1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học phần di truyền và biến dị sinh học 9 trung học cơ sở​

152 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 4,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm trở lại đây, nhiều học sinh gặp rất nhiều khó khăn trongviệc lựa chọn trường thi và định hướng nghề nghiệp trong tương lai, đây chính là nguyên nhân chính d ẫn đến tình t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PPDH “BỘ MÔN SINH HỌC

Mã số: 8.14.01.11

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Văn Hưng

HÀ NỘI – 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Tích hợp giáo dục hướng nghiệp trongdạy học phần di truyền và biến dị - Sinh học 9 - Trung học cơ sở” được hoànthành tại khoa Sư phạm – Trường Đại học Giáo dục

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Ban giám hiệu, ban chủnhiệm khoa cùng tất cả các thầy cô khoa Sư phạm đã tạo điều kiện giúp đỡ tôihoàn thành khóa học

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn vô cùng sâu sắc tới PGS.TS Mai VănHưng đã nhiệt hình tâm huyết hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn

Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tác giả được sự giúp đỡ củaban giám hiệu trường và tập thể các lớp 9 Trường THCS Phùng Chí Kiên

Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp luôn động viên vàkhích lệ trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Qua nghiên cứu, đề tài đã đạt được những kết quả nhất định, tuy vậycòn nhiều hạn chế trong quá trình nghiên cứu Vì vậy tác giả kính mongnhững ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô giáo và các anh chị học viên.Trân trọng cảm ơn! Hà Nội, ngày 08 tháng 03 năm 2020

Tác giả

Hoàng Phúc Cương

i

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 So sánh các thành tố giữa dạy học tích hợp và dạy học đơn môn 21

Bảng 1.2 Thực trạng dạy học giáo dục hướng nghiệp (GDHN) 27

Bảng 1.3 Kết quả khảo sát mức độ hứng thú của học sinh 30

Bảng 1.4 Kết quả lựa chọn nghề liên quan tới Sinh học 31

Bảng 1.5 Kết quả tìm hiểu nguồn thông tin 31

Bảng 1.6 Định hướng học tập của học sinh 32

Bảng 1.7 Định hướng nghề nghiệp của học sinh 34

Bảng 1.8 Lý do lựa chọn nghề nghiệp 35

Bảng 1.9 Khó khăn khi lựa chọn nghề nghiệp 36

Bảng 2.1 Phân tích nội dung phần di truyền và biến dị Sinh học 9 41

Bảng 2.2 Năng lực hướng nghiệp cần đạt ở học sinh sau GDHN[30] 48

Bảng 2.3 Tiêu chí đánh giá quá trình học tập của học sinh 51

Bảng 3.1 Kết quả khảo sát mức độ hứng thú của học sinh 67

Bảng 3.2 Định hướng học tập của học sinh 69

Bảng 3.3 Lựa chọn nghề nghiệp của học sinh 70

Bảng 3.4 Lý do lựa chọn nghề nghiệp 72

Bảng 3.5 Bảng phân bố tần số điểm của lớp TN và ĐC 73

Bảng 3.6 Bảng phân bố tần suất điểm của lớp TN và ĐC 74

Bảng 3.7 Bảng phân bố tần suất tích lũy điểm số bài kiểm tra 74

Bảng 3.8 Bảng tổng hợp điểm của các lớp 75

iii

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 1.1 Sự lựa chọn hình thức dạy học 29

Biểu đồ 1.2 Định hướng học tập của học sinh 33

Biều đồ 3.1 Phân bố tần suất tích lũy kết quả bài kiểm tra 74

Sơ đồ 2.1 Các bước xây dựng giáo án tích hợp GDHN 46

iv

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4

4 Giả thuyết khoa học 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Những đóng góp của đề tài 6

8 Cấu trúc luận văn 6

CHƯƠNG 1 7

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7

1.1 Lịch sử nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp 7

1.1.1 Tình hình giáo dục hướng nghiệp trên thế giới 7

1.1.2 Tình hình giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam 11

1.2 Cơ sở lý luận 16

1.2.1 Một số khái niệm về hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp 16

1.2.2 Giáo dục hướng nghiệp trong hệ thống giáo dục 23

1.3 Cơ sở thực tiễn của tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học Sinh học ở cấp Trung học cơ sở 27

Tiểu kết chương 1 38

CHƯƠNG 2 39

NỘI DUNG TÍCH HỢP GIÁO DỤC HƯỚNG NGIỆP TRONG DẠY HỌC PHẦN DI TRUYỀN HỌC VÀ BIẾN DỊ, SINH HỌC LỚP 9 39

2.1 Phân tích nội dung phần Di truyền và biến dị - Sinh học 9 39

2.1.1 Những nguyên tắc tích hợp giáo dục hướng nghiệp vào môn Sinh học 39 2.1.2 Mục đích dạy phần Di truyền và biến dị 39

2.1.3 Nội dung kiến thức phần di truyền và biến dị, Sinh học 9 40

v

Trang 8

2.2 Các bước xây dựng kế hoạch tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong

môn Sinh học 9 45

2.2.1 Các bước xây dựng kế hoạch 45

2.2.2 Ví dụ giáo dục hướng nghiệp tích hợp trong dạy học phần di truyền và biến dị, Sinh học 9 54

Tiểu kết chương 2 64

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 65

3.1 Mục đích thực nghiệm 65

3.1.1 Muc đích thực nghiệm 65

3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 65

3.2 Phương pháp thực nghiệm 65

3.2.1 Nội dung thực nghiệm 65

3.2.2 Phương pháp thực nghiệm 65

3.2.3 Các bước nghiên cứu 66

3.3 Kết quả thực nghiệm 67

3.3.1 Kết quả định lượng 67

3.3.2 Kết quả định tính 75

Tiểu kết chương 3 77

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC

vi

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Xuất phát từ nhiệm vụ đổi mới giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học

ở trường Trung học cơ sở

Toàn cầu hóa và hiện đại hóa, có ảnh hưởng lớn đến văn hóa, đời sống

xã hội, giáo dục và kinh tế của cả thế giới Những biến đổi được thể hiện rõràng nhất trong nền kinh tế đã mang lại một số thay đổi trong ngành nghề, cơcấu tổ chức, và đời sống kinh doanh Quá trình toàn cầu hóa phát triển nhanhchóng trong lĩnh vực truyền thông thông tin - công nghệ đã và đang làm thayđổi cách chúng ta làm việc Các lĩnh vực nghề nghiệp mới đang nổi lên dựatrên sự linh hoạt và kiến thức trong cuộc sống làm việc và những thay đổitrong vị thế của con người với sự nghiệp, thời gian đào tạo, giờ làm việc, v.v dẫn tới con người phải đối mặt với nhiều vấn đề mới hàng ngày trong côngviệc, sự nghiệp, cuộc sống gia đình, lựa chọn nghề nghiệp, phát triển nghềnghiệp và lập kế hoạch nghề nghiệp tương lai Đây cũng chính là nguyênnhân tạo ra sự phát triển vượt bậc trong lĩnh vực tư vấn hướng nghiệp, đặcbiệt là giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường ngày càng được nhiều ngườiquan tâm Giáo dục hướng nghiệp có tầm quan trọng lớn trong quá trình dạyhọc Nó đóng một vai trò quan trọng trong kế hoạch nghề nghiệp của họcsinh, sinh viên trong tương lai và sự phát triển của mỗi quốc gia

Khái niệm nghề nghiệp với các em học sinh còn là một cái gì đó rất mơ

hồ, do đó việc lựa chọn nghề gì luôn là vấn đề mang nhiều khó khăn Vì vậygiáo dục hướng nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng, là một phần không thểthiếu trong hệ thống giáo dục Các chương trình giáo dục hướng nghiệp chohọc sinh, cụ thể là học sinh trung học cơ sở (THCS) được thiết kế để giảiquyết các khó khăn về thể chất, cảm xúc, các mối quan hệ xã hội, những kiếnthức về nghề nghiệp và học tập của học sinh Điều này là để bổ sung cho việchọc tập trên lớp và cũng tăng cường kết quả học tập, thành tích của học sinh

1

Trang 10

giúp học sinh phát triển toàn diện Đây là nội dung mà giáo dục Việt Namđang thực hiện Nội dung giáo dục hướng nghiệp (GDHN) cho học sinh (HS)

là một trong những vấn đề quan trọng được Đảng ta và Nhà nước ta đặc biệtquan tâm Đặc biệt Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 522/QĐ-

TTg phê duyệt Đề án“Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018-2025” [3] Mục tiêu của đề án

nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp trong giáo dục cơ sở vàphổ thông, góp phần chuyển biến mạnh mẽ công tác phân luồng học sinh sautrung học cơ sở và trung học phổ thông vào học các trình độ giáo dục nghềnghiệp phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và địaphương, đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực quốcgia, hội nhập khu vực và quốc tế

Trong những năm trở lại đây, nhiều học sinh gặp rất nhiều khó khăn trongviệc lựa chọn trường thi và định hướng nghề nghiệp trong tương lai, đây chính

là nguyên nhân chính d ẫn đến tình trạng các em học sinh ngồi nhầm lớp, nhầmtrường, không hứng thú với học tập, thậm chí hậu quả nặng nề hơn là rất nhiềuhọc sinh bỏ học, sinh viên sau khi ra trường không tìm được việc làm, tỉ lệ sinhviên ra trường làm trái ngành nghề với chuyên môn được đào tạo chiếm tỉ lệ rấtcao Vậy nguyên nhân nào dẫn tới thực trạng trên?

