1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả dự án xây dựng fdi ở việt nam

165 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 4,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong thực tế hiệu quả dự án xây dựng FDI còn nhiều vấn đề bất cập, do sự tác động của các yếu tố rủi ro và chính sách quản lý của nhà nước có thể làm giảm hiệu quả tài chính

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

-

NGUYỄN THANH HÓA

NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỰ ÁN XÂY DỰNG FDI Ở VIỆT NAM Chuyên ngành : CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Tp Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS PHẠM HỒNG LUÂN

Cán bộ chấm nhận xét 1: PGS.TS NGUYỄN THỐNG

Cán bộ chấm nhận xét 2: ThS ĐỖ THỊ XUÂN LAN

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại Học Bách Khoa, ĐHQG Tp.HCM

ngày tháng năm

Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm: 1 ………

2 ………

3 ………

4 ………

5 ………

Trang 3

PHÒNG ĐÀO TẠO SĐH Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Tp HCM, ngày … tháng … năm 20…

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Ngày, tháng, năm sinh: 15 - 08 - 1984 Nơi sinh: DAKLAK

Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ & QUẢN LÝ XÂY DỰNG MSHV: 00808567

I TÊN ĐỀ TÀI: NGIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỰ

ÁN XÂY DỰNG FDI Ở VIỆT NAM

II NHIỆM VỤ LUẬN VĂN: Luận văn bao gồm các nội dung sau:

 Đánh giá hiệu quả dự án xây dựng FDI ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

 Xác định các yếu tố rủi ro lên hiệu quả dự án xây dựng FDI

 Ứng dụng phân tích Cross-Impact Balances Analysis phân tích tình huống cho các tiêu chí đánh giá hiệu quả dự án xây dựng FDI

 Đề xuất các biện pháp ứng phó rủi ro và nâng cao hiệu quả dự án xây dựng FDI

 Kết luận, kiến nghị và hướng phát triển đề tài

III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ : 02-02-2010

IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ : 20-12-2010

V CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS PHẠM HỒNG LUÂN

Nội dung và đề cương luận văn thạc sĩ đã được hội đồng chuyên ngành thông qua

TRƯỞNG PHÒNG ĐT – SĐH TRƯỞNG KHOA QL NGÀNH

Trang 4

Để hoàn thành luận vặn này, trước tiên tác giả xin gởi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến thầy TS Phạm Hồng Luân đã định hướng, truyền đạt kinh nghiệm và nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô bộ môn khoa Xây dựng, đặc biệt là những thầy cô giảng dạy thuộc chuyên ngành Công nghệ và Quản lý xây dựng đã truyền dạy cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường

Xin gửi lời cảm ơn đến các bạn học viên chuyên ngành Công nghệ và Quản lý xây dựng khóa 2008, những người bạn đã đồng hành và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Xin gửi lời cảm ơn đến các bạn bè, đồng nghiệp công ty TNHH Arup Việt Nam, Công ty, công ty Aurecon Việt Nam, những người đã tạo điều kiện và giúp đỡ rất nhiều trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn bố mẹ, gia đình và những người bạn thân đã luôn bên cạnh quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành luận văn này

Trân trọng!

Tp Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 12 năm 2010

Trang 5

Từ khi đảng và chính phủ tiến hành cải cách đất nước đến nay, các dự án xây dựng FDI đã góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triền kinh tế của cả nước Chúng đang dần trở thành một nguồn lực quan trọng cung cấp vốn, lao động và đóng góp cho ngân sách quốc gia

Tuy nhiên, trong thực tế hiệu quả dự án xây dựng FDI còn nhiều vấn đề bất cập, do

sự tác động của các yếu tố rủi ro và chính sách quản lý của nhà nước có thể làm giảm hiệu quả tài chính cho chủ đầu tư và giảm hiệu quả đóng góp cho nền kinh tế đất nước Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá thực trạng hiệu quả dự án xây dựng FDI ở Việt Nam theo quan điểm nhà đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư Từ đó, xác định và đánh giá các yếu tố rủi ro làm ảnh hưởng đến hiệu quả dự án thông qua bốn tiêu chí là tài chính, thời gian, chất lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án Bằng ma trận phân tích Cross-Impact Analysis và phân tích tình huống Cross-Impact Balances Analysis (CIB) đã xác định các tình có lợi và bất lợi cho hiệu quả dự án Cuối cùng, luận đề xuất các biện pháp giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

để hạn chế các tình huống bất lợi và tăng các tình huống có lợi cho hiệu quả dự án

Kết quả của nghiên cứu đã xác định được 15 yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến tài chính

dự án, 13 yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến thời gian thực hiện dự án, 13 yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến chất lượng dự án và 12 yếu tố rủi ro tác động đến hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án Qua phân tích CIB, đã có 40 tình huống có lợi cho tiêu chí tài chính và 31 tình huống làm tài chính dự án thất bại; có 37 tình huống làm dự án bị trễ tiến độ và hai tình huống làm dự án đúng và vượt tiến độ; có 67 tình huống có thể nâng cao chất lượng

dự án và 128 tình huống làm giảm chất lượng dự án; có 170 tình huống làm giảm tính hiệu quả kinh tế xã – xã hội và 13 tình huống làm tăng tiêu chí hiệu quả này cho dự án Cuối cùng luận văn đã đề nghị 17 vấn đề ứng phó rủi ro và 8 vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước với dự án xây dựng FDI

Nghiên cứu này cung cấp công cụ đánh giá rủi ro lên hiệu quả dự án xây dựng bằng phân tích tình huống CIB, và biện pháp nâng cao hiệu quả cho dự án xây dựng FDI ở Việt Nam

Trang 6

Since innovation process in Vietnam occurred up to now FDI construction projects contributed to the development of the country’s economic They became a source provide capital, labour and money for the national budget

The objective point of this study is assessments effect of construction project performed by foreign direct investment in Vietnam, like that, they are assessed in accordance with criterions such as: time, cost, quality and effective social – economic The research also is studied negative risks reducing performance of these construction project and using the cross – impact balances analysis method to analyze the scenarios of them in future Therefore, the proposed solutions are specified to improve effects of construction project performed by foreign direct investment in Vietnam

The results of this study have identified 15 key factors affecting the finance and 13 key factors affecting the time as well as 13 key factor affecting the quanlity, then 12 key factor affecting the effective social – economic of project The research also performed CIB analysis to determine the weak and the best scenario of project and provide 40 best scenarios and 31 weak scenarios for the finance of project, then 37 weak scenarios and 2 best scenarios for the time of project, after that 67 best scenarios and 128 weak scenarios for quality of project, afterward 170 weak scenarios and 13 best scenarios for effective social – economicof project Finally, the research proposed 17 solutions to respond to risks and 8 solutions to improve the implementation capacity of appropriate authorities

Research results will contribute to offer a tool to anlyze risk affecting effect of construction project by performed CIB analysis and measures to improve effect of FDI contruction projects in Vietnam

Trang 8

1.1 Tổng quan 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 6

1.3 Phạm vi nghiên cứu 7

1.4 Phương pháp nghiên cứu 7

1.5 Kết luận chương 10

CHƯƠNG 2: CÁC KIẾN THỨC TỔNG QUAN 11

2.1 Tổng quan về đầu tư nước ngoài 11

2.1.1 Định nghĩa 11

2.1.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp từ nước ngoài 11

2.1.2.1 Phân theo bản chất đầu tư 11

2.1.2.2 Phân theo tính chất dòng vốn 11

2.1.2.3 Phân theo động cơ của nhà đầu tư 12

2.1.2.4 Phân theo hình thức đầu tư 12

2.1.3 Các nhân tố thúc đẩy sự phát triển của đầu tư trực tiếp từ nước ngoài 13

2.2 Hiệu quả dự án xây dựng 13

2.2.1 Khái niệm 13

2.2.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả dự án đầu tư xây dựng theo quan điểm kinh tế - tài chính 14

2.2.2.1 Các yếu tố thành công trọng yếu 14

2.2.2.2 Các tiêu chí đánh giá thành công của dự án 15

2.2.3 Đánh giá hiệu quả dự án xây dựng FDI ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 17

2.2.4 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả dự án đầu tư xây dựng theo quan điểm kinh tế - xã hội 18

2.2.5 Đánh giá hiệu quả dự án xây dựng FDI ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay theo quan điểm nước nhận đầu tư 19

2.3 Rủi ro trong xây dựng 26

2.3.1 Định nghĩa về rủi ro 26

2.3.2 Quy trình quản lý rủi ro 27

2.3.2.1 Xác định rủi ro 28

2.3.2.2 Các kỹ thuật dùng để xác định rủi ro 29

2.3.2.3 Phân tích rủi ro 34

2.3.2.3.1 Phương pháp định tính rủi ro 34

2.3.2.3.2 Định tính các nguồn rủi ro với các dự án xây dựng FDI ở Việt Nam 34

Trang 9

2.3.2.4 Ứng phó rủi ro 39

2.3.2.4.1 Các phương pháp ứng phó rủi ro 39

2.4 Lược khảo các nghiên cứu về rủi ro trong dự án xây dựng quốc tế 42

2.4.1 Ngiên cứu của Shou Qing Wang et al (2004) 42

2.4.2 Nghiên cứu của Seung Heon Han 42

2.4.3 Nghiên cứu của Low Sui Pheng, Liu Junying, and Sarah He 45

2.4.4 Luận văn thạc sỹ của Đinh Như Cao 47

2.5 Kết luận chương 48

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 50

3.1 Giới thiệu phương pháp nghiên cứu 50

3.2 Tổng quan về phương pháp Cross – Impact Balances Analysis 51

3.3 Thuật toán của CIB 52

3.4 Xây dựng bảng câu hỏi 59

3.4.1 Các bước tiến hành xây dựng bảng câu hỏi 59

3.5 Xác định kích thước mẫu 62

3.6 Kiểm định thang đo 63

3.7 Phương pháp thu thập dữ liệu 64

3.8 Chỉ số đánh giá rủi ro (Risk Index) 64

3.10 Kết luận chương 66

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KHẢO SÁT 67

4.1 Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát thử nghiệm 67

4.1.1 Tiêu chí tài chính dự án 67

4.1.2 Tiêu chí thời gian thực hiện dự án 68

4.2.3 Tiêu chí chất lượng dự án 70

4.2.4 Tiêu chí hiệu quả kinh tế - xã hội dự án 71

4.2 Khảo sát bảng câu hỏi chính thức 73

4.2.1 Tiêu chí hiệu quả tài chính dự án 73

4.2.2 Tiêu chí thời gian thực hiện dự án 75

4.2.3 Tiêu chí chất lượng dự án 77

4.2.4 Tiêu chí hiệu quả kinh tế - xã hội dự án 79

4.3 Kiểm định thang đo 81

4.3.1 Tiêu chí hiệu quả tài chính dự án 81

Trang 10

4.3.4 Tiêu chí hiệu quả kinh tế - xã hội dự án 85

4.3.5 Phân tích kết quả khảo sát phần thông tin chung 87

4.4 Kết luận chương 89

CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP CIB 92

5.1 Xây dựng ma trận CIA để thực hiện phân tích CIB 92

5.2 Diễn giải kết quả 93

5.2.1 Tài chính dự án 94

5.2.2 Tiêu chí thời gian của dự án 98

5.2.3 Tiêu chí chất lượng dự án 101

5.2.4 Tiêu chí hiệu quả kinh tế xã hội 107

5.3 Kết luận chương 113

CHƯƠNG 6: CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỰ ÁN XÂY DỰNG FDI 114

