” Đây được xem lànhững thay đổi mang tính bước ngoặc trong tư duy trên lĩnh vực đối ngoại khihướng tới việc xác định lại “lợi ích quốc gia - dân tộc” trong giai đoạn mới Những
Trang 8nội dung này luôn xuất hiện xuyên suốt trong lịch sử đối ngoại của dân tộc vì lợi íchchung của quốc gia - dân tộc Việt Nam.
Vì những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Lợi ích quốc gia trong chính sách đối ngoại Việt Nam thời kỳ Đổi mới (từ năm 1986 đến nay)” làm đề tài luận văn
thạc sĩ Quốc tế học của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Các công trình tiếng Việt về chính sách đối ngoại và quan hệ ngoại giao củaViệt Nam tập trung chủ yếu về việc trình bày chính sách đối ngoại và quan hệ ngoạigiao của Việt Nam từ năm 1945 trở đi, đặc biệt là giai đoạn thời kỳ đổi mới đếnnay Theo phạm vi đề tài, nhóm tác giả sẽ tập trung chủ yếu vào các công trìnhnghiên cứu về chính sách đối ngoại và quan hệ ngoại giao của Việt Nam từ năm
1986 đến năm 2015 Đồng thời, nhóm tác giả cũng dành sự quan tâm đặc biệt đốivới các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại Việt Nam
Các công trình tiếng Việt liên quan đến chính sách đối ngoại và quan hệngoại giao của Việt Nam bao gồm các nhóm chính: (i), Các công trình chuyên khảo
về chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước đã được công bố và các bài viết củacác nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ; (ii), Các công trình nghiên cứucủa một số học giả nước ngoài; (iii), Các luận án đã bảo vệ
Thứ nhất là những công trình phản ánh chính sách đối ngoại của Đảng và
Nhà nước qua các thời kỳ Những công trình thuộc nhóm này bao gồm:
Từ cách tiếp cận lịch sử, công trình Chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam (1986 - 2010) của Phạm Quang Minh (NXB Thế giới, Hà Nội, 2012) đã phân
tích quá trình hoạch định chính sách đối ngoại Việt Nam trong bối cảnh quốc tế vàtình hình Việt Nam trong giai đoạn 1986 - 2010 Tác giả đã khẳng định nhữngthành tựu nổi bật trên cả hai khía cạnh lý thuyết và thực tiễn, cũng như hạn chế vàbài học kinh nghiệm Với nội dung về phân tích quá trình hình thành, vận động vàphát triển chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam giai đoạn 1986-2010, côngtrình có giá trị nền tảng cho quá trình thực hiện đề tài Đặc biệt, công trình đã đềcập và phân tích việc hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam với chủ thể đặcbiệt - Hoa Kỳ
Trang 9Bên cạnh đó, công trình Đường lối chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới (Sách tham khảo) của tác giả Phạm Bình Minh (Chủ biên) (NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011) gồm 16 bài viết với nội dung về một số vấn đềlớn trong chính sách đối ngoại Việt Nam và định hướng “đa phương hóa và đa dạnghóa quan hệ quốc tế” Công trình đã góp phần hình thành một bức tranh khái quát
về tư duy đối ngoại Việt Nam tron giai đoạn mới - những năm đầu thế kỷ XXI
Đồng thời, Nguyễn Vũ Tùng, trong Chính sách đối ngoại Việt Nam, Tập 2 (1975 - 2006) (NXB Thế giới, Hà Nội, 2007), cũng cung cấp cái nhìn tổng quát về
chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn 1975 - 2006 Công trình nghiên cứuđược đầu tư công phu, đặc biệt nhiều bài viết liên quan đến chính sách đối ngoạiViệt Nam với Mỹ ở nhiều lĩnh vực Công trình là nguồn tư liệu phong phú, đa dạng
về chính sách đối ngoại Việt Nam theo từng giai đoạn của lịch sử
Cuốn “Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000” của Nguyễn Đình Bin (Nxb Chínhtrị quốc gia, Hà Nội) là công trình viết khá công phu về nền ngoại giao Việt Nam kể
từ khi giành được độc lập dân tộc Trong công trình này, các tác giả đã làm nổi bậtchủ trương, chính sách ngoại giao của Đảng và Nhà nước Việt Nam phù hợp vớiyêu cầu và nhiệm vụ cách mạng ở mỗi thời kỳ Các bước triển khai hoạt động đốingoại được các tác giả khắc họa sinh động, cụ thể, đồng thời đánh giá khách quan,trung thực những thành quả mà ngoại giao Việt Nam giành được suốt chiều dài lịch
sử từ năm 1945 đến năm 2000 Các tác giả Nguyễn Mạnh Hùng, Phạm Minh Sơntrong cuốn “Đối ngoại Việt Nam truyền thống và hiện đại” [65] đã khắc họa bứctranh tổng thể về đối ngoại Việt Nam từ buổi ban đầu dựng nước cho đến nhữngnăm đầu thế kỷ XXI Qua cuốn sách này cho thấy, từ thuở bình minh dựng nướcđấu tranh ngoại giao của tổ tiên ta đã góp phần quan trọng vào những chiến côngchói lọi và để lại những kinh nghiệm quý báu cho truyền thống ngoại giao ViệtNam Ngày nay, trên nền tảng truyền thống ngoại giao của tổ tiên, Đảng Cộng sảnViệt Nam luôn có những bước phát triển mới về đường lối, chính sách đối ngoạicho phù hợp với mỗi thời kỳ cách mạng, đưa Việt Nam chủ động, tích cực hội nhậpquốc tế, tạo dựng cho mình một vị thế mới trên thế giới
Trang 10Cuốn sách “Ngoại giao Việt Nam” của Lưu Văn Lợi (Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, 2004) đã khái quát lịch sử ngoại giao Việt Nam trong nửa thế kỷ (1945-1995)với những sự kiện quan trọng như: quá trình đàm phán, thương lượng, ký kết các vănkiện ngoại giao trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, tiến trình bình thường hóaquan hệ Việt - Trung, Việt - Mỹ, khôi phục các quan hệ cũ, thiết lập các quan hệ mới,hội nhập quốc tế và khu vực Ngoài ra, cuốn sách cũng tái hiện lại sự đoàn kết của mặttrận nhân dân các nước Đông Dương chống kẻ thù chung và mặt trận nhân dân thế giớiđoàn kết với Việt Nam trong 30 năm chiến tranh giải phóng, đồng thời làm nổi bậtnhững đóng góp của hoạt động đối ngoại Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đềtoàn cầu với tư cách là thành viên trong cộng đồng quốc tế Nguyễn Xuân Sơn, NguyễnVăn Du, “Chiến lược đối ngoại của các nước lớn và quan hệ với Việt Nam trong haithập niên đầu thế kỷ XXI” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006) Từ những nhậnđịnh về chiều hướng chính sách, những thay đổi, xác định trọng tâm chính sách của cácnước lớn, các tác giả đưa ra những định hướng chiến lược, sách lược của Việt Namtrong quan hệ với các nước lớn trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, nhằm thúc đẩyquan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước lớn, vừa giúp chúng ta tranh thủ mọinguồn lực để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mặt khác,tạo ra mối quan hệ ràng buộc, đan xen lợi ích với các nước lớn giúp Việt Nam có thểkhai thác nhân tố nước lớn trong từng mối quan hệ cụ thể theo tinh thần thực hiện nhấtquán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ
Trong Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp đổi mới (1975-2002) do
Vũ Dương Huân (chủ biên) (Học viện Quan hệ Quốc tế, Hà Nội, 2001) nhấn mạnhvào nội dung tư duy đối ngoại phục vụ cho mục tiêu thực hiện sự nghiệp Đổi mới
của đất nước Tương tự nội dung trên, công trình “Đối ngoại Việt Nam thời kỳ Đổi mới” của Phí Như Chanh, Phạm Văn Linh, Phạm Xuân Thâu (Chủ biên) (NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005) đề cập đến những nội dung quan trong về quan
hệ đối ngoại, quan hệ hợp tác của Việt Nam với các chủ thể quan hệ quốc tế khácnhau từ quốc gia đến các tổ chức phi chính phủ, diễn đàn… bằng nhiều hình thứcngoại giao như ngoại giao nhà nước, ngoại giao nhân dân Những công trình nàyliên hệ trực tiếp và là tài liệu quan trọng với vai trò cung cấp kiến thức nền trongviệc thực hiện đề tài
Trang 11Cuốn “Quá trình đổi mới đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của ViệtNam (1986-2012)” của Đinh Xuân Lý (Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, 2013) đãlàm nổi bật quá trình đổi mới đường lối đối ngoại và tiến trình hội nhập quốc tế củaViệt Nam từ 1986 đến 2012 Từ việc nêu đặc điểm và xu thế quốc tế, những yêucầu thực tiễn đất nước cần phải đổi mới về đối ngoại, tác giả đi vào phân tích cácbước đổi mới tư duy đối ngoại, từ tư duy đối ngoại thời Chiến trạnh Lạnh sang tưduy đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế và phát triển lên thànhđường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, đưa Việt Nam hộinhập sâu rộng vào thế giới, mở rộng và phát triển các quan hệ song phương và đaphương thu được nhiều thành quả quan trọng.
“Ngoại giao Việt Nam góc nhìn và suy ngẫm” của Nguyễn Khắc Huỳnh(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011) là tập hợp các bài viết của tác giả trongnhững năm gần đây Phần lớn nội dung cuốn sách tập trung vào phân tích, đánh giá
3 sự kiện ngoại giao quan trọng của Đảng và Nhà nước ta trong 30 năm chiến tranhgiải phóng Bên cạnh đó, tác giả cũng khái quát hoạt động ngoại giao Việt Nam chặngđường 25 năm (1986-2010) với nhiều thành công rực rỡ, từ sự phân tích,
đánh giá đúng tình hình và xu thế quốc tế, đánh giá sát tình hình trong nước để điđến đổi mới toàn diện đất nước, đặc biệt là sự đổi mới tư duy, mở rộng quan hệ đốingoại, giúp Việt Nam phá thế bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch, tiến đếnchủ động và tích cực hội nhập quốc tế
Tác giả Bùi Văn Hùng trong “Ngoại giao Việt Nam thời kỳ Đổi mới và hội nhập quốc tế” (NXB Tư pháp, Hà Nội, 2011) đã góp phần tìm hiểu sâu sắc, có hệ
thống nhiều mặt trong việc chủ động xây dựng và thực hiện đường lối, chính sáchngoại giao của Việt Nam từ sau thời kỳ Đổi mới Từ góc nhìn của một nhà nghiêncứu lịch sử với những dẫn chứng thực tiễn, tác giả đã phân tích và làm sáng tỏ nhiềuvấn đề về lý luận và thực tiễn trong quá trình xây dưng, thực hiện đường lối chínhsách đối ngoại của Đảng từ năm 1986 đến đến những năm đầu thế kỷ XXI
Tiếp theo là công trình “Đường lối chính sách đối ngoại Việt Nam trong giaiđoạn mới” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011) của tác giả Phạm Bình Minh.Đây là tập hợp các bài viết của các lãnh đạo, nhà ngoại giao và các học giả trong
Trang 12nước Các bài nghiên cứu trong cuốn sách chủ yếu mang tính lý luận về công tácđối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới, đặc biệt có nhiều bài viết của các lãnh đạo cấpcao Việt Nam về việc triển khai thực hiện đường lối đối ngoại theo tinh thần Đạihội lần thứ XI của Đảng Cuốn “Chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam (1986-2010)” của Phạm Quang Minh (Nxb Thế giới, Hà Nội, 2012) đã phân tích làm rõnguyên nhân hình thành chính sách đối ngoại đổi mới, đồng thời trình bày một cách
hệ thống đường lối, chính sách đối ngoại đổi mới của Đảng qua các kỳ Đại hội vàcác Nghị quyết Trung ương từ Đại hội VI đến Đại hội XI Cuốn sách cho thấy, quamỗi kỳ Đại hội, Đảng ta lại có sự đánh giá, nhìn nhận bối cảnh quốc tế và trongnước một cách sát thực để đề ra đường lối đối ngoại phù hợp Trên cơ sở đó, tác giảđánh giá việc thực hiện chính sách đối ngoại đổi mới với những kết quả đạt được làhết sức to lớn, nhưng đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế mà chúng ta còn gặpphải trong quá trình triển khai thực hiện và rút ra những bài học kinh nghiệm ĐinhThế Huynh, Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Viết Thông,
“30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015).Đây là công trình đánh giá khá đầy đủ, khách quan, khoa học và toàn diện nhữngthành tựu, hạn chế trong 30 đổi mới đất nước của Việt Nam Trong công trình này,các tác giả đã khái quát bối cảnh quốc tế và trong nước đưa Việt Nam bước vào sựnghiệp đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có đổi mới tư duy đối ngoại Đặc biệt,các tác giả đã giành một chương để trình bày về đường lối, chính sách đối ngoại vàhội nhập quốc tế của Việt Nam Đáng chú ý, công trình đã thể hiện rõ quá trình pháttriển nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về đường lối đối ngoại và hội nhậpquốc tế
Tác giả Vũ Dương Ninh (2015) trong cuốn “Lịch sử quan hệ đối ngoại ViệtNam 1940-2010” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015) đã khai thác vấn đề từ góc
độ khoa học lịch sử, dẫn giải theo tiến trình lịch sử để phác họa một cách hệ thống
về quan hệ đối ngoại của Việt Nam từ năm 1940 đến năm 2010 Trong nội dungcuốn sách đã trình bày bối cảnh quốc tế và trong nước dẫn đến các sự kiện; nhữngnét cơ bản về đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam,cũng như những diễn biến trong quan hệ đối ngoại qua từng giai đoạn và từ đó tác
Trang 13giả đưa ra những nhận định, đánh giá chung và cuối cùng là rút ra những bài họckinh nghiệm.
