Hạt nhân của luận văn là hệ thống ngữ pháp Chăm cổ, vấn Ďềnày chúng tôi cũng sẽ thảo luận kỹ hơn: bao gồm phân loại các loại từcũng như Ďặc Ďiểm của mỗi một tiểu loại trong Chăm cổ; trật
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
-Huang Xianmin(Hoàng Tiên Dân)
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU MỘT VÀI HIỆN TƯỢNG NGỮ PHÁP
TIẾNG CHĂM QUA MỘT SỐ BIA KÝ CHĂM-PA
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
-Huang Xianmin(Hoàng Tiên Dân)
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU MỘT VÀI HIỆN TƯỢNG NGỮ PHÁP
TIẾNG CHĂM QUA MỘT SỐ BIA KÝ CHĂM-PA
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 8229020.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Trí Dõi
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam Ďoan Ďề tài: ―Bước Ďầu nghiên cứu một vài hiệntượng ngữ pháp tiếng Chăm qua một số bia ký Chăm-pa‖ là một côngtrình nghiên cứu Ďộc lập dưới sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn:GS.TS Trần Trí Dõi Ngoài ra không có bất cứ sự sao chép của ngườikhác Đề tài, nội dung báo cáo là sản phẩm mà tôi Ďã nỗ lực nghiên cứutrong quá trình học tập, sưu tập và phân tích tài liệu Các số liệu, kết quảtrình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực Tôi xin hoàn toàn chịutrách nhiệm về lời cam Ďoan của mình
Tác giả luận văn
HUANG XIANMIN
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tác giả
Ďã nhận Ďược sự Ďộng viên, khuyến khích và tạo Ďiều kiện giúp Ďỡnhiệt tình của các cấp lãnh Ďạo, của các thầy giáo, cô giáo, anh chị em,bạn bè Ďồng nghiệp và gia Ďình
Tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo, phòng SauĎại học trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn và Ďặc biệt là cácthầy cô giáo trực tiếp giảng dạy các chuyên Ďề của toàn khóa học Ďã tạoĎiều kiện, Ďóng góp ý kiến cho tác giả trong suốt quá trình học tập vàhoàn thành luận văn thạc sĩ
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Trần TríDõi - Người Ďã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp Ďỡ tác giả tiếnhành các hoạt Ďộng nghiên cứu khoa học Ďể hoàn thành luận văn này.Với thời gian nghiên cứu còn hạn chế, luận văn không tránh khỏinhững thiết sót, tác giả rất mong nhận Ďược các ý kiến Ďóng góp chânthành từ các thầy giáo, cô giáo, Ďồng nghiệp, bạn bè
Tác giả luận văn
HUANG XIANMIN
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn Ďề tài 3
2 Mục Ďích nghiên cứu 5
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tương và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Cấu trúc của luận văn: 7
PHẦN NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGỮ ÂM VÀ CHỮ VIẾT CHĂM CỔ 8
1.1 Hệ thống ngữ âm 9
1.1.1 Hệ thống ngữ âm tiếng Chăm hiện Ďại 9
1.1.2 Hệ thống ngữ âm tiếng Chăm cổ 12
1.1.3 Quy tắc hợp âm 15
1.2 Hệ thống chữ viết 17
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG NGỮ PHÁP CHĂM CỔ QUA VĂN KHẮC BIA KÝ 21
2.1 Các từ loại trong Chăm cổ 21
2.1.1 Danh từ 22
2.1.2 Đại từ 29
2.1.3 Số từ 33
Trang 62.1.4 Động từ 36
2.1.5 Tính từ 42
2.1.6 Tiểu từ 44
2.1.7 Tiểu kết 47
2.2 Trật tự cấu tạo câu 48
2.2.1 Câu Ďơn 48
2.2.2 Câu phức 52
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH NHỮNG VĂN KHẮC CỤ THỂ 55
3.1 Bia ký C.43 Drang Lai 55
3.2 Bia ký C.30 B1 Rầm cửa hướng Nam của đền thờ chính trong quần thể tháp Chăm Po Nagar 62
3.3 Bia ký C.30 B2 Rầm cửa hướng Nam của đền thờ chính trong quần thể tháp Chăm Po Nagar 67
3.4 Tiểu kết 70
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 80
2
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Vương quốc Chăm-pa, còn Ďược gọi là Lâm-ấp (林林), Hoàn Vương (林
林 ) hoặc Chiêm Thành ( 林 林 ; Campapūra 林 林 林 林 )(Trong thư tịch cổ TrungQuốc, Chăm-pa 林林 Ďược gọi là Lâm Ấp 林林 Sau thời Nguyên Hòa 林林 ĎờiĐường, lại chép là Hoàn Vương 林林; thời Ngũ Đại 林林 chuyển thành ChiêmThành 林林 Theo Đường Thư 林林 (945 sau CN), ―Hoàn Vương diệc danhChiếm Bà 林林林林林林‖ (Hoàn Vương cũng Ďược gọi là Chăm-pa); theo TâyVực Ký 林林林 (646 sau CN) lại ghi là ―Ma-ha Chiêm Ba 林林林林‖; theo NamHải Ký Quy Nội Pháp Truyện 林林林林林林林 (689 sau CN) của pháp sư NghĩaTĩnh 林林林林 lại có ―Chiếm Ba 林林‖), là một trong những quốc gia có vai tròquan trọng trong tiến trình lịch sử Đông Nam Á Lãnh thổ của Vương quốcChăm-pa về phía bắc giáp với dãy Hoành Sơn Quan, về phía nam Ďi Ďếnsông Đồng Nai Trung Quốc và Vương quốc Chăm-pa có quan hệ bang giao
từ lâu: thời Hán, có người tên Khu Liên (林林) quê Tượng Lâm (林林 nay thuộchuyện Duy Xuyên 林林, tỉnh Quảng Nam) giết huyện lệnh mà tự lập làm vua,dựng nước Chăm-pa; sau thời Đường và Tống, Chăm-pa thường sai sứ giảqua Ďường biển Ďến Trung Hoa triều cống Đến thời Minh, triều Ďình thànhlập Đề Đốc Tứ Di Quán (林林林林林), chuyên phụ trách phiên dịch thư hàm từcác nước bang giao Tiếng Chăm không có Quán dịch riêng, văn thư từChăm-pa mang Ďến do Hồi Hồi
3
Trang 8Quán (林林林) dịch giúp Trong sách Quỳnh Châu Phủ Chí (林林林林; 1617sau CN) ghi rằng từng có người Nhai Châu tên Bồ Thịnh (林林) làm quanThông Sự Chiêm Thành (林 林林 林 ) trong triều Ďình: “Bồ Thịnh, dĩ hiểu Chiêm Thành phiên tự, thụ Hồng Lư Tư Tân Thự Tự Ban (林林林林林林林林林林林林林林林林林林)‖ (Dịch: Bồ Thịnh, vì hiểu chữ Chiêm Thành, trao cho quanchức Hồng Lư Tư Tân Thự Tự Ban) Năm 1471, quân Ďội người Kinhchiếm lấy Ďô thành Chăm-pa, nước Chiêm Thành diệt vong trong dòngsông lịch sử.