6.1 Các biện pháp giảm thiểu rủi ro cho dự án xây dựng FDI 114

6.2 Các biện pháp nâng cao hiệu quả của cơ quan quản lý nhà nước 120

CHƯƠNG 7: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 126

7.1 Kết quả nghiên cứu của luận văn 126

7.2 Những khó khăn khi thực hiện đề tài 127

7.3 Hạn chế đề tài 127

7.4 Những đề nghị về hướng phát triển đề tài 128

TÀI LIỆU THAM KHẢO 130

PHỤ LỤC 131

Trang 11

-000 -

Bảng 1.1: Tăng trưởng GDP (%) của Việt Nam từ năm 2000 – 2009

Bảng 1.2: Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 phân theo thành phần kinh tế Bảng 1.3: Tồng sản phẩm trong nước theo giá thực tế theo khu vực kinh tế

Bảng 1.4: Lưu đồ nghiên cứu

Bảng 2.1: Các yếu tố thành công của dự án

Bảng 2.2: Các đánh giá thành công của dự án

Bảng 2.3: Thống kê khách du lịch đến Việt Nam hàng năm

Bảng 2.4: Mức đóng góp GDP của ngành xây dựng năm 2005 – 2009

Bảng 2.5: Tỷ trọng đóng việc làm của ngành xây dựng giai đoạn 2005 – 2009

Bảng 2.6: Các loại rủi ro theo giai đoạn vận hành của dự án xây dựng

Bảng 2.7: Cấu trúc phân nhỏ rủi ro của dự án xây dựng điển hình

Bảng 2.8: Danh sách các nguồn rủi ro

Bảng 2.9: Tốc độ lạm phát của nền kinh tế Việt Nam, giai đoạn 2006 – 2009

Bảng 3.1: Ví dụ ma trận CIA

Bảng 3.2: Các yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến hiệu quả dự án xây dựng

Bảng 3.3: Mã hóa xác suất xuất hiện của các yếu tố rủi ro

Bảng 4.1: Kết quả thống kê mức độ tác động của rủi ro lên tài chính dự án

Bảng 4.2: Hệ số Cronbach’s Alpha mức độ tác động của rủi ro lên tài chính dự án

Bảng 4.3: Kết quả thống kê tần suất tác động của rủi ro lên tài chính dự án

Bảng 4.4: Hệ số Cronbach’s Alpha của tần suất tác động của rủi ro lên tài chính dự án Bảng 4.5: Kết quả thống kê mức độ tác động của rủi ro lên thời gian thực hiện dự án

Bảng 4.6: Hệ số Cronbach’s Alpha của mức độ tác động của rủi ro lên thời gian

thực hiện dự án Bảng 4.7: Kết quả thống kê tần suất tác động của rủi ro lên thời gian thực hiện dự án Bảng 4.8: Hệ số Cronbach’s Alpha tần suất tác động của rủi ro lên thời gian thực hiện dự án Bảng 4.9: Kết quả thống kê mức độ tác động của rủi ro lên chất lượng dự án

Bảng 4.10: Hệ số Cronbach’s Alpha của mức độ tác động của rủi ro lên chất lượng dự án Bảng 4.11: Kết quả thống kê tần suất tác động của rủi ro lên chất lượng dự án

Bảng 4.12: Hệ số Cronbach’s Alpha của tần suất tác động của rủi ro lên chất lượng dự án Bảng 4.13: Kết quả thống kê mức độ tác động của rủi ro lên hiệu quả

kinh tế - xã hội của dự án

Bảng 4.14: Hệ số Cronbach’s Alpha của mức độ tác động của rủi ro lên hiệu quả

Trang 12

kinh tế - xã hội của dự án

Bảng 4.16: Hệ số Cronbach’s Alpha của tần suất tác động của rủi ro lên hiệu quả

kinh tế - xã hội của dự án

Bảng 4.17: Kết quả thống kê mức độ tác động của rủi ro lên tài chính dự án

Bảng 4.18: Kết quả thống kê tần suất tác động của rủi ro lên tài chính dự án

Bảng 4.19: Kết quả thống kê mức độ tác động của rủi ro lên thời gian thực hiện dự án

Bảng 4.20: Kết quả thống kê tần suất tác động của rủi ro lên thời gian thực hiện dự án

Bảng 4.21: Kết quả thống kê mức độ tác động của rủi ro lên chất lượng dự án

Bảng 4.22: Kết quả thống kê tần suất tác động của rủi ro lên chất lượng dự án

Bảng 4.23: Kết quả thống kê mức độ tác động của rủi ro lên hiệu quả

kinh tế - xã hội của dự án

Bảng 4.24: Kết quả thống kê tần suất tác động của rủi ro lên hiệu quả

kinh tế - xã hội của dự án

Bảng 4.25: Kết quả kiểm định thang đo mức độ tác động của rủi ro lên tài chính dự án

Bảng 4.26: Hệ số Cronbach’s alpha mức độ tác động của rủi ro lên tài chính dự án

Bảng 4.27: Kết quả kiểm định thang đo tần suất tác động của rủi ro lên tài chính dự án

Bảng 4.28: Hệ số Cronbach’s Alpha tần suất tác động của rủi ro lên tài chính dự án

Bảng 4.29: Kết quả kiểm định thang đo mức độ tác động của rủi ro lên thời gian

thực hiện dự án Bảng 4.30: Hệ số Cronbach’s Alpha mức độ tác động của rủi ro lên thời gian thực hiện dự án Bảng 4.31: Kết quả kiểm định thang đo tần suất tác động của rủi ro lên thời gian

thực hiện dự án Bảng 4.32: Hệ số Cronbach’s Alpha tần suất tác động của rủi ro lên thời gian thực hiện dự án Bảng 4.33: Kết quả kiểm định thang đo mức độ tác động của rủi ro lên chất lượng dự án Bảng 4.34: Hệ số Cronbach’s Alpha mức độ tác động của rủi ro lên chất lượng dự án

Bảng 4.35: Kết quả kiểm định thang đo tần suất tác động của rủi ro lên chất lượng dự án Bảng 4.36: Hệ số Cronbach’s Alpha tần suất tác động của rủi ro lên chất lượng dự án

Bảng 4.37: Kết quả kiểm định thang đo mức độ tác động của rủi ro lên hiệu quả

kinh tế - xã hội của dự án

Bảng 4.38: Hệ số Cronbach’s Alpha mức độ tác động của rủi ro lên hiệu quả kinh

tế - xã hội của dự án Bảng 4.39: Kết quả kiểm định thang đo tần suất tác động của rủi ro lên hiệu quả

kinh tế - xã hội

Bảng 4.40: Hệ số Cronbach’s Alpha tần suất tác động của rủi ro lên hiệu quả

Trang 13

Bảng 4.41: Thời gian công tác của các cá nhân tham gia khảo sát

Bảng 4.42: lĩnh vực chuyên môn của các cá nhân tham gia khảo sát

Bảng 4.43: Vị trí công tác của các cá nhân tham gia khảo sát

Bảng 4.44: Bảng xếp hạng các yếu tố rủi ro tác động lên từng tiêu chi hiệu quả dự án Bảng 5.1: Quan hệ tương tác giữa các biến rủi ro

Bảng 5.2: Câu lệnh tình huống

Bảng 5.3: Diễn giải câu lệnh tình huống cho bảng 5.2

Bảng 5.4: Các tình huống làm giảm hiệu quả tài chính của dự án

Bảng 5.5: Các trạng thái của biến làm giảm hiệu quả tài chính của dự án

Bảng 5.6: Các tình huống làm tăng hiệu quả tài chính của dự án

Bảng 5.7: Các trạng thái của biến làm giảm hiệu quả tài chính của dự án

Bảng 5.8: Các tình huống làm trễ tiến độ của dự án

Bảng 5.9: Các trạng thái biến làm trễ tiến độ của dự án

Bảng 5.10: Các tình huống giúp vượt tiến độ của dự án

Bảng 5.11: Bảng các trạng thái của biến giúp dự án vượt tiến độ

Bảng 5.12: Các tình huống làm giảm chất lượng của dự án có thể xảy ra

Bảng 5.13: Các trạng thái của biến rủi ro làm giảm chất lượng dự án

Bảng 5.14: Các tình huống có lợi cho chất lượng dự án có thể xảy ra

Bảng 5.15: Các trạng thái của biến rủi ro làm tăng chất lựong dự án

Bảng 5.16: Các tình huống làm giảm hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án

Bảng 5.17: Các trạng thái của biến rủi ro làm giảm hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án Bảng 5.18: Các tình huống làm giảm hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án

Bảng 5.19: Các trạng thái của biến rủi ro tăng giảm hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án Bảng 6.1: Các biện pháp giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư

Bảng 6.2: Các biện pháp nâng cao hiệu quả dự án xây dựng FDI cho Việt Nam

Trang 14

-000 -

Sơ đồ 2.1: Quy trình quản lý rủi ro theo PMI

Sơ đồ 2.2: Mô hình quy trình ra quyết định đầu tư

Sơ đồ 2.3: Quan hệ nhân quả phân tích tác động trực tiếp

Biểu đồ 4.1: Kinh nghiệm làm việc

Biểu đồ 4.2: Lĩnh vực chuyên môn của các cá nhân tham gia khảo sát Biểu đồ 4.3: Chức vụ hiện tại của người được khảo sát

DANH SÁCH CÁC KÝ HIỆU

-000 -

CIA: Ma trận tác động chéo (Cross-Impact Analysis)

CIB: Phương pháp phân tích Cross-Impact Balances Analysis FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)

Trang 15

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG 1.1 Tổng quan

Sau hơn mai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta đề xuất và lãnh đạo từ năm

1986, Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội vượt bậc, nền kinh

tế tăng trưởng liên tục với “tốc độ bình quân 7,5%/năm, cơ cấu nền kinh tế dần dịch chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, giảm đói nghèo từ trên 50% vào đầu những năm 1990 xuống còn trên 10% vào năm 2008, hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện đánh dấu bằng việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)”… [9]

Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 GDP(%) 6,89 7,08 7,34 7,69 8,43 8,17 8,48 6,23 5,32

Bảng 1.1: Tăng trưởng GDP (%) của Việt Nam từ năm 2000 – 2009 [7]

Trước khi tiến hành cải cách, nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, nền kinh tế ở tình trạng kém phát triển, sản xuất nhỏ, mang nặng tính chất tự cấp tự túc,

cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp “Nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, mức lạm phát lên tới trên 700% vào năm 1986, sản xuất đình trệ, cơ sở kỹ thuật lạc hậu và lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng”[6] Việc mở cửa đất nước đón đầu tư nước ngoài vào đã

thu hút được các nguồn lực mới về vốn, công nghệ, trình độ quản lý từ các nước phát triển giúp cải thiện kết cấu kinh tế và cơ sở hạ tầng của Việt Nam

Tầm ảnh hưởng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài dần trở thành động lực then chốt giúp Việt Nam thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của mình, các nguồn lực của đầu

tư trực tiếp từ nước ngoài lan toả trong hầu hết các ngành kinh tế Với sự ra đời của luật đầu tư nước ngoài được quốc hồi ban hành vào năm 1987 và luật đầu tư sửa đổi vào năm 2005 tạo môi trường pháp lý cao hơn để nhà nước thu hút và quản lý đối với FDI, các hình thức đầu tư của khu vực FDI được đa dạng và phong phú về vốn đầu tư, về hình thức đầu tư