Cuốn sách Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến 2020 (Nxb.
Chính trị Quốc gia, 2011) do Phạm Bình Minh chủ biên bao gồm nhiều bài viết củacác chuyên gia nghiên cứu về chính sách đối ngoại Trong đó, đáng chú ý là các bài
viết: “Một số suy nghĩ về định hình chính sách đối ngoại mới” (Phạm Bình Minh)
đã trình bày quá trình cụ thể hoá đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp
tác và phát triển của việt Nam từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986); “Bàn thêm về lợi ích quốc gia dân tộc trong hoạt động đối ngoại Việt Nam giai đoạn mới” (Đặng
Đình Quý) đã cung cấp các cơ sở tiếp cận lợi ích quốc gia trong các văn kiện, chínhsách với các thứ tự ưu tiên cụ thể và trên cơ sở đó để xác định lợi ích quốc gia dân
tộc Việt Nam trong thập niên thứ hai của thế kỷ XXI Đặc biệt, bài viết “Đối tác và khuôn khổ đối tác trong chính sách đối ngoại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Vũ
Tùng đã bàn về khái niệm về đối tác trong quan hệ hợp tác quốc tế của Việt Namgiai đoạn đổi mới, sự mở rộng khái niệm đối tác trong các văn kiện, chính sách củaĐảng, và sự hình thành và phát triển quan hệ đối ngoại của Việt Nam trong mô hìnhđối tác Nội dung tập sách đã cung cấp cơ sở quan trọng cho nhận thức hoàn chỉnhhơn về các nguyên tắc, mục tiêu, phương châm và chiến lược đối ngoại Việt Namsao cho vừa khẳng định vị thế Việt Nam nhưng vẫn đảm bảo độc lập, tự chủ
Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu quá trình hoạch định và triển khai
chính sách đối ngoại Việt Nam được trình bày trong Quá trình triển khai thực hiện
chính sách đối ngoại của Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam do Trình Mưu,
Nguyễn Thế Lực, Nguyễn Hoàng Giáp (Chủ biên) (NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội,
2005); Đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới của Ban Tư tưởng Văn hóa Trung
ương, Vụ Tuyên truyền và Hợp tác Quốc tế (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2005); “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại 1986-2000” của
Vũ Quang Vinh (NXB Thanh niên, Hà Nội, 2001)…
Bên cạnh đó, một số ấn phẩm của Bộ Ngoại giao với nội dung các hoạt động
ngoại giao giúp thể hiện rõ hơn quá trình hoạch định và thực thi chính sách đối
ngoại của Việt Nam, ví dụ như: Bộ ngoại giao, Ngoại giao Việt Nam 1945-2000
Trang 14(NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003); Bộ Ngoại giao, Biên niên ngoại giao Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986-2006) (NXB Chính trị - Hành Chính, Học viện Chính trị
- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2008), …
Ngoài ra, công trình Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến 2020
(Chính trị Quốc gia, 2011) do Phạm Bình Minh chủ biên bao gồm nhiều bài viết củacác chuyên gia nghiên cứu về chính sách đối ngoại Trong đó, đáng chú ý là các bài
viết: “Một số suy nghĩ về định hình chính sách đối ngoại mới” (Phạm Bình Minh) đã
trình bày quá trình cụ thể hoá đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và
phát triển của việt Nam từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) (tr 41-65); “Bàn thêm
về lợi ích quốc gia dân tộc trong hoạt động đối ngoại Việt Nam giai đoạn mới” (Đặng
Đình Quý) đã cung cấp các cơ sở tiếp cận lợi ích quốc gia trong các văn kiện, chínhsách với các thứ tự ưu tiên cụ thể và trên cơ sở đó để xác định lợi ích quốc gia dân tộc
Việt Nam trong thập niên thứ hai của thế kỷ XXI (tr 66-84); “Độc lập, tự chủ và hội
nhập quốc tế” (Đặng Đình Quý, Nguyễn Vũ Tùng) trình bày vấn đề “độc lập, tự chủ và
hội nhập quốc tế” trên hai phương diện lý luận và thực tiễn gắn với tình hình cụ thể của
Việt Nam từ năm 1986 (tr 125-156); “Lòng tin trong quan hệ quốc tế và định hướng
chiến lược xây dựng lòng tin trong quan hệ đối ngoại Việt Nam” (Đặng Đình Quý,
Nguyễn Vũ Tùng) ngoài việc làm rõ tầm quan trọng của lòng tin trong quan hệ quốc tế
còn đề ra các nhóm biện pháp để xây dựng lòng tin (tr 157-173); “Đối tác và khuôn
khổ đối tác trong chính sách đối ngoại Việt Nam” (Nguyễn Vũ Tùng) bàn về khái niệm
về đối tác trong quan hệ hợp tác quốc tế của Việt Nam giai đoạn đổi mới, sự mở rộngkhái niệm đối tác trong các văn kiện, chính sách của Đảng, và sự hình thành và pháttriển quan hệ đối ngoại của Việt Nam trong mô hình đối tác (tr 174-198) Các bài viếttrên đã cung cấp cơ sở quan trọng cho nhận thức hoàn chỉnh hơn về các nguyên tắc,mục tiêu, phương châm và chiến lược đối ngoại Việt Nam sao cho vừa khẳng định vịthế Việt Nam nhưng vẫn đảm bảo độc lập, tự chủ Đặc biệt, mục tiêu và thành tựu đốingoại Việt Nam từ sau 1991 gắn với quá trình hội nhập quốc tế là cơ sở tham khảo khátốt
Công trình Văn hoá đối ngoại Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế do
Vũ Trọng Lâm và Lê Thanh Bình đồng chủ biên (2015) đã cung cấp sự hiểu biết sâu
Trang 15sắc hơn về “văn hoá đối ngoại” - một bộ phận của chính sách đối ngoại gắn với thựctiễn Việt Nam (đặc biệt là từ đầu thế kỷ XXI) (tr 74-115) Những phương hướng vàgiải pháp chủ yếu phát triển văn hoá đối ngoại Việt Nam trong quá trình hội nhậpquốc tế (tr 116-178) sẽ được chúng tôi xem xét để qua đó đề xuất các gợi ý để thúcđẩy quan hệ hợp tác văn hóa của Hoa Kỳ - Việt Nam trong bối cảnh mới Nhìnchung, quyển sách giúp chúng tôi lưu ý nhiều hơn đến nhân tố văn hoá trong hoạtđộng đối ngoại và có những gợi ý hữu ích để nhìn nhận quan hệ Việt Nam với Hoa
Kỳ trên cơ sở chú ý đến văn hoá như cầu nối để thúc đẩy lợi ích quốc gia và tăngtính gắn kết trong quan hệ hai nước
Không chỉ vậy, một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành cũng là một nguồn
tư liệu cho việc thực hiện đề tài như: Vũ Dương Ninh, “Quan hệ đối ngoại của Việt
Nam trên chặng đường 60 năm (1945-2005)”, Tạp chí Lịch sử Đảng, Số 08, 2005;
Nguyễn Thị Mai Hoa, “Bước phát triển tư duy đối ngoại của Đảng trong quan hệ với
các nước láng giềng và khu vực thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Lịch sử Đảng, Số 05, 2005;
Nguyễn Mạnh Hùng, “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa
bình, hợp tác và phát triển”, Tạp chí Cộng sản, Số 17, 2006; Trần Thị Thu Hà, “Ngoại giao văn hóa và vai trò của nó đối với chính trị Việt Nam từ 1986 đến nay”, Tạp chí
Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Ngoại ngữ, Số 28, 2012; Trần Thọ Quang, “Quan
hệ đối tác chiến lược trong chính sách đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới”, Tạp chí
Lịch sử Đảng, 9-2014;… “Đa phương hóa, đa dạng hóa trong hoạt động đối ngoại của
Việt Nam sau chiến tranh lạnh” của Nguyễn Danh Quỳnh , Tạp chí Lý luận chính trị,2003; “Quá trình phát triển đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta”của Chu Văn Chúc, Tạp chí Lịch sử Đảng, 2006; “Chính sách đối ngoại của ĐảngCộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới” của Phạm Quang Minh, Tạp chí Lịch sửĐảng, 2007; “Quá trình hình thành, phát triển đường lối đổi mới của Đảng ta qua gần
30 năm đổi mới” của Vũ Văn Phúc, Tạp chí Cộng sản, 2014; “Nắm vững quan điểm, tưtưởng chỉ đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hìnhmới” của Trần Đại Quang, Tạp chí Cộng sản, 2015, Các bài viết của các tác giả đãtrình bày khái quát đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Namthời kỳ đổi mới Các tác giả cũng chỉ ra, ở
Trang 16mỗi giai đoạn lịch sử với yêu cầu cách mạng khác nhau, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã điều chỉnh chính sách đối ngoại một cách linh hoạt, phù hợp, thúc đẩy các mốiquan hệ quốc tế và thu được nhiều thành quả, góp phần vào sự thành công của sựnghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước
Thứ hai, các luận văn, luận án đã bảo vệ: Luận án Thạc sĩ: Chính sách đối
ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986-1995) của Vũ Đình Công bảo vệ năm
1997 tại Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận văn Thạc sĩ: Ngoại giao văn hóa của Việt Nam nhìn từ góc độ quyền lực mềm của Nguyễn Thái Giao Thủy bảo vệ năm 2015 tại Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận án Tiến sĩ: Vận động chính sách công ở Anh, Pháp, Mỹ và những gợi mở đối với Việt Nam của Phạm Thị Hoa bảo vệ năm 2017 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Luận văn Thạc sĩ: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác đối ngoại từ năm 2006 đến năm 2013 của Lê Thị
Bích Thủy bảo vệ năm 2014 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đạihọc Quốc gia Hà Nội;…
Thứ ba, các công trình nghiên cứu của một số học giả nước ngoài:
Các công trình nghiên cứu nước ngoài về chính sách đối ngoại và quan hệngoại giao Việt Nam gồm có:
Công trình Vietnamese Foreign Policy in Transition của hai tác giả Carlyle
A Thayer và Ramses Amer (St Martin's Press, New York, 1999) đã cung cấp nhiềuđóng góp quan trọng Việc xem xét vai trò của Việt Nam như là một nhân tố quantrọng trong tổng thể sự vận động quan hệ quốc tế từ cấp độ khu vực (Đông Nam Á)
và cấp độ toàn cầu Những đóng góp quan trọng công trình này mà chúng tôi đặcbiệt lưu ý là các tác giả đã xem xét những biến chuyển quan trọng trong chính sáchđối ngoại Việt mà từ đầu những năm 1990, cụ thể là Việt Nam càng tự chủ trongđối ngoại và giảm dần vai trò của hệ tư tưởng trong quá trình hoạch định chínhsách Các quan hệ đa phương trên cơ sở cân bằng với các nước lớn và những thànhcông lẫn hạn chế đã được các tác giả tập trung luận giải
Công trình “Changing Worlds: Vietnam’s Transition from Cold War to
Globalization” của David W.P Elliott (2012) nghiên cứu sự chuyển dịch về mặt
chính sách đối ngoại của Việt Nam từ Chiến tranh Lạnh đến thời kỳ toàn cầu hóa
Trang 17Trong Chiến tranh Lạnh, Việt Nam là một trong những vùng đệm của sự cạnh tranh
