1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hiện tượng đa văn hóa trong tiểu thuyết linh sơn của cao hành kiện​

101 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 224,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH HIỆN TƯỢNG ĐA VĂN HÓA TRONG TIỂU THUYẾT LINH SƠN CỦA CAO HÀNH KIỆN Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH

HIỆN TƯỢNG ĐA VĂN HÓA TRONG TIỂU THUYẾT LINH SƠN

CỦA CAO HÀNH KIỆN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HỌC

Hà Nội-2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH

HIỆN TƯỢNG ĐA VĂN HÓA

TRONG TIỂU THUYẾT LINH SƠN

CỦA CAO HÀNH KIỆN

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học nước ngoài

Mã số: 8229030.03

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thu Hiền

Hà Nội-2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây

giảng viên hướng dẫn là TS Nguy

trong đề tài này là trung thực

là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ ễn Thu Hiền Các nội dung nghiên cứu về kết quả

Nếu có phát hiện bất kì sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trướcHội đồng về kết quả luận văn của mình

Hà Nội, ngày 18/06/2020

Học viên

Trần Thị Như Quỳnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Qua quá trình làm luận văn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên

hướng dẫn TS Nguyễn Thu Hiền, người đã hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi về chuyên

môn và những kinh nghiệm quý báu trong quá trình nghiên cứu để tôi có thể hoànthành tốt đề tài luận văn của mình

Tôi xin gửi lời cám ơn trân trọng đến Trường Đại học Khoa học Xã hội vàNhân văn, Bộ phận đào tạo sau đại học (Phòng Đào tạo), các thầy cô trong Khoa Vănhọc… đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thànhchương trình học và luận văn này

Cám ơn các anh chị, bạn bè trong khoa Văn học cùng các bạn trong tập thể lớpCao học Văn khóa 2018 đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như tiến hànhnghiên cứu

Bên cạnh đó, tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè và nhữngngười xung quanh tôi đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi tiếp xúc và tìm kiếm tư liệu hoànthiện luận văn

Mặc dù luận văn được thực hiện bởi sự cố gắng của tác giả và đã chuẩn bị kĩlưỡng trước khi tiến hành nghiên cứu nhưng không tránh khỏi những hạn chế Đểhoàn thiện tốt hơn tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô Tôi xin chânthành cảm ơn

Hà Nội, ngày 18/06/2020

Học viên

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do lựa chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Phương pháp nghiên cứu 10

5 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu 11

6 Kết cấu 11

PHẦN NỘI DUNG 13

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 13

1.1 Hiện tượng đa văn hóa trong sáng tác của các nhà văn hải ngoại 13

1.2 Cao Hành Kiện và dòng chảy văn học Trung Quốc đương đại 16

1.3 Tiểu thuyết Linh sơn trong sự nghiệp sáng tác của Cao Hành Kiện 19

CHƯƠNG 2: DẤU ẤN VĂN HÓA TRUNG HOA TRONG TIỂU THUYẾT LINH SƠN 23

2.1 Những lớp trầm tích của văn hóa Trung Hoa truyền thống 23

2.1.1 Lớp trầm tích huyền thoại và văn học dân gian 23

2.1.2 Lớp trầm tích tôn giáo và tín ngưỡng dân gian 28

2.1.3 Lớp trầm tích phong tục tập quán 35

2.2 Dòng chảy của lịch sử Trung Hoa 38

2.3 Ý thức bảo tồn văn hóa cố quốc 44

Tiểu kết 52

CHƯƠNG 3: CHẤT LIỆU PHƯƠNG TÂY TRONG TIỂU THUYẾT LINH SƠN 53

3.1 Biểu tượng hóa hiện thực đời sống 54

3.2 Chủ thể phi trung tâm 62

3.2.1 Sự phân thân của chủ thể tự sự 62

3.2.2 Sự đa dạng điểm nhìn tự sự 67

Trang 6

3.3 Kết cấu phân mảnh của tiểu thuyết Linh sơn 71

3.4 Không thời gian đa chiều và chồng chéo 75

3.4.1 Không gian nghệ thuật 75

3.4.2 Thời gian nghệ thuật 79

3.5 Ngôn ngữ và dòng ý thức trong tiểu thuyết Linh sơn 83

3.5.1 Ngôn ngữ mảnh vỡ 83

3.5.2 Ngôn ngữ giễu nhại 85

3.5.3 Dòng ý thức 88

Tiểu kết 90

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Giải thưởng Nobel văn chương năm 2000 được trao cho Cao Hành Kiện, mộtnhà văn Pháp gốc Trung Quốc với những đóng góp cách tân, đổi mới của ông trênnhiều lĩnh vực văn học nghệ thuật, từ mỹ thuật cho tới kịch và sáng tác văn chương

Trong đó, tiểu thuyết Linh sơn chính là một trong những tác phẩm thể hiện rõ nhất

những cách tân của Cao Hành Kiện Những cách tân độc đáo trên nhiều mặt từ nội

dung tới hình thức nghệ thuật trong tác phẩm Linh sơn xuất phát từ bản thân tác giả

Cao Hành Kiện Ông là một nhà văn gốc Trung Quốc lưu vong nơi hải ngoại vì thế vănchương của ông vừa có chất Trung Hoa truyền thống, vừa có sự giao hòa với văn hóaphương Tây

Bởi vậy, hình ảnh Linh sơn trong trang văn Cao Hành Kiện, tưởng xa mà gần,

tưởng gần mà đi mãi chẳng tới Là ta, là mi, là nàng, hay là hắn, các cá thể khác nhau

hay thực chất cùng một con người? Chuyến hành trình về Linh sơn bởi vậy giống như

một sự phân thân của tác giả tự đối thoại với nhau trong chuyến hành trình tâm tưởng

Cao Hành Kiện là nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình, họa sĩ, nhà làm phimgốc Trung Hoa Ông sinh năm 1940 ở Giang Tây, Trung Quốc Vào năm 1962, ông tốtnghiệp chuyên ngành tiếng Pháp tại Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh Ông là một trongnhững văn nghệ sĩ tiên phong và kiên định cho phong trào tự do trong sáng tác văn họcnghệ thuật Với ông “văn học từ nguồn cội vốn là sự tình của cá nhân, cũng có thể chỉthoải mái tình tự phân phát hứng thú, hoặc làm ra điên dại để nói tiếng riêng tronglòng, đủ đầy với cái tôi” [18, tr 682] Đến năm 1988, Cao Hành Kiện sang Pháp sinh

sống, tiếp tục sự nghiệp sáng tác văn học nghệ thuật ở đây Tiểu thuyết Linh sơn được

ông viết trong 7 năm, kéo dài từ lúc ông còn ở Trung Quốc vào mùa hè năm 1982 chođến khi ông đã sang Pháp định cư vào tháng 9 năm 1989

Trang 8

Với những sáng tác thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau mà lĩnh vực nào cũng có

thành tựu từ cuốn lý luận văn học đầu tiên Sơ thảo kỹ thuật tiểu thuyết hiện đại tới các

vở kịch được công chiếu Trạm xe buýt, Báo động, Đào vong…, từ các truyện ngắn

Mẹ, Mua cần câu cho ông tôi, Bạn bè… tới những tiểu thuyết như Linh sơn hay Thánh kinh của một con người có thể nói Cao Hành Kiện nắm giữ một vị trí quan trọng trên

văn đàn văn học nghệ thuật thế giới những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI Các

sáng tác của ông khi còn ở Trung Quốc đến khi trở thành một nhà văn hải ngoại khôngchỉ có tác động tới văn học đương đại Pháp, văn học đương đại Trung Quốc mà cònảnh hưởng tới văn đàn thế giới

Tuy nhiên ở Việt Nam lại chưa nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về Cao

Hành Kiện nói chung, tiểu thuyết Linh sơn nói riêng, đặc biệt là các nghiên cứu trên

phương diện biểu hiện của sự đa dạng văn hóa trong tác phẩm này Vì vậy chúng tôi

quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu Hiện tượng đa văn hóa trong tiểu thuyết Linh

sơn của Cao Hành Kiện với hi vọng bổ sung khoảng trống trong nghiên cứu về Linh

sơn, về Cao Hành Kiện ở Việt Nam.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Là tác giả đạt giải Nobel văn học, thành công trên nhiều thể loại từ kịch, truyệnngắn đến lý luận phê bình, tiểu thuyết, có thể nói Cao Hành Kiện là một hiện tượng vănchương thu hút được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của giới học thuật trong và ngoàinước Nhưng khi nghiên cứu về Cao Hành Kiện hay tác phẩm của ông, các nhà nghiêncứu thường hướng đến vấn đề Cao Hành Kiện là nhà văn hải ngoại, bởi thế nhà nghiêncứu đặt mối quan tâm tới vấn đề văn hóa hay cảm thức của con người xa xứ trong ông

Như tác giả Mabel Lee đã đặt sự quan tâm tới Linh sơn và Cao Hành Kiện trong

cộng đồng Hoa Kiều cùng văn học Trung Hoa nội địa những năm 90 ở bài viết

Walking out of other people’s prison: Liu Zaifu and Gao Xingjinon Chinese literature

Trang 9

in the 1900s (Tạm dịch: Di chuyển sang nhà tù khác: Lưu Tái Phục và Cao Hành Kiện trong văn học Trung Quốc thập kỷ 90) in trong tạp chí Asian and African studies số

tháng 5 năm 1996 Ở bài viết này, Mabel Lee đã đặt trường hợp của nhà văn họ Caobên cạnh trường hợp của nhà thơ Lưu Tái Phục, những con người bước ra từ Cáchmạng Văn hóa và tới những năm 90 của thế kỷ XX đều đã vượt thoát khỏi Trung Hoađại lục Vì thế tâm thức và tác phẩm của họ là một dạng thức chạy trốn của văn họcTrung Quốc những năm 1990

Hay tác giả Shuyo Kong của Đại học Simon Fraser (Canada) ở bài viết Ma Jian

and Gao Xingjian: Intellectual nomadism and exilic consciousness in Sionphone literature (Tạm dịch: Mã Kiến và Cao Hành Kiện: Lãng du trí tuệ và ý thức lưu vong trong nền văn học Hoa ngữ) in trong tạp chí Canadian review of comparative literature xuất bản số tháng 6 năm 2014, cô đã nhắc đến vấn đề văn học Trung Quốc

hải ngoại với hai trường hợp Cao Hành Kiện ở Pháp và Mã Kiến ở Anh Qua việc phân

tích hình tượng nhân vật du ký những năm 1980 trong các tác phẩm Bụi đỏ của Mã Kiến, Linh sơn của Cao Hành Kiện cùng cảm thức chạy trốn và diễn ngôn du ký trong tiểu thuyết Thánh kinh của một con người 1 của Cao Hành Kiện Shuyo Kong đã làmnổi bật lên tâm thức của những cá nhân lưu vong nơi xứ người Đồng thời cô cũnghướng tới việc khẳng định sự tái sinh của văn học Trung Quốc nơi hải ngoại và đâycũng là một bộ phận của nền văn học Hoa ngữ

Hoặc bài viết Đề tài “trở về” trong ba truyện ngắn: Canh khuya của Ivan

Bunin, Nhà của lính của Ernest Hemingway và Mua cần câu cho ông ngoại của Cao Hành Kiện của Đào Ngọc Chương in trong tập Những vấn đề Ngữ văn: Tuyển tập 40

1 Tiểu thuyết Thánh kinh của một con người ở Việt Nam hiện có hai bản dịch với hai tựa đề khác nhau Một bản dịch của Thái Nguyễn Bạch Liên có tựa đề Kinh Thánh cho một người Một bản dịch của Hồ Quang Du có tựa đề Thánh kinh của một con

người Chúng tôi lựa chọn bản dịch của Hồ Quang Du để so sánh bởi tính nhất quán khi ông cũng là một trong ba người đã

dịch tiểu thuyết Linh sơn ở Việt Nam

Trang 10

năm nghiên cứu khoa học của khoa Văn học và Ngôn ngữ của NXB Đại học Quốc gia

TPHCM vào 24/5/2015 Trong bài viết này, tác giả Đào Ngọc Chương đã đặt truyện

ngắn Mua cần câu cho ông ngoại của Cao Hành Kiện cùng truyện ngắn Canh khuya của Ivan Bunin và Nhà của lính của Ernest Hemingway trong một đề tài chung, đề tài