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng trên chủ yếu là do HS gặp rấtnhiều khó khăn trong việc nhận thức và đánh giá được năng lực bản thân, khókhăn trong việc tìm thông tin về ngành nghề, trường thi, nghề nghiệp Đặcbiệt nhiều gia đình, có sự bất đồng quan điểm giữa bố mẹ và con cái trong quátrình lựa chọn trường, lựa chọn ngành nghề Đây là những nút thắt quan trọngtrong cuộc đời của mỗi học học sinh, nếu những khó khăn này không đượcgiải quyết kịp thời sẽ gây nên sự lo lắng cho các em HS và dẫn đến hậu quả làcác em học sinh đưa ra những quyết định không đúng đắn trong qua trìnhchọn trường thi, nghề nghiệp trong tương lai Trong các nhà trường hiện nay

2

Trang 11

có nhiều hình thức GDHN cho học sinh như: thông qua các môn học, qua cáchoạt động trải nghiệm, qua các buổi nói chuyện ngoại khóa Tuy nhiên nhữnghoạt động GDHN chủ yếu được tổ chức ở các trường trung học phổ thông(THPT), rất ít ở các trường THCS, nếu có thì thời lượng tổ chức các hoạtđộng trong nhà trường rất hạn chế Do đó, khi học sinh muốn tìm hiểu thêmcác vấn đề khác có liên quan thì nhà trường không đáp ứng được hoặc chưacung cấp đầy đủ những thông tin thắc mắc về nghề nghiệp, do đó làm cho các

em chưa ý thức được sự cần thiết và có nhu cầu cần phải được tư vấn khichọn nghề

1.2 Xuất phát từ nội dung môn Sinh học và nội dung của phần Di truyền

và biến dị - Sinh học 9 - Trung học sơ sở

Chương trình sách giáo khoa (SGK) môn sinh học 9 và nội dung giáodục phổ thông mới phải đáp ứng được nhiệm vụ nêu tại Nghị quyết số 29-

NQ/TW là "Xây dựng và chuẩn hóa nội dung giáo dục phổ thông theo hướng hiện đại, tinh gọn, bảo đảm chất lượng, tích hợp cao ở các lớp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học trên; giảm số môn học bắt buộc; tăng môn học, chủ đề và hoạt động giáo dục tự chọn"[4].Thực hiện mục tiêu "phân luồng

mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp vàchuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng", nội dung giáo dụcđược xây dựng theo hướng tích hợp ở các cấp học dưới và phân hóa theođịnh hướng nghề nghiệp ở cấp học trên để tạo thuận lợi cho việc tổ chức hoạtđộng dạy học gắn với thực tiễn, qua đó phát triển năng lực học sinh

Giáo dục hướng nghiệp là vấn đề cấp bách, bởi các em học sinh lớp 9cuối cấp, rất cần được hướng dẫn để lựa chọn phân ban và phân hóa tại cấptrung học phổ thông đồng thời hướng dẫn cho một bộ phận rất lớn các em họcxong THCS sẽ không học tiếp THPT mà học theo các trường chuyên nghiệphay trường nghề

3

Trang 12

Xuất phát từ các lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài“Tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học phần di truyền và biến dị - Sinh học lớp 9 - Trung học cơ sở”.

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất một số biện pháp tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạyhọc phần di truyền và biến dị sinh học lớp 9, nhằm trợ giúp HS giải quyếtnhững khó khăn trong quá trình chọn nghề góp phần nâng cao hiệu quả giáodục hướng nghiệp trong nhà trường THCS hiện nay, đồng thời góp phầnnâng cao hứng thú, chất lượng dạy học Sinh học ở trường THCS hiện nay

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các biện pháp tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học phần ditruyền và biến dị, sinh học lớp 9

3.2 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học sinh học lớp 9

4 Giả thuyết khoa học

Nếu tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học Sinh học 9, Trunghọc cơ sở một cách khoa học sẽ nâng cao được hiệu quả hướng nghiệp trongnhà trường THCS và góp phần bồi dưỡng hứng thú, tạo động lực học tập,phát triển năng lực của học sinh

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Khảo sát thực trạng giáo dục hướng nghiệp trong các nhà trường THCS5.2 Nghiên cứu cơ sở lý thuyết của tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạyhọc phần di truyền và biến dị, sinh học lớp 9

5.3 Đề xuất một số giải pháp tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy họcphần di truyền và biến dị, Sinh học lớp 9

5.4 Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính hiệu quả của các biện pháp được

đề xuất

4

Trang 13

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Tổng hợp, sưu tầm và phân tích các tài liệu liên quan đến GDHN và tích hợpGDHN trong các môn khoa học, đặc biệt là môn Sinh học làm cơ sở cho việc tíchhợp GDHN trong dạy học phần di truyền và biến dị, Sinh học 9 –

- Hệ thống hóa các khái niệm, các quan điểm tư tưởng cơ bản của những nhànghiên cứu trước làm nền tảng cơ sở lý luận của đề tài Tổng quan các công trình

đã nghiên cứu về để tài

- Tìm hiểu các chủ chương chính sách của nhà nước, của các bộ ngành liên quan tới đề tài nghiên cứu

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp dùng bảng hỏi điều tra:

+ Bảng hỏi về tình trạng dạy học GDHN trong nhà trường đối với giáo viên+ Bảng hỏi về hứng thú học tập của học sinh

+ Bảng hỏi về định hướng lựa chọn nghề nghiệp vàk hhó khăn lựa chọn nghềnghiệp của hoc sinh

6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

6.4 Phương pháp thống kê toán học

- Sử dụng các phần mềm Excel và SPSS để phân tích, xử lý số liệu thu được

từ đó đưa ra các kết luận khoa học

5

Trang 14

7 Những đóng góp của đề tài

Trên cơ sở phân tích, hệ thống hoá và kế thừa các lí thuyết về giáo dụchướng nghiệp, luận văn đã bổ sung và làm sáng tỏ thêm khái niệm, mục tiêu,nội dung, hình thức và quy trình hoạt động hướng nghiệp trong GDHN, gópphần bổ sung cho lí thuyết về giáo dục hướng nghiệp ở THCS của Việt Namhiện nay

Xây dựng được một số biện pháp tích hợp giáo dục hướng nghiệptrong dạy học phần di truyền và biến dị - Sinh học lớp 9 - Trung học cơ sở

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Khuyến nghị và Phụ lục, luận văn gồm 3nội dung chính như sau:

- Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

- Chương 2 Tích hợp giáo dục hương nghiệp trong dạy học phần di truyền vàbiến dị - Sinh học lớp 9 - Trung học cơ sở

- Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

6

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp

Trong một kỷ nguyên toàn cầu hóa, sự phát tiển của công nghệ cao và

hệ thống thông tin mới thúc đẩy sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế, manglại một cuộc cách mạng trong giáo dục, thị trường lao động, và thúc đẩy sựphát triển về đời sống ở khắp các quốc gia châu Á và Thái Bình Dương ViệtNam cũng không ngoại lệ Việt Nam đã có sự chuyển mình mạnh mẽ vớithành tựu đáng chú ý không chỉ trong phát triển kinh tế của mà còn trong tất

cả các khía cạnh của xã hội Một nền kinh tế mới đã tạo ra một điều kiện quantrọng mới để phát triển sự nghiệp quần chúng cũng như mở cửa cho sự pháttriển của hướng nghiệp nói chung và GDHN nói riêng