về ý thức hệ Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa tại Đông Âu sụp đổ,Việt Nam đã có những quyết định chiến lược về chính sách đối ngoại trong thời kỳĐổi mới Tác giả đã trình bày và phân tích sự thay đổi của Việt Nam trước sự biếnchuyển của bối cảnh chính trị thế giới và khu vực Tài liệu có tác dụng tham khảovới cách nhìn đa chiều về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại Việt Nam vào cuốithế kỷ XX đầu thế kỷ XXI
Cuốn sách Rethinking Vietnam của Duncan McCargo (Routledge Curzon,
London, 2004) đã mang đến một cách tiếp cận đầy đủ và hệ thống hơn về một ViệtNam đương đại với những nghiên cứu chuyên sâu Quyển sách bao gồm 4 nội dungchính là chính trị, kinh tế, xã hội và quan hệ đối ngoại của Việt Nam Các cách tiếpcận từ góc độ lịch sử và văn hoá cũng được vận dụng để hiểu thêm về đặc thù củaViệt Nam trong quá trình phát triển Những thay đổi về cấu trúc chính trị ở ViệtNam, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam và những tiến bộ từ những cuộc cải cáchtrong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, … từ năm 1986 và tác động của nó đến
các quan hệ đối ngoại cũng được thể hiện rõ Những thành tựu từ công cuộc “đổi mới” những năm 1990 cung cấp cơ sở quan trọng để Việt Nam tiến hành các quan
hệ đối ngoại
Công trình nghiên cứu “Vietnam’s Foreign Policy under Doi Moi” của tác
giả Le Hong Hiep và Anton Tsvetov (Chủ biên) (2018) bao gồm 12 bài viết thuộc 3mảng chính (Khung lý thuyết và lịch sử; Các quan hệ song phương; Những vấn đềchính sách đối ngoại chính) Đặc biệt, ở chương II, bài viết “The Evolution ofStrategic Trust in Vietnam-U.S Relations” của Phuong Nguyen đã phân tích niềmtin chiến lược trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trong lịch sự đến thời kỳ Đổi mới
và sau quá trình bình thường hóa quan hệ ngoại giao đến năm 2017 Theo tác giả,quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ đã có những chuyển dịch lớn trong những năm đầuthế kỷ XXI bởi sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á
Luận án “Vietnam’s Foreign Policy in the post-Cold War Era: Ideoloy and
Reality” của Luong Ngoc Thanh bảo vệ năm 2013) tại Đại học Hiroshima, Nhật Bản:
Tác giả đã trình bày việc hoạch định chính sách đối ngoại và các hình thức tiếp cận
Trang 18mới mới của chính sách đối ngoại mới của Việt Nam thông qua văn kiện Đảng của các
kỳ đại hội đại biểu toàn quốc Đặc biệt, tác giả đã sử dụng các khung lý thuyết quan hệquốc tế trong việc phân tích chính sách đối ngoại Việt Nam Trong giai đoạn 1991-
2001, góc nhìn “lợi ích quốc gia” đã được tác giả xem là hạt nhân quy định chính sáchđối ngoại của Việt Nam (tr 219) Cách tiếp cận chính sách đối ngoại từ Đại hội VII củaĐảng Cộng sản Việt Nam tiến đến hội nhập quốc tế nhưng vẫn đảm bảo lợi ích quốcgia (tr 242-254) cho đến chính sách đối ngoại mang tính độc lập về chiến lược (tr 254-257) cũng được luận giải Đặc biệt, nội dung bàn về “đối tác, quan hệ đối tác, khuônkhổ quan hệ đối tác và việc cụ thể hóa trong chính sách đối ngoại thời “đổi mới” củaViệt Nam” đã được tác giả bàn luận khá chi tiết từ góc độ lý luận đến thực tiễn đượcĐảng và Nhà nước Việt Nam trình bày thành các quan điểm cụ thể (tr 308-321).Nguồn tài liệu tham khảo đồ sộ dày 33 trang (tr 324-357) với nhiều nguồn tài liệu cógiá trị khoa học cao (chủ yếu là tiếng Việt và tiếng Anh) sẽ giúp chúng tôi kế thừatrong Luận án Nhìn chung, chúng tôi cho rằng đây là công trình có giá trị tham khảocao phục vụ cho việc xem xét quan hệ đối ngoại Việt Nam từ những chuyển biến chiếnlược của tình hình Việt Nam, khu vực và thế giới Trên cơ sở đó, quan hệ Việt Nam -Hoa Kỳ sẽ được tiếp cận từ nhận thức triển khai chính sách và đường lối đối ngoại ViệtNam sẽ giúp Luận án của chúng tôi có nhiều kiến giải đầy đủ và sâu sắc hơn Côngtrình là một nguồn tài liệu hữu ích cho việc thực hiện đề tài
Luận án “Vietnamese Foreign Policy since Doi Moi The Dialectic of
Power and Identity” của Nguyen Nam Duong bảo vệ năm 2010 tại The School of
Humanities and Social Sciences, Australian Defence Force Academy, giải thích sựchuyển dịch của chính sách đối ngoại Việt Nam từ thời kỳ Đổi mới như một quátrình tái cấu trúc bản sắc và lợi ích dân tộc của Việt Nam Tác giả nhận định chínhsách đối ngoại từ sau thời kỳ Đổi mới của Việt Nam được định hình bởi sự tươngtác giữa các yếu tố quyền lực và bản sắc dân tộc
Ngoài ra, một số bài viết nghiên cứu trên các tạp chí học thuật liên quanchính sách đối ngoại Việt Nam có thể kể đến như: Chapman, N W (2017),
“Mechanisms of Vietnam’s multidirectional foreign policy”, Journal of Current Southeast Asian Affairs, 36(2); Carlyle A Thayer (2015), “Not Too Hot, Not Too
Trang 19Cold: A Vietnamese Perspective on China-U.S Relations”, International Conference on China-US Relations in Global Perspective, New Zealand
Contemporary China Research Centre, Victoria University of Wellington,Wellington - New Zealand, October 8-9, 2005; Le Thu Trang, “CulturalDiplomacy’s Role in Vietnamese Foreign Policy in the 21st century”, Journal of the Graduate School of Asia-Pacific Studies, Waseda University, No.33 2017; Luong
Ngoc Thanh, “Vietnam in the Post-Cold War era: New Foreign Policy Directions”,
Journal of International Development and Cooperation, Vol.18, No.3, 2012…
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về khái niệm lợiích quốc gia, luận văn sẽ khảo sát và đánh giá thực trạng của vấn đề xác định lợi íchquốc gia trong chính sách đối ngoại Việt Nam từ đổi mới đến nay [2018]
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm
vụ nghiên cứu sau:
- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận về lợi ích quốc gia
- Phân tích nội dung Lợi ích quốc gia trong chính sách đối ngoại Việt Nam từthời kỳ Đổi mới đến nay
- Phân tích việc xác định lợi ích quốc gia - dân tộc trong quá trình hoạch định
và triển khai chính sách đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới
- Đánh giá được những kết quả đạt được qua quá trình triển khai việc xác định lợi ích quốc gia - dân tộc trong chính sách đối ngoại Việt Nam và đưa ra dự báo
- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề Lợi ích quốc gia trong Chính sách đối ngoại Việt Nam
- Về thời gian: Từ khi Việt Nam bắt đầu tiến hành công cuộc Đổi mới đấtnước (1986) đến nay [2018]
- Về không gian: Giới hạn nghiên cứu là lợi ích quốc gia trong chính sách đối ngoại Việt Nam
Trang 205 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, các
lý thuyết trong quan hệ quốc tế
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phươngpháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng cácphương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành, trong đó phương pháp chủyếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic, cùng kết hợp với phương phápphân tích, tổng hợp, thống kê
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sau đây:
- Góp phần luận giải một các khoa học và làm rõ thêm những quan điểm cơ bản
về lợi ích quốc gia trong chính sách đối ngoại Việt Nam từ thời kỳ Đổi mới đến nay
- Góp phần cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn đối với lợi ích quốc gia trong hoạch định chính sách, lựa chọn định hướng của Việt Nam ở giai đoạn tiếp theo
- Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích đối với cán bộ hoạt động trong lĩnhvực đối ngoại, quốc phòng và an ninh; đồng thời là nguồn tư liệu phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu về lịch sử thế giới, quan hệ quốc tế, chính sách đối ngoại/
7 Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn có cấu trúc gồm
3 chương chính:
Chương 1 LỢI ÍCH QUỐC GIA: KHÁI NIỆM VÀ THỰC TIỄN
Chương 2 VẤN ĐỀ “LỢI ÍCH QUỐC GIA - DÂN TỘC” TRONG
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY
Chương 3 BẢO VỆ “LỢI ÍCH QUỐC GIA - DÂN TỘC” TRONG
HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY: QUÁ TRÌNH VÀ KẾT QUẢ
Trang 21Chương 1 LỢI ÍCH QUỐC GIA: KHÁI NIỆM VÀ THỰC TIỄN
1.1 Về khái niệm “Lợi ích quốc gia” (National Interest)
Thực tế cho thấy “lợi ích quốc gia” (National Interest) vốn là một nội dung quantrọng trong chính sách sách đối ngoại lẫn quá trình vận hành của một quốc gia từ lâu Thậm chí, thuật ngữ “lợi ích quốc gia” thường xuyên được các nhà chính khách, học giả thường xuyên sử dụng, đặc biệt từ khi hình thành khái niệm về một “quốc gia-dân tộc” - một chủ thể trong quan hệ quốc tế.1 Thuật ngữ “Lợi ích quốc gia” chính thức được sử dụng lần đầu tiên trong giới khoa học trong ấn phẩm “The International
Relations Dictionary” Theo đó, “Lợi ích quốc gia là mục tiêu cơ bản và nhân tố quyết định cuối cùng trong việc hoạch định chính sách đối ngoại Lợi ích quốc gia là khái niệm có tính khái quát cao bao gồm những nhu cầu sống còn của quốc gia đó Đó là tự bảo vệ, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quân sự và thịnh vượng về kinh tế”.2
Theo Viện nghiên cứu Brooking, vào năm 1953, đã giải thích: “Lợi ích quốc gia
là mục tiêu phổ quát và xuyên suốt cho mọi hành đồng của một quốc gia”.3 Lerche vàSaid lại cho rằng: “Lợi ích quốc gia là tất cả các mục tiêu chung dài hạn và xuyên suốt
mà một quốc gia, nhà nước, chính phủ xem mình là người phục vụ”.4 Theo Van Duke,
“Lợi ích quốc gia là những lợi ích mà quốc gia tìm kiếm để bảo vệ hoặc đạt được trongmối quan hệ với các quốc gia khác Lợi ích quốc gia là mong muốn của các quốc gia cóchủ quyền”.5 Dawn xem “Lợi ích quốc gia là tất cả những lợi ích sống còn của mộtquốc gia - đây là lợi ích đầu tiên và quan trọng nhất Một quốc gia độc lập và toàn vẹnlãnh thổ là ưu tiên trên mọi lợi ích Nếu quốc gia biến mất, lợi ích khác đều không tồntại Do đó, lợi ích sống còn và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ tốt thượng của quốc gia”.6Morgenthau lại khẳng định ý nghĩa của lợi ích
1 Neuchterlein, D., National Interest and Foreign Policy: A Conceptual Framework for Analysis and Decision-Making, Vol 2, No 3, British Journal of International Studies 1976, p 246.