“trở về” Để qua đó ông thấy rằng trở về trong ba tác phẩm này đều là sự trở về quákhứ, trở về miền quá vãng của nhân vật nhưng đó lại là một ký ức không trọn vẹn, đầyvụn vỡ của những tâm hồn xa xứ đứng ở thời điểm hiện tại để hoài niệm chuyện nămxưa Và từ đề tài trở về, các tác giả vừa đưa vào trang viết chất truyền thống của cốquốc, đồng thời vừa có những cách tân trong cốt truyện và giọng điệu, nhân vật vàđiểm nhìn, không gian thời gian trong tác phẩm

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn quan tâm tới quan niệm sáng tác của Cao

Hành Kiện như bài viết Cao Hành Kiện: Chống lại tính hiện đại mĩ học của Mabel Lee

đã được nhà nghiên cứu Phạm Xuân Thạch dịch, đăng trên trang cá nhân của ông2 vàđăng trên trang web của Khoa Văn học, trường Đại học KHXH&NV vào 23/5/20093.Trong bài viết này, Mabel Lee đặt tư tưởng mỹ học trong sáng tác của Cao Hành Kiệnbên cạnh tư duy triết học của Nietzche: “Trong bài viết này, tôi tự đặt cho mình nhiệm

vụ chứng minh cho một giả thuyết: việc Cao phủ nhận tư tưởng về siêu nhân củaNietzche vừa tiết lộ với chúng ta những phân tích của ông về cuộc Cách mạng văn hoá

tập trung trong cuốn Kinh thánh cho một người (1999) đồng thời cũng phản ánh thái độ

chống hiện đại của ông, nền tảng của quan niệm mỹ học của ông về sự mong manh củacon người cá nhân.” [18]

Bên cạnh đó, tiếp cận Linh sơn, Mabel Lee còn tiếp cận qua phương diện nghệ thuật Ông nghiên cứu việc Cao Hành Kiện đã sử dụng đại từ trong Linh sơn ở công

2 https://sites.google.com/site/thachpx/mabelleevi%E1%BA%BFtv%E1%BB%81caoh%C3%A0nhki%E1%BB%87n

3 http://khoavanhoc.edu.vn/index.php/nghiencuukhoahoc/t-liu-nghien-cu/325-mabel-lee-vit-phm-xuan-thch-dch

Trang 11

trình Pronouns as Protagonists: On Gao Xingjian’s Theories of Narration (Tạm dịch:

Đại từ như vai chính: lý thuyết về tự sự của Cao Hành Kiện) được in trong tác phẩm Soul of Chaos: Critical Perspectives on Gao Xingjian (Tạm dịch Linh sơn: Quan niệm phê bình của Cao Hành Kiện) do nhà xuất bản The Chinese University of Hong KongPress xuất bản năm 2001 Trong bài viết này, Mabel Lee đề cập đến sự linh hoạt trong

việc sử dụng đại từ ở tác phẩm Linh sơn của Cao Hành Kiện Bên cạnh đó là những thử nghiệm về ngôn ngữ, kỹ thuật sáng tác trong tiểu thuyết Linh sơn.

Tương tự như vậy với trường hợp của riêng tiểu thuyết Linh sơn, tác phẩm

đánh dấu độ chín muồi trong sự nghiệp văn chương Cao Hành Kiện, khi nghiên cứu về

Linh sơn, các bài viết thường đặt trọng tâm vào vấn đề văn hóa bởi những ký hiệu văn

hóa đặc trưng của Trung Quốc xuất hiện dày đặc trong tác phẩm từ các bài thơ, làn

điệu dân ca đến những biểu tượng tự nhiên, tôn giáo, lịch sử

Nhưng đồng thời, Linh sơn lại được viết bởi một nhà văn hải ngoại như Cao

Hành Kiện nên cùng với yếu tố văn hóa Trung Hoa truyền thống, tác phẩm này còn là

sự đan xen, giao hòa với yếu tố hậu hiện đại phương Tây Có thể kể đến một số côngtrình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu nước ngoài như tác giả Li Xia với bài viết

Cross-Cultural intertextuality in Gao Xingjin’s novel Lingshair: A Chinese perspective

(Tạm dịch: Liên văn bản trong tiểu thuyết Linh sơn của Cao Hành Kiện: một phối

cảnh Trung Quốc) đăng trong cuốn A world of other’s word của Richard Bauman được

nhà xuất bản Wiley-Blackwell xuất bản năm 2004 Ở bài viết này, Li Xia ngoài việcgiới thiệu tiểu sử, đặt Cao Hành Kiện trong tiến trình lịch sử văn học Trung Quốc cùngnhững đặc điểm cơ bản trong sáng tác của ông tác giả còn đề cập đến nghệ thuật tự sự

của Cao Hành Kiện ở tác phẩm Linh sơn Đồng thời Li Xia có sự so sánh sáng tác của

Cao Hành Kiện với một nhà văn hải ngoại khác là Samuel Beckket hay so sánh tiểu

thuyết Linh sơn với tiểu thuyết Ngọn núi thần kỳ của Thomas Mann hoặc soi chiếu

Trang 12

Linh sơn dưới lý thuyết triết học của Ludwig Wittenstein Ngoải ra Li Xia còn đề cập

tới thủ pháp dòng ý thức mà Cao Hành Kiện đã sử dụng

Cùng với đó, khi nghiên cứu về Linh sơn, các nhà nghiên cứu còn hướng tới

vấn đề nghệ thuật của Cao Hành Kiện trong tác phẩm Luận văn thạc sĩ của Hoàng Thị

Phương Ngọc về Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Linh sơn của Cao Hành Kiện vào

năm 2006 tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Ở công trình này, Hoàng Thị Phương Ngọc đã sử dụng lý thuyết tự sự học để nghiên

cứu Linh sơn trên các khía cạnh người kể chuyện và điểm nhìn của người kể chuyện, nhân

vật và nhân xưng của nhân vật, không gian và thời gian, ngôn ngữ và giọng điệu

Qua đó tác giả chỉ rõ được đóng góp của Cao Hành Kiện trong nghệ thuật tự sự củavăn học Trung Quốc đương đại và trên thế giới

Hoặc luận văn thạc sĩ của Lâm Nhựt Anh với tên gọi Linh sơn và quan niệm về

tiểu thuyết của Cao Hành Kiện hoàn thành vào năm 2012 tại trường Đại học Sư phạm

Thành phố Hồ Chí Minh đã đề cập tới quan niệm tiểu thuyết của Cao Hành Kiện trêncác khía cạnh nghệ thuật xây dựng cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệthuật xây dựng không gian Trong công trình nghiên cứu này, Lâm Nhựt Anh từ việc

phân tích Linh sơn trên ba khía cạnh nói trên đã khái quát lên quan niệm tiểu thuyết mà Cao Hành Kiện từng đề cập khi ông nói về Linh sơn hay nghệ thuật tiểu thuyết ông sử

dụng

Hay khi nghiên cứu Linh sơn, người nghiên cứu chỉ hướng đến một khía cạnh

nghệ thuật trong tác phẩm như Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Công Cảnh vào năm 2013

tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội về Dịch

chuyển không gian trong tiểu thuyết Linh sơn của Cao Hành Kiện Trong luận văn, tác

giả từ lý thuyết dịch chuyển không gian đã đề cập đến việc dịch chuyển không gian

trong văn học dân gian, du ký đến sự dịch chuyển không gian trong tiểu thuyết Linh

Trang 13

sơn, dịch chuyển tâm và thân giữa không gian hư và thực, cuối cùng tác giả hướng tới

phân tích nghệ thuật xây dựng và tổ chức không – thời gian trong Linh sơn.

Ngoài ra còn có thể kể tới những bài viết, công trình nghiên cứu được đăng trên

các báo, tạp chí, hay những tập sách in chung như bài viết Cảm thức cô đơn trong Linh

sơn của Cao Hành Kiện đăng trên Tạp chí Văn học Nghệ thuật số 404, tháng 2/2018

của hai tác giả Nguyễn Thị Mai Chanh – Nguyễn Thị Hoài Phương hoặc bài tham luận

của Đinh Phan Cẩm Vân Những tương đồng giữa Linh sơn và Hồng lâu mộng tại Hội

thảo Khoa học Quốc tế Văn học cận hiện đại Trung Quốc, Đại học Giáo dục BìnhĐông, Đài Loan năm 2007 Trong những bài viết này, bên cạnh việc tái hiện chân dungvăn chương một Cao Hành Kiện lưu vong nơi xứ người, các tác giả còn cho thấy hình

ảnh một Cao Hành Kiện vẫn gắn bó với cố quốc qua tác phẩm Linh sơn, qua biểu tượng Núi hồn.

Những công trình của các nhà nghiên cứu đã đi sâu để làm sáng tỏ nhiều vấn đề,khía cạnh về nội dung, nghệ thuật, các vấn đề văn hóa, biểu tượng ở một hiện tượng

văn học phức tạp như Cao Hành Kiện cùng tiểu thuyết Linh sơn của ông Tuy nhiên,

trong số đó vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu vào vấn đề biểu hiện và

nguyên nhân của hiện tượng đa văn hóa trong tiểu thuyết Linh sơn Vì thế, với đề tài

nghiên cứu Hiện tượng đa văn hóa trong tiểu thuyết Linh sơn của Cao Hành Kiện,

chúng tôi hi vọng đóng góp thêm một cách nhìn nhận, lý giải về tác phẩm quan trọng

đã giúp Cao Hành Kiện giành được giải thưởng Nobel Văn chương vào năm 2000

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các biểu hiện của hiện tượng đa văn hóa thể hiện trong

tiểu thuyết Linh sơn trên phương diện văn hóa Trung Hoa truyền thống và sự giao thoa

văn hóa với nền văn hóa phương Tây hiện đại

Trang 14

- Phạm vi nghiên cứu: Tiểu thuyết Linh sơn của Cao Hành Kiện, bản dịch của

Trần Đĩnh (2018, NXB Phụ nữ) có đối chiếu, so sánh với bản dịch của Ông Văn Tùng

dịch từ bản Trung Văn (2003) và bản dịch của Hồ Quang Du từ bản Trung Văn (2003)

4 Phương pháp nghiên cứu

Về mặt phương pháp luận, luận văn tiếp cận vấn đề từ các phương pháp sau:

- Phương pháp tiểu sử học: Qua sự tìm hiểu tiểu sử của tác giả Cao Hành Kiện,một nhà văn Trung Quốc hải ngoại làm tiền đề, chúng tôi đi tới việc lý giải sự song trùng,

kết hợp của nhiều mảng văn hóa trong tiểu thuyết Linh sơn của ông.