Trang 16

Bảng 1.2: Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 phân theo thành phần kinh tế [7]

Ngành xây dựng là ngành sản xuất ra vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế Do đó, sự tăng trưởng của nó sẽ tạo tiền đề và đóng vai trò then chốt thúc đẩy sự phát triển của cả nển kinh tế - xã hội Từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Việt Nam đã chú trọng thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp - xây dựng Trong mỗi giai đoạn các lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư, các sản phẩm cụ thể được xác định tại danh mục các lĩnh vực khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu tư Trong những năm 1990 thực hiện chủ trương thu hút đầu tư nước ngoài, Chính phủ ban hành chính sách ưu đãi, khuyến khích các dự án tạo ra sản xuất sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu, sản xuất hàng xuất khẩu, xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, năng lượng Qua các thời kỳ, định hướng thu hút ĐTNN lĩnh vực công nghiệp - xây dựng tuy có thay đổi về lĩnh vực, sản phẩm cụ thể nhưng cơ bản vẫn theo định hướng khuyến khích sản xuất vật liệu mới, sản phẩm công nghệ cao,

các dự án cầu, đường, khu đô thị "Theo chiến lược phát triển của Việt Nam, đến năm 2025 Việt Nam sẽ trở thành nước công nghiệp có mức thu nhập trung bình, lúc đó tốc độ đô thị hóa sẽ đạt khoảng 45%, dân số thành thị đạt khoảng 46 triệu người, do đó sẽ cần một lượng nhà ở cũng như

hạ tầng rất lớn để đáp ứng nhu cầu dân cư“ (số liệu năm 2009,[7]) Tuy nhiên cơ sở hạ tầng và tốc

độ tăng trưởng kinh tế ở khu vực nông thôn thấp hơn nhiều khu vực thành thị Hiện nay chính phủ

đã và đang áp dụng chính sách phát triển các khu công nghiệp và khu chế xuất như một công cụ để thúc đẩy tăng trưởng và công nghiệp hoá khu vực nông thôn, với kỳ vọng rằng việc kết hợp kết cấu

hạ tầng tốt ở khu vực này cùng với các chính sách ưu đãi có thể thu hút nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài đến những vùng quê nông thôn Có thể nói, FDI đang khoả lấp chỗ trống về nguồn vốn đầu tư cho các dự án bất động sản và xây dựng, mà thiếu nó, nền kinh tế sẽ không đạt tốc độ tăng trưởng như mong muốn

Trang 17

Do tầm quan trọng và tiềm năng như vậy, ngành công nghiệp và xây dựng luôn thu hút các nhà

đầu tư nước ngoài hướng tới.“Tính đến hết năm 2007, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng lớn nhất với 5.745 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 50 tỷ USD, chiếm 66,8% về số dự án, 61% tổng vốn đăng ký và 68,5% vốn thực hiện Năm 2008, vốn FDI đăng ký tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, gồm 572 dự án với tổng vốn đăng ký 32,62 tỷ USD, chiếm 48,85% số dự án và 54,12% về vốn đăng ký, chỉ riêng bảy tháng đầu năm 2008, trong tám dự án có

số vốn đầu tư trên một tỷ USD, có sáu dự án về xây dựng và phát triển bất động sản Năm 2009, vốn FDI vào lĩnh vực bất động sản đạt gần 5,67 tỷ USD, thông qua 34 dự án được cấp phép mới và

ba dự án đang hoạt động tăng thêm vốn đầu tư“[6]

Theo số liệu của tổng cục thống kê, mức độ đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội của ngành công nghiệp và xây dựng luôn tăng theo hàng năm và cao nhất trong các nhóm ngành

Năm Tổng số Nông, lâm nghiệp

Bảng 1.3: Tồng sản phẩm trong nước theo giá thực tế theo khu vực kinh tế [7]

Xây dựng là ngành có đặc điểm các mục tiêu ban đầu được đề ra lúc bắt đầu dự án dễ bị thay đổi so với kết quả đạt được khi thực hiện xong dự án, chi phí cao và nhiều rủi ro hình thành do đặc điểm riêng của ngành, những yêu cầu pháp lý, các vấn đề liên quan đến tài chính, quy hoạch, cấp phép, tuyển dụng lao động, khả năng thực hiện dự án, môi trường và kỹ năng quản lý điều hành, hoạch định của nhà nước và tính an toàn trong xây dựng Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, các dự án xây dựng công trình chịu ảnh hưởng nhiều hơn tác động không ổn định từ môi trường xung quanh và ngay trong quá trình thực hiện dự án Các dự án có chủ đầu tư nước ngoài, ngoài các

Trang 18

yếu tố gây rủi ro như các dự án xây dựng nói chung còn có thể phải gánh chịu nhiều rủi ro khác do

sự khác biệt về văn hoá, kinh tế, chính trị, luật pháp, trình độ kỹ thuật… giữa nước đầu tư và nước nhận đầu tư Nhìn nhận, đánh giá và chủ động quản lý ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro này để đảm bảo sự thành công của dự án là vấn đề then chốt đối với một dự án đầu tư xây dựng Dưới góc độ chủ đầu tư từ một nước khác đầu tư vào Việt Nam, hiệu quả kinh tế - tài chính là cao nhất, quyết định đầu tư hay không đầu tư phụ thuộc chủ yếu vào các nguồn rủi ro mà họ phải gánh chịu và lợi nhuận mà họ thu được Việt Nam với các đặc thù riêng về kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị của mình đã thu hút được lượng vốn lớn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài để phát triển kinh tế, nhưng nước ta còn tồn tại nhiều khuyết điểm về môi trường đầu tư, chính sách quản lý… gây tác động tiêu cực đến tâm lý kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài

Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong việc thu hút FDI nhưng thực tế cũng đặt ra nhiều vấn đề cho sự phát triển của đất nước Trong lĩnh vực xây dựng, các dự án FDI chủ yếu tập trung vào xây dựng và bất động sản, chưa thu hút được nhiều vốn vào xây dựng hạ tầng giao thông nên không góp phần thúc đẩy việc cải thiện môi trường đầu tư về phần cứng (giao thông, năng lượng) Hơn nữa, tình trạng nguồn vốn FDI ồ ạt đổ vào lĩnh vực bất động sản và xây dựng có thể gây nên những bất ổn kinh tế ở tầm vĩ mô trong trung và dài hạn Nó có thể dẫn đến sự phân bổ vốn đầu tư không hiệu quả trong nền kinh tế, làm bất ổn cán cân thanh toán, thị trường vốn, đặc biệt

là hệ thống ngân hàng và làm tăng các hoạt động đầu cơ trên thị trường bất động sản như đã xảy ra cuối năm 2007 Mối quan ngại nhất là tác động làm giảm hiệu quả đầu tư của nguồn vốn FDI đối với nền kinh tế do tập trung quá nhiều FDI vào một số loại hình bất động sản nhất định Chính quyền địa phương thường quan niệm rằng, cứ nhiều vốn FDI, dù ở lĩnh vực nào đều giúp phát triển kinh tế của địa phương Chính vì thế, hơn một thập niên trở lại đây, các tỉnh ồ ạt xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất với mục tiêu thu hút FDI Nhưng do thiếu kết cấu hạ tầng nên đa phần các khu công nghiệp ở vùng nông thôn xa các trung tâm đô thị không thể thu hút FDI Sai lầm cấp phép dự

án FDI một cách ồ ạt đang làm thay đổi cơ cấu kinh tế của một số vùng nông thôn, thậm chí cả khu vực thành thị, một cách đáng báo động Khu vực nông thôn với kết cấu hạ tầng như đường xá, cầu cống, điện và nguồn nhân lực kém, không được đầu tư đúng mức Trong khi đó, chính quyền địa phương lại thu hồi đất nông nghiệp từ người nông dân để xây dựng các khu công nghiệp và khu chế xuất, (nhưng lại khó thu hút được FDI, thậm chí cả nhà đầu tư trong nước) và xây dựng sân gôn, nhà nghỉ dưỡng, khách sạn, khu vui chơi giải trí, trung tâm thương mại Tình trạng phát triển ồ ạt khu công nghiệp và sân gôn đã lấy đi đất và kế sinh nhai của người nông dân, đẩy họ di cư tìm việc làm tại các thành phố lớn Đồng thời, làm xuất hiện sự phân nhánh phát triển giữa thành thị và nông

Trang 19

thôn, phân bổ nguồn lợi không cân bằng giữa thành thị và nông thôn sẽ đặt ra những vấn đề về công bằng xã hội cho chính phủ

Hiện nay, nguồn vốn FDI vào nước ta không còn giữ vững tốc dộ phát triền như trước năm

2008 Ngoài ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế thế giới còn do những nguyên nhân nội tại của đất nước như hệ thống pháp luật về đầu tư nước ngoài chưa hoàn chỉnh và đầy đủ, hệ thống cơ sở

hạ tầng kỹ thuật thiếu … Theo thông tin từ Cục đầu tư nước ngoài [6] “vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đăng ký cấp mới và tăng thêm trong năm 2009 chỉ đạt khoảng 20 – 22 tỷ USD, giảm 60% so với năm 2008, vốn thực hiện đạt 9 – 10 tỷ USD, giảm khoảng một phần ba so với năm 2008 trong năm 2010, Bộ KH&ĐT đặt chỉ tiêu thu hút từ 22 – 25 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đăng ký mới, vốn thực hiện khoảng 10 – 11 tỷ USD”

Kết quả giải ngân vốn FDI so với số vốn đăng ký cũng là vấn đề đáng quân tâm, “giải ngân vốn FDI trong năm 2008 của các doanh nghiệp tại Việt Nam đạt 11,5 tỷ USD, tăng 43,2% so với năm

2007 Đây mới là dòng vốn thực sự đầu tư từ nước ngoài vào và thể hiện trên cán cân thanh toán quốc tế, không bao gồm số vốn của đối tác trong nước hay ngân hàng trong nước” [6] Theo nhận

định của Cục Đầu tư nước ngoài, khoảng cách giữa con số đăng ký và con số giải ngân ngày càng giãn xa Tương tự, tỷ trọng vốn nội địa ngày càng nhiều, với nhiều dự án FDI dựa vào vốn góp của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và vốn vay ngân hàng trong nước Rõ ràng số vốn góp trong nước và vay trong nước không phải là vốn nước ngoài, nhưng vẫn được tính gộp vào Từ phía các

cơ quan quản lý, các cơ quan xúc tiến đầu tư, và chính quyền các địa phương tất cả đều thích con số cao Con số cao cũng nghĩa là thành tích cao, niềm tự hào cao về sự hấp dẫn của môi trường đầu tư Còn về phía nhà đầu tư, các dự án bất động sản càng có số vốn cao càng dễ được cấp diện tích đất lớn hơn Ngoài ra, vốn FDI đăng ký vào các dự án liên quan đến bất động sản, các dự án công nghiệp nặng (thép, dầu khí) liên tục tăng cao Đây đều là các dự án thâm dụng vốn, chiếm nhiều tài nguyên của đất nước nhưng khả năng tạo việc làm không nhiều

Xét trong thế cạnh tranh giữa các quốc gia nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam vẫn còn những điểm yếu cố hữu kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế Những thiếu hụt về công nhân có kỹ năng, kết cấu hạ tầng, thể chế và khu vực doanh nghiệp trong nước sẽ dần hình thành giới hạn trần tăng trưởng kinh tế - xã hội, không thể tiếp nhận một lượng lớn vốn FDI được triển khai thực hiện tại Việt Nam trong thời gian ngắn Không những thế, cải cách thủ thục hành chính và công tác chống tham nhũng tuy đã tiến hành tích cực nhưng còn rất nhiều vấn đề cần được xử lý để đáp ứng yêu cầu đề ra Tình trạng thiếu hụt lao động có tay nghề và các chức danh quản lý khó có thể được khắc