2 Jack C Plano, Roy Olton, The International Relations Dictionary, California: ABC-CLIO Santa Barbarra,
Third Editions, 1982, p.9.
3 Brooking Institute, Major Problems of United States’ Foreign Policy, The Brookings Institution,
Washington D.C, 1953.
4 Lerche C., Said A., Concepts of International Politics New Jersey: Prentice-Hall, 1963.
5 Van Dyke, “Values and Interests”, American Political Science Review, 56, 1962, pp.567–576.
6 Dawn National Interests and Diplomacy, 2010
http://www.dawn.com/news/846325/nationalinterests-and-diplomacy 10 March 2016.
Trang 22quốc gia là sự sống còn, sự bảo vệ về cả lãnh thổ, chính trị, bản sắc văn hóa nhằmchống lại sự xâm lấn của các quốc gia khác.7
Ngoài ra, theo Dương Văn Quảng và Vũ Dương Huân, “Lợi ích quốc gia làlợi ích chung của cộng đồng những người sống trên một đất nước, có chung nguồngốc, lịch sử, phong tục, tập quán và phần nhiều còn chung cả tiếng nói, chữ viết”.8Theo Jutta Weldes, “Lợi ích quốc gia được xây dựng, được tạo ra như một mục tiêu
ý nghĩa, được hình thành thông qua hệ thống quốc tế và vị trị của quốc gia trong hệthống đó”.9 Có thể thấy quan điểm của Jutta Weldes nhìn nhận lợi ích quốc gia từbên ngoài, trong các nhận định trước đó xem xét nội hàm “lợi ích quốc gia” từ cácthành tố bên trong của một quốc gia - dân tộc
Tuy nhiên, nếu tiếp cận từ các lý thuyết quan hệ quốc tế, chúng ta có thể thấymột sự phong phú trong nhận thức về phạm trù “lợi ích quốc gia” Theo AlexanderWendt, lợi ích quốc gia được chia ra làm hai loại: khách quan và chủ quan Trong
đó, lợi ích khách quan được xem là những lợi ích căn bản mà mọi quốc gia cầnđược đảm bảo để có thể tồn tại Wendt lại chia ra bốn loại lợi ích khách quan của
một quốc gia bao gồm: an ninh (security), độc lập (autonomy), phát triển kinh tế, danh vọng (self-esteem) tương ứng với bốn lợi ích khách quan của con người.10
Thực tế đã chứng minh, lợi ích chủ quan là nhu cầu của mỗi quốc gia nhằm đảmbảo các lợi ích khách quan vốn có của mình Nhìn chung, lợi ích khách quan có thểnhư nhau, nhưng mỗi quốc gia lại có nhu cầu chủ quan khác nhau tùy hoàn cảnh vàđiều kiện để theo đuổi các nhu cầu khách quan, do đó dẫn tới chính sách của mỗiquốc gia cũng khác nhau
Đáng chú ý, mục tiêu đối ngoại cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh là bảo
đảm lợi ích quốc gia, như: độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ,thống nhất đất nước, hạnh phúc, tự do của nhân dân Người nói “muốn làm gì cũng
7 H J Morgenthau, In Defense of the National Interest: A Critical Examination of American Foreign Policy,
New York: Knopf, 1951.
8 Dương Văn Quảng, Vũ Dương Huân (Chủ biên), Từ điển Thuật ngữ ngoại giao Việt – Anh – Pháp, NXB
Trang 23cần vì lợi ích của dân tộc mà làm”.11 Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, đường lối
đối ngoại và hoạt động ngoại giao Việt Nam phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên
trước hết, trên hết Qua đối ngoại, Người muốn gửi đến các nước trên thế giới thôngđiệp khẳng định: 1) Việt Nam là một nước độc lập; 2) Việt Nam thực hành đườnglối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình và hữu nghị với các nước “tôn trọng toàn vẹnlãnh thổ và chủ quyền của nhau, không xâm phạm, không can thiệp vào các côngviệc nội bộ, bình đẳng và hai bên cùng có lợi, chung sống hoà bình”.12
Theo quan điểm của Việt Nam, “lợi ích quốc gia” và “lợi ích dân tộc” làđồng nhất, do đó gọi chung là “lợi ích quốc gia - dân tộc” Không chỉ vậy, “Lợi íchquốc gia dân tộc là toàn bộ lợi ích mà nhân dân ta có được, giành được, phát triển
và giữ gìn trong quá trình đấu tranh, xây dựng và bảo vệ đất nước Trong bối cảnhmới, nội hàm lợi ích quốc gia, dân tộc đã được mở rộng, bao gồm cả lợi ích của ta ởtrong nước và ở ngoài nước, trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, quốcphòng, an ninh, đối ngoại Nó bao gồm cả lợi ích tổng thể của quốc gia, đất nước vàlợi ích cụ thể của các doanh nghiệp, của các cá nhân là người Việt Nam; lợi ích củachúng ta trong các doanh nghiệp nước ngoài có quan hệ hợp tác, đầu tư ở Việt Nam,với Việt Nam; quyền lợi, lợi ích của nước ta trong các tổ chức quốc tế và khu vực,trong các hiệp ước, cam kết quốc tế đa phương, song phương mà chúng ta tham gia,v.v… Nội dung rộng lớn và toàn diện đó hợp thành chỉnh thể lợi ích quốc gia, dântộc, phải được bảo đảm, giữ gìn Yêu cầu bảo đảm lợi ích quốc gia dân tộc đòi hỏirất cao ý thức, trách nhiệm công dân, của các chủ thể, các lực lượng, đặc biệt là cáclực lượng trực tiếp quan hệ, hợp tác với nước ngoài; kiên quyết ngăn chặn nhữngbiểu hiện chỉ vì lợi ích cục bộ, địa phương, lợi ích riêng làm ảnh hưởng, vi phạm,phương hại đến lợi ích quốc gia dân tộc.”13
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về “lợi ích quốc gia - dân tộc” đượcxác định tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011) và được khẳng định đầy đủ
11 Theo Nguyễn Dy Niên: Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.112.
12 Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tr.58, 4-5.
13 Thái Văn Long, “Nhận thức nhất quán của Đảng về mục tiêu, đinh hướng chính sách đối ngoại và hội nhập
quốc tế”, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam,
http://dangcongsan.vn/tien-toi-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc- nhap-quoc-te-322618.html [ngày truy cập: 1/5/2019].
Trang 24lan-thu-xii-cua-dang/nhan-thuc-nhat-quan-cua-dang-ve-muc-tieu-dinh-huong-chinh-sach-doi-ngoai-va-hoi-trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (2016) Theo đó, lợi ích của quốc gia ViệtNam là một phạm trù rõ ràng, được nhận thức trên các lĩnh vực của đời sống xã hội,
cả về vật chất và tinh thần Có thể thấy trên lĩnh vực chính trị, lợi ích quốc gia
-dân tộc của Việt Nam thể hiện ở việc duy trì tình trạng hòa bình, giữ vững ổn địnhchính trị - xã hội, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và quản
lý của Nhà nước trong công cuộc đổi mới toàn diện trên các lĩnh vực theo định
hướng xã hội chủ nghĩa Trong lĩnh vực kinh tế, lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt
Nam được hiểu là việc xây dựng thành công nền kinh tế độc lập tự chủ, gắn với sựphát triển thực tiễn của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đồngthời khai thác hết tiềm năng trong nước, kế thừa thành tựu cuộc cách mạng khoahọc công nghệ và nền kinh tế tri thức, tích cực mở rộng và nâng cao sức cạnh tranhtrong hội nhập kinh tế quốc tế nhằm từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
của nhân dân Đối với lĩnh vực văn hóa - xã hội, lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt
Nam được thấy rõ qua việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong điềukiện mới không bị phai nhạt, đồng thời nâng cao trình độ dân trí, phát triển văn hóanghệ thuật, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, từng bước xây dựngnền văn hóa mới, con người mới mang đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa Trên lĩnh
vực đối ngoại, lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam thể hiện qua đường lối đối ngoại
muốn là bạn, là đối tác tin cậy và có trách nhiệm trong quan hệ hợp tác với cácnước trong cộng đồng quốc tế, trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹnlãnh thổ của nhau, và giải quyết các vấn đề bằng thương lượng cùng có lợi Trên
lĩnh vực an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia - dân tộc được thể hiện qua việc
Việt Nam tôn trọng chủ quyền của các quốc gia trên thế giới, đồng thời cũng mongmuốn các quốc gia khác tôn trọng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội
bộ của Việt Nam Và việc duy trì ổn định trong an ninh, quốc phòng của đất nước lànhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, của toàn dân tộc Việt Nam, góp phầnquan trọng sự nghiệp xây dựng và phát triển, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, hội nhậpquốc tế
Bước vào thời kỳ Đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lấy Chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam trong mọi nhận
Trang 25thức và hành động, luôn phấn đấu vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội[mối quan hệ hữu cơ - biện chứng] Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đãxác định rõ việc đặt “Lợi ích quốc gia - dân tộc” lên trên hết, là “mục tiêu tối cao”của mọi hoạt đối nội lẫn đối ngoại, cho thấy một sự đổi mới tư duy đối ngoại rấtphù hợp với sự phát triển của thế giới và Việt Nam Sự thay đổi này không phải do
tự phát, ngẫu nhiên hình thành mà là có cơ sở lý luận gắn liền với thực tiễn; lànhững bài học rút ra từ quá trình đấu tranh cách mạng bảo vệ nền độc lập, tự do củadân tộc Việt Nam trong lịch sử và hiện tại Về bản chất, lợi ích quốc gia - dân tộccủa Việt Nam cho thấy nhu cầu khách quan được hưởng thụ quyền độc lập, tự chủ,
tự quyết định con đường phát triển của nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản ViệtNam lãnh đạo, và Nhà nước quản lý thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dânchủ, công bằng, văn minh Như vậy, mục đích của cuộc đấu tranh bảo vệ lợi ích củaquốc gia - dân tộc của Việt Nam là sự thể hiện thống nhất với lợi ích dân tộc, lợi íchcủa nhân dân lao động để bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của đất nước
Nhìn chung, “lợi ích quốc gia” là một nội dung đóng vai trò quan trọng đặcbiệt đối với bất kỳ quốc gia - dân tộc nào Lợi ích quốc gia là những mục tiêu chiếnlược phổ quát, dài hạn, xuyên suốt của một quốc gia Không chỉ vậy, lợi ích quốcgia của một nước sẽ chỉ đạo các nguyên tắc, phương châm, chính sách đối ngoại vàhoạt động ngoại giao của quốc gia đó.14 Việc hình thành lợi ích quốc gia cũng làquá trình lịch sử lâu dài, phức tạp của việc kết hợp các nhân tố khác nhau Đồngthời, ý nghĩa của lợi ích quốc gia chính là sự sống còn không chỉ về toàn vẹn lãnhthổ, chính quyền, chính trị mà còn là sự toàn vẹn về văn hóa, đặc biệt trong thời kỳtoàn cầu hóa, khu vực hóa hiện nay
1.2 “Lợi ích quốc gia” trong chính sách đối ngoại của một quốc gia
Có thể nói, đối ngoại là toàn bộ mục tiêu, nhiệm vụ, phương châm, biện pháp
mà quốc gia theo đuổi trong quan hệ với các quốc gia khác hoặc chủ thể khác trongcộng đồng quốc tế nhằm phục vụ cho lợi ích quốc gia Mặt khác, ngoại giao là hoạtđộng của nhà nước trong lĩnh vực đối ngoại Thực chất, ngoại giao chính là công cụ
14 Trần Nam Tiến, “Lợi ích quốc gia trong chính sách đối ngoại của Việt Nam thời kỳ Đổi mới”, Tạp chí
Khoa học xã hội Việt Nam, Số 10(71), 2013, tr.23-31.
