ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN ---HỒ VĂN TRÃI CÔNG CHÖNG ĐBSCL VỚI CHƯƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ TRÊN SÓNG PHÁT THANH CỦA CÁC ĐÀI PT-TH ĐỊA PHƯƠNG LUẬN VĂN THẠ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
-HỒ VĂN TRÃI
CÔNG CHÖNG ĐBSCL VỚI CHƯƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ TRÊN SÓNG PHÁT THANH CỦA CÁC ĐÀI PT-TH ĐỊA PHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Vĩnh Long - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
-HỒ VĂN TRÃI
CÔNG CHÖNG ĐBSCL VỚI CHƯƠNG
TRÌNH VĂN NGHỆ TRÊN SÓNG PHÁT
THANH CỦA CÁC ĐÀI PT-TH ĐỊA PHƯƠNG
Chuyên ngành: Báo chí học định hướng ứng dụng
Mã số : 8320101.01(UD)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Chủ tịch Hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ khoa học
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Đặng Thị Thu Hương TS Trần Thị Tri
Vĩnh Long - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn“Công chúng ĐBSCL với chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-TH địa phương” là công trình
nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn tận tình, trách nhiệm của TS TrầnThị Tri, các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, những kết luận của luậnvăn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác, các thông tintrích dẫn trong luận văn đã được trích dẫn rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu trách nhiệm đối với luận văn của mình
Tác giả luận văn
Hồ Văn Trãi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới TS Trần Thị Tri,giảng viên hướng dẫn luận văn đã tận tình định hướng, chỉ dẫn, giúp đỡ tôihoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tập thể các thầy cô giáo Khoa Báo Truyền thông, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học QGHN; cùng các thầy
chí-cô giáo đã tham gia giảng dạy trong suốt thời gian khóa học cao học, để giúptôi có được kiến thức, kinh nghiệm thực hiện đề tài này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến lãnh đạo các Đài PT-THVĩnh Long, Kiên Giang và Bạc Liêu, các anh, chị BTV và các bạn đồngnghiệp cũng như công chúng đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi hoànthành luận văn này
Tác giả luận văn
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN
QUAN TỚI CÔNG CHÖNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT
Chương 2: KHẢO SÁT CÔNG CHÚNG ĐBSCL VỚI
CHƯƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ TRÊN SÓNG PHÁT THANH
2.1 Giới thiệu về các Đài trong diện khảo sát 422.2 Nội dung và hình thức thể hiện các chương trình văn nghệ
Trang 62.3 Đánh giá của công chúng phát thanh về các chương trình
2.4 Thành công, hạn chế của chương trình PTVN 70
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM THU
HÚT, PHÁT TRIỂN CÔNG CHÚNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH
VĂN NGHỆ TRÊN SÓNG PHÁT THANH CỦA CÁC ĐÀI
3.1 Các vấn đề đặt ra đối với việc thu hút, phát triển công chúng 863.2 Các giải pháp để thu hút và mở rộng các đối tượng phục vụ
Trang 7Đài Tiếng nói Việt Nam
Đồng Bằng Sông Cửu Long
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.2: Phương tiện nghe Đài của công chúng ĐBSCL 52
Bảng 2.21: Yêu cầu, mong muốn đối với chương trình văn nghệ 68
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phát thanh là một trong những phương tiện truyền thông năng động, cótính tương tác cao, thiết thực, gần gũi với cuộc sống, không chỉ cung cấpthông tin, mà còn là kênh văn hóa giải trí phục vụ rộng rãi công chúng. Ngườilàm báo phát thanh ngày nay rất quan tâm đến những thói quen và sở thíchcủa từng nhóm công chúng nghe Đài, không ngừng cải tiến về hình thức đểcác chương trình phát thanh ngày càng gần gũi hơn với thính giả, phù hợp vớitừng đối tượng nghe Đài, đáp ứng thị hiếu ở từng độ tuổi
Từ thực tế trong đời sống hiện đại con người vốn bận rộn và căng thẳngthì các chương trình văn nghệ ngày càng được quan tâm, có vị thế quan trọng,trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa, tinh thần của conngười Văn nghệ còn là một hình thức để phản ánh hiện thực đời sống xã hội,
tư tưởng, tình cảm của con người đối với môi trường xã hội Nếu như báotruyền hình mạnh về các chương trình vui chơi, giao lưu; báo in mạnh vềtruyện cười, câu đố vui, tranh biếm họa thì báo phát thanh có thế mạnh trongviệc đem lời thoại và âm nhạc đến với con người, mang lại sự thư giãn, đẩylùi căng thẳng, tái tạo sức lao động, làm giàu đời sống tinh thần của côngchúng
Trong nhiều năm qua, đời sống văn hóa, văn nghệ ĐBSCL có nhiềukhởi sắc Người dân đã có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận, tham gia và thưởngthức các loại hình văn học nghệ thuật, vui chơi giải trí thông qua nhiều hìnhthức, trong đó có các chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh Với tư cách
là một kênh thông tin văn hóa, giải trí lành mạnh, trong thời gian qua, sóngphát thanh của các Đài PT-TH trong khu vực đã mang đến công chúngĐBSCL nhiều món ăn tinh thần bổ ích, đa dạng, phong phú về nội dung và
Trang 10hình thức thể hiện Công chúng có nhiều cơ hội tham gia các chương trình âmnhạc tương tác trực tiếp như: Quà tặng âm nhạc, Ca cổ theo yêu cầu, Tiểuphẩm, Câu chuyện truyền thanh, Đọc truyện đêm khuya, ĐCTT, Sân khấu cảilương… mang nhiều sắc thái riêng, đáp ứng đời sống tinh thần, nhu cầu giảitrí của đông đảo công chúng khu vực.
Cũng như một tờ báo hay một chương trình truyền hình, một chươngtrình phát thanh, để ra đời, trước hết phải dựa trên nhu cầu công chúng Việcthiết lập nội dung, hình thức, thời lượng, thời điểm phát sóng của chươngtrình phát thanh cũng đều cần phải căn cứ vào nhu cầu, mong muốn, đặcđiểm, sở thích của công chúng Mỗi chương trình phát thanh nhằm phục vụmột nhóm đối tượng thính giả nhất định Công chúng là yếu tố quyết định đốivới thành công của các chương trình Công chúng còn là người tiếp nhận vàđánh giá, thẩm định chất lượng của các chương trình phát thanh Công chúng
là yếu tố quyết định đối với thành công của các chương trình Tuy nhiên, tạikhu vực Tây Nam bộ chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về thói quen, sở thích,mối quan tâm của công chúng nghe Đài đối với các chương trình văn nghệtrên các Đài địa phương Các chương trình PTVN được sản xuất hầu hết chưadựa trên nghiên cứu công chúng nên chưa thật sự đáp ứng được nhu cầu,nguyện vọng cũng như những nhận xét, đánh giá của công chúng về chấtlượng nội dung và hình thức thể hiện Đặc biệt, công chúng hiện nay đượctiếp cận nhiều nội dung văn nghệ tràn ngập trên không gian mạng và các hoạtđộng văn nghệ, giải trí trên thực tế cũng diễn ra với tần suất lớn, họ có nhiều
sự lựa chọn cùng với các thiết bị nghe nhìn hiện đại Cùng với đó là sự pháttriển nhanh như vũ bão về công nghệ và sự cạnh tranh để thu hút công chúnggiữa các loại hình báo chí, những tác phẩm PTVN sản xuất theo truyền thốngkhông còn thu hút sự theo dõi và tham gia của người nghe Thực tế này đòihỏi chương trình PTVN cần xác định đối tượng công chúng và mục đích của
Trang 11chương trình để từ đó định hướng những công việc phải làm, sản xuất ranhững chương trình văn nghệ thu hút đông đảo thính giả, đi vào lòng ngườinghe Vì vậy việc nghiên cứu công chúng và những giải pháp phát triển, thuhút công chúng đang là một vấn đề cấp bách để làm căn cứ, hoạch định hoạtđộng của các chương trình PTVN trên nguyên tắc xác định rõ công chúng củamình là ai, họ mong muốn gì, hy vọng gì và chờ đợi điều gì từ phía các ĐàiPT-TH Từ đó có phương án, kế hoạch, phục vụ công chúng của mình mộtcách hữu hiệu nhất.