Trang 20

thu hút và triển khai các dự án FDI tại Việt Nam Chính quyền chưa thực hiện đầy đủ và đúng chức năng dự báo, định hướng và hỗ trợ của mình, chưa có quy hoạch tổng thề về xây dựng của các vùng miền, giám sát và quản lý sử dụng lao động và môi trường hoạt động của các công ty nước ngoài Như vậy, có thể thấy được tầm quan trọng của FDI đối với công cuộc phát triển đất nước đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, và hiệu quả của các dự án xây dựng FDI vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập cho đất nước Chính phủ cần có các chính sách quản lý hợp lý hơn, sâu sát hơn của chính phủ

Tùy thuộc vào mục đích đầu tư xây dựng mà mỗi dự án có các tiêu chí để đánh giá hiệu quả khác nhau Đối với dự án đầu tư xây dựng hạ tầng, công trình công cộng thường sử dụng chỉ tiêu kinh tế - xã hội để đánh giá hiệu quả dự án mà không chú trọng nhiều tới yếu tố tài chính Còn dự

án xây dựng FDI hiện nay vào lĩnh vực xây dựng chủ yếu là bất động sản thì yếu tố lợi nhuận là tiêu chí đầu tiên mà nhà đầu tư xét đến Nhưng, xét theo tư cách là nước nhận đầu tư, thụ hưởng sản phẩm là các công trình mang lại, cơ quan nhà nước cần phải xét đến hiệu quả về yếu tố xã hội (việc làm, cải thiện đời sống nhân dân), yếu tố kinh tế (chiếm dụng vốn, chiếm dụng đất), … hướng đến

sự phát triển bền vững của đất nước

Rủi ro là điều không tránh khỏi và xuất hiện thường xuyên gây thiệt hại cho hiệu quả đầu tư của

dự án Yếu tố này tác động lớn đến việc thu hút FDI vào nước ta Đối với chủ đầu tư nước ngoài, vấn đề đặt ra là nhận dạng, đánh giá tác động của rủi ro đề từ đó có chính sách ứng phó đảm bảo hiệu quả dự án như đã xác định ban đầu trong một môi trường đầu tư mới, tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi

ro Đối với nhà nước ta, nhận biết và nắm bắt các yếu điểm còn tồn tại gây rủi ro cho nhà đầu tư để

có sự điểu chỉnh về chính sách quản lý, cải thiện môi trường kinh doanh thu hút nhiều hơn nữa nguồn vốn FDI, ngoài ra còn phải cân bằng giữa lợi ích người dân và quốc gia với lợi ích của chủ đầu tư đảm bảo sự phát triển bền vững cho đất nước

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Nhận biết và đánh giá hiệu quả đầu tư FDI vào lĩnh vực xây dựng ở nước ta

Nhận diện một số yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến dự án xây dựng FDI Đánh giá tác động của các yếu tố rủi ro này trong điều kiện ở Việt Nam

Xác định các tình huống tốt nhất và xấu nhất của hiệu quả dự án Từ đó xây dựng chiến lược ứng phó rủi ro phù hợp để hạn chế các tình huống xấu và nâng cao khả năng xuất hiện các tình huống tốt của dự án

Trang 21

Đối với nước ta, luận văn đánh giá lợi ích cụ thể mà dự án xây dựng FDI mang lại thông qua các tiêu chí kinh tế - xã hội

Các câu hỏi được gửi đến các chuyên gia và kỹ sư đang làm việc tại các công ty liên quan đến

dự án có nguồn vốn FDI, đó có thể là tư vấn, giám sát, thi công hoặc chủ đầu tư

Đề tài thực hiện xác định rủi ro ảnh hướng đến kết quả đầu ra của dự án, không đi sâu phân tích chi tiết như các khối lượng, tiến độ, chi phí của các hạng mục, chỉ quan tâm đến kết quả cuối cùng

của dự án xây dựng

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn lược khảo những nghiên cứu của các tác giả, các bài báo và tài liệu về hiệu quả dự án xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam và các nước có điều kiện tương tự Việt Nam như Trung Quốc và Ấn Độ Để đánh giá hiệu quả dự án xây dựng FDI, học viên tập trung vào việc đánh giá rủi ro tác động đến ba mục tiêu cơ bản của dự án là: tiến độ, chất lượng, chi phí cùa dự án Ngoài ra, học viên còn đánh giá về hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án xây dựng FDI Ngoài ra, bảng câu hỏi được thiết kế và gửi đến các nhà quản lý dự án, các kỹ sư làm việc trong các dự án xây dựng FDI tại Việt Nam Nội dung bảng câu hỏi tập trung vào sự tác động của rủi ro đến các mục tiêu dự án như trên, sự tương tác của các biến rủi ro sẽ ảnh hưởng đến kết quả dự án như thế nào Kết quả thu thập bảng câu hỏi sẽ được xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS và được xem là kết quả đầu vào của phương pháp Cross – Impact Balance Analysis để phân tích các tình huống có thể xảy

ra của dự án, từ đó các tình huống bất lợi làm giảm hiệu quả dự án và các tình huống có lợi làm tăng hiệu quả dự án sẽ được lựa chọn để làm căn cứ nâng cao hiệu hiệu quả dự án

Nội dung bảng câu hỏi sẽ bao gồm các biến rủi ro ở cấp độ đất nước như: vấn đề chính trị, môi trường xã hội – văn hóa, tài nguyên – môi trường, nền kinh tế, chính sách pháp luật – pháp lý; các rủi ro ở cấp độ ngành như: sự cạnh tranh của đối thủ, nhu cầu thị trường; vấn đề kỹ thuật chung; các

Trang 22

rủi ro ở cấp độ dự án như: vấn đề kỹ thuật – nhân lực – xây dựng, hiệu quả đầu tư dự án, các vấn đề

về vốn đầu tư và các vấn đề khác

Kết quả bảng câu hỏi được xử lý bằng lý thuyết xác suất thống kê

Bảng câu hỏi được truyền tải dưới dạng văn bản, phỏng vấn trực tiếp, hoặc thư điện tử tới các đối tượng cần lấy thông tin Phương thức thu thập bảng câu hỏi là trả lời thư điện tử và khảo sát trực tiếp

Các kiến thức tổng quan

- Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài FDI

- Lý thuyết đánh giá hiệu quả dự án xây dựng và thực trạng hiệu quả dự án

xây dựng FDI ở Việt Nam theo quan điểm nhà đầu tư và nước nhận đầu tư

- Lý thuyết về rủi ro và quản lý rủi ro đối với hiệu quản dự án xây dựng

- Lược khảo các nghiên cứu của các tác giả trong nước và nước ngoài về

hiệu quả và rủi ro đối với dự án xây quốc tế

Nội dung nghiên cứu Chương

1

2

3

Phương pháp nghiên cứu

- Khảo sát bảng câu hỏi về các yếu tố rủi ro tác động lên từng tiêu chí hiệu quả

dự án dựng FDI, Kiểm định độ tin cậy bảng câu hỏi, xác định cỡ mẫu khảo sát

sát, phương pháp thu thập dữ liệu

- Xếp hạng các yếu tố rủi ro trong từng tiêu chí bằng chỉ số rủi ro Risk Index

- Ma trận Cross-Impact Analysis biểu diễn quan hệ nhân quả giữa các yếu tố rủi ro

- Phương pháp phân tích tình huống Cross-Impact Balances Analysis để xác định

các tình huống hiệu quả dự án

Vấn đề nghiên cứu

- Giới thiệu vấn đề hiệu quản dự án xây dựng FDI ở Việt Nam

- Thực trạng hiệu quả dự án xây dựng FDI ở Việt Nam Sự cần

thiết phải nâng cao hiệu hiệu quả dự án FDI

Trang 23

4

5

6

7

Phân tích kết quả khảo sát bảng câu hỏi

- Thiết kế, khảo sát bảng câu hỏi thử nghiệm Kiểm định

độ tin cậy của bảng câu hỏi khảo sát thử nghiệm

- Khảo sát bảng câu hỏi đại trà

- Xử lý số liệu, kiểm định độ tin cậy và phân tích số liệu khảo sát bảng câu hỏi

- Diễn giải kết luận từ số liệu phân tích

Phân tích tình huống dự án theo phương pháp Cross-Impact

Balances Analysis (CIB)

- Xây dựng ma trận phân tích Cross-Impact Analysis (CIA) Matrix giữa

các yếu tố rủi ro đã được phân tích ở các chương trước của luận văn

- Thực hiện phân tích tình huống của các tiêu chí hiệu quả dự án bằng

phân tích CIB dựa trên ma trận CIA

- Xử lý số liệu và xác định các tình huống làm tăng hoặc giảm hiệu quả

từng tiêu chí hiệu quả dự án xây dựng FDI

Giải pháp nâng cao hiệu quả dự án xây dựng FDI

- Thông qua các tài liệu nghiên cứu nước ngoài và quan điểm cá nhân,

đề xuất các biến pháp ứng phó rủi ro đối với các biến rủi ro đã phân tích

ở các chương trước để hạn chế các tình huống xấu và tăng khả năng xuất

hiện của các tính huống tốt cho từng tiêu chí hiệu quả dự án

Kết luận và kiến nghị

Bảng 1.4: Lưu đồ nghiên cứu

Trang 24

1.5 Kết luận chương

Trong chương này, luận văn đã nêu khái quát về hiện trạng và những bất cập của hiệu quả dự án xây dựng FDI ở nước ta Có thể thấy nguồn vốn đầu tư FDI vào nền kinh tế nói chung và ngành xây dựng nói riêng chiếm vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của đất nước Nó góp phần vào việc tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, bù đắp về nguồn vốn triển khai các dự án xây dựng

mà nhà nước chưa có điều kiện đầu tư Tuy nhiên, hiệu quả trong thực tế còn nhiều bất cập, nước ta vẫn chưa phát huy hết hiệu ứng đầu tư của nguồn vốn này do nhiều hạn chế về cơ sở hạ tầng, chính sách quản lý, vốn giải ngân còn rất thấp so với vốn đăng ký… điều này có thể gây ra nguy cơ rủi ro cho dự án xây dựng FDI và rủi ro cho đất nước Do đó, việc nhận diện và đánh giá các yếu tố gây rủi ro cho hiệu quả dự án xây dựng FDI là rất cần thiết, từ đó xây dựng giải pháp ứng phó rủi ro và nâng cao hiệu quả dự án, vừa góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước, vừa tạo môi trường thuận lợi để thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

Chương này còn trình bày về mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Trong phần phương pháp nghiên cứu, luận văn đã thể hiện lưu đồ nghiên cứu chi tiết

Chương hai sẽ trình bày các lý thuyết tổng quan về:

 Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài FDI

 Lý thuyết đánh giá hiệu quả dự án xây dựng và thực trạng hiệu quả dự án xây dựng FDI ở Việt Nam theo quan điểm nhà đầu tư và nước nhận đầu tư

 Lý thuyết về rủi ro và quản lý rủi ro đối với hiệu quản dự án xây dựng

 Lược khảo các nghiên cứu của các tác giả trong nước và nước ngoài về hiệu quả và rủi ro đối với dự án xây quốc tế

