Trên thế giới đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về bất bình đẳnggiới trong phân công lao động, nhưng chủ yếu là tập trung nghiên cứu về thực trạng bất bình đẳng giới trong gia
Trang 1VƯƠNG MINH HUYỀN
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM NHẰM GIẢM THIỂU BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI VỀ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG TRONG GIA ĐÌNH VIÊN CHỨC TẠI XÃ CỘNG HÒA,
HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội - 2020
Trang 2VƯƠNG MINH HUYỀN
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM NHẰM GIẢM THIỂU BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI VỀ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG TRONG GIA ĐÌNH VIÊN CHỨC TẠI XÃ CỘNG HÒA,
HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành
Mã số
: Công tác xã hội : 60900101
LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Ngươig hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ THÁI LAN
Hà Nội – 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy côtrong khoa Xã hội học, trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là
PGS TS Nguyễn Thị Thái Lan - người đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, động viên tôi
trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài
Tôi xin gửi lời cám ơn tới chính quyền địa phương tại xã Cộng Hòa, huyệnQuốc Oai, thành phố Hà Nội, các cán bộ tại địa phương và các khách thể nghiên cứucủa tôi đã luôn tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thựchiện đề tài của mình
Xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2020
Trang 5DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ thể hiện độ tuổi của khách thể nghiên cứu 34
Bảng 2.1: Quan điểm của hai giới về việc phân công lao động trong gia đình 36
Bảng 2.2: Người chịu trách nhiệm chính trong các công việc gia đình 38
Biểu đồ 2.2 Thời gian tham gia các công việc trong gia đình của vợ và chồng(Đơn vị: ĐTB) 40
Biểu đồ 2.3 Thời gian nghỉ ngơi của chồng và vợ (tính từ 6h-18 hằng ngày (Đơn vị: ĐTB) 40
Bảng 2.3: Các hoạt động của vợ và chồng sau khi kết thúc công việc ngoài xã hội 41
Bảng 2.4: Mức độ tham gia công việc nội trợ của vợ và chồng 42
Bảng 2.5: Mức độ tham gia công việc chăm sóc và giáo dục con cái của chồng và vợ 44
Bảng 2.6: Mức độ tham gia các công việc cộng đồng của chồng và vợ 45
Bảng 2.7: Quyền quyết định các công việc trong gia đình 46
Bảng 2.8: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trong việc phân công lao động trong gia đình 48
Bảng 3.1: Kế hoạch hoạt động nhóm 56
Bảng 3.2: Quan điểm của hai giới về việc phân công lao động trong gia đình trước và sau khi áp dụng tiến trình CTXH nhóm 59
Bảng 3.3: Quan điểm về việc ai là người chịu trách nhiệm chính trong các công việc gia đình 61
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ thể hiện độ tuổi của khách thể nghiên cứu 34
Biểu đồ 2.2 Thời gian tham gia các công việc trong gia đình của vợ và chồng 40
Biểu đồ 2.3 Thời gian nghỉ ngơi của chồng và vợ (tính từ 6h-18 hằng ngày 40
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC TỪ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv
MỤC LỤC v
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 14
1.1.Các khái niệm công cụ 14
1.1.1 Phân công lao động theo giới 14
1.1.2 Gia đình viên chức 17
1.1.3Phân công lao động trong gia đình viên chức 18
1.2.Công tác xã hội nhóm 19
1.2.1.Công tác xã hội 19
1.2.2.Công tác xã hội nhóm 20
1.2.3.Công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu bất bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình viên chức 22
1.2.4.Một số lý thuyết vận dụng trong công tác xã hội nhóm 22
1.3.Biểu hiện của sự phân công lao động theo giới trong gia đình viên chức 25
1.3.1.Nhận thức về phân công lao động theo giới trong gia đình viên chức: 25
1.3.2.Phân công lao động trong gia đình viên chức theo các nhóm công việc: 25
1.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phân công lao động trong gia đình viên chức .28
Tiểu kết chương 1: 31
Trang 8CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG CỦA VIỆC PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG TRONG GIA ĐÌNH VIÊN CHỨC TẠI XÃ CỘNG HÒA, HUYỆN QUỐC OAI,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI 32
2.1 Mô tả địa bàn nghiên cứu 32
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 32
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 32
2.2 Thực trạng trong phân công lao động trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 33
2.2.1 Mô tả khách thể nghiên cứu và thang đo 33
2.2.2 Phân công lao động theo giới trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 35
2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc phân công lao động trong gia đình 47
Tiểu kết chương 2: 50
CHƯƠNG 3:ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM 51 3.1 Căn cứ lựa chọn phương pháp Công tác xã hội nhóm 51
3.2 Tiến trình công tác xã hội nhóm 52
3.3 Kết quả đạt được 58
3.4 Đánh giá chung quá trình áp dụng tiến trình CTXH nhóm 62
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 65
1 Kết luận 65
2.Khuyến nghị 65
2.1.Đối với gia đình, các cặp vợ chồng 66
2.2.Đối với chính quyền địa phương xã Cộng Hòa 66
2.3.Đối với nhân viên CTXH 66
2.4.Đối với Vụ Bình đẳng giới – Bộ Lao động thương binh và xã hội 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69 PHỤ LỤC
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong các quan hệ giữa con người với con người thì mối quan hệ giữa giớinam và giới nữ trong gia đình có ý nghĩa quan trọng và có tính chất đặc biệt Đó làmối quan hệ tình cảm có tính riêng tư, cá nhân diễn ra trong cuộc sống sinh hoạthàng ngày giữa vợ và chồng, đồng thời lại có tính xã hội sâu sắc và rộng lớn Khinói đến mối quan hệ giữa hai giới là nói đến trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụcủa nam giới và nữ giới Ngoài ra, mối quan hệ giữa hai giới còn thể hiện vị trí, vaitrò và địa vị xã hội của mình một cách công bằng và ngang nhau về cơ hội Yếu tốgiới luôn được đề cập đến ở tất cả các lĩnh vực Đây là loại hình phân công lao động
xã hội xuất hiện rất sớm trong lịch sử loài người, chúng phản ánh bản chất mối quan
hệ xã hội giữa phụ nữ và nam giới cũng như trình độ phát triển kinh tế xã hội củacác xã hội khác nhau Trong những thập kỷ qua, vấn đề này đã thu hút sự quan tâmnghiên cứu của nhiều nhà khoa học và các nhà làm chính sách
Trên thế giới đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về bất bình đẳnggiới trong phân công lao động, nhưng chủ yếu là tập trung nghiên cứu về thực trạng
bất bình đẳng giới trong gia đình mà chưa đề cập đến góc nhìn từ Công tác xã hội.
Theo Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CADEW)[47]chỉ ra gánh nặng của phụ nữ phải chịu trung bình từ các nước đang phát triển là53% và các nước công nghiệp đang phát triển là 51% Song, chỉ có tổng số thời gianlao động của nam giới và nữ giới là thuộc về kinh tế, nửa kia là lao động trong giađình hoặc các hoạt động trong cộng đồng mà trong đó thường là hoạt động nội trợ
và chăm sóc con cái phụ nữ phải đảm nhiệm
Tại Việt Nam, mục tiêu xây dựng mối quan hệ bình đẳng giữa nam giới và nữgiới trong phạm vi gia đình và xã hội đã được xác định ngay từ khi Đảng cộng sản
và Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời Trong Chánh cương vắn tắt củaĐảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo đã tuyên bố “nam nữ bình quyền” Từ đóđến nay, vấn đề bình đẳng nam nữ, bình đẳng giới tiếp tục được Đảng và Nhà nướctích cực chỉ đạo và triển khai thực hiện Sự ra đời và triển khai trong thực tế của
Trang 10nhiều chính sách, pháp luật, tiêu biểu là Luật Bình đẳng giới (2006), Luật Hôn nhân
và gia đình, Luật phòng chống bạo lực gia đình là những minh chứng thể hiện sựphát triển ngày càng cao về nhận thức cũng như sự cam kết của Đảng và Nhà nướctrong thực hiện bình đẳng giới Việc nâng cao chất lượng cuộc sống trong gia đình,
sự công bằng khi phân công lao động trong gia đình giữa hai giới cũng là một trongnhững mục tiêu lớn trong chiến lược thực hiện bình đẳng giới ở nước ta Mục tiêunày không chỉ là trách nhiệm của đoàn thể, cơ quan hay của một giới, một gia đình
mà là của toàn xã hội
Công tác xã hội là một ngành khoa học ứng dụng, một hoạt động chuyênnghiệp trong đó nhân viên công tác xã hội cần sử dụng những kiến thức, kĩ năng củamình để hỗ trợ cá nhân, nhóm, cộng đồng yếu thế trong xã hội nhằm phát huynhững tiềm năng của họ, giúp họ tự vươn lên trong cuộc sống Nhóm phụ nữ đang
là nạn nhân của bất bình đẳng giới và đó chính là đối tượng của công tác xã hội.Tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, công tác thực hiện bìnhđẳng giới, đặc biệt là việc bình đẳng giới trong lĩnh vực phân công lao động tronggia đình ngày càng được nâng cao bởi trình độ học vấn cũng như chất lượng cuộcsống ổn định hơn Song, bên cạnh đó vẫn tồn tại khá nhiều những bất cập Nguyênnhân chủ yếu là do nhận thức của người dân vẫn ảnh hưởng bởi lối tư tưởng và quanniệm cũ [47] Tính đến thời điểm hiện tại, xã Cộng Hòa chưa có một công trìnhnghiên cứu nào về vấn đề bình đẳng giới, đặc biệt là theo hướng tiếp cận công tác
xã hội Chủ yếu nâng cao nhận thức của người dân về bình đẳng giới thông quatruyền thông và tập huấn
Trên thực tế, các nghiên cứu về bình đẳng giới chủ yếu dựa trên nghiên cứu xãhội học và đưa ra kết quả của thực trạng bất bình đẳng giới trong phân công laođộng trong gia đình Trên phương diện công tác xã hội, có rất ít các công trìnhnghiên cứu về bình đẳng giới hoặc có nhưng khách thể nghiên cứu của họ chủ yếu
là bình đẳng giới trong doanh nghiệp, chính trị…Hơn nữa, cũng chưa có công trìnhnghiên cứu nào ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhằm giảm thiểu bất bìnhđẳng giới trong phân công lao động trong gia đình, đặc biệt là gia đình viên chức
Trang 11Đối với các nghiên cứu về bình đẳng giới trong phân công lao động trong giađình thì chưa thật sự rõ nét Với mong muốn tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn vềgiảm thiểu bất bình đẳng giới của việc phân công lao động theo giới trong gia đìnhviên chức, từ đó áp dụng tiến trình can thiệp công tác xã hội nhóm nhằm thúc đẩybình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa,
huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, tôi chọn đề tài “Công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu bất bình đẳng giới về phân công lao động trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội”.