- Phương pháp văn hóa học: Từ việc đặt tiểu thuyết Linh sơn vào môi trường

văn hóa giữa một bên là nền văn hóa truyền thống Trung Hoa với một bên là nền vănhóa phương Tây hiện đại trên các phương diện chủng tộc, môi trường, thời điểm (dân

tộc, môi trường, thời đại) để từ đó đánh giá, lý giải giá trị lịch sử của Linh sơn trong

nền văn học Trung Quốc nói riêng và thế giới nói chung

- Phương pháp phân tích ký hiệu học: Từ việc tái cấu trúc các hệ thống ngôn

ngữ, hình ảnh văn hóa đặc thù trong Linh sơn, làm sáng rõ diễn ngôn về văn hóa, văn

học của Cao Hành Kiện

- Phương pháp so sánh: Trong quá trình nghiên cứu, bên cạnh việc khảo sát văn

bản chính là bản dịch Linh sơn từ bản Pháp văn của Trần Đĩnh (2018) chúng tôi có sự

so sánh, đối chiếu với hai bản dịch Linh sơn từ Trung văn của Ông Văn Tùng và Hồ

Quang Du Bên cạnh đó, chúng tôi có sự liên hệ, so sánh với những tác phẩm khác của

Cao Hành Kiện như những truyện ngắn, vở kịch của ông trong Tuyển tập Cao Hành

Kiện và tiểu thuyết Thánh kinh của một con người để thấy rằng Linh sơn là tác phẩm

tiêu biểu cho sự đa văn hóa trong các sáng tác của Cao Hành Kiện Không chỉ vậy,

luận văn còn có sự mở rộng, so sánh tiểu thuyết Linh sơn với sáng tác của các nhà văn

Trang 15

lưu vong khác để thấy được sự đa văn hóa là một trong những biểu hiện cơ bản của sáng tác văn chương hải ngoại.

- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Tiếp cận tiểu thuyết Linh sơn của Cao Hành

Kiện, ngoài sử dụng những phương pháp trên, chúng tôi còn tiếp cận tác phẩm từ

những ngành học, bộ môn liên quan như thi pháp học, lịch sử, tâm lý học, Qua đó chúng

tôi làm sáng tỏ những điểm đa văn hóa trong Linh sơn của Cao Hành Kiện là nét truyền

thống Trung Hoa thể hiện trong lịch sử, trong tâm thức con người và nét phương Tây hiệnđại thể hiện trong cách kể, cách cảm trong tâm thức của người lữ khách

5 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là chỉ ra các biểu hiện của hiện tượng đa văn

hóa trong tiểu thuyết Linh sơn, đồng thời đi sâu lý giải nguyên nhân và phân tích giá trị

tồn tại của những biểu hiện đa văn hóa đó

Để đạt được mục đích đề trên, luận văn xác định nhiệm vụ nghiên cứu cần giảiquyết là làm rõ khái niệm hiện tượng đa dạng văn hóa Trên cơ sở khái niệm chúng tôi

phân tích những biểu hiện của sự đa dạng văn hóa trong tiểu thuyết Linh sơn trên các

khía cạnh văn hóa truyền thống Trung Hoa và văn hóa hiện đại phương Tây ở cả nộidung lẫn hình thức Đồng thời chúng tôi đặt các biểu hiện ấy trong tương quan nhữngsáng tác khác của Cao Hành Kiện và văn học của những tác giả hải ngoại như ông

6 Kết cấu

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia thành ba chương:Chương một là những vấn đề chung Chúng tôi sẽ trình bày khái quát về tác giả

Cao Hành Kiện và tiểu thuyết Linh sơn Cùng với đó là những lý thuyết chúng tôi sẽ sử

dụng trong luận văn về nhà văn hải ngoại, văn hóa học và ký hiệu học

Trang 16

Chương hai chúng tôi bàn đến vấn đề biểu hiện của văn hóa Trung Hoa trong

tiểu thuyết Linh sơn của Cao Hành Kiện trên các phương diện văn hóa Trung Hoa

truyền thống, lịch sử Trung Quốc thế kỷ XX, ý thức bảo tồn văn hóa truyền thống củamột nhà văn lưu vong như Cao Hành Kiện

Chương ba chúng tôi đề cập tới vấn đề biểu hiện của văn hóa phương Tây trong

tiểu thuyết Linh sơn Ở chương này chúng tôi đề cập tới khía cạnh ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại tới thi pháp của tiểu thuyết Linh sơn.

Trang 17

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Hiện tượng đa văn hóa trong sáng tác của các nhà văn hải ngoại

Cộng đồng các nhà văn hải ngoại là một tồn tại mang tính phổ biến trên thế giới

Vì nhiều lý do mà họ phải xa rời quê hương, tổ quốc, di cư đến một đất nước khác.Theo nhà nghiên cứu Phạm Gia Lâm, di cư/ di trú/ di dân, “danh từ gốc có tiếng latinnày có nghĩa đen là sự “xuất cảnh”, “trục xuất” từ nước này sang nước khác, và về bảnchất, đó là một quá trình có khởi đầu và kết thúc, có giới hạn về không gian và thờigian Về mặt định tính, di cư có thể là tự nguyện hoặc bắt buộc; nguyên nhân dẫn đếntình trạng này cũng rất đa dạng, bao gồm những nguyên nhân về kinh tế, chính trị, tôngiáo, văn hóa, sắc tộc hoặc vì lý do riêng” [23, tr 13], “Những người di tản khi định

cư ở một vùng đất/ quốc gia mới ngoài quê hương/ tổ quốc mình, có nhu cầu bảo tồn

sự thống nhất về ngôn ngữ và văn hóa sẽ tạo nên một cộng đồng kiều dân/ cộng đồnghải ngoại.” [23, tr 14]

Như vậy, các nhà văn hải ngoại, họ là những cá nhân thuộc về cộng đồng kiềudân, những con người di cư và sống lưu vong ngoài tổ quốc của họ Sự lưu vong xuấtphát từ nhiều nguyên nhân do hoàn cảnh lịch sử, do mâu thuẫn với chính quyền, do lý

do kinh tế Khi lưu vong như vậy “nhu cầu bảo tồn sự thống nhất về ngôn ngữ và vănhóa” là động lực để những người lưu vong hợp thành các cộng đồng tại quốc gia họđến Đặc biệt, trong thời đại 4.0 hiện nay, họ liên kết lại thành cộng đồng lớn hơn, cộngđồng những người lưu vong, xa xứ nơi nước ngoài

Thuộc về cộng đồng kiều dân, những tác giả hải ngoại vừa mang đặc điểmchung của lớp người di cư, vừa mang đặc điểm riêng để khu biệt họ thành một nhómđối tượng khá đặc biệt và phức tạp Các nhà văn, họ là những con người nhạy cảmtrước sự đổi thay của môi trường, xã hội, thời cuộc Đồng thời đứng trước những đổi

Trang 18

thay đấy, họ dùng nghệ thuật ngôn từ để chuyển tải suy nghĩ, tình cảm, tâm tư, nguyệnvọng lên trang giấy Đầu tiên, họ mang trong mình nỗi niềm cố quốc của con người xa

xứ như nhà nghiên cứu Phạm Gia Lâm từng viết: “Bất cứ sự lưu vong nào, dù tựnguyện hay bắt buộc, cũng đều là bi kịch, là nỗi đau chia cắt, là nỗi sầu cố hương, là

cô đơn di trú” [23, trang bìa 4] Vì thế văn chương của các nhà văn lưu vong luônchứa đựng nỗi nhớ nước, nhớ quê hương và các biểu tượng, ký hiệu văn hóa của riêng

tổ quốc họ

Nhưng ở nơi xứ người, những tác giả hải ngoại còn gặp trở ngại không nhỏtrong mâu thuẫn giữa người di trú với đời sống văn hóa xã hội bản địa Nhà văn phảisáng tác nơi đất khách với cuộc sống mới, vùng đất mới, nơi chứa đựng ngôn ngữ, vănhóa mới Từ mâu thuẫn đó mà đặt ra cho người sáng tác không ít trăn trở về việc kiênquyết gìn giữ nét văn hóa truyền thống của cố quốc hay mềm dẻo hơn, vừa gìn giữ, vừatiếp nhận, giao hòa truyền thống cùng văn hóa bản địa

Từ đấy xuất hiện hai trường hợp, những nhà văn lưu vong nhưng vẫn kiên trìsáng tác bằng tiếng mẹ đẻ (như trường hợp của Ivan Bunin, Cao Hành Kiện) và nhữngnhà văn sáng tác bằng hai thứ tiếng, bên cạnh tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ bản địa Các nhàvăn sáng tác song song hai hay nhiều thứ tiếng như vậy, họ trở thành những tác giảsong ngữ (như trường hợp của Josept Conrad, Thomas Mann, Samuel Beckett, V.Nabokov, ): “[…] song ngữ/ song văn hóa là trỏ tình trạng một cá nhân hay một cộngđồng (nhóm xã hội, tộc người,…) có khả năng sử dung thành thạo ngôn ngữ thứ hai,ngoài tiếng mẹ đẻ/ thuộc về nền văn hóa thứ hai, ngoài nền văn hóa thuộc về tộc ngườicủa mình.” [23, tr 262]

Cùng với đó là cách thể hiện đề tài, chủ đề, cách triển khai không gian, thời giantrong tác phẩm nghệ thuật của nhà văn Họ sẽ lấy sáng tác bối cảnh là cố hương haybối cảnh đất nước họ chuyển tới sinh sống, không gian một chiều hay không gian đa

Trang 19

chiều, thời gian hiện tại hay thời gian quá khứ Qua đó hình tượng nhân vật trong sángtác của họ cũng xuất hiện nhiều giằng xé, mâu thuẫn nội tâm giữa một bên là quá khứ,một bên là thực tại, một bên là cố hương, một bên là xứ người.

Các tác giả hải ngoại dù họ kiên trì sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ hay sáng tác bằng

cả hai ngôn ngữ hoặc chỉ viết bằng thứ tiếng của đất nước họ di cư tới (trường hợpcủa Kazuo Ishiguro) thì văn chương những nhà văn đó vẫn luôn mang nặng cảm thứccủa con người lưu vong xa xứ Đồng thời các tác giả ấy cũng trở thành kiểu nhà vănsong văn hóa khi trong nội tại con người họ một bên vừa là văn hóa cố quốc, một bênvừa là văn hóa bản địa họ lưu vong tới

Từ khó khăn đấy của các nhà văn lưu vong, nhà nghiên cứu Phạm Gia Lâm đãchỉ ra: “Nhà văn rời bỏ không gian sống quen thuộc của mình và tiếp tục sáng tác trongđiều kiện của một không gian khác, xa lạ Nếu tính đến công cụ lao động sáng tạo củanhà văn là ngôn ngữ thì dễ hiểu nhà văn di tản đứng trước khó khăn về ngôn ngữ nhưthế nào.[ ] Vị trí địa lý hoặc mô hình ngôn ngữ quyết định như thế nào bản sắc dântộc của nhà văn? Liệu nhà văn có trở thành đại diện của một nền văn học dân tộc kháckhi vừa thay đổi nơi ở vừa thay đổi mô hình ngôn ngữ hay không? Số phận của diễnngôn văn học mà nhà văn hải ngoại lựa chọn là như thế nào? Sáng tác của họ đượctiếp nhận thế nào trong trường văn học của xã hội nhập cư và trường văn học của

“mẫu quốc” [23, tr 10]

Tất cả đặt ra vấn đề vị trí sáng tác của những nhà văn hải ngoại ở đâu trong nền vănhọc thế giới? Khi một bên văn chương họ vừa đại diện cho một phần lịch sử cố quốc họtừng sinh sống và một bên văn chương họ cũng không thể tách rời đời sống xã hội vùngđất bản địa họ tái định cư Sự đa văn hóa, giao thoa văn hóa đã làm nên tính phức tạptrong khía cạnh từ nội dung, tư tưởng, nghệ thuật ở bản thân tác phẩm các nhà

Trang 20

văn hải ngoại viết ra đến tính phức tạp khi khu biệt sáng tác cùng nhà văn đó vào tiếntrình văn học sử của cả hai bên cố quốc lẫn đất nước bản địa của tác giả.