Trang 25

CHƯƠNG 2: CÁC KIẾN THỨC TỔNG QUAN 2.1 Tổng quan về đầu tư nước ngoài

2.1.1 Định nghĩa

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư dài hạn của

cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá

nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này [12]

Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"

2.1.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp từ nước ngoài [12]

2.1.2.1 Phân theo bản chất đầu tư

 Đầu tư phương tiện hoạt động

Đầu tư phương tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư Hình thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào

Trang 26

Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm

 Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ

Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau

2.1.2.3 Phân theo động cơ của nhà đầu tư

 Vốn tìm kiếm tài nguyên

Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ năng dồi dào Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận (như các điểm du lịch nổi tiếng) Nó cũng còn nhằm khai thác các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh

 Vốn tìm kiếm hiệu quả

Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, v.v

 Vốn tìm kiếm thị trường

Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh dành mất Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu

2.1.2.4 Phân theo hình thức đầu tư

Theo luật đầu tư nước ngoài năm 1996, hoạt động đầu tư trực tiếp tại Việt Nam được diễn ra dưới ba hình thức:

 Hợp đồng hợp tác kinh doanh: hoạt động đầu tư được tiến hành thông qua các hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản được ký kết giữa hai hay nhiều bên, gọi là các bên hợp doanh, quy định phân chia trách nhiệm và kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh tại Việt Nam mà không thành lập pháp nhân mới

Trang 27

 Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định được ký kết gữa chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài, hoặc là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam, hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh

 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam

2.1.3 Các nhân tố thúc đẩy sự phát triển của đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

 Đối với nước đầu tư:

 Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước

 Chu kỳ sản phẩm

 Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia

 Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại

 Khai thác chuyên gia và công nghệ

 Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên

 Đối với nước nhận đầu tư

 Bổ sung cho nguồn vốn trong nước

 Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý

 Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu

 Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công

 Nguồn thu ngân sách lớn

2.2 Hiệu quả dự án xây dựng

2.2.1 Khái niệm

“Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế - xã hội đã đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để có kết quả đó trong một thời kỳ nhất định”[4]

Hiệu quả đầu tư được đánh giá theo các chỉ tiêu cụ thể để đo lường hiệu quả Việc xác định các chỉ tiêu này tùy thuộc vào mục tiêu của người tiến hành đầu tư hoặc người thụ hưởng đưa ra Một

Trang 28

Hiệu quả dự án đầu tư xây dựng nói chung được đánh giá tùy thuộc vào quan điểm của các bên liên quan đến dự án Theo quan điểm của chủ đầu tư, người trực tiếp bỏ vốn để thực hiện dự án, thì yêu cầu lợi nhuận là cao nhất, dự án chỉ đáng giá nếu đáp ứng được các chỉ tiêu tài chính, cân đối dòng thu – chi, thởi gian thu hồi vốn Theo quan điểm đánh giá của nền kinh tế, chủ yếu chú trọng đến hiệu quả kinh tế - xã hội, ngoài việc xem xét các chỉ tiêu hiệu quả trực tiếp do hoạt động đầu tư mang lại mà còn phải xem xét cả hiệu quả gián tiếp của dự án như tạo cơ sở hạ tầng để phát triển kinh tế, nguồn thu thuế đối của dự án, số lao động được tạo ra, mức độ chiếm dụng vốn của nền kinh tế …

2.2.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả dự án đầu tư xây dựng theo quan điểm kinh tế - tài chính

Các công ty nước ngoài khi hoạt động đầu tư dự án xây dựng ở Việt Nam, dựa vào kinh nghiệm đầu tư của mình đã tận dụng hết các lợi thế so sánh như giá thuê đất rẻ, ưu đãi về đầu tư, nhân công giá rẻ và chính sách quản lý của nhà nước chưa chặt chẽ Tuy nhiên, tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể, dự án xây dựng FDI còn phải gánh chịu những rủi ro chủ quan và khách quan, để đánh giá hiệu quả của dự án xây dựng, ngoài các chỉ tiêu tài chính ở giai đoạn lập dự án đầu tư thì trong quá trình thực hiện dự án nhà đầu tư phải xét đến các tiêu chí cụ thể như thời gian, chi phí, tiến độ, chất lượng và an toàn khi thi công gắn với điều kiện Việt Nam

Xét trong phạm vi dự án, sự thành công của dự án bao gồm hai nhóm yếu tố: nhóm yếu tố thành công trọng yếu và các tiêu chí thành công của dự án

 Nhóm yếu tố thành công trọng yếu là các thành phần của dự án mà có thể bị ảnh hưởng để làm tăng khả năng thành công của dự án Chúng là các biến độc lập làm cho khả năng thành công của dự án tăng lên, ví dụ như năng lực và kỹ năng của chủ đầu tư, nhà thầu thi công, nhà thầu tư vấn

 Các tiêu chí thành công của dự án là các phép đo lường được chúng ta sử dụng để đánh giá kết quả thành công của dự án Chúng là các biến phụ thuộc, chịu tác động của phép đo lường Tùy thuộc vào mục tiêu của dự án và quan điểm của các bên tham gia dự án mà tiêu chí có thể quan trọng với thành phần này nhưng không quan trọng với thành phần khác Chủ đầu tư dự án xây dựng FDI chủ yếu đánh giá quan trọng các tiêu chí về tài chính, tuy nhiên người dân và cơ quan nhà nước coi trọng đến các tiêu chí về hiệu quả kinh tế - xã hội

2.2.2.1 Các yếu tố thành công trọng yếu

Quan niệm về các yếu tố thành công của dự án đã có sự thay đổi trong vài thập kỷ qua Đầu tiên, sự thành công của dự án được gắn liền với kinh nghiệm và chuyên môn của người quản lý dự

Trang 29

án Sau đó, trong các thập kỷ 80 và 90, chất lượng của việc lập kế hoạch và chuyển giao được coi là nhân tố chính của sự thành công Danh sách các yếu tố thành công trọng yếu được đưa vào cấu trúc

dự án dần trở nên phổ biến Một số tác giả [25] đã xác định những rủi ro tiềm ẩn của dự án, những việc mà người quản lý dự án có thể làm hoặc không thể làm để thay đổi sự thất bại của dự án Pinto

và Slevin (1988) [20] đã xác định mười yếu tố thành công của dự án

1 Nhiệm vụ của dự án Xác định rõ các mục tiêu và phương hướng thực hiện

2 Sự hỗ trợ của bộ phận quản lý cấp cao Tài nguyên, quyền hạn và nguồn lực để thực hiện

3 Kế hoạch và tiến độ Quy định kỹ thuật được chi tiết hóa để thực hiện

4 Tư vấn cho chủ đầu tư Giao tiếp thông tin và tư vấn của các nhà thầu `

5 Yếu tố con người Sự tuyển dụng, lựa chọn và huấn luyện các cá nhân

có chuyên môn

6 Các công tác kỹ thuật Khả năng đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và sự thành thạo

chuyên môn

7 Sự chấp nhận của khách hàng Bán được sản phẩm cuối cùng đến người sử dụng

8 Giám sát và phản hồi Kiểm soát toàn diện và liên tục

9 Giao tiếp thông tin Sự cung cấp dữ liệu liên tục tới các nhân vật chủ chốt

10 Việc sử lý sự cố Khả năng xử lý các sự cố

Bảng 2.1: Các yếu tố thành công của dự án [20]

2.2.2.2 Các tiêu chí đánh giá thành công của dự án

Định nghĩa về sự thành công của dự án là chủ đề thường xuyên được thảo luận trong lĩnh vực quản lý dự án Các tiêu chí cơ bản như thời gian, chi phí và chất lượng được coi là “tam giác vàng”,

để đánh giá sự thành công của dự án Tuy nhiên, bên cạnh các tiêu chí này, còn có các phương pháp đánh giá khác như như phương pháp khung logic “Logical framework method” (Baccarini, 1999) [14], theo đó bốn cấp độ mục tiêu dự án được xác định: mục tiêu, mục đích, đầu vào và đầu ra Và một dự án được xem là thành công khi đạt được hai yếu tố: sự thành công của sản phẩm và sự thành công của việc quản lý dự án Thành công của sản phẩm dự án liên quan đến mục tiêu và mục đích,

nó bao gồm: đạt được các thành quả chiến lược của chủ đầu tư, thỏa mãn nhu cầu người sử dụng, và thảo mãn các bên liên quan đến sản phẩm Thành công của quản lý dự án liên quan đến đầu vào và đầu ra của dự án, nó cũng bao gồm ba yếu tố then chốt: đạt được các mục tiêu thời gian, chi phí,

chất lượng của dự án (đầu vào và đầu ra của dự án, đạt được chất lượng của quy trình quản lý dự

Trang 30

Kế thừa ý kiến của Baccarini, khi công nhận sự phức tạp của các kiểu dự án, một số tác giả tổng hợp các tiêu chí bao quát toàn bộ vấn đề thành công cùa dự án Westerveld (2003) [26] đã tổng kết

từ các nghiên cứu trước đó về tiêu chí thành công của dự án để giúp mọi người định nghĩa về sự thành công của dự án

Các kết quả dự án:

Chi phí Tiến độ Chất lượng

Là tam giác vàng cơ bản của các mục tiêu dự án

Hầu hết tất cả mọi dự án đều có ràng buộc về chất lượng, chi phí và tiến độ cụ thể

Sự đánh giá bởi chủ đầu tư

Chủ đầu tư thực hiện dự án để thỏa mãn một nhu cầu

cụ thể Các yếu tố và phương diện nào tạo ra hiệu quả tài chính để đánh giá sự thành công của dự án

Sự đánh giá bởi nhân viên dự án

Người lao động trong dự án sẽ đề cập đến việc đạt được các mục tiêu cá nhân cũng như chịu được áp lực làm việc tốt

Sự đánh giá bởi người sử dụng

Người sử dụng đề cập tới ảnh hưởng tổng thể của họ trong dự án và công năng của sản phẩm cuối cùng

Sự đánh giá bởi các các nhà thầu

Các nhà thầu sẽ cố gắng thu lợi nhuận từ dự án Họ cũng đề câp đến việc đạt được hợp đồng mới và thu nạp được các kỹ năng mới

Sự đánh giá bởi các thành phần khác

Những thành phần này không trực tiếp tham gia dự án nhưng có ảnh hưởng rất lớn

Ví dụ các nhóm môi trường, cơ quan chính quyền, cộng đồng dân cư Họ quản lý các mối quan tâm cụ thể của mình đối với dự án

Bảng 2.2: Các đánh giá thành công của dự án [26]

Như vậy, các dự án xây dựng FDI có tiềm năng lợi nhuận tài chính rất lớn tại Việt Nam, nhưng chủ đầu tư phải đánh giá hoàn cảnh dự án cụ thể của mình, các rủi ro có thể ảnh hưởng đến dự án đầu tư và cần một chiến lược kinh doanh phù hợp với điều kiện Việt Nam, để khai thác tốt nhất tiềm năng thị trường

Trang 31

2.2.3 Đánh giá hiệu quả dự án xây dựng FDI ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trong giai đoạn hiện nay, các dự án xây dựng FDI ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào xây dựng bất động sản và khu công nghiệp, riêng lĩnh vực hạ tầng, năng lượng, cảng biển do nhiều lý do khác nhau như cơ chế hoạt động chưa hoàn thiện, chưa có chính sách thu hút đầu tư, thời gian thu hồi vốn chậm nên chiếm tỷ thấp trong thu hút đầu tư… Các dự án xây dựng khu công nghiệp, vốn là phương tiện để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và là cở sở để thu hút dòng vốn FDI, được chính phủ dành cho nhiều ưu đãi về chính sách quản lý, chính sách thuế, nguồn đất đai và hạ tầng, chi phí thuê đất không cao tuy nhiên có khó khăn là vị trí của các khu công nghiệp này thường xa trung tâm