Hiện nay trong phạm vi thế giới, Ďa số học giả chủ yếu quan tâmĎến vấn Ďề lịch sử Chăm-pa, ít người bàn về vấn Ďề Chăm ngữ NhưngĎiều này không thể phủ nhận tính quan trọng của việc nghiên cứu Chămngữ Chăm ngữ là một ngôn ngữ chiếm vị trí rất quan trọng trong việcnghiên cứu lịch sử và ngôn ngữ các dân tộc của cả khu vực nói chung vàViệt Nam nói riêng Việt Nam là một quốc gia chịu sự ảnh hưởng văn hóangoại lai rất mạnh từ hai phía: phía Bắc là văn hóa Trung Hoa, phía Nam
là văn hóa Ấn Độ; vậy văn hóa từ Ấn Độ Ďã ảnh hưởng Ďến Việt Namnhư thế nào? Có biểu hiện về mặt văn hóa như thế nào? Nếu muốn làm rõnhững vấn Ďề có liên quan Ďến sự tiếp xúc văn hóa Ďó, hoặc là lịch sửcủa Vương quốc Chăm, hoặc chính là những vấn Ďề trực tiếp liên quanĎến ngôn ngữ Chăm, thì chúng ta không thể bỏ qua quá trình nghiên cứuChăm ngữ, trong Ďó có tiếng Chăm cổ là một bộ phận
4
Trang 92. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu quy tắc nội tại và quy tắc biến Ďổi của hệ thống ngữ phápChăm cổ, dựa vào tài liệu văn khắc bia ký, thông qua giải Ďọc các văn tựtrên Ďó, quy nạp, phân tích, truy nguồn, so sánh các hiện tượng ngữ pháp
Ďó Xác Ďịnh khái niệm hệ thống ngữ pháp Chăm-Phạn hỗn hợp (HybridSanskrit-Chamic grammatical system)
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để Ďạt Ďược mục tiêu trên, các nhiệm vụ nghiên cứu Ďược Ďặt ra nhưsau:
-Xác lập khái niệm và lý luận tiền Ďề bào gồm: giới thiệu quá trìnhphát triển của tiếng Chăm, từ PAn (Proto-Austronesian) Ďến PMP (Proto-Malayo-Polynesian), rồi Ďến PC (Proto-Chamic), Chăm cổ (Old Cham),cuối cùng Ďến tiếng Chăm hiện Ďại
-Trình bày các hiện tượng ngữ pháp Chăm cổ qua các bia ký cụ thể.Hiện nay vẫn chưa có công trình nào Ďó chuyên bàn về hệ thống ngữpháp Chăm cổ Ďược khắc trên bia Ďá, nhất là về những khái niệm cơ bảnnhất: hệ thống ngữ pháp Chăm cổ gồm những yếu tố nào, mỗi một từ loạitrong hệ thống Ďược thể hiện qua hình thức như thế nào? Có quy luậtbiến hình như thế nào? Vì vậy, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn này sẽtập trung vào những vấn Ďề trên, căn cứ vào những bia ký Ďã Ďược sưutập trong tay, trình bày rõ những vấn Ďề Ďã Ďược nêu trên
Trang 104 Đối tương và phạm vi nghiên cứu.
-Đối tượng nghiên cứu: hệ thống ngữ pháp Chăm cổ (hạn Ďịnh trongmột số bia ký cụ thể)
-Phạm vi nghiêm cứu: trong phạm vi văn khắc bia ký Ďược bảo tồntại Bảo tàng Ďiêu khắc Chăm Đà Nẵng, Việt Nam và một số văn khắcĎược lưu trữ tại học viện Viễn Đông, Pháp Về nội dung nghiên cứu, luậnvăn này còn sẽ bàn Ďến cả hệ thống chữ viết và hệ thống ngữ âm củaChăm cổ Hạt nhân của luận văn là hệ thống ngữ pháp Chăm cổ, vấn Ďềnày chúng tôi cũng sẽ thảo luận kỹ hơn: bao gồm phân loại các loại từcũng như Ďặc Ďiểm của mỗi một tiểu loại trong Chăm cổ; trật tự cấu tạocâu Cuối cùng, luận văn này sẽ thông qua giải thích một số văn khắc bia
ký cụ thể Ďể chứng minh sự tồn tại và tính hợp lý của hệ thống ngữ phápChăm Phạn hỗn hợp
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu rõ các vấn Ďề Ďã Ďược nêu ra ở phần trên, chúng tôi
sẽ áp dụng những phương pháp nghiên cứu khoa học như sau trong quátrình nghiên cứu:
-Phương pháp miêu tả phân tích và tổng hợp Miêu tả phân tích lànghiên cứu các tài liệu, lý luận khác nhau bằng cách miêu tả và phân tíchchúng thành từng bộ phận Ďể tìm hiểu sâu sắc về Ďối tượng Tổng hợp làliên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin Ďã Ďược phân tích tạo ra một
hệ thông lý thuyết mới Ďầy Ďủ và sâu sắc về Ďối tượng
6
Trang 11- Thủ pháp so sánh Trong luận văn này, thủ pháp so sánh sẽ bao gồm cả hai tầng diện là so sánh Ďồng Ďại và so sánh lịch sử.
6. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở Ďầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có bố cục như sau:
Chương 1: Hệ thống chữ viết và ngữ âm Chăm cổ
Chương 2: Hệ thống ngữ pháp Chăm cổ qua văn khắc bia ký
Chương 3: Phân tích những văn khắc cụ thể
Trang 12PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGỮ ÂM VÀ CHỮ VIẾT
CHĂM CỔ
Ngôn ngữ Chăm hoặc Ďược gọi là ―sap Cam‖, là ngôn ngữ của dân
tộc Chăm Là một ngôn ngữ thuộc chi nhánh Melayu-Chamic trong ngữ
hệ Đa Đảo, tiếng Chăm có hệ thống ngữ âm riêng của mình; nhưng tronghành trình lịch sử phát triển, do sự ảnh hưởng rất lớn tử nhiều yếu tố bênngoài, tiếng Chăm cũng chịu sự tác Ďộng và Ďã tiếp thu rất nhiều Ďặctrưng từ ngôn ngữ khác Nhiều từ mới trong các ngôn ngữ xung quanhcũng Ďược ồ ạt Ďưa vào tiếng Chăm cùng với sự lan truyền của văn hóa
và tôn giáo, trong Ďó Ấn Độ có Ďóng vai trò rất quan trọng
Sau khi Lâm Ấp dựng nước (từ Ďầu thế kỷ công nguyên) mãi Ďếnthế kỷ X, XI sau công nguyên, trong quãng thời gian dài gần 10 thế kỷnày, người Chăm Ďã dựng lên nhiều kiến trúc bằng Ďá với kỹ thuật caosiêu tuyệt vời Ďể thực hiện các chức năng làm lễ, thờ cúng v.v Cùng vớinhững kiến trúc này, chữ Chăm cổ cũng Ďược khắc lên trên Ďó: hoặc làdựng bia khắc chữ, hoặc là khắc trực tiếp trên mặt tường Ďể ghi chépnguyên nhân xây dựng công trình, hoặc là ca ngợi công Ďức của nhà vua.Trong phạm vi bia ký Chăm cổ Ďã Ďược phát hiện và sưu tập, chúngtôi thấy rằng, ngôn ngữ mà người Chăm cổ sử dụng có sự khác biệt rấtlớn với tiếng Chăm hiện Ďại, cả mặt chữ viết, từ vựng và ngữ pháp Ngônngữ Chăm cổ cụ thể là một thứ ngôn ngữ như thế nào? Nhất là hệ thống
8
Trang 13ngữ pháp của nó có những Ďặc trưng gì? Những vấn Ďề này khiến chúngtôi cảm thấy tò mò.