Trang 26hòa bình - công cụ quan trọng nhất thực hiện chính sách đối ngoại quốc gia Trongkhi đó, chính sách đối ngoại là sự phản ứng của quốc gia đối với sự thay đổi củatình hình hình quốc tế.15 Vì vậy, chính sách đối ngoại bao gồm nhiều yếu tố chiếnlược (lợi ích quốc gia và cách thức tốt nhất để đạt được chúng), các yếu tố chính trị(những thể chế và tác nhân ảnh hưởng đến quá trình hoạch định chính sách”.16 Đốivới một quốc già giàu có, quyền lực hơn thường sẽ lựa chọn những lợi ích và anninh lớn hơn những quốc gia ít giàu có hay ít quyền lực hơn.17
Trong nghiên cứu quan hệ quốc tế, “lợi ích quốc gia” thường được đề cậptrong chủ nghĩa hiện thực - lý thuyết được xem là trung tâm của chính trị quốc tế vìnhiều nhà lý luận lẫn hoạch định chính sách hàng đầu thế giới đều lựa chọn.18 Lợiích quốc gia và chính sách đối ngoại được chủ nghĩa hiện thực xem xét trong cuộccạnh tranh quyền lực và sự sống còn của quốc gia Khi chính trị thế giới là môitrường vô chính phủ, các quốc gia luôn phải sống trong thế giới thù địch và cácnguy cơ tiềm tàng dẫn đến chiến tranh19 Thậm chí, chủ nghĩa hiện thực cho rằng,các quốc gia dân tộc sẽ theo đuổi lợi ích quốc gia, tối đa hóa quyền lực, đảm bảo sựtồn tại và an ninh của mình.20 Vì quan hệ quốc tế là trò chơi có tổng bằng không,trong đó các quốc gia quan tâm đến lợi ích tương đối hơn là lợi ích tuyệt đối.21Chính vì vậy, lợi ích các quốc gia - dân tộc theo đuổi chính là an ninh quốc gianhằm đảm bảo sự sống còn và toàn vẹn lãnh thổ.22
15 Trần Thọ Quang, “Quan hệ đối tác chiến lược trong chính sách đối ngoại Việt Nam thời kỳ Đổi mới”, Tạp
chí Lịch sử Đảng, 9/2014, tr.94-96.
16 Vũ Dương Huân, “Bàn về đổi mới quy trình ra quyết sách đối ngoại của Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu
Quốc tế, Số 3(108), 9/2017, tr.20-31.
17 Robert Gilpin, War and Change in World Politics, Cambridge University Press, Cambridge, 1981,
pp.94-95, pp.22-23; Xem thêm: Paul Kennedy, The Rise and Fall of the Great Powers, Random House, New York, 1987,
p.xxii.
18 Dunne, Tim and Brian C Schmidt, “Realism”, in John Baylis and Steve Smith (eds.), The Globalization of
World Politics: An Introduction to International Relations, Third Edition, Oxford University Press, Oxford, 2005,
p.162.
19 Munafrizal Manan, “Foreign Policy and National Interest: Realism and Its Critiques”, Global & Strategis,
Th.9, No.2, 2015, pp.175-189
20 Amitav Acharya, “Theoretical Perspectives on International Relations in Asia”, in David Shambaugh,
Michael Yahuda (eds), International Relations of Asia, Rowman & Littlefield Publishers, Maryland, 2008,
Trang 27Nói cách khác, xác định đúng lợi ích quốc gia chính đáng là yếu tố rất quantrọng khi hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của quốc gia.23 Mỗi quốcgia sẽ có những các khác nhau để xác định lợi ích của mình, nhưng tựu chung cácquốc gia đều muốn nâng tầm ảnh hưởng của họ ra bên ngoài và sẽ kiên trì theo đuổi
nó.24 Tuy nhiên, theo chủ nghĩa tự do, lợi ích quốc gia trong quan hệ quốc tế cũng
có tính đa dạng và đa lĩnh vực khi sự tham gia của nhiều chủ thể phi quốc gia khiếnquan hệ quốc tế trở thành sự đan xen lợi ích, chứ không còn bị chi phối bởi lợi ích
và toan tính của quốc gia.25 Chủ nghĩa tự do xem quan hệ quốc tế là sự hỗn hợp củanhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề và có xu hướng bác bỏ việc phân chia chính trị cấp caovới chính trị cấp thấp.26 Theo chủ nghĩa tự do, lợi ích quốc gia quan trọng nhất làhòa bình (chính trị) và thịnh vượng (chính trị).27
Nhìn chung, lợi ích quốc gia là nội dung quan trọng trong các lý thuyết chủđạo của quan hệ quốc tế Đồng thời, lợi ích quốc gia đóng vai trò quyết định trongquá trình hoạch định chính sách đối ngoại của bất kỳ quốc gia nào Bản thân thuậtngữ “lợi ích quốc gia” cũng có nhiều các kiến giải khác nhau cũng như nhữngphương thức khác nhau để xác định và đạt được “lợi ích quốc gia” Tính đa dạngcủa “lợi ích quốc gia” đã thể hiện phong phú đối với từng trường hợp và trong từngbối cảnh cụ thể Chính tư duy duy lý cùng sự phức tạp của nền chính trị toàn cầu đãkhiến lợi ích quốc gia luôn giữ được vị trí đặc biệt trong chính sách đối ngoại củabất kỳ quốc gia nào
Như vậy, lợi ích quốc gia, mà Việt Nam là lợi ích quốc gia - dân tộc, chính làcác mục tiêu mà không chỉ Việt Nam mà các quốc gia trên thế giới đều theo đuổi đểbảo đảm sự tồn tại và phát triển của mình, vốn là mục tiêu hướng đến của mọi hoạtđộng quốc gia, cả trong lĩnh vực đối nội và đối ngoại, bao gồm các nội dung: Giữvững chủ quyền; thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; ổn định chế độ chính trị; bảo đảm
23 Trần Nam Tiến, “Lợi ích quốc gia trong chính sách đối ngoại của Việt Nam thời kỳ Đổi mới”, Tạp chí
Khoa học xã hội Việt Nam, Số 10(71), 2013, tr.23-31.
24 Randall L Schweller, Deadly Imbalance: Tripolarity and Hitlers Strategy of World Conquest, Columbia
25 Hoàng Khắc Nam, “Chủ nghĩa tự do trong quan hệ quốc tế: Những luận điểm chính và đóng góp”, Tạp chí
Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 29, Số 1, 2013, tr.17-26.
26 Paul R Vioti, Mark V Kaupi, Lý luận Quan hệ Quốc tế, Học viên Quan hệ Quốc tế, Hà Nội, 2001, tr.322.
27 Hoàng Khắc Nam, “Chủ nghĩa tự do trong quan hệ quốc tế: Những luận điểm chính và đóng góp”, Tạp chí
Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 29, Số 1, 2013, tr.17-26.
Trang 28an ninh và an toàn cho người dân [an ninh con người]; giữ gìn bản sắc văn hóa dântộc; bảo đảm các điều kiện để quốc gia phát triển kinh tế, xã hội, hội nhập khu vực
và thế giới… trong đó độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia là bộ phân cốt yếu thểhiện rõ nét lợi ích của quốc gia Trong quan hệ quốc tế, các quốc gia trên thế giớiđều khẳng định rất rõ: lợi ích quốc gia là quan trọng, và toàn bộ mọi hoạt động củaquốc gia đều hướng đến xác lập và bảo vệ lợi ích quốc gia Điều này đã đượcnguyên Thủ tướng Anh, Huân tước Lord Palmerston khẳng định: “Thế giới nàykhông có bạn bè hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn” (Nationshave no permanent friends or allies, they only have permanent interests)28
1.3 Bối cảnh quốc tế sau Chiến tranh Lạnh và những tác động đến “lợi ích quốc gia” trong Quan hệ quốc tế
Những năm cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX đã chứng kiếnnhững biến động lớn trên bàn cờ kinh tế - chính trị quốc tế Mối quan hệ Đông -Tây dần dần chuyển sang phương châm “đàm phán hơn đối đầu” và chủ trương “đốithoại” nhằm thực hiện các thỏa thuận hạn chế chạy đua vũ trang hạt nhân Cuộccách mạng khoa học - kỹ thuật [sau đó là công nghệ] phát triển mạnh mẽ qua đó tácđộng trực tiếp đến nhận thức của mỗi quốc gia về sức mạnh tổng hợp của đất nước,trong đó, kinh tế trở thành nhân tố có ý nghĩa quyết định Quá trình “khu vực hóa”cũng bắt đầu nổi lên như một nhân tố thúc đẩy quá trình hợp tác ở các khu vực trênthế giới Quan trọng nhất, hai siêu cường đại diện cho hai khối lớn cũng đã bắt tayhòa hoãn, qua đó đưa thế giới bước vào thời kỳ “hòa dịu” Cuộc gặp gỡ thượng đỉnh
Xô - Mỹ trên bán đảo Malta vào cuối năm 1989 đã chính thức khép lại cuộc Chiếntranh Lạnh trên thế giới bởi tuyên bố của lãnh đạo hai nước
Tuy nhiên, từ năm 1989, khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu bước vào thời kỳkhủng hoảng kinh tế - xã hội rất sâu sắc dẫn đến sự sụp đổ của hàng loạt các quốcgia xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên sự kiện gây chấn động lớn nhất, đó là sự sụp đổ củaLiên bang Xô Viết vào cuối năm 1991 Sự tan rã một trong hai siêu cường của Trật
tự thế giới hai cực Yalta đã tạo ra một khoảng trống lớn trong không gian chính trị
28 Stephen M Walt, “Alliance Formation and the Balance of World Power”, International Security, Vol 9,
No 4 (Spring 1985), pp 3-43.
Trang 29quốc tế, làm cho thế cân bằng toàn cầu tồn tại gần 50 năm từ sau Hội nghị Yaltanăm 1945 tan rã Trong bối cảnh này, các nước lớn bắt tay vào chuyển hướng hoặcđiều chỉnh chiến lược, chú trọng phát triển nội lực, tăng cường cạnh tranh và chạyđua ảnh hưởng trên thế giới Trong đối ngoại, các nước chủ trương tiến tới hòahoãn, cải thiện quan hệ song phương, vừa hợp tác vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhautrên cơ sở “cùng tồn tại hòa bình”.
Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự hai cực Yalta tan rã, thế giới có những chuyểnbiến hết sức bất ngờ, nhưng những mâu thuẫn bản chất của thế giới vẫn còn nguyên đó,thậm chí “còn đang nổi lên những mâu thuẫn dân tộc, chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo dẫnđến mất ổn định chính trị, đói kém, xung đột đổ máu, nội chiến ở nhiều nơi Nguy cơchiến tranh hủy diệt bị đẩy lùi nhưng nhiều nước chưa từ bỏ chạy đua vũ trang, lại cònlàm lái buôn vũ khí đưa đến những lò lửa đang bùng cháy”29 Các mâu thuẫn cơ bảncủa thời đại vẫn tồn tại và phát triển dưới nhiều hình thức mới Về bản chất, “khôngphân tích được những mâu thuẫn thời đại, không thấy được những xu thế phát triển củathế giới, thì khó bề lý giải nhiều sự kiện trên thế giới, khó bề xử lý nhiều tình huống cụthể”30 Có thể thấy, bước vào giai đoạn đầu của thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh, nhữngmầm mống gây nguy cơ chiến tranh thế giới có tính chất hủy diệt bị đẩy lùi, tuy nhiêncác cuộc xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về sắc tộc, dân tộc, tôn giáo
và đặc biệt nạn khủng bố lại diễn ra ngày một tăng ở nhiều khu vực Mặc dù vậy, xuhướng hòa bình, hợp tác và phát triển bắt đầu trở thành xu thế chủ đạo trong đời sốngchính trị thế giới
Như vậy, những thay đổi cơ bản trong đời sống kinh tế, chính trị dẫn tớinhững tập hợp lực lượng mới trên thế giới, thúc đẩy xu hướng đa phương, đa dạnghóa quan hệ quốc tế Bên cạnh đó vẫn tồn tại xu hướng chạy đua vũ trang, các cuộcđấu tranh chính trị vẫn tiếp diễn gay gắt quyết liệt dưới hình thức mới: “diễn biếnhòa bình” và chống “diễn biến hòa bình”, vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa đối thoạivừa đối đầu Ngoại giao đa phương ngày càng có vị trí quan trọng trong đời sốngquốc tế khi những vấn đề toàn cầu dần nảy sinh mà trong đó đòi hỏi phải có sự hợp
29 Nguyễn Vũ Tùng, Chính sách đối ngoại Việt Nam (tập II: 1975 - 2006), NXB Thế giới, Hà Nội, 2007, tr 49.
30 Vũ Khoan, “20 năm đổi mới trong lĩnh vực đối ngoại”, Báo Nhân dân, ngày 14/11/2005.
Trang 30tác của tất cả các nước trên thế giới để giải quyết Đây là cơ hội để các nước vừa vànhỏ tham gia góp tiếng nói chung cùng giải quyết, đồng thời bảo vệ những lợi íchsống còn của mình.
