1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Báo chí với vấn đề giáo dục sức khỏe cộng đồng hiện nay​

153 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 296,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, vấn đề truyền thông về vấn đề giáo dục sức khỏecộng đồng trên báo chí có vai trò rất quan trọng trong công tác chăm sóc vàbảo vệ sức khỏe nhân dân nói chung và công tác y tế nói

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-VƯƠNG THANH TUẤN

BÁO CHÍ VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Hà Nội - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-VƯƠNG THANH TUẤN

BÁO CHÍ VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC

SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học

Mã số: 8320101.01

PGS.TS Đinh Văn Hường PGS TS Bùi Chí Trung

Hà Nội - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sựhướng dẫn khoa học của PGS.TS Đinh Văn Hường Các số liệu thống kê, kếtquả nghiên cứu, phát hiện mới là trung thực và chưa được ai công bố trong bất

kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây Luận văn có sử dụng, pháttriển, kế thừa một số tư liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu từ các sách, giáotrình, tài liệu liên quan đến nội dung đề tài

Tác giả luận văn

Vương Thanh Tuấn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn Cao học, tôi đã nhậnđược rất nhiều sự chỉ dẫn nhiệt tình của các thầy, cô giáo Viện Đào tạo Báochí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn(ĐHQGHN) và Học viện Báo chí và Tuyên truyền Tôi vô cùng quý trọng,biết ơn sự chỉ bảo đó và xin được chân thành gửi lời tri ân đến toàn thể cácthầy, cô giáo Đặc biệt, tôi xin ngỏ lời cám ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS ĐinhVăn Hường - người thầy đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ dạy, giúp đỡ tôi hoànthành luận văn Và hơn hết, trong quá trình làm luận văn, tôi đã học tập ở thầymột tinh thần nghiên cứu khoa học nghiêm túc, cẩn thận, tỉ mỉ và một thái độlàm việc hết mình Xin được gửi đến thầy sự biết ơn và lòng kính trọng nhất

Tôi cũng xin gửi lời cám ơn Ban lãnh đạo Viện Huyết học - Truyềnmáu Trung ương, lãnh đạo phòng Truyền thông - Giáo dục sức khỏe của Viện

là nơi tôi công tác, những người luôn sẵn sàng giúp đỡ, tạo điều kiện để tôitham gia hoàn thành chương trình đào tạo sau đại học Cám ơn anh/chị emđồng nghiệp, phóng viên các báo: Sức khỏe và Đời sống, Gia đình và Xã hội,Lao động, các anh /chị công tác tại các Vụ, Cục của Bộ Y tế đã tham gia trảlời phỏng vấn, tạo điều kiện và cung cấp những tư liệu quý cho tôi trong quátrình viết luận văn Cảm ơn gia đình và những người thân yêu đã luôn tintưởng, động viên và ủng hộ

Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn chắc chắn không tránh khỏinhững hạn chế nhất định Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp chân thànhcủa Hội đồng Khoa học, của quý thầy, cô giáo cùng với sự góp ý của bạn bèđồng nghiệp để luận văn hoàn thiện có chất lượng tốt hơn

Hà Nội, tháng 5 năm 2020

Vương Thanh Tuấn

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 9

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15

5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu 17

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 18

7 Bố cục luận văn 18

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG HIỆN NAY TRÊN BÁO CHÍ 19

1.1 Hệ thống khái niệm liên quan đến đề tài 19

1.1.1 Báo chí 19

1.1.2 Sức khỏe và giáo dục sức khỏe 24

1.1.3 Cộng đồng và giáo dục sức khỏe cộng đồng 28

1.2 Chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về giáo dục sức khỏe cộng đồng 31

1.3 Áp dụng lý thuyết đóng khung trong việc giải mã thông điệp về vấn đề giáo dục sức khỏe cộng đồng hiện nay 34

1.4 Vai trò của báo chí trong việc giáo dục sức khỏe cộng đồng 36

1.5 Tiêu chí về thông tin giáo dục sức khỏe cộng đồng trên báo chí 39

Tiểu kết chương 1: 42

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THÔNG TIN GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG TRÊN CÁC BÁO ĐƯỢC CHỌN KHẢO SÁT 43

2.1 Vài nét về các báo được chọn khảo sát 43

2.1.1 Báo Sức khỏe và Đời sống 43

Trang 6

2.1.2 Báo Gia đình và Xã hội 44

2.1.3 Báo Lao động 45

2.2 Nghiên cứu, đánh giá thực trạng thông tin giáo dục sức khỏe cộng đồng hiện nay trên các báo được chọn khảo sát 46

2.2.1 Số lượng tác phẩm 46

2.2.2 Về nội dung 48

2.2.3 Về hình thức 70

2.3 Đánh giá chung 79

2.3.1 Thành công 79

2.3.2 Hạn chế 85

2.3.3 Nguyên nhân của thành công và hạn chế 86

Tiểu kết chương 2: 88

CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG TRÊN BÁO CHÍ THỜI GIAN TỚI 89

3.1 Những vấn đề đặt ra 89

3.2 Một số giải pháp chung nhằm nâng cao chất lượng thông tin giáo dục sức khỏe cộng đồng trên báo chí 92

3.2.1 Hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với hoạt động thông tin về kiến thức chăm sóc sức khỏe cộng đồng của ngành y tế 92

3.2.2 Đổi mới nội dung và hình thức thông tin về vấn đề giáo dục sức khỏe cộng đồng 97

3.2.3 Đa dạng hóa hình thức chuyển tải thông tin, phát hành đến độc giả 106 3.2.4 Duy trì phóng viên chuyên theo dõi mảng y tế 109

3.2.5 Nâng cao năng lực, trình độ, đạo đức nghề nghiệp, kiến thức của phóng

viên, biên tập viên làm công tác thông tin về kiến thức chăm sóc sức khỏe

Trang 7

cộng đồng 110

3.2.6 Thành lập các câu lạc bộ nhà báo viết về y tế, tăng cường mở các lớp đào tạo nhà báo chuyên viết về y tế 115

3.3 Một số kiến nghị cụ thể cho 3 tờ báo được chọn khảo sát 117

3.3.1 Đối với báo Sức khỏe & Đời sống 117

3.3.2 Đối với báo Gia đình & Xã hội 118

3.3.3 Đối với báo Lao động 119

Tiểu kết chương 3: 120

KẾT LUẬN 121

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 123

PHỤ LỤC 129

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội

KT-XH Kinh tế - Xã hội

PGS TS Phó Giáo sư, Tiến sĩ

VH-XH Văn hóa - Xã hội

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng tác phẩm thông tin giáo dục sức khỏe cộng đồng hiện nay

trên các báo được chọn khảo sát 47Bảng 2.2 Những nội dung thông tin giáo dục sức khỏe cộng đồng hiện naytrên các báo được chọn khảo sát 49Bảng 2.3 Các thể loại được sử dụng để thông tin về vấn đề giáo dục sức khỏe

cộng đồng hiện nay trên các báo được chọn khảo sát 72Bảng 2.4 Ý kiến của công chúng về nguồn tiếp nhận thông tin kiến thức

chăm sóc sức khỏe nhân dân trên báo chí 78Bảng 2.5 Những nội dung thông tin về giáo dục sức khỏe mà công chúng

quan tâm 79Bảng 2.6 Đánh giá của công chúng về chất lượng nội dung thông tin về giáo

dục sức khỏe trên báo chí 82Bảng 2.7 Đánh giá của công chúng về chất lượng hình thức thông tin về giáo

dục sức khỏe trên báo chí 83

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thế giới và Việt Nam đã từng chứng kiến và bị ảnh hưởng, tác độngbởi các dịch bệnh lớn, mới, phức tạp nguy hiểm như: SARS (2003), Mers(2018); H1N1; H5N1 Đặc biệt, đầu năm 2020 cả thế giới phải đối mặt với đạidịch COVID - 19, đã làm tổn hại đến tình hình sức khỏe, tính mạng và mọimặt của đời sống, kinh tế xã hội sâu rộng, và lan khắp các quốc gia trên thếgiới

Trong tình hình phát triển kinh tế xã hội như hiện nay, những thông tinthời sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội luôn được cập nhập liên tục trêncác phương tiện truyền thông đại chúng như truyền hình, phát thanh, báo in,báo điện tử Khi đời sống được nâng cao, vấn đề sức khỏe càng được coitrọng, bởi lẽ cha ông ta đã có câu “có sức khỏe là có tất cả” Chính vì vậy,mỗi người dân luôn nêu cao tinh thần chăm sóc sức khỏe, không chỉ cho mình

mà còn cho những người thân yêu nữa Bởi vì muốn có một cơ thể tốt thì mọingười phải chủ động trang bị cho mình những kiến thức cơ bản về phòngchống bệnh tật, rèn luyện sức khỏe, thực hành dinh dưỡng hợp lí, luyện tậpthể dục thể thao phù hợp, an toàn lao động và khám bệnh định kỳ để phòngchống bệnh và chữa bệnh

Đảng và Nhà nước coi công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng là mộttrong những “Quốc sách hàng đầu” Điều này không chỉ thừa nhận ở chủtrương, chính sách Đảng, Nhà nước mà nó còn được biểu hiện cụ thể qua thái