Trong luận văn này, chúng tôi sẽ thảo luận cụ thể về loại ngôn ngữĎược sử dụng trên bia ký này, về cả phương diện ngữ âm và hệ thốngngữ pháp của nó Đến cuối luận văn sẽ giải thích cụ thể 3 bài bia ký màchúng tôi, có thể qua Ďó tìm hiểu sâu hơn về ngôn ngữ xa xưa này nóiriêng cũng như văn hóa lịch sử Chăm cổ nói chung
1.1 Hệ thống ngữ âm
1.1.1 Hệ thống ngữ âm tiếng Chăm hiện Ďại
Trước khi bàn Ďến hệ thống ngữ âm Chăm cổ, chúng tôi xin Ďiểmqua hệ thống ngữ âm tiếng Chăm hiện Ďại
Xét về bảng chữ cái Akhar Thrah của tiếng Chăm, tổng cộng có 35
phụ âm và 6 nguyên âm Ďơn (còn Ďược gọi là nguyên âm Ďộc lập theo
Ấn Độ) Cụ thể như sau:
Bảng chữ cái phụ âm tiếng Chăm Ďương Ďại
Phụ ÂmLoại I
Ngạc MềmNgạc CứngRăngMôi
Loại II
Ngoài các phụ âm nêu trên ra, tiếng Chăm còn có 2 phụ âm Ďược gọi
là Phụ âm loại III, Ďó là:
Trang 14Sở dĩ bảng chữ cái tiếng Chăm phải chia ra thành ba bảng riêng là vìthực ra, khi nhìn vào tất cả bảng chữ cái nêu trên, ta dễ dàng nhận ra cácphụ âm loại I Ďược sắp xếp theo một trật tự rất quy củ và ngăn nắp theo vịtrí và phương thức cấu âm Chúng ta có thể sắp xếp Ďược như thế này là vì
nó chịu sự ảnh hưởng của ngôn ngữ Phạn Bảng phụ âm loại I thật ra chính
là tương ứng với bảng phụ âm tiếng Phạn; nhưng trong tiếng Phạn, âmrăng còn có thể chia thành 2 loạt là âm răng thường và âm răng quặt lưỡi
Mà trong loại phụ âm loại II, ngoài phụ âm Sa ra, Ďều có chữ cái tương
Ďương trong tiếng Phạn mà ở Ďó nó Ďược gọi là bán phụ âm Còn hai phụ
âm còn lại là phụ âm loại III, chúng tôi phải dựa vào góc nhìn phát triểnlịch sử Ďể phân tích và nhìn nhận
Nguyên âm
Nguyên âm Ďơn tức là nguyên âm Ďộc lập, những nguyên âm này có
thể tự tạo ra một âm tiết vắng phụ âm Ďầu Như: aia (nước), ada (con vịt),
idung (mũi), oh (không), sa-ai (anh) Nếu các nguyên âm muốn kết hợp với
một phụ âm khác thì phải nhờ vào các phụ tố nguyên âm ở trước hoặc
ở trên, thậm chí ở dưới phụ âm Ngoài nguyên âm Ďơn ra, tiếng Chăm còn
có khá nhiều nguyên âm kép Sau Ďây là bảng nguyên âm tiếng Chăm theophương thức phiên âm IPA của Gérard Moussay:
10
Trang 15Bảng nguyên âm tiếng Chăm
CaoVừaThấpTiếng Chăm còn có 4 âm Ďệm là /i, w, r, l/ Trên thực tế, 4 âm Ďệm này lại có thể chia ra thành 2 nhóm nhỏ theo phẩm chất của chúng, Ďó là nhóm âm Ďệm bán nguyên âm /i/ và /w/; nhóm âm Ďệm phụ âm Ďôi /r/ và /l/.
Về âm cuối, tiếng Chăm có 11 âm cuối, cụ thể như sau: /-k, -p, -t, -ŋ,-n, -m, -w, -y, -r, -l, -h/ Nhưng hiện nay, trong ngữ âm từ giao tiếp thực tếhằng ngày của người Chăm ở Việt Nam, âm cuối /-r/ Ďã hòa nhập vào âmcuối /-n/; và một phần âm cuối /-p/ cũng Ďã trùng lặp với âm cuối /-k/ Ởmột số nơi cư trú của người Chăm tại Ďồng bằng sông Cửu Long, người
ta thậm chí còn nói âm cuối /-k/ thành /-ʔ/ Để minh họa những sự biếnĎổi như trên, chúng tôi xin lấy những ví dụ cụ thể Ďể giải thích như sau:
từ akhar [akʻar] (chữ viết) giờ Ďã Ďồng âm với từ akhan [akʻan] (váy);ngap [ŋap] (làm) và ngâk [ŋak] (dấu âm chữ Chăm) giờ cũng Ďã Ďồng
âm với nhau và cùng chuyển thành âm Ďọc là [ŋaʔ]
Tiếng Chăm không có thanh Ďiệu với tác dụng khu biệt nghĩa của
từ, nhưng lại tồn tại 2 âm vực khác nhau là âm vực cao và âm vực thấp.Nói một cách Ďơn giản: những âm tiết với phụ âm Ďầu hữu thanh thườngthuộc về âm vực thấp, Ďường nét phát âm có xu hướng hạ xuống; ngượclại, những âm tiết bắt Ďầu một phụ âm vô thanh hoặc là phụ âm zero thì
Trang 16thường Ďược phát âm thành âm vực cao.