Quá trình “khu vực hóa” (Regionalism), và bắt đầu đan xen với quá trình
“Toàn cầu hóa” (Globalism) ngày càng phát triển mạnh mẽ lối cuốn nhiều nướctham gia và làm gia tăng các hoạt động kinh tế thương mại quốc tế Không chỉ vậy,những biến chuyển trong đời sống kinh tế trên đã tạo ra những thay đổi lớn cả vềlượng và chất đối với mọi mặt của đời sống xã hội loài người Có thể nói, hầu hếtcác nước đã chuyển sang cơ chế thị trường và đang hình thành một thị trường toànthế giới Thông tin quốc tế bùng nổ và chỉ trong nháy mắt tỏa khắp thế giới Quátrình quốc tế hóa sản xuất vật chất và đời sống xã hội cùng với sự giao lưu quốc tếđang được thúc đẩy mạnh mẽ Minh chứng cho vấn đề trên là việc hàng loạt các tổchức khu vực đã được hình thành như “Khu vực Tự do thương mại Bắc Mỹ(NAFTA), Khu vực Tự do thương mại ASEAN (AFTA), Cộng đồng phát triểnmiền Nam châu Phi (1992), thị trường chung Đông Nam châu Phi - COMESA(1993) và Liên minh kinh tế - tiền tệ các nước Tây Phi (1994) Mô hình hợp tácgiữa các nước châu Mỹ và châu Á hai bờ Thái Bình Dương tiếp tục phát triển trongkhuôn khổ APEC Hợp tác Á - Âu với việc tổ chức Hội nghị cấp cao Á - Âu cũngbắt đầu được khởi động Thông qua đó, thị trường thế giới trở thành một khối thốngnhất và liên kết, hội nhập kinh tế trở thành xu thế tất yếu Kinh tế trở thành nhân tố
có ý nghĩa quyết định trong sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia nên tất yếu cácnước đều ưu tiên cho sự phát triển kinh tế cao Như thế, để mở rộng thị trườngchung các nước đều đẩy mạnh đa dạng hóa mối quan hệ đối ngoại nhằm tạo vị thếthuận lợi cho an ninh và phát triển của mình Chính vì vậy mà đa dạng hóa quan hệchính trị và kinh tế phát triển trở thành một trong những xu thế chủ đạo của đờisống quốc tế và là cơ sở cho sự phát triển mới của thế giới trong thế kỷ tiếp theo
Đầu thế kỷ XXI, phần lớn dân số thế giới đã có thể tiếp cận được thành tựucủa khoa học công nghệ thông tin: “Vào đầu thế kỷ 21, người sử dụng máy tính trêntoàn thế giới gửi khoảng 4000 tỷ thư điện tử một năm, và các trang web lưu trữ
Trang 31khoảng 170 terabyte thông tin theo một ước tính sơ lược, một lượng thông tin gấp
17 lần tất cả các sổ sách in có trong thư việc Quốc hội Mỹ”31 Vào thế kỷ thứ 17,nhà triết học - chính trị gia người Anh, Francis Bacon đã từng viết tri thức là quyền lực,
và những người theo chủ nghĩa kiến tạo cũng đã chỉ ra những thay đổi
nhanh chóng trong dòng chảy thông tin có thể dẫn đến những thay đổi quan trọngtrong bản sắc và lợi ích các quốc gia32 Chính vì vậy, các chính phủ trên thế giớiluôn lo lắng về các dòng chảy của thông tin và cố gắng tìm cách kiểm soát chúng.Cuộc cách mạng công nghệ thông tin hiện nay bắt nguồn từ những tiến bộ kỹ thuậtnhanh chóng về máy tính, truyền thông và các phần mềm giúp cho chi phí xử lý vàtruyền tải thông tin giảm xuống đáng kể: “Trong suốt 30 năm qua, cứ một năm rưỡinăng lực tính toán lại tăng gấp đôi một lần, và đến đầu thế kỷ 21, chi phí giảm chỉcòn một phần nghìn so với những năm đầu thập kỷ 70 của thế kỉ trước Nếu giá xehơi cũng giảm nhanh như giá của vật liệu bán dẫn thì giá một chiếc xe hơi hiện tạichỉ vào khoảng 5 đô la.”33 Đây còn được xem là “cuộc cách mạng công nghiệp lầnthứ ba” khi đang dần thay đổi bản chất của các chính phủ, chủ quyền quốc gia vàtạo ra sự phân tán quyền lực rộng rãi hơn
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ thúc đẩy sự phát triển của lực lượngsản xuất, đồng thời đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tếhóa nền kinh tế và đời sống xã hội Nét mới nổi bật là dưới sự tác động của cuộccách mạng khoa học công nghệ, kinh tế đang trong thời kì quá độ chuyển sang kinh
tế tri thức hay còn gọi là kinh tế mới Quá trình toàn cầu hóa phát triển mạnh trởthành xu thế khách quan, lôi cuốn nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực vừa cómặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh Mặt khác, các xu hướng phát triểnkhác của nền kinh tế thế giới ở những năm đầu thế kỷ XXI có thể được nhìn thấy rõnhư xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế thế giới, phát triển nền kinh tế thế giới thànhmột thể thống nhất bao gồm các mặt đối lập và mâu thuẫn với nhau
31 Joseph S.Nye (2007), “Globalization and Interdependence” (Chapter 8), in Joseph S.Nye, Understanding
International Conflicts (New York: Longman), p.234.
32 Joseph S.Nye (2007), “Globalization and Interdependence” (Chapter 8), in Joseph S.Nye, Understanding
International Conflicts (New York: Longman), p.233.
33 Joseph S.Nye (2007), “Globalization and Interdependence” (Chapter 8), in Joseph S.Nye, Understanding
International Conflicts (New York: Longman), p.234.
Trang 32và xu hướng cải tổ và đổi mới nền kinh tế thế giới với sự cải tổ và đổi mới nền kinh
tế của các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước XHCN34
Trong những năm cuối thế kỉ XX - đầu thế kỉ XXI, nền chính trị quốc tếchứng kiến những xu hướng khác nhau, thậm chí đôi khi trái ngược nhau, cụ thể làtoàn cầu hóa, khu vực hóa và chủ nghĩa dân tộc Những xu hướng này làm cho thếgiới luôn thay đổi, chính vì thế chưa thể hình thành một trật tự xác định nên đượcnhiều nhà nghiên cứu thường gọi là giai đoạn “hậu Chiến tranh Lạnh” Dù thế nào
đi chăng nữa giai đoạn này có những đặc trưng nổi bật sau đây: Thứ nhất, đó là sức
mạnh của mỗi quốc gia được xác định không chỉ bởi sức mạnh quân sự mà là khả
năng kinh tế và quyền lực mềm Thứ hai, thế giới trở nên phụ thuộc lẫn nhau nhiều
hơn, không có một quốc gia nào có thể tồn tại một cách biệt lập hoàn toàn và một
mình có thể giải quyết được mọi việc Thứ ba, nền chính trị thế giới có sự tham gia
của nhiều chủ thể hơn, bao gồm cả những chủ thể truyền thống (quốc gia) và cácchủ thể mới như tổ chức phi chính phủ (NGO), các công ty xuyên quốc gia (MNC)
và cả các cá nhân; Thứ tư, mô hình kinh tế thị trường và dân chủ ngày càng được
thừa nhận ở nhiều nơi trên thế giới Bên cạnh đó, khái niệm chủ quyền quốc giangày nay cũng đang dần thay đổi vai trò của các thể chế chính trị cũng dần thay đổitrong thời đại của internet Tất cả các quốc gia lớn, nhỏ khác nhau đều đang phảiđối mặt với một chuỗi các vấn đề xuyên biên giới quốc gia như: sự di chuyển củacác dòng vốn, vấn đề buôn lậu ma túy, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, người
tị nạn, khủng bố, sự xâm nhập văn hóa…
Sự kiện an ninh nổi bật trong giai đoạn này có tác động mạnh mẽ đến thếgiới và khu vực là sự tấn công 11/9 của chủ nghĩa khủng bố vào nước Mỹ, một mối
đe dọa an ninh không mới nhưng lại có qui mô và mức độ chưa từng thấy trước đây:
“Trong vụ tấn công khủng bố 11/9/2001 nước Mỹ đã phải gánh chịu tổn thất nhânmang nghiêm trọng hơn cả cuộc tấn công của Nhật gây ra tại Trân Châu Cảng vàonăm 1941.”35 Có thể nói, những thay đổi cấu trúc của kỷ nguyên Hậu chiến tranh
34 Đỗ Thúy Mùi, “Xu hướng phát triển nền kinh tế thế giới”, đăng trên trang Bộ Ngoại giao Việt Nam, http://
www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/nr091019080134/nr091019083649/ns110517141804, ngày truy cập 28/09/2018.
35 Joseph S.Nye (2007), “Globalization and Interdependence” (Chapter 8), in Joseph S.Nye, Understanding
International Conflicts (New York: Longman), p.242.
Trang 33lạnh đã dẫn đến những cách nhìn mới về khái niệm và bản chất của an ninh Anninh không chỉ là khái niệm về sự ngăn chặn một cuộc chiến tranh và bạo lực quân
sự Mất an ninh không còn được xem như một hiện tượng chỉ gắn liền với đe dọaquân sự hoặc chỉ liên quan đến nhà nước Theo quan điểm mới, an ninh bao trùmnhững khía cạnh xã hội và thậm chí là cá nhân, kinh tế, môi trường, tội phạm,những vấn đề nhân loại và quyền con người cũng như việc sử dụng bất hợp pháp vũlực Ý tưởng an ninh rộng này nói chung được gọi là “an ninh phi truyền thống”(non-traditrional security) hoặc “an ninh mềm” (soft security) Cuộc tấn công khủng
bố ngay 11/9/2001 và cuộc chiến chống khủng bố sau đó trở thành một biểu hiệncủa vấn đề an ninh hậu Chiến tranh Lạnh và có tác động đặc biệt với nhiều chínhphủ, quốc gia ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và trong một số trường hợp làmvấn đề tồn tại trước ở nhiều nước thêm tồi tệ hơn Tình hình mới đặc biệt khó khănvới các quốc gia có dân số theo đạo Hồi đông và cho những nước có bộ máy lãnhđạo yếu kém như Indonesia và Pakistan.36
Một diễn biến chính trị khác đánh dấu một kỉ nguyên xung đột của thế kỷhậu Chiến tranh Lạnh chính là sự kiện Mùa xuân Ả Rập (Arab Spring) xuất phát từviệc một người bán hoa quả rong đã tự thiêu chống lại cảnh sát ở Yemen vào tháng12/2010 Sự việc này đã gây ra một loạt các cuộc biểu tình ở Tunisia và sau đó hìnhthành một làn sóng biểu tình lan sang các nước Algeria, Jordan, Ai Cập và Yemen
và sau đó đến các nước khác trong khu vực Nguyên nhân của sự kiện Mùa xuân ẢRập có thể khác nhau ở mỗi quốc gia nhưng đều chủ yếu xoay quanh các vấn đềnhư thiếu dân chủ, vi phạm nhân quyền, tham nhũng lan rộng, kinh tế suy giảm, thấtnghiệp, đói nghèo, giá lương thực tăng cao, và các yếu tố nhân khẩu học khác37Trong đó, các cuộc biểu tình diễn ra chủ yếu đòi thay đổi chính quyền hoặc để đòicải thiện đời sống Các cuộc biểu tình phản đối này đều có chung các kỹ thuậtchống đối dân sự bao gồm đình công, biểu tình và các cách thức khác Các chínhphủ liên quan đã phải giải quyết bằng nhiều cách khác nhau từ đưa ra các cải cách
36 C McNally and C.E.Morrison (eds), Asia – Pacific Security Outlook 2002, Regional overview, http://www.jcie.or.jp/thinknet/outlook202.html (Ngày truy cập: 1/1/2014).
