1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu phương tiện ngôn ngữ biểu thị ý nghĩa khen chê trong mục ý kiến bạn đọc của báo vnexpress net​

125 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 13,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra còn có các công trình khác như: Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Quang 1999 Một số khác biệt giao tiếp Việt – Mỹ trong cách thức khen và tiếp nhận lời khen; bài viết “Khen, ch

Trang 1

ĐẠI HỌC QU ỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG

TÌM HIỂU PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ BIỂU THỊ Ý NGHĨA KHEN – CHÊ TRONG MỤC

Ý KIẾN BẠN ĐỌC CỦA BÁO VNEXPRESS.NET

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QU

ỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG

TÌM HIỂU PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ BIỂU THỊ Ý NGHĨA KHEN – CHÊ TRONG MỤC

Ý KIẾN BẠN ĐỌC CỦA BÁO VNEXPRESS.NET

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành ngôn ngữ học

Mã số: 60220240

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS Đinh Kiều Châu

Hà Nội – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn củaPGS.TS Đinh Kiều Châu Những tư liệu và số liệu trong luận văn là trungthực do tôi thực hiện Đề tài nghiên cứu và các kết luận chưa được ai côngbố

Học viên cao học

Nguyễn Thị Hương Giang

Trang 4

Xin chân thành cảm ơn.

Học viên cao học

Nguyễn Thị Hương Giang

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu: 7

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn: 7

5 Phương pháp nghiên cứu: 7

6 Bố cục của luận văn: 8

PHẦN NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9

1.1 Một số cơ sở lí thuyết từ góc độ truyền thông 9

1.1.1 Khái quát về truyền thông 9

1.1.2 Mô hình truyền thông và yếu tố phản hồi trong chu trình truyền thông 10

1.1.3 Phương tiện truyền thông xã hội và Báo điện tử 12

1.1.4 Công chúng truyền thông và công chúng truyền thông báo điện tử 16

1.2 Giao tiếp truyền thông 17

1.2.1 Chức năng của giao tiếp truyền thông 17

1.2.2 Đặc thù của giao tiếp truyền thông 18

1.3 Một số cơ sở lí thuyết từ góc độ ngôn ngữ 21

1.3.1 Ngôn ngữ đánh giá 21

1.3.2 Hành vi ngôn ngữ 23

1.3.3 Đặc điểm hành vi khen và hành vi chê 25

1.4 Tiểu kết 27

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ PHẢN HỒI TRONG CHUYÊN MỤC GIẢI TRÍ BÁO VNEXPRESS.NET BIỂU ĐẠT Ý NGHĨA KHEN 29

2.1 Một số phương tiện ngôn ngữ biểu đạt ý nghĩa khen 29

Trang 6

2.1.1 Trên phương diện từ ngữ 29

2.1.2 Trên phương diện phát ngôn 38

2.1.3 Trên phương diện hành động ngôn từ 43

2.2 Một vài nhận xét về đặc điểm ngữ dụng của lời khen 55

2.2.1 Chiến lược khen 55

2.2.2 Chức năng của lời khen 58

2.3 Tiểu kết 2 61

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ PHẢN HỒI TRONG CHUYÊN MỤC GIẢI TRÍ BÁO VNEXPRESS.NET BIỂU ĐẠT Ý NGHĨA CHÊ 62

3.1 MỘT SỐ PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ BIỂU ĐẠT Ý NGHĨA CHÊ 62

3.1.1 Trên phương diện từ ngữ 62

3.1.2 Trên phương diện phát ngôn 69

3.1.3 Trên phương diện hành động ngôn từ 72

3.2 Một vài nhận xét về đặc điểm ngữ dụng của lời chê 87

3.2.1 Chiến lược chê 87

3.2.2 Chức năng của lời chê 90

3.3 Tiểu kết 3 91

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 99

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Khảo sát câu theo mục đích phát ngôn 43

Bảng 2.2: Khảo sát biểu thức ngữ vi khen 53

Bảng 2.3: Khảo sát chiến lƣợc khen 57

Bảng 3.1: Khảo sát câu theo mục đích phát ngôn 69

Bảng 3.2: Khảo sát biểu thức chê gián tiếp 83

Bảng 3.3: Khảo sát biểu thức ngữ vi chê 85

Bảng 3.4: Khảo sát chiến lƣợc chê 90

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ câu theo mục đích phát ngôn 43

Biểu đồ 2.2: Biểu đồ thể hiện cấu trúc lời khen trong tiếng Việt 54

Biểu đồ 2.3: Biểu đồ thể hiện chiến lƣợc khen 58

Biểu đồ 3.1: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ câu theo mục đích phát ngôn 70

Biểu đồ 3.2: Biểu đồ thể hiện biểu thức chê gián tiếp 84

Biểu đồ 3.3: Biểu đồ thể hiện cấu trúc lời chê trong tiếng Việt 86

Biểu đồ 3.4: Biểu đồ thể hiện chiến lƣợc chê 90

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xã hội ngày càng phát triển thì chúng ta càng không thể phủ nhận vaitrò và sự chi phối của truyền thông trong cuộc sống dựa trên những tươngtác mạnh mẽ giữa nguồn truyền thông (nơi xuất phát thông tin) và đíchtruyền thông (công chúng)

Phương tiện truyền thông hiện đại cho phép thu hẹp khoảng cách giữanguồn tin và công chúng, từ đó tạo ra nhu cầu thay đổi trong nghiên cứutruyền thông là hướng đến sự cân bằng, hài hoà Nhìn lại lịch sử truyềnthông chúng ta thấy dường như trong quá khứ các tương tác truyền thôngthường theo hướng một chiều và tập trung nhiều vào yếu tố nguồn gắn vớicác thông điệp còn yếu tố đích lại vô cùng mờ nhạt Với điều kiện pháttriển mới cả về mặt lí thuyết lẫn thực tế truyền thông, các nghiên cứu vềyếu tố đích dần trở thành yêu cầu cần thiết và mang tính tất yếu

Báo điện tử là phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại và phổ biếnhiện nay Đây cũng là phương tiện cho phép công chúng thể hiện đượcnhững tương tác (phản hồi) của mình một cách nhanh chóng, trực tiếp, đadạng và ít bị giới hạn Tuy nhiên cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa cónhiều công trình nghiên cứu về nội dung này

Trên cơ sở những định hướng cụ thể nêu trên, trong phạm vi thực hiệncủa luận văn thạc sỹ chúng tôi xin lựa chọn một nghiên cứu trường hợpnhỏ, với mong muốn góp phần làm rõ thêm khía cạnh nghiên cứu mới vềngôn ngữ truyền thông hiện còn nhiều khoảng trống Luận văn có tên đề tài

“Tìm hiểu phương tiện ngôn ngữ biểu thị ý nghĩa khen – chê trong mục Ý kiến bạn đọc của báo Vnexpress Net”.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Để phục vụ việc nghiên cứu của đề tài, qua quá trình thu thập và tìmhiểu về mặt lí thuyết cũng như thực tế, chúng tôi nhận thấy hướng nghiêncứu phản hồi trong truyền thông từ góc ngôn ngữ còn rất hạn chế

Trang 10

Tuy vậy, đã có những công trình dù không trực tiếp liên quan đến đếnnội dung trên nhưng là những tư liệu quý, là cơ sở có tính nền tảng giúp đỡchúng tôi trong việc định hướng nghiên cứu của mình Có thể kể đến một

số công trình nổi bật sau:

Luận án của tác giả Đỗ Thị Bình với tên gọi Đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa và ngữ dụng của lời khen, lời chê trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh) (2012) Luận án này đã đưa ra những tổng kết về mặt cấu trúc cũng

như ngữ nghĩa và ngữ dụng của một phát ngôn khen và chê Đối tượngnghiên cứu của luận án được lấy từ quan sát ghi nhận thực tế trong đờisống, các tác phẩm văn học, truyện, sách, giáo trình dạy tiếng, từ điển hiệnđại, … Bên cạnh đó, luận án này có sự so sánh và đối chiếu với tiếng Anh

Từ đó, tác giả có thể rút ra được những điểm tương đồng và dị biệt về hai

nền văn hoá Việt và Mỹ Công trình nghiên cứu có tên: Sự kiện lời nói chê – cấu trúc và ngữ nghĩa của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến” công bố năm