1.1.2 Hệ thống ngữ âm tiếng Chăm cổ
Trong bài văn này, chúng tôi Ďang bàn về tiếng Chăm cổ, nên chúngtôi Ďã tái lập lại bảng âm vị Chăm cổ Muốn làm rõ vấn Ďề này, trước hếtchúng tôi phải nắm Ďược các ngôn ngữ nằm trong chi nhanh Chamic, rồithông qua so sánh, Ďối chiếu với cả phân tích các cặp âm vị tương ứnggiữa các ngôn ngữ có liên quan, mới có thể tái lập lại hệ thống ngữ âmtiếng Chăm cổ
Chi nhánh Chamic bao gồm các ngôn ngữ cụ thể như tiếng Chăm,tiếng Haroi (còn Ďược gọi là tiếng Hroi, tiếng Hrway hoặc là tiếng BahnarChăm), tiếng Tsat, tiếng Roglai (Tiếng Roglai: phương ngữ Bắc Roglai lạiĎược gọi là tiếng Radlai, tiếng Adlai, tiếng Rayglay hoặc là tiếng Raglai.Dân số sử dụng ngôn ngữ này theo thống kê của năm 1981 là 20,000 người),tiếng Hồi Huy (Tiếng Hồi Huy 林林: thứ ngôn ngữ này Ďược sử dụng chủ yếutại các vùng thôn làng lâm cận thành phố Tam Á 林林, Đảo Hải Nam, TrungQuốc, chủ thế sử dụng là cộng Ďộng dân tộc thiểu số bản xứ mà theo ĎạoHồi Theo số liệu thống kê của năm 1990, nhân số sử dụng tiếng Hồi Huy làkhoảng 5000 ngườ) và tiếng Aceh (Tiếng Aceh: ngôn ngữ này chủ yếu Ďược
sử dụng tại Khu tự trị Aceh trên Ďảo Sumantra, In-Ďô-nê-xi-a Gồm cả 7loại phương ngữ, tổng dân số sử dụng khoảng 3 triệu người (1999).) Còntiếng Chăm ở Việt Nam có 2 vùng phương ngữ và Ďược Ďặt tên theo vi tríphân bố của chúng là Chăm
12
Trang 17Đông và Chăm Tây Các ngôn ngữ trong chi nhánh Chamic như tiếngAceh có quan hệ gần gũi với các ngôn ngữ thuộc chi nhánh Melayu,Ďương nhiên, trong bản thân tiếng Aceh vốn có nhiều từ là trực tiếp vaymượn từ Bahasa Indonesia, chính vì vậy lại có nhà nghiên cứu cho ý kiếnrằng nên xếp tiếng Aceh vào chi nhánh Sunda, bên cạnh Ďó là có học giảcho rằng tiếng Aceh vẫn thuộc chi nhánh Malayo-Chamic.
Sau Ďây chúng tôi xin nêu ra bảng âm vị phụ âm tiếng Chăm cổ táilập trước
Việt
cung
(mũi tên)
13
Trang 18lúaĎámườilớnbản tay
Thông qua bảng trên chúng tôi có thể thấy rằng p-, pl- và pr- trong tiếng Chăm có tương ứng với p-, pl- và pr- trong tiếng Gia-lai, và tương ứng với p- và m- trong tiếng Rode Vì vậy, Chăm cổ: *p- > Chăm hiện Ďại: p-.
Tương tự như vậy, chúng tôi so sánh t- với th- trong tiếng Chăm hiện
Ďại với lại các ngôn ngữ tương quan, nhờ Ďó có thể tìm thấy lai nguyêncủa hai phụ âm này, cụ thể như sau:
Việt
chémsợitayĎấtcon chuộtxươngchết
Trang 19Sama là ―toho ʔ ‖ và trong tiếng Molbog lại là ―tu ʔ ug‖(Tiếng Molbog: thứ
ngôn ngữ này chủ yếu Ďược sử dụng tại quần Ďảo Balabac thuộc pin, dân số sử dụng 7,000 người (1987).) Như vậy thì rõ ràng chúng tôi có
Phi-líp-thể rút ra quan hệ là: Chăm cổ: *t- > Chăm hiện Ďại: t- Đồng thời, th-trong tiếng Chăm hiện Ďại có nguồn gốc là *t-h- từ Proto Chamic (Chăm-Aceh).
Về bảng Ďối chiếu từ vựng cơ bản giữa Chăm cổ với Proto Malayo
- Polynesian thì xin tham thảo phần phụ lục ở cuối bài
1.1.3 Quy tắc hợp âm
Trong văn bản Chăm cổ, nếu gặp phải hai từ vay mượn từ tiếng Phạn(hoặc là Phạn ngữ Chăm hóa) Ďứng cạnh nhau, thì phải xem xét chúng cóphù hợp quy tắc hợp âm hay không? Nếu có thì phải biến Ďổi âm Ďọc củachúng, rồi dẫn Ďến thay Ďổi ký hiệu chữ viết Vì vậy, khi chúng tôi bắt ĎầuĎọc một tấm bia nào Ďó, trước hết phải tìm ra các chỗ hợp âm Ďể tách rờinhau các từ Ďược viết gắn vào nhau, như vậy mới có thể giúp cho việc
Trang 20lý giải Ďúng nội dung của văn bản bia ký.
Khái niệm hợp âm không chỉ riêng trong hệ thống Phạn ngữ có, trongcác ngôn ngữ hiện Ďại như tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Georgia, tiếng Mông CổĎều có hiện tượng quy tắc này; nhưng trong các ngôn ngữ trên, quy tắc hợp
âm trong Phạn ngữ là phức tạp nhất, Ďcùng với Ďó, Ďặc Ďiểm Ďã ĎượcChăm cổ kế thừa một cách Ďầy Ďủ và hoàn hảo Sau Ďây chúng tôi xin trìnhbày một cách khái quát về hệ thống hợp âm trong tiếng Chăm cổ
Muốn Ďi vào quy tắc hệ thống hợp âm, trước hết chúng tôi nhất thiếtphải biết Ďến khái niệm ―các Ďẳng cấp nguyên âm‖ trong Chăm cổ.Thực ra khái niệm này cũng bắt nguồn từ Phạn ngữ Trong chương Ďầu
tiên ―Atha saṃjñāḥ (Thuật ngữ)‖ của ―Śivasūtra (Kinh Śiva)‖ (lại Ďược gọi là ―Maheśvarasūtra‖), sau này Ďược ―Aṣṭādhyāyī‖ trích dẫn có câu rằng: ―a i uṇ; ṛ ḷ k; e oṅ; ai auc‖ Câu này Ďã thể hiện rất rõ các tính chất khác nhau của từng tiểu nhóm nguyên âm trong tiếng Phạn Nhưng lý giải
theo câu trong kinh văn là Ďiều không dễ dàng, vì vậy có thể dựa vàobảng sau Ďể minh họa:
Nguyên âm Ďơn
Nguyên âm nhị hợp (guṇa)
Nguyên âm tam hợp (vṛddhi)
Các phương thức hợp âm trong Chăm cổ có thể tổng kết thành hai
loại lớn: Hợp âm trong câu (Sandhi) và Hợp âm nội tại Sau Ďây là những
quy tắc cơ bản của hai loại hợp âm này:
16
Trang 21Hợp âm trong câu:
- Hai nguyên âm Ďơn giản cùng loại khi ghép vào nhau thì trở thành
nguyên âm dài, như: devī iva (như Thiên nữ) sẽ Ďược viết thành devīva;
- Nguyên âm a khi kết hợp với i hoặc ī sẽ trở thành e, như: śrī [ca]mpeśvara (Cát tường Chăm-pa Tự tại thiên vương) do campa và
iśvara cấu thành; pāṇḍurāṅgeśvara ( 林林林林 Tân Đồng Long Vương) Ďược cấu tạo từ pāṇḍurāṅga và iśvara;
- Ký hiệu visarga sẽ Ďược giữa nguyên khi Ďứng trước các âm s, ṣ và
ś như: namaś śivāya (Nam mô thần śiva) sẽ Ďược cấu thành bởi namaḥ cùng với śivāya Có khi ký hiệu visarga lại Ďược Ďồng hóa với các âm s,
ṣ và ś như: namaśivāya (Nam mô thần śiva);
- Nếu âm cuối của từ trước là phụ âm vô thanh, sau Ďó Ďi với mộtphụ âm hữu thanh không bật hơi, thì phụ âm vô thanh Ďó sẽ Ďược hữu
thanh hóa, như: tad [ga]cchantu (hãy Ďi như vậy), nguyên vị của tad là tat, vì chịu sự ảnh hưởng của phụ âm g ở Ďằng sau, nên phụ âm t bị hữu
thanh hóa Cũng trong bia ký C.150 này, chúng tôi có thấy nếu phụ âm vô
thanh Ďứng trước các âm s, ṣ và ś thì vẫn sẽ Ďược giữ nguyên, như: etat sarvvaṁ (vậy tất cả).