Trong số những tác giả lưu vong, có thể kể đến các tên tuổi nổi tiếng như IvanBunin, Josept Conrad, Thomas Mann, Samuel Beckett, Vladimir Nabokov, KazuoIshiguro, Cao Hành Kiện Những nhà văn đó khác nhau về nơi sinh ra, quốc tịch,tiếng nói, ngôn ngữ, niên đại họ sinh sống Họ cũng có thể khác nhau về cách thứcsáng tác hay dấu ấn cố quốc hằn in trong văn chương của họ Nhưng những con người

đó đều gặp nhau ở tâm thức của con người xa xứ, lưu vong nơi đất khách quê người,gặp nhau ở cảm giác vô định “thiếu quê hương” Vì thế, bản thân các tác giả hải ngoạicùng sáng tác của họ dẫu có thể mang nhiều tranh cãi về vị trí trong tiến trình văn học

sử song không thể phủ nhận, chính những tác phẩm được viết lên bởi những nhà vănlưu vong đã góp phần không nhỏ tái hiện tâm lý, cuộc sống của cộng đồng kiều dânbởi nhiều lý do mà phải tha hương xứ người

1.2 Cao Hành Kiện và dòng chảy văn học Trung Quốc đương đại

Trong tiến trình văn học đương đại Trung Quốc, Cao Hành Kiện có một vị tríkhá đặc biệt Đặc biệt bởi mỗi giai đoạn, ông lại gắn bó với văn học Trung Quốc theomột cách khác nhau Những năm Cao Hành Kiện sống tại Trung Quốc, ông là nhà văntiên phong trong những thể nghiệm mới mẻ ở các thể tài sáng tác Và khi đã trở thànhnhà văn lưu vong, tác phẩm của Cao Hành Kiện trở thành một bộ phận của văn họcTrung Hoa hải ngoại mà ở đó văn học cùng văn hóa Trung Hoa trở thành chất liệu đặctrưng trong sáng tác của ông

Cao Hành Kiện sinh ngày 04 tháng 1 năm 1940 tại Cống Châu, một huyện thuộctỉnh Giang Tây, Trung Quốc Ông tốt nghiệp chuyên ngành tiếng Pháp của trường Đạihọc Ngoại ngữ Bắc Kinh vào năm 1962 Sau khi tốt nghiệp, Cao Hành Kiện đến làm

Trang 21

việc tại tạp chí Trung Hoa tái thiết với cương vị một phiên dịch viên tiếng Pháp trongnăm năm.

Trong thời kì Cách mạng Văn hóa năm 1966, Cao Hành Kiện bị đưa vào trạihọc tập cải tạo Đến năm 1975, ông được trả tự do và quay trở về làm việc tại Cục xuấtbản ngoại văn Tới năm 1978, Cao Hành Kiện chuyển tới làm phiên dịch cho Hiệp hộitác gia Trung Quốc Năm 1981, ông chuyển sang làm công tác biên kịch cho ĐoànNghệ thuật Nhân dân

Trong thời gian này, Cao Hành Kiện vẫn kiên định với con đường sáng tạo nghệthuật của mình Những sáng tác của ông đã thể hiện sự cách tân mạnh mẽ về mặt nghệthuật, đưa tác phẩm tiệm cận với văn học hiện đại và hậu hiện đại trên thế giới “Ông viếtrất nhiều, nhưng trước năm 1979, các tác phẩm của Cao Hành Kiện đều bị cấm công bố.Chỉ sau cuộc cải cách của Đặng Tiểu Bình một số vở kịch của ông mới được phép dàndựng và thái độ với các tác phẩm của ông cũng ít nhiều thay đổi.” [18, tr 7]

Vào giai đoạn sáng tác này của Cao Hành Kiện có thể kể tới những tác phẩm

như cuốn sách lý luận Sơ thảo kỹ thuật tiểu thuyết hiện đại xuất bản vào năm 1981 “đã

đề cập đến những hướng tiếp cận khác nhau đối với tiểu thuyết và những kỹ năng cầnthiết để thực hiện Cuốn sách đã gây tranh cãi về chủ nghĩa hiện đại đối lập chủ nghĩahiện thực Trung Quốc vào những năm 1980.” [1; tr 11] Hay các vở kịch được dàn

dựng, công diễn như Trạm xe buýt năm 1963, Báo động năm 1982, Trú mưa năm 1984 Tiểu thuyết Linh sơn cũng được Cao Hành Kiện thai nghén, bắt đầu sáng tác

những chương đầu tiên trong khoảng thời gian này Nhưng không lâu sau các tácphẩm trên lại bị cấm lưu hành

Năm 1987, Cao Hành Kiện được phép xuất ngoại Ông đã sang Pháp vào năm

1988 và năm 1989 “ông bị tước quốc tịch Trung Quốc và toàn bộ tác phẩm của ông bịcấm ở Trung Hoa lục địa” [18, tr 8] Cao Hành Kiện lưu vong nơi đất Pháp, ông tới

Trang 22

Paris, đến năm 1998, ông chính thức nhập quốc tịch Pháp Hiện nay Cao Hành Kiệnđang cư trú, sáng tác ở một ngôi làng thuộc vùng ngoại ô Paris, khu Bagnolet.

Những năm lưu trú tại Pháp, Cao Hành Kiện dành trọn tâm huyết vào việc viếtsách, soạn kịch và tổ chức triển lãm nghệ thuật Tên tuổi của ông ngày càng có chỗ đứngtrong nền văn học nghệ thuật Pháp nói riêng, văn đàn thế giới nói chung Năm 1992, ôngđược Chính phủ Pháp trao Huân chương về Văn học nghệ thuật Giải thưởng Nobel Vănhọc năm 2000 đã thuộc về Cao Hành Kiện Ngoài là nhà viết kịch, nhà văn nổi danh vàthành công, Cao Hành Kiện còn là một họa sĩ vẽ ra những bức tranh thủy mặc độc đáo vớihơn 30 triển lãm tranh đã được mở tính tới thời điểm hiện tại

Tuy thành công, nổi danh và có chỗ đứng vững chắc trong nền nghệ thuật bảnđịa, đất nước Cao Hành Kiện đang sinh sống thì tại chính Trung Quốc, giới chuyênmôn lại đánh giá không cao Cao Hành Kiện lẫn các tác phẩm của ông Giải Nobel năm

2000 trao cho Cao Hành Kiện, một nhà văn Pháp gốc Trung Hoa song tại Trung Hoađại lục lại rất thờ ơ với tin tức này Thậm chí, “Tờ nhật báo chiều Dương Thành

(羊城晚報) vào năm 2001 đã chỉ trích Linh sơn và gọi Cao Hành Kiện là một “nhà văn

dở tệ” [7; tr 11] Và bản thân người Trung Quốc cũng cảm thấy xa lạ trước bóng hình

Trung Hoa trên các sáng tác của Cao Hành Kiện nói chung, trong bản thân Linh sơn

nói riêng

Tuy nhiên dẫu sống và làm việc ở đâu, dẫu giới phê bình hay văn đàn Trung Quốc

có chối bỏ Cao Hành Kiện cùng những sáng tác của ông trong thời gian ông rời Trung Hoathế nào thì cũng không thể phủ nhận, sáng tác của Cao Hành Kiện vẫn có mối liên hệ vớitiến trình văn học đương đại Trung Quốc Bởi ông vẫn sáng tác chủ yếu bằng tiếng Trung,không gian văn hóa, con người trong những sáng tác của ông vẫn mang đậm bóng hình cốquốc Nhất là khi Cao Hành Kiện đã có ngót hơn bốn mươi năm sinh sống và làm việc tạiTrung Quốc mà trong quãng thời gian ấy, đã có bao biến

Trang 23

động lịch sử xảy đến trên thế giới và với chính bản thân quê hương, cố quốc ông.

Những vở kịch ông viết và công diễn ở trên mảnh đất Paris của Pháp như Tuyết tháng

tám năm 1997 và đặc biệt Giữa sống và chết năm 1999 không đơn thuần chỉ là những

tác phẩm viết bằng tiếng Trung mà ở đó là không gian văn hóa Trung Hoa, là sự kếthợp giữa bi kịch, hí kịch cổ điển Trung Quốc với kịch phi lý của thời hậu hiện đại Hay

tiểu thuyết Thánh kinh của một con người ra đời năm 1999 cũng là một sự nhìn lại của

Cao Hành Kiện về thời Cách mạng Văn hóa đã xa

Vì thế, thấm đẫm trong máu thịt Cao Hành Kiện là hơi thở, là lịch sử Trung Hoavới đủ những đau thương, thăng trầm Tất cả quyện hòa trong những sáng tác của ông

mà như chính ông từng nói “văn hóa Trung Quốc đã chan hòa trong dòng máu củatôi.” [18, tr 689] Nhận định về Cao Hành Kiện trong tiến trình lịch sử văn học TrungQuốc, trong Thông cáo của Viện hàn lâm Thụy Điểm ngày 12/10/2000 có ghi: “Giảivăn chương Nobel năm 2000 tặng thưởng nhà văn Hoa ngữ Cao Hành Kiện cho mộttrước tác có tầm cỡ thế giới, mang dấu ấn đắng cay trong nhận thức và nét tinh tế củangôn từ, mở ra nhiều nẻo đường mới cho nghệ thuật tiểu thuyết và sân khấu TrungQuốc.” [18, tr 647]

1.3 Tiểu thuyết Linh sơn trong sự nghiệp sáng tác của Cao Hành Kiện

Trước khi giành giải Nobel văn chương vào năm 2000, Cao Hành Kiện đã nổidanh với các tác phẩm hội họa, truyện ngắn hay những vở kịch phi lý Nhưng phải đến

tiểu thuyết Linh sơn, phong cách sáng tác cùng quan điểm nghệ thuật của Cao Hành

Kiện mới được thể hiện một cách trọn vẹn qua độ chín về tâm thức và những cách tântrong văn chương cả ở mặt nội dung lẫn hình thức

Tiểu thuyết Linh sơn gồm 81 chương được Cao Hành Kiện bắt đầu viết vào mùa

hè năm 1982 tại Trung Quốc và hoàn thành tác phẩm vào năm 1989 khi ông đã sang Pháp

định cư, sinh sống Vì thế, có thể coi Linh sơn như một tác phẩm bản lề thể hiện

Trang 24

rõ nhất sự giao thoa giữa hai thời kỳ sáng tác của Cao Hành Kiện Đó là sự khép lạithời kỳ sáng tác của ông ở Trung Quốc đồng thời mở ra thời kỳ sáng tác của Cao HànhKiện dưới danh nghĩa một nhà văn lưu vong nơi hải ngoại.

Linh sơn, câu chuyện được viết dựa trên chính những trải nghiệm thực tế của

Cao Hành Kiện những ngày ông còn ở Trung Hoa Khoảng thời gian này, Cao HànhKiện đã có hành trình kéo dài 10 tháng với tổng cung đường 15000km “đi sâu vào

thung lũng Tứ Xuyên, trung tâm lục địa Trung Quốc” [17, tr 8] Nhưng Linh sơn

không đơn thuần chỉ là cuốn du ký được tạo dựng dựa trên ấn tượng có thật đó mà hơn

cả, cuốn sách là những mảnh vỡ đan xen giữa thực và mộng để tạo lên những mảngtruyện đầy hư ảo

Linh sơn, một tác phẩm gần như không có cốt truyện kể về hai chuyến hành

trình của hai người đàn ông khác nhau Một bên là mi, kẻ lãng khách đã đi khắp bốn

phương trời, vì một lòng hiếu kỳ về miền đất chưa biết tới có tên Linh sơn mà quyết tìm đường đến chốn Núi hồn Một bên là ta, kẻ lãng du đi khắp miền sơn cước Trung

Hoa: “Khi mi đang tìm kiếm con đường đưa tới Linh Sơn thì ta, dạo dọc con sôngTrường Giang, tìm kiếm chân lý [ ] Từ lâu lẽ ra ta đã phải rời bỏ cái môi trường ônhiễm của ta mà quay trở lại thiên nhiên kiếm tìm một cuộc sống đích thực.” [16, tr.21] Ta và mi là hai mà lại như một Hai chuyến hành trình tưởng chừng ngược nhau

mà rồi lại hợp nhất trong những cuộc gặp gỡ nơi tâm tưởng người lữ khách Linh sơn hay là lẽ sống, chân lý Linh sơn, ngọn núi hồn thiêng liêng xa ngái hay chính một phần

tâm hồn con người ta vẫn mãi kiếm tìm?