2016 của tác giả đã đề cập đến các vấn đề về hành vi chê dưới góc độ cấutrúc (phân tích ngữ vi chê trực tiếp, gián tiếp, vấn đề lịch sự trong phátngôn chê, hành vi chê trong cách sử dụng của người Việt), từ đó rút rađược những lý thuyết và ứng dụng về cách chê của người Việt

Luận án Ngôn ngữ đánh giá của các giám khảo trên truyền hình thực tế trong một số chương trình giải trí tiếng Việt (có liên hệ đến tiếng Anh) của

tác giả Trần Thị Thanh Hương (2018), trong đó tác giả đã làm rõ về tìnhhình nghiên cứu về ngôn ngữ đánh giá trong và ngoài nước và đặc biệttrong luận án có đề cập về vấn đề quyền lực trong giao tiếp

Ngoài ra còn có các công trình khác như: Luận án tiến sỹ của tác giả

Nguyễn Quang (1999) Một số khác biệt giao tiếp Việt – Mỹ trong cách thức

khen và tiếp nhận lời khen; bài viết “Khen, chê, lịch sự” (2009) của tác giả

Trần Kim Hằng; hay bài viết Một số quan điểm và nghiên cứu về quyền lực

trong giao tiếp ngôn từ của tác giả (2008) Nguyễn Quan Ngoạn…

Trang 11

Trên đây là những lịch sử vấn đề mà chúng tôi thu thập và tìm hiểuđược Nhờ vào những công trình trên chúng tôi có thể hiểu sâu sắc hơn cáchành vi khen và hành vi chê từ các phương diện như: cấu trúc, ngữ nghĩahay ngữ dụng Từ đó là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu về các phương tiệnbiểu hiện của độc giả báo mạng điện tử.

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: nội dung phản hồi có ý nghĩa khen và chê củađộc giả trong chuyên mục Giải trí của báo Vnexpress

- Phạm vi nghiên cứu: phần “Ý kiến bạn đọc” thuộc chuyên mục

“Giải trí” từ tháng 1/2018 đến tháng 8/2018.

- Số lượng phản hồi đã thu thập: hơn 300 ý kiến từ hơn 300 tài khoản thực tế xuất hiện trong phần Ý kiến bạn đọc

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:

* Luận văn đặt mục đích chính là tìm hiểu các phương tiện ngôn ngữbiểu thị ý nghĩa khen – chê của công chúng trong sự gắn bó với một loạithông tin đặc thù trên phương tiện truyền thông có tính tương tác cao làbáo điện tử

* Luận văn bao gồm những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau :

- Tìm hiểu và hệ thống hóa các nội dung lý thuyết có liên quan đến đềtài từ hai góc độ: truyền thông và giao tiếp truyền thông

- Miêu tả, phân tích nội dung đã thu thập từ góc độ ngữ nghĩa và ngữdụng

- Trên cơ sở đó cố gắng đưa ra một số giải thích và bàn luận về vấn

đề này

Luận văn được triển khai theo hướng quy nạp với các phương pháp được trình bày dưới đây :

- Miêu tả, phân tích ngôn ngữ học với tư liệu đã được thu thập

Trang 12

- Bên cạnh đó luận văn cũng sử dụng thủ pháp thống kê, phân loạinhằm xử lý các phản hồi thu được, thu thập tài liệu (tìm và thu thập các tưliệu lí thuyết và thực tế liên quan đến đề tài) làm căn cứ cho việc trình bày các số liệu, bảng biểu và biểu đồ.

6 Bố cục của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, luận văn này gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết.

Chương 2: Một số đặc điểm phương tiện ngôn ngữ phản hồi trong chuyên mục Giải trí báo Vnexpress.net biểu đạt ý nghĩa khen.

Chương 3: Một số đặc điểm phương tiện ngôn ngữ phản hồi trong chuyên mục Giải trí báo Vnexpress.net biểu đạt ý nghĩa chê.

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Một số cơ sở lí thuyết từ góc độ truyền thông

1.1.1 Khái quát về truyền thông

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay chúng ta không thể phủ nhận tầmquan trọng và ảnh hưởng của truyền thông

Thực tế cho thấy, khái niệm truyền thông hiện nay là một khái niệm mở

và được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau (do truyền thông phủ sóngtrên tất cả các mặt như: kinh tế, giáo dục, văn hóa, chính trị…) Có nhiềuquan điểm về khái niệm truyền thông, chẳng hạn như:

Theo PGS TS Nguyễn Văn Dũng “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người với nhau để gia tăng hiểu biết lẫn nhau và hiểu biết về môi trường xung quanh, nhằm thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm hoặc của cộng đồng xã hội nói chung, đảm bảo sự phát triển bền vững” [8] Theo quan điểm của PGS.TS Đinh Kiều Châu, “Truyền thông là một quá trình (liên tục) trao đổi thông tin (nhân loại), chia sẻ thông tin, tạo

sự liên kết lẫn nhau, để dẫn tới sự hiểu biết, thay đổi trong nhận thức và hành vi của đối tượng một cách tự nguyện, tiệm tiến và bền vững” [5]

Từ cơ sở trên theo chúng tôi, Truyền thông là một quá trình liên tục trao

đổi thông tin trong mọi đơn vị thời gian, truyền thông giúp gia tăng sự hiểubiết, thiết lập được các mối quan hệ với nhau dựa trên sự tương tác haichiều giữa yếu tố nguồn và yếu tố đích Từ đó truyền thông nhằm đến mụcđích thay đổi nhận thức, điều chỉnh hành vi trên nguyên tắc không bắtbuộc, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh Để làm được như vậy rất cần tính

nhẫn nại, bền bỉ,“mưa dầm thấm lâu” của các nhà làm truyền thông.

Trang 14

1.1.2 Mô hình truyền thông và yếu tố phản hồi trong chu trình

truyền thông

a Mô hình truyền thông

Năm 1948, H Lasswell nhà chính trị học người Mỹ đã đưa ra môhình truyền thông một chiều khá là đơn giản Tuy nhiên, mô hình này phùhợp với việc truyền tải những thông tin khẩn cấp dù chưa thấy có sự xuấthiện của yếu tố phản hồi

(Trích nguồn: Cơ sở lý luận báo chí truyền thông [26] )

Sau đó, C Shannon trên cơ sở nghiên cứu vấn đề điều khiển học và lýthuyết thông tin đã bổ sung thêm 2 yếu tố là nhiễu (noise) và phản hồi(Feedback) Cụ thể mô hình này như sau:

Trang 15

Mô hình của C Shannon là mô hình truyền thông hai chiều mềm dẻo.

Sự xuất hiện của yếu tố phản hồi (feedback) đã khắc phục được những hạnchế của Lasswell Mô hình này thể hiện được tính tương tác bình đẳng và

sự chuyển hóa giữa vai trò của chủ thể và đối tượng truyền thông Mô hìnhnày phù hợp với điều kiện hiện nay khi đời sống xã hội ngày càng đượcdân chủ hóa

* Các yếu tố cơ bản của truyền thông

Như chúng ta đã biết, truyền thông là một quá trình diễn ra theo thờigian và trong một không gian nhất định (không gian xác định hoặc không

gian mở) bao gồm các yếu tố sau: nguồn (S), thông điệp (M), kênh truyền thông (C), người nhận (R) hay công chúng, nhóm đối tượng truyền thông, hiệu lực truyền thông, hiệu quả truyền thông.