1.2 Hệ thống chữ viết
Từ bia ký bằng Ďá Ďược khai quật tại làng Võ Cạnh, thành phố NhaTrang Ďến tài liệu chép tay hiện Ďại, chúng tôi có thể thấy rằng văn tự(chữ viết) của tiếng Chăm Ďã có nhiều lần thay Ďổi Nói chung ký hiệu
Trang 22văn tự của Chăm ngữ vay mượn từ tiếng Phạn; cụ thể hơn là từ một dạng
ký tự viết tay ở cao nguyên Decan thuộc miền Nam Ấn Độ; dạng thứcvăn tự Ďó qua Ďường biển Ďược lan truyền Ďến vương quốc Phù Nam(hiện nay, so sánh ký hiệu chữ viết trên bia ký Ďược khai quật tại ViệtNam và Cam-pu-chia, chúng ta vẫn có thể phát hiện Ďược sự giống nhaugiữa chúng), cuối cùng Ďược người Chăm vay mượn và cải tiến dùng Ďểghi chép ngôn ngữ của mình
Akhar Hayap còn gọi là chữ Chăm cổ, tức là chữ viết trên bia ký từ
thế kỷ thứ II Ďến thế kỷ thứ XV Ðây là hệ thống ký tự xuất phát từ chữcái Devanagari của Phạn ngữ, nhưng Ďược chỉnh sửa lại theo phong cách
mỹ thuật của vương quốc Chăm-pa Chính vì thế, người Ấn Ðộ chuyên
về văn hóa Phạn ngữ không thể Ďọc Ďược chữ viết Chăm cổ trên bia kýChăm-pa Ðây là nét dạng của Akhar Hayap viết vào thế kỷ IX (Xem Quátrình cải biến ký tự chữ viết Chăm từ thế kỷ thứ IV Ďến năm 1978 củaPGS.TS Po Dharma (Viện Viễn Đông Pháp)):
Oṁ namas sivāya, Sakarāja 788 kāla yāng Po Ku Srī Paramesvaravarmmadeva punah guhā nay
(Xin kính cẩn Ðấng Siva, vào năm saka 788 (=866 dương lịch), dưới
18
Trang 23triều Ďại Po Ku Sri Paramesvaravarmmadeva, hang Ďộng này Ďã Ďượctrùng tu lại)
Trước văn khắc trên khoảng hai trăm năm, chúng tôi Ďã phát hiệnC.87 Bia ký Mỹ Sơn B6 ( C.87 Bia ký Mỹ Sơn B6: bia ký này Ďược pháthiện gần cánh tây của công trình B6 tại Mỹ Sơn năm 1903 trong các Ďợtkhai quật do EFEO tiến hành Ấn bản này do Arlo Griffiths thực hiện,dựa trên các bản dập của EFEO.):
[C.87 Bia ký Mỹ Sơn B6]
Sớm hơn về trước Ďó, trong văn khắc bia ký Đông Yên Châu, chúngtôi có thể tìm thấy dạng chữ còn cổ xưa hơn, nguyên thủy hơn, Ďơn giảnhơn
Trang 24[bia ký Đông Yên Châu]
(1)Siddham! Ni yang nāga punya putauv Ya urāng sepuy di ko (2)kurun ko jemā labuh nari svarggah Ya urāng paribhū d[i] ko (3)kurun saribu thun ko davam di naraka, d(e)ngan tijuh kulo ko
20
Trang 25CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG NGỮ PHÁP CHĂM CỔ QUA
VĂN KHẮC BIA KÝ 2.1 Các từ loại trong Chăm cổ
Nói về hệ thống ngữ pháp của Chăm cổ, trước hết không thể khôngnhận xét về lớp từ vựng của ngôn ngữ này Bởi vì từ nguyên của từ vựngtiếng Chăm cổ có thể Ďược chia thành hai lớp (Nguồn gốc PC và nguồngốc vay mượn tiếng Phạn) rất rõ ràng, còn về tỷ lệ sử dụng giữa hai loạinguồn gốc này lại gần như tương Ďương Ngoài ra, từ tiếng Phạn Ďượcnhập vào tiếng Chăm cổ thường không còn Ďược giữ nguyên, tức làkhông tuân theo quy luật biến Ďổi hoặc nguyên tắc biến hình vốn có trongtiếng Phạn nữa, thậm chí một số thực từ sau khi Ďược vay mượn vàotiếng Chăm cổ còn Ďược ngữ pháp hóa thành một từ cố Ďịnh trong nhữngvăn bản nhất Ďịnh Những hiện tượng như trên Ďã giúp chúng tôi có thểkhẳng Ďịnh rằng, trong một khoảng thời gian lâu dài, hiện tượng xen kẽ
từ vựng và ngữ pháp giữa tiếng Phạn và tiếng Chăm cổ Ďã làm cho chúng
ta không thể tách riêng Ďược hai ngôn ngữ trong một văn bản Đây chính
là lý do tại sao sau Ďây chúng tôi sẽ nêu ra khái niệm hệ thống ngữ phápPhạn - Chăm hỗn hợp (Hybrid Sanskrit-Chamic grammatical system).Khái niệm này chúng tôi sẽ trình bày cụ thể hơn ở chương sau; sau Ďâytôi xin trình bày trước các bộ phận cấu thành hệ thống ngôn ngữ Chămcổ
Trang 262.1.1 Danh từ
Từ loại danh từ trong tiếng Chăm cổ giống như tiếng Phạn, có ba
giống: giống Ďực (Masculine), giống trung (Neuter) và giống cái (Feminine)
(Trong quyển ―Đại Đường Tây Vực Ký 林林林林林‖ của cao tăng Huyền Trang
林林, gọi ba giống này là Nam thanh 林林, Nữ thanh 林林 và Trung gian thanh 林
林林.), ba số: số ít, số Ďôi và số nhiều; trong mỗi một số lại có chia ra thành
tám cách: chủ cách (Nominative), trực bổ cách hoặc Ďược gọi là trực tiếp
thụ cách (Accusative), công cụ cách (Instrumental), gián bổ cách hoặc Ďược
gọi là vị cách (Dative), nguyên ủy cách hoặc Ďược gọi là Ďoạt cách hay li
cách (Ablative), sở hữu cách hoặc Ďược gọi là thuộc cách (Genitive), vị trí
cách (Locative) và hô cách (Vocative) (Trong một số sách tham khảo về
tiếng Phạn, lại gọi tám cách này bằng tên khác: Thể cách 林林, nghiệp cách 林
Trang 27Sở hữu cách
Vị trí cách