Toàn bộ Linh sơn cũng như các sáng tác khác nói như Cao Hành Kiện là cách tác

giả “lấy sự sáng tác văn học làm phương thức tự cứu, hoặc có thể nói rằng đó cũng là mộtphương thức sống của tôi Tôi sáng tác là vì mình, không mưu cầu mua vui cho kẻ khác,cũng không toan tính cải tạo thế giới hoặc người khác, bởi vì ngay cả bản thân

Trang 25

tôi cải biến còn không xong Quan trọng là, đối với riêng tôi mà nói, chỉ là tôi nóixong, viết xong, chỉ thế mà thôi.” [18, tr 692]

Bởi thế, Linh sơn như một sự phân thân của tác giả trong những chuyến hành

trình tâm tưởng, trong những cuộc đối thoại dẫu là ta, là mi, là nàng hay là hắn Cũng

vì vậy, Linh sơn là một cuốn tiểu thuyết với những chương truyện hết sức tản mạn,

tưởng chừng không có sự liên kết với nhau, không có cốt truyện, đồng thời cũng không

thể tóm tắt Cả Linh sơn như nằm trong một lớp sương bàng bạc của những câu

chuyện huyền thoại, với không, thời gian đầy tính bất định Tất cả những yếu tố đó đã

làm nên một tiểu thuyết Linh sơn mang đậm cảm thức của văn chương hậu hiện đại, từ

đấy mà tạo sự gần gũi, đồng cảm với độc giả phương Tây

Nhưng bên cạnh những sự cách tân nghệ thuật đầy táo bạo, cách thể hiện nộidung tư tưởng đầy hiện đại trên mọi phương diện của thể tiểu thuyết là sự bám rễ vàocội gốc văn hóa Trung Hoa truyền thống trong những hình ảnh, những câu văn, nhữnglàn điệu hát xuyên suốt chặng đường du ký qua những mảnh đất mà nhân vật đã đi.Cũng bởi sự hòa hợp giữa những yếu tố hiện đại phương Tây và Trung Hoa truyền

thống đó mà Linh sơn càng thêm cuốn hút “Linh Sơn của Cao Hành Kiện – nhà văn

Pháp gốc Trung Hoa – thực chất, là cuộc du hành xuyên qua sương mù thời gian,không gian để gom góp, khảo sát lại những mảnh vỡ biểu tượng, di chỉ ký ức, truyềnthống văn hóa và lịch sử Trung Hoa Các bối cảnh núi rừng hoang vu cho đến làngmạc, di tích có thực, những dấu chỉ ifgian huyền thoại như Nữ Oa, Phục Hy, cho đếnthời gian xác định của những thời kỳ Cách mạng Văn hóa, Ngũ Tứ, từ nông thôn đến

đô thị đi vào tiểu thuyết này mông lung mê hoặc lại rất giàu sức gợi.” [16, trang bìa 4]

Bởi vậy Linh sơn có vai trò như tấm bản lề giữa hai thời kỳ sáng tác của Cao

Hành Kiện Tác phẩm ra đời trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt Cao Hành Kiện mất

7 năm để sáng tác Linh sơn trong đó có 6 năm ở Trung Quốc, năm còn lại ông hoàn

Trang 26

thiện tác phẩm khi đã tới Pháp định cư Vì thế, tính chất bản lề, giao thời của cuốn tiểuthuyết này thể hiện từ thời gian tác phẩm ra đời, nội dung tác phẩm thể hiện cho tớihình thức tự sự của Cao Hành Kiện Chất Trung Hoa cực kỳ đậm đặc ở từng bối cảnhtrong mỗi chương truyện, ở từng tình tiết, từng niên đại thời gian, từng biểu tượng văn

hóa Cao Hành Kiện gửi gắm Nhưng đồng thời, Linh sơn cũng là một cuốn tiểu thuyết mang đậm âm hưởng văn chương hậu hiện đại Với Linh sơn, Cao Hành Kiện đã đạt

tới độ chín về nghệ thuật, đưa các tác phẩm ở giai đoạn sáng tác sau hoàn toàn tiến tớihình thức hậu hiện đại trong cấu trúc tác phẩm, điểm nhìn, thủ pháp sáng tác “Một tiểuthuyết đa bội điểm nhìn, phân mảnh về hình thức nhưng được tổ chức một cách chặtchẽ, một bút pháp vừa phóng khoáng vừa nghiêm cẩn của thứ “văn chương lạnh” (từdùng của chính Cao Hành Kiện) nhìn sâu vào hệ giá trị Trung Hoa.” [16, trang bìa 4]

Có lẽ chăng, chính bởi hệ giá trị Trung Hoa được Cao Hành Kiện thể hiện bằngbút pháp hậu hiện đại như vậy mà khiến cho chính bản thân con người tại cố quốc của

Cao Hành Kiện cảm thấy xa lạ với Linh sơn nói riêng, những sáng tạo của ông nói

chung

Trang 27

CHƯƠNG 2: DẤU ẤN VĂN HÓA TRUNG HOA

TRONG TIỂU THUYẾT LINH SƠN

2.1 Những lớp trầm tích của văn hóa Trung Hoa truyền thống

Trong bài phát biểu tại Hội nghị 40 năm văn học Trung Quốc do Hệ thống Liên

hiệp báo tổ chức tại Đài Loan, Không có chủ nghĩa, Cao Hành Kiện đã nói: “Cuốn

Linh sơn và cuốn Sơn hải kinh truyện tôi hoàn thành ở nước ngoài đã kết liễu cho tôi

cái gọi là mối sầu cố hương Cuốn trước khơi từ cảm xúc đối với hiện thực văn hóaTrung Quốc [ ] Văn hóa Trung Quốc đã chan hòa trong dòng máu của tôi, chẳng cầndán trên mình nhãn hiệu thương mãi Văn hóa Trung Quốc mặt trái và mặt phải, tôi đã

tự làm công cuộc trang trải.” [18, tr 689]

Bởi thế, xuyên suốt tiểu thuyết Linh sơn là tầng tầng lớp lớp những trầm tích

của văn hóa cổ điển Trung Hoa dẫu là cuộc hành trình của ta du ký khắp các vùng núi

non hay mi trên chặng đường cùng nàng kiếm tìm Núi hồn.

2.1.1 Lớp trầm tích huyền thoại và văn học dân gian.

Trung Hoa là một trong những chiếc nôi của lịch sử loài người, của nền vănminh nhân loại nói chung, nền văn minh phương Đông nói riêng Bên bờ lưu vực sôngHoàng Hà và Trường Giang, quốc gia cổ đại Trung Hoa đã hình thành Trải qua hàngngàn năm cùng bề dày lịch sử, văn hóa, đất nước Hoa Hạ đã ghi dấu bề dày trầm tíchhuyền thoại và văn học dân gian cổ về sự hình thành trời đất, về những chuyện kỳ bítrong tự nhiên, đời sống mà con người thời cổ đại chưa thể lý giải bằng kiến thức khoahọc, về những con người có thật trong lịch sử đã được dân gian khắc họa lại bằngnhững nét vẽ huyền thoại; hay các câu chuyện cổ tích yêu ma, quỷ quái

Những câu chuyện lưu truyền trong dân gian như truyện Nữ Oa vá trời, giaithoại về thời Tam Quốc, về 108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc, hành trình bốn thầy trò

Trang 28

Đường Tăng đi thỉnh kinh đã trở thành một phần trong mạch nguồn làm nên nền vănhóa Trung Hoa truyền thống Mạch nguồn ấy chảy từ đời này sang đời khác, đi vàonhững tác phẩm văn học viết từ thời phong kiến, đến thời cận đại, qua thăng trầm lịch

sử mà tiếp tục thấm sâu vào những tác phẩm văn chương thời hiện đại, hậu hiện đại

Với Linh sơn, Cao Hành Kiện đã góp phần khơi mở thêm mạch nguồn dân gian đó

trong dòng chảy chung của nền văn học Trung Quốc những năm 2000

Là một tác giả Trung Quốc hải ngoại nhưng “chất văn hóa cổ đã chan hòa trong

dòng máu” [16, tr 689], có thể nói tiểu thuyết Linh sơn của Cao Hành Kiện được cấu

thành lên từ những mảng huyền thoại bàng bạc của văn hóa Trung Hoa truyền thốngnói chung, văn học dân gian Trung Hoa nói riêng

Trên chuyến hành trình kiếm tìm Linh sơn của mi là những câu chuyện truyền

thuyết, thần thoại về mảnh đất mà mi hướng tới, là những câu chuyện truyền miệngđậm tính ma quái, kỳ ảo mà những kẻ mi gặp kể lại trước đông đảo người nghe: “Ởđằng tây, mặt trời đang lặn, những đám mây dày che khuất mặt trăng; như thường lệ,

bố rắn mẹ rắn dẫn đầu đám yêu ma quỷ quái đi đến ngôi miếu Lam Hoàng Trước cảnhnhững đứa trẻ trai gái béo tốt, làn da hết sức mơn mởn, trước cảnh bò, lợn, cừu ở bênđường, niềm vui của chúng mới thật là to lớn dường bao!” [16, tr 41] Hay đó là nhữngcâu chuyện đầy màu sắc hư ảo, huyền thoại do mi tự tưởng tượng ra để kể cho nàngtrên bước đường núi truân chuyên mãi không thấy điểm dừng Chuyện về người congái tự tử, đêm về còn vang tiếng khóc nỉ non, chuyện về con chim lam từng được nhắc

đến trong thơ Đường, gắn với tích truyện liên quan tới Tây Vương mẫu trong Sơn Hải

kinh hay chuyện về những người đàn bà miền sơn cước mi chẳng biết tên, chỉ biết họ

là những người đàn bà đẹp cài bông hoa đỏ đã hút hồn người qua đường thế nào…

Còn với ta, chọn con đường ngược lại con đường mi đã đi, chất huyền thoại,tính dân gian của một nền văn hóa Trung Hoa truyền thống lại thể hiện trong mỗi câu

Trang 29

chuyện ta lượm lặt được qua lời kể của từng người dân ta bắt gặp Đó câu chuyện vềcon rắn kỳ hay sự tích ly kỳ về lão Thạch sống nơi hang đá sâu trong rừng, chỉ có mộtcon đường độc đạo duy nhất tới với lão, người ta đồ rằng lão đã chết từ lâu nhưngthân thể lão vẫn còn nguyên vẹn, đặc biệt là khẩu súng săn của lão thì vẫn còn sángbóng Hoặc chất huyền thoại đấy hiển hiện qua những lời ca, điệu nhạc ta sưu tầmđược, đặc biệt khi mỗi câu ca, lời thơ đó được trình diễn ở một không gian văn hóadân gian đặc thù Tất cả như thổi hồn vào con chữ, biến ngôn từ lẫn không gian xungquanh trở thành huyền ảo như cổ tích: “ta dâng lễ này lên thần bếp vì nhờ ngài màchúng ta có cái ăn cái uống”, “Ông đang chép lại một bài văn thờ cúng kinh điển bằngtiếng Di, ông cũng dùng bút lông như người Hán” [16, tr 135]

Chất huyền thoại, dân gian của văn hóa Trung Hoa trong Linh sơn bởi thế không

còn đơn thuần chỉ là những câu chuyện vụn vặt, những câu hát dân ca được nghe,được kể, mang tính truyền miệng từ đời này sang đời khác để con người thời nay nhắclại mà rộng hơn, chất cổ kính, huyền ảo còn gắn liền với chính không gian dân gian tácgiả Cao Hành Kiện xây dựng lên