độ quan tâm sâu sắc của xã hội cũng như thực tiễn sôi động những năm gầnđây, khi mà người dân ngày càng quan tâm đến sức khỏe của chính mình.Việc nâng cao nhận thức giúp người dân hiểu đúng đắn về sức khỏe, cung cấpnhững tri thức khoa học về chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, cách phòng chữa bệnh

Trang 11

để đạt được chỉ số sức khỏe ở mức cần có luôn là vấn đề nóng bỏng nhất hiệnnay khi mà môi trường đất, nước, không khí đều bị ô nhiễm, các đại dịch lớn,những căn bệnh nguy hiểm của nhân loại vẫn đang đe dọa sức khỏe và kinh

tế, chúng ta vẫn chưa được giải quyết triệt để được Và việc đối mặt vớinhững thách thức này đòi hỏi phải có sự quyết tâm về chính trị và sự hiểu biết

về chuyên môn Vì vậy, vấn đề truyền thông về vấn đề giáo dục sức khỏecộng đồng trên báo chí có vai trò rất quan trọng trong công tác chăm sóc vàbảo vệ sức khỏe nhân dân nói chung và công tác y tế nói riêng

Mục đích của truyền thông về vấn đề giáo dục sức khỏe cộng đồng làđưa ra những cảnh báo, những thông điệp quan trọng về giáo dục sức khỏecộng đồng có ảnh hưởng đối với cuộc sống và tương lai của mỗi người đếnvới bạn đọc Từ đó, giúp người dân có những thay đổi về hành vi, thái độ và

tự mình biết cách chăm sóc, dự phòng bệnh tật, nâng cao thể trạng sức khỏecủa bản thân cũng như người thân trong gia đình

Trong những năm qua báo chí được coi là một trong những kênh truyềntải, phổ biến những thông tin về sức khỏe nói riêng và về vấn đề y tế nóichung Đối với các tờ báo, tòa soạn báo vấn đề y tế luôn được chú trọng đăngtải như: tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách phápluật của Nhà nước về lĩnh vực y tế; Chiến lược phát triển ngành y dược, cácvăn bản, Đề án do Chính phủ phê duyệt; các thông tin khoa học của cácchuyên gia có ý nghĩa đối với công tác khám, chữa bệnh của nhân dân; haynhững văn bản chỉ đạo của ngành y tế nhằm truyền tải những thông tin y tếmột cách nhanh nhất, chính xác nhất đối với nhân dân Qua báo chí, bạn đọcthu lượm được nhiều thông tin, chính sách của Đảng, Nhà nước và của ngành

y tế

Báo chí cũng luôn cập nhập, đăng tải những tiến bộ khoa học kỹ thuậttrong lĩnh vực y tế trong nước cũng như thế giới Bạn đọc có thể dễ dàng tìm

Trang 12

thấy những thông tin y học bổ ích như: Ghép tạng từ người cho chết não,Ghép Tế bào gốc cho bệnh nhân mắc bệnh về máu và cơ quan tạo máu; Nongmạch vành bằng y học can thiệp, điều trị lao bằng phương pháp DOST TạiViệt Nam và điều chế thuốc cho bệnh nhân HIV/AIDS trên thế giới Nhữngthông tin này đã giúp độc giả rất nhiều trong việc chăm sóc và bảo vệ sứckhỏe bản thân, gia đình, cộng đồng.

Đối với những vấn đề gắn bó mật thiết đối với cuộc sống hàng ngày củangười dân như vấn đề tăng giá thuốc, bán thuốc giả như VN Pharma, tăng giámáy xét nghiệm, thiết bị y tế, đặc biệt là tăng giá khẩu trang y tế trong đợtdịch COVID - 19 vừa qua Có thể nói báo chí cũng là yếu tố chính làm bình

ổn giá thuốc trên thị trường và vạch trần sự gian lận của công ty VN Pharma.Các bài báo, các tác phẩm truyền hình, phát thanh đã đưa thông tin, phân tíchnguyên nhân và đề ra giải pháp cho việc bình ổn giá, giúp khán thính giả biếtđược sự thật Báo chí đã phát huy vai trò tạo dư luận xã hội, hướng dẫn dưluận xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng dân chủ công bằng vănminh

Ngoài những vấn đề bất cập cần giải quyết, báo chí cũng đã đăng tảinhững gương người tốt việc tốt, những gương điển hình tiên tiến trong ngành

y tế Hình ảnh người Viện trưởng của một Viện đầu ngành trong lĩnh vựcHuyết học - Truyền máu lúc nhà nước cho về nghỉ chế độ được cả cán bộ,

nhân viên và người bệnh tiếc nuối tri ân và xã hội tôn vinh Nâng cao ý thức

dự phòng là những trọng tâm của ngành y tế trong giai đoạn hiện nay Nhờtác động báo chí, đạo đức cán bộ y tế cũng đã được nâng lên vì báo chí vừanêu gương người tốt trong thực hiện y đức, vừa phê phán những cá nhân thiếu

y đức, góp phần giáo dục cho cán bộ y tế

Như vậy, báo chí với chức năng và thế mạnh của mình đã góp phầnkhông nhỏ vào sự nghiệp chăn sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trong tình

Trang 13

hình như Nghị quyết số 46 của Bộ Chính trị Tuy nhiên, về tần suất, chấtlượng của các tác phẩm báo chí về vấn đề giáo dục sức khỏe cộng đồng ở trênbáo chí hiện nay đang đứng trước những đòi hỏi khá phong phú của đông đảođộc giả về nội dung và hình thức Việc khảo sát và tìm ra cách thức, địnhhướng thông tin về vấn đề giáo dục sức khỏe cộng đồng đạt hiệu quả cao nhất

có ý nghĩa đối với xã hội và hoạt động tác nghiệp của nhà báo

Với tất cả những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn vấn đề “Báo chí với vấn đề giáo dục sức khỏe cộng đồng hiện nay” để làm đề tài luận văn

thạc sĩ, chuyên ngành Báo chí học của mình nhằm đánh giá tổng quan thựctrạng báo chí với vấn đề giáo dục sức khỏe cộng đồng hiện nay, từ đó đề xuấtnhững giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng thông tin về vấn đề giáodục sức khỏe cộng đồng hiện nay trên báo chí

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Liên quan đến vấn đề giáo dục sức khỏe cộng đồng hiện nay có một sốnghiên cứu, luận án, luận văn như sau:

Cuốn sách Sổ tay hướng dẫn lồng ghép truyền thông do TS Trần Đắc

Phu chủ biên, năm 2011 Cuốn sách là tài liệu dành cho cán bộ quản lý y tếcấp trung ương, tỉnh và huyện Cuốn sổ tay trình bày những thông tin cơ bản

về rửa tay với xà phòng và hướng dẫn một số phương pháp lồng ghép truyềnthông rửa tay với xà phòng với mong muốn hỗ trợ cán bộ quản lý y tế các cấp

Trang 14

thực hiện lồng ghép truyền thông rửa tay với xà phòng vào các chương trìnhcải thiện điều kiện vệ sinh môi trường và chăm sóc sức khỏe cộng đồng đangtriển khai trong hệ thống ngành y tế.

Cuốn Những bệnh của gia súc lây sang người của tác giả Nguyễn Hữu

Ninh, năm 1987, Nxb Nông nghiệp Tác giả cuốn sách đã nêu các bệnh từ giasúc lây sang người là những bệnh nhiễm khuẩn hoặc ký sinh trùng, có thểtruyền giữa người và động vật Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), Việt Nam

là nước có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nên là một trong những “điểm nóng”

về các bệnh truyền nhiễm mới nổi có nguồn gốc từ động vật, trong đó cónhững bệnh do virus và rickettsia: Dại, vincatxơn, sốt lở mồm; những bệnh do

vi khuẩn: Dịch hạch, đóng dấu, nhiệt than; những bệnh do giun sán: Gạo của

bò và lợn, giun bao, giun móc hay lây bệnh truyền nhiễm từ Dơi, Rắn… Điềuđáng lo ngại hiện nay, Việt Nam là một trong những quốc gia châu Á có hoạtđộng chăn nuôi với tổng đàn gia súc, gia cầm rất lớn Song, phương thức chănnuôi chủ yếu là truyền thống, thủ công và nằm rải rác tại các hộ gia đình.Nhiều bệnh trong số này khá nguy hiểm, như: Viêm phổi cấp lây từ loài cầyhương; sốt rét do muỗi vằn chích; dịch hạch từ chuột cống và những loài gặmnhấm; bệnh nhũn não lây truyền từ bò; bệnh dại từ thú hoang vật nuôi…

Cuốn Quy chuẩn quốc gia về vệ sinh phòng bệnh truyền nhiễm trong các cơ sở giáo dục, do nhóm tác giả của Bộ Y tế nghiên cứu, năm 2011, Nxb

Y học Nội dung cuốn sách đề cập đến công tác hướng dẫn tìm hiểu phòngchống, chẩn đoán, điều trị một số bệnh dịch, bệnh tật cho các em học sinh ởcác trường học và đã được ngành giáo dục đặc biệt quan tâm Việc chăm sóc,bảo vệ và nâng cao sức khỏe học sinh, sinh viên là nhiệm vụ quan trọng gópphần đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần cho thế hệtương lai của đất nước Song trên thực tế hoạt động y tế học đường hiện naycòn gặp nhiều khó khăn, nhiều bệnh dịch học đường đang có xu hướng gia