Hô cáchNhưng trong tuyệt Ďại Ďa số trường hợp, từ căn kết thúc bằngnguyên âm sẽ không biến hình theo quy tắc trên, trong Ďó nhất là những
từ căn kết thúc bằng nguyên âm -a Từ căn số ít với nguyên âm -a là loại
duy nhất có hình thức riêng khi biến Ďổi theo Nguyên ủy cách
Trong tiếng Phạn, trực bổ cách có thể dùng riêng chỉ ―xu hướnghoặc mục Ďích của hành vi‖ mà không cần giới từ Ďi kèm Nhưng trongtiếng Chăm cổ, vì vốn có khá nhiều hình thức giới từ kế thừa từ PC, hoặc
là vay mượn từ các ngôn ngữ xung quanh, cho nên tác dụng của cách sửdụng Trực bổ cách này gần như không tìm thấy trong các văn bản Chẳng
hạn như: ― nau taṁl nagara yvan ( nau taṁl nagara yvan : C.43 Bi
ký Drang Lai; niên Ďại: không sớm hơn năm 1435 sau Công nguyên Mặt
A, hàng (15).)‖ (ra tới lãnh thổ của vua Việt); Vị trí cách cũng tương tự
như vậy: ― di (ma)ddhamagṛāma ( di (ma)ddhamagṛāma : như trên.
Mặt A, hàng (20))‖ (ở Trung Thành)
Công cụ cách, chỉ phương thức, công cụ, nguyên nhân hoặc Ďi kèm.Khi danh từ dạng công cụ cách dùng Ďể chỉ nguyên nhân thì thường sẽ
Ďi cùng với các giới từ cố Ďịnh Chẳng hạn như: ―tena
campāpuraparameśvarena mahārājādhirājena (tena
campāpuraparameśvarena mahārājādhirājena : C.81 Bi ký Mỹ Sơn B1;
Trang 28niên Ďại: năm 712 sau Công nguyên Mặt B, hàng (1))‖ (bởi chúa tể vĩ
Ďại của thành phố Chăm-pa, chúa tể của các vị vua vĩ Ďại).
Nguyên ủy cách chỉ hành vi xảy ra từ Ďâu, hoặc là lý do, tiền Ďề của
hành vi Sở hữu cách chỉ quan hệ sở hữu, nhưng có khi nó lại có tác dụng
gần như Gián bổ cách Vị trí cách chỉ vị trí của sự vật hoặc hành vi Ďang
xảy ra Nhưng trong tiếng Chăm cổ, trường hợp sử dụng Vị trí cách cũng
rất ít, vì tự thân tiếng Chăm cổ Ďã có nhiều từ chỉ quan hệ vị trí
Nếu như từ căn danh từ giống Ďực kết thúc bằng nguyên âm -a, thì
sẽ Ďược biến Ďổi như sau:
aśva (ngựa)
Chủ cáchTrực bổ cáchDụng cụ cáchGián bổ cáchNguyên ủy cách
Sở hữu cách
Vị trí cách
Hô cách
Từ căn danh từ giống trung kết thúc bằng nguyên âm -a cũng tương
tự như trên, nhưng nếu là giống cái, thì lại có bảng sau:
Trang 29kanyā (con gái)
24
Chủ cáchTrực bổ cáchDụng cụ cáchGián bổ cáchNguyên ủy cách
Sở hữu cách
Vị trí cách
Hô cách
Nếu như là từ căn danh từ giống Ďực kết thúc bằng nguyên âm -i
hoặc -u, thì lại có:
kavi (nhà thơ); paśu (súc vật)
Chủ cáchTrực bổ cáchDụng cụ cáchGián bổ cách
Trang 30Sở hữu cách
Vị trí cách
Hô cách
Trang 31Tương tự như vậy, từ căn danh từ giống cái và giống trung kết thúc
bằng nguyên âm -i và -u lại có:
śuci (thuần khiết); mṛdu (cái mềm)
Chủ cáchTrực bổ cáchDụng cụ cáchGián bổ cáchNguyên ủy cách
Võ Cạnh, Nha Trang, ngoài nét chữ gần giống nhữ chữ viết Brāhmī ra, từĎược sử dụng trong nội dung hầu như là từ của tiếng Phạn, cho nên có nhà
Trang 3226
Trang 33Ďá vẫn chưa có một chút dấu hiệu nào cho rằng nó Ďã Ďược bản Ďịa hóa.Trong bài báo cáo ―K‘ouen-louen‖ của G.Ferrand có bàn Ďến hiện tượngngôn ngữ Phạn hóa ở vùng Java, và trường hợp này cũng có thể ứng dụng
Ďể giải thích hiện tượng ngôn ngữ Phạn hóa Ďược diễn ra ở Chăm-pa.Chúng tôi xin trích một Ďoạn như sau:
― trong tiếng Java hầu hết không có từ nào có thể đảm nhiệm chức năng chứa đựng và quảng bá những kiến thức về xã hội, đạo đức và tôn giáo, vì họ vẫn chưa có nhận thức về những điều trên Vì vậy, trong mọi lĩnh vực, họ đều phải vay mượn và sử dụng ngôn ngữ riêng của Ấn
Độ Những từ vựng được vay mượn đó, sau hai nghìn năm vẫn được sử dụng tại Quần đảo Indonesia.‖
Trong bia ký muộn hơn Ďó, chúng tôi có thể phát hiện Ďã có nhiều
từ Chăm cổ Ďược xen kẽ giữa các câu tiếng Phạn Một ví dụ Ďiển hình làbia ký Đông Yên Châu, tấm bia này Ďược khai quật tại vùng QuảngNam; nội dung bia ký không dài, chỉ có ba hàng:
(1)Siddhaṃ! Ni yaṇ nāga punya putauv Ya urāṇ sepuy di ko
(2)kurun ko jemā labuh nari svarggah Ya urāṇ paribhū d[i] ko (3)kurun saribu thun ko davaṃ di naraka, d(e)ngan tijuh kulo ko
(Vinh quang! Vương quốc này Ďã có vua Là chúa tể của tất cả, cótất cả báu vật của thiên giới Vua này thống trị vương quốc và bảy mảnh Ďất cả một ngàn năm)
Trong văn bản trên, các từ như ―ni, yaṇ, punya, putauv, di, nari ‖
Trang 34Ďều là những từ Ďược gọi là ―thuần Chăm‖ Thực ra chúng tôi dùngkhái niệm ―thuần Chăm‖ ở một mức Ďộ cẩn trọng Vì trong vốn từChăm cổ, từ tiếng Phạn với từ ―thuần Chăm‖ không có quan hệ loại trừ;nhưng ở Ďây chúng tôi vẫn tạm dùng như thế Ďể thuận tiện cho luận văn.