đô thị, hạ tầng chưa hoàn chỉnh có thể làm tăng chi phí đầu tư Các dự án xây dựng bất động sản, chủ yếu tập trung vào loại hình văn phòng cho thuê, chung cư cao cấp và các khu biệt thự, resort du lịch Đặc điểm các dự án này là mức lợi nhuận cao, thời gian thu hồi vốn nhanh nhưng chịu nhiều rủi ro từ tình hình kinh tế Việt Nam, quỹ đất chưa sẵn có và thường tốn nhiều thời gian để đền bù giải phóng mặt bằng, giá bán sản phẩm chưa thực sự tương xứng với mức thu nhập chung của người dân Tuy nhiên, tiềm năng về thị trường này vẫn rất lớn vì theo đà tăng trưởng của nền kinh

tế và tốc độ đô thị hóa của Việt Nam, nhu cầu về căn hộ của người dân sẽ ngày càng cao cả về số

lượng lẫn chất lượng “Trong chiến lược phát triển mà quốc hội đã phê duyệt đến năm 2020, Việt Nam sẽ trở thành nước công nghiệp thu nhập trung bình, lúc đó diện tích khu vực thành thị của Việt Nam sẽ tăng từ 105.000 ha năm 2007 lên 460.000 ha vào năm 2020 và tốc độ đô thị hoá sẽ tăng từ 28% năm 2007 lên khoảng 45% vào năm 2025; dân số thành thị khi đó sẽ đạt 46 triệu người, Việt Nam phải xây dựng 35 triệu m 2 nhà ở thành thị để tăng diện tích nhà ở lên 20m 2 /người vào năm 2020“ [2] Một đặc điểm nữa là Việt Nam có ưu đãi về thiên nhiên để phát triển ngành du lịch,

đường bờ biển dài 4000 km với các bãi biển đẹp, hệ thực vật tự nhiên phong phú được nhận định sẽ hình thành các khu bất động sản kết hợp du lịch nổi tiếng như Thái Lan, Indonesia Số lượng khách

du lịch hàng năm đến Việt Nam đều tăng ấn tượng hơn nữa đối tượng phục vụ của khu vực này còn

có Việt kiều từ nước ngoài về, đây là một những người thành đạt có nhu cầu nhà ở thực sự

Số người 2.927.876 3.467.757 3.583.486 4.171.564 4.253.740 3.772.359 3.731.919

Bảng 2.3: Thống kê khách du lịch đến Việt Nam hàng năm [8]

Hiện nay tuy các công ty nội địa nắm giữ nhiều bất động sản nhưng năng lực thực hiện từ khâu xây dựng đến khâu bán hàng đều chưa chuyên nghiệp, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của

Trang 32

thị trường phân khúc nhà ở cao cấp Theo ông Nguyễn Hữu Cường, chủ tịch câu lạc bộ BĐS Hà

Nội “với các nhà đầu tư nước ngoài, khi bắt đầu triển khai dự án thì từ việc chọn địa điểm, đến

thuê đơn vị tư vấn, thiết kế có thương hiệu, thuê những nhà quản lý, đầu tư và khai thác có thương

hiệu được họ xem là chiếm già nửa phầm mềm cốt lõi của dự án đó Đây cũng là cách để các doanh

nghiệp nội xem lại thị trường của mình, tại sao cũng cùng mảnh đất như nhau nhưng nhà đầu tư

nước ngoài lại tung giá bán cao gấp 3 giá của các dự án nội mà vẫn hút khách” [11]

2.2.4 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả dự án đầu tư xây dựng theo quan điểm kinh tế-xã hội [4]

Không thể phủ nhận tầm quan trọng của dự án xây dựng FDI đã góp phần cải thiện hình ảnh đô

thị Việt Nam và thúc đẩy nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, không phải dự án xây dựng FDI nào

cũng tạo được ảnh hưởng tốt đẹp đến nền kinh tế và xã hội, do đó trên góc độ quản lý vĩ mô phải

xem xét một cách toàn diện mối tương quan giữa chi phí mà đất nước tiêu tốn khi tiếp nhận dự án

với lợi ích do dự án mang lại Cũng như, đặc điểm quá trình thực hiện dự án của các nhà đầu tư

nước ngoài để xây dựng biện pháp nâng cao hiệu quả và phát huy tốt hơn nữa tác dụng lan tỏa của

dòng vốn này đến nền kinh tế nói chung và lĩnh vực xây dựng nói riêng

 Các tiêu chí đánh giá lợi ích kinh tế - xã hội thể hiện qua các mặt sau :

 Gía trị gia tăng tạo ra cho nền kinh tế quốc dân;

 Mức đóng góp cho ngân sách quốc gia;

 Số chỗ việc làm tăng thêm theo từng năm;

 Mức đóng góp ngoại tệ cho nền kinh tế;

 Mức tăng năng suất lao động xã hội sau khi đầu tư;

 Nâng cao trình độ sản xuất, trình độ quản lý của người lao động;

 Tăng tiềm lực an ninh, quốc gia

 Các tác động đến môi trường và đáp ứng việc thực hiện các mục tiêu trong chiến

lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

 Các tiêu chí đánh giá chi phí kinh tế xã hội:

 Đầu tư cố định

 Đất đai, nhà xưởng, máy móc thiết bị, chuyển giao công nghệ, quản lý, đầu tư cố

định khác

 Đầu tư lưu động

 Nguyên vật liệu, bán thành phẩm nhập khẩu, trong nước

Trang 33

 Sử dụng dịch vụ hạ tầng trong nước như điện, nước, điện thoại, nhiên liệu…

 Các khoản bù giá hay trợ giá của chính phủ

 Sự cạn kiệt của tài nguyên quốc gia

 Sự ô nhiễm môi trường sinh thái…

2.2.5 Đánh giá hiệu quả dự án xây dựng FDI ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay theo quan điểm nước nhận đầu tư

Xét về tổng quát, các dự án xây dựng bất động sản nói chung không phải là những dự án phục

vụ sản xuất, hàm lượng công nghệ không cao nên việc góp phần tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh

tế là không có Tác dụng của nó chủ yếu là phục vụ nhu cầu ở của người dân, nâng cao hình ảnh đô thị và đất nước, hình thành các khu nghỉ dưỡng thu hút khách nước ngoài tới Việt Nam và góp phần vào sự phát triển của ngành công nghiệp bất động sản ở nước ta Trước đây, nước ta theo đuổi mục tiêu phát triển nhanh là chính nên việc hoạch định, ban hành các chính sách thu hút, quản lý đầu tư nước ngoài nói chung và xây dựng bất động sản nói riêng chưa hợp lý, để các nhà đầu tư ngoại lợi dụng lại gây ra nhiều dư chấn tiêu cực cho nền kinh tế đất nước đặc biệt là trong giai đoạn năm

2007 – 2008 Lúc bấy giờ, các nhà đầu tư nước ngoài ồ ạt đăng ký xin phép các dự án hàng tỷ đô la

vì nhận thấy giá thuê đất rẻ, thủ tục đăng ký và vay vốn dễ dàng, chưa cần dự án thực hiện đã có thể tiến hành giao dịch tạo nên cơn sốt đẩy giá dao dịch bất động sản luôn cao hơn rất nhiều so với giá thực của nó Nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã phơi bày thực trạng không mấy khả quan, các chủ đầu tư đa số không có năng lực tài chính mạnh nên thiếu vốn dẩn đến việc dự án chậm tiến

độ, thậm chí còn phải sang nhượng cho chủ đầu tư khác để thu hồi vốn, hệ quả là cả ngành bất động sản rơi vào khủng hoảng, người lao động trong các công ty nước ngoài mất việc, nền kinh tế bị tác động nặng nề Hiện nay, sau khi nghị định 69 ra đời đã giúp khắc phục về giá thuê đất và sở hữu đất theo sát giá thị trường, nghị định 71 giúp cho ngành bất động sản nước nhà đi vào khuôn khổ và phát triển bền vững hơn

Theo số liệu thống kê của tổng cục thống kê thì mức đóng góp GDP của khu vực đầu tư FDI vào ngân sách nhà nước chiếm tỷ lệ khá lớn Tuy nhiên đóng góp của ngành xây dựng có nguồn

vốn nội địa và nguồn vốn nước ngoài khá khiêm tốn, “chỉ chiếm 6,65% tổng sản phẩm trong nước năm 2009”[7] Như vậy có thể thấy về mức độ đóng góp cho ngân sách quốc gia của các dự án xây

dựng FDI không là không đáng kể Lượng thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp FDI cũng không tương ứng với tỷ trọng gia tăng vốn, đã từ lâu hiện tượng chuyển vốn để khai báo lỗ từ

đó miễn hoặc đóng thuế ít của các doanh nghiệp FDI là bài toán nan giải cho cơ quan nhà nước

Trang 34

mô sản xuất Từ khi chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2009”[10], theo đó

doanh nghiệp FDI chỉ cần hoạt động từ 3 năm trở lên ở Việt Nam sẽ được hưởng chính sách này, nhưng điều này lại càng tạo kẽ hở để doanh nghiệp FDI lợi dụng tránh thuế Trong lĩnh vực đầu tư

vào khu công nghiệp, các nhà đầu tư còn được hưởng rất nhiều ưu đãi về thuế sử dụng đất, “như tại

Đà Nẵng nhà đầu tư được miễn thuế sử dụng đất trong 15 năm, 5 năm thuế thu nhập doanh nghiệp

và 50% khoản thuế này cho 3 năm tiếp theo”[11] Việc giảm thuế đất và giảm thuế thu nhập doanh

nghiệp như trên đã thu hút nhà đầu tư ngoại nhưng cơ sở hạ tầng tại các khu này lại lạc lậu không đáp ứng hiệu quả kinh tế của nhà đầu tư đã dẫn đến hiện tượng là nhà đầu tư đăng ký dự án nhưng chủ yếu để chiếm đất xây khu du lịch, resort còn các dự án sản xuất công nghiệp rất ít

% đóng góp GDP 15,99 16,98 17,96 18,43 18,33

Bảng 2.4: Mức đóng góp GDP của ngành xây dựng năm 2005 – 2009 [7]

Các dự án xây dựng FDI bao gồm dự án bất động sản và khu công nghiệp đều là các dự án tiêu tốn tài nguyên đất, và không có yêu cầu công nghệ phức tạp Chủ đầu tư chỉ phải bỏ vốn, kinh nghiệm quản lý thuê tư vấn thực hiện nên đóng góp về tạo việc làm mới, nâng cao kỹ năng của công nhân là không cao Mặc dù, chính phủ đã quy định các dự án xây dựng có nhà thầu chính là nhà thầu nước ngoài phải thuê thầu phụ trong nước [luật đầu tư năm 2003] Nhưng trong các dự án

do nhà thầu nước ngoài làm tổng thầu EPC, lao động nước ngoài vẫn vào chiếm chỗ của lao động trong nước Các dự án FDI xây dựng khu công nghiệp có khả năng đóng góp về việc làm và tạo tác phong công nghiệp cho công nhân nhưng mức đóng góp này chưa tương xứng Đa phần các khu công nghiệp và khu chế xuất hiện nay ở nước ta đều do chính phủ hoặc tư nhân bỏ vốn xây dựng hạ tầng sẵn, không những thế để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài chính phủ còn thực hiện chính sách giảm thuế đất hoặc thu thuế đất khả rẻ, việc thu hổi ào ạt đất nông để phục vụ xây dựng khu công nghiệp – khu chế xuất lại gây nên hiệu ứng ngược về việc làm đó là số người thất nghiệp lại càng cao Bởi vì, người nông dân bị lấy mất kế sinh nhai trong khi họ không có kiến thức và kỹ năng để làm việc trong các khu công nghiệp, chính sách giáo dục đào tạo của nhà nước vừa thiếu vừa không hiệu quả