2 Tổng quan nghiên cứu 2.1.Trên thế giới
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự PCLĐ theo giới tronggia đình, các hướng nghiên cứu chính chủ yếu đề cập đến thực trạng và vai trò củangười phụ nữ trong gia đình Trên thực tế còn thiếu vắng các công trình nghiên cứu
về công tác xã hội trong lĩnh vực bình đẳng giới trong phân công lao động
Trong thời gian vừa qua, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về bất bìnhđẳng giới trong phân công lao động trong gia đình và các lĩnh vực có liên quan
Tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước” của
Engels (1840) [30] Đây là một trong những công trình nghiên cứu về sự phân cônglao động theo giới sớm nhất Đứng trên quan điểm duy vật lịch sử, Engels đã mô tả
sự phân công lao động theo giới gắn liền với sự tồn tại của các hình thức sở hữu tưliệu sản xuất khác nhau, các kiểu hôn nhân và gia đình khác nhau Theo đó, địa vịcủa phụ nữ và nam giới đã thay đổi khi có sự thay đổi về mô hình phân công laođộng mà nguồn gốc sâu xa của nó bắt nguồn từ sự thay đổi về quan hệ đối với tưliệu sản xuất, về kỹ thuật cũng như hình thái hôn nhân và gia đình [5] Nghiên cứu
của E.Boserup với đề tài “Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế” (1970) [28]
đã làm thay đổi nhận thức về phân công lao động theo giới của con người “Lần đầutiên Bo…đã xác định 1 cách có hệ thống và ở phạm vi thế giới, sự phân công laođộng theo giới trong các nền kinh tế nông nghiệp” Những khám phá của bà đã gópphần làm sáng tỏ hơn nữa bức tranh về phân công lao động theo giới thông quan
Trang 12việc phân tích và khẳng định vai trò của lao động nữ trong các nước thuộc thế giớithứ ba, đặc biệt trong sản xuất lương thực, thực phẩm cho toàn thế giới.[8]
Đề tài “Công việc của phụ nữ - Sự phát triển và phân công lao động theo giới”, E.Leacock, Helen I.Safa và những người khác (1986) [30] một lần nữa đã làm
sáng tỏ những kết luận của Boserup về phân công lao động theo giới và vai trò củaphụ nữ trong thế giới thứ ba Không những thế, nghiên cứu của họ đã mở rộng ra đểxem xét sự phân công lao động theo giới cả trong xã hội nông nghiệp và xã hội côngnghiệp Các tác giả đã chứng mình rằng trong xã hội nông nghiệp hay xã hội chủnghĩa thì phụ nữ cũng bị đặt những gánh nặng của công việc tái sản xuất ngoài hoạtđộng sản xuất để kiếm sống, điều đó khiến cho họ thường xuyên phải lao động quásức
Theo nhóm tác giả nghiên cứu gồm John Knodel, Trung tâm Nghiên cứu Dân
số (Đại học Michigan, USA) và Bussarawan Puk Teerawichitchainan, Trường Khoahọc xã hội (Đại học Quản lý Singapore), Vũ Mạnh Lợi và Vũ Tuấn Huy (Viện Xãhội học), [34] đã báo báo kết quả nghiên cứu về phân công giới trong lao động giađình ở Việt Nam phụ nữ vẫn là người giữ vai trò chính trong việc nội trợ và chămsóc con cái mặc dù sự tham gia của nam giới đang ở mức tăng lên theo 3 thời kì là:
thời chiến (83,5 - 85%), thời thống nhất đất nước (83,7 - 85%) và thời kì đổi mới
(81 - 84%)
Trong nghiên cứu “Division of Labor - Contemporary Divisions Of Labor”
(Phân công lao động đương đại) ở Mỹ, Robinson đã chỉ ra rằng “Người chồng chỉđóng góp khoảng hai giờ mỗi tuần với nhiệm vụ kết hợp nấu ăn, rửa bát, dọn dẹpnhà cửa và giặt giũ, so với mức trung bình gần hai mươi lăm giờ mỗi tuần cho các
bà vợ” Đối với Coltrane thì cho rằng “Sau đó nghiên cứu công việc gia đình đã tìmthấy rằng phụ nữ, đặc biệt là sử dụng phụ nữ đang làm việc nhà ít hơn trước vànhững người đàn ông là làm thêm một chút Tuy nhiên, người phụ nữ đã lập giađình trung bình ở Hoa Kỳ đã làm khoảng ba lần so với nấu ăn, dọn dẹp, giặt ủi, vàlàm việc nhà thường xuyên khác vào những năm 1990 khi người đàn ông đã kết hôntrung bình Công việc gia đình tiếp tục được phân chia theo giới tính, với phụ nữ
Trang 13thực hiện phần lớn các nhiệm vụ lặp đi lặp lại công việc gia đình trong nhà vànhững người đàn ông thực hiện nhiệm vụ ngoài trời thỉnh thoảng”[38].
Trong nghiên cứu “Household Division of Labor: Is There Any Escape From Traditional Gender Roles?” (Phân công lao động trong gia đình: Giải pháp nào cho
vai trò giới truyền thống?) [39] của Catherine Sofer & Sayyid Salman Rizavi, họ đãnghiên cứu và chỉ ra rằng việc chia sẻ công việc trong gia đình là đáng kể ổn định.Tuy nhiên, bên cạnh đó việc bình đẳng vẫn chưa ở mức cân bằng Các nước như Na
Uy, Phần Lan hay Bỉ là các nước được coi là chia sẻ bình đẳng nhất Nhưng nướcPháp – một trong những nước phát triển nhất thế giới mà có tỷ lệ bất bình đẳng lạicao nhất (Đàn ông làm công việc gia đình chiếm 34%)
Will mott và Young (nước Anh) họ cho rằng “gia đình đối xứng” có sự bình đẳng hơn giữa vợ và chồng “Gia đình đối xứng” không còn tồn tại lối phân công
lao động cũ mà hoàn toàn ngược lại Phụ nữ làm việc của nam giới là kiếm tiền (trụcột kinh tế) còn nam giới đảm nhận công việc gia đình như nội trợ, chăm sóc concái…[7]
Trong tác phẩm “Giới tính thứ hai” của Simone De Beauvoir [36] (Theo bảndịch của Nguyễn Trọng Định và Đoàn Ngọc Thanh) tác giả giải thích nguyên nhândẫn đến “ địa vị hạng 2” của phụ nữ, bà khẳng định rằng phụ nữ phải đảm nhậnphần lớn các công việc nội trợ và bà cũng lên tiếng, đưa ra quan điểm bênh vực phụ
nữ nhằm xóa bỏ bất bình đẳng nam – nữ trên thế giới
Ở thập kỉ 90, Caralin O N Moser cho ra tác phẩm “Kế hoạch hóa về giới và phát triển – lý thuyết, thực hành và huấn luyện” [27] (Người dịch; Nguyễn Thị
Hiên) Ngoài những khái niệm then chốt liên quan đến PCLĐ trong gia đình, cuốnsách này còn chỉ ra thực trạng PCLĐ theo giới ở nhiều xã hội khác nhau và mục
đích đòi hỏi sự công bằng, bình đẳng cho phụ nữ Bên cạnh đó, trong tác phẩm: “Sự huyền bí của nữ tính” [26] chỉ ra sự khốn khổ và thất vọng của người phụ nữ trong
phát triển kinh tế
Hơn thế nữa, tác phẩm “Gender and Domestic life” [36] của Tony Chapma chothấy cuộc sống của gia đình truyền thống ảnh hưởng tới vị trí, vai trò của người phụ
Trang 14nữ Nghiên cứu còn chỉ ra rằng ở thời kì đó, phụ nữ luôn cảm thấy ngột ngạt bởi những khắt khe của gia đình truyền thống.