Như vậy trong Ďó, ―ni‖ và ―yaṇ‖ Ďều chỉ ―Ďây, này‖, hai nghĩa này vẫn Ďược giữ nguyên trong Bahasa Indonesia, ―ini‖ và ―yang‖ Chăm hiện Ďại vẫn dùng từ ―ni‖ Ďể chỉ ―này, Ďây‖; nhưng ―yaṇ‖ thì chỉ còn lại nghĩa thứ hai là chỉ ―thần linh‖ Từ ―putauv‖ nguyên dạng là
―putau‖, âm ―-v‖ là theo quy tắc hợp âm trong Phạn ngữ mà Ďược thêm vào ở phần cuối Ďể nối liền ―ya‖ ―Putau‖ có nghĩa là ―vua‖, ở Ďây
chúng tôi thấy rằng, nếu tiếp tục theo quy tắc biến hình cách danh từtrong Phạn ngữ, thì từ này bắt buộc phải theo quy tắc biến hình giống cái
mà biến Ďổi thành ―putauḥ (chủ cách)‖ hoặc ―putāvaṃ (trực bổ cách)‖.
Vẫn là từ này, trong bia ký Ďược khắc trên tường trong nội bộ tháp Chăm
Po Nagar ở Nha Trang, có hai hàng ghi rằng:
(6)niy kāla rāja yāṁ pov ku vijaiya śrī
(7)harivarmmadeva putau di nagar caṁpā
(trong thời gian này, có Vua Śrī Harivarmmadeva (ŚrīHarivarmmadeva: dịch theo nghĩa là Cát Tường Nhật Trụ Thiên Vương 林林林林林林), tên Yang Po Ku (Yang Po Ku: tên này Ďược ghi trong sử thư TrungQuốc là 林林林), thống trị vương quốc Chăm-pa tại Vijaiya)
Chúng tôi có thể thấy rằng trong hai Ďoạn bia ký Ďược trích ở phần
28
Trang 35trên, từ ―putau‖ Ďều giữ Ďược nguyên dạng chứ không biển Ďổi theoquy tắc của cách Đó chính là một Ďặc Ďiểm chung của lớp danh từ
―thuần Chăm‖
Một số danh từ trong Chăm cổ Ďến bây giờ vẫn còn Ďược ngườiChăm sử dụng trong hàng ngày, có lẽ nó sẽ xảy ra chuyển Ďổi ngữ âm,Ďây là một hiện tượng không thể tránh Ďược trong quá trình phát triển
ngôn ngữ trong dòng chảy lịch sử Từ ―putau‖ trên Ďến bây giờ vẫn dùng Ďể chỉ ―vua‖, nhưng phải Ďọc thành ―pataw‖.
Như vậy, lớp danh từ ―thuần Chăm‖ có tính chất giống như các ngônngữ khác thuộc họ Nam Đảo, tức là lớp danh từ này không xảy ra biếnhình
2.1.2 Đại từ
2.1.2.1 Đại từ nhân xưng
Các Ďại từ như mad, asmad, tvad, yusmad trong tiếng Phạn hầu hết
chưa Ďược tìm thấy trong bia ký Chăm-pa Thực ra trong phạm vi khảo sátcủa chúng tôi (các bia ký Chăm-pa Ďược bảo tồn tại Bảo tàng Ďiêu khắcChăm Đà Nẵng), chúng tôi cũng chưa tìm thấy bất cứ một bia ký nào cóchứa Ďựng Ďại từ tiếng Chăm cổ Nhưng Ďiều này vẫn không thể tuyệt Ďốiphủ nhận rằng trong tiếng Chăm cổ không tồn tại hệ thống Ďại từ Vì trongtiếng Chăm hiện Ďại, hệ thống Ďại từ không những Ďầy Ďủ mà còn kháphong phú Đương nhiên, theo kết quả khảo sát của chúng tôi, hệ thống Ďại
từ hiện nay chắc chắn có một số từ chịu sự ảnh hưởng hoặc vay
Trang 36mượn từ ngôn ngữ khác Cụ thể như sau:
ngôi thứ I
ngôi thứ IIngôi thứ III[Bảng hệ thống Ďại từ trong tiếng Chăm hiện Ďại]
Trong Ďại từ ngôi thứ I, chúng tôi có chứng cứ tin rằng ―kaw, hulun‖ là hai từ trức tiếp kế thừa từ Chăm cổ, hoặc càng Ďẩy sớm hơn là PMP Vì trong bảng Ďối chiếu PC với PMP, chúng tôi Ďã tái lập ―kaw‖ thành ―*i-aku‖, hiện nay trong Bahasa Indonesia và Melayu vẫn giữ nguyên hình thức hậu tố ―-ku‖ chỉ cách sở hữu của ngôi thứ I số ít Còn nguyên âm Ďôi ―-aw‖ trong Chăm hiện Ďại có sự tương ứng với ―-ɘw‖ trong tiếng Gia-lai, ―-ăw‖ trong tiếng Rode và ―-ɛɘ‖ hoặc ―-o‖ trong tiếng Aceh, chúng có nguồn gốc chung là Ďơn vị nguyên âm mở ―*u‖
trong Proto Aceh - Chamic‖, và Ďiều này là dĩ nhiên
Còn từ ―hulun‖, vốn chỉ nghĩa ―nô lệ‖, tương Ďương với ―hamba‖
trong Melayu
Từ ―dahlak‖ có khả năng là một từ thuần Chăm, nhưng trong văn bản bia ký chúng tôi hiện vẫn chưa tìm Ďược từ này Từ ―drei‖ có vẻ bắt nguồn từ ―dṛiṁ‖ trong bia ký C.43 Drang Lai, nhưng Ďiều này vẫn chưa
30
Trang 37Ďược xác Ďịnh Theo Finot, ― chúng tôi Ďã tìm thấy hiện tượng nguyên
âm hóa kép (ṛ+ṁ), trừ khi chúng ta giả Ďịnh rằng sự khác biệt giữa chữ viết
quanh các ký hiệu r và ṛ phụ thuộc hoàn toàn vào ngữ cảnh.‖
Xét về ngôi thứ II, ―hă‖ Ďược tái lập lại trong Chăm cổ là ―*hi‖ Nguyên âm ―i‖ và ―a‖ vẫn thường xuyên thay thế lẫn nhau trong các
phương ngữ hiện Ďại của tiếng Chăm, Ďiều này không có gì Ďáng ngạc
nhiên Còn ―mei‖ có khả năng là vay mượn từ một ngôn ngữ thuộc PMP khác Vì trong PMP, chúng tôi có từ ―*i-kamu‖, từ này Ďược diễn biến thành hậu tố ―-mu‖ trong Bahasa Indonesia và Melayu hiện Ďại; thậm chí trong phương ngữ Trung của tiếng Việt, Ďại từ ―mi‖ cũng có khả