37 Erzsébet N.Rózsa (2012), “The Arab Spring: Its Impact on the Region and on the Middle East
Conference”, Policy Brief, Academic Peace Orchestra Middle East, Nos.9/10, p.1.
Trang 34kinh tế - xã hội đến áp dụng sức mạnh vũ trang để đàn áp các cuộc biểu tình Tuynhiên, tính đến tháng 8/2012, chính quyền các nước như Tunisia, Ai Cập, Libya vàYemen đã bị lật đổ Xuyên suốt sự kiện Mùa xuân Ả Rập, vai trò của công nghệthông tin mà cụ thể là truyền thông đã có vai trò chủ đạo đối với làn sóng biểu tình
ở các nước Bắc Phi và Trung Đông
Trong bối cảnh đó, nền kinh tế thế giới đã có những chuyển biến rất phứctạp 11 năm sau khủng hoảng tài chính Châu Á (1997), nền kinh tế thế giới phải trảiqua đợt suy thoái kinh tế kéo dài nhất và nghiêm trọng nhất kể từ Đại Khủng hoảng
ở thập niên 1930 bắt đầu từ sự sụp đổ của ngân hàng đầu tư Lehman Brothers vàongày 15/09/2008 Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008-2009 đã cho thấy một sốvấn đề trong kinh tế vĩ mô như tình trạng bất cân đối của kinh tế toàn cầu, bản chấtcủa thị trường tài chính, hiệu quả của chính sách tiền tệ… Một trong những hệ quảcủa cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu này chính là khủng hoảng nợ công ở châu
Âu diễn ra chỉ một năm sau đó Cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu xuất phát từ
Hy Lạp (2009) do sự vô trách nhiệm trong việc sử dụng ngân sách chính phủ củanhững quốc gia ngoại vi đã có những tác động rất lớn đến quá trình hội nhập củachâu Âu trên nhiều lĩnh vực Để đối phó với khủng hoảng nợ công, Liên minh Châu
Âu và Quĩ tiền tệ thế giới IMF đã phải thiết lập Quĩ Chống khủng hoảng vào đầutháng 5/2010 với lượng tiền lên đến 750 tỉ Euro và Quĩ Bình ổn với các giải pháptăng cường các biện pháp giám sát chặt chẽ hơn về hệ thống ngân hàng tài chínhcũng như chi tiêu chính phủ và nợ công với chính sách “thắt lưng buộc bụng” Bêncạnh đó, EU đang triển khai Chiến lược Lisbon tới năm 2020, tăng cường nhất thểhóa, tăng cường liên kết về chính trị xã hội nhằm tạo ra sự đồng thuận của các quốcgia cũng như các công dân châu Âu để tiếp tục hoàn thiện liên kết kinh tế tiền tệ
Tuy nhiên, đó cũng chỉ là những giải pháp mang tính chất ngắn hạn và trunghạn mà EU đưa ra để giải quyết những hậu quả trước mắt của cuộc khủng hoảng nợcông Những tác động mà cuộc khủng hoảng đem lại, đặc biệt là đối với quá trìnhhội nhập của Liên minh châu Âu, là một vấn đề mang tính dài hạn Cuộc khủnghoảng này không chỉ đặt ra nghi vấn về vai trò và khả năng tồn tại của các quốc
Trang 35gia thành viên mà còn là nghi vấn về những thành tựu mà hội nhập kinh tế và chínhtrị của Châu Âu đạt được trong nhiều thập kỉ qua Cuộc khủng hoảng nợ công cóthể sẽ là một nhân tố thúc đẩy cho sự hội nhập sâu hơn hoặc sẽ dẫn đến sự tan rãcủa Khu vực đồng tiền chung (Eurozone) Có thể nói, những tác động của cuộckhủng hoảng nợ công có thể dẫn đến những vấn đề phát sinh ảnh hưởng đến quátrình hội nhập của EU chủ yếu vì những nguyên nhân như những tác động về kinh
tế, những mâu thuẫn trong hệ thống chính trị của châu Âu và những mâu thuẫn vềthể chế trong Liên minh châu Âu Dù vậy, nhiều học giả trên thế giới đã nhìn nhận,mặc dù cuộc khủng hoảng nợ công diễn ra khá nghiêm trọng nhưng vẫn nằm trongtầm kiểm soát của EU và EU không dễ dàng từ bỏ các mục tiêu đang theo đuổi hiệnnay để hướng tới một liên kết khu vực bền vững, đảm bảo hòa bình, ổn định và pháttriển Tuy nhiên, hậu quả của các cuộc khủng hoảng đến nay vẫn chưa được khắcphục hoàn toàn nhưng đã để lại cho nền kinh tế các nước và khu vực cũng như nềnkinh tế toàn cầu những bài học có ý nghĩa thực tiễn
Sự phát triển của loại hình kinh tế mới cùng quá trình phát triển của Toàncầu hóa, Khu vực hóa theo hướng tự do hóa thương mại và đầu tư tiếp tục đặt ra chocác nước nhiều thuận lợi trong việc mở rộng thị trường, tranh thủ vốn, công nghệ đểphát triển Chênh lệch giàu - nghèo giữa các nước ngày càng được mở rộng Những
ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường, nhân lực có đào tạo đều thuộc về các nước tưbản phát triển và công ty xuyên quốc gia Các nước đang phát triển, trong đó cóViệt Nam, đang đứng trước những thời cơ và thách thức lớn về phát triển kinh tế -
xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hóa vừa mở rộng những khả năng mớivừa làm cho nguy cơ bị tụt hậu ngày càng xa hơn nữa so với các nước công nghiệpphát triển Mặc khác, các nước đang phát triển phải đối mặt với cuộc cạnh tranhkinh tế, thương mại, khoa học - công nghệ rất gay gắt trên phạm vi toàn thế giới.Kinh tế trở thành nhân tố quyết định sức mạnh tổng hợp quốc gia và ngày càngđóng góp vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế
Trong giai đoạn này, đấu tranh và hợp tác giữa các trung tâm lớn là đan xenphức tạp, các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, thế giới đangtrong quá trình hình thành một trật tự thế giới mới Các mâu thuẫn cơ bản trên thế
Trang 36giới vẫn tồn tại và phát triển có phần sâu sắc hơn Đấu tranh dân tộc và đấu tranhgiai cấp vẫn tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức Các thế lực hiếu chiến đã thihành chính sách cường quyền, sử dụng ưu thế về kinh tế, quân sự, khoa học - kĩthuật nhằm thiết lập vai trò lãnh đạo thế giới Các cuộc xung đột dưới nhiều hìnhthức vẫn thường xuyên nổ ra và chưa có giải pháp cơ bản Tuy nhiên, những biểuhiện của chính sách cường quyền, sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bất chấpluật pháp quốc tế có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là những mưu toan của Mỹ lợidụng ưu thế kinh tế, quân sự, khoa học - kĩ thuật nhằm thiết lập “vai trò lãnh đạo thếgiới”.38 Nguy cơ chiến tranh thế giới hủy diệt vẫn ít có khả năng xảy ra nhưng cáccuộc xung đột vũ trang với qui mô và cường độ khác nhau, chiến tranh cục bộ, xungđột sắc tộc, tôn giáo và lãnh thổ nổ ra ở nhiều nơi, nhiều cuộc xung đột diễn ratrong thời gian dài mà chưa có giải pháp phù hợp.
Về cơ bản, những năm đầu trong thế kỷ XXI, hòa bình an ninh vẫn được duytrì tuy còn tồn tại nhiều xung đột, mâu thuẫn ở các khu vực trên thế giới như: Ởchâu Phi nổi bật là các vấn đề về xung đột sắc tộc, tôn giáo, việc tranh giành quyềnlực chính trị, kinh tế bằng vũ trang, đáng chú ý là sự can thiệp của Mỹ và các nướcphương Tây vào nội bộ các quốc gia bắc Phi dẫn đến sự kiện “Mùa Xuân Ảrập”39…; Châu Á vẫn còn nhiều bất ổn về an ninh - chính trị, nhất là ở khu vựcTrung Đông, nơi diễn ra các hoạt động chống đối vũ trang của các nhóm phiến quânchống chính phủ và Hồi giáo cực đoan Bên cạnh đó, trong những năm gần đây,những diễn biến trên khu vực Biển Đông cũng trở nên căng thẳng hơn với sự hiệndiện ngày một nhiều của các cường quốc
38 Nguyễn Phúc Luân (2001), Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp giành độc lập, tự do (1945 – 1975),
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 105.
39 Mùa Xuân Ả rập là một diễn biến chính trị, trong đó, một loạt các cuộc biểu tình đã diễn ra ở Tunisia đầu năm 2011 và sau đó hình thành một làn sóng biểu tình lan sang các nước Algeria, Jordan, Ai Cập và Yemen và sau
đó đến các nước khác trong khu vực bắc Phi Nguyên nhân của sự kiện Mùa xuân Ả Rập có thể khác nhau ở mỗi quốc gia nhưng đều chủ yếu xoay quanh các vấn đề như thiếu dân chủ, vi phạm nhân quyền, tham nhũng lan rộng, kinh tế suy giảm, thất nghiệp, đói nghèo, giá lương thực tăng cao, và các yếu tố nhân khẩu học khác Trong đó, các cuộc biểu tình diễn ra chủ yếu đòi thay đổi chính quyền hoặc để đòi cải thiện
đời sống Các cuộc biểu tình phản đối này đều có chung các kỹ thuật chống đối dân sự bao gồm đình công, biểu tình và các cách thức khác Các chính phủ liên quan đã phải giải quyết bằng nhiều cách khác nhau từ đưa ra các cải cách kinh tế - xã hội đến áp dụng sức mạnh vũ trang để đàn áp các cuộc biểu tình.Tuy nhiên,
sự kiện này cũng để lại các hệ quả nghiêm trọng nhất định, tính đến tháng 8/2012, chính quyền các nước như Tunisia, Ai Cập, Libya và Yemen – Xem thêm: Erzsébet N.Rózsa, “The Arab Spring: Its Impact on the
Region and on the Middle East Conference”, Policy Brief, Academic Peace Orchestra Middle East, Nos.9/10,
2012.