2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về các lĩnh vực nhưthực trạng bất bình đẳng giới trong gia đình; các nghiên cứu về phân công lao độngtrong gia đình và những công trình nghiên cứu CTXH liên quan đến bình đẳng giới.Đối với các công trình nghiên cứu về thực trạng bất bình đẳng giới tiêu biểunhư:
Trong cuốn “Nghiên cứu phụ nữ giới và gia đình”, tác giả Nguyễn Linh Khiếu
cho rằng “Quan hệ giữa vợ và chồng trong giai đoạn hiện nay đã thay đổi khá cănbản so với trước đây Trước đây chỉ có người chồng, những người đàn ông làm rakinh tế, nuôi sống gia đình thì ngày nay, người vợ, người phụ nữ đã trở thành mộttrong những người mang lại nguồn thu nhập chính cho kinh tế gia đình Chính vì thếtrong gia đình hiện nay nhiều vấn đề quan trọng, nhất là trong lĩnh vực kinh tế đều
có một sự bàn bạc, thống nhất, cùng quyết định của vợ và chồng.”[4] Điều tra củaNguyễn Linh Khiếu cho thấy các công việc trong gia đình chủ yếu vẫn do ngườiphụ nữ làm Tuy nhiên, việc chia sẻ và tham gia làm các công việc gia đình củangười đàn ông cũng chiếm tỷ lệ khá cao
Theo nghiên cứu Bình đẳng giới trong gia đình người Sản Chỉ, khảo sát tại xãBộc Bố, huyện Pắc Nặm, tỉnh Bắc Kạn cho thấy kết quả khảo sát các hoạt động nhưcác công việc nội trợ và chăm sóc con cái thì phụ nữ vẫn chiếm tỷ lệ cao (73,7%) vànam giới chiếm tỷ lệ thấp (26,3 %)[19] Tuy nhiên, cũng theo nghiên cứu, công việcmua bán hay sửa chữa các thiết bị trong gia đình thì người đàn ông chiếm tỷ lệ cao hơn
nữa giới (82,6 %) Hay trong nghiên cứu “Bình đẳng giới trong sự phân công lao động
ở các gia đình đô thị hiện nay” (khảo sát trên địa bàn Hà Nội) [44] cho thấy 73,3% cho
rằng nữ giới biết cách lo toan chăm sóc gia đình hơn nam giới Điều này chứng tỏ sựbất bình đẳng trong việc phân công lao động trong gia đình còn tồn tại
Khi nói đến các vấn đề giới ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Hữu Minh và TrầnThị Vân Anh cho rằng “Phụ nữ phải nhận mức lương thấp hơn nam giới cho cùng
Trang 15một công việc và thường không có quyền bình đẳng đối với tài sản gia đình mặc dù
đã có những tiến bộ trong các điều luật liên quan”[10]
Trong cuốn “Xã hôi học” của Nguyễn Hữu Minh khi đề cập đến vấn đề phân
công lao động trong gia đình thì đưa ra các nhận định về sự phân công lao động bịảnh hưởng bởi lối tư tưởng cũ “Ở nhiều xã hội, sự phân công lao động phổ biếntheo giới là giao việc nấu ăn cho phụ nữ Người ta tin rằng phụ nữ có khả năng thiênbẩm về nấu ăn và nam giới không có khả năng sinh học đó.”[7] Theo đó, kết quảkhảo sát của Nguyễn Hữu Minh cho thấy rằng những người phụ nữ làm việc 2 ca/1ngày: Công việc ở cơ quan và công việc ở nhà Thời gian làm việc của họ gấp đôithời gian của nam giới
Trong chương II, Phụ nữ Việt Nam trong thời đại Phong kiến của tác phẩm
“Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại” thì “Vai trò của người phụ nữ bây giờ chính
thức là vai trò của một người “nội tướng” Ngoài việc cùng với chồng lao động sảnxuất để đảm bảo kinh tế cho cả gia đình, người phụ nữ còn phải quán xuyến hầu hếtcông việc của nhà mình: Cơm nước, dầu đèn, củi lửa, lợn gà, vườn tược, áo quần,chợ búa, vốn liếng, tiền nong…”[24]
Với tác phẩm “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam”, tác giả
Lê Thi cho rằng gia đình là một thiết chế của xã hội Chính vì vậy, gia đình cần thựchiện các chức năng như việc tái sản xuất sức lao động, duy trì nòi giống, nuôidưỡng, giáo dục,chăm sóc gia đình, tái sản xuất của cải vật chất thì phụ nữ hầu hếtphải thực hiện tất cả các chức năng đó Còn đối với nam giới, họ chỉ cần thực hiệnchức năng sản xuất của cải vật chất và tái sản xuất sức lao động Như vậy, “Vai tròkép của phụ nữ, gánh nặng mang thai, sinh đẻ, nuôi con nhỏ và làm nội trợ gia đình
đè nặng lên đôi vai người phụ nữ, trong khi họ phải đảm nhận các khâu sản xuất,các ngành nghề không kém gì nam giới”[21]
Quỹ HealthBridge Canada – Viện nghiên cứu phát triển xã hội (2014) [18] cho
ra kết quả nghiên cứu: Sự PCLĐ theo giới gắn liền với các hình mẫu văn hóa – xãhội trong đó xác định chức năng, nhiệm vụ mà phụ nữ và nam giới sẽ thực hiệntrong gia đình và ngoài xã hội Tuy nhiên phần nhiều của sự sắp xếp theo giới này
Trang 16lại xuất phát từ những khái niệm sinh học giữa nam và nữ và luôn được hậu thuẫn,củng cố thông qua sự giáo dục của chế độ phụ quyền Hậu quả là xã hội và ngay cảbản thân người phụ nữ cũng tin rằng phụ nữ do có cơ thể yếu ớt nên sẽ đảm nhậnnhững công việc nhẹ nhàng như nội trợ và chăm sóc gia đình mà không đòi hỏi từngười đàn ông.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về bình đẳng giới trong gia đình, các côngtrình nghiên cứu về sự phân công lao động trong gia đình cũng được đề cập khá phổbiến trong một số đề tài
Đề tài “Phân công lao động theo giới trong gia đình nông dân” (1997) của Lê
Ngọc Văn đã chỉ ra mô hình phân công lao động theo giới ở khu vực nông thông trongthời kỳ kinh tế thị trường Với xu thế nam giới được khuyến khích chuyển sang cáchoạt động tạo thu nhập tiền mặt, phụ nữ gắn liền với công việc tái sản xuất và sản xuấtcác sản phẩm tiêu dùng của gia đình Sự phân công lao động ấy đã tạo ra sự bất lợi chophụ nữ trong nâng cao học vấn, sức khỏe và vị thế xã hội của họ.[25]
Tác giả Vũ Tuấn Huy và Deborah S.Carr với nghiên cứu “Phân công lao động nội trợ trong gia đình” (2000) đã khẳng định sự bất bình đẳng trong phân công lao
động nội trợ - nơi phụ nữ đảm nhận chủ yếu Các tác giả cũng chỉ ra sự tác động củacác yếu tố nghề nghiệp, việc làm, số con, định hướng tâm thế nghề nghiệp có liênquan đến văn hóa và xã hội hóa.[3]
Theo nghiên cứu “Phân công lao động theo giới trong gia đình người Gialai và
Cơho” [1] cho thấy ở hai cộng đồng này đều có một đặc điểm chung là việc chăm sóc
gia đình là công việc chính của phụ nữ Bên cạnh đó, họ vẫn phải tham gia sản xuất ởmức đáng kể, còn đàn ông thì chỉ đảm nhận công việc tham gia sản xuất
Trong Luận án tiến sỹ “Bình đẳng giới trong lao động gia đình dân tộc thiểu số
miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay” [22] (2017), kết quả nghiên cứu của luận án về
PCLĐ theo giới trong sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc chothấy trong điều kiện kinh tế - xã hội còn chưa phát triển, trình độ văn hóa xã hội cònthấp, đời sống vô cùng khó khăn, người phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong sản xuấtnông nghiệp Hầu hết họ tham gia vào các hoạt động sản xuất, tạo ra thu nhập
Trang 17kinh tế cho gia đình Tuy nhiên, ngoài công việc tham gia sản xuất để phát triểnkinh tế thì họ vẫn phải thực hiện phần đa các công việc nội trợ, chăm sóc gia đình.