Trong luận văn này, để liên quan trực tiếp đến đề tài chúng tôi xinphép tập trung tìm hiểu yếu tố phản hồi trong truyền thông

b Yếu tố phản hồi trong chu trình truyền thông

Theo Từ điển Tiếng Việt, phản hồi: 1 “trở về, quay trở lại” 2 “tác dụng trở lại”3 “liên hệ ngược” [27, tr.739]

Theo Từ điển Hoàng Phê, phản hồi: “trở về, quay trở lại/ tác dụng trở lại/ đáp lại, trả lời lại một cách chính thức” [24, tr 986]

Phản hồi trong truyền thông (dù tích cực hay tiêu cực) đã thể hiệnđược tính liên kết, tương tác, qua lại hai chiều giữa “nguồn” và “đích”.Nhờ phản hồi “nguồn” có thể hiểu được những tâm tư, nguyện vọng của

“đích” và từ đó định vị lại mình nhằm đưa những sản phẩm tốt nhất raphục vụ Như vậy “đích” đã trở nên “quyền lực” hơn dựa trên cơ hội có thểchấm điểm, đánh giá về những sản phẩm mà “nguồn” đưa ra

Đây cũng chính là điểm khác biệt nổi trội, vượt bậc của phương tiệntruyền thông hiện đại so với truyền thống ở chỗ cho phép các phản hồi diễn

ra nhanh hơn, trực tiếp hơn và dân chủ hơn

Trang 16

Phản hồi trong

(những ý kiến bình

khác (hành động, cử

truyền thông có thể được thểluận, đánh giá của độc giả)chỉ )

hiện qua kênh ngôn ngữ

và qua những hình thức

1.1.3 Phương tiện truyền thông xã hội và Báo điện tử

1.1.3.1 Đặc điểm của phương tiện truyền thông xã hội

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay chúng ta không thể phủ nhận tầmquan trọng và ảnh hưởng của phương tiện truyền thông xã hội

Ngoài những tính năng chung của phương tiện truyền thông, phươngtiện truyền thông xã hội nổi bật với các đặc điểm sau [17]:

- Tính siêu liên kết xã hội: thuộc tính này giúp cho NGUỒN có thể

cung cấp và kết nối thông tin một cách nhanh chóng trên diện rộng và xoánhoà được ranh giới địa lý Khác với truyền thông truyền thống là chỉ phục

vụ được cá nhân/quy mô hẹp, truyền thông xã hội có thể phục vụ được tất

cả các mối quan hệ xã hội đan xen nhau

- Tính đồng đẳng giữa nguồn phát và người nhận: Nếu truyền thông

truyền thống là quá trình truyền thông như một đường thẳng (một chiều),

người nhận tin không/ít có cơ hội để có thể phản hồi các quan điểm củamình và phải tiếp nhận tin tức một cách thụ động Truyền thông xã hội đãkhắc phục được những hạn chế đó bằng cách yếu tố “phản hồi” xuất hiện.Khi bên NGUỒN đưa nguồn tin ra, thì độc giả có quyền nhận xét, bìnhluận, đánh giá về tính đúng – sai, hợp lý – bất hợp lý từ NGUỒN Từnhững lẽ đó, yếu tố nguồn phát sẽ ngày càng hoàn thiện hơn, hiểu đượcđộc giả cần gì và muốn gì và đồng thời người nhận cũng thấy được vị thếcủa mình trong mỗi tin tức và giúp họ hứng thú hơn trong việc tìm kiếmthông tin cũng như xây dựng văn hoá đọc

- Môi trường tự do thông tin (tính mở) và thông tin khó kiểm soát:

điểm cộng cho đặc điểm này đó là độc giả tự do thoải mái trình bày quanđiểm suy nghĩ, tình cảm của mình, hay nói cách khác là “tự do ngôn luận”đạt mức tối đa Tuy nhiên, điểm trừ lớn nhất đó là tính xác thực của thông

Trang 17

tin Bởi vì rộng quá, vì không thể bảo đảm hết được chất lượng của cácbình luận nên người đọc sẽ rơi vào trạng thái “nửa thật, nửa mơ” khôngbiết nên lựa chọn và đánh giá tin tức nào là xác thực, tin tức nào là “lá cải”.

Do vậy, yêu cầu của những người tham gia sử dụng báo mạng điện tử phải

có một tri thức nền nhất định về vấn đề đó để có thể trở thành một “độc giảthông minh” trong thế giới “nhiễu” thông tin như hiện nay

- Tính nặc danh, khả năng bảo mật giới hạn và sự không đồng nhất của người dùng: Chúng ta sẽ không biết người bình luận là ai? Họ làm gì?

Nhưng họ có thể thoải mái thể hiện quan điểm của mình Tính nặc danhnày vừa có mặt tích cực và vừa có mặt tiêu cực Tích cực thể hiện ở chỗ:người bình luận có thể “thoải mái” thể hiện quan điểm cá nhân của mình

mà không bị lộ danh tính nhưng tiêu cực chính là sự xuất hiện của các “anhhùng bàn phím” Khi các bình luận “sinh ra” không còn mang tính chất xâydựng, minh bạch mà xuất hiện dựa trên “tâm lý đám đông” hoặc mang tính

cá nhân thì có thể gây ra ảnh hưởng xấu đến đối tượng tiếp nhận

1.1.3.2 Trang báo Vnexpress – một điển hình về báo mạng điện tử tiếng Việt cùng chuyên mục Giải trí

a Báo điện tử:

Theo https://mastercms.org báo mạng điện tử là loại hình báo chí đượcthiết kế xây dựng như một website dựa trên nền tảng Internet Báo mạngđiện tử được biên soạn xuất bản bởi toà soạn điện tử, giúp mọi người đọcbáo trên điện thoại, máy tính khi có Internet

Từ đó, chúng ta có thể thấy được tính tương tác hai chiều chính là điểmkhác biệt so với các trang báo truyền thống

b Vài nét về trang BMĐT Vnexpess:

Vnexpress hay Tin nhanh Việt Nam là một trang báo điện tử tại ViệtNam Đây là tờ báo đầu tiên ở Việt Nam không chỉ có bản điện tử mà còn

có bản in giấy [35]

Trang 18

Ra đời ngày 26/12/2001 Mỗi ngày báo xuất bản trung bình 500 tin, bài.Các lĩnh vực được đọc nhiều gồm: Thời sự, Thế giới, Pháp luật, Giải trí, Thểthao, Kinh doanh…Báo có các trang chuyên biệt về nội dung như: Ngôisao.net tập trung vào thông tin giải trí; lone.net cung cấp tin tức giới trẻ.

Ví dụ về hình ảnh của báo:

Sau đây là phần tự giới thiệu của trang báo này:

(Trích nguồn:

https://vnexpress.net/vnexpress-tron-18-tuoi-3886132.html):

Với hơn 4 triệu bình luận được xuất bản trong năm, VnExpress tiếp tục

là báo tiếng Việt nhận nhiều ý kiến bạn đọc nhất Độc giả tương tác và gắnkết, tham gia vào quá trình hoạt động thông tin là điều đặc biệt

ở VnExpress Bạn đọc đã xây dựng cộng đồng cho chính mình trên trangbáo - nơi họ được bày tỏ quan điểm, đóng góp ý kiến về các chủ đề nóng bỏngtrên tinh thần xây dựng, hợp tác

Với những nỗ lực, năm 2018, VnExpress có hơn 41 triệu người đọcthường xuyên (user), tiếp tục giữ vị trí báo tiếng Việt nhiều người đọc nhất.Thời gian độc giả truy cập báo (time-on-site) tăng gần 10%; lượng người

Trang 19

truy cập vào VnExpress 200 lần mỗi tháng tăng trên 46%, theo GoogleAnalytics”

Vnexpress hiện nay có hơn 230 nhà báo, làm việc tại trụ sở chính ở HàNội, văn phòng ở thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương trên cả nước.Công nghệ số ngày nay tạo ra những điều kiện trải nghiệm hoàn toàn mới.Kết hợp sáng tạo giữa công nghệ với nội dung chất lượng cao Vnexpresshiện nay luôn là tờ báo lựa chọn hàng đầu của người Việt

Ở góc độ sự kiện: hầu hết các sự kiện mà độc giả tham gia phản hồi luôngắn liền với các nhân vật nổi tiếng Một số sự kiện nổi bật như: hoạt động

đời tư của các ngôi sao, các sự kiện về nhan sắc, các sản phẩm ra mắt công chúng (MV âm nhạc, các thiết kế thời trang, các sản phẩm sách…)

Với chủ đề thông tin như vậy đã chi phối đến cách đón nhận cũng như tham gia phản hồi của các độc giả trong chuyên mục này

Ví dụ về hình ảnh của chuyên mục:

Trang 20

1.1.4 Công chúng truyền thông và công chúng truyền thông báo

điện tử

1.1.4.1 Khái niệm công chúng

Theo từ điển Hoàng Phê “Công chúng”: đông đảo người đọc, người xem, người nghe trong quan hệ với tác giả, diễn viên” [27, tr.282]

Như vậy, chúng tôi có thể hiểu như sau: Công chúng là những ngườicập nhật, tiếp nhận và sử dụng thông tin do yếu tố “nguồn” cung cấp vàthao tác cuối cùng công chúng sẽ đưa ra những ý kiến đánh giá của cá nhânmình để tương tác với “nguồn” trên tinh thần tự do và tự chủ

1.1.4.2 Đặc điểm của công chúng truyền thông

Công chúng trong truyền thông là có những đặc điểm cơ bản sau [14]:

Thứ nhất, công chúng báo mạng điện tử có trình độ nhận thức và văn

hóa nhất định so với mặt bằng chung của xã hội

Thứ hai, công chúng báo mạng điện tử có điều kiện và khả năng sử

dụng công nghệ hiện đại

Thứ ba, công chúng báo điện tử có khả năng tự nhận biết và xử lý

thông tin

Thứ tư, công chúng báo mạng điện tử thường có quỹ thời gian hạn hẹp.