Không gian đó trước hết là các buổi kể chuyện của những người dẫn truyệnxung quanh là những người sẵn sàng đến nghe câu chuyện đấy từ ngày này sang ngàykhác Hay thính giả ngày ngày đợi chờ để được nghe một tích truyện mới Như khungcảnh mi đã gặp nàng ở thủy tạ, nơi diễn ra buổi kể chuyện về gia đình nhà rắn: “Cả trẻcon lẫn người lớn đang chen nhau ở trước cửa và góc tường quán trà Nhìn vào trong,

cả nàng và mi đều dừng lại Một loạt bàn kê trong một gian phòng dài hẹp Người nhưxếp thành hàng lối đều đặn trên các ghế dài đặt theo chiều ngang nhà và ở chính giữa làmột cái bàn tròn phủ tấm vải đỏ viền những hình thêu màu vàng; đằng sau bàn, trênmột ghế dài cao chân, một người mặc áo dài rộng tay đang kể chuyện.” [16, tr 41]

Trang 30

Những truyện kể ly kỳ ma quái, được một người dẫn truyện kể lại với thính giảxung quanh lắng nghe, tất cả không chỉ gợi lên không gian văn hóa dân gian với đậm chấthuyền ảo đến từ câu chuyện mà còn gợi lên một bầu không khí cổ xưa của thời thịnh hànhnhững câu chuyện chương hồi Nơi đấy, người ta tới nghe kể chuyện, đợi chờ tới mỗibuổi truyện kể để biết tiếp diễn biến tích truyện vẫn còn dang dở trong buổi trước Người

kể chuyện bằng điệu bộ và tài dẫn truyện khéo léo thu hút ánh nhìn khán, thính giả Một

thời truyện Tam Quốc, truyện Thủy hử, truyện Tây du được lưu truyền trong dân gian

bằng phương thức diễn xướng, bằng những buổi kể chuyện như thế

Từ không gian tập thể, cộng đồng, chất dân gian, huyền thoại trong các buổi kể

chuyện ở Linh sơn chuyển dịch và thu hẹp về không gian chỉ có hai người mi – nàng hay

ta – với những nhân vật ta gặp nhưng tính chất chương hồi trong những câu chuyện ấyvẫn không thay đổi Giữa thâm u núi rừng, trên từng bước đường qua từng vùng đất xa lạ,tới một đích đến thực thực hư hư, những câu chuyện liêu trai được kể không chỉ làm tăng

thêm tính kỳ ảo cho tác phẩm mà càng khiến Linh sơn gần gũi hơn với thể du ký Đồng

thời, những ta, mi, nàng, anh hay ông lão kể chuyện cho nhau nghe, cũng như cách màdân gian từ xưa tới nay lưu truyền các truyện thần thoại, cổ tích vậy

Không gian huyền thoại trong Linh sơn còn đến từ chính không gian văn hóa,

thờ cúng, tế lễ của từng dân tộc, tộc người Mỗi tộc người lại có một tục lệ, câuchuyện, cách thức khác nhau trong việc lưu truyền, gìn giữ bản sắc Sự khác nhau đógắn với riêng một không gian văn hóa và không gian ấy lại chở nặng tính huyền thoại,

cổ kính trải dài theo năm tháng Có thể nói, không gian cổ tích, thần thoại đã đi vàotrong trang văn của Cao Hành Kiện từ những câu chuyện cổ xưa và rồi chính khônggian đầy tính thần thoại của một thời quá vãng đã làm cho những câu chuyện được

nhắc đến ở Linh sơn càng thêm nhuốm màu liêu trai, kỳ ảo.

Trang 31

Trong cuốn Dẫn luận về văn chương kỳ ảo, Tzevan Todorov có viết: “Giờ đây

đã đến lúc minh định và hoàn chỉnh định nghĩa về kỳ ảo của chúng tôi Việc này đòihỏi phải thỏa mãn ba điều kiện Trước hết, văn bản buộc độc giả coi thế giới của cácnhân vật như một thế giới của những con người sống và phân vân giữa một cách giảithích tự nhiên và siêu nhiên trước những hiện tượng gợi lên Sau nữa, sự phân vân nàycũng có thể được cảm nhận bởi một nhân vật, vậy nên vai trò của độc giả có thể đượcgửi gắm cho một nhân vật và đồng thời do sự phân vân được thể hiện nên nó trở thànhmột đề tài của tác phẩm; trường hợp đọc sách một cách hồn nhiên, độc giả có thực tựđồng nhất với nhân vật Sau rốt điều quan trọng là độc giả có một thái độ nhất định đốivới văn bản: họ sẽ khước từ lối diễn giải ngụ ngôn cũng như diễn giải “theo lối thơ.”[35, tr 43]

Và những câu chuyện huyền thoại cùng không gian cổ tích, thần thoại, dân gian

trong Linh sơn đã thực sự đáp ứng về cái kỳ ảo của Todorov Con người luôn phân vân

giữa hiện thực – hư ảo, giữa thực tại với những truyện kể ly kỳ, huyền ảo Sự phân vân

đó không chỉ được cảm nhận bởi một nhân vật mà còn được cảm nhận bởi mọi cá

nhân trong tác phẩm, qua đó trở thành đề tài chủ đạo của Linh sơn Từ đấy, người đọc khi tiếp nhận, diễn giải Linh sơn phải khước từ hoàn toàn lối diễn giải ngụ ngôn thông

thường, bởi đây là một tác phẩm hết sức hiện đại nhưng được vết trên nền tảng củavăn hóa Trung Hoa truyền thống

Có thể nói, với Linh sơn, Cao Hành Kiện đã thả cho sức tưởng tượng bay bổng

cùng huyền thoại, cùng văn hóa truyền thống Mọi thứ như mang âm hưởng của mộtthời giang hồ quá vãng Tất cả kết hợp trong hình ảnh con người, một người kiếm tìm

một Linh sơn bất định, người còn lại bước đi vô định trên lãnh thổ Trung Hoa rộng

lớn Con người vô định, trốn chạy nhưng văn hóa lại trở thành cội gốc, gốc rễ màngười ta không thể chối bỏ, cũng là nơi để kẻ tha hương tìm về một chốn dừng chân

Trang 32

Đây cũng là tâm thức chung của rất nhiều nhà văn hải ngoại Khi lưu vong nơi

xứ người, sống trong tình cảnh “thiếu quê hương”, thứ níu giữ nhà văn với phần hồncủa cố hương là ngôn ngữ và là lớp trầm tích văn hóa truyền thống thể hiện trước hếttrong những câu chuyện huyền thoại, không gian văn hóa dân gian của dân tộc mình

Mà ẩn sâu trong những câu chuyện như thực như mơ, phủ lên tác phẩm một lớp bàngbạc màu kỳ ảo đó là nỗi nhớ quê, nỗi hoài tiếc, là tấm lòng day dứt quê nhà Như tác

giả Nabokov trong tập truyện ngắn Mỹ nhân Nga đã tái hiện một nước Nga vừa cổ kính song cũng vừa hư ảo ở những truyện ngắn như Ma cây hay Một truyện đồng

thoại: “Chẳng ai trong bộ lạc chúng tôi còn lại ở Đại Nga Một số bốc thành sương, số

khác tản đi khắp dương gian Những con sông quê sầu muộn, chẳng còn tay ai tinhnghịch hắt ánh trăng vàng, những bông hoa chuông tình cờ chưa bị vạt đi thì lặng lẽ,côi cút – mà chúng từng là những cây đàn Gusli xanh lam thuở xưa ” [27, tr 28] Cảmthức đó của Nabokov đã gặp gỡ với Cao Hành Kiện khi ông gửi gắm vào sâu trong

Linh sơn là cả mạch nguồn trầm tích của một nền văn hóa, văn học dân gian Trung

Hoa Mà dòng mạch trước tiên hiện lên qua những hư ảo nơi các câu chuyện, lời ca,điệu nhạc cùng không gian văn hóa đậm chất huyễn ảo

2.1.2 Lớp trầm tích tôn giáo và tín ngưỡng dân gian

Như đã nói, Trung Hoa cổ đại là một trong những chiếc nôi của loài người và vănminh nhân loại Nơi đây chứa đựng một kho tàng đồ sộ văn học dân gian biểu tượng chotâm thức, đời sống, văn hóa của con người lưu vực sông Hoàng Hà, Trường Giang nóiriêng mà còn là cả khu vực Đông Bắc Á nói chung Đồng thời đất nước Hoa Hạ còn là nơixuất phát của những hệ tư tưởng có tầm ảnh hưởng sâu rộng ở Trung Hoa đại lục lẫn cácquốc gia trong khu vực từ lịch sử cho tới thời điểm hiện tại như hệ tư tưởng Nho giáo,Đạo giáo, tư tưởng Lão Trang, sự kế thừa, phát huy và sức sống của Phật giáo cổ Ấn Độ Ngoài ra, mỗi tộc người trên lãnh thổ Trung Hoa bên cạnh sự

Trang 33

khác biệt trong không gian sinh hoạt đời sống văn hóa, ở họ còn có sự khác biệt vềkhông gian tín ngưỡng riêng của từng vùng miền.

Vì vậy, tái hiện mạch nguồn văn hóa truyền thống trên trang văn Linh sơn, Cao

Hành Kiện còn gửi gắm ở đó còn là dòng chảy của hệ thống tôn giáo, tư tưởng lẫn tínngưỡng dân gian đã ăn sâu vào đời sống người dân Trung Hoa Yếu tố tôn giáo, tínngưỡng bởi thế cứ trở đi trở lại trên từng bước đi của con người dẫu là ta hay mi, dẫu

là nàng hay hắn hoặc cả lúc nhân cách của mi biến mất để hợp với một nhân cách “ta”

Trước hết, đó là dáng dấp các biểu tượng Đạo giáo được thể hiện qua nhữngtriết lý nhân sinh, biểu hiện qua đời sống con người cùng không gian tâm linh của hệ

tư tưởng này

Là một trong Tam giáo tồn tại từ thời Trung Hoa cổ đại, cùng Phật giáo và Nhogiáo, Đạo giáo xuất hiện trong trang văn Cao Hành Kiện trước hết với những triết lý

từng được Lão Tử đề cập trong Đạo Đức Kinh mà từ lâu đã trở thành kinh điển của hệ

tư tưởng này: “Từ Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật”,

“Con người theo các đạo của Đất, Đất theo các đạo của Trời, Trời theo các đạo củaĐạo, Đạo theo cái đạo của chính nó” [16, tr 436], “Nhìn mà không thấy, nghe màkhông hiểu, ngươi sẽ đạt tới hư không và thanh thoát, đẹp thay, hiếm thay, hiếm sao.”[16, tr 437] Và triết lý “lấy sự thanh tịnh” đó thật sự hết sức gần gũi với giáo lý nhàPhật Vì thế, quá trình tìm về mảng bình yên trong tâm hồn của mỗi nhân vật trong

Linh sơn không đơn thuần chỉ tìm về cội gốc của Thiền mà còn là quá trình tìm về căn

nguyên của Đạo

Cũng vì vậy, cả mi, ta, nàng, hắn, cả các nhà nghiên cứu, những người bạn của

ta xuất hiện ở tiểu thuyết Linh sơn bên cạnh việc không danh tính, không nhân hình, họ

luôn là những con người lánh xa đời sống thành thị để trở về với tự nhiên Mỗi người

đã trải đủ đau thương và dường như đã hiểu thấu hồng trần, chỉ riêng nội tâm con

Trang 34

người là chẳng thể nắm bắt Vì vậy, họ trở về với chữ đạo, đạo của thiên nhiên, cũng làđạo làm người.

Đạo đấy đã được nhà thực vật già đúc kết khi ông qua ba lần đứng trước bờ vựccõi chết, trải qua nỗi đau mà Cách mạng Văn hóa mang lại đó là hòa mình vào tự nhiên khilòng người đã không còn tin tưởng vào tính thiện lương nơi con người người Hay triếtlý: “Nói cách khác, mi, ta, chúng ta chẳng qua cho là đã từng gặp ông./ Vậy thì đó là ông.”[16, tr 486], đây chính là dạng thức “nhìn không thấy”, “nghe không hiểu” khi đối diệnvới bậc vĩ nhân cùng sự sâu xa, vĩ đại trong tác phẩm, sự nghiệp của người Và khi đặt

triết lý Đạo giáo vào tiểu sử cuộc đời Cao Hành Kiện cũng như hoàn cảnh ra đời Linh sơn

lại càng thấy triết lý đó thêm ý nghĩa Một con người ngay từ những năm tháng đầu đời đãtrải qua thương đau binh lửa, bị phản bội, đấu tố, giám sát, từng tuyệt vọng mất niềm tinvào cuộc sống, bơ vơ lạc lõng trong thân kiếp con người lưu vong Vậy “đạo” cuối cùngngười đó hướng đến, tìm về là gì Căn tính dân tộc hay nhân bản, hay có lẽ là cả hai “Đạo

là gốc của muôn loài, cũng là phép điều hành muôn loài Chủ thể và khách thể tôn trọnglẫn nhau, thì hòa làm một.” [16, tr 437]

Ngoài ra, nói tới yếu tố Đạo giáo trong tiểu thuyết Linh sơn, không thể không nói

tới những con người đã giữ lửa và mãi lưu truyền để hậu thế có thể tìm về không gian tâmlinh của Đạo gia Đó là các Đạo sĩ dân gian trải qua thời kỳ Cách mạng Văn hóa, họ vẫngiữ lại không chỉ là những vật dụng hành nghề mà hơn cả là hồn cốt, tinh thần cùng khíchất những người tu đạo “Một lát sau, các người con trai ông mang chiêng, trống, nào bạtđến, một cái chiêng bé và một cái chiêng to móc vào giá gỗ Lập tức nhạc nổi lên, ông giàthong thả, đường bệ từ trên gác bước xuống Ông đã thay đổi hẳn cốt cách, mặc đạo bào,

áo dài cũ màu tím của đạo sĩ, áo vá và có trang trí hình cá âm dương cùng những bát quái.Ông tự tay thắp hương, cúi rạp người xuống trước ô thờ chư thần.” [16, tr 138] Và nếukhông gian tín ngưỡng, không gian tâm linh với những con người được thiên phú cho đạohạnh chẳng còn tồn tại thì dòng chảy tôn giáo

Trang 35

cổ Trung Quốc đã bị đứt đoạn khi biến động lịch sử xảy tới, nhất là vào thời điểm Cáchmạng Văn hóa diễn ra.

Cùng với Đạo giáo, yếu tố Phật giáo cũng xuất hiện với tần suất dày đặc trong

thế giới nghệ thuật Linh sơn Phật giáo không xuất phát từ Trung Hoa nhưng lại sớm

được lưu truyền vào mảnh đất này và ăn sâu, bám rễ đồng thời có sức sống lâu dàitrong lịch sử đời sống con người nơi đây Giáo lý nhà Phật tới Trung Hoa đã đi vàotâm thức con người một cách đầy tự nhiên, phát triển thành nhiều nhánh nhỏ với nhiều

cách tu khác nhau Vì thế, Phật giáo hiển hiện trong Linh sơn cũng dưới nhiều dạng

thức, vừa là Phật giáo nguyên thủy xuất phát từ Ấn Độ, vừa là Phật giáo được bản địahóa khi tôn giáo này đã có một đời sống lâu bền trong cộng đồng xã hội Trung Hoa

Đấy là bóng hình Phật giáo truyền thống biểu hiện qua hình ảnh những ngôi

chùa cổ trên bước đường kiếm tìm Núi hồn của mi và trên cả chuyến du ký của ta khắp

miền sơn cước Trung Hoa Bóng hình đó có thể hiện lên qua những câu chuyện, quanhững mộng ảo đan xen giữa không gian thiện tại – hư vô hay các địa điểm người lữkhách đã trực tiếp đi qua, trực tiếp ngắm nhìn để trực tiếp đắm mình vào cõi Phật Để ở

đó con người không chỉ cảm nhận Phật giáo bằng những tạo vật vật chất xung quanh

mà còn cảm nhận Phật pháp ở cả tầng giáo lý, triết học Qua đấy người lãng du cónhững chiêm nghiệm về hiện thực, nhân sinh, cuộc đời giữa muôn nẻo thâm u núi rừng

“Ông giải thích rằng ở giữa thời kỳ chúng ra hoa, nảy mầm và khô héo rồi mọc lênmăng mới trước khi lại ra hoa tổng cộng là sáu chục năm trời Thời gian này vừa đúngmột kiếp, vòng luân hồi những tồn tại và hồi sinh trong đạo Phật.” [16, tr 59]

Thật vậy, con đường mi đi tìm Linh sơn có nét tương đồng như quá trình hành

hương của đệ tử Phật giáo trở về căn nguyên Phật pháp Hay giữa những giây phút ngặtnghèo của cuộc đời trong ta niệm tên của Phật hẳn không chỉ cầu may mắn mà hơn cả

Trang 36

để làm yên tĩnh, bình lặng lại nội tâm vốn đang tuyệt vọng Bởi giáo lý nhà Phật trướchết để hướng đến cái thiện, hướng tới sự giải tỏa, bình yên cho tâm hồn.

Biểu hiện của giáo lý nhà Phật ở Linh sơn còn hiện lên trong cách Cao Hành

Kiện gửi gắm những triết lý về con người, về ái dục vô minh, về nhân duyên luân hồi

Mọi sự tồn tại của con người trong Linh sơn đều hết sức mơ hồ, tất cả chỉ là những đại

từ phiếm chỉ ta, mi, nàng, hắn, anh, ông Họ không tên gọi, cũng không có nhân dạngcũng như đạo Phật trong thuyết vô ngã vốn coi con người chỉ là sự tồn tại vật chất củanăm uẩn sắc, thụ, tưởng, hành, thức chứ không phải một thực thể lâu dài “Vô luận là

ta hay hình tượng phản ánh của ta thì mặt mũi hắn thế nào đều không nhìn thấy, biết đó

là một ảnh tượng ở đằng sau là đủ rồi.” [16, tr 340]

Cùng với đó, thuyết vô thường của Phật giáo cho rằng mọi sự đều trong quá trìnhdiễn ra, biến đổi, vận động, tiêu diệt không ngừng Vì thế không có gì là mãi mãi, cũngnhư ngôi chùa của vị sư tăng đã từng hưng thịnh là thế mà tới khi mi và nàng đến tất cảchỉ còn lại một đống hoang tàn, vẻ đẹp xưa kia vĩnh viễn chỉ là ký ức trong lời mi kể

Không chỉ vậy, Linh sơn còn chứa đựng những ẩn ức về ái dục, vô minh, nhân duyên, luân

hồi của con người Bóng dáng con người trong cuốn sách mờ nhạt song ai cũng có thất

tình lục dục và hành trình con người tìm về Linh sơn có lẽ chăng còn là quá trình người ta

vượt thoát ái dục để về với vô minh Nhưng có thể diệt dục không khi người ta vẫn hammuốn Chẳng thể mà nhân duyên không dứt, luân hồi mãi diễn ra Nàng có thể là chuyểnthế, kiếp sau luân hồi của bất kì cô gái nào câu chuyện của mi, của ta Nàng đã rời xa mi

và ta luôn tránh gắn bó quá sâu sắc với một người phụ nữ Vậy mà hình ảnh của nàng vẫntrở lại đầy ám ảnh, đó chẳng phải là nhân duyên sao?

Hành trình về với cõi Phật trong Linh sơn đã được Nguyễn Công Cảnh so sánh với hành trình vượt 81 kiếp nạn của thầy trò Đường Tam Tạng trong Tây Du Ký của

Ngô Thừa Ân ở Luận văn Thạc sĩ của anh Và ngay chính tổng số 81 chương trong

Trang 37

Linh sơn có lẽ cũng không phải là ngẫu hiên khi ứng với 81 kiếp nạn thầy trò Đường

Tăng phải trải qua để thành Phật Tuy nhiên như đã nói, yếu tố Phật giáo, biểu tượng

Thiền trong Linh sơn không đơn thuần chỉ là Phật pháp nguyên thủy mà đó là giáo lý

nhà Phật đã tồn tại song hành cùng sự phát triển của đất nước Trung Hoa “Việc dichuyển bằng đôi chân mang màu sắc hành hương chứa đựng quan niệm “đi đến tậncùng” theo quan điểm “thân có trải, tâm mới nghiệm” Quan niệm này còn thể hiện rất

rõ trong tác phẩm Tây du ký, ngoại trừ Đường Tam Tạng thì tất cả các đồ đệ đều có

khả năng cưỡi mây, vượt gió Nếu như Đức Phật chỉ muốn truyền lại chân kinh thì chỉcần ủy thác cho Tôn Hành Giả nhưng chính việc yêu cầu Đường Tăng vượt muônngàn khó khăn thử thách để sang Tây Trúc thỉnh kinh chứa đựng quan niệm “nhânduyên” trong giáo lí đại thừa.” [7, tr 61]

Bởi thế tính thực tế, tính bản địa của lý thuyết đó hết sức mạnh mẽ nhất là khi cácgiáo lý nhà Phật đặt trong bối cảnh Trung Hoa hiện đại phải trải đủ những thăng trầm, cay

đắng Khi ấy, Thiền trong Linh sơn đã tiến gần hơn tới phân tâm học, hai bộ môn khác

nhau về tính ứng dụng song lại gặp gỡ nhau ở nguyên lý: “Khi liên hệ Thiền với Phân tâmhọc phải bàn đến hai quy tắc truyền thống, cả hai đều đề cập đến nguyên lý có liên quanđến bản chất của con người và sự rèn luyện để có một cơ thể khỏe mạnh.” [28, tr 107],

“Điều đầu tiên được đề cập đến là việc định hướng đạo đức chung của Thiền và Phân tâmhọc Điều kiện để đạt được mục tiêu này là vượt qua lòng tham, lòng tham sở hữu hay sựkhoe khoang, hoặc lòng tham ở bất kỳ dạng thức nào [ ] Đây cũng chính là mục đích củaPhân tâm học [ ] Cả Thiền và Phân tâm học hướng đến một cái gì đó vượt hơn đạo đứcnên những mục đích của chúng cũng không thể được hoàn thành nếu sự chuyển biến vềmặt đạo đức không diễn ra” [28, tr 166, 167]

Tuy nhiên, tín ngưỡng, tôn giáo trong văn hóa truyền thống Trung Hoa đâu chỉ

có Phật giáo hay Đạo giáo Hoa Hạ là một quốc gia rộng lớn trải rộng trên nhiều địahình khác nhau, với nhiều dân tộc cùng sinh sống Tính đặc trưng của từng vùng miền

Trang 38

đã làm nên tính riêng biệt, cá thể, biệt lập của từng tộc người trên cùng một mảnh đấtTrung Hoa Và mỗi dân tộc đó họ lại lưu giữ cho riêng mình một bản sắc văn hóa riêngnói chung, tín ngưỡng tâm linh nói riêng.