Trang 37Không chỉ vậy, sự suy giảm vị thế của Mỹ trong hệ thống quan hệ quốc tếtoàn cầu đã dần được bộc lộ Những biểu hiện của sự suy giảm này có thể kể đếnnhư các vấn đề kinh tế trong nước kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 -
2009, lực lượng quân sự bị triển khai phân tán nhiều nơi, không được ủng hộ bởidân chúng trong nước bởi các cuộc chiến như Syria, Libia40 Tuy vẫn còn sức mạnhvượt trội so với các nước khác trên thế giới về ngân sách quốc phòng, vũ khí, khoahọc - công nghệ, giáo dục - đào tạo, đầu tư nghiên cứu khoa học chiếm 60% đầu tưtoàn thế giới41 và có một mạng lưới đồng minh rộng lớn, hiện nay Mỹ đang gặpphải sự cạnh tranh của một số cường quốc mới nổi với sự tăng trưởng kinh tế đángchú ý hàng năm như Trung Quốc, Ấn Độ và Nga Điều này thể hiện sự thay đổi cụcdiện của thế giới “hậu chiến tranh lạnh” từ trật tự “nhất siêu, đa cường” do Mỹ dẫnđầu sang trật tự “đa phương, đa cực” với nhiều cường quốc mới nổi, cạnh tranh vịthế và vai trò lãnh đạo của Mỹ
Kể từ khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 - 2009 diễn ra đến nay, nềnkinh tế thế giới đối mặt với nhiều bất ổn và rủi ro Khủng hoảng tài chính nổ ra ở Mỹnăm 2008 đã làm cho hệ thống tài chính sụp đổ không chỉ trong phạm vi nước Mỹ, mà
đã kan ra nhiều nơi trên thế giới.42 Cuộc khủng hoảng đã cho thấy một số vấn đề trongkinh tế vĩ mô như tình trạng bất cân đối của kinh tế toàn cầu, bản chất của thị trường tàichính, hiệu quả của chính sách tiền tệ…Những hệ quả của cuộc khủng hoảng kinh tếtoàn cầu này có thể kể đến như: Đó là cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu diễn ra chỉmột năm sau đó Trải qua quá trình xây dựng và phát triển không ngừng, Liên minhchâu Âu (EU) đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận về liên kết, nhất thể hóa kinh
tế và chính trị Cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu nổ ra bắt đầu từ Hy Lạp vào năm
2009 và sau đó lan sang các nước khác trong khu vực đến đã tác động mạnh mẽ đến sựphát triển của EU, nhất là quá trình hội nhập của Liên minh Cuộc khủng hoảng đã tácđộng và tạo ra những mâu thuẫn giữa thể chế “siêu
40 Nước Mỹ bắt đầu cho thấy những điểm yếu trong hệ thống kinh tế - chính trị - xã hội quốc gia rõ rệt hơn từ những năm đầu của thập niên thứ hai thế kỷ XXI: Vào năm 2011 với sự kiện biểu tình “Chiếm lấy phố
Wall”; năm 2013, chính quyền Mỹ phải đóng cửa một tháng vì quốc hội Mỹ không phê chuẩn việc nâng trần
nợ công.
41 Nguyễn Anh Tuấn (2015), Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và tác động tới Việt Nam,
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.21.
42 Nguyễn Tuấn Minh (2013), “Chủ tịch Trương Tấn Sang thăm Hoa Kỳ và đối tác toàn diện Việt Nam –
Hoa Kỳ”, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, Số 07, 2013, tr.3-20.
Trang 38nhà nước” (nhà nước liên bang) và thể chế chính trị của 28 nước thành viên.43 Đồngthời, những mâu thuẫn giữa các nước lớn như Đức, Anh, Pháp… và các nước nhỏnhư Cộng hòa Cyprus, Malta, Hy Lạp…cũng xuất hiện trong hệ thống chính trị của
EU Hơn bao giờ hết, châu Âu đang phải đối mặt với những mâu thuẫn và chia rẽtrên nhiều lĩnh vực, từ kinh tế, quân sự đến chính trị, xã hội
Trong khi đó, tại châu Âu, đáng chú ý là mối quan hệ giữa Nga và các nước EUngày càng căng thẳng hơn với sự kiện Nga sáp nhập Crimea vào tháng 03/2015 sau khitrưng cầu dân ý Các quốc gia, đặc biệt là các cường quốc lớn trên thế giới, đều có xuhướng sử dụng đàm phán, thỏa hiệp để giải quyết xung đột, mâu thuẫn, tránh đối đầu,đẩy mạnh xu thế hợp tác đan xen đấu tranh và cạnh tranh Đặc biệt, sự kiện ngày23/6/2016 thường được nhắc đến với tên gọi Brexit cũng là một hiện tượng đặc biệttrong chính trị thế giới những năm đầu thế kỷ XXI Brexit, tiếng tắt của “British Exit”
là tên không chính thức chỉ sự kiện Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (Europe Union,viết tắt là EU) Thực tế, sự kiện Anh rời khỏi EU đã đặt ra bài toán mới cho việc hộinhập và những khủng hoảng tiềm ẩn cho các tổ chức đa phương trong một khu vựcnhất định cũng như các tổ chức đa phương có quy mô toàn cầu
Nhìn chung, chính sách đối ngoại của các quốc gia đặc biệt là của các nướclớn đều có những điều chỉnh phù hợp với xu thế hợp tác cùng phát triển của thời đại
và những diễn biến kinh tế - chính trị quốc tế Điển hình như Mỹ có những điềuchỉnh chính sách ôn hòa hơn, giảm tính đơn phương và tăng tính chất đa phươngtrong chính sách đối ngoại, ra sức giảm các cuộc chiến ngày một tốn kém ở TrungĐông, chuyển trọng tâm chiến lược sang châu Á với chiến lược “xoay trục về châuÁ” về sau được biết đến như là chính sách “tái cân bằng”44 tại châu Á - Thái BìnhDương Tuy nhiên, từ cuối năm 2016, người tổng thống kế nhiệm của Tổng thống
B Obama là Donald Trump bác bỏ các chính sách này, thậm chí rút khỏi Hiệp định
43 Đinh Công Tuấn (2014), “Tác động của cuộc Khủng hoảng nợ công đến thể chế chính trị của “nhà nước
siêu quốc gia” EU”, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, Số 10 (169) 2014, Viện Nghiên cứu Châu Âu, Viện Khoa học
Xã hội Việt Nam, tr.13.
44 6 định hướng lớn của Mỹ tại khu vực châu Á: (1), Củng cố các liên minh an ninh song phương; (2), Tăng cường quan hệ với các cường quốc mới nổi; (3), Can dự với các định chế đa phương khu vực; (4), Mở rộng thương mại và đầu tư; (5); Tăng cường hiện diện quân sự rộng rãi; (6), Thúc đẩy dân chủ và nhân quyền.
Theo Hilary Clinton “America's Pacific Century”, Foreign Policy, 11/2011,
http://www.foreignpolicy.com/articles/2011/10/11/ americas_pacific_century, truy cập ngày 20/10/2015.
Trang 39TPP ngay sau khi chính thức là Tổng thống Hoa Kỳ Bên cạnh đó, Trung Quốc cảithiện và tăng cường quan hệ với các nước lớn như Mỹ, Nga Nhật Bản, EU…songsong với việc đẩy mạnh chính sách “Ngoại giao láng giềng”, thúc đẩy hợp tác vàhội nhập kinh tế với các quốc gia tại khu vực, đặc biệt là các nước ASEAN; Ngavới mục tiêu khôi phụ vị thế cường quốc toàn cầu đã có nỗ lực ngoại giao tích cựchơn, tăng cường hiện diện nhiều hơn tại châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là khuvực Đông Á và Đông Nam Á; Nhật Bản tiếp tục củng cố quan hệ với các đồngminh chủ chốt như Mỹ, EU, Hàn Quốc và Australia, tăng cường quan hệ hợp tácvới các đối tác quan trọng như ASEAN, cải thiện quan hệ với Nga, Trung Quốctrong nỗ lực giải quyết các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên biển Hoa Đông vớihai quốc gia này; chính sách “Hướng Đông” của Ấn Độ với mục tiêu là thúc đẩytích cực hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, mở rộng quan hệ của quốc gia này vớicác nước ở khu vực Nam Á và Đông Nam Á…
Vào những ngày cuối năm 2016, thế giới hoàn toàn bất ngờ về chiến thắng củaDonald Trump trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng, đánh dấu bước chuyển mình từcách tiếp cận thế giới từ ôn hòa và đa phương sang đơn phương và cứng rắn hơn Tiếp
đó, tháng 10/2017, tại Trung Quốc, Tập Cận Bình tiếp tục giữ chức vụ đứng đầu Đảng,Nhà nước và quân đội Ở Liên Bang Nga, Tổng thống V Putin tiếp tục nắm quyềnthêm ít nhất 6 năm sau cuộc bầu cử Tổng thống vào tháng 3/2018 Cả ba cường quốchàng đầu thế giới đều căn bản được định hình theo hướng đi của những người lãnh đạocầm quyền Tại Hoa Kỳ, Tổng thống Donald Trump đi theo khẩu hiệu “Nước Mỹ trênhết”, “Hòa bình thông qua sức mạnh Trong khi đó, Trung Quốc tiếp tục hiện thực hóa
“Giấc mơ Trung Hoa” và đi theo “tư tưởng Tập Cận Bình” Liên Bang Nga ghi dấu ấncủa Tổng thống V Putin với “chủ nghĩa yêu nước”
Trong giai đoạn này, đấu tranh và hợp tác giữa các trung tâm lớn là đan xenphức tạp, các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, thế giới đangtrong quá trình hình thành một trật tự thế giới mới Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giớivẫn tồn tại và phát triển có phần sâu sắc hơn Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấpvẫn tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức Các thế lực hiếu chiến đã thi hành chính sáchcường quyền, sử dụng ưu thế về kinh tế, quân sự, khoa học - kĩ thuật
Trang 40nhằm thiết lập vai trò lãnh đạo thế giới Các cuộc xung đột dưới nhiều hình thứcvẫn thường xuyên nổ ra và chưa có giải pháp cơ bản Nguy cơ chiến tranh thế giớihủy diệt vẫn ít có khả năng xảy ra nhưng các cuộc xung đột vũ trang với qui mô vàcường độ khác nhau, chiến tranh cục bộ, xung đột sắc tộc, tôn giáo và lãnh thổ nổ ra
ở nhiều nơi, nhiều cuộc xung đột diễn ra trong thời gian dài mà chưa có giải phápphù hợp Tuy vẫn còn những xung đột về lợi ích, về cơ bản, các quốc gia đã cải thiệnđược phần nào quan hệ ngoại giao với nhau “Nhìn chung, với sự điều chỉnh
chính sách như vậy, quan hệ giữa các nước lớn đã có cải thiện rõ rệt, mặt hợp tácđược tăng cường, nhưng cọ xát, căng thẳng đôi khi vẫn diễn ra vì các bên có xungđột cốt lõi Do vậy, tính chất đan xen giữa hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh và kiềmchế lẫn nhau của các mối quan hệ này vẫn không thay đổi”
Tình hình khu vực Đông Nam Á nói riêng và châu Á - Thái Bình Dương nóichung từ cuối thập 80 bắt đầu có những thay đổi cơ bản Từ năm 1989 đến năm
1991, tình hình châu Á - Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng cónhiều chuyển động Về vấn đề chính trị, khu vực cũng chịu ảnh hưởng chung củagiai đoạn cuối chiến tranh Lạnh và cuối cùng trật tự hai cực Yalta chấm dứt vàchuyển sang thế giới đơn cực do Mỹ đứng đầu Vì vậy, tình hình hình khu vực cũngdần chuyển theo hướng giảm đối đầu và tăng cường đối thoại giải quyết các vấn đềtranh chấp hướng tới khu vực hòa bình, ổn định, hợp tác cùng phát triển
Không chỉ vậy, trong lĩnh vực kinh tế, châu Á - Thái Bình Dương nổi lênnhư một khu vực phát triển năng động với tốc độ tăng trưởng cao ở Hàn Quốc,Singapore, Thái Lan, Malaysia Các nước trong khu vực đều có nguyện vọng cùngtồn tại trong hòa bình, hữu nghị để phát triển, hợp tác song phương, đa phương vàtrong nhiều lĩnh vực Mặc dù cuối những năm 1990, các nước Đông Á lâm vào cuộckhủng hoảng tài chính - tiền tệ, kéo theo khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọnggây nhiều bất lợi, song đây vẫn được coi là khu vực tiềm năng nhờ lợi thế địa lí,nhân lực và tài nguyên thiên nhiên Không chỉ vậy, dù rất nỗ lực, về mặt tự do hóathương mại, khu vực châu Á - Thái Bình Dương vẫn chưa thiết lập được khu vựcmậu dịch tự do sánh ngang tầm Âu - Mỹ.45
45 Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Liên kết ASEAN trong thập niên đầu thế kỷ XXI, Hà Nội, 2004, tr.39.