năng Ďã vay mượn từ Ďây
Còn trong ngôi thứ III, từ ―nyu‖ hiển nhiên là kế thừa từ ―ṅu‖ trong Chăm cổ, tương Ďương với hậu tố ―-nya‖ trong Bahasa Indonesia
và Melayu hiện Ďại Trong bia ký C.64 Mảnh Ďá vỡ ở Chiên Đàn (C.64Mảnh Ďá vỡ ở Chiên Đàn: Ďược khai quật từ Tháp Chiên Đàn, tỉnhQuảng Nam; mảnh Ďá nguyên khối 240x80 cm; mảnh vỡ còn ở nguyênchỗ 94x190x80 cm; mảnh vỡ ở Bảo tàng 51x85x44 cm Niên Ďại Ďượccông bố là thể kỷ 11 sau công nguyên.) chúng tôi có thể tìm thấy từ nàyĎược xuất hiện hai lần ngay ở phần Ďầu:
[A.1] hetu śanāpa di pūrvvakāla maṁn ma(d)[ā urāṁ] [B.1] (kā) ṅu
putau di nagara campa ṅu paliṅyak [naga](ra) urā(ṁ) ṅan
(Do một lời nguyện trong quá khứ, vì lý do Ďó Ďã có một kẻ trở
Trang 38thành vua của Ďát nước Chăm-pa, người Ďã tước Ďoạt Ďất nước )
Ở vị trí ngôi thứ III, còn có một Ďại từ Ďặc biệt là chuyển hóa từ
danh từ phổ thông dùng Ďể chỉ nể trọng, tôn vinh, Ďó là từ ―ra‖, có khi cũng Ďược viết thành ―uraṁ‖ Dạng thức cổ hơn là ―uraṁ‖, vốn chỉ
―người, người dân‖, có từ tương ứng cùng nguồn trong Bahasa
Indonesia và Melayu là ―urang‖, trong tiếng Aceh là ―orang‖; tiếng Chăm hiện Ďại vẫn bảo lưu cả hai dạng thức này là ―ra‖ và ―urang‖ (người, thợ), như ―ra acaryak‖ (người hướng dẫn) hoặc ―urang yuer‖ (người Việt) Mà từ ―uraṁ‖ Ďược tìm thấy ra trong bia ký cũng rất
nhiều, vẫn như trong bia ký Đông Yên Châu:
(1) Siddhaṃ! Ni yaṇ nāga punya putauv Ya urāṇ sepuy di ko
(2)kurun ko jemā labuh nari svarggah Ya urāṇ paribhū d[i] ko (3)kurun saribu thun ko davaṃ di naraka, d(e)ngan tijuh kulo ko
(Vinh quang! Vương quốc này Ďã có vua Là chúa tể của tất cả, cótất cả báu vật của thiên giới Vua này thống trị vương quốc và bảy mảnhĎất cả một ngàn năm)
Trong văn bản trên, ―uraṁ‖ Ďược viết thành ―urāṇ‖, nhưng chúng
tôi vẫn rất dễ dàng nhận ra Ďược
2.1.2.2 Đại từ chỉ vật
Trong Chăm cổ, chúng tôi Ďã tìm Ďã hai Ďại từ rõ ràng dùng Ďể chỉ
vật Đó là ―nī‖ và ―nan‖ ―nī‖ dùng Ďể chỉ ―Ďây, này‖, chỉ vật gần chỗ người nói; còn ―nan‖ thì chỉ nơi hoặc Ďồ xa người nói Vẫn là trong bia
32
Trang 39ký Ďược khắc trên tường tháp Chăm ở Po Nagar, Nha Trang, tỉnh KhánhHòa:
(5)di śakarāja 935 nī
(Trong năm Saka 935 này )
Rất rõ ràng ở Ďây ―nī‖ là một từ hạn Ďịnh thời gian Ďi trước.
Đương nhiên, trong các bia ký Ďã Ďược giải Ďọc, chúng tôi cũng Ďãtìm thấy một số Ďại từ chỉ vật khác trong Chăm cổ vốn là vay mượnthẳng từ Phạn ngữ, như sau:
[Mặt B](1)kośamukuṭobhayaṃ tat kīrtthistambhadvayopameyam iva
(2)yāvac candrādityau tāvad idaṃ susthitaṃ jagati
(Cầu mong Ďôi giáp và vương miện này, như là một biểu tượng củahai trụ cột về danh tiếng của ngày, lưu lại trên mặt Ďất cũng lâu dài nhưMặt trời và Mặt trăng)
Trong văn bản trên, từ ―tat‖ là vay mượn trực tiếp từ Phạn ngữ ―tad‖,
do quy tắc hợp âm thì biến hình thành ―tat‖, ở Ďây nghĩa là ―Ďó‖.
Ngoài ra trong Chăm cổ còn tồn tại một loại Ďại từ như ―si‖ và ―yaṁ‖
có khả năng cùng nguôn gốc với Melayu là ―si‖ và ―yang‖(cũng có
ý kiến cho rằng Ďây là mạo từ), nhưng Ďiều này chúng tôi tạm chưa tìm thấy trong văn bản bia ký
2.1.3 Số từ
Hệ thống số từ chúng tôi chưa tìm thấy Ďược một từ nào trong bất kể bia ký nào trong phạm vi khảo sát của bài văn này Nhưng thông qua tài
Trang 40liệu khác với phương pháp so sánh lịch sử, chúng tôi vẫn có thể tái lập lại
hệ thống số từ trong Chăm cổ:
tiếng Việt
mộthaibabốn
nămtrăm[Bảng tái lập hệ thống số từ trong Chăm cổ]
Trong bảng trên có hai từ khả nghi là ―*dua-lapan‖ và lapan‖, vì cấu trúc của chúng hiển nhiên có bao gồm hai phần là ―dua‖ (hai), ―sa‖ (một) cộng với ―lapan‖ (Ďến giờ chúng tôi vẫn chưa hiểu ý
―*sa-của ―lapan‖ cụ thể là gì) Trước khi bàn về vấn Ďề này, chúng tôi xin nêu
ra một bảng khác Ďược trích từ quyển ―Nghiên cứu phân loại các ngônngữ Nam Đảo林林林林林林林‖ của Ngô An Kỳ, tác giả này cũng có nhắc Ďếnmột số Ďặc trưng chung của các ngôn ngữ Nam Đảo:
tiếng Motutiếng Tôn-ga