Xuất phát từ thực tế trên tôi chọn đề tài “Công chúng ĐBSCL với chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-TH địa phương”
làm luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
* Nhóm các công trình nghiên cứu về công chúng báo chí
- Năm 1998, Trần Hữu Quang tiến hành bảo vệ Luận án Tiến sĩ Xã hội
học "Truyền thông đại chúng và công chúng - trường hợp thành phố Hồ Chí
Minh” Luận án là công trình mang tính đại diện và nghiên cứu công chúng
truyền thông, mức độ và cách thức tiếp cận các phương tiện truyền thông đạichúng của người dân thành phố Hồ Chí Minh, phân tích tương quan giữa đọcbáo, xem truyền hình và nghe Đài phát thanh, "các trục nội dung thường đượctheo dõi", "các mô thức tiếp nhận truyền thông đại chúng", "sự tác động củamột số nhân tố", những luận giải khoa học từ kết quả điều tra xã hội học
- Ở công trình “Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” năm 2006,
tác giả Nguyễn Văn Dững chủ biên, với phương pháp tiếp cận hệ thống, các tác giả
đề cập vấn đề nghiên cứu công chúng - nhóm đối tượng trong mối quan hệ mộtchu trình truyền thông, phân tích nội dung của nghiên cứu ban
đầu về công chúng, gồm ba bình diện, các bước tiến hành và phương pháp nghiên cứu
Trang 12- Năm 2008, Trần Bá Dung đã bảo vệ Luận án Tiến sĩ với đề tài “Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội” Luận văn mô tả nhu
cầu và mô thức tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội, đồng thời,chỉ ra những nhân tố tác động, ảnh hưởng đến nhu cầu tiếp nhận này.Trên cơ
sở kết quả nghiên cứu, luận án dự báo một số xu hướng vận động của nhu cầu
và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động báo chí
- Bàn luận về công chúng báo chí - truyền thông trên bình diện lýthuyết xã hội học công chúng, tác giả Mai Quỳnh Nam có nhiều bài viết về lý luận
và tác động của truyền thông đại chúng đối với đời sống xã hội Cụ thể là các bài
nghiên cứu: “Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội” - Tạp chí Xã hội học số 1 năm 1996, “Về đặc điểm và tính chất của giao tiếp đại chúng” - Tạp chí Xã hội học số 2 năm 2000, “Về vấn đề nghiên cứu hiệu quả của
truyền thông đại chúng” - Tạp chí Xã hội học số 4 năm 2001, “Xã hội hóa và truyền thông đại chúng” - Tạp chí nghiên cứu con người số 6 năm 2010.
* Nhóm công trình nghiên cứu về phát thanh và công chúng phát thanh:
- Sách chuyên luận “Nghề báo nói” của tác giả Nguyễn Đình Lương do
Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin ấn hành năm 1993 Nội dung sách gồm bảyphần, trong đó đã đề cập một cách tổng quát về đặc trưng, phương pháp, thểtài và những vấn đề thuộc về nguyên lý, kỹ năng và quy trình nghề báo phátthanh; phát thanh với thính giả v.v
- Giáo trình “Báo chí phát thanh” do 13 tác giả ở Phân viện Báo chí và
Tuyên truyền và Đài TNVN viết (Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin ấn hành
năm 2002) có tổng cộng 20 chương, đề cập một cách khá toàn diện về những vấn đề của phát thanh Việt Nam hiện đại
- Sách “Lý luận báo phát thanh” của Đức Dũng (Nhà xuất bản Văn hoá
- Thông tin ấn hành năm 2003) gồm 9 chương, trong đó đề cập đến những vấn
đề của đặc trưng loại hình và các thể loại báo phát thanh
Trang 13- Cuốn Báo phát thanh -lý thuyết và kỹ năng cơ bản của TS Đinh Thị
Thu Hằng bàn về phương thức sản xuất chương trình phát thanh trực tiếptrong tương quan so sánh với phương thức sản xuất chương trình phát thanhtruyền thống, đồng thời chỉ ra những yêu cầu của phương thức này
- Cuộc điều tra xã hội học của Đài TNVN và Ban Tư tưởng- Văn hoáTrung ương (2001), tiến hành trên 30 tỉnh, thành phố trong cả nước, cho thấy, mức
độ, cách thức nghe Đài của thính giả, thay đổi theo giới tính, độ tuổi, mức sống,nơi sống, học vấn Tại mỗi tỉnh, thành phố điều tra những lý do thính giả khôngnghe Đài, những đánh giá chất lượng, nguyện vọng và đề
xuất của thính giả
- Sách“Phương pháp điều tra thính giả” năm 2003 của Đài TNVN tập
hợp một số chuyên luận của Nguyễn Đình Lương, Nguyễn Văn Dững, DươngXuân Sơn, Phạm Chiến Khu vừa nêu rõ vai trò của điều tra dư luận xã hội,
dư luận thính giả, vừa đề cập một số vấn đề về công chúng, lý luận về phươngpháp và ngôn ngữ điều tra thính giả
- Sách “Báo Phát thanh” năm 2002 và sách “Công chúng phát thanh”
của tác giả Nguyễn Văn Dững có định nghĩa khái niệm công chúng, các loạicông chúng báo chí, vai trò công chúng, các nội dung và phương pháp nghiêncứu công chúng
* Nhóm các công trình nghiên cứu về văn hóa- văn nghệ ĐBSCL:
- Sách “Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ”do Trần Ngọc Thêm
chủ biên năm 2013, NXB Văn hóa- Văn nghệ;
- Sách “Văn minh miệt vườn” của nhà văn Sơn Nam, 1992, NXB Văn học; Sách “Đồng Bằng Sông Cửu Long – Nét sinh hoạt xưa và Văn minh miệt vườn” của Sơn Nam, 1998, NXB Trẻ;
- Sách “ĐBSCL qua vài nét văn hóa miệt vườn” của tác giả Nguyễn
Văn Trần, 2000, NXB Văn hóa- Văn nghệ;
Trang 14- Công trình nghiên cứu “Dân ca Cửu Long” của các tác giả Lư Nhất
Vũ- Nguyễn Văn Hòa- Lê Giang- Thạch An, Sở VHTT Cửu Long ấn hànhnăm 1986;
- Sách “Ca nhạc cổ truyền”, Lê Văn Ngưu biên soạn, NXB Văn nghệ
TPHCM, 1995;
Các sách và công trình trên nghiên cứu một cách toàn diện về ĐBSCLqua nét sinh hoạt truyền thống và nền văn minh sông nước, những giá trị vănhóa tinh thần của một bộ phận người đã tạo nên diện mạo của một vùng đấtnày; Các giải pháp khắc phục thực trạng đời sống văn hóa, văn nghệ tronghiện tại, từng bước củng cố, xây dựng chiến lược phát triển con người trên cơ
- Luận văn thạc sĩ của Trần Hoàng Kiệm chuyên ngành báo chí học,
Học viện Báo chí tuyên truyền Hà Nội (2015), “Đổi mới phương thức sản xuất chương trình phát thanh trực tiếp của Đài Phát thanh -Truyền hình Vĩnh
Long hiện nay” Trên cơ sở phân tích, đánh giá khách quan, luận văn khảo sát
một cách có hệ thống về phương thức sản xuất chương trình phát thanh trựctiếp của Đài PT-TH Vĩnh Long
- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Minh Diễm chuyên ngành báo chí
học, Học viện Báo chí tuyên truyền Hà Nội (2009),“Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh cấp tỉnh khu vực Bắc Sông Hậu, ĐBSCL” Đây là đề
tài khảo sát một cách có hệ thống về chất lượng các chương trình phát thanhcấp tỉnh khu vực Bắc Sông Hậu, ĐBSCL, là bức tranh thực tế sinh động vềcác chương trình phát thanh Đài tỉnh Bắc Sông Hậu có thể tạo ra những so
Trang 15sánh cần thiết cho các Đài ở khu vực này có cơ sở tham khảo, đối chiếu và vận dụng để nâng cao chất lượng chương trình của mình.
- Luận văn thạc sĩ báo chí học của Bùi Trọng Điển, Học viện Báo chí
và tuyên truyền (2015), “Nghiên cứu nâng cao đặc trưng văn hóa miệt vườn
sông nước Cửu Long trong các chương trình phát thanh của cơ quan thường trú khu vực ĐBSCL” Luận văn đã chỉ rõ những nét đặc trưng cơ bản của văn
hóa miệt
vườn sông nước Cửu Long để xây dựng các sản phẩm phát thanh, chươngtrình phát thanh tương thích, phù hợp hơn với văn hóa đặc trưng của ngườidân Nam Bộ của cơ quan thường trú khu vực ĐBSCL nói riêng và Đài TNVNnói chung
Các tài liệu, công trình nghiên cứu được tác giả luận văn tham khảo đãnêu ra những vấn đề nghiên cứu công chúng trong mối quan hệ một chu trìnhtruyền thông, đi sâu phân tích, tìm hiểu về đặc điểm, nhu cầu, mối quan hệ,thói quen, cách thức tiếp cận thông tin của công chúng đối với báo chí và đềxuất giải pháp nâng cao chất lượng chương trình, đáp ứng nhu cầu xem truyềnhình, nghe phát thanh và đọc báo của công chúng Tuy nhiên, hiện chưa cócông trình nào nghiên cứu về công chúng ĐBSCL với chương trình văn nghệtrên sóng phát thanh, đây vẫn còn là một đề tài đang bỏ ngỏ Do đó, bản thânnhận thấy cần phải tiến hành nghiên cứu, khảo sát mức độ thưởng thức, khảnăng đáp ứng và quá trình tham gia, phản hồi của công chúng đối với cácchương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-TH khu vựcĐBSCL Từ kết quả trên, luận văn sẽ nhận diện được công chúng của chươngtrình, từ đó góp phần vào việc nâng cao hiệu quả phát sóng các chương trìnhvăn nghệ phục vụ tốt hơn nhu cầu công chúng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 16Trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến côngchúng, vai trò, đặc điểm, cách thức tìm hiểu về thói quen, nhu cầu, sở thích,cách thức tiếp cận công chúng và thu hút công chúng, luận văn tiến hành khảosát công chúng các chương trình PTVN ở ĐBSCL để từ đó đề xuất những giảipháp, kiến nghị mang tính khả thi cho việc đổi mới, nâng cao chất lượngchương trình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thưởng thức văn nghệ và pháttriển, mở rộng công chúng văn nghệ ở khu vực ĐBSCL.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, tác giả luận văn thực hiện một số nhiệm
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút, phát triển côngchúng với các chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-THđịa phương khu vực Tây Nam bộ
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là công chúng ĐBSCL, các chương trình vănnghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-TH địa phương
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu là các nhóm công chúng ĐBSCL đang sinh sống
và làm việc tại khu vực thành thị và nông thôn các tỉnh trong diện khảo sát;Các chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh được nhiều người yêu thíchcủa các Đài PT-TH Vĩnh Long, Kiên Giang và Bạc Liêu (Quà tặng âm nhạc,
Trang 17ca cổ theo yêu cầu, Đờn ca tài tử Nam bộ, Câu lạc bộ sân khấu, Câu chuyện truyền thanh, Đọc truyện đêm khuya).
Thời gian khảo sát từ tháng 06 đến 12/2019
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tiến hành thực hiện luận văn sẽ sử dụng tổng hợp cácphương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích, khảo sát tài liệu: được sử dụng đểtiếp cận các giáo trình và các sách chuyên khảo, các tài liệu, các công trìnhnghiên cứu có liên quan đến đề tài và một số tài liệu liên quan đến báo chíphát thanh, từ đó rút ra những vấn đề lý luận cần thiết
- Phương pháp điều tra bằng bằng hỏi: được thực hiện với 300 phiếuphát đến thính giả chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh ở một số địaphương ĐBSCL thuộc 3 tỉnh Vĩnh Long, Kiên Giang và Bạc Liêu nhằm thuthập, phân tích một cách có định lượng ý kiến của thính giả thuộc các tầng lớpnhân dân đối với chương trình PTVN
- Phương pháp PV sâu: tác giả PV 9 đối tượng là lãnh đạo các Đài
PT-TH, lãnh đạo phòng phát thanh (văn nghệ - giải trí) và các BTV văn nghệ,nhằm thu thập tìm hiểu sâu về các biện pháp để thu hút công chúng văn nghệ;Việc đổi mới nội dung, hình thức chương trình PTVN; Làm thế nào để thỏamãn nhu cầu công chúng; Quan điểm của họ về sức hấp dẫn của chương trìnhvăn nghệ trên sóng phát thanh trong sự cạnh tranh ở lĩnh vực nghe nhìn; Nhậnxét về tầm quan trọng của ý kiến công chúng trong việc đổi mới chương trìnhPTVN
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn làm sâu sắc thêm mảng lý luận về công chúng văn nghệ phátthanh và góp phần bổ sung, làm phong phú hơn những luận điểm khoa học
Trang 18cho hệ thống lý luận báo chí truyền thông ở Việt Nam, đặc biệt là các nghiêncứu về công chúng truyền thông mang tính chất vùng miền với đặc trưng tâm
lý, văn hóa riêng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đem lại cái nhìn khách quan, chân thực về công chúng cácchương trình PTVN ở ĐBSCL để từ đó có những điều chỉnh thích hợp về chấtlượng nội dung và hình thức chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh củacác Đài PT-TH khu vực ĐBSCL Với những cứ liệu thực tế phong phú, luậnvăn có thể cung cấp các dữ liệu cần thiết cho cơ quan quản lý báo chí, BanGiám đốc, BBT các Đài có thêm cơ sở khoa học để đầu tư đúng mức chochương trình văn nghệ thực hiện trên sóng phát thanh Các nhà báo có thểtham khảo để nhìn nhận sâu hơn về thực trạng công chúng ĐBSCL và cácchương trình văn nghệ đồng thời tiếp cận cách đổi mới, nâng cao chất lượngchương trình phù hợp cho báo phát thanh trong thời gian tới Việc nghiên cứu
đề tài này cũng là cơ hội để tác giả luận văn có thể nâng cao kiến thức sauthời gian học cao học Báo chí tại Trường Đại học KHXHNV Hà Nội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungluận văn có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan tới công chúngcủa các chương trình phát thanh văn nghệ
Chương 2 Khảo sát công chúng ĐBSCL với chương trình văn nghệtrên sóng phát thanh của các Đài PT-TH địa phương
Chương 3 Một số giải pháp, kiến nghị nhằm thu hút, phát triển côngchúng với các chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-THđịa phương khu vực Tây Nam bộ
Trang 19Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN TỚI CÔNG CHÚNG CỦA CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH
Trong truyền thông: “Công chúng nói chung có thể được hiểu là những người tiếp nhận và được các sản phẩm báo chí tác động, hoặc hướng vào để tác động” [13, tr.397].
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững tác giả quyển Báo chí và Dư luận xã hội (2012) thì: Công chúng là đông đảo người trong mối quan hệ với “người diễn thuyết”, người biễu diễn, với tác giả, tác phẩm báo chí” [13, tr.398].
Còn trong quyển Cơ sở lý luận báo chí (NXB Lao động 2015), tác giả Nguyễn Văn Dững cho rằng: “Công chúng là quần thể cư dân hay nhóm đối tượng trực tiếp hay gián tiếp tiếp nhận thông tin hoặc chịu ảnh hưởng từ tác động của thông tin báo chí” [12, tr.57].
1.1.1.2 Công chúng báo chí
Tác giả Mai Quỳnh Nam đưa ra khái niệm về công chúng báo chí như
sau: “Công chúng báo chí thuộc mọi tầng lớp xã hội, tuổi tác, giới tính, trình
Trang 20độ học vấn Nói đến công chúng của truyền thông đại chúng là nói đến cá nhân nặc danh Khi hướng đến đại chúng, báo chí không thể biết cụ thể ai là
ai, điều đó có nghĩa là truyền thông đại chúng có thể đến với bất kỳ ai, không riêng một cá nhân nào”.
PGS.TS Nguyễn Văn Dững trong quyển Cơ sở Lý luận Báo chí (Nhà xuất bản Lao động 2012) cho rằng: “Công chúng báo chí là quần thể dân cư hay nhóm đối tượng mà báo chí hướng tác động của mình vào để cung cấp, trao đổi và chia sẻ thông tin, thuyết phục gây ảnh hưởng có thể làm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của họ theo mục đích thông tin nhất định Vế khía cạnh kinh tế, công chúng báo chí là khách hàng của báo chí; trên khía cạnh
xã hội, là lực lượng quan trọng, quyết định vai trò, vị thế xã hội của cơ quan báo chí”[14, tr.35].
Còn tác giả Trần Bá Dung trong nghiên cứu Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội nêu: “Công chúng báo chí là nhóm lớn dân cư, không đồng nhất trong xã hội, được báo chí hướng vào để tác động hoặc chịu ảnh hưởng tác động của báo chí và có tác động trở lại, giám sát, đánh giá, quyết định hiệu quả hoạt động của cơ quan báo chí”[6, tr.78].
Từ những góc nhìn trên cho thấy, công chúng báo chí truyền thông làmột thực thể rất phức tạp Công chúng báo chí là khái niệm dùng để chỉnhững người tiếp nhận sản phẩm báo chí Công chúng báo chí được xem xéttrong mối quan hệ với tác phẩm báo chí, với cơ quan báo chí và với nhà báo.Việc nghiên cứu công chúng đòi hỏi phải có cái nhìn tổng hợp, toàn diện vàđặt đối tượng nghiên cứu trong môi trường văn hóa - xã hội cụ thể Bên cạnh
đó, tùy theo đặc điểm của mỗi loại hình báo chí mà có thể xác định nhữngkhác biệt của từng loại công chúng Chẳng hạn như với báo in, công chúng làbạn đọc (độc giả); với báo phát thanh, công chúng là người nghe
Trang 21(thính giả); với báo truyền hình, công chúng là người xem (khán giả); riêngbáo mạng điện tử (Internet) được xem là loại hình đa phương tiện.
1.1.2 Báo phát thanh và công chúng phát thanh
1.1.2.1 Báo phát thanh
Có nhiều khái niệm về báo phát thanh khác nhau, nhưng thông thườngnhất người ta dựa vào phương thức truyền thông tin và đặc điểm của loại hình
để đưa ra khái niệm về phát thanh
Theo TS Đinh Thị Thu Hằng tác giả quyển sách “ Báo phát thanh- Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” (Nhà xuất bản Chính trị- Hành chính, 2013) thì: Báo phát thanh là tờ báo bằng âm thanh (nhìn từ góc độ phương tiện chuyển tải); Phát thanh là tiếp nhận thông tin bằng tai (nhìn từ góc độ tiếp nhận); Phát thanh là sử dụng âm thanh để chuyển tải thông tin (nhìn từ góc độ sáng
tạo) [22, tr.31]
Theo Lois Baird, tác giả cuốn Hướng dẫn sản xuất chương trình phát thanh của Trường PT-TH điện ảnh Australia đã nêu ra và phân tích đặc tính sau đây của phát thanh: Radio là hình ảnh; Radio là thân mật riêng tư; Radio
dễ tiếp cận và dễ mang; Radio là trực tiếp; Radio có ngôn ngữ riêng của mình; Radio có tính tức thời; Radio không đắt tiền; Radio có tính lựa chọn; Radio gợi lên cảm xúc; Radio làm công việc thông tin giáo dục; Radio là âm nhạc [3, tr.13].
Còn hai tác giả Paul Chantler và Peter Stewart viết: “Radio là phương tiện truyền thông tốt nhất để kích thích trí tưởng tượng; Phát thanh là phương tiện truyền thông mang tính riêng tư”.
Trên cơ sở xem xét những cách hiểu khác nhau, có thể hiểu: Báo phátthanh là một loại hình báo chí sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thốngtruyền thanh, truyền đi ngôn ngữ âm thanh, trực tiếp tác động vào thính giáccủa đối tượng tiếp nhận
Trang 221.1.2.2 Chương trình phát thanh
TS Đinh Thị Thu Hằng tác giả cuốn “Báo phát thanh- Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” khái niệm về chương trình phát thanh như sau: “Chương trình phát thanh là một chỉnh thể trong đó các phần tin bài, âm nhạc, lời dẫn… được bố trí, sắp xếp một cách hợp lý trong một khoảng thời gian xác định nhằm đáp ứng nhiệm vụ của cơ quan truyền thông và mang lại hiệu quả ca nhất đối với người nghe”[22, tr.153].
Theo PGS TS Tạ Ngọc Tấn:“Chương trình phát thanh là sự tổ chức các tin tức, bài vở, tài liệu cùng các chất liệu khác trong phát thanh theo thời lượng nhất định, mục đích nhất quán và nhằm vào đối tượng công chúng cụ thể Thông thường một chương trình phát thanh mở đầu bằng nhạc hiệu và kết thúc bằng lời chào tạm biệt Ngay sau nhạc hiệu là lời xướng của phát thanh viên, chỉ ra tên hoặc đặc trưng của chương trình" [43, tr.92].
Trong thực tế, tùy theo tiêu chí phân loại, mỗi chương trình phát thanh
có đối tượng tác động riêng, có nội dung phản ánh cũng như phương thức
thực hiện riêng Thính giả dễ dàng phân biệt chương trình phát thanh Thanh niên với Câu lạc bộ những người cao tuổi, chương trình Thời sự với Diễn đàn các vấn đề xã hội Sự phân công và chuyên môn hóa trong quá trình lao
động tạo ra cho các chương trình phát thanh có sự phân định rõ ràng Quátrình tiếp nhận của công chúng gắn liền với các chương trình phát thanh.Người nghe có thể nắm bắt được thông tin thời sự một cách nhanh nhất quachương trình thời sự và họ chờ đợi những hướng dẫn cụ thể qua chương trìnhchuyên đề
Trong thực tế đang tồn tại nhiều cách phân dạng các chương trình phát
thanh, theo tác giả Tạ Ngọc Tấn: "Căn cứ vào đặc điểm nội dung, mục đích thông tin và đối tượng người ta chia chương trình phát thanh thành 4 loại
Trang 23chính: chương trình tin tức, thời sự tổng hợp; chương trình chuyên đề; chương trình giải trí và chương trình giáo dục”.[43, tr.118].
1.1.2.3 Công chúng phát thanh
Công chúng phát thanh còn gọi là thính giả hoặc bạn nghe Đài "Khái niệm công chúng, bạn đọc, bạn nghe và xem Đài nói chung được dùng để chỉ một nhóm lớn trong xã hội, nhưng thường ngày, người ta có thể dùng để chỉ
cụ thể một người hay một nhóm nhỏ nào đó" [36, tr.95].
Theo tác giả Nguyễn Đình Lương tác giả cuốn chuyên luận Nghề báo nói do Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin ấn hành năm 1993, thì: “Công chúng của phát thanh được gọi là thính giả hay người nghe Là những người, những nhóm người tiếp nhận thông tin từ Đài phát thanh, là đối tượng tác động của các chương trình phát thanh”[32, tr.40].
PGS.TS Nguyễn Đức Dũng cho rằng: “Công chúng phát thanh còn gọi
là thính giả, bạn nghe Đài, là những người tiếp nhận sản phẩm báo phát thanh”.
“Công chúng phát thanh được sử dụng ở đây là để chỉ người nghe radio nói chung trong xã hội, nhưng cũng có thể dùng để chỉ một người hay những nhóm nhỏ nào đó mà chương trình phát thanh hướng vào để tác động, lôi kéo, thuyết phục Các chương trình truyền thống trên sóng phát thanh vừa nhằm vào quảng đại quần chúng, đồng thời cũng nhằm tới những nhóm đối tượng cụ thể”[11, tr.60]
Các khái niệm trên đã chỉ rõ, công chúng phát thanh có thể được hiểu lànhóm lớn xã hội được chương trình phát thanh tác động, hoặc nhóm lớn màchương trình phát thanh hướng tới để tác động Có công chúng tiềm năng vàcông chúng thực tế, công chúng trực tiếp và công chúng gián tiếp Côngchúng tiềm năng là nhóm lớn xã hội mà chương trình nhắm vào, tác động lôikéo Nhưng trong thực tế, không phải tất cả các thành viên nhóm lớn xã hội
Trang 24mà chương trình nhắm vào đều tiếp nhận được các chương trình phát thanh.Hay nói cách khác, chỉ một phần trong nhóm lớn mà chương trình phát thanhhướng vào, tiếp nhận được sự tác động Bộ phận ấy gọi là công chúng thực tế.
Ở bình diện khác lại có công chúng trực tiếp và gián tiếp Công chúng trựctiếp là những người trực tiếp tiếp nhận các chương trình phát thanh Còn côngchúng gián tiếp là những người được công chúng trực tiếp kể lại những thôngđiệp mà họ tiếp nhận qua các chương trình phát thanh Do đó, các chươngtrình trên radio vừa nhắm vào những đối tượng cụ thể vừa nhắm vào quảngđại quần chúng Chương trình phát thanh phụ nữ nhằm vào nhóm công chúngphụ nữ, nhưng kể cả nam giới cũng không phải vô tình nghe được mà nghetheo sở thích và nhu cầu
Do vậy, công chúng phát thanh có thể được hiểu là nhóm lớn xã hộiđược chương trình phát thanh tác động, hoặc nhóm người mà phát thanhhướng vào để tác động Công chúng phát thanh là người đầu tiên quyết địnhviệc hình thành các chương trình phát thanh, một chương trình phát thanh rađời trước hết phải dựa trên nhu cầu của công chúng Việc thiết lập nội dung,hình thức, thời lượng, thời điểm phát sóng của chương trình phát thanh cũngđều căn cứ trên nhu cầu, mong muốn, đặc điểm, sở thích của công chúng Mỗichương trình phát thanh nhằm phục vụ một nhóm đối tượng thính giả nhấtđịnh Chương trình nào công chúng ấy và ngược lại công chúng nào chươngtrình ấy
Công chúng là một nguồn đề tài phong phú của các chương trình phátthanh Cuộc sống, tâm tư, tình cảm, nguyện vọng… của họ luôn là đều đượccác nhà báo, các chương trình phát thanh quan tâm phản ánh Trong cácchương trình giao lưu, tương tác công chúng còn tham gia với tư cách làkhách mời, là người nêu câu hỏi, là người lắng nghe trực tiếp và phản hồi Saumỗi chương trình phát sóng, những thông tin phản hồi từ thính giả có tác
Trang 25dụng điều chỉnh, gợi mở tiếp những cách thức mới, những nội dung mới chonhững người làm chương trình.
1.2 Một số vấn đề lý luận về công chúng phát thanh
Các phương tiện truyền thông ngày nay rất nhiều và ngày càng đa dạng,thuyết “sử dụng và hài lòng” giải quyết hai câu hỏi mà các nhà truyền thôngthường gặp: "Con người sử dụng phương tiện truyền thông nào?" và "Tại saocon người lại chọn phương tiện truyền thông đó?" Thuyết còn tìm hiểu vềcách người dùng chọn phương tiện truyền thông nào để thỏa mãn nhu cầu, cụthể hơn là để nâng cao kiến thức, thư giãn, tương tác xã hội, tìm sự đồnghành, đa dạng hóa hoặc trốn thoát Vì vậy, lý thuyết này đòi hỏi độ sẵn sàngcung cấp thông tin cao của các phương tiện truyền thông về data, đánh giá trảinghiệm, thời lượng sử dụng, thời điểm sử dụng, của khách hàng.Thuyết “sửdụng và hài lòng” cho rằng người dùng không bị động so với phương tiệntruyền thông mà ngược lại có quyền lực và chủ động về việc sử dụng chúng
và từ đó kết hợp chúng vào đời sống của họ Không giống như những lýthuyết khác, thuyết “sử dụng và hài lòng” cho rằng người dùng chịu tráchnhiệm chọn ra phương tiện truyền thông để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn
Trang 26của họ để đạt được sự hài lòng Thuyết này còn ngụ ý rằng các phương tiệntruyền thông đang cạnh tranh với các nguồn thông tin khác để mang đến sựhài lòng cho khách hàng.
1.2.2 Đặc điểm của công chúng phát thanh
1.2.2.1 Đặc điểm công chúng
Mỗi loại hình báo chí đều có những đặc điểm riêng biệt, chi phối tớicách tiếp nhận thông tin của công chúng và có ảnh hưởng nhất định tới tâm lýtiếp nhận của công chúng Cũng chính từ đặc điểm này mà hình thành nên cáclớp công chông chúng, các đối tượng công chúng khác nhau [22, tr.46]
Trong cuốn “Handbook for the URN Advanced Radio Journalism Course in Political Reporting” các tác giả chỉ ra rằng:
“ Công chúng cần điều gì?
- Thông tin có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ
- Thông tin mà bạn biết là họ cần
- Tin tức về địa phương, bộ tộc mà họ sống trong đó
- Không gian để thảo luận rộng rãi
Xét theo thang nhu cầu của Abraham Maslow, công chúng quan tâmtrước hết đến các nhu cầu sinh lý cơ bản như ăn, uống, thở, ngủ, chỗ ở Tiếptheo đó, họ quan tâm tới nhu cầu an toàn cả về thể chất, tinh thần và của cải.Thứ ba, công chúng mong muốn được giao tiếp và tham gia vào các mối quan
hệ xã hội Thứ tư, công chúng muốn được tôn trọng, ngưỡng mộ, yêu quí Vàthang nhu cầu cuối cùng là được phát huy năng lực, các tố chất cá nhân vàthành công
Công chúng phát thanh tiếp nhận theo qui luật nghe và phát huy trítưởng tượng Nhà báo phát thanh phải làm sao để thông qua chuỗi âm thanhcủa mình giúp thính giả tạo dựng hình ảnh về sự kiện trong đầu Công chúng
Trang 27phát thanh còn tiếp nhận thông tin theo quy luật xa gần Đó là sự tổng hòanhiều phương hướng như địa lý, tình cảm, thời gian, xã hội… Các kênh sóng,các chương trình phát thanh phải trở thành diễn đàn để công chúng thể hiệnquan điểm, suy nghĩ, cảm nhận của mình trước các vấn đề của đời sống.Phong cách giao tiếp với công chúng phát thanh luôn cần thể hiện sự tôntrọng, sự phục vụ, sẻ chia.
Các nghiên cứu về công chúng cho thấy, báo phát thanh có côngchúng đa dạng, phong phú Tuy mỗi chương trình khác nhau có một nhóm đốitượng riêng nhưng nhìn chung công chúng phát thanh là đông đảo người dân,
cả những đối tượng có trình độ học vấn cao và thấp
1.2.2.2 Phân loại công chúng
- Phân loại theo đặc điểm xã hội học
Căn cứ vào những tiêu chí khác nhau, có thể có cách phân chia thànhcác nhóm công chúng khác nhau Nếu căn cứ vào độ tuổi, sẽ có nhóm côngchúng trẻ em, công chúng thanh niên, công chúng người cao tuổi, công chúngtrung niên…; căn cứ vào giới sẽ có công chúng nam giới và nữ giới; căn cứvào địa bàn sinh sống sẽ có công chúng đô thị, công chúng nông thôn, côngchúng miền núi; căn cứ theo nghề nghiệp có thể chia thành công chúng là cán
bộ công chức, nông dân, học sinh - sinh viên, nội trợ…[45]
Độ tuổi của công chúng đóng một vai trò quan trọng trong việc phânloại Trước đây, với thính giả có độ tuổi càng cao, tỷ lệ nghe Đài cũng tăngtheo Lý do là phát thanh dễ tiếp cận, dễ tiếp nhận với người cao tuổi do họ cónhiều thời gian, tiếp nhận thông tin qua tiếng nói dễ dàng hơn với mắt vì lý dosức khỏe Người cao tuổi nghe Đài còn do thói quen vì có nhu cầu hiểu biết
về tình hình thời sự trong nước, quốc tế và để giải trí Còn độ tuổi trẻ có trình
độ học vấn cao hơn nhưng tỷ lệ nghe Đài thường thấp hơn người cao tuổi và
Trang 28ngược lại Tuy nhiên người cao tuổi có trình độ học vấn bình quân thấp hơnnhưng thường xuyên nghe Đài hơn Điều này có thể hiểu là do tính chất củatuổi trẻ nên họ có những sở thích và quan tâm đặc thù, và tham gia nhiều hoạtđộng xã hội nên ít có thời gian theo dõi tin tức qua Đài phát thanh.
Tuy nhiên, hiện nay, do môi trường làm việc và xã hội thay đổi, ngườitrẻ cũng nghe radio nhiều hơn do đặc thù phải di chuyển nhiều Họ vẫn muốntiếp nhận thông tin thời sự, cập nhật trong khi di chuyển mà không có điềukiện tiếp cận các hình thức truyền thông khác, thí dụ như lúc đang lái xe Do
đó, các Đài phát thanh cũng phải thay đổi theo công chúng để xây dựngnhững kênh, chương trình phù hợp hơn với giới trẻ, đáp ứng nhu cầu thực sựcủa họ Ngoài ra, cần chú ý đến thông tin chuyên biệt dành riêng cho đốitượng thính giả trung thành có tuổi như thông tin sức khỏe, sinh hoạt tinhthần, hướng về quê hương, cội nguồn
+ Theo nhu cầu thông tin, sở thích của công chúng
Đây cũng là một góc nhìn phân loại quan trọng, từ đó góp phần các Đàiphát thanh định hình nên công chúng của mình Thí dụ công chúng là giới trẻ
có nhu cầu tìm thông tin nhiều về thông tin giải trí như âm nhạc, điện ảnh,người nổi tiếng, đời sống tình cảm… Công chúng trong độ tuổi từ 24-35 quantâm nhiều về thông tin thị trường, kinh doanh, đời sống gia đình hoặc sứckhỏe…
+ Theo vùng, miền
Yếu tố địa phương, địa lý theo vùng, miền cũng là một yếu tố quantrọng trong phân loại công chúng Thí dụ, đối tượng công chúng phát thanhcủa các miền khác nhau ở nước ta có sự quan tâm đến các vấn đề nội dung vàphong cách tiếp nhận thông tin khác nhau
Trang 29Nghề nghiệp là yếu tố chi phối công chúng lựa chọn nội dung thông tin
và loại hình báo chí nào để tiếp nhận Với đối tượng lao động, trí thức, làmcông tác quản lý, họ tìm kênh phát thanh để theo dõi tình hình thời sự và mởmang kiến thức cho công việc Nhóm người lao động chân tay có nhiều nhucầu về thông tin giải trí, sức khỏe, nhưng chỉ có thể tiếp cận thông tin sau giờlàm việc Người kinh doanh nghiêng về thông tin giá cả thị trường, đời sống.Người nông dân, người làm nông nghiệp thích theo dõi thông tin qua Đài phátthanh về thông tin trồng trọt, chăn nuôi, tin tức thời tiết
+ Theo giới tính
Kết quả nhiều cuộc điều tra xã hội học ở Việt Nam cho thấy, tỷ lệ nữ giớitiếp nhận các phương tiện truyền thông nói chung và phát thanh nói riêng ít hơnnam giới Lý do chính là phụ nữ ít có thời gian hơn để tiếp cận thông tin của báochí hơn nam giới, do họ phải dành nhiều thời gian làm việc nhà, chăm sóc concái Ngoài ra, phụ nữ quan nhiều đến thông tin gần gũi với đời sống hơn như sứckhỏe, gia đình, công việc… Như vậy có thể thấy sự chênh lệch mức hưởng thụ
và sự quan tâm đối với Đài phát thanh giữa nữ và nam vẫn là một vấn đề xã hộilớn liên quan tới vấn đề bất bình đẳng giới trong xã hội
+ Theo trình độ
Trình độ học vấn là một trong những điều kiện tác động nhiều tới việctiếp nhận những sản phẩm truyền thông đại chúng Theo xu hướng chung,người có trình độ học vấn càng cao thường hay theo dõi nhiều tin tức, thời sự,kinh tế, giáo dục, khoa học… nhằm tăng thêm hiểu biết, đáp ứng nhu cầucông việc Người có học vấn không cao thường nằm trong những nhóm côngchúng thiên về tiếp nhận thông tin xã hội, giải trí như ca nhạc, giải trí, tư vấnđời sống, tâm lý tình cảm, an ninh trật tự, nghe quảng cáo và ít tiếp nhậnnhững chương trình thời sự
Trang 30Trình độ học vấn còn qui định cách tiếp nhận thông tin Nhóm thính giảtrình độ cao thường chủ động trong tìm kiếm thông tin Họ có thể tiếp nhậnthông tin mọi nơi, mọi lúc Người có trình độ học vấn thấp thường bị độnghơn khi tiếp nhận thông tin Họ nghe, xem, đọc những thông tin có sẵn xungquanh, không chủ động tìm kiếm và không yêu cầu những thông tin cần thiếthoặc thông tin liên quan.
- Phân loại theo cấp độ nghe của công chúng
Có nhóm công chúng tiềm năng và công chúng thực tế, nhóm côngchúng trực tiếp và công chúng gián tiếp Công chúng tiềm năng là nhóm lớn
xã hội mà chương trình phát thanh hướng vào tác động lôi kéo, thuyết phục.Nhưng trong thực tế không phải tất cả những thành viên nhóm lớn xã hội màchương trình nhằm vào đều tiếp nhận được các chương trình phát thanh Haynói cách khác, chỉ một phần trong nhóm lớn mà chương trình phát thanhhướng vào, tiếp nhận được sự tác động Bộ phận ấy gọi là công chúng thực tế
Ở bình diện khác, lại có công chúng trực tiếp và công chúng gián tiếp Côngchúng trực tiếp là những người trực tiếp tiếp nhận các chương trình phát
thanh Còn công chúng gián tiếp là những người được những người côngchúng trực tiếp kể lại, thông tin lại những điều mà họ đã tiếp nhận qua sóngphát thanh Các chương trình truyền thông trên radio vừa nhằm vào đại chúngtrên cơ sở xác định nhóm đối tượng cụ thể
1.2.2.3 Mối quan hệ giữa công chúng và chương trình phát
thanh - Vai trò của phát thanh với công chúng
Phát thanh được coi là “cổng thông tin” về tất cả những vấn đề đangxảy ra trên thế giới, là khởi đầu những nội dung được đề cập trên tất cả cácloại hình truyền thông khác và cũng là phương thức tiếp cận dễ dàng nhất tớinhiều đối tượng công chúng Giá trị của phát thanh chính là có thể giúp thínhgiả hiểu được điều gì đúng và điều gì quan trọng, chúng ta phải làm sao để
Trang 31thính giả có cảm nhận rằng họ đang được lắng nghe Nói cách khác, cácchương trình phải thật sự phản ánh được nhu cầu và mối quan tâm của thínhgiả Điều duy nhất không thay đổi chính là nhu cầu được cung cấp thông tinđúng và hay Đây vẫn là động lực nghe chính của thính giả khi nghe Đài vàcũng là nghĩa vụ của những người làm phát thanh Phát thanh luôn đóng vaitrò cốt yếu trong việc cung cấp thông tin đa dạng tới người nghe và được côngnhận là một loại hình truyền thông tiêu biểu và căn bản nhất.
- Vai trò của công chúng với phát thanh
Công chúng là người đầu tiên quyết định việc hình thành các chươngtrình phát thanh Cũng như một tờ báo hay một chương trình truyền hình, mộtchương trình phát thanh ra đời trước hết phải dựa trên nhu cầu công chúng.Việc thiết lập nội dung, hình thức, thời lượng, thời điểm phát sóng củachương trình phát thanh cũng đều căn cứ trên nhu cầu, mong muốn, đặc điểm,
sở thích của công chúng Mỗi chương trình phát thanh nhằm phục vụ mộtnhóm đối tượng thính giả nhất định Ví dụ, chương trình thiếu nhi được thiết
kế để phục vụ đối tượng thiếu nhi, chương trình ca khúc theo yêu cầu phục vụnhóm các bạn trẻ yêu thích âm nhạc…[21, tr.44]
Vai trò của công chúng có đóng góp to lớn cho sự phát triển của cácchương trình phát thanh, công chúng vừa là đối tượng tiếp nhận vừa là đối tượngphản ánh Chính công chúng là người góp phần tạo nên các tác phẩm báo chí vàchương trình phát thanh hay, có giá trị Công chúng ngày nay không chỉ thíchnghe Đài mà còn có ý thức tham gia các chương trình phát thanh Họ luôn có sự
so sánh, đánh giá, nhận xét về những vấn đề được nêu ra
+ Tương tác trong phát thanh không trực tiếp:
Trong chương trình phát thanh không trực tiếp, dù không xuất hiện nhiều nhưng tính tương tác cũng đã được các nhà sản xuất chương trình phát
Trang 32thanh áp dụng trong quy trình sản xuất hay thu thập thông tin Thông thường,các chương trình thu trước thường có độ chính xác cao về thông tin, tạo sự tintưởng tuyệt đối trong lòng thính giả Tuy nhiên, với tính chất không phát trựctiếp nên sự tương tác qua lại giữa thính giả và một chương trình phát thanhcần một thời gian nhất định.
+ Tương tác trong chương trình ca nhạc:
Từ trước đến nay, âm nhạc vẫn được coi là thế mạnh của phát thanh Vìthế, việc tận dụng âm nhạc trong sản xuất chương trình phát thanh vẫn luônđược chú trọng Các chương trình ca nhạc theo yêu cầu là một ví dụ điển hìnhmang tính tương tác, do tiếp nhận yêu cầu từ phía thính giả và phát sóng bàihát theo yêu cầu đó Giữa nhóm thực hiện chương trình và thính giả sẽ có mốiliên hệ với nhau, thông qua việc tương tác qua thư hay qua điện thoại Điềunày chúng ta thấy khá rõ từ một số chương trình như Ca nhạc theo yêu cầu,Quick And Snow show, Xone FM… của Đài TNVN
+ Tương tác trong chương trình tọa đàm:
Bên cạnh đó, chương trình phát thanh không trực tiếp vẫn có sự xuấthiện của nhiều yếu tố tương tác khác Ví dụ như đối với chương trình tọa đàm
sẽ có tương tác giữa người dẫn với khách mời, trong chương trình có haingười dẫn sẽ có sự tương tác giữa người dẫn với nhau…
+ Tương tác trong chương trình phát thanh trực tiếp:
Tính tương tác trong chương trình phát thanh trực tiếp trước hết thể hiện
ở yếu tố tương tác giữa thính giả với ekip thực hiện chương trình Với cácchương trình phát thanh trực tiếp được thực hiện tại studio, sự tham gia của thínhgiả sẽ tạo nên bầu không khí giao lưu, cởi mở, giúp chương trình sống động hơn
Từ đó, chương trình như một bức tranh âm thanh với nhiều giai điệu sẽ thu hútnhiều người cùng lắng nghe, suy ngẫm và đồng cảm nên có thể tạo ra những hiệuứng lan tỏa lớn hơn Đây là ưu thế hơn hẳn của phát thanh
Trang 33trực tiếp mang tính tương tác so với chương trình phát thanh chỉ có sự xuất hiện của BTV và PTV [46].
1.2.3 Công chúng với các chương trình phát thanh văn nghệ
1.2.3.1 Khái niệm văn nghệ
Theo từ điển Tiếng Việt: Văn nghệ là cách nói tắt của “văn học nghệthuật”, là các hoạt động biểu diễn nghệ thuật như ca, múa, nhạc, … phục vụvui chơi, giải trí (nói khái quát) [17, tr.405]
Văn nghệ hay còn gọi là văn học nghệ thuật, là thuật ngữ chỉ các hoạtđộng sáng tạo văn học và nghệ thuật (bao gồm các loại hình như văn học, sânkhấu, mỹ thuật, âm nhạc, điện ảnh, kiến trúc, nhiếp ảnh, múa…), là bộ phậnquan trọng của văn hóa Những giá trị sáng tạo của văn học, nghệ thuật là tinhhoa cốt lõi tạo nên diện mạo, bản sắc của một nền văn hóa tiêu biểu cho mỗidân tộc
- Quan điểm của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh về Văn nghệ:
Quan điểm nhất quán, xuyên suốt toàn bộ tiến trình lãnh đạo văn hóacủa Đảng ta từ 1930 đến nay là luôn luôn khẳng định văn hóa, văn nghệ là bộphận khăng khít của toàn bộ sự nghiệp cách mạng, phục vụ các nhiệm vụ củacách mạng trong từng thời kỳ và gắn bó sâu sắc với đời sống nhân dân Luậnđiểm cô đúc và sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa, nghệ thuật cũng
là một mặt trận Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” đã làm nên một bướcngoặt cho toàn bộ tiến trình văn hoá Việt Nam, làm cho nền văn hóa mới vànhững người sáng tạo, hoạt đồng trên lĩnh vực văn hóa đó trở thành một sứcmạnh to lớn, một bộ phận hữu cơ, gắn bó máu thịt với toàn bộ sự nghiệp cáchmạng của dân tộc ta
Chủ tịch Hồ Chí Minh xem văn nghệ là một mặt trận đấu tranh tưtưởng, tác phẩm văn nghệ là một vũ khí sắc bén Văn học nghệ thuật là một
Trang 34hoạt động văn hóa, tư tưởng Nó được xem là một bộ phận quan trọng của vănhóa, là đỉnh cao của đời sống tinh thần, hình ảnh của tâm hồn dân tộc, thể hiệnkhát vọng của nhân dân về Chân – Thiện – Mỹ Văn nghệ được xét ở các khíacạnh:
Tính nghệ thuật: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng nhiều thể loại văn
nghệ, bám sát thực tế chiến đấu và sản xuất của nhân dân, tạo nên sức thuyếtphục cho tác phẩm của mình
Nội dung: Quan niệm của chủ tịch Hồ Chí Minh về Văn nghệ rất rõ ràng: “Văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế, chính trị” Văn nghệ là một hoạt động tinh
thần phong phú vì thế nội dung của nó phải phản ánh các vấn đề xã hội phong
phú Nội dung phải phong phú: “Cần làm cho món ăn tinh thần phong phú, không nên bắt mọi người chỉ được ăn một món thôi Cũng như vào vườn hoa, cần cho mọi người được thấy nhiều loại hoa đẹp”.
Đối tượng: Muốn phục vụ quần chúng, Văn nghệ phải đặt ra các câu hỏi: Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn, dễ đọc? Văn nghệ xem quần chúng là đối tượng cho sáng tác, đồng thời
cũng là đối tượng để văn nghệ phục vụ Cách nói, cách viết, nội dung, đốitượng đều nhằm phục vụ quần chúng lao động
Chức năng: Văn nghệ xưa nay vẫn nhấn mạnh ba chức năng cơ bản:
chức năng nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ
1.2.3.2 Chương trình phát thanh văn nghệ
TS Đinh Thị Thu Hằng tác giả cuốn “Báo phát thanh- Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” đã đưa ra các dạng chương trình phát thanh như sau:
- Chương trình ca nhạc
Có nhiều cách tổ chức chương trình ca nhạc dựa trên những tiêu chí lựachọn khác nhau:
Trang 35+ Theo lứa tuổi, có: chương trình ca nhạc thiếu nhi, chương trình canhạc dành cho tuổi trẻ…
+ Theo chủ đề, có: chương trình ca nhạc Tình yêu quê hương, đất nước,chương trình ca nhạc mừng Đảng, mừng xuân; chương trình ca nhạc nhân ngày hiến chương các Nhà giáo Việt Nam, ngày Noel…
+ Theo sở thích, nhu cầu, có: chương trình ca nhạc theo yêu cầu, lá thư
âm nhạc, âm nhạc kết nối…
+ Theo thể loại, có: chương trình dân ca và nhạc cổ truyền, chươngtrình chèo, cải lương, nhạc cổ điển…
- Chương trình giao lưu văn hóa
Trên sóng phát thanh thường có các chương trình giao lưu văn hóa như:
Giao lưu tác giả - tác phẩm, Thi giọng hát hay, Sân chơi âm nhạc, Giới thiệu thơ – người… Ứng dụng phương thức sản xuất chương trình phát thanh trực
tiếp, Đài phát thanh còn thực hiện các chương trình giao lưu văn hóa tại hiệntrường (các trường đại học, CLB, nhà văn hóa…) Các chương trình này giúpcông chúng thính giả thể hiện mình trong các mối quan hệ giao lưu, kết nốilẫn nhau, tăng cường và làm giàu đẹp các mối quan hệ [22, tr.166]
- Chương trình “Câu chuyện truyền thanh”
Theo tác giả Nguyễn Đình Lương: Thế mạnh của câu chuyện truyềnthanh là ở chỗ nó vừa sử dụng một cách có hiệu quả những ưu thế của nghệthuật truyền thanh vừa bám sát những đề tài sống động trong cuộc sống Câuchuyện truyền thanh phải có âm thanh, âm thanh phải mang sức thuyết phục,lôi cuốn, hấp dẫn, phải làm cho thính giả lắng tai nghe và tò mò muốn nghenữa [32, tr.55]
- Chương trình “Đọc truyện đêm khuya”
Đọc truyện đêm khuya thuộc thể loại chương trình văn nghệ đã trở nên quen thuộc với nhiều thính giả, với rất nhiều câu chuyện đề cập tới những chủ
Trang 36đề quen thuộc như tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương đất nước, chiến tranhchống Mĩ, chống Pháp, đời sống văn hóa, chuyện vợ chồng, chuyện mẹ chồngnàng dâu… Tất cả đều được sưu tầm, biên soạn một cách kỹ lưỡng qua giọngđọc truyền cảm của các PTV đã trở thành một món ăn tinh thần bổ ích chothính giả trên sóng phát thanh.
1.2.3.3 Công chúng của chương trình PTVN
Công chúng của phát thanh nói chung và văn nghệ nói riêng rất rộnglớn và đa dạng Đó là quần thể dân cư không phân biệt trình độc học vấn Mọiđối tượng (chỉ trừ người khiếm thính) đều tiếp nhận thông tin qua radio, bởi
âm thanh không phân biệt vào hình ảnh hoặc chữ in nên có nhiều thuận lợitrong khai thác sử dụng Ngày nay, cách thức nghe Đài, chọn chương trìnhcủa công chúng cũng khác trước rất nhiều Số người nghe Đài bằng radiotruyền thống trong các gia đình không tăng, nhưng lại gia tăng số người ngheĐài trên ô tô, trên mobile và các trang web Ngoài cách nghe khác, thì nhu cầutiếp nhận thông tin trên Đài cũng khác trước rất nhiều Ví dụ những người đitrên ô tô, vì trong trạng thái di chuyển, nên họ cần cái gì đó ngắn gọn, trựctiếp, cần những quan điểm chính thống, cần những ý kiến đa chiều Người takhông còn nghe Đài cả ngày nữa, mà lúc nào tiện thì nghe, lên ô tô thì nghe
Ở vùng nông thôn, miền núi, người ta nghe Đài địa phương qua loa truyền thanh…
1.2.3.4 Tiêu chí của chương trình PTVN đáp ứng nhu cầu công chúng
Bất cứ loại hình báo chí nào muốn đến với công chúng thì phải chú ýtới 2 điều: Nội dung là cốt lõi và hình thức là quan trọng Khái niệm nội dungngày nay cũng không đơn thuần là nhanh và đúng, mà còn là độc đáo và tạođược cảm xúc và sức hấp dẫn cho người nghe Có nghĩa là người làm phátthanh phải luôn luôn mang tới cho công chúng những thông tin mới lạ, độc
Trang 37đáo chỉ có trên Đài phát thanh hoặc rất hấp dẫn trên Đài phát thanh Phải tìmđược góc tiếp cận mới trong những vấn đề đang được nhiều báo chí đề cập; phátthanh phải tạo điều kiện để công chúng nói lên tiếng nói của họ trên sóng
Về hình thức, phát thanh không chỉ đơn thuần là lời nói, mà còn phảilàm sinh động hơn bằng âm nhạc, bằng tiếng động hiện trường Chỉ khi nàonghe phát thanh mà như được sống, được thở trong cuộc sống thực thì lúc đóphát thanh mới có được sự chú ý, sự ủng hộ, sự đón đợi của công chúng
Đối với chương trình PTVN, tiêu chí quan trọng hàng đầu là mang lạigiá trị tinh thần, phục vụ đời sống văn hóa, văn nghệ của đông đảo côngchúng bằng những chương trình mang đậm bản sắc văn hóa vùng miền, bảnsắc dân tộc Thông qua đó, chương trình cần kịp thời chấn chỉnh, uốn nắnnhững lệch lạc về tư tưởng, quan niệm trong xã hội, đấu tranh chống lạinhững biểu hiện văn hóa lai căng, hướng ngoại, nhằm tiếp tục phát huy truyềnthống của dân tộc, góp phần giữ gìn và xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắcdân tộc trong thời kỳ đổi mới Các chương trình PTVN không chỉ đáp ứngnhu cầu giải trí mà còn hướng đến nâng cao thẩm mỹ âm nhạc, định hướngcách cảm, cách nghĩ, tăng cường giao lưu trong đời sống Chương trình càngmang tính giao lưu càng cao thì càng có lượng người nghe đông đảo [18,tr.64]
1.3 Đặc điểm của công chúng các chương trình PTVN tại ĐBSCL
1.3.1 Đặc trưng văn hóa ĐBSCL
Những nét đặc trưng của văn hóa khu vực ĐBSCL khá phong phú Nóđược thể hiện rõ ở phong tục tập quán, ở lễ hội, ở tính cách con người Vănhóa là sản phẩm do con người sáng tạo ra của một dân tộc, một vùng, mộtquốc gia Và bao giờ nó cũng gắn liền với những sinh hoạt của con người.Con người một mặt sáng tạo ra văn hoá, mặt khác con người cũng là đốitượng của văn hóa Các khái niệm về văn hoá, văn minh, văn hiến, văn vật…
Trang 38đều có những nét tác động qua lại Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền lợi cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và tín ngưỡng… (theo định nghĩa của Unesco).
Những giá trị vật chất và tinh thần ấy đều do con người sáng tạo ra Nó là chìakhóa của sự phát triển xã hội
Đối chiếu với những nét chung của văn hóa dân tộc, thì văn hóa khuvực ĐBSCL có những nét khu biệt riêng ĐBSCL là vùng đất mới được hình
thành hơn 300 năm nay Ở đây, con người được thiên nhiên ưu đãi “Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn”, và từ độ cha ông “mang gươm đi mở cõi” thì vô vàn khó khăn phải đối mặt “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp trêu”, hoặc “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lềnh tựa bánh canh”… Với môi trường tự nhiên như
vậy, tính cách con người Nam Bộ cũng có những nét đặc biệt như: trọngnghĩa, khinh tài, nóng nảy cương trực, hồn nhiên, chất phác, tự tin, thích kểchuyện Tàu, thích ca cải lương, và một chút điệu nghệ Ở vùng đất này có sựcộng cư của các dân tộc anh em như: Kinh, Khmer, Hoa, Chăm từ các thế kỷtrước Vì thế trong phong tục, lễ hội, sinh hoạt, lao động cũng có những nétriêng Song, có ba nét nổi bật nhất về văn hoá ĐBSCL là kiến trúc đền chùa,
văn minh ẩm thực và ĐCTT.
Với lịch sử hình thành và phát triển đa dạng và phong phú, văn hóaĐBSCL cũng song hành cùng sự phát triển của vùng đất với nhiều sắc thái,phong phú; tạo nên nền tảng để cho ĐBSCL phát triển Đó là văn hoá của cáctộc người, văn hoá của lối sống, cách lao động, sản xuất sinh hoạt đến phongtục tập quán tín ngưỡng Nói đến văn hoá ĐBSCL là nói đến sự đa dạng và làmột khái niệm có nội hàm rộng bởi văn hoá ĐBSCL không thể tách rời vàmang đầy đủ các giá trị của văn hoá Việt Nam trường tồn qua hàng ngàn năm;
có sự pha trộn, hoà quyện với văn hoá khác; đồng thời nảy sinh trên vùng đấtmới, nhiều sông rạch nên việc phân biệt văn hoá ĐBSCL với không gian văn
Trang 39hoá Việt và văn hoá các vùng miền khác sẽ là căn cứ khoa học để làm nổi rõnên những nét đặc trưng đặc sắc, tiêu biểu của văn hoá vùng ĐBSCL Để từ
đó xây dựng các sản phẩm truyền thông, chương trình phát thanh, sản phẩmphát thanh phù hợp hơn với sự phát triển của vùng ĐBSCL
1.3.2 Đặc điểm dân cư, dân trí và thói quen thưởng thức văn nghệ 1.3.2.1 Đặc điểm dân cư, dân trí:
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2019, ĐBSCL cótổng diện tích các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lớn nhất Việt Nam(40.547,2 km²) và có tổng dân số toàn vùng là hơn 18 triệu người ĐBSCL có
13 đơn vị hành chính bao gồm: 1 thành phố trực thuộc Trung ương (Thànhphố Cần Thơ) và 12 tỉnh (Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, BếnTre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và
Cà Mau)
ĐBSCL là vùng đông dân (đứng thứ hai Đồng bằng sông Hồng) Ngoàingười Kinh, còn có người Khơ-me, người Chăm, người Hoa ĐBSCL có tỉ lệgia tăng tự nhiên của dân số bằng mức bình quân của cả nước; GDP/người, tỉ
lệ người lớn biết chữ, tỉ lệ dân số thành thị còn thấp hơn mức trung bình của
cả nước Tuy nhiên, tỉ lệ hộ nghèo thấp hơn và tuổi thọ trung bình cao hơnmức trung bình của cả nước
Phân bố dân cư chênh lệch lớn giữa thành thị - nông thôn và giữa cácđịa phương Khoảng 80% dân số sống ở nông thôn, mật độ dân số của vùngđất phù sa ngọt cao hơn nhiều các vùng đất phèn và đất mặn [21]
1.3.2.2 Thói quen thưởng thức văn nghệ
Kết quả từ cuộc khảo sát của Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL- Đạihọc Cần Thơ (2007) cho thấy người dân đồng bằng đòi hỏi được đáp ứngthông tin văn hóa xã hội rất cao, chiếm 69% số người được hỏi Do đó “Vănhóa tại gia”- chủ yếu qua sóng truyền hình, phát thanh, internet, chính là đặc
Trang 40điểm hưởng thụ văn hóa của người dân ĐBSCL hiện nay Điều đó thể hiệnđời sống văn hóa tinh thần tại đây vẫn còn nghèo nàn, chỉ khuôn hẹp trongphạm vi gia đình Chính điều này là cơ sở để các chương trình văn nghệ trênsóng PT-TH có cơ hội phục vụ khán thính giả nơi đây Từ đó, các chươngtrình PTVN ngày càng thân thiết với công chúng và luôn là người bạn tin cậy,gần gũi của bà con nơi đây, chương trình có điều kiện lan tỏa, hòa nhập vớivăn hóa giải trí, làm phong phú hơn đời sống văn hóa tinh thần và nâng caonhu cầu hưởng thụ của đông đảo công chúng ĐBSCL.[51].
1.3.3 Đời sống VHVN hiện nay và ảnh hưởng của nó tới công chúng
Đời sống văn nghệ của người dân khu vực ĐBSCL rất phong phú, đặcbiệt nhất được thể hiện qua các loại hình nghệ thuật tiêu biểu, là những loạihình nghệ thuật đặc sắc của vùng đất phương Nam vốn cần cù, bình dị nhưngrất đổi nhân văn như ĐCTT, vọng cổ, cải lương, lý, hát ru, hò Nam bộ Cácchương trình PTVN khu vực ĐBSCL đã góp phần nâng cao trình độ hiểu biếtmọi mặt cho công chúng trong vùng về vốn văn hóa đặc sắc của mình, baogồm từ việc trang bị những tri thức phổ thông có hệ thống, xã hội hóa cáckinh nghiệm sống, truyền bá những tri thức về các giá văn hóa của các dântộc
Tuy nhiên, ở ĐBSCL đang diễn ra quá trình giao lưu tiếp biến văn hoágiữa văn hoá vùng, văn hoá dân tộc và văn hoá nước ngoài; công chúng đanghàng ngày hàng giờ tiếp nhận các sản phẩm và nhân tố văn hoá từ nước ngoài.Đảng và Nhà nước ta phải nhanh chóng có chiến lược để chủ động thực hiệnviệc tiếp biến văn hoá, “mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc nhữngcái hay, cái tiến bộ trong văn hoá các dân tộc khác”, tránh cho nhân dân vànhất là thế hệ trẻ những hụt hẫng, “cú sốc về văn hoá” Cùng với quá trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá, quá trình đô thị hoá ngày càng phát triển Vìvậy, bên cạnh cái phức thể văn hoá nông nghiệp- nông thôn của vùng, phải