Trang 21

Trong thực tế cuộc sống hiện nay, báo mạng điện tử là một phầnkhông thể thiếu của các tầng lớp như: học sinh, sinh viên, nhân viên vănphòng, tầng lớp trí thức… Các thông tin về: kinh tế, giáo dục, văn hoá,thể thao… được mọi người đọc và biết qua internet khi mà điện thoạithông minh và máy tính giờ đã trở thành vật “bất ly thân” đối với nhữngđối tượng này và đọc báo mạng dường như giờ đây đã trở thành một thóiquen sinh hoạt mới trong cuộc sống hiện đại ngày nay.

1.2 Giao tiếp truyền thông

1.2.1 Chức năng của giao tiếp truyền thông

Giao tiếp được coi là một trong những chức năng cơ bản của ngôn ngữ.Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể trao đổi, giao lưu, truyền tải thôngtin với nhau Các thông tin giao tiếp được hoạt động theo nguyên tắc đachiều, nhiều kênh mang tính chất trao đổi, hợp tác và cùng chia sẻ lợi íchcủa các đối tác Thông tin quan trọng phải là thông tin có tính mới, tính cậpnhật, chịu sự sàng lọc và lựa chọn của con người [11]

Trong phần này, chúng tôi xin làm rõ 3 chức năng chính đó là: chức năngthông tin, chức năng tác động và chức năng liên nhân

- Chức năng thông tin:

Chức năng thông tin: có nhiều nhánh nhưng quan trọng nhất là trao đổithông tin và chuyển giao thông tin Nguồn phát sẽ truyền đạt một thôngđiệp đến người nghe, quá trình này được xem như là sự chuyển giao thôngtin Sau đó, người nghe sẽ phát ra những tín hiệu khác nhau để đánh giá vềthông điệp mà nguồn đưa ra Chức năng thông tin vừa giúp mở đầu giaotiếp vừa là sự luân phiên trao đổi lượt lời về sau của các vai trong quá trìnhtham gia giao tiếp Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta có thể nhận đượcnhiều thông tin ở các loại hình khác nhau Cụ thể như, những thông tinmang tính chất sinh hoạt đời thường sắc thái sẽ khác biệt so với nhữngthông tin mang tính chất hành chính – công vụ Tuỳ vào tính chất, đặc điểm

Trang 22

khác nhau của thông báo mà người nhận cũng tự tìm những cách phản hồi phù hợp.

- Chức năng tác động:

Truyền thông sẽ tác động đến nhận thức của đông đảo công chúng trong

xã hội nhằm thông tin, chia sẻ, tập hợp, thuyết phục để tham gia giải quyếtcác vấn đề kinh tế, văn hoá, xã hội đã và đang được đặt ra [36] Đây làmột trong những chức năng hết sức quan trọng khi mà truyền thông tácđộng trực tiếp đến nhận thức, từ nhận thức sẽ quyết định đến hành động vàứng xử của công chúng

Truyền thông có tính hai mặt về thông tin: mặt tích cực và mặt tiêu cực Rõràng, mặt tích cực sẽ hướng dư luận đến những điều hay, điều tốt đẹp Tuynhiên, nếu hình ảnh truyền thông truyền đi mang tính tiêu cực thì sẽ tạo ranhững ảnh hưởng xấu đến những nhóm công chúng nhất định trong xã hội

Do vậy, ngày nay khi xuất hiện quá nhiều những mạng lưới thông tin khácnhau, độc giả cần phải “tỉnh táo” nhằm “chắt lọc” những thông tin đúng vàphù hợp

- Chức năng liên nhân:

Chức năng liên nhân nó không chỉ là mối quan tâm của các nhà ngônngữ học mà còn là sự quan tâm của các nhà tâm lý học, xã hội học, nhânhọc, văn hoá… “Liên nhân” có thể hiểu nôm na là sự liên kết, gắn bó giữacon người với con người Công cụ để biểu đạt quan hệ liên nhân đó làngôn ngữ Nhiệm vụ của ngôn ngữ trong trường hợp này là làm sao conngười có thể thoả mãn nhu cầu giao tiếp với nhau, đó là sự thấu hiểu, sẻchia và khả năng tương tác qua lại Chức năng liên nhân giúp thoả mãn vàhài hoà các lợi ích khác nhau trong các “giao dịch” xã hội

1.2.2 Đặc thù của giao tiếp truyền thông

Giao tiếp truyền thông được xem là một loại hình giao tiếp vừa mang đặcđiểm của những cuộc giao tiếp thông thường nhưng cũng có nhưng nét riêngnổi bật Điều này được thể hiện trọng một số yếu tố mang tính đặc

Trang 23

thù như: tính tương tác, tránh áp đặt và vấn đề quyền lực trong giao tiếp truyền thông.

a Tính tương tác

Tương tác trong truyền thông là một quá trình trao đổi thông tin giữanguồn phát (cơ quan ngôn luận/cá nhân) đến đích (độc giả) Công cụ thựchiện tương tác là ngôn ngữ, ngoài ra còn có các yếu tố phi ngôn ngữ Nếunhư trước đây, khi báo với một số phương tiện truyền thông truyền thốngthì tính tương tác chưa thể hiện một cách rõ ràng và trực tiếp Khi đó,NGUỒN luôn đóng vai trò chủ động, còn vị thế của ĐÍCH thì chưa thực sựtạo được thế cân bằng với nguồn

Ngày nay do sự phát triển của công nghệ tính tương tác đã được phủ sóngmột cách toàn diện và nhanh chóng nên độc giả ngày càng thấy rõ được vaitrò của mình, quan hệ giữa yếu tố nguồn và đích trở nên bình đẳng và chủđộng Nhờ vậy, thông tin đưa ra ngày càng được nhìn nhận một cách đadiện và chính xác cao hơn

b Tránh áp đặt

Tránh áp đặt (Don’t impose), đặc thù này được thể hiện rõ nhất trongquan điểm của R Lakoff, (Don’t impose) bao gồm: người nghe có thểhành động theo suy nghĩ, ý muốn của bản thân mình; người nói không đưa

ra hoặc không thỉnh cầu những quan điểm riêng tư; tránh sử dụng tiếnglóng, ngôn từ thô lỗ…Tiếp đến, sử dụng trong giao tiếp quy phạm, phù hợpvới ngữ cảnh, vai vế trong giao tiếp Bên cạnh đó, chú ý sử dụng thêm cácbiểu thức rào đón như: xin phép, xin lỗi, từ ngữ để lựa chọn, hay các từcảm thán…để đạt hiệu quả cao trong giao tiếp [22]

Trong giao tiếp truyền thông, đặc biệt là truyền thông dựa trên phương tiệntruyền thông hiện đại, tránh áp đặt được thể hiện qua các bình luận của độcgiả khi mà họ có quyền đưa ra những suy nghĩ, đánh giá của mình một cáchnhanh chóng, thẳng thắn và trực tiếp Bên cạnh đó, họ có quyền lựa chọnnhững thông tin (bài viết) mà họ quan tâm, tìm hiểu mà không phải chịu sự

Trang 24

kiểm soát hay can thiệp Tính tránh áp đặt là một trong những minh chứngcho việc tự do ngôn luận của độc giả và cũng nhờ vậy chúng ta đã nhậnđược rất nhiều những ý kiến trái chiều khi một chủ đề nào đó được đưa ra.

c Quyền lực trong giao tiếp truyền thông

Mối quan hệ giữa khái niệm quyền lực và giao tiếp ngôn từ đã có rấtnhiều định nghĩa, ý kiến khác nhau của các học giả trong nước cũng nhưnước ngoài như: Leech (1983); Thomas (1985); Brown và Levinson(1987); Holmes (1992); Ng và Bradac (1993); Ng (1995); Nguyễn Quang(2002,2003); Holmes và Stubbe (2003); Locher (2004); Nguyễn QuangNgoạn (2004)

Nghiên cứu về quyền lực trong giao tiếp ngôn ngữ [22] các tác giả đã chỉ ra như sau: Thomas coi quyền lực và các chuẩn mực xã hội là hai yếu

tố quan trọng trong sản sinh và diễn giải các phát ngôn Brown và Levinson

cũng thừa nhận vai trò của quyền lực quan hệ bên cạnh vai trò của khoảngcách xã hội (social distance) và mức độ áp đặt (ranking of imposition)trong việc lựa chọn lịch sự trong giao tiếp Hay trong công trình nghiên cứu

về khía cạnh quyền lực trong giao tiếp ngôn từ của mình, Ng và Bradac đã

lập luận rằng “ngôn ngữ ảnh hưởng đến và cũng bị ảnh hưởng bởi quyềnlực” và “ngôn ngữ là công cụ để đạt được sự ảnh hưởng”

Theo quan điểm của GS.TS Nguyễn Văn Khang [22] “mặc dù mối quan

hệ giữa con người trong xã hội rất đa tạp nhưng có thể quy làm hai loạichính: quan hệ quyền lực (power) và quan hệ thân hữu (solidarity) Quan

hệ quyền lực là quan hệ trên – dưới, sang – hèn, tôn – khinh….” Bên cạnh

đó tác giả còn cho rằng yếu tố quyền lực sẽ chịu sự chi phối của nhiều nhân

tố như: truyền thống dân tộc, kết cấu xã hội, ý thức cộng đồng và sự tươngứng với khoảng cách về nhân than cũng như mức độ thân sơ giữa nhữngngười giao tiếp với nhau

Theo tác giả Trần Thị Thanh Hương [21], dẫn theo quan điểm của tácgiả Spencer – Oater (1992), Thomas (1995) những biểu đạt về quyền lực

Trang 25

gồm ba nhóm quyền lực: quyền hợp pháp, quyền quy chiếu và quyềnchuyên gia để xác định và lý giải thêm những đặc điểm trong các bình luận,đánh giá của độc giả trên báo mạng điện tử Quyền hợp pháp: có thể dựatrên “vai xã hội”, “tuổi tác” và địa vị Quyền quy chiếu biểu hiện khi mộtngười có quyền lực đối với người khác (bởi vì khi anh ta và cô ta làm chongười khác thấy ngưỡng mộ và muốn được như mình) Quyền chuyên gia,điều này chỉ áp dụng cho một số người họ đứng đầu và hiểu biết về mộtlĩnh vực cụ thể nào đó.

Do vậy khi nghiên cứu về sự tương tác của yếu tố nguồn đến với đíchchúng ta không thể bỏ qua được vấn đề này Cụ thể, trong luận văn nàychúng tôi tìm hiểu cụ thể về nội dung phản hồi có ý nghĩa khen chê Chủthể thực hiện hai hành vi ngôn ngữ này chính là độc giả

So sánh một chút với các chương trình truyền hình thực tế có các giámkhảo nhận xét chẳng hạn, chúng ta sẽ thấy xuất hiện nhiều hành vi ngôn ngữnhưng chắc chắn trong đó sẽ có hai hành vi nổi bật là khen và chê Chu trìnhhoạt động của nó sẽ là quyền lực từ giám khảo đến với đối tượng tiếp nhận và

sau đó đối tượng tiếp nhận sẽ tiếp tục phản hồi ngược lại với giám khảo (hình

thức trực tiếp và mặt đối mặt) Đây là sự tương tác luân phiên cho đến khi

thoả mãn được cả hai bên thì mới dừng lại Chúng tôi đưa ra ví dụ này đểmuốn lưu ý và nhấn mạnh về mặt hoạt động của độc giả trên báo mạng điện

tử có một chút khác biệt ở đây là: quyền lực từ độc giả không tác động đến đốitượng tiếp nhận hành vi khen và chê một cách trực tiếp Với nguyên lý nàychúng ta có thể khẳng định quyền lực của độc giả trên báo mạng điện tử là rấtmạnh mẽ và ít bị chi phối bởi các yếu tố bên ngoài khác

1.3 Một số cơ sở lí thuyết từ góc độ ngôn ngữ.

1.3.1 Ngôn ngữ đánh giá

a Khái niệm:

Theo Hunston (2011): “thực tế, có thể nói rằng tính chủ quan và giá trị

tư tưởng thẩm thấu thậm chí ở những diễn ngôn khách quan nhất Chúng ta

Trang 26

có thể lập luận hợp lý rằng mọi văn bản và mọi ngôn từ đều có tính đánh giá, đến mức mà bản thân hiện tượng này bị khuất lấp và bị thay thế đơn

giản bằng ngôn ngữ Tiếp đến Hunston dẫn theo quan điểm của Du Bois

(2007) đã viết: “Nó (ngôn ngữ đánh giá) bộc lộ thái độ đối với một người, tình huống hoặc thực thể khác và mang tính chủ quan, vừa có vị trí trong

hệ thống giá trị xã hội”[21]

Từ hai khái niệm trên, chúng tôi nhận thấy ngôn ngữ đánh giá là mộthình thức giao tiếp ngôn ngữ thực tế sinh động chủ yếu bộc lộ biểu kiến vàbiểu cảm gắn với thái độ chủ quan của người nói về một người, một vậthoặc một thực thể nào đó

b Ngôn ngữ phản hồi trên báo mạng điện tử - một biểu hiện thực tế của ngôn ngữ đánh giá

Ngôn ngữ phản hồi của công chúng/độc giả trên truyền thông báo mạngđiện tử thuộc vào lĩnh vực ngôn ngữ đánh giá và thường được thể hiện trênhai thái cực, có thể là: khen/ chê, tán thành/phản đối…

Nội dung của phản hồi là phản ứng của đích đối với nguồn Do tính chấtcủa phương tiện, do địa vị của đích trong trường hợp này ngôn ngữ mangđậm tính chủ quan của đích với những đặc điểm chính sau:

- Mang phong cách khẩu ngữ tự nhiên: Điều này thể hiện trong cách trả lời

tự nhiên, hóm hỉnh của công chúng theo phong cách riêng của từng cá nhân kếthợp với câu rào đón, đưa đẩy làm tăng sự gần gũi, “suồng sã” trong

giao tiếp

Bên cạnh đó, sắc thái biểu cảm cao thể hiện qua việc sử dụng các từ và biểuthức tình thái Tình thái từ “đó là một tập hợp từ không lớn về mặt sốlượng (thường là các trợ từ và thán từ) nhưng cái tập hợp ấy lại có một đặctrưng rất riêng về bản chất ngữ pháp ngữ nghĩa”, “Ý nghĩa của các từ tìnhthái tập trung vào việc diễn đạt tình cảm, thái độ của người nói trong mốiquan hệ với nội dung câu và sự đối chiếu với thực tại, nhờ đó tình thái từgóp phần quan trọng vào việc hình thành mục đích phát ngôn của các câu”

Trang 27

[10] Do vậy theo chúng tôi, tình thái từ được xem là linh hồn, điểm nhấnkhác biệt của các phát ngôn Nhờ có tình thái từ mà các phát ngôn trở nên

sinh động và đa nghĩa hơn

- Mang đậm tính phân loại đánh giá: Ngôn ngữ phản hồi là kết quả của quá

trình thụ đắc thông điệp mà đích gửi đến nguồn Do vậy kết quả này có sự

phân loại cao Có thể là tán thành/ tẩy chay, ủng hộ/ phản đối, chia sẻ/ thờ

ơ… Do vậy về mặt ngôn ngữ chúng ta sẽ bắt gặp các cách nói như: “tôi nghĩ em không có số làm ngôi sao”, “cô này thi hoa hậu cái gì”….

1.3.2 Hành vi ngôn ngữ

Hành động ngôn từ (speech art): là một khái niệm được John Austinđưa ra đầu tiên Theo Austin, khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động(hành động bằng lời) mà phương tiện là ngôn ngữ Dựa trên “Giáo trìnhNgôn ngữ học đại cương – tập 2, Đỗ Hữu Châu [4], chúng tôi xin trình bàynhững nét chính như sau:

* Phát ngôn ngữ vi và biểu thức ngữ vi:

Phát ngôn ngữ vi là phát ngôn - sản phẩm của một hành vi ở lời nào đókhi hành vi này được thực hiện một cách trực tiếp, chân thực Phát ngônngữ vi có một kết cấu lõi ở lời tạo ra nó và kết cấu lõi ấy được gọi là biểuthức ngữ vi Từ đó, Austin có chia ra làm biểu thức ngữ vi tường minh,biểu thức ngữ vi nguyên cấp và biểu thức ngữ vi hàm ẩn (gián tiếp)

- Biểu thức ngữ vi tường minh:

Biểu thức ngữ vi tường minh là những phát ngôn có dấu hiệu hình thức

để nhận rõ hành động mà người phát đang thực hiện Dấu hiệu để nhậnbiết, là dựa vào các động từ ngữ vi như: khuyên, mời, thề, hứa, tuyên bố

Ví dụ:

- Cô ấy hứa sẽ học hành chăm chỉ

- Nó thề sẽ không bao giờ cá cược bóng đá nữa.

- Biểu thức ngữ vi nguyên cấp:

Trang 28

Biểu thức ngữ vi nguyên cấp là phát ngôn tuy có hiệu lực ở lời nhưng không có động từ ngữ vi được dùng với chức năng ngữ vi Để nhận biết được người nghe phải dựa vào tình huống giáo tiếp cụ thể và các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời mà ngôn ngữ đó cung cấp Ví dụ:

- Buổi học hôm nay đến đây là kết thúc

- Anh nên bỏ thuốc lá đi.

- Biểu thức ngữ vi gián tiếp:

Điểm giống nhau giữa biểu thức ngữ vi khen nguyên cấp và biểu thứckhen gián tiếp là đều không có động từ ngữ vi Biểu thức ngữ vi gián tiếpkhông thể hiện qua lớp vỏ ngôn ngữ mà buộc người đọc phải từ suy luận

và diễn giải hoặc biểu thức dạng này sẽ được thể hiện dưới hình thức củamột hành vi khác Đây là một trong những phương thức tạo ra tính mơ hồ

về nghĩa trong lời nói

- Động từ ngữ vi:

Trong các động từ nói năng có những động từ đặc biệt, đó là nhữngđộng từ được thực hiện trong chức năng ngữ vi và được gọi là động từ ngữ

vi (performative verb – động từ ngôn hành) Đây là động từ mà khi phát âm

ra chúng cùng với biểu thức ngữ vi (có khi không cần biểu thức ngữ vi đi kèm)

là người nói thực hiện luôn cái ở lời do nó biểu thị

Astin nhận xét rằng có nhiều loại động từ ngữ vi khác nhau Jenny

Thomas đã giản lược về hệ thống hoá lại thành bốn nhóm động từ ngữ vi

mà Austin đã đưa ra bao gồm:

- Động từ ngữ vi siêu ngôn ngữ (metalinguistic performative): đây là động

từ ngữ vi khi được dùng trong biểu thức ngữ vi tường minh, có tác dụng giảithích cái hành vi ở lời được thực hiện bởi biểu thức ngữ vi nguyên cấp

- Động từ ngữ vi nghi thức: đây là những động từ ngữ vi được dùng trong

những biểu thức ngữ vi tường minh do các hành động xã hội đòi hỏi phải

Trang 29

có những thiết chế, những quy định mới thực hiện được Đó là những động

từ như: tuyên án, miễn nhiệm, xoá án…

- Động từ ngữ vi cộng tác: đây là những động từ ngữ vi ứng với hành động

ở lời, phải có ít nhất hai người mới thực hiện được

- Động từ ngữ vi tập thể: là những động từ ngữ vi ứng với hành động ở lời

có thể do nhiều người cùng thực hiện đồng thời

1.3.3 Đặc điểm hành vi khen và hành vi chê

1.3.3.1 Đặc điểm hành vi khen:

Khen là một hành động ứng xử được sử dụng tương đối phổ biến trong

xã hội do những lợi thế mà nó mang lại trong giao tiếp Theo Từ điển Tiếng Việt [24]: “Khen là nói đến sự đánh giá tốt về ai, về cái gì, việc gì với ý vừa lòng” Nhờ có khen mà con người ta cảm thấy vui vẻ, cảm thấy có động lực hơn trong cuộc sống Theo phân loại các hành vi ngôn ngữ thì Austin

xếp hành vi khen thuộc phạm trù ứng xử, hay theo quan điểm của Searle thìông xếp vào phạm trù biểu cảm

Trong bài viết: Khen, chê và lịch sự cuả tác giả Trần Kim Hằng năm 2009

[19] đã đưa ra những minh chứng nghiên cứu của đại học Minnesota đã tổng hợp chức năng của lời khen như sau:

(1) Để biểu lộ sự thán phục hay chấp nhận ai đó về công việc, ngoại hình, thị hiếu của họ

(2) Để củng cố, khẳng định duy trì sự đoàn kết

(3) Để thay thế lời chào hỏi, xin lỗi và chúc mừng

(4) Để xoa xịu các hành động đe doạ thể diện như xin lỗi, đề nghị hay phê bình

(5) Để mở đầu và duy trì cuộc thoại

(6) để tăng cường hành vi được mong đợi

Trong bài viết, tác giả có phần tích về các chức năng trên như sau: khen (1)thể hiện thái độ sự đánh giá tốt của người khen đối với nội dung hay đốitượng được khen Với quan điểm của người Việt có thể gọi đây là khen

Trang 30

“thực bụng”, “thực lòng” nhằm cỗ vũ hay khích lệ đối tượng được khen.Với (2) đây là một lời khen có tính toán tuỳ vào mục đích của cá nhân thựchiện hành vi khen trên Tiếp đến khen (3) đây được xem là một lời khen xãgiao Khen (4) và khen (6) giống khen (2) nhằm thực hiện một mục đíchnào đó của đối tượng khen.

Phía sau lời khen luôn là những mục đích giao tiếp nhất định, bên cạnh

đó yếu tố văn hoá hay sự chấp nhận của cộng đồng cũng chi phối đến cáchkhen Ví dụ như trong văn hoá của người Việt khi khen trẻ em người ta hay

thêm từ trộm vía ở phía trước như: trộm vía, con xinh qúa, trộm vía, em bụ

bẫm quá… Như vậy, phía sau những từ ngữ, cách thức khen là cả những tri

thức về văn hoá giao tiếp đan xen và được một cộng đồng chấp nhận

1.3.3.2 Đặc điểm hành vi chê:

“Chê là hành vi đánh giá tiêu cực, chủ quan của người nói về một vấn

đề nào đó (người/ vật/ việc) khi nhận thấy vấn đề đó không đúng, không tốt, không phù hợp hoặc chưa thoả đáng” [28] Trong giao tiếp thực tế, đi

cùng với việc khen thì mặt bên kia có chê và hành động chê này thì thườngảnh hưởng trực tiếp đến người tiếp nhận Theo Austin (1962) thì chê thuộcnhóm hành động ứng xử, theo Searle thì chê thuộc nhóm bộc lộ

Tục ngữ Việt Nam có câu: “Thuốc đắng giã tật, sự thật mất lòng”, có thể

hiểu hành vi chê ở đây chính là “thuốc đắng” Chê có nhiều mục đích khácnhau tuỳ thuộc với người chê và đối tượng tiếp nhận lời chê Hành vi chênhằm mục đích dạy dỗ, bảo ban, khuyên răn khi cảm thấy đối tượng bị chêlàm chưa tốt hoặc chưa đạt so với yêu cầu Với mục đích này, chê mang một

ý nghĩa tốt đẹp giúp cho người nhận được lời chê trở nên hoàn hảo hơn Tuynhiên, trường hợp phần nhiều chúng ta thường đưa ra lời chê khi cảm thấykhông bằng lòng, cảm thấy khó chịu về một việc làm nào đó Chê trongtrường hợp sẽ có nhiều cách giải quyết khác nhau, có người sẽ chọn chê trựctiếp, chê trực diện vào đối tượng hoặc có người sẽ cố gắng

Trang 31

giảm vị đắng của “thuốc” xuống để nhằm hạn chế tối đa sự mất thể diệncủa đối tượng tiếp nhận.

Chức năng chính của hành vi chê [19] như sau: (1) Biểu lộ sự bấtbình, khiển trách, hăm doạ, phản kháng lại những cái được cho là xấu xa sovới chuẩn mực của xã hội (2) Buộc người bị chê có trách nhiệm với hànhđộng bị coi là phản cảm của mình và đề nghị có hướng sửa chữa nó, (3)

Mở đầu và duy trì thoại, (4) Rút giận hay giảm buồn phiền (5) Đối phó vớiđiều không hay nhưng có ý định cải thiện tình hình, (6) Cùng chia sẻ mộtđánh giá tiêu cực nào đó với mục đích tạo lập mối liên kết giữa người nói

và người nghe

Qua những lý thuyết trên, chúng ta có thể thấy: chê là một hành động đedoạ đến thể diện của cả đối tượng bị chê và người chê Thứ nhất, người bịchê đang trực tiếp bị đe doạ có thể là về ngoại hình, năng lực, khả năng củabản thân Thứ hai, chính người thực hiện hành vi chê cũng đang tự cho mình

“quyền” hơn người khác và có thể đánh giá họ theo quan điểm cá nhân củamình Do tính chất nhạy cảm như vậy nên khi thực hiện hành động ngôn từchê người nói thường rất thận trọng trong việc sử dụng các phương tiện ngônngữ để tránh sang các hành vi khác như nhục mạ, chỉ trích…

1.4 Tiểu kết

Trên cơ sở của những trình bày lí thuyết trên đây có thể thấy truyềnthông, đặc biệt là truyền thông hiện đại là một giao tiếp mang tính đặc thùgắn với những tương tác phức tạp, sâu sắc giữa “nguồn” và “đích”.Phương tiện truyền thông hiện đại mà cụ thể ở đây là báo mạng điện tử đã

là một ví dụ giúp chúng ta nhận diện rõ ràng hơn về cơ hội “đích” khẳngđịnh vai trò tích cực của mình trong toàn bộ quá trình truyền thông (quaviệc “đích” bày tỏ những đánh giá của mình với thông tin có tính địnhhướng từ nguồn)

Trang 32

Trên phương diện phản hồi qua kênh ngôn ngữ của công chúng báo mạngđiện tử (trong trường hợp này là mục Ý kiến bạn đọc) chúng tôi nhận thấy

“khen” “chê” là hai nội dung nổi bật trong ngôn ngữ đánh giá gắn với đích.Với những lí do như trên chúng tôi xin dành hai chương tiếp theo để đisâu vào tìm hiểu một số phương tiện ngôn ngữ biểu đạt ý nghĩa “khen”

“chê” của độc giả từ cấp độ ngôn ngữ thấp đến cao, từ tĩnh đến động nhằm

có thêm những luận giải về sự sinh động trong hoạt động tương tác, qua lạicủa các phản hồi trong chu trình truyền thông

Trang 33

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ

PHẢN HỒI TRONG CHUYÊN MỤC GIẢI TRÍ BÁO VNEXPRESS.NET BIỂU ĐẠT Ý NGHĨA KHEN

2.1 Một số phương tiện ngôn ngữ biểu đạt ý nghĩa khen

Từ thực tế sinh động của việc sử dụng ngôn ngữ nhằm biểu đạt ý kiếnđánh giá phản hồi của công chúng, trong chương 2, chúng tôi đặt vấn đềtìm hiểu phương tiện ngôn ngữ biểu đạt ý nghĩa khen trên 3 phương diện:phương diện sử dụng từ ngữ, phương diện phát ngôn và phương diện hànhđộng ngôn từ

2.1.1 Trên phương diện từ ngữ

Trong các bình luận độc giả, để thể hiện ý nghĩa khen chúng tôi ghinhận sự xuất hiện của cấu trúc có từ ngữ đánh giá với sự có mặt của một sốnhóm từ loại chuyên dụng, có mật độ sử dụng cao và có vai trò nổi bật vềmặt truyền tải thông tin Các từ loại này thường kết hợp chặt chẽ với một

số từ khác tạo thành các cụm từ, có vai trò làm tiêu điểm thông tin trongphát ngôn, thậm chí có khả năng xuất hiện độc lập, tạo thành phát ngôndưới dạng từ hay chuỗi từ vựng

a Tính từ, cụm tính từ:

Tính từ là từ loại dùng để chỉ ra các loại đặc trưng (phẩm chất,màu sắc, số lượng…) Chính tính chất nổi bật trên đã giúp tính từ thể hiện thông tin một cách phong phú và linh hoạt trong ngôn ngữ đánh giá.

Dựa theo quan điểm của tác giả Lê Đình Tư [33] trong việc phân loại tính

từ Tác giả chia làm 2 loại bao gồm: tính từ tự thân và tính từ không tự thân:

- Tính từ tự thân là những tính từ biểu thị phẩm chất (tốt, xấu, sạch…), màu sắc (xanh, đỏ, tím…), kích thước (cao,thấp,rộng…), hình dáng (vuông,

tròn, cong…), âm thanh (ồn, trầm, bổng…), hương vị (thơm, cay, ngọt…), cách

thức/ mức độ (xa, gần, đủ…), lượng / dung lượng (nặng, nhẹ, nông, sâu…)

Trang 34

- Tính từ không tự thân: là những từ vốn không phải là tính từ mà là từ

thuộc nhóm khác (ví dụ danh từ, động từ nhưng được sử dụng như tính từ) Tính từ không tự thân chỉ có thể xác định được trên cơ sở quan hệ của

chúng với các từ khác hay cụm từ trong câu Bình thường chúng không cóquan hệ với các từ khác thì chúng không được coi là tính từ Như vậy đây

là những tính từ mang nghĩa lâm thời

Như đã nói ở trên chuyên mục Giải trí độc giả chủ yếu tập trung vào 2 chủ

đề chính đó là: nhân vật và sự kiện Qua khảo sát ngữ liệu thì kết quả chúng

tôi thu về hầu hết đều là những tính từ tự thân Việc sử dụng cụ thể nhưsau:

- Ở các bài viết mà tiêu điểm thông tin tập trung vào các nhân vật, trong

các ý kiến phản hồi đều xuất hiện với tần số cao các tính từ chỉ phẩm chất có tính tích cực như: xinh đẹp, thông minh, tuyệt vời, nhạy bén, đẹp…

- Ở các bài viết mà tiêu điểm thông tin tập trung vào các sự kiện độc giảquan tâm nhiều: ra mắt về một bộ phim mới, một cuốn sách, một chương

trình truyền hình, một sự kiện liên quan đến bóng đá….thì công chúng

thường xuyên sử dụng những tính từ mang ý nghĩa tích cực xen lẫn vớicảm xúc cá nhân và mang các bình luận của độc giả ta cảm thấy đa diệnhơn khi xuất hiện những nhận xét mang hơi hướng chuyên môn, đánh giá(ngôn ngữ biểu kiến)

Ví dụ như một độc giả có viết:

(1) Sài Gòn làm chương trình hay, sân khấu đẹp, khán giả được xuống giao

lưu gần với các cầu thủ Tuyệt!”.

(phuc – 05/02/2018)

Trong phản hồi này, độc giả không những thể hiện cảm xúc hạnh phúc

mình mà độc giả còn đưa ra những đánh giá như: chương trình + hay, sân khấu + đẹp….Cũng giống như ở góc độ nhân vật, góc độ sự kiện cũng đều

là những tính từ chỉ phẩm chất, hình thức bên ngoài như: hay, đẹp, tuyệt, kịch tính, hạnh phúc….

Trang 35

Trong các ý kiến của độc giả thì tính từ chỉ màu sắc, âm thanh, hương vị, kích thước….gần như không xuất hiện mà tập trung vào các tiểu nhóm tính

từ chỉ vóc dáng, hình thức, phẩm chất là do tính chất, điểm khác biệt của

chuyên mục Giải trí so với các chuyên mục khác đem lại Bên cạnh đó,việc sử dụng các tính từ tự thân giúp thông tin truyền tải nhanh và trực tiếp.Điều này cũng hết sức phù hợp với loại hình báo mạng điện tử và đặc điểmcủa công chúng trong thời đại ngày nay

Tính từ, cụm tính từ gắn với ngữ cảnh được sử dụng linh hoạt và phù hợpvới các mục đích như sau:

- Khen về khả năng, tài năng của đối tác được khen:

Chủ yếu sẽ về các sản phẩm âm nhạc, các buổi biểu diễn, cách thức ứng

xử trước công chúng…

Bao gồm các từ ngữ như: giỏi, nhạy bén, thông minh, lợi hại, xuất sắc, đảm đang, giỏi giang, hoàn hảo, khéo, nhân văn, hoàn toàn xứng đáng, cực kỳ xuất sắc, rất bản lĩnh, rất/quá xứng đáng, rất có chiều sâu…

(4) LNK là người vô cùng nhạy bén, thông minh.

(Vl – 03/01/2018)

- Khen về các sản phẩm về phim, âm nhạc:

Chủ yếu là các từ chỉ mức độ kết hợp với tính từ: quá hay, rất hay…

Trang 36

(5) Quá hay Tôi xem với vợ mà ra rạp mắt tôi đỏ hoe, tý nữa thì khóc nấc lên.

(Buihlen – 19/04/2018) (6) Phim rất hay, nhiều cảm xúc xen lẫn

(totolink – 16/01/2018)Việc sử dụng tính từ và cụm tính từ là một trong những đặc trƣng nổibật của công chúng nên trong phần nhận xét này chúng tôi xin tập trungtrình bày nhƣ sau:

Qua khảo sát, thì cụm tính từ đƣợc độc giả sử dụng nhiều nhất thể hiện quabảng thống kê sau:

Trang 37

22 ngày càng điêu luyện

23 vô cùng tuyệt vời

24 vô cùng nhạy bén, thông minh

Trang 38

31 quá đẹp

32 xinh quá

33 xinh nhất

34 xinh và trẻ quá

35 xinh đẹp, cá tính, giỏi giang, lại sống hướng về gia đình

36 xinh đẹp, dịu dàng, nữ tính và giọng hát đẹp

46 dung dị, chân thành, sâu sắc

47 hay, ý nghĩa, sâu sắc

48 nhẹ nhàng, kín kẽ mà cũng rất kiêu hãnh

49 còn trẻ mà giỏi quá

50 vừa trẻ, đẹp lại có học thức cao

Qua bảng thống kê trên chúng ta thấy, các từ chỉ mức độ kết hợp với

tính từ ở đây bao gồm: rất/ quá/ cực kì/ vô cùng + tính từ Đây đều là

những từ chỉ mức độ cao

- “Rất” là từ chỉ mức độ xuất hiện với tần suất nhiều nhất “Rất” là một từ

mức độ cao và bổ nghĩa cho tính từ và luôn đứng trước tính từ đó Ví dụ như:

Trang 39

rất xinh, rất hay, rất đẹp… “Rất” là một từ mang ý nghĩa trung hoà nên khi sử dụng mô hình “rất + tính từ” các độc giả vừa thể hiện được sự khen

ở mức độ cao nhưng cũng rất khách quan và phù hợp trong mọi ngữ cảnh

- Từ chỉ mức độ “quá” trong xinh quá, quá tuyệt vời, quá đẹp luôn Nhờ

có “quá” mà nghĩa cảm thán/biểu cảm rất rõ ràng “Quá” mang nét nghĩa

chỉ mức độ cao hơn mức bình thường, trong những trường hợp trên sẽ phụ

nghĩa cho tính từ Trong các ví dụ mà chúng tôi lấy phía trên thì “quá” có thể đứng trước hoặc đứng sau các tính từ Khi “quá” đứng trước các tình

từ thì cảm giác mức độ nhấn mạnh mà nó biểu thị sẽ được phát huy cao độ

Việc các độc giả lựa chọn mô hình: “quá + tính từ” hay “tính từ + quá”

giúp cho các bình luận trở nên sinh động và đậm tính khẩu ngữ hơn

- Cực kỳ / vô cùng có thể đứng trước hoặc sau các tính từ Các ví dụ chúng tôi khảo sát được thì “cực kỳ” đứng trước tính từ như: cực kỳ xuất xắc, cực kỳ gần gũi, vô cùng tuyệt vời, vô cùng nhạy bén…thường diễn tả mức độ ở điểm

cùng cực, cao nhất Khi độc giả lựa chọn kiểu này thường là dành lời khen tuyệtđối cho đối tượng được nhắc đến

- Thật/Thật sự là từ chỉ mức độ mang ý nghĩa hiện thực, không có tính chất

nghi ngờ, do dự mà chủ yếu là mang tính thừa nhận, khẳng định, nhấn mạnh về

sự vật, hiện tượng được nói đến Kiểu kết hợp này được độc giả

bình luận như: thật sự rất đẹp, thật hoàn hảo, thật tuyệt vời…

Như vậy, các từ chỉ mức độ đóng một vai trò hết sức quan trọng trongviệc thực hiện và bổ sung thêm sắc thái tình cảm cho các ý kiến của độcgiả Nếu thiếu các từ chỉ mức độ thì không thể lột tả hết được những sắcthái khác nhau của độc giả Đối với khen các từ chỉ mức độ thường được

sử dụng bao gồm: Rất/ quá/ cực kỳ/ vô cùng/ thật / thật sự + tính từ Đây đều là những từ chỉ mức độ từ trung tính đến cao tuyệt đối, điều này phần

nào đánh giá được phong cách khen của độc giả nói riêng và trong giaotiếp nói chung

Trang 40

b Động từ và cụm động từ:

- Động từ chỉ trạng thái, cảm nhận tích cực được sử dụng phổ biến, lặp lại

nhiều lần: hâm mộ, xứng đáng, ngưỡng mộ, khoái, thích, công nhận, hy vọng, ủng hộ…

(9) “Một thời khoái nghe anh hát giờ vẫn khoái Bao năm qua anh vẫn đẹp

trai Gia đình hạnh phúc”.

(Minh Chau Nguyen – 12/06/2018)

- So với cụm tính từ thì cụm động từ có tần số xuất hiện ít hơn Chủ

yếu là các kết hợp từ chỉ mức độ + động từ.

* Từ chỉ mức độ hoàn toàn + động từ chỉ mức độ tuyệt đối thể hiện sự ủng

hộ, hài lòng của độc giả Ví dụ: “hoàn toàn xứng đáng” …

- Từ chỉ mức độ cực kỳ + động từ “Cực kỳ” không những là từ chỉ mức độ

cao mà còn mang đậm sắc thái biểu cảm, sắc thái chủ quan của độc giả

trong khi thể hiện quan điểm của mình Ví dụ: cực kỳ thích…

c Danh từ và cụm danh từ

Xuất hiện trong các ý kiến mang ý nghĩa khen nhưng chiếm số lượngkhông đáng kể Chúng thường là những danh từ mang ý nghĩa tích cực, cácbiểu tượng, chuẩn mực được công nhận trong cộng đồng văn hoá

- Khen về dánh vẻ bề ngoài và hành động, khả năng như: số một, lý

tưởng, niềm tự hào

(10) Tài ăn nói của chị Hồng Nhung là số một!

(Doan duy Phuoc – 09/03/2018)

Trong ý kiến trên S đang khen về khả năng ứng xử của X (cụ thể ở đây là

khả năng ăn nói) Thể hiện bằng danh từ “số một”.

d Ngữ cố định

Việc sử dụng các ngữ cố định thường là các thành ngữ gắn với mục đích:

- Khen về dáng vẻ bề ngoài: trắng như bông bưởi.

(11) Bùi Phương Nga trắng như bông bưởi…

(nhattaninflnlty – 14/07/2018)

Ngày đăng: 10/02/2021, 13:25

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w