Đó là phong tục, văn chương thờ cúng của dân tộc Di vùng hồ Tào mà ta đã có

cơ hội may mắn tiếp xúc khi được một người ca sĩ thuộc dân tộc này dẫn vào trong núi

để tiếp xúc trực tiếp với không gian văn hóa, tín ngưỡng của con người nơi đây Vàqua khoảng thời gian sống cùng, cảm nhận không gian văn hóa, tâm linh của người tộc

Di từ đời sống sinh hoạt, tế lễ đến những câu ca, lời hát phục vụ trực tiếp cho nghi lễ,tác giả đã mở rộng không gian tâm linh đến những khu vực khác để thấy rằng dẫu cóthể khác nhau về địa bàn sinh sống thì họ vẫn có sự giao thoa văn hóa, tâm hồn

Hay đó là những bà đồng, bà cốt ta đã gặp, nàng đã dẫn ta đi hoặc mi và nàngbắt gặp điện thờ của bà ta trong căn nhà bà ta cho hai người trọ lại trên đường kiếm

tìm Linh sơn Hoặc rộng hơn là phong tục, văn hóa của đời sống tâm linh trong cách người ta thờ thần lửa, thần nước, thờ mộc thần, sơn thần hoặc cách người thầy cúng

già muốn lưu truyền, nhắn gửi tới hậu thế qua những lời rút ruột rút gan trước lúc ônglâm chung về việc gìn giữ tục thờ cúng tổ tiên thời hiện đại

Đúng như Cao Hành Kiện từng nói “văn hóa Trung Quốc đã chan hòa trong dòngmáu của tôi” [18, tr 689], ông đã luôn giữ bóng hình một Trung Hoa với lớp trầm tích vănhóa truyền thống đậm đặc như gìn giữ một Trung Quốc – cố quốc của riêng ông Bónghình đó kéo dài từ không gian diễn xướng dân gian đến những câu chuyện thần thoại đếnkhông gian văn hóa, tâm linh qua hệ thống tôn giáo, tư tưởng, tín ngưỡng Để rồi quanhững câu chuyện tôn giáo, tín ngưỡng, tác giả gợi tới đời sống con người hiện đại, quahuyền thoại tác giả đề cập về hiện thực, mở rộng trường liên tưởng của bạn đọc về giá trịnhân sinh của con người trên bước đường kiếm tìm cái tôi,

Trang 39

về mối quan hệ giữa tôn giáo, đạo và cuộc đời, giữa huyền thoại với giải huyền thoại.

“Cho nên Đức Phật dạy mọi hình ảnh đều giả, không hình ảnh cũng giả.” [16, tr 170]

Đây cũng là điểm chung trong sáng tác của Cao Hành Kiện với những tác giảhải ngoại khác Dù xa rời tổ quốc nhưng họ vẫn mãi giữ hình ảnh một cố hương với tất

cả lớp trầm tích văn hóa đặc trưng, tươi đẹp Quả thực, với những con người lưu vong

xa xứ thứ cho họ bấu víu để giữ gìn bản thân căn tính, cội rễ không gì hơn là văn hóa,

mà văn hóa hiểu theo nghĩa rộng nhất thì tôn giáo, tín ngưỡng chính là phần nuôidưỡng tâm hồn để hồn người tìm về nơi bình yên, thanh tịnh, cổ xưa

2.1.3 Lớp trầm tích phong tục tập quán

Cùng với đặc trưng trong văn hóa diễn xướng những câu chuyện dân gian đậmchất huyền thoại và văn hóa tôn giáo tâm linh của mỗi dân tộc ở từng vùng miền, văn

hóa cổ truyền Trung Hoa ở Linh sơn còn được thể hiện trong phương diện phong tục

tập quán của từng tộc người, của từng nhóm cộng đồng xã hội Để độc giả thấy rằng cốquốc trong ký ức của Cao tiên sinh đâu chỉ là Bắc Kinh phồn hoa hay Thượng Hải hoa

lệ, Trung Quốc trước hết là lớp trầm tích văn hóa xưa cổ thể hiện ở nếp sinh hoạt, tậpquán từng mảnh đất Càng đi sâu vào Trung Hoa đại lục, càng đến miền thâm sơn cùngcốc, càng tiếp xúc với những nhóm người, cộng đồng người mang tính đặc thù thìnhững nếp sinh hoạt đã tạo thành phong tục đó lại càng thêm rõ nét Phong tục là đặctrưng vùng miền và tất cả hợp lại tạo thành màu sắc đa dạng văn hóa cho một đất nước

có diện tích trải dài qua nhiều địa hình như Trung Hoa

Đó trước hết là phong tục riêng của những con người miền sơn cước Họ sốnghàng năm trong núi sâu, nơi có khí hậu khắc nghiệt, cũng vì thế họ hình thành lên các tậptục trong sinh hoạt để có thể thích ứng với khí hậu, tồn tại truyền đời từ năm này sang nămkhác Và miền sơn cước cũng là nơi sinh sống của những người dân tộc thiểu số sống nhưtách biệt với thế giới phồn hoa đô hội Họ không chỉ gìn giữ, lưu truyền

Trang 40

kho tàng văn học, tín ngưỡng dân gian mà còn lưu dấu những tập tục đặc sắc của conngười miền núi Như người dân tộc Mèo với lễ hội đua thuyền ở Thi Động và đặc biệt

là những đêm tình, trai gái người Mèo hát tình ca rồi họ tìm đôi, kết cặp giữa ánh lửabập bùng, tiếng hát văng vẳng vang xa “Tiếng khèn cất lên Cùng lúc, trong các lùmcây ở bờ sông, sau mỗi chiếc dù, các đôi nép vào nhau, ôm ấp, nằm ra giữa trời đất đểđắm chìm vào thế giới của mình Thế giới ấy, như một truyền kỳ cổ xưa, quá là xa vờivới thế giới của chúng ta.” [16, tr 247] Thậm chí ngay trong câu chuyện trên đường

tới Linh sơn của mi, bóng hình người đàn bà cài hoa đỏ cũng mang đậm màu sắc một

người sơn nữ dân tộc với nét đẹp hoang dại song cũng đầy sinh động, tinh tế Mà quahình ảnh ấy, độc giả phần nào hình dung được không chỉ dáng vẻ mà còn là phong tụctrong khía cạnh trang phục của một cô gái, phụ nữ người dân tộc thiểu số Trung Hoa

Tuy vậy, Linh sơn đâu chỉ có núi, đâu chỉ có mịt mù mây ngàn, đâu chỉ có dốc

đá cheo leo làm nản lòng người lữ khách và hành trình đi sâu vào lòng đại lục Trung

Quốc đâu chỉ là tới những làng bản nằm cao trên núi sâu Linh sơn còn là sông, là đầm

lầy, là sóng nước mênh mang, là những bờ vực nước cuộn xiết Bởi vậy, trang văn củaCao Hành Kiện ngoài việc thể hiện phong tục tập quán vùng sơn cước còn là phongtục tập quán vùng đầm lầy, sông nước Trung Hoa

Bên cạnh đấy, không thể không kể đến các vùng đất với những cộng đồng

người hết sức đặc thù xuất hiện trong Linh sơn Họ không phải là người dân tộc thiểu

số nhưng lại như sống biệt lập với thế giới bên ngoài Họ có nếp sinh hoạt và tạo lênphong tục riêng ngay trong chính cộng đồng hẹp của họ Đó là những người sống trongcác khu bảo tồn tự nhiên, những khu tưởng niệm, bảo tàng Vì thế tại mỗi phân khu, họlại có cách sống hòa mình vào tự nhiên, lại có cách bảo vệ riêng hay nảy sinh cảm tìnhriêng với loài động vật hoặc cảnh sắc mà họ gắn bó Như đời sống của con người nơikhu bảo tồn gấu trúc: “Ở trại, họ không có báo, không nghe phát thanh [ ] cái thế giới

ồn ã, quá xa vời với họ, đã ở lại trong thành phố” [16, tr 47]

Ngày đăng: 10/02/2021, 13:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lâm Nhựt Anh (2012), Linh sơn và quan niệm về tiểu thuyết của Cao Hành Kiện, Luận văn Thạc sĩ Đại học Sƣ phạm THPCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Linh sơn và quan niệm về tiểu thuyết của Cao Hành Kiện
Tác giả: Lâm Nhựt Anh
Năm: 2012
2. Lại Nguyên Ân (2017), 150 thuật ngữ văn học, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2017
3. Lê Huy Bắc (2019), Ký hiệu và Liên ký hiệu, NXB Tổng hợp TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký hiệu và Liên ký hiệu
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: NXB Tổng hợp TPHCM
Năm: 2019
4. Lê Huy Bắc (2019), Văn học hậu hiện đại, NXB Tổng hợp TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: NXB Tổng hợp TPHCM
Năm: 2019
5. Lê Huy Bắc (2019), Văn học hậu hiện đại, lý thuyết và tiếp nhận, NXB Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại, lý thuyết và tiếp nhận
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: NXB Đại họcSƣ phạm
Năm: 2019
6. Samuel Beckett (2006), Chờ đợi Godo, NXB Sân khấu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chờ đợi Godo
Tác giả: Samuel Beckett
Nhà XB: NXB Sân khấu
Năm: 2006
7. Nguyễn Công Cảnh (2013), Dịch chuyển không gian trong tiểu thuyết Linh sơn của Cao Hành Kiên, Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch chuyển không gian trong tiểu thuyết Linh sơn của Cao Hành Kiên
Tác giả: Nguyễn Công Cảnh
Năm: 2013
9. Nguyễn Văn Dân (2013), Chủ nghĩa hiện đại trong văn học nghệ thuật, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện đại trong văn học nghệ thuật
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2013
10. Nguyễn Văn Dân (2012), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2012
12. Trương Thị Hiền (2020), Giáo trình Xã hội học đại cương, NXB Tổng hợp TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Xã hội học đại cương
Tác giả: Trương Thị Hiền
Nhà XB: NXB Tổng hợpTPHCM
Năm: 2020
13. Kazuo Ishiguro (Lan Young dịch, 2019), Cảnh đổi mờ xám, NXB Văn học & Công ty sách & cổ phần truyền thông Nhã Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảnh đổi mờ xám
Nhà XB: NXB Văn học & Công ty sách & cổ phần truyền thông Nhã Nam
14. Cao Hành Kiện (Hồ Quang Du dịch, 2003), Linh sơn, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Linh sơn
Nhà XB: NXB Văn học
15. Cao Hành Kiện (Hồ Quang Du dịch, 2007), Thánh kinh của một con người, NXB Văn học & NXB Từ điển Bách Khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thánh kinh của một con người
Nhà XB: NXB Văn học & NXB Từ điển Bách Khoa
16. Cao Hành Kiện (Trần Đĩnh dịch, 2018), Linh sơn, NXB Phụ nữ & Công ty Phanbook Sách, tạp chí
Tiêu đề: Linh sơn
Nhà XB: NXB Phụ nữ & Công ty Phanbook
17. Cao Hành Kiện (Ông Văn Tùng dịch, 2003), Linh sơn, NXB Văn nghệ TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Linh sơn
Nhà XB: NXB Văn nghệ TPHCM
18. Cao Hành Kiện (Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây tổ chức tuyển chọn và biên soạn, 2006), Tuyển tập tác phẩm, NXB Công an Nhân dân & Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tác phẩm
Nhà XB: NXB Công an Nhân dân & Trung tâm Vănhóa Ngôn ngữ Đông Tây
19. Phạm Kim Khánh (2011), Phần 2: Ái dục là gì?, Con đường cũ xa xưa (Bát chánh đạo), website Hoa Vô Ƣu, https://hoavouu.com/a6865/ai-duc-la-gi?fbclid=IwAR0Mg9uQZBdRIC5o- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phần 2: Ái dục là gì?, Con đường cũ xa xưa (Bát chánhđạo)
Tác giả: Phạm Kim Khánh
Năm: 2011
20. Thụy Khuê (2015), Phê bình văn học thế kỷ XX, NXB Hội Nhà văn & Công ty sách& cổ phần truyền thông Nhã Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học thế kỷ XX
Tác giả: Thụy Khuê
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn & Công ty sách& cổ phần truyền thông Nhã Nam
Năm: 2015
22. Phạm Gia Lâm (2013), Tương tác văn hóa trong sáng tác của Vladimir Nabokov, Tạp chí Nghiên cứu văn học (số 12), tr. 91-102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu văn học
Tác giả: Phạm Gia Lâm
Năm: 2013
23. Phạm Gia Lâm (2015), Văn học Nga hải ngoại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Nga hải ngoại
Tác giả: Phạm Gia Lâm
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2015

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w