Trong xã hội, từ khi xuất hiện các hình thức phân công lao động, đồngthời con người chú trọng đến các phẩm chất cá nhân phù hợp với từng côngviệc cụ thể Trong một thế giới phát triển, có rất nhiều các loại hình nghềnghiệp, sự lựa chọn một nghề phù hợp với bản thân là một điều hết sức quantrọng với mỗi người Tuy nhiên lựa chọn được một nghề, một hướng đi phùhợp với bản thân là một điều hết sức khó khăn, gặp rất nhiều trở ngại Do vậy

đã có rất nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu vấn đề giáo dụchướng nghiệp để một phần nào đó giúp đỡ những học sinh, sinh viên, thanhthiếu niên có những cơ sở khoa học để lựa chọn một ngành nghề phù hợp vớinăng lực của mình

1.1.1 Tình hình giáo dục hướng nghiệp trên thế giới

Những nội dung, khái niệm liên quan đến hướng nghiệp đã được đềcập từ rất lâu cùng với lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của con người Ngay

từ năm đầu tiên của thế kỷ thứ I sau công nguyên, khái niệm về hướng nghiệp

đã được đề cập đến trong bài viết của Epictetus là một triết gia Hy Lạp Ôngnhận định rằng trước khi chọn nghề thì mọi người nên xem xét khả năng có

7

Trang 16

phù hợp với yêu cầu của nghề hay không Đây chính là một trong những lýthuyết cơ bản của hướng nghiệp hiện nay.

Thời trung cổ, theo nghiên cứu của Juan Huartey Navarro (1530-1592)trong một cuốn sách của ông là “Examen de los ingenios para las ciencias -Kiểm tra khoa học, 1575” Trong cuốn sách ông viết một số nội dung vềnhững quy tắc để khám phá năng lực của bản thân và từ đó lựa chọn nghềnghiệp phù hợp nhất với năng lực của mình [36]

Ở Ấn độ, giáo dục hướng nghiệp đc nghiên cứu khá sớm, từ đầu nhữngnăm 1954, một trong nhà nghiên cứu là H.P.Mehta Ông tiến hành 3 cuộc điềutra về tình hình giáo dục ở Ấn độ và thu được kết quả như sau:

- Trong năm 1954, ông tiến hành điều tra và thu được các kết quả khác nhautrong việc tư vấn nghề nghiệp, giáo dục hướng nghiệp rất kém phát triển, sự

kém phát triển này xuất phát từ truyền thống văn hóa

- Năm 1957, ông tiếp tục tiến hành điều tra về tình hình giáo dục 25 trườngkhác nhau, đối tương được khảo sát là các hiệu trưởng nhưng kết quả mang lạicũng không mấy khả quan Hầu hết mọi người đều không đánh giá cao vai

trò của giáo dục hướng nghiệp, các hiệu trưởng không quan tâm nhiều đến những lựa chọn của học sinh sau khi ra trường

- Năm 1961, ông phát hiện ra rằng những hạn chế trong luật giáo dục là một trở ngại thực sự cho sự phát triển giáo dục hướng nghiệp [32]

Báo cáo năm 1956 của C W Riddle về một dự án thí điểm tronghướng dẫn sinh viên và tư vấn ở Calcutta cho thấy kết quả khả quan hơn Ông

so sánh giữa những sinh viên được tư vấn đề hướng nghiệp với sinh viên khôngđược tư vấn hướng nghiệp Sau đó có rất nhiều các nhà khoa học khác như : A

A Khatri(1962), A D'Costa (1961), V V Kothurkar(1962) đã tiến hành nghiêncứu và phát triển giá dục hướng nghiệp ở Ấn độ và đạt được nhiều thành tựu tolớn Thành tựu lớn nhất thu được của các nhà nghiên cứu

8

Trang 17

đó là Chính phủ Ấn Độ bắt đầu quan tâm đến những chương trình hướngnghiệp và tư vấn hướng nghiệp cho các thanh niên (1958) [32,34]

Tại Nhật Bản, thuật ngữ hướng nghiệp được đề cập vào khoảng nhữngnăm 1912-1928 và được áp dụng vào trong dạy học khoảng những năm 1920.Đến năm 1927 “Hiệp hội hướng nghiệp” được thành lập, vào thời điểm đó

Bộ giáo dục Nhật Bản thấy rõ sự cần thiết của giáo dục hướng nghiệp vớithanh thiếu niên, đã yêu cầu các trường tiểu học, trung học cơ sở hỗ trợ tíchcực học sinh trong việc hướng nghiệp[34]

G.L.Weaver đã viết trong cuốn “Handbook on Vocational Guidance”

về việc cải thiện chương trình giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường, ôngnhận thấy rằng Bộ giáo dục đã thấy rõ vai trò giữa học vấn văn hóa phổ thôngvới kiến thức và kĩ năng lao động - nghề nghiệp nên đã đưa thêm nội dunggiáo dục hướng nghiệp vào nhà trường Tạo cơ hội cho sự phát triển của giáodục hướng nghiệp, đặc biết là đối với các giáo viên giảng dạy chương trìnhhướng nghiệp giúp họ nâng cao năng lực và trình độ chuyên môn [35]

Ở Mỹ, tư vấn hướng nghiệp phát triển vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ

20, trong bối cảnh xã hội có nhiều biến động và thay đổi Sự biến động xã hộiđược thể hiện rõ rệt ở việc nhiều người bị mất việc làm, yêu cầu công việcđòi hỏi chuyên môn cao do công nghiệp hóa, nhiều nông dân không thể cạnhtranh và tồn tại trước sự xuất hiện của máy móc Nên sự ra đời của hướngnghiệp là nhu cầu tất yếu để phần nào giải quyết các vấn đề trên FrankParsons (1909) được gọi là cha đẻ của khái niệm “hướng nghiệp và giáo dụchướng nghiệp” khi lần đầu tiên công bố nó trong một nghiên cứu Nhữngnghiên cứu của ông chủ yếu dựa vào sự quan sát và thu thập dữ liệu, ông đưa

ra những kết luận khi quan sát những người thất nghiệp sống trong một nhàtình thương ở Boston Ông nhấn mạnh rằng sự lựa chọn nghề nghiệp của mộtngười dựa vào 3 yếu tố:

- Hiểu rõ năng lực bản thân

9

Trang 18

- Hiểu rõ các điều kiện và yêu cầu để thành công trong công việc

- Hiểu rõ mối quan hệ giữ năng lực bản thân và sự thành công trong nghềnghiệp [40]

Ở Pháp, hướng nghiệp có lịch sử phát triển hàng trăm năm, nó có liênquan đến sự phát triển của kinh tế và biến động xã hội Hướng nghiệp có nhữngbiến đổi phù hợp với sự chuyển biến mạnh mẽ của kinh tế và xã hội nên rất đượccoi trọng Đặc biệt là giáo dục hướng nghiệp đã được chính quyển đương thờiquan tâm và có chính sách phát triển lâu dài Ở Pháp năm

1848 xuất bản cuốn “Hướng dẫn chọn nghề” cuốn sách viết về vấn đề sự pháttriển đa dạng của thế giời nghề nghiệp và việc phải hỗ trợ thanh niên trongviệc sự lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực

Ở Anh, ban đầu hướng nghiệp chỉ hướng đến đối tượng là các thanhniên, giúp họ định hướng và chuyển đổi nghề nghiệp nếu cần thiết Sau chiến tranhthế giới thứ 2 ở Anh, hiệp hội Tư vẫn việc làm cho những người chưa thành niênđược sáp nhập vào hiệp hội có tên là Tư vấn việc làm cho người trẻ, dành cho nhữngngười dưới 18 Hiệp hội này không chỉ hướng nghiệp cho thanh thiếu niên mà cònquả lý những thanh thiếu niên bị thất nghiệp tạo cơ

hội cho họ kiếm được việc làm Đến năm 1952 hầu hết các trường đại học ởAnh đều có các trung tâm hướng nghiệp nhắm cung cấp cho sinh viên cácthông tin liên quan về nghề nghiệp Vào cuối những năm 60 đầu những năm

70 hướng nghiệp phát triển mạnh mẽ ở Anh, kéo theo những nội dung liênquan đến giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường cũng phát triển nhanhchóng Nội dung giáo dục hướng nghiệp dành học sinh tập chung vào nănglực tự nhân thức bản thân và đưa ra các quyết định phù hợp trong việc lựachọn nghề nghiệp Và sự kiện nổi bật nhất chứng minh cho sự phát triểnhướng nghiệp ở Anh đó là sự ra đời của Đảng Lao Động vào năm 1997, nólàm thay đổi mạnh mẽ những quan điểm về hướng nghiệp Đối tượng của