Trang 15

tăng Vì vậy, để tăng cường công tác y tế trong trường học, Chính phủ và các

Bộ ngành liên quan đã ban hành Quy chuẩn, kỹ thuật Quốc gia về vệ sinhphòng chống bệnh tật, hướng dẫn công tác phòng, chống các dịch bệnh truyềnnhiễm trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân

Nhìn chung các tác phẩm trên đã đưa ra hệ thống các quan điểm có tínhchất lí luận và thực tiễn về giáo dục sức khỏe cộng đồng; khẳng định tầmquan trọng của việc giáo dục sức khỏe cộng đồng

Đề cập đến vấn đề vai trò của báo chí được nói tới trong một số cuốn

sách, giáo trình, công trình nghiên cứu khoa học: Báo chí - những vấn đề lí luận và thực tiễn của Hà Minh Đức (1994); Truyền thông đại chúng của Tạ Ngọc Tấn; Báo chí truyền thông và kinh tế văn hóa, xã hội của Lê Thanh Bình (2008); Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội của Hoàng Đình Cúc (2007); Cơ sở lí luận báo chí của Nguyễn Văn Dững (2012) các tác giả đã

luận giải một cách sâu sắc về chức năng xã hội cơ bản của báo chí Trongchức năng quản lí, giám sát và phản biện xã hội, các tác phẩm đã làm rõ vaitrò của báo chí trong thực hiện các vấn đề đó, đồng thời chỉ ra các điều kiện

để báo chí thực hiện tốt hơn các chức năng này Có thể nói, các tác phẩm này

là “kim chỉ nam” cho những ai quan tâm hay nghiên cứu đến các chức năng

xã hội của báo chí, chức năng quản lí, giám sát và phản biện xã hội của báochí

Bên cạnh đó, còn có nhiều luận án, luận văn thạc sĩ trong những nămgần đây đã lựa chọn vấn đề truyền thông làm đề tài nghiên cứu, như:

Luận văn thạc sĩ Truyền thông giáo dục sức khỏe cho cộng đồng trên báo chí của Đỗ Võ Tuấn Dũng (2004) tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền.

Tác giả luận văn đã tiến hành phân tích cơ sở lý luận, khảo sát 3 tác phẩm báochí cụ thể từ năm 2001 - 2003, từ đó làm sáng tỏ một số quan điểm của Đảng

và Chính sách của Nhà nước về lĩnh vực truyền thông giáo dục sức khỏe đồng

Trang 16

thời đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng truyền thông về lĩnh vựcsức khỏe trên báo chí.

Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Y học Đánh giá thực trạng và hiệu quả một số giải pháp can thiệp truyền thông - giáo dục sức khỏe trong chăm sóc sức khỏe trẻ em tại tuyến cơ sở của Nguyễn Thị Kim Liên (2006) tại trường

Đại học Y Hà Nội Ở luận án này tác giả đã trình bày tổng quan về các yếu tố,

mô hình, vai trò, phương pháp ảnh hưởng của các giải pháp nâng cao hoạtđộng giáo dục chăm sóc sức khỏe trẻ em; nghiên cứu về thực trạng, kiến thức,thái độ thực hành hoạt động của giáo dục sức khỏe ở tuyến y tế cơ sở và cácvấn đề can thiệp, thực hiện can thiệp Đây là một nghiên cứu có tính chuyênngành, chủ yếu là nghiên cứu của hoạt động truyền thông của cán bộ giáo dụcsức khỏe ở tuyến y tế cơ sở

Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Báo chí Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm trên báo chí hiện nay (khảo sát trên các báo Lao động, Sức khỏe và đời sống từ 1/2007 đến 6/2008) của Chu Thúy Ngà (2008) Tác giả luận văn đã

tiến hành nghiên cứu những vấn đề chung về an toàn vệ sinh thực phẩm và vaitrò của báo chí hiện nay; về công tác tuyên truyền an toàn vệ sinh thực phẩmtrên báo chí hiện nay; và những bài học kinh nghiệm trong công tác tuyêntruyền an toàn vệ sinh thực phẩm trên báo chí

Luận văn thạc sĩ Báo chí học “Thông tin sức khỏe trên báo chí Việt Nam” của Bùi Thị Thu Thủy, năm 2010, Đại học Khoa học xã hội và Nhân

văn (ĐHQGHN) Tác giả luận văn đã khái quát hóa và chuẩn hóa hệ thống lýluận về lí thuyết kênh, chương trình truyền thông chuyên biệt và nhu cầu củacông chúng chuyên biệt đối với vấn đề thông tin sức khỏe Đồng thời tác giảluận văn đã cung cấp một bức tranh toàn cảnh về tình hình thông tin sức khoẻtrên báo chí hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng và hiệu quả truyền thông

Trang 17

Luận văn Truyền thông đại chúng Thông tin y tế - sức khỏe trên báo in hiện nay của Nguyễn Thị Thanh Hòa (2012) tại trường Đại học Khoa học xã

hội và Nhân văn (ĐHQGHN) Tác giả luận văn đã tìm hiểu vai trò của báo chítrong việc chuyển tải thông tin về y tế - sức khỏe và diện mạo của báo chí viết

về mảng y tế - sức khỏe hiện nay; trình bày nội dung, hình thức thể hiệnnhững thông tin y tế - sức khỏe trên báo Khoa học & Đời sống và Sức khỏe &Đời sống; đánh giá ưu điểm, nhược điểm của thông tin y tế - sức khỏe trênbáo chí và đề xuất giải pháp đối với hai tờ báo Khoa học & Đời sống và Sứckhỏe & Đời sống

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học Thông tin về kiến thức chăm sóc sức khoẻ nhân dân trên báo chí ngành y tế hiện nay của Hoàng Nữ

Thái Bình (2013) tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền Tác giả luận văn đãtiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động thông tin các sản phẩmtruyền thông về kiến thức chăm sóc sức khỏe nhân dân trên báo in (cụ thể làcác báo, tạp chí của ngành y tế: Sức khỏe & Đời sống, Gia đình & Xã hội,Tạp chí Dược & Mỹ phẩm), luận văn đề xuất những giải pháp nhằm nâng caohơn nữa chất lượng của công tác thông tin, tuyên truyền về kiến thức chămsóc sức khỏe nhân dân trên các báo, tạp chí của ngành y tế

Luận văn Thạc sĩ Báo chí và truyền thông “Vấn đề thông tin tư vấn, chỉ dẫn an toàn thực phẩm trên báo chí Việt Nam” của Trần Thị Thảo, năm 2016.

Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN) Tác giả luận văn đi sâukhảo sát, phân tích nội dung, cách thức thể hiện của thông tin tư vấn, chỉ dẫn

an toàn thực phẩm trên báo chí Việt Nam trong hai năm 2014 - 2015 Đángchú ý, luận văn còn tiến hành thu thập ý kiến công chúng với kết quả 72% ýkiến người được hỏi cho rằng việc báo chí cung cấp thông tin tư vấn, chỉ dẫn

An toàn thực phẩm là rất cần thiết, trong đó báo điện tử được công chúngđánh giá là loại hình thuận tiện nhất cho việc tiếp nhận thông tin này Đây

Trang 18

được coi như một chỉ báo về nhận thức, thái độ của công chúng trước diễnbiến phức tạp của vấn đề an toàn thực phẩm hiện nay Dựa trên chỉ báo này,các cơ quan báo chí sẽ có định hướng tổ chức và đầu tư thích đáng đối vớihoạt động thông tin tư vấn, chỉ dẫn an toàn thực phẩm.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học Vai trò của báo chí trong chiến dịch truyền thông phòng, chống bệnh dịch sốt xuất huyết Dengue và bệnh dịch do vi rút Zika của Nguyễn Thị Hạnh (2017) tại trường Đại học

Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN) Luận văn đã bám sát cơ sở lý luậnbáo chí học và đưa ra được cơ sở lý luận, thực tiễn, đồng thời phân tích, tổnghợp, luận giải vấn đề liên quan đến luận văn Trên cơ sở những vấn đề lý luận

đã xây dựng, luận văn đã khảo sát ý kiến công chúng, tìm hiểu cách thức tiếpcận thông tin gồm tần suất, mục đích, nội dung tiếp cận thông tin về tình hìnhdịch bệnh nói chung, bệnh dịch sốt xuất huyết dengue và bệnh dịch do vi rútZika nói riêng trên báo chí; chỉ rõ thành công, hạn chế, nguyên nhân hạn chếtrong công tác thông tin truyền thông phòng chống dịch bệnh nói chung, bệnhdịch sốt xuất huyết và bệnh do vi rút Zika nói riêng Từ cơ sở lý luận và cơ sởthực tiễn đã nghiên cứu, luận văn đưa ra những giải pháp, khuyến nghị cơ bảnđối với cơ quan quản lý, các cơ quan báo chí và công chúng nhằm nâng caochất lượng trong công tác thông tin truyền thông về dịch bệnh

Đây là những đề tài có cách đặt vấn đề tương đồng với luận văn nàynên chúng tôi có thể tham khảo về phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận vấn

đề cũng như một số quan điểm về giáo dục sức khỏe cộng đồng hiện nay trênbáo chí

Nhìn chung, các công trình, bài nghiên cứu đã bước đầu đề cập một sốvấn đề về ngành y, chăm sóc sức khỏe trên các phương diện thông tin đạichúng Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào trực tiếp nghiêncứu vấn đề giáo dục sức khỏe cộng đồng hiện nay trên báo chí Trong tìnhhình đó, tác giả luận văn mong muốn qua đề tài này sẽ góp thêm một tiếng nói

Trang 19

vào lí luận chung truyền thông vấn đề giáo dục sức khỏe cộng đồng hiện naytrên báo chí Đồng thời, luận văn sẽ đi tiên phong trong việc khảo sát nộidung, hình thức của truyền thông về vấn đề giáo dục sức khỏe cộng đồng hiệnnay trên báo chí Chính vì vậy có thể nói đây là lần đầu tiên có đề tài luận vănnghiên cứu về vấn đề này.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa một số lý luận liên quan đến đề tài, luận vănkhảo sát về vấn đề giáo dục sức khỏe cộng đồng hiện nay trên các báo thuộcdiện khảo sát, đánh giá thành công, hạn chế trên hai bình diện nội dung vàhình thức thể hiện, từ đó, đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng caochất lượng thông tin giáo dục sức khỏe cộng đồng hiện nay và thời gian tớitrên báo chí

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.

Để đạt được những mục đích trên, luận văn sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Khái quát, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề giáo dục sức khỏe cộng đồng hiện nay trên báo chí

- Khảo sát, nghiên cứu, đánh giá thực trạng về nội dung và hình thứcthông tin về vấn đề giáo dục sức khỏe cộng đồng hiện nay trên các báo được khảosát; từ đó chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của thông tin về vấn đề giáo dục sứckhỏe cộng đồng trên các báo được chọn khảo sát

- Đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin giáo dục sức khỏe cộng đồng hiện nay và thời gian tới trên báo chí

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là báo chí với vấn đề giáo dục sức khỏe cộng đồng hiện nay

Trang 20

Thứ nhất, cả ba tờ báo trên đều là các tờ báo có số lượng phát hành và số

lượng độc giả lớn, bao gồm cả người dân thủ đô và các tỉnh thành trong cả nước

Thứ hai, các báo này có số lượng tin, bài về y tế và thông tin y tế phong

phú, hoạt động chống dịch bệnh được cập nhập thường xuyên

Thứ ba, phóng viên viết cho tờ báo này là những nhà báo, phóng viên

được đào tạo bài bản, được học qua các trường lớp về báo chí; các phóng viênnăng động, trau dồi kinh nghiệm thực tiễn từ cuộc sống nên chất lượng tin, bàikhá cao Các vấn đề mà các báo chuyển tải đều có giá trị thực tiễn, tính thôngtin cao và có hàm lượng tri thức lớn

Thứ tư, về thời gian khảo sát từ tháng 6/2018 - 6/2019 vì trong khoảng

thời gian này các vấn đề về dịch bệnh cúm A-H1N1, sốt xuất huyết viêmmàng não bùng phát mạnh khiếm cho môi trường sống và sức khỏe cộng đồng

bị đe dạo một cách nghiêm trọng

Do vấn đề sức khỏe cộng đồng quá rộng nên tác giả luận văn sẽ chỉ tậptrung vào các nội dung:

Chủ chương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về sức khỏe,

y tế

Những vấn đề y khoa, đặc điểm, tình hình dịch bệnh và tư vấn sức khỏe Hướng dẫn sử dụng thuốc, mỹ phẩm an toàn hợp lý và các chỉ dẫn vềcác bài thuốc trong y học cổ truyền

Những thành tựu y tế, những tấm gương tiêu biểu trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng

Về thời gian nghiên cứu, khảo sát giới hạn trong những tác phẩm đã

Trang 21

được đăng tải trên 03 báo được chọn báo Sức khỏe và Đời sống; Gia đình và

Xã hội và báo Lao động thời gian từ tháng 6/2018 - 6/2019

5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lí luận

Cơ sở lý luận của luận văn dựa là vào Quan điểm của Đảng, chính sáchpháp luật của Nhà nước về báo chí và luật về vấn đề giáo dục sức khỏe cộngđồng Đồng thời, kế thừa kết quả nghiên cứu khoa học của các tác giả về cáclĩnh vực báo chí truyền thông liên quan đến đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn áp dụng một số phương pháp nghiên cứu công cụ như:

- Phương pháp nghiên cứu tư liệu lịch sử: Kế thừa kết quả nghiên cứu

của các tác giả đã nghiên cứu về những đề tài có liên quan Tổng hợp tất cả cácquan điểm lý luận, thực tiễn liên quan đến đề tài từ các văn bản pháp luật, tài liệukhoa học, sách báo, tạp chí

- Phương pháp thống kê, phân tích nội dung văn bản: Nhằm tìm hiểu

nội dung, cách thức thể hiện thông tin về vấn đề giáo dục sức khỏe cộng đồng dướigóc độ người nghiên cứu báo chí Về mặt định lượng, phân tích nội dung văn bảngiúp tìm hiểu tần suất, mức độ xuất hiện của thông tin về vấn đề giáo dục sức khỏecộng đồng trên báo chí Trên cơ sở đó so sánh, nghiên cứu và đưa ra những đánhgiá khách quan và khoa học

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Được thực hiện với các lãnh đạo cơ

quan chủ quản, nhà báo, người dân nhằm đánh giá ưu - nhược điểm, tìm ra giảipháp, nâng cao hiệu quả truyền thông về giáo dục sức khỏe của cộng đồng trên báochí

- Phương pháp điều tra xã hội học (bảng hỏi anket): Tiến hành phát

300 phiếu giấy trưng cầu ý kiến cho đối tượng là công chúng không phân biệtgiới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp của công chúng đang sinhsống và làm việc tại 3 quận/huyện của thành phố Hà Nội: Cầu Giấy, Đông

Trang 22

Anh , Mỹ Đức, nhằm lấy ý kiến của họ về ưu, khuyết điểm cũng như các giảipháp nâng cao chất lượng thông tin về vấn đề giáo dục sức khỏe của cộngđồng hiện nay trên báo chí Đây được xem là cơ sở quan trọng để nhận định,đánh giá vấn đề.

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ Lục, Nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương sau đây:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề giáo dục sức

khỏe cộng đồng hiện nay trên báo chíChương 2: Thực trạng thông tin giáo dục sức khỏe cộng đồng hiện nay

trên các báo được chọn khảo sátChương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp, khuyến nghị nâng cao

chất lượng thông tin giáo dục sức khỏe cộng đồng hiện naytrên báo chí

Trang 23

CHƯƠNG 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỘNG

ĐỒNG HIỆN NAY TRÊN BÁO CHÍ 1.1 Hệ thống khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1 Báo chí

Theo tác giả Nguyễn Văn Dững trong cuốn Cơ sở lí luận báo chí, Nxb Lao động, năm 2012 có định nghĩa “Báo chí là hiện tượng xã hội phổ biến phát triển theo từng ngày và có tác động chi phối đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nhưng đến nay, chưa có sự thống nhất ở mức độ tương đối về khái niệm này, thậm chí trong các sách, giáo trình chính thức bằng tiếng Việt,

kể cả tiếng nước ngoài cũng chưa thấy đưa ra khái niệm báo chí là gì, báo chí và thông tin báo chí có những đặc điểm cơ bản nào để có thể nhận diện rõ hơn về bản chất và cơ chế hoạt động” [18, tr 53] Tuy nhiên, quan niệm về

báo chí có nhiều quan điểm khác nhau:

Báo chí trong quan niệm của dân gian: Trong xã hội Việt Nam ngày

trước, báo chí nhiều khi được ví, được coi như “thằng mõ”; là người máchlẻo, thóc mách, đưa chuyện, là người hóng hớt “thằng mõ” trong xã hội ViệtNam trước đây là người đưa tin có tính chất công báo, làm nhiệm vụ loan báocho dân làng biết những gì đã, đang và sắp xảy ra [18, tr 54]

Dưới góc độ báo chí - truyền thông Việt Nam thì “thằng mõ” được xem

là một trong những dạng thức “người đưa tin” cổ xưa và sơ khai” [18, tr 54].

Ở khía cạnh khác, báo chí được hiểu là phương tiện thông báo, thôngtin về những việc mới diễn ra hàng ngày cho nhiều người biết Báo chí làphương tiện thông tin thời sự, phương tiện giao tiếp xã hội; là diễn đàn cungcấp, trao đổi, chia sẻ thông tin công khai

góc độ tiếp cận từ lí thuyết, báo chí được coi là “những tư liệu sinh hoạt tinh thần nhằm thông tin và nói rõ về những sự kiện thời sự đã và đang

Trang 24

diễn ra cho một nhóm đối tượng nhất định, nhằm mục đích nhất định, xuất bản định kì, đều đặn” [18, tr 54].

Theo nghĩa hẹp, báo chí được hiểu bao gồm báo và tạp chí; theo nghĩarộng bao gồm các loại hình báo chí: báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạngđiện tử Báo chí chính là một bộ máy để tìm hiểu thông tin, phổ biến và phântích tin tức, là những cơ quan ngôn luận, cung cấp thông tin và ý kiến về mọivấn đề Báo chí là tên gọi chung của các thể loại thông tin đại chúng Cónhững loại hình báo chí sau:

Báo in là những ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin mangtính thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội Trong trường hợp này,thuật ngữ báo in được dùng để chỉ hai bộ phận: báo và tạp chí

Toàn bộ thông tin của báo in đồng thời xuất hiện trước mắt người đọchầu như trên một trang báo Sự đồng hiện thông tin của báo in được thể bằngnhững thông tin xuất hiện cùng lúc trên trang báo, thông qua việc trình bày, tổchức trang báo như: chuyên trang, chuyên mục, tiêu đề, tít chính, tít phụ, sapô,nội dung, hình vẽ, biểu đồ, sơ đồ Phương thức truyền tải thông tin này là một

ưu thế nhất định của báo in với công chúng đọc báo in có thể thấy tít hoặcsapô hấp dẫn hay cũng có thể tranh ảnh, biểu đồ minh họa gây chú ý mà thuhút họ mua báo và đọc

Luật Báo chí 2016 định nghĩa “báo in là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phương tiện in để phát hành đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chí in” [34, tr 1].

Một cách hiểu khác: báo in là sản phẩm định kỳ chuyển tải nội dungthông tin mang tính thời sự được nhân bản bằng máy in và phát hành rộng rãitrong xã hội

Báo in có tính định kỳ Tính định kỳ này được mặc định giữa tòa soạnbáo chí với công chúng bằng sự xuất hiện theo chu kỳ đều đặn và cố định

Trang 25

Sản phẩm báo in có thể ra hàng ngày hoặc hàng tuần nhưng nếu tính định kỳ

bị phá vỡ sẽ làm báo xáo trộn thói quen theo dõi, mua báo và đọc báo củacông chúng và họ sẽ tự kiếm những phương tiện, hình thức khác để tiếp cậnthông tin

Sản phẩm của báo in được phát hành rộng rãi trong xã hội Nhưng mỗiloại báo in có đối tượng công chúng đặc thù như: báo Thanh niên, báo Tiềnphong, báo Tuổi trẻ dành cho lứa tuổi đoàn viên, thanh niên; báo Nhi đồngdành cho lứa tuổi nhi đồng; báo Người cao tuổi dành cho những người caotuổi; báo Phụ nữ dành cho phụ nữ Với mỗi đối tượng công chúng lại mangđặc điểm tâm sinh lý khác nhau nên cách thức tiếp cận thông tin cũng khônggiống nhau Do đó, mỗi cơ quan báo in cần có cách thức thông tin phù hợpvới đối tượng công chúng của mình

Công chúng của báo in tiếp nhận thông tin bằng thị giác nên hoàn toàn

có thể chủ động về không gian, thời gian, địa điểm tiếp nhận thông tin khithấy phù hợp Chính nhờ sự chủ động của công chúng khi đọc báo in nên việcghi nhớ thông tin cũng lâu hơn, chi tiết hơn giúp cho việc nhận thức các mặtcủa một sự kiện phức tạp hay vấn đề cũng đầy đủ, đúng đắn hơn

Phát thanh là một loại hình báo chí ra đời vào những năm 50 của thế kỷ

XX trên cơ sở của việc phát hiện ra sóng điện tử Đó là phát minh quan trọngtrong lĩnh vực vật lí, gắn liền với tên tuổi của các nhà khoa học nổi tiếng thếgiới lúc bấy giờ như: Ambrose Fleming, Faraday, Clerk Maxwell, RudolfHext

Theo PGS.TS Nguyễn Đức Dũng: “Phát thanh là một loại hình báo chí điện tử hiện đại mà đặc trưng cơ bản của nó sử dụng ngôn ngữ âm thanh tổng hợp, sinh động bao gồm lời nói, tiếng động, âm nhạc để chuyển tải thông điệp nhờ sử dụng kỹ thuật sóng điện tử và hệ thống truyền thanh tác động trực tiếp vào thính giác của người nghe” [13 Tr 22].

Trang 26

Luật Báo chí 2016 có định nghĩa “báo nói là loại hình báo chí sử dụng tiếng nói, âm thanh, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau” [34, tr.1].

Hiện nay, phát thanh vẫn được coi là truyền hình truyền thông có khảnăng thu hút một lượng thính giả rộng rãi và có sức ảnh hưởng lớn tới dư luận

xã hội

Một trong những thế mạnh của báo nói được thính giả đánh giá cao lànhững người làm báo nói biết cách tôn trọng người nghe và tác động nhanh, hiệuquả đến công chúng Nói cách khác, sức hấp dẫn của phát thanh chính là ở sựthân mật, gần gũi với công chúng thính giả giống như “nói với một người bạn”

Phát thanh là một loại hình báo chí có thể di động được (đi đâu cũng cóthể nghe được); có thể tương tác được (giống như comment trên mạng xã hội);

và công chúng có thể làm báo cùng phát thanh và hơn thế họ có cơ hội trìnhbày thông tin trên radio bằng giọng nói của mình nên dễ dàng thể hiện đượccảm xúc cá nhân Một ưu thế nữa, mà không loại hình báo chí nào (kể cảInternet) có được đó là do tiếp cận thông tin qua thính giác, công chúng có thểtiếp nhận thông tin qua đài phát thanh trong khi đang làm bất cứ việc gì

Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải tin bằnghình ảnh động và nhờ các phương tiện kỹ thuật Sự xuất hiện của truyền hìnhnhư một điều kỳ diệu trong sáng tạo của con người Truyền hình mang lại chocon người cảm giác về một cuộc sống rất thật đang diễn ra trước mắt Ngàynay truyền hình là phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dântộc Sự ra đời của truyền hình đã góp phần làm cho các hệ thống truyền thôngđại chúng ngày thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng vềchất lượng Công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo trên khắp hànhtinh

Trang 27

Tác giả Nguyễn Văn Dững đưa ra quan niệm: “Truyền hình là kênh truyền

thông đại chúng ra đời sau, kế thừa các thế mạnh của kênh trước đó như điện ảnh, báo in, phát thanh và ngày nay đang tận hưởng tối đa môi trường truyền thông số trên mạng internet Truyền hình là kênh truyền thông chuyển tải thông điệp bằng hình ảnh động với nhiều màu sắc vốn có từ cuộc sống cùng với lời nói, âm nhạc, tiếng động Nhờ thế, truyền hình đem lại cho công chúng bức tranh sống động với cảm giác như đang trực tiếp tiếp xúc và cảm thụ Đó là bức tranh về cuộc sống thật nhưng được thu nhỏ, được “rút gọn”, được làm giàu thêm về ý nghĩa, làm sáng rõ hơn về hình thức” [17, tr 118].

Luật Báo chí 2016 định nghĩa: “Báo hình là loại hình báo chí sử dụng hình ảnh là chủ yếu, kết hợp tiếng nói, âm thanh, chữ viết, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau” [34, tr.1] Kế

thừa quan điểm chung về truyền hình của các nhà nghiên cứu, tác giả quan

niệm: “Truyền hình là một kênh chuyển tải thông tin một cách rõ ràng, trung thực và hiệu quả đến công chúng qua sự kết hợp giữa hình ảnh và

âm thanh”.

Báo điện tử là loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức mộttrang web và phát hành dựa trên nền tảng internet Báo điện tử được xuất bảnbởi tòa soạn điện tử, còn người đọc báo dựa trên máy tính, điện thoại di động,máy tính bảng có kết nối internet

Luật Báo chí 2016 định nghĩa: “Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử” [34, tr.1].

Đầu tiên phải khẳng định, báo điện tử là một trong những loại hình báochí nhanh nhạy trong đưa thông tin, mạng lưới rộng cũng như tốc độ truyềnthông nhanh chóng Không phải mất công quay dựng như truyền hình, in ấn

Trang 28

như báo in, kết hợp âm thanh, lời bình như phát thanh Báo điện tử dễ dàngđưa hình ảnh lên trang mạng ngay khi sự việc xảy ra và tỏ ra chủ động, đi đầutrong việc đưa các thông tin quan trọng, nóng bỏng Chính bởi vậy, khả năngkhuếch tán thông tin cũng như tác động của báo điện tử đến với công chúng là

vô cùng lớn Hơn nữa, báo điện tử là một trong những loại hình truyền thông

có tính tương tác cao nhất Báo chí thông tin đến độc giả và nhận lại đượcphản hồi của độc giả là một vòng khép kín Do đó, tính chính xác của thôngtin, sự tác động của thông tin vào việc thực hiện chức năng của báo chí đượcthể hiện rõ nét Và qua đó, ta có thể thấy báo điện tử đóng vai trò trong việcthông tin

Bên cạnh những tác động tích cực trên báo điện tử cũng tồn tại nhiềuhạn chế cần bàn đến như: độ chính xác của thông tin trên báo điện tử khôngbằng thông tin trên các loại hình báo chí khác; lượng thông tin khổng lồ củabáo điện tử khiến cho người đọc/người tiếp nhận thông tin cảm thấy choángngợp, mất tập trung và đôi khi không có khả năng lựa chọn thông tin nào tốt,đáng tin cậy cho mình Thêm nữa nhiều thông tin trên báo điện tử quá chi tiếthay tủn mủn, sa đà vào giật gân, câu khách Vì chưa có chính sách thắt chặt

an toàn thông tin với báo điện tử nên thông tin trôi nổi và không được xácthực rất nhiều Những tin giật gân, câu khách, không chính xác là hạn chế lớnnhất của báo điện tử Nếu như phát thanh, truyền hình hay báo in có độ thôngtin chính xác cao thì báo điện tử lại hầu như thả trôi chuyện này Do đó, thôngtin trên báo điện tử chưa được bạn đọc tin tưởng so với các phương tiệntruyền thông đại chúng khác

1.1.2 Sức khỏe và giáo dục sức khỏe

- Sức khỏe

Từ xưa đến nay, sức khỏe được xem là vốn quý nhất của con người,đồng thời cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển

Trang 29

của một xã hội Cùng với sự tăng trưởng của kinh tế - xã hội, đời sống vậtchất của người dân được nâng cao, vấn đề chăm sóc sức khỏe đã trở thànhmột trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu.

Dưới góc độ triết học, sức khỏe là thuộc tính của sự sống Sống làphương thức tồn tại của những thể protit thông qua quá trình trao đổi chất.Mọi sinh vật sinh ra, tồn tại và phát triển đều cần có quá trình trao đổi chất,quá trình đó là sức khỏe Sức khỏe gắn liền với sự sống Vì vậy, sức khỏe làmột thuộc tính của sự sống loài người Vấn đề đặt ra là sức khỏe tồn tại ởtrạng thái nào, mức độ nào, cần tác động gì để có sức khỏe

Trong quan niệm của triết học phương Đông thì sức khỏe là một thựcthể bao gồm nhiều yếu tố tồn tại trong một trạng thái cân bằng động (conngười luôn hòa đồng với vũ trụ và sức khỏe con người là biểu hiện của sự cânbằng giữa âm và dương) Còn theo quan niệm của triết học phương Tây thì cơthể con người được cấu tạo bởi tế bào và mô Tế bào là đơn vị cấu trúc cơ bảnnhỏ nhất của cơ thể và cơ thể con người được điều hòa bởi hệ thần kinh và hệnội tiết để tạo ra trạng thái cân bằng Nhưng nhìn chung cả triết học phươngĐông và phương Tây đều quan niệm sức khỏe là một trạng thái cân bằng vàbệnh tất là sự lệch ra của trạng thái cân bằng đó

Năm 1978, tại Alma Ata - Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra định

nghĩa chuẩn về sức khỏe như sau: “Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thỏa mái

cả về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh hay tật Như vậy, người có sức khỏe là người phải hội tụ đủ ba trạng thái: sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và sức khỏe xã hội” [60, tr 2].

Theo định nghĩa này, trạng thái thỏa mái về mặt thể chất là gồm: hoạtđộng thể lực, hình dáng, ăn, ngủ, tình dục tất cả các hoạt động sống trên đều

ở trạng thái tốt nhất phù hợp với lứa tuổi Trong đó:

Sức khỏe thể chất được hiểu là tình trạng bình thường về thể lực, các

Trang 30

chỉ số sinh lý của cơ thể luôn trong trạng thái ổn định, không có dấu hiệu bấtthường (ví dụ: ở người trưởng thành thì huyết áp trung bình 120/80mmHg;nhịp tim trung bình 70 lần/phút; hồng cầu 3,7 triệu ) Các chỉ số sinh lý nàyđược đo, đếm thông qua các biện pháp thăm khám y tế như đo huyết áp, đếmnhịp tim, xét nghiệm các chỉ số máu

Sức khỏe tinh thần được hiểu một cách trừu tượng hơn, đó là tình trạng

tinh thần cảm thấy thoải mái; luôn vui vẻ (cảm thấy sung mãn, tràn đầy sứcsống, làm việc không mệt mỏi, ăn ngon, ngủ tốt, không bận tâm lo lắngchuyện gì ) Trên thực tế những người không hề có biểu hiện của bệnh tật(các chỉ số sinh lý đều hoàn toàn bình thường khi thực hiện các biện phápthăm khám y tế) lại có những bất an về mặt tâm thần như luôn cảm thấy mệtmỏi, chán ăn, mất ngủ (stress tâm lý) hoặc nặng hơn là mắc các chứng nhưhoang tưởng, trầm cảm thì được coi là người không có sức khỏe Sức khỏetâm thần thường không thể đánh giá được bằng các biện pháp y tế thôngthường (đo, đếm, xét nghiệm ) mà phải được đánh giá qua các biện phápthăm khám chuyên ngành tâm lý học hoặc tâm thần học

Sức khỏe xã hội được đánh giá ở một phạm vi rộng hơn, không chỉ đơn

thuần là tình trạng sức khỏe thể chất hay sức khỏe tâm thần mà còn có sự liêntưởng tới một không gian rộng hơn nằm trong môi trường tự nhiên và xã hội

mà người đó đang sống Ví dụ: một người không được coi là khỏe mạnh khi

họ thất nghiệp, bị nghèo đói Một người cũng không được xem là khỏe mạnhnếu như phải sống trong môi trường xã hội thiếu lành mạnh (sống chung vớicác tệ nạn xã hội: ma túy, mại dâm ) hoặc trong một môi trường thiên nhiênkhông đảm bảo (vệ sinh môi trường kém, ô nhiễm không khí, nước ) Mộtngười sống trong hoàn cảnh thiếu thốn các điều kiện sống tối thiểu cũngkhông được xem là khỏe mạnh (theo phân loại đói nghèo của Chương trìnhPhát triển Liên Hợp quốc tại Việt Nam (UNDP) thì người không đảm bảo

Trang 31

thu nhập để mua 01 cái bánh mỳ/24 giờ nghĩa là không đảm bảo điều kiệnsống tối thiểu) Sức khỏe xã hội thường có sự liên quan đến nhiều cá nhântrong xã hội.

Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm rằng “Sức khỏe là khí huyết lưu thông tinh thần đầy đủ” [36 tr 540].

Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân được Quốc hội nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 30/6/1989 ghi rõ:

“Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, là một trong những điều kiện cơ bản để con người sống hạnh phúc, là mục tiêu và là nhân tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ tổ quốc” [39, tr 9].

Tóm lại, nói đến sức khỏe là nói đến tất cả các yếu tố tác động đến toàn

bộ đời sống vật chất và tinh thần của một con người, chứ không chỉ đơn giản

là dừng lại ở một yếu tố nào

Xét ở góc độ khoa học thì giáo dục sức khỏe cũng giống như giáo dụcchung đó là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến suy nghĩ và tìnhcảm của con người, nhằm nâng cao kiến thức, thay đổi nhận thức, thái độ,hành vi của con người và thực hành hành vi lành mạnh để bảo vệ và nâng caosức khỏe cho cá nhân, gia đình và cộng đồng

Giáo dục sức khỏe là quá trình dạy - học có mối quan hệ qua lại haichiều tác động giữa người thực hiện giáo dục sức khỏe và người được giáo dụcsức khỏe Đây là một quá trình trao đổi cung cấp thông tin và nhận phản hồi từcán bộ y tế (bác sỹ, điều dưỡng viên chuyên trách về giáo dục sức khỏe) đếncác đối tượng để từ đó họ có thể nhận ra các vấn đề sức khỏe bệnh tật liênquan đến bản thân, gia đình, cộng đồng nơi họ đang sinh sống, dẫn đến sự thayđổi tích cực giải quyết các vấn đề bệnh tật sức khỏe

Trong thực tế, giáo dục sức khỏe là một phần nhiệm vụ chăm sóc, bảo

vệ và nâng cao sức khỏe, nó liên quan đến việc thúc đẩy các hành vi lành

Trang 32

mạnh Thông qua giáo dục sức khỏe chúng ta giúp mọi người hiểu rõ hành vicủa họ và biết được những hành vi đó ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏecủa họ Giáo dục sức khỏe không thể thay thế được các dịch vụ y tế khác,nhưng nó cần thiết để đẩy mạnh việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

Giáo dục sức khỏe khuyến khích những hành vi làm cho sức khỏe tốtlên, phòng ngừa ốm đau, chữa bệnh và phục hồi sức khỏe Các nhu cầu lợi íchcủa mỗi cá nhân, gia đình, nhóm người, tổ chức và cộng đồng chính là trongtâm của các chương trình giáo dục sức khỏe

Tóm lại, giáo dục sức khỏe là các hoạt động nhằm tác động một cách có

hệ thống đến sự phát triển tinh thần của một đối tượng nào đó nhằm mục đíchgiúp cho đối tượng dần có những phẩm chất năng lực để tự bảo vệ sức khỏecho bản thân, biết cách tự phòng chống bệnh tật và tham gia vào việc phòng,chống bệnh tật cho những người xung quanh, cho cộng đồng và cho xã hội.Như vậy, việc giáo dục sức khỏe không chỉ mang lại sức khỏe cho một cánhân mà còn mang lại sự hưng thịnh cho một xã hội

Giáo dục sức khỏe hiện nay có thể chia thành 3 cấp độ:

Cấp độ thứ nhất: các cá nhân với gia đình, bạn bè

Cấp độ thứ hai: giáo dục tại cộng đồng

Cấp độ thứ ba: giáo dục trên các phương tiện truyền thông đại chúng.Đây là cấp độ cao nhất Trong đó, báo chí là một phương tiện đại chúng cósức thuyết phục cao nhất, có số lượng công chúng lớn nhất, thông tin từ báochí luôn là những thông tin nhanh nhạy, kịp thời đáp ứng nhu cầu thông tincủa công chúng

Trang 33

và khuyến khích các quốc gia sử dụng khái niệm này như một công cụ để thựchiện các chương trình viện trợ vào thập kỷ 50-60 Có nhiều khái niệm về cộngđồng được các nhà nghiên cứu, nhà hoạt động xã hội đưa ra và là một khái

niệm có nhiều tuyến nghĩa Theo Midgley (1986) “cộng đồng là một nhóm cư dân sinh sống trong một khu vực nhất định, có cùng các giá trị và tổ chức xã hội cơ bản” [25, tr 10]; tuyến thứ hai được Uglade (1985) cho rằng “cộng đồng là một nhóm dân cư có cùng chung những mối quan tâm cơ bản” [25, tr.

10]

Cùng với cách hiểu như vậy, Keith và Ary (1988) cho rằng “cộng đồng trước hết là một nhóm người thường sinh sống trên cùng khu vực địa lí, tự xác định mình về cùng một nhóm Những người trong cùng một cộng đồng thường quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân và có thể thuộc cùng một tôn giáo, một tầng lớp chính trị” [25, tr 10] Khái niệm này nhấn mạnh yếu tố đại vực là yếu

tố quan trọng tạo nên sự cố kết tập thể bên cạnh các yếu tố huyết thống, tôngiáo, chính trị

Theo Từ điển Tiếng Việt thì “cộng đồng là một tập đoàn người rộng lớn, có những dấu hiệu chung về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cư trú, cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm một dòng giống, một sắc tộc, một dân tộc” [59, tr 601].

Như vậy, cộng đồng là một tập hợp các nhóm người sinh sống có trên địa bàn nhất định, có quyền được tham gia vào những hoạt động kinh tế, văn hóa, giáo dục tại địa bàn đó, có chung lợi ích và mối quan tâm nhất định.

Sức khỏe cộng đồng là biểu hiện tổng hợp các yếu tố tự nhiên (bẩm sinh,

di truyền) và điều kiện sống của mỗi quốc gia (về lao động, mức sống vệ sinhmôi trường, văn hóa giáo dục, y tế ) Theo đó, các quốc gia đều cho rằng sứckhỏe cộng đồng là một trong những yếu tố hàng đầu phản ánh trình độ phát triểnKT- XH của đất nước và phản ánh rõ chất lượng đời sống của cư dân

Trang 34

Sức khỏe cộng đồng vừa là điều kiện nhưng cũng là mục tiêu của sựphát triển Đảm bảo sức khỏe cho nhân dân là một trong những phương pháphữu hiệu để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho sự phát triển xã hội hiệnđại, sức khỏe lại là một tiêu chí quan trọng để phản ánh mức độ đảm bảoquyền con người, tính nhân văn và sự công bằng xã hội củ mỗi quốc gia Vìvậy, có thể nói rằng chăm sóc sức khỏe cộng đồng là trách nhiệm của mọingười và toàn xã hội Trong đó, tất cả các ngành có liên quan thì y tế là ngànhđóng vai trò chủ đạo.

- Giáo dục sức khỏe cộng đồng

Giáo dục sức khỏe cộng đồng là bộ phận không thể thiếu được trong sựnghiệp chăm sóc và bảo vệ nhân dân Giáo dục sức khỏe cộng đồng giúp chongười dân được tiếp cận đầy đủ và sử dụng hiệu quả các dịch vụ chăm sóc sứckhỏe để nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi bảo vệ sức khỏe cho bản thân,gia đình và cộng đồng

Mục đích của giáo dục sức khỏe cộng đồng là nhằm trang bị kiến thức

và kỹ năng để mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng có thể chủ động phòngbệnh, xây dựng nếp sống vệ sinh, rèn luyện thân thể, hạn chế những lối sống

và thói quen có hại đối với sức khỏe, tham gia tích cực các hoạt động bảo vệ,chăm sóc và nâng cao sức khỏe cộng đồng

Do vấn đề “sức khỏe cộng đồng” quá rộng nên chúng tôi đã tiến hànhthu hẹp trong phạm vi nghiên cứu về các vấn đề: báo chí tuyên truyền chủchương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về sức khỏe, y tế; báochí phản ánh những vấn đề y khoa, đặc điểm, tình hình dịch bệnh và tư vấnsức khỏe; báo chí hướng dẫn việc sử dụng thuốc, mỹ phẩm an toàn hợp lý vàcác chỉ dẫn về các bài thuốc trong y học cổ truyền; báo chí công bố nhữngthành tựu y tế, những tấm gương tiêu biểu trong công tác chăm sóc và bảo vệsức khỏe cộng đồng

Trang 35

1.2 Chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về giáo dục sức khỏe cộng đồng

Ở nước ta việc chăm lo cho sức khỏe người dân luôn được Đảng và

Nhà nước quan tâm Và câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Mỗi người dân

yếu ớt, tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần; mỗi người dân mạnh khỏe, tức là góp phần làm cho cả nước mạnh khỏe” [36, tr 540] đã trở thành một

quan điểm trong vấn đề chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân/cộngđồng Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ mối liên hệmật thiết giữa vai trò của cá nhân và vai trò của cộng đồng, trong đó có vai tròcủa quản lý Nhà nước trong chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân

Nghị quyết Đại hội VII (1991) cũng đã ghi rõ: “Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân phải chuyển mạnh và phát triển theo quan điểm dự phòng tích cực và chủ động; Kết hợp y học cổ truyền dân tộc với y học hiện đại; Bảo vệ sức khỏe là trách nhiệm của mọi tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội là trách nhiệm của cộng đồng và mỗi người dân Ngành y tế đối với vai trò nòng cốt, phải phát huy truyền thống “Thầy thuốc như mẹ hiền” và bản chất nhân đạo của chế độ xã hội chủ nghĩa” [21, tr 423].

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 cũng ghi: “Sự nghiệp chăm sóc sức

khỏe của cộng đồng và của mỗi người dân là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng

và chính quyền, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội” [21, tr 523].

Với cách nhìn mới về vị trí và vai trò của sức khỏe trong sự nghiệp pháttriển của đất nước, với trách nhiệm nặng nề mà Đảng ta được nhân dân cả

nước giao phó, “Toàn Đảng cần làm hết sức mình để sức khỏe của nhân dân ngày càng phát triển, mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng ngày càng hạnh được hạnh phúc, ngày càng có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [21, tr 434].

Trang 36

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 của Ban chấp hành Trung ương Đảng(khóa IX) bàn về một số chủ trương, chính sách, giải pháp lớn nhằm thực hiện

thắng lợi toàn diện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng ta đã khẳng định: “Nhiệm

vụ trọng tâm là đẩy mạnh việc phòng chống dịch bệnh đặc biệt là các dịch bệnh mới phát sinh, tiếp tục phát triển và hoàn thiện hệ thống khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân Nâng cao chất lượng phục vụ của các

cơ sở khám, chữa bệnh và y đức của các y bác sỹ và nhân viên y tế Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa các hoạt động y tế” [21, tr 203].

Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 23/02/2005 về Công tácbảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới cũng khẳng định:

“Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội Bảo vệ, chăm

sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước Đầu tư cho lĩnh vực này là đầu tư phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ” [37, tr 4].

Năm 2006, Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Quốc gia y tế dự phòngViệt Nam đến năm 2010 và định hướng 2020, với mục tiêu: giảm các yếu tốnguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng; phát hiện sớm, khống chế kịpthời dịch bệnh, không để dịch lớn xảy ra; giảm tỷ lệ mắc và tử vong do bệnh,tật; góp phần phát triển thể chất, tinh thần, nâng cao tuổi thọ, nâng cao chấtlượng cuộc sống và cải thiện chất lượng giống nòi

Năm 2008, Quốc hội đã ban hành Luật bảo hiểm Y tế trong đó quy định

rõ về chế độ, chính sách bảo hiểm y tế, bao gồm đối tượng, mức đóng, tráchnhiệm và phương thức đóng bảo hiểm y tế; thẻ bảo hiểm y tế; phạm vi đượchưởng bảo hiểm y tế; tổ chức khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia bảohiểm y tế; thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế; quỹ bảohiểm y tế; quyền và trách nhiệm của các bên liên quan đến bảo hiểm y tế

Trang 37

Năm 2017, Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tăng cườngcông tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới

đã cụ thể hóa trên 08 quan điểm:

Thứ nhất là tập trung nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, đề cao tráchnhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và của mỗi người dân; xây dựng

và tổ chức thực hiện đồng bộ các đề án, chương trình về nâng cao sức khoẻ vàtầm vóc người Việt Nam Quan tâm các điều kiện để mỗi người dân được bảo

vệ, nâng cao sức khoẻ, đặc biệt là ở vùng nông thôn, miền núi, hải đảo

Thứ hai là khuyến nghị, phổ biến chế độ dinh dưỡng, khẩu phần ăn phùhợp cho từng nhóm đối tượng, nguồn nguyên liệu, khẩu vị của người Việt.Các sản phẩm, thực phẩm đóng gói phải có đầy đủ thông tin về thành phần,năng lượng, cảnh báo về sức khoẻ trên bao bì Triển khai các chương trình bổsung vi chất cần thiết cho phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú, trẻ em, ngườicao tuổi

Thứ ba là khẩn trương hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn về antoàn thực phẩm Thực hiện việc kiểm soát an toàn thực phẩm dựa trên đánhgiá nguy cơ, sản xuất kinh doanh theo chuỗi, truy xuất nguồn gốc

Thứ tư là tập trung chỉ đạo công tác phòng, chống và cai nghiện ma tuý.Thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm giảm tiêu thụ rượu, bia, thuốc lá

Thứ năm là đổi mới căn bản giáo dục thể chất, tâm lý, tăng số môn tậpluyện tự chọn trong nhà trường, kết hợp chặt chẽ với tập luyện ngoài nhàtrường Phát triển mạnh các phong trào rèn luyện thân thể Tăng cường côngtác y tế học đường

Thứ sáu là phải thực hiện đồng bộ các giải pháp giảm thiểu ảnh hưởngxấu từ ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu tới sức khoẻ Tập trung nguồnlực xây dựng, nâng cấp các hệ thống cấp thoát nước; bảo đảm người dân đượctiếp cận sử dụng nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh; xử lý chất thải; khắc phục ô

Trang 38

nhiễm các dòng sông, các cơ sở sản xuất Tăng cường cải tạo, hạn chế san lấp

hệ thống kênh rạch, hồ ao; chống lạm dụng hoá chất trong nuôi trồng

Thứ bảy là cần phát huy hiệu quả các thiết chế, đẩy mạnh các hoạt độngvăn hoá, thể thao Tăng cường tuyên truyền, vận động xây dựng nếp sống vănminh, lối sống lành mạnh, vệ sinh; xoá bỏ các tập tục lạc hậu ảnh hưởng xấuđến sức khoẻ

Thứ tám là cần triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống thảm hoạ,bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, an toàn lao động; phòng, chống tai nạn,thương tích, cháy, nổ, bệnh nghề nghiệp

Tám quan điểm chỉ đạo trên đã được quán triệt và phát huy tác dụngtrong suốt thời gian qua

Từ những cơ sở lý luận về sức khỏe và những quan điểm chỉ đạo củaĐảng, chính sách pháp luật của Nhà nước nêu trên chúng ta có thể nhận thấyrằng việc giáo dục sức khỏe cộng đồng là vô cùng quan trọng Và để tiến hànhtốt công tác dự phòng bệnh tật không có gì hiệu quả hơn bằng việc truyềnthông về giáo dục sức khỏe cộng đồng trên báo chí Hay nói cách khác, truyềnthông về giáo dục sức khỏe cộng đồng là phương pháp tối ưu và hiệu quảtrong công tác phòng bệnh

1.3 Áp dụng lý thuyết đóng khung trong việc giải mã thông điệp về vấn đề giáo dục sức khỏe cộng đồng hiện nay

Erving Goffman được cho là người đầu tiên đưa ra khái niệm “đóngkhung” vào năm 1974, trong cuốn Frame analysis: An essay on the organization

of experience Theo Goffman, “khung” chính là những giản đồ của sự diễn giải(schemata of interpretation) cho phép con người “xác định, tiếp nhận, định dạng

và dán nhãn cho vô số những sự biến diễn ra trong cuộc sống của họ” Sự đóngkhung này được hiểu là quá trình tổ chức các kinh nghiệm, tìm ra ý nghĩa củachúng trong sự tham chiếu tới những nhận thức sẵn có Sức mạnh của việc đóng

Trang 39

khung chính là ở chỗ con người buộc phải viện tới các hệ thống quen thuộc,

ví dụ như hệ thống biểu tượng, tri thức, huyền thoại để có thể diễn giải vềmột hiện tượng bất kỳ trong đời sống xã hội

Sau khi Goffman áp dụng lý thuyết đóng khung vào phạm vi tổ chứckinh nghiệm của con người, nhiều nhà nghiên cứu đã phát triển lý thuyết nàycho lĩnh vực hẹp hơn là truyền thông đại chúng Trong bài phân tích về di sảncủa Goffman, Gamson William cho rằng quá trình đóng khung của báo chí là

“gần như hoàn toàn ngầm ẩn, và được thừa nhận như lẽ tất nhiên Cả nhà báolẫn công chúng đều không nhận ra rằng đây thực chất là một quá trình kiếntạo mang tính xã hội (social construction), mà chỉ đơn giản xem nó là việcphóng viên phản ánh lại sự kiện” Theo Gamson, việc đóng khung chính làquá trình “quyết định xem cái gì được chọn, cái gì bị loại bỏ, và cái gì đượcnhấn mạnh Nói tóm lại, tin tức cho chúng ta biết về một thế giới đã đượcđóng gói” Khung được Gamson định nghĩa là “ý tưởng tổ chức cốt lõi” củacái thế giới đã-bị-gói kia, giúp “giải nghĩa về các sự kiện liên quan, cũng nhưgợi ý xem đâu mới là vấn đề cần xem xét”

Định nghĩa tường minh nhất về quá trình đóng khung của truyền thôngđại chúng có lẽ được đưa ra bởi Robert Entman: “Quá trình đóng khung chủyếu liên quan tới việc lựa chọn (selection) và làm nổi bật (salience) Đóngkhung có nghĩa là lựa chọn một số khía cạnh trong cách hiểu về hiện thực, rồilàm cho nó nổi bật lên trên văn bản truyền thông bằng cách nhấn mạnh vàomột cách đặt vấn đề, một cách lý giải, một cách đánh giá đạo đức, hoặc/vàmột cách xử lý nào đó”

Một điểm thú vị là mặc dù lý thuyết đóng khung được áp dụng trướchết cho văn bản viết, thì bản thân hành vi “đóng khung”, theo nghĩa đen, lạidùng cho hình ảnh Việc áp dụng lý thuyết này vào phân tích hình ảnh là kháhữu dụng, bởi hình ảnh là một công cụ đóng khung rất mạnh, khi mà côngchúng dễ dàng chấp nhận nó một cách vô thức hơn văn bản viết Paul

Trang 40

Messaris và Linus Abraham chỉ ra rằng: “Nếu như tác động của quá trìnhđóng khung phụ thuộc chủ yếu vào việc các bộ khung được mặc nhiên côngnhận, vì công chúng chẳng hề có ý thức gì về nó, thì rõ ràng, bất cứ điều gì cóthể làm thay đổi nhận thức của công chúng đều có thể tạo ra khác biệt đáng kểtới kết quả cuối cùng của cả quá trình”.

Lý thuyết này do Erving Goffman –nhà tâm lý xã hội học người Mỹgốc Canada đề xuất vào năm 1974 Theo đó, đối với hoạt động báo chí -truyền thông, quá trình đóng khung chủ yếu liên quan tới việc lựa chọn và làmnổi bật thông tin về sự kiện và vấn đề thời sự Đóng khung có thể có cách hiểuhiểu là lựa chọn một số khía cạnh trong cách hiểu về hiện thực, rồi làm cho nónổi bật lên trên văn bản và chiến dịch truyền thông bằng cách nhấn mạnh vàomột cách đặt vấn đề nào đó, một cách lý giải, một cách đánh giá đạo đức,hoặc/và một cách xử lý nào đó Nói chung là, thiết kế và chọn lựa thông điệpphù hợp với nhãn quan của nhà truyền thông

Lý thuyết đóng khung có thể vận dụng vào các chương trình, kế hoạchhay chiến dịch truyền thông được thiết kế, xây dựng một cách có chủ đích vớicác mục tiêu, hoạt động cụ thể

Lý thuyết đóng khung có ý nghĩa quan trọng đối với các chiến dịchtruyền thông hay tuyên truyền chính trị, với các báo chính trị, trong tuyêntruyền chính trị

1.4 Vai trò của báo chí trong việc giáo dục sức khỏe cộng đồng

Trong tình hình phát triển của xã hội hiện nay, những thông tin thời sựchính trị, kinh tế, VH-XH luôn được cập nhập trên các phương tiện thôngtin đại chúng như truyền hình, truyền thanh, báo in, báo điện tử Báo chí làmột trong những phương tiện truyền thông đại chúng có tính chất quyết địnhđến sự thành công trong công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏecộng đồng

Khi đời sống xã hội được nâng cao, vấn đề sức khỏe càng được coi

Ngày đăng: 10/02/2021, 13:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w