Theo nghiên cứu: “Bình đẳng giới trong sự phân công lao động ở các gia đình đô thị hiện nay” [44] cho rằng ngày nay vị thế, vai trò của phụ nữ ngày càng
được nâng lên và đánh giá cao hơn trong gia đình cũng như ngoài xã hội Tuy nhiênvẫn còn tồn tại khá nhiều sự bất bình đẳng, điều này gây ra sự thiếu công bằng chophụ nữ
Ngoài những công trình nghiên cứu về sự bất bình đẳng trong phân công laođộng trong gia đình dưới góc nhìn của xã hội học, còn có công trình nghiên cứudưới hướng tiếp cận của Công tác xã hội
Đề tài “Vận dụng phương pháp công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giới đối với phụ nữ trong gia đình nông thôn tại xã Tân Lập – Sông Lô – Vĩnh Phúc hiện nay” [11] đưa ra thực trạng của việc bất bình đẳng giới đối với phụ nữ tại một vùng nông thôn, đồng thời đưa ra giải pháp và vận dụng kiến
thức công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu bất bình đẳng với phụ nữ
Tóm lại, tất cả các nghiên cứu trên đều có sự xuất hiện của sự phân công laođộng trong các gia đình Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu, mỗi đề tài khoa họclại nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của vấn đề và đặc biệt, chưa có đề tài nào
áp dụng tiến trình can thiệp công tác xã hội nhóm về giảm thiểu bất bình đẳng giớicủa việc phân công lao động trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện, QuốcOai, thành phố Hà Nội Để góp phần vào công cuộc nghiên cứu này, tôi đã lựa chọn
và thực hiện nghiên cứu trên Đề tài mà tôi lựa chọn đảm bảo rằng không trùng vớicác công trình nghiên cứu đã công bố Ngoài việc kế thừa, chọn lọc từ các thành tựunghiên cứu đã có, đề tài đi sâu vào việc tìm hiểu cơ sở lý luận và phân tích thựctrạng của việc phân công lao động trong gia đình viên chức Từ đó, áp dụng tiếntrình can thiệp công tác xã hội nhóm nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong phân cônglao động trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố HàNội
3 Mục đích nghiên cứu
Trang 18Đề tài phân tích được thực trạng của việc bất bình đẳng giới về phân công laođộng và đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đó trong gia đình viên chức tại
xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội Từ đó ứng dụng phương phápcông tác xã hội nhóm nhằm thúc đẩy bình đẳng giới về phân công lao động theogiới trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc PCLĐ trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
- Nghiên cứu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến PCLĐ trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
- Ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm nhằm thúc đẩy bình đẳng giớitrong PCLĐ trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố
Hà Nội Từ đó đưa ra các đề xuất áp dụng CTXH nhóm trong thúc đẩy bình đẳnggiới trong gia đình
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội nhóm về giảm thiểu bất bình đẳng giới của việc phân công laođộng theo giới trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thànhphố Hà Nội
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung: Bình đẳng giới
về phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình hạt nhân là viên chức
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
(1) Phương pháp tiếp cận liên ngành
Đối với phương pháp này, nhằm liên kết với phương pháp giáo dục, tác động nhận thức cho các cặp vợ chồng trong vấn đề bình đẳng giới
Trang 19(2) Phương pháp tiếp cận hệ thống
Đề tài dựa trên lý thuyết hệ thống để xem xét vấn đề PCLĐ trong gia đình nhưmột vấn đề bình thường trong xã hội và coi đó như một bộ phận cần tồn tại trong hệthống xã hội Do đó, trong quá trình phát triển xã hội cần phải chú ý đến các giảipháp, mô hình can thiệp côn tác xã hội nhóm nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trongPCLĐ trong gia đình viên chức
(3) Phương pháp tiếp cận lý thuyết tập nhiễm xã hội
Theo lý thuyết này thì học tập về bản chất là một quá trình xã hội hóa mà conngười lĩnh hội những hành vi xã hội thông qua ba con đường chính: bắt chước, tậpnhiễm và học chính quy Đối với yếu tố giới, tập nhiễm xã hội là yếu tố ảnh hưởngđến quá trình nhận thức và hành vi của vợ và chồng trong PCLĐ trong gia đình
6.2 Các phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp phân t ch tài liệu
- Mục đích: Hiểu được các nội dung liên quan đến bình đẳng giới, phươngpháp can thiệp công tác xã hội nhóm của việc phân công lao động theo giới trong gia đình nói chung và các gia đình viên chức nói riêng
- Cách thực hiện: Phân tích, tổng hợp, hệ thống và khái quát hóa những nghiêncứu trong và ngoài nước liên quan đến bình đẳng giới, bất bình đẳng giới và phươngpháp can thiệp công tác xã hội nhóm của việc phân công lao động giữa vợ và chồngtrong gia đình
6.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Mục đích: Đề tài sẽ sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi để thu thậpthông tin về thực trạng phân công lao động theo giới trong gia đình viên chức tại xã CộngHòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội Đồng thời, sử dụng bảng hỏi về áp dụng tiếntrình can thiệp công tác xã hội nhóm trước và sau khi thực hiện phương
pháp
- Đề tài sẽ tiến hành khảo sát với 300 khách thể là vợ/chồng của gia đình viên chức trên địa bàn xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
Trang 206.2.4 Phương pháp xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học
Số liệu thu thập được sau khảo sát thực tiễn được xử lý bằng chương trìnhSPSS phiên bản 20.0 Các thông số và ph p toán thống kê được sử dụng trongnghiên cứu này là phân tích thống kê mô tả và phân tích thống kê suy luận
Các phương pháp diễn giải và mô tả số liệu cơ bản như tính điểm trung bình,tần suất/mức độ, tỉ lệ %
6.2.5 Phương pháp công tác xã hội nhóm
7 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng bất bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội diễn ra như thế nào?
- Sự bất bình đẳng giới trong PCLĐ trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa,huyện Quốc oai, thành phố Hà Nội chịu sự ảnh hưởng bởi những yếu tố nào?
- Ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm như thế nào để giảm thiểu bấtbình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa,huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội?
8 Giả thuyết nghiên cứu
Trang 21- Thực trạng bất bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình viên chức có diễn ra tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.
- Các yêu tố ảnh hưởng đến việc bất bình đẳng giới trong phân công lao độngtrong gia đình viên chức có diễn ra tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
là do: Yếu tố thuộc về quan điểm, tư tưởng lạc hậu, yêu tố về nếp sống truyền thống,nghề nghiệp, trình độ học vấn, chức vụ, thu nhập, số con và yếu tố sinh học
thiểu bất bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình viên chức có diễn ra tại
xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
9 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận
Chương 2 Thực trạng của việc phân công lao động trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
Chương 3 Ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm
Trang 22PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Phân công lao động theo giới
Theo Luật Bình đẳng giới của Quốc hội Khóa XI, kì họp thứ 10, ngày 29tháng 11 năm 2006 thì “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cảcác mối quan hệ xã hội”.[15]
Theo tác giả Lê Thị Quy (Giáo trình Xã hội học giới) thì “giới là mối quan hệgiữa nam và nữ được xác định theo văn hóa và cách thức mối quan hệ đó được xácđịnh trong xã hội”.[14]
Theo Vũ Mạnh Lợi thì “Khái niệm giới chỉ những hành vi và những kì vọng
xã hội khác nhau mà xã hội gán cho nam và nữ mà một người học được qua quátrình trưởng thành và giao tiếp xã hội”[8]
Từ các khái niệm nêu trên, ta có thể kết luận rằng giới là một phạm trù khoahọc xã hội được dùng để chỉ các vai trò, thái độ và giá trị của giới tính trong xã hội.Giới bao gồm các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và namgiới trong môi trường xã hội cụ thể Giới được xác định trong mối quan hệ nam –
nữ về quyền lực, vị trí xã hội và phân công lao động
Giới tính: Giới tính chỉ đặc điểm sinh học của nam và nữ.[15]
Có nhiều cách hiểu khác nhau về bình đẳng giới Có quan điểm cho rằng, bìnhđẳng giới là sự ngang bằng nhau giữa nam giới và nữ giới, nam giới như thế nào thì
nữ giới cũng như vậy Đây là cách hiểu chưa đầy đủ về bình đẳng giới
Ngân hàng thế giới đưa ra định nghĩa về bình đẳng giới như sau: “ bình đẳnggiới theo nghĩa bình đẳng về luật pháp, về cơ hội – bao gồm sự bình đẳng trong việctiếp cận nguồn nhân lực, vốn và các nguồn lực sản xuất khác, bình đẳng trong thùlao công việc và trong tiếng nói” Cách tiếp cận này không định nghĩa bình đẳng
Trang 23giới theo sự bình đẳng về thành quả Một cách hiểu khác đầy đủ hơn và tương đốiphổ biến thì bình đẳng giới là “sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểmgiống và khác nhau giữa nữ giới và nam giới Nam giới và nữ giới đều có vị thếbình đẳng và được tôn trọng như nhau”.
Dưới góc độ pháp lý, theo quy định tại Điều 5: Bình đẳng giới là việc nam, nữ
có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực củamình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thànhquả và sự phát triển đó.[15] Đề tài của tôi dựa theo khái niệm này để thực hiệnnghiên cứu
Bất bình đẳng giới: là sự phân biệt đối xử về vị trí, điều kiện và cơ hội bất
lợi cho nam, nữ trong việc thực hiện quyền con người, đóng góp và hưởng lợi từ sựphát triển của gia đình, của đất nước [10]
Hay nói cách khác, bất bình đẳng giới là sự đối xử khác biệt với nam giới vàphụ nữ tạo nên các cơ hội khác nhau, sự tiếp cận các nguồn lực khác nhau, sự thụhưởng khác nhau giữa nam và nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội
Định kiến giới: Là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đạo
đức, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ.[15]
Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổicác vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người Thực chất là sự vận độngcủa sức lao động trong qua trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũngchính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sảnphẩm phục vụ nhu cầu con người Có thể nói lao động là yếu tố quyết định cho mọihoạt động kinh tế.[42]
Trong phạm vi đề tài, tôi tìm hiểu về lao động trong gia đình: là những côngviệc được thực hiện trong gia đình như công việc nội trợ, chăm sóc con cái, côngviệc trong dòng họ…
Trang 24 Phân công lao động
Trong Tác phẩm “Sự phân công lao động trong xã hội” (1893) của E.
Durkheim cho rằng “Phân công lao động không chỉ có ý nghĩa thuần thúy kinh tế đểlàm giàu và nâng cao năng suất hiệu quả lao động mà còn thực hiện chức năng quantrọng về cuộc sống con người, đó là tạo ra sự đoàn kết, hội nhập trong xã hội hiệnđại Theo E Durkheim thì yếu tố đặc trưng trong xã hội của sự đoàn kết có tổ chức
là sự phân công lao động Điều này có thể xảy ra trên cơ sở khác nhau về đặc điểm
tự nhiên của chủ thể lao động, cũng như đặc điểm của sự phát triển kinh tế xã hội”.[29]
Dựa trên quan điểm về phân công lao động và sự hiểu biết của mình, tôi có thểđưa ra nhận định về phân công lao động theo giới là sự phân chia lao động côngbằng và phù hợp về tâm sinh lý giữa nam giới và nữ giới
Phân công lao động theo giới
Theo các nhà lý thuyết giới, “Phân công lao động theo giới hay hành động giới
là những chức năng xã hội, những khả năng và những cách thức của hành độngthích hợp để các thành viên của một xã hội căn cứ vào khi họ là một phụ nữ hoặc làmột nam giới”[35] hoặc “Phân công lao động là kết quả của sự phân định chức nănggiữa hai giới trên cơ sở của sự thống nhất và sự khác biệt về mặt sinh học và nhữngđặc trưng kinh tế - xã hội giữa hai giới.’’[9]
Trong đề tài này, tôi sử dụng khái niệm thứ hai vì ngoài việc tìm hiểu thựctrạng phân công lao động trong gia đình mà tôi còn tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởngđến việc phân công lao động trong gia đình như khái niệm đã nhắc tới là yếu tố sinhhọc và những đặc trưng kinh tế xã hội giữa hai giới
Gắn với phân công lao động theo giới là vai trò giới, hay nói cách khác, vai trògiới là kết quả của sự phân công lao động theo giới Có thể hiểu “ vai trò giới là vaitrò mà con nguời được xã hội mong đợi thực hiện dù họ là đàn ông hay đàn bà trong
1 nền văn hóa riêng”[6]
Trang 251.1.2 Gia đình viên chức
Theo Luật Hôn nhân và Gia đình ban hành năm 2014, “Gia đình là tập hợpnhững người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôidưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định củaLuật này.”[16]
Trong giáo trình “Xã hội học” của Phạm Tất Dong và Lê Ngọc Hùng thì “Gia
đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nógắn bó với nhau bởi mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ connuôi bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứngnhu cầu riêng của các thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về táisản xuất con người”[2]
Trong tác phẩm “Gia đình” của hai nhà Xã hội học người Mỹ là F.W Burges
và H.J Locke định nghĩa “Gia đình là những người đoàn kết với nhau bằng nhữngmối quan hệ hôn nhân huyết thống và việc nhận con nuôi tạo thành một bộ tộc đơngiản, tác động lẫn nhau trong vai trò tương ứng của họ (vợ, chồng, con…) tạo ramột nền văn hóa chung.”[32]
Từ các định nghĩa trên, ta có thể hiểu đơn giản gia đình là một dạng đặc biệtcủa thiết chế xã hội được hình thành bởi các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyếtthống hoặc nhận nuôi Các mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau và thể hiện vai tròtương ứng của họ như ông, bà, bố mẹ, con cái
Để phù hợp nội dung của đề tài, tôi lựa chọn khái niệm gia đình từ Luật Hônnhân và Gia đình năm 2014 để tiếp cận
Phân loại gia đình:
Dựa theo các cách tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học nghiên cứu về giađình đã đưa ra các cách phân loại như: Gia đình truyền thống và gia đình hiện đại;Gia đình mở rộng và gia đình hạt nhân Trong đề tài của mình, tôi tiếp cận theo cáchphân loại gia đình gồm gia đình mở rộng và gia đình hạt nhân
Trang 26+ Gia đình mở rộng lă gia đình có ít nhất ba thế hệ chung sống với nhau đó lẵng bă, bố mẹ vă con câi.
+ Gia đình hạt nhđn lă gia đình chỉ có hai thế hệ chung sống với nhau đó lă bố
Gia đình viín chức
Theo tìm hiểu, hiện nay chưa có một khâi niệm cụ thể năo nói về gia đình viínchức Như vậy, từ khâi niệm gia đình vă khâi niệm viín chức, trong đề tăi của mình,tôi đưa ra nhận định của mình về gia đình viín chức lă gia đình có vợ hoặc chồng,hoặc cả hai vợ chồng lăm việc tại câc đơn vị sự nghiệp theo chế độ hợp đồng lămviệc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định củaphâp luật Hay nói một câch cụ thể, gia đình viín chức theo câch tiếp cận của đề tăi
có thể lă:
1.1.3 Phđn công lao động trong gia đình viín chức
Đề tăi tập trung đi sđu nghiín cứu phđn công lao động giữa vợ vă chồng tronggia đình viín chức Từ đó, tôi có thể đưa ra khâi niệm phđn công lao động trong giađình viín chức lă sự phđn công lao động giữa vợ vă chồng trong gia đình có vợ hoặcchồng, hoặc cả hai vợ chồng lă viín chức Sự phđn công công việc có sự công bằng
vă phù hợp với đặc trưng tđm sinh lý của vợ vă chồng
Trang 271.2 Công tác xã hội nhóm
1.2.1 Công tác xã hội
Theo Hiệp hội Quốc gia nhân viên công tác xã hội: Công tác xã hội là hoạtđộng nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao haykhôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra cácđiều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ (Zastrow, 1996: 5) Công tác xãhội tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cánhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộcsống (Zastrow, 1999: ) [40]
Các nhà nghiên cứu thuộc các ngành khoa học nhân văn đưa ra nhiều định
nghĩa mang giá trị khoa học cao hơn như: công tác xã hội là những hoạt động tương
tác, giáo dục hay phục vụ nhằm duy trì hoặc phát triển năng lực xã hội của cá nhânhoặc nhóm xã hội có những phương thức sinh tồn không còn phù hợp với các chuẩn
mực của địa phương [40]
Dẫn theo giáo trình Nhập môn công tác xã hội[7]: Hiệp hội Công tác xã hội
quốc tế và các trường đào tạo công tác xã hội quốc tế (2012) thống nhất một địnhnghĩa về công tác xã hội như sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giảiquyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xãhội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượngsống của con người Công tác xã hội sử dụng các học thuyết về hành vi con người
và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với với môitrường sống
Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh (trích từ tài liệu hội thảo 2004): Định nghĩa cổđiển: Công tác xã hội nhằm giúp cá nhân và cộng đồng TỰ GIÚP Nó không phải làmột hành động ban bố của từ thiện mà nhằm phát huy sứ mệnh của hệ thống thânchủ (cá nhân, nhóm và cộng đồng) để họ tự giải quyết vấn đề của mình [40]
Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tếMontreal, Canada, vào tháng 7/2000: Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sựthay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng
Trang 28quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càngthoải mái và dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống
xã hội,công tác xã hội can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môitrường của họ [40]
Theo đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: Công tác xã hội góp phần giải quyếthài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xãhội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lànhmạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hộitiên tiến [23]
1.2.2 Công tác xã hội nhóm
cường, củng cố chức năng xã hội của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm và khả năngứng phó với các vấn đề của cá nhân, có nghĩa là:
– Ứng dụng những kiến thức, kỹ năng liên quan đến tâm lý nhóm
– Nhóm nhỏ thân chủ có cùng vấn đề giống nhau hoặc có liên quan đến vấn đề
– Các mục tiêu xã hội được thiết lập bởi nhân viên xã hội trong kế hoạch hỗtrợ thân chủ (cá nhân, nhóm, cộng đồng) thay đổi hành vi, thái độ, niềm tin nhằmgiúp thân chủ tăng cường năng lực đối phó, chức năng xã hội thông qua các kinhnghiệm của nhóm có mục đích nhằm để giải quyết vấn đề của mình và thỏa mãnnhu cầu.[41]
Các mục tiêu của công tác xã hội nhóm:
– Đánh giá (thẩm định) cá nhân: về nhu cầu/khả năng/hành vi qua việc tự đánhgiá của nhóm viên, đánh giá của nhan viên CTXH, đánh giá của bạn bè trong nhóm(nhóm trẻ em/người lớn phạm pháp, nhóm cha mẹ nuôi, trẻ em đường phố )
– Duy trì và hỗ trợ cá nhân: hỗ trợ cá nhân đương đầu với những khó khăn của cánhân hay khó khăn trước hoàn cảnh xã hội (nhóm người khuyết tật, nhóm phụhuynh khuỵết tật )
– Thay đổi cá nhân: thay đổi từ hành vi cho đến phát triển nhân cách: kiểmsoát xã hội (nhóm vi phạm luật pháp nhằm tránh tái phạm trong tương lai), xã hội
Trang 29hoá (nhóm trẻ trong cơ sở tập trung học tập kỹ năng xã hội để sống tại cộng đồng),hành vi tương tác (nhóm huấn luyện để tự khẳng định), giá trị và thái độ cá nhân(nhóm sử dụng ma túy nhằm tác động đế giá trị và thái độ của họ, hoàn cảnh kinh tế(nhóm người thất nghiệp với mục đích tìm việc làm), cảm xúc và khái niệm về bảnthân (nhóm phát triển lòng tự trọng, tăng năng lực), phát triển nhân cách.
– Cung cấp thông tin, giáo dục (nhóm giáo dục sức khỏe, nhóm kỹ năng làmcha mẹ, nhóm tình nguyện viên )
– Giải trí (vui chơi để đền bù sự mất mát trong cuộc sống)
– Môi trường trung gian giữa cá nhân và hệ thống xã hội: nhóm bệnh nhân và bệnh viện
– Thay đổi nhóm và/ hoặc hỗ trợ: nhóm gia đình - cải thiện vấn đề truyền thông, nhóm trẻ phạm pháp - hướng hành vi tiêu cực sang những họat động tích cực
– Thay đổi môi trường: phát triển cộng đồng – nhóm ở cơ sở cải thiện chấtlượng cuộc sống, nhóm đòi hỏi phương tiện cho con em phụ huynh lao động…– Thay đổi xã hội: Tăng nhận thức của cá nhân và tái phân phối quyền lực (nhóm chính quyền địa phương).[41]
Các loại hình công tác xã hội với nhóm:
– Nhóm giải trí: rèn luyện và phát triển nhân cách
– Nhóm giáo dục: Kiến thức và kỹ năng
Trang 301.2.3 Công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu bất bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình viên chức.
Công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu bất bình đẳng giới trong PCLĐ tronggia đình viên chức được hiểu là phương pháp giúp tăng cường, củng cố kiến thức, kĩnăng về bình đẳng giới cho các cặp vợ chồng có vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng làviên chức thông qua các hoạt động nhóm Từ đó họ nhận thức đúng, đủ và thay đổinhận thức của mình về vấn đề bất bình đẳng trong PCLĐ trong gia đình
Trong đề tài này, tôi khảo sát về thực trạng bất bình đẳng giới trong gia đìnhviên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, từ đó áp dụng côngtác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu thực trạng bất bình đẳng giới thông qua 4 nộidung chính như sau:
- Phân công lao động giữa vợ và chồng đối với các công việc nội trợ trong gia đình
- Phân công lao động giữa vợ và chồng đối với chăm sóc và giáo dục con cái
- Phân công lao động giữa vợ và chồng trong việc tham gia các hoạt động trong dòng họ và ngoài cộng đồng.
- Phân công lao động giữa vợ và chồng trong việc quyết định các việc lớn trong gia đình
Từ 4 nội dung trên, tôi đưa ra bảng khảo sát đầu vào và đầu ra về nhận thứccủa các cặp vợ chồng về vấn đề bình đẳng giới Sau đó thực hiện các bước trongphương pháp công tác xã hội nhóm, từ đó rút ra kết luận về hiệu quả của việc vậndụng phương pháp công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu bất bình đẳng giới trongphân công lao động trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai,thành phố Hà Nội
1.2.4 Một số lý thuyết vận dụng trong công tác xã hội nhóm
Lý thuyết vai trò là một quan điểm xã hội học và tâm lý học xã hội mà xem xéthầu hết các hoạt động hàng ngày để được diễn xuất trong các mục được xác định vềmặt xã hội (ví dụ như, người mẹ, người quản lý, giáo viên) Mỗi vai trò xã
Trang 31hội là một tập hợp các quyền, nghĩa vụ, kỳ vọng, định mức và hành vi mà mộtngười phải đối mặt và thực hiện đầy đủ Mô hình này dựa trên quan sát rằng mọingười hành xử một cách dự đoán hành vi của một cá nhân là bối cảnh cụ thể, dựatrên vị trí xã hội và các yếu tố khác.
Phân công lao động trong xã hội có những hình thức của sự tương tác giữa các
vị trí chuyên môn không đồng nhất mà chúng ta gọi là vai trò
Vai trò xã hội bao gồm "thích hợp" và "được phép" hình thức của hành vi,hướng dẫn bởi các chuẩn mực xã hội, đó là thường được biết đến và do đó xác định
có trường hợp áp lực xã hội có khả năng dẫn đến sự thay đổi vai trò.[43]
Sự phân công lao động theo giới trong gia đình hiện nay trong bối cảnhchuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đấtnước, do đó, nó không đơn thuần bị quy định bởi vị thế - vai trò cá nhân của mỗi cánhân mà còn bị qui định bởi các yếu tố ở cấp độ vĩ mô như những biến đổi về chínhsách phát triển kinh tế, cơ chế thị trường và những thay đổi trong hệ giá trị văn hoá,trong thiết chế xã hội, cơ cấu xã hội Với đề tài này, thuyết vai trò đóng vai trò vôcùng quan trọng, nhằm giải thích và nâng cao vai trò xã hội của cá nhân, từ đó có sựbình đẳng giới trong những hoàn cảnh nhất định, cụ thể hơn là vấn đề PCLĐ
Thuyết hệ thống sinh thái
- Giải thích con người bằng cách mô tả các khía cạnh của cá nhân môi trường
- Thuyết hệ thống sinh thái cho rằng con người chủ động tham gia vào quá trình phát triển và môi trường của họ luôn luôn thay đổi, bản thân thay đổi
- Cách thức, con người thuyết sinh thái nhận thức về kinh nghiệm sống sẽ ảnh hưởng đến an sinh
Trang 32- Thuyết sinh thái nhấn mạnh đến môi trường cuộc sống, những tương tác của môi trường, vật chất đã ảnh hưởng đến con người ra sao [46]
Lý thuyết này trú trọng đến các mối quan hệ giữa con người và môi trường đểgiải quyết vấn đề đang đối diện Từ thuyết hệ thông sinh thái này, nhân viên xã hội
có thể đánh giá môi trường sống như gia đình, bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp, họhàng, nhằm hiểu về tình trạng, vị trí hiện tại trong môi trường sống của thân chủ.Đối với thuyết này được áp dụng trong CTXH nhóm nhằm thu thập đượcnhững thông tin về môi trường xung quanh, nhất là môi trường làm việc nhóm.Đồng thời, lý thuyết này còn giúp xác định được hoàn cảnh, truyền thống gia đình
và các yếu tố ảnh hưởng như thế nào đến việc hình thành lên nhận thức, tư tưởng,quan điểm của mình về vấn đề bình đẳng giới trong PCLĐ trong gia đình
Thuyết nhận thức – hành vi nghiên cứu, nhấn mạnh về cách thức con người hànhđộng xuất phát từ sự hiểu biết và nhận thức của họ Nghiên cứu mối liên hệ giữa hành
vi và nhận thức Cách tiếp cận của lý thuyết thể hiện qua việc nhân viên công tác xã hội
sử dụng phương pháp tiếp cận nhận thức – tiếp cận xúc cảm Cách tiếp cận này dựatrên thuyết cho rằng việc thay đổi nhận thức sẽ dẫn đến thay đổi hành vi.[45]
Mối quan hệ giữa nhân viên công tác xã hội với thân chủ trong lý thuyết trênmang tính chất là mối quan hệ tích cực như là điểm tốt trong quá trình tham vấn
Trang 33Phương pháp lý thuyết nhận thức – hành vi chú trọng tới hành vi, nhận thức nhưng
là ở hiện tại (hoặc quá khứ), sau đó bằng cách tác động trực tiếp lên nhận thức lệchlạc của thân chủ, nhân viên công tác xã hội giúp thân chủ học hỏi tiếp thu dẫn đếnthay đổi tạo ra những khuôn mẫu hành vi có kết quả
1.3 Biểu hiện của sự phân công lao động theo giới trong gia đình viên chức
1.3.1 Nhận thức về phân công lao động theo giới trong gia đình viên chức:
Hiện nay, Ở Việt Nam cũng như trên thế giới đang quan tâm tới vấn đề bìnhđẳng giới Công cuộc thực hiện bình đẳng giới đang được cải thiện trong mọi lĩnhvực của đời sống, trong đó có sự phân công lao động theo giới trong gia đình Tuynhiên, bên cạnh các cặp vợ chồng có những tư tưởng tiến bộ về bình đẳng giới, biếtquan tâm và chia sẻ với vợ/chồng các công việc trong gia đình thì vẫn tồn tại nhữnggia đình có lối tư tưởng cũ Cả nam và nữ đều cho rằng những công việc như nộitrợ, chăm sóc con cái là thiên chức của người phụ nữ hay những người phụ nữ giỏi
là những người luôn làm tròn trách nhiệm với gia đình Tư tưởng này xuất phát từNho giáo Khổng Tử, đồng thời, xã hội cũng không mong đợi nam giới làm việc nhà.Lối tư tưởng cũ này chịu sự tác động khá lớn từ phía gia đình Các cặp vợ chồngchịu sự tác động của gia đình mình, và những đứa con cũng chịu sự ảnh hưởng từ
đó Nhưng điều này không chỉ tồn tại ở tư tưởng của nam giới mà nó còn thể hiệntrong nhận thức và suy nghĩ của phụ nữ Họ cảm thấy hài lòng với cuộc sống của
họ, họ không cần những người đàn ông giúp làm việc nhà mà họ nghĩ rằng đó làtrách nhiệm sứ mệnh của mình Không chỉ vậy, chính xã hội chúng ta cũng đangđẩy phụ nữ vào vòng quẩn quanh của công việc nhà với khẩu hiệu “Phụ nữ ViệtNam giỏi việc nước, đảm việc nhà” Xã hội đang cho rằng là phụ nữ thì phải giỏiviệc nước, đảm việc nhà Vậy còn nam giới, họ được nằm ở đâu với hai trách nhiệmnày? Thay vì đó sao không để là “Nam nữ Việt nam, giỏi việc nước, đảm việc nhà”?
Đó là những bất cập mà chính xã hội cũng đang thiếu xót
1.3.2 Phân công lao động trong gia đình viên chức theo các nhóm công việc:
Trên thực tế ta thấy, các công việc trong gia đình được hiểu là các công việcnội trợ, công việc chăm sóc và giáo dục con cái, công việc chăm sóc người ốm
Trang 34trong gia đình, tham gia các công việc ngoài cộng đồng, họ hàng hay công việc tạo
ra thu nhập cho gia đình Tuy nhiên, để phù hợp với đề tài và phạm vi nghiên cứucủa đề tài, tôi tiếp cận dưới 4 nhóm công việc là:
- Phân công lao động giữa vợ và chồng đối với các công việc nội trợ trong gia đình
- Phân công lao động giữa vợ và chồng đối với chăm sóc và giáo dục con cái
- Phân công lao động giữa vợ và chồng trong việc tham gia các hoạt động trong dòng họ và ngoài cộng đồng.
- Phân công lao động giữa vợ và chồng trong việc quyết định các việc lớn trong gia đình
1) Phân công lao động giữa vợ và chồng đối với các công việc nội trợ trong gia đình
Công việc nội trợ là các công việc như đi chợ, nấu ăn, lau dọn nhà cửa, rửa bát…Mặc dù đây được coi là công việc để duy trì gia đình, song nó vẫn chưa được coi làhoạt động tạo ra kinh tế, thu nhập cho gia đình bởi ảnh hưởng từ rất nhiều cácyếu tố khác nhau
Trước đây, các công việc nội trợ được coi là các công việc của phụ nữ, nóđược gắn quan niệm đó là thiên chức của người phụ nữ
Theo các báo cáo nghiên cứu về thực trang phân công lao động theo giới tronggia đình ở Việt Nam thì hầu hết người phụ nữ vẫn giữ vai trò quan trọng trong việcnội trợ Sự tham gia của đàn ông chỉ là sự chia sẻ thứ yếu.Với bản tính cũng nhưnhững quan niệm cũ thì những người đàn ông khi kết thúc công việc ở cơ quan, cóthể là họ đi nhậu cùng bạn bè, hoặc khi trở về nhà chỉ thực hiện những công việc cánhân như tắm, chơi thể thao, xem ti vi, lướt web… mà ít ai dành thời gian đó đểchia sẻ các công việc trong gia đình cùng người vợ của mình Những người đàn ông
họ đều nghĩ những công việc được cho là “cỏn con”, “không tên” và không được trảcông ấy có thể thực hiện một cách đơn giản mà người phụ nữ không cần sự trợ giúpcủa người đàn ông Gánh nặng đè lên vai người phụ nữ, cùng một khung thời gianlàm việc ngoài xã hội với chồng nhưng khi về nhà, họ phải dọn dẹp nhà cửa, nấu
Trang 35cơm, giặt quần áo, rửa bát….còn chồng thì làm những gì mà mình thích Điều này ít
“đấng mày râu” nào có thể hiểu hoặc có thể họ hiểu nhưng chưa thay đổi được.Song, Những năm qua, bình đẳng giới được Đảng và Nhà nước ta quan tâm,đồng thời, trình độ học vấn của cả hai giới được nâng cao nên việc quan tâm, chia sẻ
và trách nhiệm của vợ/chồng trong các công việc nội trợ của gia đình cũng đượcnâng cao Phụ nữ ngày nay đang có mặt trong tất cả các hoạt động ngoài xã hội,chính vì vậy, việc phân công lao động trong gia đình là cần thiết và hợp lý
2) Phân công lao động giữa vợ và chồng đối với chăm sóc và giáo dục con cái
Trong việc chăm sóc và giáo dục con cái bao gồm các công việc như cho con
ăn, ngủ, tắm cho con, dạy con học…
Ở nhóm công việc này, người chồng tỏ ra đã thực hiện nhiều hơn so với công
việc nội trợ Dù là vẫn thực hiện theo sự bị động (khi con cái quá quấy khóc hoặc vợ nhờ) nhưng nó vẫn thể hiện sự hứng thú nhiều hơn là làm các công việc nội trợ Để lựa
chọn giữa việc nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa hay cho con ngủ, bế con đi chơi thì họ vẫnhứng thú trong việc chăm con Họ hứng thú hơn với các công việc đó cũng có thể là do
họ muốn gần gũi với con hơn hoặc họ rất sợ làm các công việc nội trợ Tuy vậy, với một
số gia đình, việc đốc thúc con học bài hay kèm cặp con học vẫn là người phụ nữ thựchiện nhiều hơn Môi trường gia đình rất quan trọng cho sự hình thành và phát triển củacon người ngay từ khi lọt lòng, chính vì vậy, con người cần được chăm sóc cả về thể chấtlẫn tinh thần để dảm bảo tốt nhất sự hình thành và phát triển Thế nhưng, vì một số lý donào đó đã dẫn đến sự thiên lệch trong việc chăm sóc và giáo dục con cái giữa các cặp vợchồng Họ cho rằng việc chăm con và nuôi dạy con tốt là trách nhiệm, nghĩa vụ và làthiên chức của người mẹ, người vợ trong gia đình Trẻ em sẽ phát triển tốt hơn nếu cóđược sự quan tâm, chăm sóc và đùm bọc của cả bố và mẹ
3) Phân công lao động giữa vợ và chồng trong việc tham gia các hoạt động trong dòng họ và ngoài cộng đồng.
Công việc cộng đồng ở đây là những công việc mang tính tập thể như họp dân,hiếu, hỷ….Những công việc này thể hiện vị thế, địa vị xã hội của gia đình hay chính
Trang 36là quyền lợi của mỗi người trong cộng đồng Người ta coi đó là công việc đại sự, làcông việc của đàn ông, đó không phải chỗ dành cho đàn bà vì “đàn bà có biết gìđâu” nên sự phân công trong gia đình có sự chênh lệch.
Trước đây, ở nhiều gia đình vẫn tồn tại suy nghĩ lạc hậu thì cho rằng ngườiđàn ông có trình độ hơn phụ nữ và sẽ là người đại diện cho gia đình để tham gia cáccông việc cộng đồng Nhưng ngày nay xã hội phát triển, trình độ của phụ nữ cũngđược nâng cao nên việc phân công tham gia các công việc cộng đồng được dựa theonhiều yếu tố như thời gian hoặc tính chất của công việc cộng đồng
4) Phân công lao động giữa vợ và chồng trong việc quyết định các việc lớn trong gia đình
Việc ra quyết định trong các công việc gia đình: Việc ra quyết định trong cáccông việc gia đình được thể hiện ở quyền quyết định thuộc về người vợ hay ngườichồng về các vấn đề có liên quan đến cuộc sống gia đình như: quản lý kinh tế, muasắm đồ đạc, quyết định số con,…
Trước đây, việc ra quyết định trong các gia đình của những công việc nhỏ nhưviệc chi tiêu hằng ngày thì người vợ quyết định, còn các quyết định mang tính vĩ mônhư mua sắm đồ đắt tiền, chuyển nhà mới…hay những quyết định liên quan đến xâydựng và đóng góp chính sách thì đều do người đàn ông – trụ cột trong gia đìnhquyết định Cũng vì điều đó mà sự tham gia của phụ nữ trong việc đóng góp chínhsách còn hạn chế, dẫn đến những thiên lệch liên quan đến bình đẳng của phụ nữ.Đến ngày nay, các cặp vợ chồng, đặc biệt là các gia đình có trình độ học vấncao thì họ sẽ cùng nhau bàn bạc và đưa ra các quyết định đó Tính bình đẳng đãđược thể hiện trong việc bàn bạc giữa các cặp vợ chồng
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phân công lao động trong gia đình viên chức
Việc phân công lao động theo giới trong gia đình viên chức nói riêng cũng nhưviệc phân công lao động theo giới trong gia đình nói chung chịu ảnh hưởng bởinhiều yếu tố Các yếu tố đó bao gồm: Thu nhập của gia đình, tính chất công việc,quan điểm tư tưởng lạc hậu, nếp sinh hoạt truyền thống của gia đình, yếu tố sứckhỏe, số con, chức vụ, trình độ học vấn
Trang 37 Thu nhập
Thu nhập của hai vợ chồng ảnh hưởng đến sự phân công là vì nhiều tư tưởngcho rằng ai kiếm ít tiền hơn thì người đó phải lo công việc nhà Trước đây ở một sốgia đình, họ cho rằng người kiếm được nhiều tiền sẽ không phải làm việc nhà, cònnhững người kiếm được ít hoặc không kiếm được tiền thì sẽ phải làm các công việcgia đình không tạo ra thu nhập đó để sự đóng góp cho gia đình của hai vợ chồngđược ngang nhau Họ cho rằng đó là bình đẳng Ngày nay, các gia đình đã có sựthay đổi tiến bộ hơn, tuy nhiên vẫn ảnh hưởng bởi bản tính của những người đànông gia trưởng và những người phụ nữ có tư tưởng truyền thống phụ hệ
Mỗi nghề nghiệp có một đặc thù riêng nên thời gian dành cho mỗi công việccũng khác nhau Viên chức bao gồm những nghề như giáo viên, bác sỹ, y tá, hộlý….Và đặc thù của mỗi công việc khác nhau Nhiều nghề nghiệp đòi hỏi thời gianlàm việc của họ thường cao hơn giờ làm hành chính Chính vì vậy, yếu tố này cũngảnh hưởng đến việc phân công lao động trong gia đình và trong mỗi gia đình cần có
sự linh hoạt, tránh sự dập khuôn, máy móc
Quan điểm, tư tưởng
Điều này cho thấy đây chính là định kiến về vai trò, trách nhiệm của phụ nữ vànam giới Nó ko chỉ có trong nhận thức của nam giới mà còn có trong chính nhậnthức của nữ giới Trước đây, do ảnh hưởng của lối tư tưởng, quan niệm cũ nên họcho rằng các công việc gia đình là bổn phận và nghĩa vụ của người phụ nữ, ngườichồng không nên làm vì sẽ khiến cho người đàn ông thấp kém với xã hội Ngườiđàn ông chỉ cần là trụ cột cho gia đình, và kiếm được nhiều tiền Tư tưởng nàykhông chỉ tồn tại trong suy nghĩ của nam giới mà còn có ở phụ nữ Những ngườiphụ nữ cũng ngại khi nhờ chồng làm các công việc trong gia đình Chính điều này
đã gián tiếp đẩy nam giới là những con người thiếu trách nhiệm trong công việc giađình Chính vì vậy, cuộc cách mạng bình đẳng giới, thay đổi nhận thức cần có sựhợp tác của cả hai phía Nhận thức của vợ chồng như vậy cũng ảnh hưởng một phầnnào đó từ môi trường sống, đặc biệt là gia đình Tư tưởng đó mang nhiều đặc trưng
Trang 38của gia đình truyền thống Họ cho rằng “Vắng đàn ông quạnh nhà, vắng đàn bàquạnh bếp” Nghiễm nhiên tất cả các công việc nhà là của phụ nữ còn các công việclớn ngoài xã hội là của đàn ông.
Những người vợ, người chồng có quan niệm về vấn đề giới một phần do ảnhhưởng của truyền thống gia đình từ thế hệ trước Do sự dạy dỗ và giáo dục của bố
mẹ nên ảnh hưởng đến việc PCLĐ trong gia đình
Việc phân chia công việc trong gia đình cần quan tâm đến yếu tố sinh học của
vợ và chồng Bình đẳng trong phân công lao động cần phải quan tâm đến việc phâncông các công việc sao cho bình đẳng và đảm bảo sự phù hợp với đặc điểm sinh lýcủa nam giới và nữ giới Ta có thể lấy ví dụ như sức lực của một người nam giớikhông thể so sánh và đòi bình đẳng với nữ giới trong những công việc sử dụngnhiều đến sức lao động
Số con trong gia đình ảnh hưởng đến sự phân công lao động trong gia đình.Điều này được thể hiện ở chỗ nếu gia đình đông con thì thời gian dành cho các hoạtđộng về chăm sóc và giáo dục con cái sẽ tăng lên, điều đó đồng nghĩa với việc cầnphải điều chỉnh sự phân công lao động giữa vợ và chồng
vi Trên thực tế, những người có trình độ học vấn thấp, họ sẽ nhận thức theo quanđiểm truyền thống nhiều hơn những người có trình độ học vấn cao Từ nhận thức đó
đã ảnh hưởng tới việc phân công lao động trong gia đình, đặc biệt là gia đình viên
Trang 39chức sẽ có sự chênh lệch về trình độ học vấn giữa vợ và chồng Hầu hết nhữngngười làm viên chức đều có lối tư tưởng, suy nghĩ tiến bộ hơn so với những ngườikhông phải là viên chức.
Trên đây là toàn bộ những yếu tố ảnh hưởng đến việc phân công lao độngtrong gia đình nói chung Với mỗi công việc xã hội của vợ hoặc chồng có tính chấtkhác nhau thì việc phân công lao động trong gia đình phải được phân chia một cáchlinh hoạt và phù hợp, yếu tố được thể hiện chủ yếu là thời gian Phân công lao độngdựa trên quỹ thời gian của vợ hoặc chồng dành cho công việc xã hội Từ đó đánhgiá sự cân bằng về thời gian nghỉ ngơi và thời gian làm việc của mỗi giới để có sựbình đẳng
Tiểu kết chương 1:
Chương 1 trình bày những nội dung khái quát nhất về cơ sở lý luận của việcphân công lao động theo giới trong gia đình Cụ thể đó là hệ thống các khái niệmcông cụ như: Khái niệm bình đẳng giới; Bất bình đẳng giới; Phân công lao động;Phân công lao động trong gia đình; Công tác xã hội nhóm; Công tác xã hội nhómnhằm giảm thiểu bất bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình viênchức Một số lý thuyết vận dụng trong công tác xã hội nhóm, biểu hiện của sự phâncông lao động theo giới cũng như những yếu tổ ảnh hưởng đến việc phân công laođộng trong gia đình tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
Trang 40CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG CỦA VIỆC PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG TRONG GIA ĐÌNH VIÊN CHỨC TẠI XÃ CỘNG HÒA,HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ
NỘI 2.1 Mô tả địa bàn nghiên cứu.
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
o Vị trí địa lý
Xã Cộng Hòa nằm ở phía Đông Nam huyện Quốc Oai, cách trung tâm huyện 5
Km và cách Thành phố Hà Nội 20km về phía Đông Về phía Bắc, xã Cộng Hòagiáp với huyện Hoài Đức, phía Nam giáp với huyện Chương Mỹ, phía Tây giáp với
xã Đồng Quang và phía Đông giáp với xã Tân Hòa
o Địa hình
Địa hình tương đối bằng phẳng, địa hình được chia thành 02 vùng gồm: Vùngđồng và vùng bãi, có 2 đồi 60 và 80
o Khí hậu - thời tiết
Cũng như các địa phương khác trong huyện Quốc Oai, Cộng Hòa thuộc vùngnhiệt đới gió mùa và có 4 mùa rõ rệt với nhiệt độ không khí bình quân năm là gần
23 độ C, trong năm nhiệt độ thấp nhất trung bình 8-10 độ C (vào tháng 1), nhiệt độcao nhất trung bình 38 - 40 0 C Độ ẩm không khí trung bình là 86%, cao nhất 94%
và thấp nhất là 31% Về lượng mưa bình quân năm khoảng 1.600 – 1.800 mm,lượng mưa cao nhất là 2.497 mm và thấp nhất là 709 mm Tổng số ngày nắng trungbình năm là 1464 giờ Tốc độ gió trung bình mùa đông là 2.8m/s, tốc độ gió mùa hè
là 2.2m/s và hướng gió chủ đạo mùa hè là hướng Đông-Nam
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
o Dân số và lao động
Dân cư của xã Cộng Hòa được bố trí tại 6 thôn, với tổng số 1.828 hộ và 7.381nhân khẩu; Số lao động trong độ tuổi là 4.255 người, chiếm 57,64% dân số