Trang 35

Năm 2005 2006 2007 2008 2009

% đóng góp việc làm của khu vực

% đóng góp việc làm của ngành xây dựng 14,23 12,70 13,44 13,37 13,05

Bảng 2.5: Tỷ trọng đóng việc làm của ngành xây dựng giai đoạn 2005 – 2009 [7]

Hiện nay ngành xây dựng và bất động sản tuy đã giảm tốc độ thu hút vốn đầu tư FDI so với năm

2008, nhưng nó vẫn luôn đứng trong nhóm đầu về thu hút đầu tư “Trong năm 2009, các dự án bất động sản chiếm vị trí thứ hai với 7,6 tỷ USD đăng ký mới và tăng thêm trong tổng số 21,482 tỷ USD

cả nước thu hút được Đặc biệt, một số dự án có quy mô lớn được cấp phép như Khu du lịch sinh thái bãi biển Rồng (Quảng Nam), dự án Công ty TNHH thành phố mới Nhơn Trạch Berjaya (Đồng Nai); dự án Công ty TNHH một thành viên Galileo Investment Group Việt Nam có tổng vốn đầu tư lần lượt là 4,15 tỷ USD, 2 tỷ USD và 1,68 tỷ USD…các dự án thường đặt tại các thành phố lớn như TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng…”[10] Tuy nhiên chính quyền các tỉnh đã tích cực đổi mới chủ trương

chính sách thu hút đầu tư nên về tổng thể FDI phân bố khắp đất nước Xu thế hiện nay của các nhà đầu tư là đầu tư vào một khu đô thị rộng lớn ngoài chung cư, căn hộ, còn xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh để tăng chất lượng sản phẩm của họ do đó đã góp phần cải thiện hình ảnh hạ tầng Việt Nam Theo dự báo của CBRE tại Tp.HCM và Hà Nội, nhu cầu về văn phòng cho thuê và nhà ở vẫn tăng mạnh do Việt Nam vẫn là một nền kinh tế có tốc độ phát triển hang đầu Châu Á Các nhà kinh doanh hàng hóa cao cấp đang tích cực thâm nhập vào thị trường Việt Nam, nhu cầu về khách sạn phục vụ cho khác du lịch vào Việt Nam vẫn tăng đều theo hàng năm

Hiện trạng cơ sở hạ tầng lạc hậu cùng với chất lượng công tác quy hoạch ở nước ta chưa cao, chưa có tầm nhìn dài hạn Quy hoạch thường thiếu sự gắn kết giữa các ngành, chồng chéo và thiếu đồng bộ Đặc biệt, lập quy hoạch và thực hiện quy hoạch không liên quan đến nhau đã dẫn đến việc cấp phép cho các dự án đầu tư xây dựng không theo một định hướng về quy hoạch và chức năng cụ thể Hiện nay, đa số các thành phố đều chưa có quy hoạch khoa học và thống nhất hoặc quy hoạch

đã lạc hậu không theo kịp tốc độ đầu tư xây dựng Chúng ta mới bắt đầu chú trọng vào vấn đề quy hoạch bằng các thuê tư vấn nước ngoài và lấy ý kiến của dân chúng nhưng khó điều chỉnh do các

công trình đã xây dựng, “điển hình như thủ đô Hà Nội sau khi được sát nhập Hà Tây vào để lấy quỹ đất phục vụ phát triển thì quy hoạch chung mới có ý nghĩa định hướng, không đồng bộ, quy hoạch chi tiết còn thiếu và chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nên thường xuyên phải điều chỉnh cục

Trang 36

thiết hỗ trợ công tác phát triển thủ đô cũng như điều tiết thị trường bất động sản thông qua thông qua quy luật cung cầu Vì thế, công tác quy hoạch chú trọng đến tầm nhìn phát triển của đất nước trong trung và dài hạn đang là vấn đề then chốt của ngành xây dựng và của cả đất nước

Một đặc điểm nữa của các dự án xây dựng FDI là chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn có cơ

sở hạ tầng tương đối đầy đủ còn khu vực nông thôn thu hút được rất ít vốn đầu tư xây dựng, điều này có thể làm tăng chênh lệch phát triển giữa thành thị và nông thôn Để khắc phục tình trạng này, chính phủ đang áp dụng chính sách phát triển các khu công nghiệp và khu chế xuất như một công

cụ để thúc đẩy tăng trưởng và công nghiệp hóa khu vực nông thôn vì kỳ vọng rằng việc kết hợp kết cấu hạ tầng tốt của các khu này cùng với các chính sách ưu đãi có thể thu hút các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài đến những vùng quê Mặc dù, các nhà đầu tư đều muốn lấy đất ở khu vực nông thôn vì chi phí thuê đất nông nghiệp rất thấp nhưng khu vực này có kết cấu hạ tầng yếu, nguồn nhân lực kém, không đáp ứng được quy mô sản xuất công nghiệp Chính quyền các địa phương lại quan niệm rằng cứ là vốn đầu tư FDI sẽ tác dụng tốt đến phát triển kinh tế nên việc cấp phép các dự án không chú trọng vào mục đích đầu tư có phù hợp hay không phù hợp với định hướng phát triển của tỉnh Hậu quả là các dự án sân gôn, khách sạn…chiếm dụng rất nhiều đất được cấp phép nhưng không được triển khai hoặc triển khai cầm chửng làm lãng phí tài nguyên đất Việc thu hồi đất nông nghiệp nhưng không có kế hoạch tạo điều kiện cho nông dân sản sản xuất ngành nghề khác để sinh sống cũng tạo nên những gánh nặng về mặt xã hội

Trong những năm gần đây, chính phủ thực hiện dân chủ hóa trong quản lý kinh tế, tập trung cải cách chính sách quản lý và thu hút đầu tư nước ngoài bằng cách đẩy mạnh cải cách hành chính, phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương Chính phủ và quốc hội chỉ quản lý về chủ trương chính sách, quy hoạch ngành, quy hoạch vùng, những dự án có tổng mức đầu tư lớn còn lại giao cho địa phương thực hiện Nhưng, trong phân cấp quản lý đầu tư có ba điều kiện tiên quyết để phân cấp quản lý đầu tư và xây dựng có hiệu quả là năng lực quản lý của cơ quan được phân cấp, quyền gắn với trách nhiệm được phân cấp và chế tài kiểm tra giám sát đã bị xem nhẹ hoặc lãng quên Cả khi trách nhiệm về việc ra quyết định phê duyệt dự án sai cũng ít khi bị truy cứu trách nhiệm và có biện pháp xử lý thích đáng Công tác quản lý, thanh tra, giám sát trong đầu tư và xây dựng ở các ngành, các cấp không tốt Một bộ phận cán bộ quản lý đầu tư và xây dựng có phẩm chất đạo đức kém, thường lợi dụng những kẽ hở của cơ chế chính sách, lợi dụng chức quyền, vị trí công tác để trục lợi bất chính nhưng lại chưa được xử lý triệt để Các điều này đã làm giảm hiệu quả kinh

tế - xã hội của dự án xây dựng FDI, gây thoát thoát lãng phí tài nguyên của đất nước Ngoài ra, chính quyền các tỉnh chỉ chú ý đến số lượng vốn đầu tư mà không chú ý đến chất lượng các dự án,

Trang 37

chủ trương đầu tư, không có biện pháp giám sát vốn giải ngân cho dự án, tiến độ thực hiện dự án, thẩm định năng lực thực hiện của chủ đầu tư Hiện tượng các siêu dự án FDI có vốn đăng ký đầu tư

hàng tỷ USD sau một thời gian hoạt động đã bị rút giấy phép đang trở nên phổ biến “Trong tháng 07/2010 tỉnh Khánh Hòa đã thu hồi giấy chứng nhận đầu tư dự án Khu phức hợp công nghiệp nặng STX Vina của tập đoàn STX (Hàn Quốc) Với tổng mức đầu tư 500 triệu USD, dự án được coi là lớn nhất trong số các dự án đầu tư nước ngoài đã được cấp giấy phép vào Khánh Hòa Tháng 09/2010, Tỉnh Quảng Nam rút giấy phép đầu tư của 3 dự án FDI trong lĩnh vực bất động sản do triển khai quá chậm tiến độ đó là dự án Bãi biển Rồng do hai Công ty Tano Capital, LLC và Công

ty Global C&D Inc (Mỹ) làm chủ đầu tư, dự án du lịch sinh thái biển cao cấp Pegasus Fund của nhà đầu tư Mỹ và dự án khu du lịch Quê Việt của nhà đầu tư Canada” [10] Hiện tượng này không

chỉ gây lãng phí đất, làm mất cơ hội của nhiều nhà đầu tư khác mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân nằm trong diện phải di dời phục vụ dự án

Từ trước đến nay, FDI luôn được coi là một chỉ số quan trọng để đánh giá môi trường đầu tư cũng như tốc độ phát triển KT-XH của các tỉnh dẫn đến cuộc chạy đua về khả năng thu hút vốn FDI Các khu công nghiệp được lập ra hàng loạt như tại các tỉnh miền trung với mong muốn thu hút đầu tư phát triển sản xuất để thoát nghèo, nhưng không thu hút được các nhà đầu tư phủ kín mặt bẳng và để phủ kín chính quyền các địa phương sẵn sàng cho thuê đất với giá rẻ mà không xem xét đầy đủ các yếu tố hiệu quả đầu tư Từ đó, nhà đầu tư ngoại đăng ký các dự án chiếm nhiều đất như khu du lịch sinh thái, sân gôn sau một thời gian thực hiện kéo dài lại xin chuyển đổi mục đích đầu

tư thành dự án xây cao ốc, văn phòng, nhà ở…Với kinh nghiệm kinh doanh và marketing của mình,

họ đẩy giá bán lên cao hơn nhiều so với các dự án của chủ đầu tư trong nước nhưng vẫn thu hút người mua Và thế là, tiền thuê đất rẻ nhưng giá bán căn hộ lại cao ngất ngưởng đã mang lại lợi nhuận kếch xù cho nhà đầu tư ngoại, nước ta vừa mất tài nguyên, vừa mất ngoại tệ

Sự tập trung của FDI vào lĩnh vực bất động sản cũng có những điều đáng quan ngại ở tầm vĩ mô

cho nền kinh tế Ở Việt Nam, thị trường BĐS “chiếm từ 50% - 70% tổng tài sản quốc gia” [10], có

liên thông mật thiết tới thị trường tài chính - tiền tệ, chứng khoán, vàng, ngoại hối và thị trường hàng hóa - dịch vụ Bất động sản lại là khu vực tiềm ẩn nhiều rủi ro nên nếu chính phủ không có chính sách quản lý bất động sản tốt có thể gây bất ổn cho toàn bộ nền kinh tế Hiện nay, đa số trong các dự xây dựng FDI, tỷ lệ vốn pháp định hay vốn điều lệ so với vốn đăng ký còn thấp Các nhà đầu

tư lúc đầu bỏ một số vốn đăng ký sau đó phần vốn còn thiếu hoặc họ vay thương mại từ các ngân hàng, hoặc là vốn đầu tư gối đầu dựa trên tiền đóng góp của những người mua bất động sản hay bán nhà vừa xây của giai đoạn trước