10

Trang 19

hướng nghiệp không chỉ là thanh thiếu niên mà dành cho tất cả mọi ngườitrong xã hội [33]

Tại Trung Quốc vào năm 1914 -1915, Yanpei Huang tiến hành điềutra và khảo sát tại các trường trung học về vấn đề hướng nghiệp, ông khôngủng hộ quan điểm giáo dục của Trung Quốc lúc bấy giờ Sau chuyến thămquan tại các trường học ở Mỹ, ông nhận định rằng nội dung hướng nghiệpcủa Mỹ lúc bấy giờ là phù hợp nhất đối với hệ thống giáo dục Trung Hoatrong việc giải quyết và ngăn chặn các khủng hoảng về kinh tế Ông đưa raquan điểm kết hợp giữa giáo dục và nghề nghiệp, sau này được gọi là Hiệphội giáo dục hướng nghiệp do ông và Yuanpei Ca thành lập tại Thượng Hảivào năm 1917 Từ 1917 đến 1948, Hiệp hội giáo dục hướng nghiệp thành lập

5 trường dạy nghề, 12 trung tâm giáo dục dạy nghề, và 12 trung tâm hướngnghiệp và tư vấn hướng nghiệp Vào ngày 29 tháng 9 năm 1993, Hiệp hộiHướng dẫn Nghề nghiệp Trung Quốc (CCGA), một chi nhánh của Hiệp hộiGiáo dục Kỹ thuật và Dạy nghề Quốc gia với sự hỗ trợ của Ủy ban Giáo dụcNhà nước, được thành lập tại Bắc Kinh Mục tiêu của CCGA bao gồm tăngcường nghiên cứu trong lĩnh vực hướng nghiệp, thúc đẩy thực hành hướngnghiệp, đào tạo các chuyên gia hướng nghiệp, thúc đẩy tăng cường trao đổiquốc tế và hợp tác trong tư vấn nghề nghiệp [39]

1.1.2 Tình hình giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam

Bác Hồ đã từng nói: một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, muốn xây dựngchủ nghĩa xã hội trước hết cần có con người xã hội chủ nghĩa Bác mong muốn,đào tạo không chỉ có lòng yêu nước, tinh thần cách mạng, đạo đức

mà còn phải là người có kiến thức khoa học, chuyên môn trình độ vững vàng.Bác là người rất coi trọng công tác giáo dục, Bác cho rằng kết hợp giữa lýthuyết và thực tế là một nguyên tắc quan trọng, học đi đôi với hành, học đi đôivới lao động

11

Trang 20

GDHN ở nước ta đã tiến hành nghiên cứu và triển khai khá sớm, từnhững năm 70 của thế kỉ XX Cơ sở lý luận và thực tiễn GDHN của Việt Namchủ yếu được xây dựng trên cơ sở lý luận và thực tiễn của Liên Xô Thời kỳnày GDHN ở Việt Nam chủ yếu giáo dục cho HS những hành vi, thái độ khitham gia vào hoạt động nghề nghiệp [11]

Năm 1979, Bộ Chính trị đưa ra Nghị quyết về cải cách giáo dục khẳngđịnh HN là bộ phận khăng khít của quá trình giáo dục Quyết định 126/CPngày 19/3/1981 của Chính phủ có viết: “Về công tác HN trong trường phổthông và việc sử dụng hợp lý HS các cấp THSC và THPT tốt nghiệp ratrường” đã tạo hành lang pháp lí cho sự phát triển của công tác HN, nhất là

HN cho HS phổ thông [10]

Đầu những năm 80, người có công lớn nhất với sự nghiệp phát triểnGDHN ở nước ta là GS Phạm Tất Dong Ông đã nghiên cứu rất nhiều nhữngvấn đề liên quan đến GDHN như: nội dung và các phương pháp GDHN dànhcho học sinh, thanh thiếu niên Những quan điểm và nội dung về GDHN củaông được thể hiện thông qua rất nhiều các bài báo khoa học, các công trìnhnghiên cứu Một trong những bài báo được nhiều người quan tâm nhất đó là

“Hướng nghiệp cho thanh niên” vào năm 1982

Ngoài ra cũng có rất nhiều tác giả khác như Võ Nguyên Giáp, NguyễnThị Bình, Đoàn Chi, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Minh Đường, Nguyễn Văn Hộcũng nghiên cứu về GDHN cho HS Họ đã đề cập đến vai trò của nhà trườngtrong việc định hướng nghề cho HS, đưa ra một số biện pháp nhằm nâng caochất lương GDHN trong nhà trường

Trong giai đoạn 1983-1996, GDHN ở nước ta đã đạt được một số thànhtựu quan trọng, được coi là thời kì thịnh vượng nhất Các tác giả Nguyễn TrọngBảo, Đoàn Chi, Cù Nguyên Hanh, Hà Thế Ngữ, Tô Bá Trọng, Trần Đức Xước,Nguyễn Thế Quảng, Nguyễn Phúc Chỉnh ngoài việc đi sâu nghiên

12

Trang 21

cứu việc tiến hành công tác GDHN tại các nhà trường THPT, còn tham gianghiên cứu những nội dung liên quan đến tư vấn hướng nghiệp cho HS.

Giai đoạn 1997 - đến nay, những nghiên cứu về GDHN chủ yếu là kháiquát kinh nghiệm GDHN trên thế giới, đánh giá thực trạng và đưa ra nhữnggiải pháp về GDHN trong nhà trường ở Việt Nam hiện nay Việt Nam giaiđoạn 2005-2010 có các tác giả Phạm Tất Dong, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Như

Ất, Lưu Đình Mạc, Phạm Huy Thụ, Nguyễn Văn Lê, Trần Khánh Đức, HàThế Truyền, Bùi Văn Quân đã nghiên cứu về những vấn đề trên Trong giaiđoạn này, Bộ giáo dục cũng như nhiều tác giả đã xuất bản nhiều ấn phẩm vềnội dung GDHN cho học sinh THCS và THPT Một số ấn phẩm nổi bật như:

“Giáo dục hướng nghiệp 9 - Sách Giáo Viên”, “Hoạt động giáo dục hướngnghiệp 10,11,12 - Sách Giáo Viên”,NXB Giáo dục “Một số cơ sở của côngtác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông”, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000;

“Hoạt động giáo dục lao động, hướng nghiệp năm học 2000 - 2001 vàphương hướng năm học 2001 – 2002”, Hà Nội, 2001 ; Có rất nhiều tài liệuhướng dẫn và tham khảo được phát hành phục vụ cho nhu cầu ngày càng caocủa HS, SV về định hướng nghề nghiệp Có rất nhiều mô hình, hoạt động trảinghiệm nghề nghiệp hay các trung tâm tư vấn hướng nghiệp được mở rộng

và nâng cao, mà đối tượng hướng tới là học sinh cấp tiểu học và THCS Điềunày cho thấy rằng, hoạt động hướng nghiệp, GHDN trong nhà trường đãđược cả xã hội quan tâm

Theo của GS - TS Phạm Tất Dong, ông có nêu “Đổi mới công táchướng nghiệp cho phù hợp với kinh tế thị trường Quán triệt chủ trương đổimới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh việc củng cố và phát triển cáctrung tâm KTTH - HN – DN” (Bộ Giáo dục và Đào tạo Trung tâm lao động -hướng nghiệp, Hà Nội, 1992) Ông thấy rằng trong những người không cóviệc làm, không biết nghề thì thanh thiếu niên chiếm phần lớn Do vậy ông đềxuất: Trước hết cần hình thành, phát triển năng lực nghề nghiệp, sau đó đẩy

13

Trang 22

mạnh công tác hướng nghiệp - dạy nghề cho học sinh Đây là một trongnhững nguyên tắc cơ bản để thúc đẩy sự phát triển của nên kinh tế Ông đã đềnghị thiết lập một hệ thống GDHN từ bậc tiểu học với thời lượng tăng dần ởcác năm trên Tăng cường tiết học và nội dung GDHN trong nhà trường chứkhông chỉ là 9 buổi cho cả năm Ông cũng đề nghị giao nhiệm vụ GDHN chocác giáo viên đổi mới chương trình GDHN, thiết kế nhiều hoạt động ngoạikhóa, trải nghiệm nghề nghiệp, tham quan dành cho học sinh Có sự phối hợpchặt chẽ giữa nhà trường – gia đình – xã hội trong việc GDHN cho học sinhngay từ cấp tiểu học [1,12,19].

Trong những năm gần đây, thưc hiện các quy định của chính phủ và Bộgiáo dục, nội dung GDHN trong nhà trường cụ thể là nội dung tích hợpGDHN trong các môn học được triển khai đồng bộ ở hầu hết các khối lớp vàcấp học Các tác giả Phạm Thị Hồng Hạnh, Đinh Tiến Công, Nguyễn PhươngThảo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, trong một bài báo khoa học có viết

“Giáo dục trung học phổ thông (THPT) là giai đoạn giáo dục định hướngnghề nghiệp, giai đoạn quan trọng đối với học sinh (HS) trong việc tiếp nhận,khám phá các tri thức khoa học và ảnh hưởng quyết định nghề nghiệp trongtương lai” Các tác giả thấy rõ được mối quan hệ mật thiết giữa kiến thứckhoa học và GDHN, nên việc tích hợp GDHN là điều cần thiết hiện nay[16]

Theo tác giả Vũ Cẩm Tú - Tạp chí Giáo dục số 437, có nêu: “Có nhiềunguyên nhân, kết quả của hoạt động GDHN ở trường phổ thông vẫn cònnhiều hạn chế Một trong các nguyên nhân phải kể đến đó là sự thiếu kiếnthức cũng như kĩ năng trong GDHN cho HS của giáo viên (GV)” Tác giảnhận định rằng GDHN có hiệu quả chưa cao không chỉ ở nội dung và phươngpháp, mà chính bản thân giáo viên hướng nghiệp chưa có đủ năng lực cầnthiết trong việc GDHN cho học sinh Tác giả đã đề xuất khung năng lực chogiáo viên, nhằm phát triển năng lực GDHN cho giáo viên hiện nay [27]

14

Trang 23

Theo nghị quyết về đổi mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổthông số: 88/2014/QH13 của Quốc hội có nêu: “Đổi mới chương trình, sáchgiáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện vềchất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người vàđịnh hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụkiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực,hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh.” Vềnội dung đổi mới: “Giáo dục phổ thông 12 năm, gồm hai giai đoạn giáo dục:giai đoạn giáo dục cơ bản (gồm cấp tiểu học 5 năm và cấp trung học cơ sở 4năm) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (cấp trung học phổ thông

3 năm) Giáo dục cơ bản bảo đảm trang bị cho học sinh trí thức phổ thông nềntảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở Giáo dục định

hướng nghề nghiệp bảo đảm học sinh tiếp cận nghề nghiệp, chuẩn bị cho giaiđoạn học sau phổ thông có chất lượng;” Và cũng theo nội dung chươngtrường trình giáo dục tổng thể mới: Giáo dục hướng nghiệp là hoạt động bắtbuộc với cấp học THCS, THPT [25]

Với bộ môn Sinh học, có rất nhiều tác giả Nguyễn Quang Vinh, TrầnDoãn Bách, Trần Bá Hoành, Trịnh Nguyên Giao, Trần Đăng Cát đã đề cậpgiáo dục thực hành và hướng nghiệp là nhiệm vụ của bộ môn Sinh học

Các tác giả Lê Thị Hương, Lê Văn Tính trong nghiên cứu của mình

đã đưa ra mô hình “Vườn thực nghiệm sinh học trong dạy học Sinh học,Công nghệ nông nghiệp (CNNN)” Mục đích của mô hình là tạo cơ hội chohọc sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệm cảm xúc tích cực, khai thác những kinhnghiệm đã có và huy động kiến thức, kỹ năng môn Sinh học và CNNN vàothực tế đời sống Qua mô hình ngoài việc áp dụng các kiến thức vào thực tế,cũng là một phương pháp rèn luyện năng lực của học sinh thích ứng với cuộcsống, môi trường và nghề nghiệp tương lai [20]

15

Trang 24

Những công trình khoa học về GDHN trong và ngoài nước đã mang lạirất nhiều giá trị về phương pháp và lý luận đối với GDHN của nước ta.Thông quan việc nghiên cứu, phân tích các đề tài nghiên về vấn đề GDHNhiên nay, chúng ta nhận thấy rằng, các đề tài đều khẳng định được tầm quantrọng của GDHN, là một hoạt động cấp bách và cần thiết với sự phát triểngiáo dục toàn diện của học sinh, cũng như sự phát triển của mỗi quốc gia.Tuy vậy, thực trạng GDHN ở nước ta hiện nay chưa có được nhiều sự quantâm của mọi người trong xã hội Đa số ở các trường, GDHN chỉ được coi làmột phần nhỏ trong mục tiêu giáo dục, đa số các trường chỉ lồng ghép trongmột số hoạt động ngoại khóa Do vậy chưa phát huy hết hiệu quả của GDHNmang lại cho HS Có rất nhiều phương pháp được các tác giả đề xuất nhằmnâng cao chất lượng GDHN, gây hứng thú cho học sinh trong quá trình họctập Nhưng đa số các đề tài này chưa thực sự mang lại hiểu quả cao, các tácgiả chỉ đưa ra được nội dung mà chưa có phương pháp cụ thể chi tiết chotừng khối lớp, môn học cụ thể Do đó hiện nay vì tính cấp bách của vấn đề córất nhiều đề tài đưa ra những phương pháp GDHN mới và đem lại kết quảcao, đó là tích hợp GDHN vào môn khoa học Đây là chính là một hướng đimới cần được nghiên cứu và đầu tư.

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Một số khái niệm về hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp

1.2.1.1 Khái niệm nghề nghiệp

Có rất nhiều lĩnh vực khoa học trong đời sống nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp do vậy có rất nhiều quan điểm khác nhau về nghề nghiệp

được đưa ra Chúng ta cần xem xét các quan điểm khác nhau để hiểu rõ bản chất của hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp:

Theo từ điển tiếng Việt thì nghề là “công việc chuyên môn làm theo sựphân công lao động của xã hội” Nghề nghiệp là nghề để sinh sống và phục vụ

xã hội [24]

16

Trang 25

Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp viết: "Từ nghề nghiệp là những từ ngữbiểu thị những công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong xã hội Những từ này thường được những người trong ngành nghề đó biết và sử dụng Những người không làm nghề ấy tuy ít nhiều cũng có thể biết nhiều từ ngữ nghề nghiệp nhưng ít hoặc hầu như không sử dụng chúng Do đó, từ ngữ nghề nghiệp cũng là một lớp từ vựng được dùng hạn chế về mặt xã hội"[15].

Tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” chorằng: "Từ vựng nghề nghiệp bao gồm những đơn vị từ vựng được sử dụng

để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành lao động trí óc (nghề thuốc,

ngành văn thư ) [8]

Như vậy nghề là một hoạt động lao động trong đó con người dựa vàonăng lực, phẩm chất của mình tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần, là điềukiện cơ bản cho sự tồn tại của con người cũng như toàn xã hội xã hội

1.2.1.2 Khái niệm hướng nghiệp

Trong lịch sử phát triển xã hội loài người nói chung, cùng với đó là sựphát triển và tiến hoá của hệ thống nghề nghiệp nói riêng, cho đến tận ngày nay

đã cho thấy rất rõ được tính phức tạp, khó dự báo của các quy luật chuyển hoánghề nghiệp Xã hội ngày càng phát triển, tính phức tạp ấy càng tăng lên Cùngvới sự phát triển không ngừng về mọi mặt của cuộc sống nói chung và thế giớinghề nghiệp nói riêng, hoạt động hướng nghiệp đã và đang ngày càng phát huyvai trò to lớn của mình trong việc giúp đỡ, hỗ trợ cá nhân lựa chọn được mộtlĩnh vực nghề nghiệp chuyên môn phù hợp mà còn như một công cụ quan trọng

để thực hiện công tác phân luồng học sinh, thanh niên vào các lĩnh vực lao độngtheo định hướng phát triển của quốc gia cũng nhu nhu cầu của thị trường laođộng Ngay nay, hướng nghiệp được đã và đang được xem như một lĩnh vựckhoa học và là hướng phát triển đúng đắn của nền giáo dục tiên tiến

17

Trang 26

Có rất nhiều khái niệm hướng nghiệp được đưa ra, chúng ta sẽ em xét các khái niệm về hướng nghiệp trên nhiều phương diện khác nhau.

- Theo từ điển tiếng Việt: “Hướng nghiệp là thi hành những biện pháp nhằm

đảm bảo sự phân bố tối ưu (có chú ý tới năng khiếu, năng lực thể lực) nội dung theo ngành và loại lao động giúp đỡ lựa chọn hợp lý ngành nghề” [24]

- Theo từ điển giáo dục học: “Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp giúp

đỡ học sinh làm quen tìm hiểu nghề, lựa chọn, cân nhắc nghề nghiệp vớinguyện vọng, năng lực, sở trường của mỗi người Với nhu cầu và điều kiệnthực tế khách quan của xã hội” [17]

- Theo UNESCO, “hướng nghiệp (HN) là một quá trình cung cấp cho người

học những thông tin về bản thân, về thị trường lao động và định hướng cho

người học có các quyết định đúng đối với sự lựa chọn nghề nghiệp” Nhưchúng ta biết, hiện nay giáo dục nói chung và GDHN nói riêng không chỉcung cấp cho người học kiến thức, tri thức khoa học, mà thông qua hoạt độnghọc còn giúp người học phát huy tích cực năng lực, phẩm chất cá nhân, giúphọc sinh phát triển toàn diện, đáp ứng được yêu cầu của xã hội Đây cũng là

cơ sở định hướng cho sự lựa chọn nghề nghiệp của học sinh Ngày nay,người ta đã nhận thấy chỉ cung cấp thông tin là không đầy đủ mà cần phải chỉ

ra sự phát triển về mặt cá nhân, xã hội, giáo dục và nghề nghiệp của học sinh.Một sự thay đổi khác có ảnh hưởng lớn đến hoạt động HN là nó được nhậnthức như là một quá trình phát triển, đòi hỏi một cách tiếp cận chương trìnhchứ không chỉ đơn giản là các cuộc phỏng vấn cá nhân tại các thời điểm quyếtđịnh Trong các cuộc cải cách giáo dục, việc đưa vào giáo dục phổ thông nộidung giáo dục nghề nghiệp để chúng ta có thể định hướng nghề nghiệp, giúpcác em có khái niệm về nghề nghiệp và chọn lựa nghề của mình trong tươnglai là nội dung rất được coi trọng trong các nền giáo dục tiên [22]

- PGS TS Phạm Viết Vượng quan niệm “Hướng nghiệp là hoạt động địnhhướng nghề nghiệp của các nhà sư phạm cho học sinh nhằm giúp họ chọn một

18

Trang 27

nghề phù hợp với hứng thú, năng lực của cá nhân và yêu cầu nhân lực xã hội”[28].

Hướng nghiệp là 1 chuỗi các biện pháp nhằm giúp cho mỗi học sinhđưa ra những lựa chọn định hướng học tập và nghề nghiệp dựa trên năng lực

và phẩm chất của mỗi cá nhân sao cho phù hợp với nhu cầu của xã hội Nhưvậy, chúng ta có thể thấy rằng hướng nghiệp không chỉ là nhiệm vụ của chỉriêng ngành giáo dục mà đó là một hoạt động của nhiều lĩnh vực khác nhautrong xã hội với mục đích cuối cùng giúp học sinh khám phá năng lực củabản thân để lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, đáp ứng được yêu cầu chuyên

môn trong sản xuất lao động.

Trong giáo dục, hướng nghiệp cũng được coi là một hoạt động dạy họccủa giáo viên và học sinh Giáo viên hướng dẫn giúp đỡ học sinh đưa ra cáclựa chọn về phương hướng học tập và nghề nghiệp dựa trên phân tích nănglực, hứng thú bản thân và yêu cầu của xã hội Như vậy, hướng nghiệp trongtrường học được thể hiện như một hệ thống tác động sư phạm nhằm làm chocác em học sinh chọn được nghề một cách phù với với năng lực bản thân[13] Hay có thể nói “Hướng nghiệp là sự tác động của một hệ thống nhữngbiện pháp tác động của nhà trường, gia đình và xã hội, trong đó nhà trườngđóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đivào lao động ở các ngành nghề, tại những nơi xã hội đang cần phát triển, đồngthời phù hợp với hứng thú, năng lực cá nhân” [18]

1.2.1.3 Khái niệm giáo dục hướng nghiệp

Trong những năm gần đây khái niệm GDHN thường xuyên được sử dụngtrong các tài liệu khoa học, các công trình nghiên cứu, điều này chứng tỏ rằngGDHN ngày càng được quan tâm Có thể hiểu rằng, GDHN bao gồm các hoạtđộng của nhà trường phối hợp với gia đình và các tổ chức xa hội nhằm trang

bị kiến thức, hình thành năng lực định hướng nghề nghiệp cho bản thân HS.Giúp học sinh lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực, phẩm chất, tính

19

Trang 28

cách, sở thích, phù hợp với điểu kiện, hoàn cảnh gia đình của mỗi học sinh vàphù hợp với nhu cầu của xã hội [16]

Như vậy, GDHN như là một kim chỉ nam, là một quá trình tác độngnhiều mặt giúp các em HS hiểu rõ bản thân, từ đó đưa ra các quyết định đúngđắn với sự lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai

1.2.1.4 Tích hợp và dạy học tích hợp

Theo từ điển Giáo dục học “tích hợp là hành động liên kết các đốitượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vựckhác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học” [17]

Theo từ điển tiếng Việt thì “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động,chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tíchhợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp” Tích hợp trong mônkhoa học thường được hiểu là sự kết hợp nội dung kiến thức của nhiều mônhọc để giải quyết một vấn đề, một nhiệm vụ học tập nào đó [24]

Hội nghị phối hợp trong chương trình của UNESCO, Paris 1972 có

đưa ra định nghĩa: Dạy học tích hợp các khoa học là một cách trình bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của

tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau [5].

Theo Xaviers Roegirs “Sư phạm tích hợp là một quan niệm về quátrình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ởhọc sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết chohọc sinh nhằm phục vụ cho quá trình học tập tương lai, hoặc hoà nhập họcsinh vào cuộc sống lao động Khoa sư phạm tích hợp làm cho quá trình họctập có ý nghĩa” [31]

Theo Nguyễn Văn Khải “Dạy học tích hợp tạo ra các tình huống liênkết tri thức các môn học, đó là cơ hội phát triển các năng lực của học sinh

20

Trang 29

Khi xây dựng các tình huống vận dụng kiến thức, học sinh sẽ phát huy đượcnăng lực tự lực, phát triển tư duy sáng tạo” [21].

Quan điểm của Ban chỉ đạo đổi mới chương trình, sách giáo khoa sau

2015 cho rằng: Dạy học tích hợp được hiểu là giáo viên tổ chức để học sinh

huy động đồng thời kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằmgiải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó lại hình thành những kiến thức,

kỹ năng mới, từ đó phát triển những năng lực cần thiết [5]

Có rất nhiều hình thức tích hợp như: tích hợp truyền thông, đơn môn,liên môn, đa môn, xuyên môn nhưng hình thức tích hợp chủ yếu hiện naythường được sử dụng là tích hợp liên môn Tích hợp liên môn là hình thức sửdụng những kiến thức của các môn khoa học khác nhau để giải quyết một tìnhhuống, một vấn đề

Bảng 1.1 So sánh các thành tố giữa dạy học tích hợp và dạy học đơn môn

Các thành tố của Dạy học tích hợp Dạy học đơn môn quá trình dạy học

Mục tiêu Mục tiêu đơn môn + các mục Mục tiêu đơn môn

tiêu phát triển các năng lựcNội dung Xuất phát từ vấn đề gắn với Trình bày theo cấu

thực tiễn, ít quan tâm đến logic trúc logic nội tại của

Phương tiện Không có sự khác biệt về bản chất mà chỉ là do sự khác

biệt về nội dung quy địnhPhương pháp, Không có phương pháp dạy học tích hợp mà sử dụnghình thức tổ chức chung hệ thống phương pháp dạy học giống như khi

dạy học truyền thốngKiểm tra đánh giá Không có sự khác biệt về công cụ hay cách thức đánh

giá

21

Trang 30

Như vậy, dạy học tích hợp có thể hiểu đó là một quan điểm dạy họcnhằm hình thành và phát triển ở học sinh những năng lực cần thiết trong đó cónăng lực vận dụng kiến thức để giải quyết có hiệu quả các tình huống thựctiễn Điều đó cũng có nghĩa là để đảm bảo cho mỗi học sinh biết vận dụngkiến thức được học trong nhà trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bấtngờ thường gặp phải trong đời sống thực tiễn; qua đó trở thành một ngườicông dân có trách nhiệm, một người lao động có năng lực Dạy học tích hợpđòi hỏi việc học tập các nội dung lý thuyết trong nhà trường phải luôn đượcgắn với thực tiễn cuộc sống của học sinh Như vậy, dạy học tích hợp sẽ pháthuy tối đa năng lực và phát triển phẩm chất cá nhân mỗi học sinh, giúp các emthành công trong cuộc sống sau này.

1.2.1.5 Tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học các môn khoa học

Tích hợp GDHN vào các môn khoa học, được hiểu giống như tích hợpliên môn Trong quá trình học các nội dung liên quan đến hướng nghiệp sẽđược tích hợp trong các bài dạy môn khoa học ở những mức độ kiến thứckhác nhau.Tích hợp GDHN trong dạy học các môn khoa học là một ví dụ cụthể cho câu nói “Học đi đôi với hành” Hoạt động học không chỉ cung cấp chocác em những kiến thức về khoa học, về các ngành nghề mà thông qua cáchoạt động học tập học sinh sẽ có những hiểu biết thực tiễn với những ngànhnghề mà các em có thể lựa chọn cũng như hình thành những phẩm chất vànăng lực cần thiết đối với nghề mà các em lựa chọn Dựa vào mục tiêu đề ra,nội dung môn học, việc tích hợp GDHN trong dạy học ở trường có thể đượcthực hiện dưới các mức độ khác nhau (thông qua hoạt động tham quan trảinghiệm, hoạt động ngoại khóa ) Tích hợp GDHN vào các môn học giúphọc sinh hiểu rõ bản chất của những kiến thức khoa học mà còn giúp học sinhhiểu về ứng dụng của nó trong cuộc sống đặc biệt là lĩnh vực nghề nghiệp Dovậy, tích hợp GDHN trong dạy học các môn học không chỉ giúp học sinh phát

22

Trang 31

triển những năng lực chung mà còn giúp học sinh phát triển những năng lựcliên quan đến nghề nghiệp [9].

Với môn Sinh học, việc tích hợp GDHN trong dạy học được thể hiện ởhoạt động GV sử dụng các phương pháp, hình thức, kỹ thuật dạy học thíchhợp khai thác các kiến thức của Hướng nghiệp nhưng vẫn đảm bảo được cáckiến thức, kỹ năng, thái độ theo mục tiêu của môn học Tùy nội dung và kiếnthức từng bài mà GV có thể tích hợp GDHN ở những mức độ khác nhau

1.2.2 Giáo dục hướng nghiệp trong hệ thống giáo dục

1.2.2.1 Mục đích của giáo dục hướng nghiệp

Theo PGS.TS Pham Tất Dong, mục đích chung của GDHN là hìnhthành cho lứa tuổi trẻ năng lực tự định hướng nghề phù hợp với những đặcđiểm bản thân và những nhu cầu của xã hội Thực hiện được mục đích nêutrên, hướng nghiệp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả lao động xã hội, điều chỉnh

từ gốc sự phân luồng nguồn lao động dự trữ trên bình diện cả nước [13, 18]

Qua hướng nghiệp, các em được làm quen với những nghề cơ bảntrong xã hội, những nghề có vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân, nhữngnghề cần thiết phải phát triển ở ngay địa phương mình Theo sách thì giáo dụchướng nghiệp ở trường phổ thông có 5 nhiệm vụ sau đây:

1/ Tổ chức cho học sinh làm quen với các ngành nghề của nền kinh tế,đặc biệt với các nghề phổ biến;

2/ Tổ chức các hoạt động giáo dục nghề cho học sinh nhằm giúp các em

có ý thức chọn nghề;

3/ Tiến hành tư vấn chọn nghề cho học sinh;

4/ Giúp học sinh tìm hiểu nhân cách của mình để giúp các em chọnnghề phù hợp;

5/ Giáo dục học sinh có thái độ lao động đúng với mọi ngành nghề [2]Mục tiêu của hoạt động GDHN được quy định như sau:

23

Trang 32

- Về kiến thức: HS biết được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc lựa chọnnghề trong tương lai; Một số kiến thức cơ bản về vấn đề chọn nghề; Một số thôngtin cơ bản về định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đất

nước và khu vực, về thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động, hệ thống giáodục nghề nghiệp, CĐ và ĐH ở địa phương và cả nước; Biết cách tìm kiếmthông tin nghề và cơ sở đào tạo cần thiết cho bản thân; Và biết cách tự đánhgiá năng lực bản thân, điều kiện gia đình và nhu cầu xã hội để định hướnghọc tập và chọn nghề tương lai

- Về kĩ năng: HS có khả năng tự đánh giá được năng lực bản thân vàđiều kiện gia đình trong việc định hướng nghề nghiệp tương lai; Tìm kiếm đượcnhững thông tin nghề và cơ sở đào tạo cần thiết cho bản thân trong việc chọnnghề; Định hướng và lựa chọn được nghề nghiệp tương lai cho bản thân

- Về thái độ: HS chủ động, tự tin trong việc chọn hướng đi, chọn nghề;

Có hứng thú và khuynh hướng chọn nghề đúng đắn [14]

1.2.2.2 Ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp

Ý nghĩa của GDHN được các tác giả giả Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Truyền,Bùi Văn Quân nêu ra rất rõ trong cuốn “Một số vấn đề về hướng nghiệp cho họcsinh phổ thông” Theo tác giả ý nghĩa của GDHN được đề cập

ở những mặt sau [23]:

- Ý nghĩa về giáo dục: Do có GDHN, góp phần cho nhà trường thực

hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh Trong đó một trong những mục tiêuquan trọng là giáo dục cho học sinh có hứng thú và động cơ nghề

nghiệp đúng đắn, có lý tưởng và thái độ đúng đắn với lao động trong tương lai

Do đó, hướng nghiệp chính là một bộ phận không thể thiếu trong nội dung giáodục Cho học sinh tiếp xúc, làm quen, tham gia với nghề, với các kỹ thuật vàcông nghệ sản xuất ngay trên ghế nhà trường góp phần quan trọng giúp họcsinh hình thành và rèn luyện những năng lực và phẩm chất cần thiết

24

Trang 33

- Ý nghĩa về mặt kinh tế: Một trong những ý nghĩa quan trọng về mặt

kinh tế đó chính là sự phân luồng học sinh ngay khi trên ghế nhà trường Phân luồnghọc sinh là cơ sở cho sự phân lường nhân lực cho xã hội, góp phần sử

dụng một cách hợp lý tiềm năng lao động trong tương lai Đây chính là tiền

đề cho sự phát triển kinh tế, nâng cao năng xuất lao động Mỗi năm, cả nước

có hàng triệu học sinh tốt nghiệp THCS và THPT nếu có sự kết hợp chặt chẽ,đồng bộ, khoa học của nhà trường và gia đình trong GDHN, phân luồng họcsinh thì chúng ta sẽ có một nguồn nhân lực dồi dào, trình độ chuyên mônnghiệp vụ cao, đặc biệt là đa ngành đa nghề phục vụ xa hội

đó góp phần phát triển dân trí, bồi dưỡng tài năng theo định hướng phát triển

xã hội trong từng giai đoạn

+ Về mặt xã hội: GDHN sớm cho học sinh, giúp học sinh định hướngđược cuộc sống lao động trong tương lai GDHN hỗ trợ học sinh tìm đượccông việc phù hợp với năng lực, sở thích và yêu cầu của xã hội, có như vậymới hang xay, cống hiến trí lực trong công việc Đây là cơ sở làm cho xã hộibình ổn

1.2.2.3.Căn cứ để xây dung nội dung của việc giáo dục hướng nghiệp

Giáo dục hướng nghiệp không chỉ thỏa mãn nhu cầu của người học vềnhững kiến thức liên quan đến nghề nghiệp mà họ quan tâm Mục đích củachương trình hướng nghiệp là giúp học sinh hiểu được tầm quan trọng củaviệc giáo dục hướng nghiệp và chỉ rõ cho học sinh những năng lực phẩm chấtcần có trong nghề nghiệp mà mình lựa chọn Việc xây dựng nội dung giáo dụchướng nghiệp có được sau khi đánh giá nhu cầu của học sinh và xã hội,

25

Trang 34

cũng như các mục tiêu của hệ thống giáo dục địa phương nói riêng hay rộnghơn là của cả quốc gia nói chung Nội dung giáo dục hướng nghiệp còn dựatrên kế hoạch dạy học, nhiệm vụ và mục tiêu của trường.

- Xây dựng nội dung dựa trên nhu cầu và thực tế của học sinh Nhu cầu

cụ thể của học sinh liên quan đến giáo dục hướng nghiệp và nội dung chươngtrình giáo dục hướng nghiệp được gắn liền với nhau, giúp học sinh phát triểnmột cách toàn diện Sự phát triển tâm sinh lý của mỗi học sinh ở mỗi cấp học,

độ tuổi là khác nhau do vậy để biết được nhu cầu, mong muốn của học sinhnhà trường có thể đánh giá thông qua việc khảo sát Việc khảo sát này tùy vàođiểu kiện của mỗi trường sẽ tiến hành bằng cách yêu cầu học sinh trả lời cácphiếu trắc nghiệm, làm các bài test ngắn hoặc có thể phỏng vấn trực tiếp vv

- Tình hình thực tế của nhà trường và địa phương Nội dung giáo dục

hướng nghiệp phải được xây dựng trên cở sở phù hợp với tình hình thực tế củanhà trường và địa phương Cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên của trường có đápứng được yêu cầu của nội dung chương trình hay không? Phụ huynh học sinh vàcác cấp lãnh đạo địa phương có những hỗ trợ gì trong việc giáo dục hướng nghiệpcủa con em mình?

- Mục tiêu và nội dung giáo dục hướng nghiệp phải phù hợp với xu thế phát triển của xã hội Những nhà giáo dục, cụ thể ở đây là giáo viên luôn phải cập

nhật những thông tin liên quan về chuyên môn, về thông tin đa dạng trong thế giớinghề nghiệp hiện tại, về những nghề nghiệp mới được giới trẻ ưa thích, nhữngnghề nghiệp có tiềm năng phát triển trong tương lai, hay những nghề nghiệp có thểphát triển tại địa phương vv Những thông tin này này không chỉ được tìm hiểuqua sách báo, internet mà có thể tìm hiểu trong trải nghiệm thực tế

Nghề nghiệp hay thế giới nghề nghiệp là phạm trù vô cùng rộng lớn,

nó không chỉ gói gọn trong một lĩnh vực, một thời điểm cụ thể, nó xuyên suốtquá trình phát triển xã hội loài người Mỗi mặt trong xã hội luôn tồn tại nhiều

26

Trang 35

nghề đặc trúng và cốt lõi Nhưng mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn là

không thể chối bỏ trong các lĩnh vực nghề nghiệp Có lý thuyết chúng ta hiểu

những kiến thức, kỹ năng căn bản của nghề, những lý thuyết đó được áp dụng

vào thực tiễn làm rõ hơn bản chất của những kiến thức khoa học Với sinh học

cũng vậy, nghề nghiệp trong lĩnh vực sinh học phủ kín mọi mặt của xã hội

Như vậy việc tích hợp GDHN trong dạy học sinh học giúp học sinh có những

cái nhìn đa chiều hơn với nghề nghiệp từ đó đưa ra những lựa chọn phù hợp

với bản thân

1.3 Cơ sở thực tiễn của tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học

Sinh học ở cấp Trung học cơ sở

* Thông tin khảo sát:

- Về giáo viên: có 47 giáo viên và 3 cán bộ quản lý tham gia khảo sát

- Về học sinh: có 193 tham gia khảo sát trong đó có khoảng 40-50% là

học sinh khá giỏi và 50-60% là học sinh trung bình, khoảng 1% là học sinh yếu

kém

* Nội dung khảo sát: Gồm 2 nội dung khảo sát trong đó nội dung 1

dành cho giáo viên (3 câu hỏi), nội dung 2 dành cho học sinh

* Kết quả khảo sát:

- Với giao viên: Để biết được thực trạng của dạy học GDHN trong nhà

trường tôi tiến hành “Phiếu hỏi ý kiến” đối với các giáo viên trong trường

THCS Phùng Chí Kiên, Nam Định Số lượng giáo viên tham gia: 50 giáo viên

bao gồm cả giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn Kết quả tiến hành khảo

sát như sau:

Bảng 1.2 Thực trạng dạy học giáo dục hướng nghiệp (GDHN)

Mức độ dạy học GDHN trong nhà trường

27

Trang 36

1 Thỉnh thoảng 25(50%)

Phương pháp, kỹ thuật dạy học thầy cô thường Số lượt GV

sử dụng(có thể chọn nhiều hơn 1 phương pháp): chọn

Qua kết quả “phiếu hỏi ý kiến” của giáo viên ta có những nhận xét sau:

- Với câu hỏi số 1, khi được hỏi về mức độ dạy học GDHN trong nhà trường

thì chỉ có 3% giáo viên tham gia khảo sát thường xuyên dạy GDHN, số giáo viênkhông tham gia dạy GDHN là 12% còn lại đa số giao viên ít khi dạy(25%) haythỉnh thoảng dạy (50%) Lý giải cho thực trạng trên tôi nhận thấy rằng, tất cảnhững giáo viên trong nhà trường vào giáo viên tham gia khảo sát đều không phải

là giáo viên chuyên về dạy GDHN Những giáo viên

này đều là kiêm nhiệm việc dạy GDHN cho học sinh Trước kia, việc dạyGDHN được Sở Giáo dục, nhà trường tổ chức sẽ do những giáo viên thuộctrường trung cấp nghề trên địa bàn đảm nhiệm Sau khi Sở Giáo dục cho

Trang 37

28

Trang 38

trường tự quản trong việc GDHN cho học sinh, thì những giáo viên bộ môntrong nhà trường sẽ kiêm nhiệm Do không được đào tạo chuyên môn, chưa

có nhiều kinh nghiệm trong việc dạy GDHN là nguyên nhân dẫn đến giáoviên bộ môn còn chưa tâm huyết với việc dạy GDHN Dẫn tới hiệu quả củaviệc GDHN trong nhà trường không đạt được hiệu quả cao Nguyên nhân thứlàm cho hiệu quả GDHN trong nhà trường chưa cao là GDHN không đượcsếp vào môn học trong nhà trường do đó số tiết dạy GDHN rất ít chỉ sắp xếpvào các buổi sinh hoạt cuối tuần của lớp hay các buổi học ngoại khóa toàntrường

- Với câu hỏi số 2, khi được hỏi về hình thức, phương pháp dạy học GDHN

đa số giáo viên lựa chọn những hình thức, phương truyền thống như vấn đáp,thuyết trình, kỹ thuật bản đồ tư duy mà rất ít sử dụng các phương pháp dạyhọc mới như: STEM, dạy học them góc, theo trạm dẫn đến hiệu quả củaGDHN chưa cao

Biểu đồ 1.1 Sự lựa chọn hình thức dạy học

Số GV lựa chọn120

0 0

Hình thức lựa chọn

- Với học sinh: Để biết được thực trang học tập của học sinh đối với môn

Sinh học và hoạt động GDHN trong nhà trường, tôi tiến hành “Điều tra xa hội

Trang 39

29

Trang 40

học” đối với các học sinh khối 9 của trường THCS Phùng Chí Kiên Kết quảkhảo sát như sau:

Kết quả khảo sát nội dung 1

Trong câu hỏi số 1 “Thái độ học tập môn Sinh học của bản thân họcsinh”, tôi chỉ tiến hành điều tra ở 3 mức độ gồm: Thích, bình thường, khôngthích.Hứng thú trong học tập luôn là một trong những thang điểm quan trọngtrong việc đánh giá kết quả học tập của học sinh ở tất cả các môn học Mức độhứng thú với môn học có ý nghĩa quyết định tới kết quả học học tập của họcsinh Kết quả thống kê thu được như bảng 1.3:

Bảng 1.3 Kết quả khảo sát mức độ hứng thú của học sinh

là những thách thức đặt ra với các giáo viên bộ môn trong việc dạy học Việcdạy học luôn yêu cẩu phải đổi mới cả về nội dung và phương pháp nhằm tạohứng thú cho học sinh

Để làm rõ mức độ hiểu biết của học sinh đối với môn Sinh học, đặc biệt

là sự quan tâm tới nghề nghiệp, tôi đưa ra câu hỏi số 2 “Em hãy chọn nhữnglĩnh vực nghề nghiệp có liên quan đến Sinh học” Kết quả thu được như sau:

30

Ngày đăng: 10/02/2021, 13:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w