Trang 38

Các nhà đầu tư nước ngoài nhìn thấy lợi nhuận lớn khi đầu tư vào các nước đang nổi lên có chính sách tiền tệ nới lỏng để dễ dàng vay ngân hàng (với mức lãi suất thấp và ít yêu cầu về thế chấp) Mức độ tăng tín dụng ngân hàng cho các dự án bất động sản trong những năm qua tại Việt Nam chứng minh nhận định này Điều đáng lo ngại là việc các ngân hàng đang cung cấp vốn và được cấp vốn bởi các dự án bất động sản và xây dựng sẽ khó tránh khỏi rủi ro cho cả hệ thống

Theo Ngân hàng Nhà nước, đến tháng 4-2008 tổng vốn vay dành cho các dự án này của các ngân hàng thương mại là 135.000 tỉ đồng (trên 8,4 tỉ USD), chiếm 10,8% tổng tín dụng(2) Mức FDI giải ngân trong lĩnh vực này tính đến cuối quý I năm 2008 chỉ trên 4,7 tỉ USD Mặc dù 8,4 tỉ USD là bao gồm cả các dự án của nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, nhưng con số 60% – 70% vốn của các dự án FDI trong bất động sản và xây dựng (tức khoảng chênh lệch giữa vốn đăng ký và vốn pháp định) sẽ phải từ vốn vay ngân hàng, thì số vốn vay ngân hàng chắc chắn chiếm con số lớn trong số giải ngân 4,7 tỉ USD của các dự án FDI [11] Như vậy, các dự án này đang dựa vào của

các ngân hang để tồn tại, trong đó đa phần là ngân hàng trong nước

Rủi ro mất khả năng thanh khoản của các ngân hàng còn là điều đáng lo ngại hơn khi thế chấp cho các khoản vay đối với dự án xây dựng bất động sản thường chính là quyền sử dụng đất hoặc

chính các dự án xây dựng “Theo Ngân hàng Nhà nước, đến tháng 4-2008, bất động sản chiếm khoảng 50% tổng thế chấp cho vay của ngân hàng” [4] Trước đây, các nhà đầu tư nước ngoài có

được quyền sử dụng nhờ vào liên doanh với các doanh nghiệp đặc biệt là tổng công ty nhà nước Những luật và quy định mới về FDI mang tính cởi mở hơn và giao nhiều quyền hơn cho chính quyền địa phương trong cấp phép Các doanh nghiệp nước ngoài không cần góp vốn với các doanh nghiệp trong nước, nhưng vẫn được mời chào và trao cho quyền sử dụng các khu đất lớn

Do Việt Nam vẫn chưa tự do hóa hoàn toàn tài khoản vốn, nên việc tháo lui nhanh các nguồn vốn trong giai đoạn nền kinh tế bất ổn về tài chính như hiện nay là không dễ dàng Tuy nhiên, các

cơ quan quản lý nhà nước không thể phân định được các khoản vay từ các ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài Lạm phát và chính sách tiền tệ thắt chặt có thể khuyến khích các nhà đầu tư

đi vay vốn từ các ngân hàng nước ngoài bằng ngoại tệ Việc họ trả lãi suất cho các khoản vay này sẽ dẫn đến việc tháo lui nguồn ngoại tệ trong trung hạn và mất cân đối nội tệ và ngoại tệ

Một lý do khác làm cho dự án FDI vào xây dựng và bất động sản không ổn định là sự phụ thuộc của chúng vào bong bóng bất động sản để huy động được vốn lớn Chỉ cần hoàn thiện xong phần móng, các nhà đầu tư bắt đầu rao bán các dự án để sử dụng chính những nguồn vốn trong nước, nhiều khi là từ các hoạt động đầu cơ để thực hiện dự án Nên một khi thị trường bất động sản bị khủng hoảng thì cả hệ thống tiền tệ ngân hảng của nước ta bị ảnh hưởng

Trang 39

Cuối cùng, việc vốn FDI tập trung nhiều vào xây dựng và bất đông sản, vốn không phải ngành sản xuất ra sản phẩm, yêu cầu nhiều đến yếu tố công nghệ mà nó còn tiêu tốn tài nguyên của đất nước là đất đai sẽ tạo ra nguy cơ không đạt được mục tiêu hướng dòng vốn FDI vào những lĩnh vực quan trọng có lợi cho sự phát triển bền vững của đất nước như công nghiệp phụ trợ, phát triển cơ sở

hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực, chế biến nông sản, dịch vụ có giá trị gia tăng cao, sản xuất tiết kiệm năng lượng và các ngành có tỷ trọng xuất khẩu lớn Thu hút quá nhiều vốn FDI vào BĐS còn dẫn đến nguy cơ nhập siêu lớn hơn cho VN trong tương lai Hiện nay, các dự án xây dựng đều đòi hỏi nhập khẩu vào Việt Nam các thiết bị máy móc, vật liệu đặc biệt Khi họ kinh doanh tại Việt Nam sẽ thu hồi bằng đồng nội tệ, nhưng đến lúc chuyển lãi ra nước ngoài, họ sẽ phát sinh nhu cầu mua ngoại tệ rất lớn, đòi hỏi các ngân hàng Việt Nam phải đáp ứng Do đó, dòng ngoại tệ chắt chiu được từ xuất khẩu của các Doanh nghiệp Việt Nam sẽ lại chuyển ra bên ngoài

Như vậy, hiệu quả kinh tế - xã hội của các dự án xây dựng FDI ở nước ta còn nhiều nhiều bất cập và yếu kém, một phần do bản chất đẩu tư kinh tế nhưng phần nhiều do chính sách và cơ chế quản lý của chính quyền còn yếu kém Cần phải có sự đổi mới về tư duy con người, thể chế, chính sách quản lý về dòng vốn FDI nói chung và FDI trong ngành xây dựng nói riêng Đồng thời, Chúng ta cần chú trọng đến phát triển bền vững hơn nữa Có như thế, chúng ta mới khai thác và nâng cao hiệu quả của dòng vốn này phục vụ cho công cuộc phát triển của đất nước

Kết luận

Như vậy, trong phần này luận văn đã lược khảo những kiến thức tổng quan về đầu tư trực tiếp

từ nước ngoài, các hình thức đầu tư, lợi ích của đầu tư FDI với nước đầu tư và nước nhận đầu tư

Có thể thấy đầu tư FDI có tác dụng rất lớn đối với nước đang phát triển như Việt Nam, nó vừa giúp

bù đắp nguồn vốn thiếu hụt để thực hiện các dự án xây dựng mà nguồn vốn trong nước không đáp ứng được, nâng cao trỉnh độ quản lý, tăng thu nhập GDP, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển như du lịch… tạo giá trị gia tăng cho nền kinh tế Luận văn cũng đánh giá hiệu quả dự án xây dựng FDI ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Có thể thấy, các nhà đầu tư nước ngoài có rất nhiều cơ hội

để đầu tư tại Việt Nam, vị trí địa lý thuận lợi, điều kiện tự nhiên luận lợi và sức mua cao của người dân đã mang lại cơ hội cho các nhà đầu tư Theo quan điểm của nước nhận đầu tư, hiệu quản của dự

án được đánh giá theo tiêu chí lợi ích kinh tế - xã hội Theo, đó dự án xây dựng FDI đã góp phần tạo việc làm, nâng cao hình ảnh phát triển, tăng thu thuế, tạo cơ sở để phát triển sản xuất công nghiệp bằng các khu công nghiệp, khu chế xuất,… Bên cạnh đó, hiệu quả dự án xây dựng FDI còn nhiều bất cập và gây rủi ro cho nhà đầu tư và nước ta Đó là thiếu quy hoạch xây dựng, quy hoạch

Trang 40

sở hạ tầng, chính sách quản lý tài chính, Do đó cần đánh giá các yếu tố tác động rủi ro cụ thể đối với hiệu quả dự án để từ đó xây dựng chiến lược ứng phó rủi ro và nâng cao hiệu quả dự án

2.3 Rủi ro trong xây dựng

Ngành xây dựng và bất động sản ở Việt Nam được manh nha hình thành và phát triển kề từ năm

1997, nhưng chỉ là phát triển tự phát chưa có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước Nhờ đó, các nhà đầu tư có thể kiếm được những khoản lợi nhuận đột biến từ xây dựng và bất động sản và ngành xây dựng và bất động sản luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu vốn FDI vào nước ta hàng năm Trước năm 2010, nhờ chính sách tiền tể nới lỏng, giá đền bù đất đai rẻ, chính sách mua bán bất động sản chưa có luật quản lý chính thức, các nhà đầu tư có thể dễ dàng thuê đất nông nghiệp với giá rẻ sau

đó xây dựng bất động sản để thu lợi nhuận Cho đến năm 2010, nhà nước mới ban hành nghị định 71[5] quy định cụ thể về kinh doanh bất động sản giúp cho ngành đi vào khuôn khổ và phát triển bền vững hơn Nhưng theo chiều ngược lại sự không chặt chẽ trong quản lý và thị trường có thể làm nhà đầu tư bị thiệt hại lớn vì phải chịu những rủi ro không lường trước được do sự thay đổi chính sách quản lý và ban hành luật của nhà nước Hơn nữa, nền kinh tế Việt Nam tuy có tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng chưa bền vững, thị trường bất động sản chưa chuyên nghiệp, thị trường vốn, thị trường chứng khoán luôn biến động có thể ảnh hưởng lớn đến hiệu quả tài chính của dự án So với các dự xây dựng có chủ đầu tư trong nước, các dự án xây dựng FDI bị tác động mạnh hơn do các rủi ro tác động từ bên ngoài dự án như kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội Do đó, các nhà đầu

tư nước ngoài cần có sự nhận thức về rủi ro, chương trình ứng phó rủi ro hiệu quả để đảm bảo cho hoạt động sản kinh doanh của mình đạt hiệu quả như mong muốn

2.3.1 Định nghĩa về rủi ro

Theo Nigel J.Smith: “rủi ro của một sự kiện nói đến kết quả xảy ra của sự kiện đó có thể tốt hơn hoặc xấu hơn so với kết quả có khả năng xảy ra nhất, và mỗi kết quả xảy ra gắn với một xác suất nhất định” [21]

Theo PMPOK: ‘rủi ro là là một sự kiện hoặc một hoàn cảnh, nếu nó xảy ra sẽ có tác dụng tích cực hoặc tiêu cực với mục tiêu của dự án” [13]

Dự án xây dựng công trình được thực hiện để đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng, phục vụ cộng đồng thường diễn ra trong thời gian dài, liên quan đến nhiều chuyên ngành như xây dựng, kiến trúc, kinh tế, quản lý, thương mại… với sự tham gia của nhiều thành phần như chủ đầu tư, nhà thầu xây lắp, nhà thầu cung ứng thiết bị và vật liệu, nhà thầu tư vấn thiết kế, tư vấn quản lý dự án Đồng thời,

dự án xây dựng còn chịu tác động trực tiếp từ nhiều môi trường xung quanh như kinh tế, xã hội, tự

Ngày đăng: 10/02/2021, 09:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm