1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý chất lượng công trình trên cơ sở phân tích tính chất vật liệu chính và sử dụng vật liệu xây dựng thích hợp

201 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 201
Dung lượng 2,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở lý thuyết về ximăng, bêtông, lý thuyết về quản lý dự án, tham khảo các nghiên cứu về bêtông và tham khảo lý thuyết ISO về quản lý chất lượng sản phẩm trong xây dựng, căn cứ v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Chánh

Cán bộ chấm nhận xét 1:

Cán bộ chấm nhận xét 2:

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại : HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, ngày tháng năm 2005

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM PHÒNG ĐÀO TẠO SĐH ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC

Tp HCM, ngày tháng năm 2005

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ Họ tên học viên: Lê Chí Quốc Phái: Nam

Ngày, tháng, năm sinh: 01-01-1977 Nơi sinh: Quảng Nam Chuyên ngành: Công nghệ và Quản lý Xây dựng MSHV: 00803203

I TÊN ĐỀ TÀI: Quản Lý Chất Lượng Công Trình Trên Cơ Sở Phân

Tích Tính Chất Vật Liệu Chính Và và Sử Dụng Vật Liệu Xây Dựng Thích Hợp

II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

- Tổng hợp kiến thức cơ bản về vật liệu chịu lực chính : Ximăng Poolăng và bêtông cốt thép, và các ứng dụng của chúng

- Tìm hiểu các nguyên lý về quản lý dự án xây dựng hiện hành ở trong và ngoài nước

- Khảo sát tình hình xây dựng tại Việt nam về quản lý, kiểm soát chất lượng công trình, và khả năng hiểu biết vật liệu chịu lực chính cho công trình xây dựng, mức độ sử dụng bêtông phù hợp cho kết cấu công trình

- Đề xuất các giải pháp để việc sử dụng vật liệu thích hợp cho kết cấu và quản lý chất lượng công trình trong quá trình thi công được đảm bảo

III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 28-02-2005

IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 30-09-2005

V HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN VĂN CHÁNH

CHUYÊN NGÀNH

TS NGUYỄN VĂN CHÁNH TS NGÔ QUANG TƯỜNG TS NGÔ QUANG TƯỜNG

Nội dung và đề cương luận văn đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua

Ngày tháng năm 2005

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được khóa học và luận văn này, tôi đã nhận được sự động viên, hỗ trợ và giúp đỡ tận tình từ thầy cô, nhà trường, gia đình và bạn bè

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô khoa Công Nghệ và Quản Lý xây dựng thuộc trường Đại học Bách Khoa đã luôn tận tâm, nhiệt tình trong việc truyền đạt những kiến thức mới và niềm say mê nghiên cứu, học hỏi trong mỗi học viên chúng tôi trong suốt khóa học

Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy T.S Nguyễn Văn Chánh đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn thầy cô phản biện đã tận tình xem xét và đánh giá luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các nhân viên và nhà quản lý thuộc Ban QLDA Hàng hải III, C.ty Phát triển Kinh doanh Nhà Quận Bình Thạnh C.ty XD và Sản xuất VLXD Biên Hòa, Tổng C.ty Xây dựng Sài Gòn, Tổng C.ty Địa ốc Sài Gòn, Ban Kỹ thuật Công trình Bảo Đảm An Toàn Hàng hải Phía nam, C.Ty Tư Vấn Xây Dựng Đồng Nai, Công ty Xây dựng COFICO, C.Ty Tư Vấn Thiết Kế Công Trình Hàng Hải, Ban QLDA công trình xây dựng C.Ty Tín Nghĩa, Ban Quản Ly Xây Dựng và Phát Triển nhà KCN Tam Phước, C.ty Xây dựng và Lắp máy 45-1, C.ty Xây dựng Thuận Việt, Công ty Liên doanh Phú Mỹ Hưng, C.ty Xây Dựng Công Trình Hàng Hải, Công Ty Cấp Nước Sài Gòn,Ban QLDA công trình Dầu thực vật Nhà Bè, C.ty Xây dựng Miền Đông, Phân viện Khoa học Công nghệ Xây dựng Phía nam, C.ty Tư vấn Xây dựng Vũng tàu, Chi nhành Tổng C.ty Xây Dựng Hà Nội, Trung tâm Tư vấn Thiết kế INVESCON và các đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ tôi trong việc thu thập số liệu để hoàn thành luận văn của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bằng hữu đã hỗ trợ, động viên tôi trong suốt khóa học và trong quá trình thực hiện luận văn này

Trong quá trình thực hiện luận văn không tránh khỏi những sơ suất, mong được sự thông cảm, xin thành thật cảm ơn

TP Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 09 năm 2005

Người thực hiện luận văn

Lê Chí Quốc

Trang 5

TÓM TẮT NỘI DUNG

Trong những năm qua cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về xây dựng cơ sở hạ tầng ngày càng cao đã đặt ra cho ngành xây dựng một nhiệm vụ vô cùng quan trọng Một dự án xây dựng được gọi là thành công không thể thiếu yếu tố chất lượng

Đặc điểm chất lượng sản phẩm xây dựng: Gồm có chất lượng trình tự công việc để tạo ra sản phẩm và chất lượng vật liệu tạo nên sản phẩm đó.Vì vậy, ngoài việc khi thực hiện công trình phải có kế hoạch và quy trình, cần có sự hiểu biết rất kỹ về vật liệu chịu lực chính Tuy nhiên, thực tế hiện nay, mức độ hiểu biết về ximăng và bêtông (vật liệu chịu lực rất quan trọng cho hầu như toàn bộ các công trình) rất thấp, năng lực về quản lý thiết kế thi công yếu Khi tiến hành thực hiện công trình thì không có kế hoạch, không có quy trình, hậu quả là phát sinh, thay đổi thiết kế, phát sinh chi phí liên tục, công trình thi công chậm tiến độ Sử dụng ximăng, bêtông chưa phù hợp cho kết cấu, bêtông không đảm bảo các chức năng quan trọng của mình kể cả về cường độ, công trình làm xong phải sửa đi sửa lại nhiều lần Thi công tràn lan Tổ chức, quản lý, giám sát thực hiện công trình thiếu hẳn bộ phận quản lý chất lượng

Từ những bức xúc trên, tác giả đã thực hiện đề tài “Quản lý chất lượng công trình trên cơ sở phân tích tính chất vật liệu chính và sử dụng vật liệu xây dựng thích hợp” Trên cơ sở lý thuyết về ximăng,

bêtông, lý thuyết về quản lý dự án, tham khảo các nghiên cứu về bêtông và tham khảo lý thuyết ISO về quản lý chất lượng sản phẩm trong xây dựng, căn cứ vào tình hình xây dựng mà tác giả đã tiếp cận trong thực tế làm việc, cùng với việc thu thập ý kiến của một số chuyên gia, nghiên cứu đã thu thập hồ sơ thiết kế kết cấu công trình để đánh giá mức độ phù hợp của bêtông mà thiết kế đã sử dụng cho kết cấu Đồng thời lập ra câu hỏi cho các phần nghiên cứu về khả năng hiểu biết vật liệu chịu lực chính, năng lực quản lý thực hiện các đơn vị, quy trình quản lý chất lượng dự án, các hậu quả do các nguyên nhân trên và mức độ thích hợp của vật liệu chính yếu hiện nay cho công trình xây dựng Sau đó thực hiện khảo sát bằng bảng câu hỏi gửi đến các đối tượng trực tiếp thực hiện xây dựng trong ngành xây dựng; đánh giá dữ liệu bằng phương pháp phân tích thống kê Nghiên cứu đã chỉ ra khả năng hiểu biết vật liệu chịu lực chính (bêtông) của những người thực hiện xây dựng trong ngành xây dựng ở mức độ rất thấp, năng lực kiểm soát chất lượng dự án hoặc công trình xây dựng của các đơn vị yếu, rất ít đơn vị có quy trình kiểm soát chất

Trang 6

lượng công trình Ngoài ra nghiên cứu đã đề xuất 3 quy trình : Quy trình lựa chọn ximăng cho bêtông Quy trình lựa chọn bêtông, phụ gia bêtông cho công trình và quy trình quản lý chất lượng trong quá trình thi công, nhằm giúp cho các đơn vị tham gia thực hiện xây dựng áp dụng mang lại sự đảm bảo chất lượng công trình ở mức cao nhất

Ngoài các cơ sở đã nêu để sử dụng cho việc đề xuất các quy trình, còn căn cứ tình hình xây dựng về hình thức thực hiện phổ biến hiện nay, được hầu hết các chủ đầu tư áp dụng, và vai trò của tư vấn giám sát trực tiếp rất quan trọng đến chất lượng công trình trong quá trình thi công xây dựng Vì vậy nghiên cứu đã đưa ra quy trình quản lý chất lượng công trình trong quá trình thi công trên góc độ thực hiện của đơn vị tư vấn giám sát, trên phương diện này, chủ đầu tư có thể vẫn áp dụng được khi chủ đầu tư trực tiếp giám sát thực hiện công trình

Với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu khá tổng quát, trong điều kiện nguồn lực và thời gian giới hạn, nghiên cứu không tránh khỏi những hạn chế nhất định Tuy nhiên, tác giả hy vọng rằng kết quả nghiên cứu này có thể hữu ích cho người thực hiện xây dựng về việc kiểm tra lại kiến thức vật liệu chịu lực chính của mình, giúp cho người quản lý thực hiện sử dụng vật liệu chịu lực chính thích hợp hơn, và hữu ích trong công tác quản lý thực hiện dự án xây dựng công trình đảm bảo chất lượng

Trang 7

ABSTRACT

In recent years, together with the development of the economics, the need of construction increasing has put forward for the construction Brach a very important task A successful construction plan cannot lack the quality factor

The feature of construction product quality includes the quality of work procedure to make products and the quality of material to make those products Therefore, besides carrying the project, there must be clear plans and procedures as well as food knowledge about main construction material Yet, the level of knowledge about cement and concrete (construction material is very important for most of the projects) and the qualification of the management of design and construction is practically feeble There is no plan, procedure when carrying the project As the result, the design and additional cost are originated and changed so the project cannot catch up with the schedule The use or cement, concrete is not suitable for the structure The concrete cannot assure for its important function and strength After finishing, the project has to be repaired several times Organizing, managing, and supervising the project lack the quality control

With all the problems above, the author has had a research on the

thesis “ Management the construction quality base on analyzing main

structure material property and using suitable constructial material.”

On the premises of the theory of cement, concrete as well as plan management, the survey of the research of cement and the theory of ISO for the management of product quality in construction, depending

on the practice of construction that the author has had in practice, gathering some expert’s point of view, research…… the author has collected data about the design of the structure of the project in order

to valuate a suitable level of concrete that the design has been used The author has also raised the questions for the research of the ability

of understanding the main structure material, the ability of management about performing units, procedure of managing the quality of projects, the consequences due to the causes mentioned above and a suitable level of main structure for the project After that, carrying out the survey by questionnaires sending to those who directly perform the construction in the branch and evaluating data by analyzing statistical method The research has pointed out the ability of

Trang 8

understanding the main structure material (concrete) of those who perform the construction tin the branch, the ability of controlling the quality of a plan or a project of the units is in the low rank Few units have a procedure of controlling the quality of a project Besides that, three procedures have been suggested: choosing cement for the concrete, choosing concrete, mixture of concrete and the procedure of controlling the quality during the construction All of those have been suggested with the aim at helping the units take part in the construction having a good quality of the project at high level

Besides the entire basis that have mentioned for the proposal of procedure, the condition of construction and most owners have approved popular performance at present The role of consultants is very important for checking the quality of the project Therefore, the research has put forward the procedure of managing the quality of the project on the view of the consultant

Due to unit According to this, the owner would be able to apply this method when directly supervising the project the aim a general researching scope and the limitation of time and resources, the thesis has its own limitation Yet, the author hopes that the result might be useful for those who perform the construction would be able to check their knowledge about main structure material and use it more appropriately and effectively in the management of performing the construction project with high quality

Trang 9

LÝ LỊCH TRÍCH NGANG

Họ và tên: LÊ CHÍ QUỐC

Sinh ngày: 01-01-1977

Nơi sinh : Quảng Nam

Địa chỉ liên lạc: Aáp Tân Hoá, xã Hóa An, Thành Phố Biên Hoà, Tỉnh Đồng Nai

Điện thoại : 0913.614143

Nơi công tác: Ban quản lý dự án Hàng hải III

Điện thoại cơ quan: 08.8272363

I QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO

Từ năm 1995-2000: Đại học chính quy khoa Xây Dựng trường Đại học Kiến Trúc TP Hồ Chí Minh

Từ năm 2003-2005: Cao học ngành Công nghệ và Quản lý Xây dựng, trường Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh

II QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

Từ năm 2000-2003: công tác tại Công ty Xây Dựng Và Sản Xuất Vật Liệu Xây Dựng Biên Hòa

Từ năm 2003-2004: công tác tại Nhà In Báo Nhân Dân TP Hồ Chí Minh

Từ năm 2004-2005: công tác tại Ban QLDA Hàng hải III

Trang 10

1.2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH XÂY DỰNG TRONG THỜI GIAN QUA 2

1.2.3 Thực trạng về năng lực quản lý thực hiện công trình 17

1.3 CÁC ẢNH HƯỞNG VÀ HẬU QUẢ CỦA SỰ YẾU KÉM VỀ QUẢN LÝ VÀ

1.3.2 Hậu quả của sự yếu kém về quản lý thực hiện công trình 18

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC XIMĂNG VÀ BÊTÔNG SỬ DỤNG TRONG

XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH VÀ LÝ THUYẾT QUẢN LÝ DỰ ÁN, HỆ THỐNG

2.2.2 Thành phần khoáng vật chính của xi măng 23

Trang 11

2.2.5.1 Trong môi trường nuớc, môi trường ẩm ướt 29

2.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính công tác của hỗn hợp bê tông 33

2.3.9 Các yêu cầu cốt liệu sử dụng cho bêtông 37 2.4 SƠ LƯỢC VỀ LÝ THUYẾT QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY DỰNG 40 2.4.1 Các định nghĩa, khái niệm được sử dụng trong quản lý dự án 40

2.4.5 Các hình thức quản lý thực hiện dự án 46

2.5 LÝ THUYẾT VỀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ISO 47 2.5.1 Hệ thống QLCL ISO và lợi ích khi áp dụng trong xây dựng 47

Trang 12

2.5.3 Nguyên tắc thực hiện iso đảm bảo chất lượng 49

CHƯƠNG 3: KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ BẰNG PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ VÀ

3.3.2 Thực hiện việc gửi và nhận bảng câu hỏi 64

3.4.3 Mức độ chấp nhận rủi ro trong phân tích thống kê 66

3.5.1 Kết quả thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 66

3.5.1.2 K.Q thống kê mô tả mẫu nghiên cứu cho các hồ sơ thiết kế công trình. 70

3.5.2 Phân tích các số liệu kết quả thu thập được 71

Trang 13

CHƯƠNG 4 : ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH LỰA CHỌN SỬ DỤNG VẬT LIỆU

THÍCH HỢP VÀ QUY TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH 79

4.2.4 Chọn loại xi măng để đưa vào đánh giá 81 4.3 QUY TRÌNH LỰA CHỌN SỬ DỤNG BÊTÔNG VÀ PHU GIA BÊTÔNG CHO

4.3.4 Xây dựng tiêu chí để chọn loại bê tông cho phù hợp với kết cấu đặt trong

4.3.5 Chọn và đánh giá loại bê tông thường 84 4.4 QUY TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TRONG QUÁ TRÌNH THI CÔNG 85

c Trách nhiệm thực hiện và hồ sơ kiểm soát cần phải thực hiện theo quy trình 91

Trang 14

DANH SÁCH HÌNH ẢNH, BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ

Hình 1.1 Nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ 3 Hình 1.2 Nhà thi đấu Phú Thọ 3 Hình 1.3 Kho VOSA khi xây xong 5 Hình 1.4 Kho SAFI khi xây xong 5 Hình 1.5 Công trình đèn biển Hạ Aval (Bà rịa – vũng tàu) 6 Hình 1.6 Hệ thống cáp chìm của Bưu Điện bị trồi lên khi đoạn đường

Nối từ hầm chui đến mố cầu Văn Thánh bị võng xuống 7 Hình 1.7 Cốt thép không được che đậy cẩn thận 12 Hình 1.8 Ngâm Cốt thép đã lắp đặt trong nước 12 Hình 1.9 Bêtông tầng hầm của chung cư cao tầng không được bảo dưỡng 15 Hình 1.10 Dùng nước biển để bảo dưỡng bêtông tại vị trí đầu cột 15 Hình 1.11 Lớp bê tông dễ dàng tróc ra khi đưa máy vào khoan cắt phần

miệng cống 16 Hình 1.12 Lô P Chung cư Nguyễn Kim có thông báo tháo dỡ 18 Hình 1.13 Lô M Chung cư Ngô Gia Tự 18 Hình 1.14 Trường CĐSP Bình Phước được xây xong chưa bao lâu đã

xuống cấp nghiêm trọng 19 Hình 2.1 Aûnh hưởng của độ tách nước bên trong 32 Hình 2.2 Nhớt kế kỹ thuật để xác định độ cứng 33

Bảng 1.1 Thời gian lưu hỗn hợp bêtông không có phụ gia 14 Bảng 1.2 Thời gian ngừng cho phép khi đổ bêtông không có phụ gia 15 Bảng 2.1 Lượng nhiệt phát ra khi ximăng rắn chắc 25 Bảng 2.2 Các chỉ tiêu quy định của ximăng 26 Bảng 2.3 Yêu cầu chất lượng của PC Việt Nam 27 Bảng 2.4 Bảng tỉ lệ các khoáng có trong các loại xi măng 30 Bảng 2.5 Loại hỗn hợp bêtông 33 Bảng 2.6 Hệ số được xác định theo chất lượng của cốt liệu 35

Trang 15

Bảng 2.7 Hàm lượng tối đa cho phép của muối hòa tan, ion sunfát

ion Cl và cặn không tan trong nước trôïn bêtông 37 Bảng 2.8 Kích thước hạt cốt liệu theo tiêu chuẩn một số nước 38 Bảng 2.9 Yêu cầu chất lượng của cát dùng cho bêtông 39 Bảng 3.1 Kết quả thống kê về lĩnh vực của dự án 67 Bảng 3.2 Kết quả thống kê về chức năng tổ chức của người được ph vấn 67 Bảng 3.3 Kết quả thống kê về hình thức pháp lý tổ chức của người được

III SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ tổ chức quản lý thi công của TOA thi công nhà máy

nhiệt điện Phú Mỹ 2-1 9

Sơ đồ 1.2 Sơ đồ tổ chức của một số công ty tư vấn nước ngoài 10

Sơ đồ 1.3 Sơ đồ tổ chức tại văn phòng công ty 11

Sơ đồ 1.4 Sơ đồ tổ chức thi công tại công trường đơn vị xây lắp 11

Sơ đồ 1.5 Sơ đồ tổ chức thực hiện xây lắp 16

Trang 16

Sơ đồ 2.1 Sự phát triển cường độ của các khoáng theo thời gian 26

Sơ đồ 2.2 Thể tích hồ xi măng 34

Sơ đồ 2.3 Quan hệ giữa cường độ và thời gian 34

Sơ đồ 2.4 Biểu đồ quan hệ giữa tỉ lệ N/X và mác bê tông 35

Sơ đồ 2.5 Sự phụ thuộc của cường độ bê tông vào lượng nước nhào trộn 36

Sơ đồ 2.6 Biểu đồ thành phần hạt sỏi và đá dăm 39

Sơ đồ 2.7 Hệ thống chất lượng thi công công trình 41

Sơ đồ 2.8 Các giai đoạn của một dự án xây dựng theo Nguyễn Văn Đáng

(2003) 44

Sơ đồ 2.9 Các yếu tố của quản lý dự án theo Nguyễn Văn Đáng 45

Sơ đồ 2.10 Các bước thực hiện quản lý dự án theo Nguyễn Văn Đáng 45

Sơ đồ 2.11 Nguyên tắc thực hiện ISO 49

Sơ đồ 2.12 Biện pháp tạo lòng tin trong bảo đảm chất lượng 50

Sơ đổ 4.1 Quy trình lựa chọn ximăng 80

Sơ đồ 4.2 Quy trình lựa chọn, sử dụng bêtông cho công trình 83

Sơ đồ 4.3 Tổ chức thực hiện kiểm soát chất lượng công trình của đơn vị

tư vấn dự án hoặc tư vấn giám sát 88

Sơ đồ 4.4 Sơ đồ quy trình giai đoạn chuẩn bị 90

Sơ đồ 4.5 Quy trình giai đoạn thực hiện 91

Trang 17

MỞ ĐẦU

Ngành xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất rất lớn, liên quan đến nhiều lĩnh vực trong xã hội, là một bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân, phát triển theo quy luật kinh tế khách quan Cùng với sự phát triển của đất nước, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng cao thì nhu cầu về nhà ở và công trình công cộng cũng tăng lên đòi hỏi ngành xây dựng phải đi trước một bước Do đó để phát triển các ngành kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật thì trước tiên phải đẩy mạnh phát triển ngành xây dựng

Xây dựng cơ bản là một hoạt động kinh tế kỹ thuật phức tạp và lâu dài Sản phẩm của ngành xây dựng là những công trình cố định và đồ sộ, đòi hỏi nhiều ngành nghề, nhiều đơn vị chuyên môn khác nhau cùng phối hợp thực hiện trong thời gian dài Chất lượng công trình xây dựng có tầm quan trọng rất lớn là mối quan tâm không chỉ của ngành xây dựng mà của toàn xã hội Các công trình xây dựng phải đạt yêu cầu chất lượng nhằm đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân và đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước

Để bắt kịp với sự phát triển, thay đổi nhanh chóng của kỹ thuật xây dựng, ngoài việc nắm bắt kịp thời các công nghệ hiện đại thích hợp thì không thể thiếu sự hiểu biết về vật liệu, vật liệu thích hợp

Thực trạng trong những thập niên gần đây hầu hết các công trình quan trọng

ở Việt Nam, chỉ một số ít do các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam thực hiện còn lại hầu hết đều do công ty nước ngoài thực hiện Họ rất am hiểu về đặc điểm, tính chất của vật liệu, họ có những quy trình QLCL rất tốt Vì vậy mà các công trình thi công của họ đảm bảo chất lượng bền theo thời gian, không bị hư hại ở môi trường

Hiện nay, chúng ta đang phát triển cơ sở hạ tầng rất mạnh, khắp miền của tổ quốc tuy nhiên tính chất, đặc điểm về điều kiện, về môi trường rất phức tạp và khác nhau giữa các miền và vùng Vì vậy để cho công trình xây dựng được đảm bảo chất lượng chúng ta cần quan tâm về vật liệu thích hợp cho từng công trình, thích hợp với điều kiện môi trường nơi đặt công trình và nghiên cứu quy trình thi công, quy trình QLCL thực hiện để quản lý việc thi công, thi công đảm bảo bản chất tồn tại của vật liệu đó

Vật liệu xây dựng chịu lực chính sử dụng cho tất cả các công trình xây dựng

ở thế kỷ này chưa có vật liệu thay thế đó là: xi măng và bê tông Vì vậy việc quan tâm nghiên cứu sâu hơn, kỹ hơn về vật liệu chịu lực chính đưa vào áp dụng thích hợp hơn và có quy trình thực hiện đảm bảo được tính chất của vật liệu ấy là hết sức cần thiết và quan trọng

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 GIỚI THIỆU

Việt nam có địa hình phức tạp, có bờ biển dài từ Bắc vào Nam, có vùng cao nguyên và vùng đồng bằng rộng lớn, có hệ thống sông ngoài chằng chịt, khí hậu nóng ẩm là điều kiện bất lợi chống ăn mòn, chống hư hại trong môi trường cho kết cấu bêtông và bêtông cốt thép, một loại vật liệu chịu lực chính của công trình hiện nay mà chưa có vật liệu nào thay thế được Hơn nữa, Sự thành công và bền vững của công trình theo thời gian sẽ đạt được đối với các công trình mà người làm ra nó hiểu biết rất rõ về nó, nghĩa là hiểu biết về bản chất vật liệu tạo

ra nó và công nghệ để tạo thành công trình đúng với bản chất vật liệu đó

Chất lượng xây dựng là mối quan tâm chung của toàn xã hội bởi vì những sai hỏng về chất lượng của loại sản phẩm này có thể gây hậu quả xấu về an toàn và khắc phục rất khó khăn, tốn kém, đặc biệt đối với nhiều công trình hạ tầng như cầu, đập thuỷ điện, nhà máy điện hạt nhân hoặc công trình công cộng như chung

cư, nhà hát v.v .hậu quả này có thể sẽ rất nghiêm trọng

Những sai hỏng về chất lượng của một công trình xây dựng có thể không phát hiện được khi tiến hành nghiệm thu, bàn giao mà chỉ bộc lộ sau khi sử dụng được một thời gian Hơn nữa khác với những sản phẩm thông thường khi phát hiện ra sai hỏng khách hàng không thể trả lại để đổi lấy sản phẩm khác mà chỉ có thể trông chờ vào những biện pháp sửa chữa khắc phục tại chỗ, thậm chí có trường hợp phải phá đi làm lại Vì vậy hơn đâu hết, trong xây dựng việc tuân thủ nguyên tắc “làm đúng ngay từ đầu” là rất quan trọng

Tuy nhiên, Ở nứơc ta trong thời gian qua nhiều công trình thi công kém chất

lượng, nhiều công trình để lại hậu quả nghiêm trọng, vì vậy trong chương này tác giả thu thập thông tin nhằm đánh giá ở một khía cạnh nào đó về thực trạng tình hình xây dựng hiện nay

1.2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH XÂY DỰNG TRONG THỜI GIAN QUA 1.2.1 THỰC TRẠNG VỀ THIẾT KẾ

Trong thời gian qua các công trình có quy mô lớn hoặc các công trình có kỹ thuật tương đối phức tạp của quốc gia đều do các nhà thiết kế nước ngoài thực hiện thiết kế và tư vấn như : Nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ tại Phú Mỹ Bà Rịa- Vũng Tàu, Cầu Mỹ Thuận nối Tiền Giang và Vĩnh Long, Nhà máy ximăng Nghi

Trang 19

Sơn ở Quảng Ninh và gần đây là các công trình như sân vận động quốc gia Mỹ Đình ở Hà Nội nhà thi đấu Phú Thọ ở TP Hồ Chí Minh và nhiều công trình khác ở khắp cả nước

Hình 1.1: Nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ

Hình 1.2: Nhà thi đấu Phú Thọ

Ngoài các cơ chế chính sách là : tuỳ thuộc vào nguồn vốn buộc phải là thiết kế và Tư vấn nước ngoài thì vấn đề năng lực cũng rất quan trọng, các nhà thầu thiết kế và tư vấn trong nước chưa có khả năng đảm đương được Mặc dù các công trình trên tương đối phức tạp tuy nhiên các nhà thiết kế và tư vấn nước ngoài đã đảm bảo cho công trình chất lượng ở mức cao khi đưa vào sử dụng Các

Trang 20

nhà thiết kế và tư vấn nước ngoài rất quan tâm đến chất lượng công trình ở các khâu thiết kế, thi công và bảo dưỡng:

Khâu thiết kế: người ta rất quan tâm đến 2 yếu tố của vật liệu là: Sự thích hợp của vật liệu với môi trường và khả năng chịu lực của vật liệu

So sánh với các công trình trên được các nhà thiết kế và tư vấn nước ngoài thực hiện, các nhà thiết kế và tư vấn ở ta còn yếu hơn nhiều Tình trạng vượt chi phí và phát sinh, thay đổi trong các dự án xây dựng hiện nay là khá phổ biến Do chất lượng công tác quy hoạch, khảo sát, thiết kế thấp, sai sót về khối lượng công trình lớn, nên trong quá trình thi công phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần làm ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng công trình Dự án cải tạo và nâng cấp quốc lộ

51 (đoạn Km0 – Km5 và đoạn Km5 – Km73+600) trong quá trình thi công phải bổ sung, điều chỉnh nhiều lần các hạng mục công trình, do không tính toán, đánh giá đầy đủ các yêu cầu, khả năng phát triển của khu vực, tăng chi phí 41,7 tỷ đồng Dự án khôi phục và hoàn thiện cơ sở hạ tầng nghề cá, khối lượng phát sinh ở 6 cảng cá được kiểm toán lên đến 11,8 tỷ đồng (bằng 10,3% giá trị quyết toán) Tình hình phê duyệt lại nhiều lần dự án đầu tư, tổng mức đầu tư, tổng dự toán là khá phổ biến hiện nay Thậm chí một số dự án được phê duyệt, điều chỉnh sau khi đã hoàn thành quá trình xây lắp, thực chất là hợp thức hóa thủ tục thanh quyết toán khối lượng phát sinh, điều chỉnh Dự án mở rộng nhà máy đường Quảng Ngãi không thực hiện khảo sát, thiết kế, lập dự toán trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, mà sau khi bàn giao đưa vào sử dụng mới xin phê duyệt, vi phạm nghiêm trọng quy chế quản lý đầu tư và xây dựng Tổng mức đầu tư của dự án cầu Sông Gianh phải điều chỉnh 3 lần (năm 1995: 186 tỷ đồng, năm 1998: 239 tỷ đồng, năm 2000: 257 tỷ đồng) Dự án tòa nhà 11 tầng Đại học

Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh phải phê duyệt lại; dự án Ký túc xá 5 tầng Đại học Tây Nguyên phê duyệt 2 lần… Chất lượng công tác thẩm định thiết kế, dự toán có nhiều sai sót, có nơi bị xem nhẹ, dẫn đến ở một vài dự án giá trị trúng thầu cao hơn giá trị thực tế do tính sai khối lượng như dự án ở Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Hành chính Quốc gia (Phạm Văn Nhạ, 2004, Từ kiểm toán xây dựng cơ bản, đặt ra một số vấn đề)

Những người làm thiết kế chưa ý thức thực sự về vấn đề sử dụng vật liệu cho công trình mang lại hiệu quả tốt nhất mà đặc biệt là việc sử dụng xi măng và bê tông (vật liệu chịu lực chính hầu hết các công trình xây dựng) cho các kết cấu bêtông và bêtông cốt thép, có thể nhận thấy được ở các công trình tiêu biểu sau :

1 Công trình : Xây dựng mạng lưới cấp nước thị trấn Cần Giờ – Tp HCM Hạng mục : Họng đổ nước cho xà lan 300T

Trang 21

Đặc điểm : Trong đó có nhiều hạng mục tuy nhiên hạng mục được quan tâm

xem xét về thiết kế ở đây là : Hạng mục cầu bến : là dạng bến xa bờ, phía trong là cầu dẫn với kết cấu là trụ đỡ bê tông cốt thép và dầm thép, phía ngoài là hệ thống trụ và sàn công nghệ kết cấu móng cọc đài cao bằng dàn thép, trong đó sàn công nghệ và cọc là BTCT M300, bê tông bảo vệ cốt thép của cọc là : 5cm và sử dụng loại bê tông thường không quan tâm đến phụ gia, với thiết kế này không đảm bảo chống ăn mòn cho kết cấu bêtông và bêtông cốt thép Vì cọc đài cao làm việc trong vùng nước lợ,ï cả ở vùng ngập nước hoàn toàn và vùng nước lợ lên xuống, vị trí này có sự ăn mòn bê tông rất lớn, có thể gây cho công trình sớm hư hại so với sự mong đợi thời gian tồn tại của công trình Theo tiêu chuẩn TCXDVN 327-2004 : bê tông, bê tông cốt thép – Yêu cầu về bảo vệ chống ăn mòn trong môi trường biển thì với vùng này phải sử dụng bê tông mác thấp nhất là M400 và chiều dày bêtông bảo vệ nhỏ nhất phải 6cm

2 Công trình : Kho bãi Container Vosa Quận 7 và Kho bãi Containor SaFi Q7

Vị trí số 4 Đào Trí thuộc vùng xâm thực nước lợ cách mép sông Sài Gòn 500m Tuy nhiên toàn bộ thiết kế kết cấu ở đây từ móng cho đến thân, kho và các hạng mục có móng BTCT đều thiết kế với bê tông M200 và chiều dày lớp bảo vệ 3cm và không khuyến cáo sử dụng loại bê tông hoặc phụ nào cho phù hợp

Trang 22

toàn bộ đà kiềng của nhà bị đứt 2 đầu hoặc gãy ở giữa Khi xem xét thiết kế thì

nhận thấy bê tông sử dụng là bê tông đá 1x2 M200 lớp bảo vệ thép 3cm và đà

kiềng nằm ở vị trí nước lợ của sông Sài Gòn lên xuống thường xuyên

Đương nhiên các kết cấu nêu trên không đảm bảo về chống ăn mòn cho

bêtông và bêtông cốt thép theo tiêu chuẩn TCXDVN : 327-2004

Các công trình ở vùng biển hiện nay vẫn được thiết kế và đưa vào thi công

trong đó vật liệu quan trọng chịu lực là xi măng, bê tông không được quan tâm

đúng mức, như môi trường mà xi măng hoặc bê tông đó phải chịu, chỉ quan tâm

đến mác bê tông còn tất cả các chỉ tiêu khác thường bỏ qua, có những công trình

nằm ở vị trí rất bất lợi về môi trường, nhưng thiết kế, thi công và cả nhà quản lý

không phát hiện hoặc không sử dụng phụ gia để chống lại sự bất lợi đó của môi

trường mà vẫn dùng các bê tông thường :

Với công trình Đèn biển Hạ Aval là công trình nằm ngay giữa biển, được

thiết kế với hệ dầm trên đầu cọc

đỡ công trình Vì vậy hệ cọc

thường xuyên tiếp xúc với sự lên

xuống của nước biển làm cho

bêtông bị ăn mòn rất mạnh, tuy

nhiên thiết kế cọc BTCT chỉ với

tiết diện 40x40cm và M300, với

thiết kế như vậy công trình sẽ khó

tồn tại lâu như mong đợi Và rõ

ràng là không đảm bảo so với tiêu

chuẩn TCXDVN 327-2004

Hình 1.5 : Công trình đèn biển Hạ Aval

(Bà rịa – vũng tàu)

Về năng lực của các nhà Doanh nghiệp tư vấn Hiện nay, hoạt động của các

doanh nghiệp Tư vấn xây dựng ở nước ta rất khó kiểm tra, quản lý, các Doanh

nghiệp tư vấn đủ năng lực hoạt động ít Nhiều doanh nghiệp “ma” các đơn vị

này không có “quân” mà chỉ có “tướng”, với một con dấu trong tay họ chuyên

làm “quân xanh quân đỏ” để đi đấu thầu Tỷ suất lợi nhuận thậm chí còn cao

hơn các doanh nghiệp tư vấn “xịn” Còn trong số các doanh nghiệp tư vấn có đủ

năng lực hoạt động, một vài doanh nghiệp thực sự mạnh còn hầu hết chỉ hoạt

động cầm chừng, cán bộ chuyên môn chỉ có vài người (ngoại trừ Tp.HCM và TP

Hà nội) Mỗi khi trúng thầu tình trạng thuê người của nhau diễn ra phổ biến

Theo đánh giá của giám đốc Sở Xây Dựng Hà Tỉnh thì trên địa bàn tỉnh các

doanh nghiệp tư vấn trong toàn tỉnh, chỉ có 20% doanh nghiệp đủ năng lực hoạt

Trang 23

động, khoản 20% đạt một nữa điều kiện theo quy định của luật xây dựng Còn

lại 60 % là các doanh nghiệp “ma”.”Tác giả: Hoàng Anh, Giám đốc Sở Xây Dựng Hà Tỉnh đăng tại tạp chí xây dựng tháng 1 năm 2005”

Thậm chí đối với một doanh nghiệp tư vấn lớn có nhiều năng lực như Công

ty tư vấn thiết kế GTVT phía nam (Tedi South) thuộc Bộ Giao Thông Vận Tải, khi thiết kế cầu Văn Thánh 2 đã để xảy ra sự cố gây nhiều hậu quả nghiêm trọng ; Cầu Văn Thánh 2 đã lún sụt gần đến mặt đường bị ngập nước khi triều cường, gây ảnh hưởng đến khai thác công trình Không đảm bảo an toàn giao thông Giờ đây, nếu giải quyết bù lún mặt đường để cao hơn cao độ triều cường thì nhà dân ở hai bên đường bị thấp xuống, chưa kể sửa chữa lại toàn bộ hệ thống thoát nước ở khu vực này

Trong văn bản gửiû UBND Tp HCM Sở Giao Thông Công Chính Thành phố cũng đã cho biết : bản báo cáo của đoàn kiểm tra Bộ GTVT đã chưa làm rõ vai trò của chủ đầu tư ( Công ty thanh niên xung phong TP.HCM) trong việc thực hiện tiếp quá trình xử lý kỹ thuật công trình này Đồng thời Sở cho biết độ lún nền đường sẽ gây ảnh

hưởng nhất định đến các

công trình Hạ tầng kỹ

thuật ngầm đô thị , nhất

là ảnh hưởng đến hệ

thống thoát nước có thể

gây ngập trên mặt đường

và rò rỉ dẫn đến phá hoại

dần kết cấu mặt đường

Tất cả các vấn đề trên

chưa được Tedi South

đánh giá đúng mức :

“Nguồn : Báo tuổi trẻ

ngày 4-8-2005 sự cố công

trình cầu Văn Thánh 2”

Hình 1.6: Hệ thống cáp chìm của Bưu Điện bị trồi lên khi đoạn đường nối từ hầm chui đến mố cầu Văn Thánh bị võng xuống

Trang 24

1.2.2 THỰC TRẠNG VỀ THI CÔNG

Việc thi công công trình là khâu rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công trình, và việc thi công cho đảm bảo tính chất của vật liệu để tạo ra kết cấu có khả năng tồn tại lâu nhất là vấn đề vô cùng quan trọng Đặc biệt kết cấu chịu lực chính cho các công trình là bê tông và bê tông cốt thép, về bê tông có rất nhiều tính chất đặc thù mà người am hiểu về nó khi thi công sẽ mang lại cho công trình chất lượng cao nhất, vì có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng của loại vật liệu này

Đối với các công trình ở Việt Nam do người nước ngoài trúng thầu thi công, bản thân họ rất quan tâm đến chất lượng công trình, họ am hiểu rất sâu sắc về vật liệu chịu lực đặc biệt là bê tông, họ có quy trình quản lý chất lượng chặt chẽ và bộ phận kiểm soát chất lượng được xem là bộ phận quan trọng nhất để đảm bảo chất lượng công trình Công trình nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ 2-1, Tập đoàn TOA Corp (JaPan) thầu phụ thi công công trình trên, Với việc tổ chức thi công TOA đã bố trí sơ đồ tổ chức nhân sự thi công ( Sơ đồ 1.1)

Tại công trường đơn vị xây lắp thường bố trí thực hiện theo sơ đồ (Sơ đồ 1.4)

Tất cả các sơ đồ tổ chức thực hiện trên luôn luôn có bộ phận quản lý chất lượng từ cấp cao đến cấp thấp, từ tổng công ty xuống công trình

Vật liệu được họ sử dụng:

Về đá, sỏi sử dụng làm cốt liệu cho bê tông được người ta lựa chọn rất kỹ càng và rửa sạch trước khi trộn bê tông

Nước sử dụng cho công trình đều được kiểm tra, kiểm định nghiêm ngặt trước khi sử dụng cho kết cấu chịu lực

Trang 25

Toàn bộ việc kiểm tra kiểm soát vật liệu đều theo trình tự đã lập sẵn là kiểm tra đúng yêu cầu từng bước, bước trước đạt, bước sau mới được thực hiện tiếp theo

Sơ đồ 1.1 : Sơ đồ tổ chức quản lý thi công của TOA thi công nhà máy nhiệt điện Phú mỹ 2-1

Trang 26

1 Công trình : (v.v Hỏi thầy ẩn)

Hình : HỎi thầy Chánh

CẤP TỔNG CÔNG TY

CẤP CÔNG TY (ĐƠN VỊ)

CẤP DỰ ÁN

Sơ đồ 1.2 : Sơ đồ tổ chức của một số công ty tư vấn nước ngoài

Ghi chú: Trong nhiều dự án, giám đốc dự án và chủ nhiệm dự án là một chức vụ

Giám đốc

Phó GĐ chất lượng

CB QL HCL của công ty (Trưởng phòng chất lượng )

Quản lý HCL đơn ị

Giám đốc đơn vị

Phụ trách HCL đơn vị

Các trưởng phòng khác

Giám đốc dự án

Thư ký, lưu hồ sơ

Hành chính

Nhóm chuyên ngành A Chủ trì & thành

Chủ nhiệm dự án

Kiểm tra chất lượng của công ty

Các kiểm tra viên khác

Nhóm chuyên ngành B Chủ trì & thành

Nhóm chuyên

ngành C

Chủ trì & thành

Trang 27

Nguồn ISO 9000, giải thích và hướng dẫn áp dụng trong xây dựng tác giả Đinh Sỹ Chương”

Sơ đồ 1.3 : Sơ đồ tổ chức tại văn phòng công ty

TẠI VĂN PHÒNG CÔNG TY

Tổng giám đốc

Trưởng phòng hành

Trưởng phòng hợp đồng

Trưởng phòng thi công

Trưởng phòng thiết kế

Các cán bộ

(Điều phối viên

chất lượng)

Các chủ nhiệm thi công

Phụ trách mua sắm

Phụ trách nhân sự

Các giám sát khối lượng

Kỹ

sư thiết kế

Kế toán

TẠI CÁC CÔNG TRƯỜNG

Chủ nhiệm công trình

Phụ trách an toàn lao động

Kỹ sư thi công

Giám sát khối lượng

Các điều

phối viên về

chất lượng

Thư ký công trường

Đốc công phần xây thô

Thủ kho

Đốc công hoàn thiệnGiám sát lắp

đặt cơ điện

Trang 28

Một số tính chất quan trọng của bê tông được kiểm ngay tại hiện trường như :

Sơ đồ 1.4 : Sơ đồ tổ chức thi công tại công trường đơn vị xây lắp

Đối với các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam, khi thi công công trình, vấn đề về chất lượng còn yếu, thiếu tính chuyên nghiệp, các quy trình có thể được lập ra để đấu thầu, tuy nhiên khi thực hiện thì hoàn toàn khác, hầu như chất lượng vật liệu chưa được quan tâm đúng mức

Việc bố trí bình đồ công trình chưa hợp lý cũng là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng vật liệu và ảnh hưởng đến chất lượng công trình

Hình 1.7: Cốt thép không được che đậy cẩn thận

Trang 29

Hình 1.8: Ngâm Cốt thép đã lắp đặt trong nước

Trong quá trình thi công, các đơn vị thi công và người thi công quan tâm đến tiến độ, chi phí và thẩm mỹ của sản phẩm xây dựng nhiều hơn là quan tâm đến chất lượng của bêtông , bêtông cốt thép

Tình trạng thi công bêtông dường như không được kiểm soát một cách đúng mực : đối với bêtông đổ tại công trình, thì chất lượng không kiểm soát Cốt liệu đá không đạt tiêu chuẩn nhưng vẫn được sử dụng cho bêtông Hầu như các loại đá có trên thị trường thực tế ít khi đạt được theo tiêu chuẩn, tuy nhiên vẫn được các công trình sử dụng

Có khi tiến hành đổ bêtông, do không có kế hoạch trước, nhiều lúc bị thiếu vật liệu nên sử dụng cả cát xây, tô (hạt nhỏ) có sẵn tại công trình để trôïn bêtông

Quy định về cốt liệu cho bêtông phải sạch, tuy nhiên cát, đá đến công trình không phải lúc nào cũng sạch, nhưng khi trôïn bêtông tại chỗ ít thấy đơn vị thi công tưới nước rửa cát, đá, điều này rất dễ thấy đối với thi công hệ thống cấp thoát nước dọc theo đường nhựa

Tình trạng nước sử dụng cho bêtông rất bừa bãi về liều lượng và chất lượng , khi trôïn bêtông tại hiện trường hầu như các bên tham gia : Cán bộ thi công và giám sát tính toán lượng cát , đá , ximăng cho một mẻ trọn, còn lượng nước thì không ai kiểm soát, để cho công nhân đổ đại vào cho tới khi dễ thi công mới thôi.! trong khi đó tỉ lệ N/X (tỉ lệ nước / ximăng) là yếu tố quyết định đến cường độ và chất lượng bêtông, hơn nữa về chất lượng nước cho kết cấu bêtông và bêtông cốt thép thì chẳng ai kiểm soát, chỉ đánh giá bằng mắt thường, nhìn thấy không bị phèn, không bị đen, không bị lẫn rác là chấp nhận Nhiều yếu tố mà trong thành phần của nước làm hư hại bêtông hoặc bêtông cốt thép không ai quan tâm như : độ PH, nồng độ Cl-, nồng độ SO42-, nhiều lúc các nồng độ này dường như xa lạ với các kỹ sư thi công, giám sát tại các công trình

Theo yêu cầu của tiêu chuẩn xây dựng, TCXDVN 302-2004 : yêu cầu kỹ thuật cho nước trôïn bêtông và vữa thì nước trong bêtông phải thỏa mãn được các yêu cầu :

Độ PH nhỏ hơn 4 và lớn hơn 12.5

Lượng tạp chất hữu cơ không lớn hơn 15mg/lít

Hàm lượng cho phép của muối hoà tan:

Ion SO42- : <= 2700 mg/l

Ion Cl- : <= 300 mg/l

Khối lượng mẫu thử không nhỏ hơn 5 lít, tuy nhiên hiếm ai ở công trình xây dựng quan tâm đến vấn đề này

Trang 30

Trong quá trình đổ bêtông tươi, chỉ thực hiện lấy mẫu để kiểm định về cường độ là chủ yếu còn việc kiểm tra độ sụt chỉ mang tính hình thức, chỉ kiểm tra độ sụt cho vài xe bêtông đầu còn về sau thì coi như đã giống các xe trước Khi kiểm tra độ sụt chỉ biết ngay tại lúc kiểm là đạt độ sụt thiết kế chứ chẳng quan tâm gì đến thời gian từ lúc trôïn đến lúc kiểm

Thời gian khi trôïn bêtông đến khi hoàn thành việc đổ bêtông là rất quan trọng Ngoài ra thời gian ninh kết bêtông phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, theo tiêu chuẩn xây dựng : TCXDVN 4453-1995 thì thời gian hỗn hợp bêtông không có phụ gia được cho ở bảng sau :

Bảng 1.1 : Thời gian lưu hỗn hợp bêtông không có phụ gia

Nhiệt độ 30oC Thời gian vận chuyển cho phép (phút)

Các công trình nằm ở các tỉnh Miền đông Nam bộ lúc nào nhiệt độ cũng trên

30oC Tuy nhiên, trên thực tế trên các công trình : Sau khi bêtông được trôïn xong chở đến công trình vượt trên 30 phút, hoặc 45 phút, thậm chí có xe trên 60 phút vẫn được đổ bình thường , và thường các kỹ sư thi công và giám sát tính thời gian đổ bêtông không quá 2 giờ là bắt đầu từ lúc đổ chứ không phải bắt đầu tính từ lúc trộn

Về việc sử dụng ximăng cho các kết cấu ở công trình, giám sát và cũng như chủ đầu tư kể cả thiết kế, khi kiểm tra vật liệu ximăng sử dụng cho công trình thì chỉ kiểm tra ximăng đó là công ty nào sản xuất như : Hà Tiên, Nghi Sơn, Cotec, Holcim v.v…, hoàn toàn không kiểm tra ximăng đó là loại gì, sử dụng cho kết cấu nào là thích hợp Các kỹ thuật hoặc chỉ huy công trình cũng không biết sử dụng loại ximăng nào cho kết cấu nào là thích hợp Tuy nhiên theo tiêu chuẩn loại ximăng khác nhau, có những ưu điểm khác nhau, phù hợp cho các kết cấu khác nhau: Ximăng Poolăng Puzolan (kí hiêu PCB) có tính bền nước tốt hơn ximăng Poolăng (kí hệu PC) nên sử dụng cho kết cấu móng, tuy nhiên ở ngoài không khí ximăng PCB thường hay bị nứt nhiều do co ngót và thường hay giảm cường độ vì vậy không nên sử dụng ximăng PCB cho kết cấu bên trên, hơn nữa thời gian đông kết của ximăng PCB chậm hơn ximăng PC, việc áp dụng loại nào cho bêtông để đảm bảo thời gian ngừng thi công trong quá trình đổ bêtông cũng rất quan trọng :

Trang 31

Với thực trạng thi công như vậy cho thấy mức độ hiểu biết về bêtông và

bêtông cốt thép của những người tham gia thực hiện xây dựng yếu

Hiện nay nhiều công trình không xem trọng việc bảo dưỡng bê tông, khi tiến

hành công tác bê tông xong sau đó chỉ tưới nước một ngày, một hoặc hai lần lên

kết cấu, có nơi chỉ bảo dưỡng 1 đến 2 ngày sau khi đổ Có nơi còn không bảo

dưỡng bê tông

Hình 1.9: Bêtông tầng hầm của chung cư cao tầng không được bảo dưỡng

Ngay cả trong quá trình bảo

dưỡng bêtông cốt thép có nơi đã

sử dụng ngay nước biển để bảo

dưỡng cho bêtông cốt thép tại vị

trí rất nguy hiểm của kết cấu

Trang 32

Hình 1.10 : Dùng nước biển để bảo dưỡng bêtông tại vị trí đầu cột

Với công trình cống hộp tỉnh lộ 15, được đại biểu Đặng Văn khoa chất vấn tại kỳ hợp thứ 4 HĐND TP

HCM khoá VII cho thấy

rằng công trình thi công gian

dối và kém chất lượng, đồng

thời qua kiểm tra thực tế

khoản 10 Hố ga cho thấy

từng mảng bê tông bị bong

tróc ra, có thể dễ dàng dùng

tay gỡ ra từng mảnh nhỏ bê

tông trên thành hố ga này:

“Nguồn : Bê tông đụng đâu

bể đó, Báo tuổi trẻ ngày

22-7-2005

Hình 1.11: Lớp bê tông dễ dàng tróc ra

khi đưa máy vào khoan cắt phần miệng cống

Với chất lượng công trình như vậy, nếu sửa lại toàn bộ sẽ tốn bao nhiêu kinh phí? và lúc làm mới việc quản lý chất lượng còn yếu kém như vậy, thì khi sửa chữa liệu chất lượng có đạt không? và sự tồn tại của công trình có như được mong đợi không ? Thi công giám sát và quản lý như vậy thì hậu quả để lại sẽ rất lớn

Đối với các doanh nghiệp xây lắp Việt nam , ngoài các doanh nghiệp thực sự thực hiện theo ISO, hầu hết các doanh nghiệp xây lắp còn lại kể cả các doanh nghiệp thực hiện ISO một cách đối phó, sơ đồ tổ chức thực sự thực hiện xây lắp chung tại công trình(Hình2 )

Chỉ huy trưởng CT

Đội XD Đội lắp đặt

thiết bị Đội cơ giới Cung cấp VLXD

Trang 33

Sơ đồ 1.5.: Sơ đồ tổ chức thực hiện xây lắp

Như vậy khi tổ chức thi công, tại công trường thiếu hẳn bộ phận quản lý chất lượng

Với cách tổ chức bố trí thi công như vậy, việc thi công sẽ xảy ra nhiều sai sót và không kiểm soát được chất lượng sản phẩm xây dựng

1.2.3 THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ THỰC HIỆN CÔNG TRÌNH

Năng lực quản lý về đầu tư xây dựng hiện nay vẫn còn nhiều mặt yếu kém, khả năng tự thực hiện các công trình tầm cỡ, quy mô lớn rất ít Các công trình được thực hiện hầu như không lập quá trình QLCL cho các bên tuân thủ theo để đảm bảo chất lượng , mà hầu như theo kinh nghiệm và khả năng của từng người

Hiện nay theo quy định của luật xây dựng thì có 4 hình thức thực hiện dự án: trong đó hình thức Chủ đầu tư tự thực hiện dự án là được nhiều chủ đầu tư áp dụng, tuy nhiên với hình thức này có nhiều khuyết điểm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công trình Vì là chủ đầu tư kiêm nhiệm nên ít hiểu biết về quy trình cũng như kỹ thuật điều này đã tạo sự dễ dãi cho các đơn vị tham gia thực hiện dự án và dẫn đến chất lượng công trình không tốt như mong đợi

1.3 CÁC ẢNH HƯỞNG VÀ HẬU QUẢ CỦA SỰ YẾU KÉM VỀ QUẢN LÝ VÀ THỰC HIỆN CÔNG TRÌNH

1.3.1 CÁC ẢNH HƯỞNG

Đối với kết cấu bê tông cốt thép, không phải là kết cấu tồn tại vĩnh cữu, số năm tồn tại của công trình dựa vào mức độ chất lượng vật liệu và quá trình thi công tạo thành công trình đó Mức độ ảnh hưởng rất lớn đến xã hội, kinh tế và nhiều vấn đề khác Sự tồn tại của công trình tăng thêm 5 đến 10 năm sẽ có lợi vô cùng to lớn Ở khắp nơi trên cả nước việc nâng cấp sữa chữa công trình là vấn đề thường xuyên liên tục

Khi 144 căn lô P chung cư Nguyễn Kim và 88 căn lô E chung cư Ngô Gia Tự Quận 10 Theo thông báo của Chủ Tịch UBND Quận 10 ngày 20 tháng 6 năm

2005 và theo kế hoạch từ năm 2005 đến 2007 sẽ tiến hành tháo dỡ 7 lô chung cư khác, tại hai chung cư Ngô Gia Tự và chung cư Nguyễn Kim với hơn 1000 hộ

(nguồn : Báo Thanh Niên ngày 20/6/2005) Điều này liên quan đến đời sống của

nhiều hộ gia đình và ngân sách của quận phải đầu tư hỗ trợ nhiều mặt cho người

Trang 34

dân Nếu các chung cư này tồn tại thêm 5 đến 10 năm nữa thì sẽ tiết kiệm được số tiền rất lớn

Hình 1.12: Lô P Chung cư Hình 1.13: Lô M Chung cư Ngô Gia Tự Nguyễn Kim có thông báo tháo dỡ

1.3.2 HẬU QUẢ CỦA SỰ YẾU KÉM VỀ QUẢN LÝ THỰC HIỆN CÔNG

TRÌNH

Hầu hết tình trạng phát sinh chi phí, phát sinh, thay đổi, kém chất trong các dự án xây dựng là do công tác quản lý dự án xây dựng còn nhiều yếu kém Nhiều công trình phải thay đổi quy mô, chức năng, thay đổi địa điểm xây dựng; thiết kế, dự toán còn nhiều sai sót; thi công sai thiết kế, dẫn đến chất lượng công trình kém phải đập phá để làm lại, làm chậm trễ tiến độ, giảm chất lượng, gây thất thoát và lãng phí Chung cư đô thị mới Đại Kim – Hà Nội (15 tầng,

136 căn hộ) khi thi công mới phát hiện tính thiếu 219 tấn thép Cảng Thị Vải (Bà Rịa – Vũng Tàu) vừa thiết, vừa thi công, chậm tiến độ 24 tháng, phải chi thêm 50,2 tỷ đồng; chất lượng kém, phải khắc phục lún, nứt tăng thêm 60 tỷ đồng mua bán vật tư kém chất lượng,… vượt dự toán 134 tỷ đồng Nhà máy chế biến sắn Lương Trà An (An Giang) đầu tư 48,3 tỷ đồng phải tháo dỡ chuyển đi nơi khác vì không phù hợp với vùng ngập úng Quá trình xây dựng cầu Hoàng Long (Thanh Hóa) đã thất thoát gần 3 tỷ đồng, chất lượng công trình kém, phải đầu tư thêm 10 tỷ đồng để sửa chữa Cảng thương mại Năm Căn (Cà Mau) xây dựng sai thiết kế, sai quy trình kỹ thuật nên vừa xây dựng, vừa phải chỉnh sửa, chi thêm 117 tỷ đồng Nhà văn hóa huyện Phú Quốc vốn đầu tư 1,5 tỷ đồng, đã chi 660 triệu đồng mới phát hiện sai thiết kế, không sử dụng được Tỉnh lộ 883 Bến Tre do thiếu trách nhiệm của đơn vị tư vấn nên đã làm tăng 192,2 triệu đồng so với giá trị trúng thầu; đơn vị thi công làm sai thiết kế, (Công bố 59

công trình thất thoát năm 2004, Báo Sài Gòn Giải Phóng, các số tháng 4-2005)

Trang 35

Yếu kém về quản lý và yếu kém về hiểu biết vật liệu sử dụng cho công trình làm cho chất lượng nhiều công trình thấp đã xảy ra rất phổ biến trong thời gian qua, theo thanh tra chính phủ, chỉ mới kiểm tra 120 dự án xây dựng trường học ở 36 Tỉnh thành trực thuộc Trung Ương đều phát hiện sai phạm, sai phạm ban đầu là công tác khảo sát thiết kế, các công trình ở miền núi hầu hết phải thay đổi tiết diện sắt, gia cố thêm móng do khảo sát không kiõ, Về thi công, hầu hết các công trình đều sử dụng không đúng chủng loại vật tư, thi công sai thiết kế, thiếu khối lượng Tại Lâm Đồng, trong số 2 công trình được kiểm tra thì có đến phân nữa thi công không đúng thiết kế, về nguyên nhân được xác định là do công tác giám

sát bị buông lỏng Một

số chủ đầu tư là phòng

giáo dục quận, huyện,

hiệu trưởng nhà trường

không có chuyên môn

về xây dựng cơ bản

Phần lớn đơn vị Tư vấn

thiết kế, tư vấn giám sát

thiếu trách nhiệm

Về hiểu biết vật liệu chịu lực chính : Đối với vật liệu chịu lực chính như bê

tông những người thực hiện xây dựng chỉ quan tâm nhiều đến cường độ, không quan tâm nhiều về tính chất vật liệu, nên khi quản lý thực hiện công trình thường không đảm bảo yêu cầu về chất lượng kỹ thuật

Trang 36

Về quản lý, giám sát, thiết kế, thi công : Mặc dù nhiều nhà Doanh Nghiệp,

cơ quan hành nghề xây dựng ở Việt Nam đã thực hiện theo ISO, có những cơ quan thực hiện rất tốt, tuy nhiên tình hình hiện nay vẫn tồn tại nhiều hạn chế và yếu kém, trong đó nổi bật nhất là vấn đề QLCL công trình chưa đảm bảo

1.5 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Với thực trạng tình hình xây dựng hiện nay như trên, mục tiêu nghiên cứu của đề tài đặt ra :

Tìm hiểu thực trạng về hiểu biết kiến thức vật liệu chịu lực chính (ximăng và bêtông) của người thực hiện xây dựng nhằm giúp cho những người thực hiện trong nghành xây dựng kiểm lại kiến thức về vật liệu của mình, để có hướng tự học hỏi bổ sung lại và phát triển kiến thức về lĩnh vực này, phục vụ cho công tác kỹ thuật được tốt hơn

Đề xuất quy trình lựa chọn, sử dụng loại ximăng, loại ximăng cho bêtông và bêtông là vật liệu tham gia chịu lực chính thích hợp nhất cho các công trình khác nhau, nằm ở những điều kiện môi trường khác nhau đảm bảo công trình không bị hư hại hoặc hạn chế đến mức thấp nhất sự hư hại của công trình trong môi trường Nhằm giúp cho công trình đạt chất lượng cao nhất

Đề xuất được quy trình Quản lý chất lượng công trình trong giai đoạn thi công xây dựng để đảm bảo kiểm soát chất lượng công trình trong quá trình thi công công trình

1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đây là dạng đề tài nghiên cứu ứng dụng, với đề tài này phương pháp nghiên cứu :

Khảo sát tìm hiểu về tình hình quản lý, thiết kế, giám sát, thi công của các

công trình đã và đang thực hiện Nhằm thu thập số liệu về khả năng hiểu biết vật liệu chịu lực chính của những người thực hiện xây dựng, mức độ thích hợp của thiết kế khi thiết kế bêtông cho kết cấu chịu lực thích hợp với môi trường Đồng thời đánh giá về năng lực, và đánh giá về hậu quả ở công trình đã hoặc đang hoàn thành Ngoài ra còn nhằm đánh giá vật liệu chính đang sử dụng cho công trình xây dựng như gạch xây, bêtông thường có còn thích hợp với công trình xây dựng trong tương lai không?

Trang 37

Để khách quan đề tài thu thập số liệu từ các cơ quan, đơn vị sau:

+ Cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng;

+ Chủ đầu tư đại diện là ban quản lý dự án;

+ Đơn vị tư vấn thiết kế;

+ Đơn vị tư vấn giám sát;

+ Đơn vị thi công xây lắp

Để đưa ra được bản câu hỏi và các dữ liệu về hồ sơ cần thu thập có nội dung đánh giá được mục đích đã nêu, tác giả đã tìm hiểu lý thuyết ximăng, bêtông, quan sát tình hình thực tế xây dựng mà tác giả đã gặp trong quá trình làm việc, và đặc biệt là tham khảo ý kiến của một số chuyên gia

Thu thập số liệu có 2 phần :

+ Phần 1 : Thu thập hồ sơ thiết kế kết cấu

+ Phần 2 : Đưa ra bảng câu hỏi để thu thập số liệu từ người phỏng vấn về :

- Thông tin chung của dự của dự án mà người được phỏng vấn thực hiện

- Khả năng hiểu biết về ximăng và bêtông

- Năng lực của các đơn vị

- Quy trình thực hiện của đơn vị mình

- Ý kiến về vật liệu thích hợp

- Hậu quả của các nguyên nhân trên

Đánh giá số liệu : Dựa trên lý thuyết về ximăng bêtông và xử lý số liêu bằng xác suất thống kê

Đánh giá kết quả : Dựa trên lý thuyết về ximăng, bêtông, lý thuyết quản lý dự án và tham khảo lý thuết ISO, đề xuất các quy trình như mục tiêu nghiên cứu đã đề ra

1.7 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1.7.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

- Những người thực hiện xây dựng trong nghành xây dựng

- Các hồ sơ thiết kế kết cấu công trình

- Các dự án hoặc công trình đã, đang và sắp thực hiện

Trang 38

1.7.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Do thời gian nghiên cứu có hạn và khả năng thu thập số liệu cũng hạn chế, đồng thời để tránh dàn trải, chúng tôi đề xuất giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:

+ Các công trình nhà cao tầng ở T.P HCM

+ Các công trình dân dụng ven sông, biển ở T.P HCM, Bà Rịa Vũng Tầu và Đồng Nai

1.7.3 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Các công trình được xây dựng từ năm 2000 đến nay

Trang 39

CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ KHOA HỌC XIMĂNG VÀ BÊTÔNG SỬ DỤNG TRONG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH VÀ LÝ THUYẾT QUẢN LÝ DỰ ÁN, HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ISO TRONG XÂY DỰNG 2.1 GIỚI THIỆU

Chương này trình bày cơ sở khoa học về ximăng và bêtông sử dụng trong xây dựng công trình, các cơ sở chính yếu cần thiết được tổng hợp từ lý thuyết, tiêu chuẩn và các nghiên cứu về bêtông cho kết cấu công trình, tạo cơ sở cho những người tham gia thực hiện xây dựng thực hiện công trình đảm bảo chất lượng Tóm lược lý thuyết, khái niệm về dự án xây dựng, quản lý dự án, chất lượng công trình xây dựng, quy chế quản lý đầu tư xây dựng hiện hành ở Việt Nam, nhằm tạo cơ sở để thực hiện dự án hoặc công trình xây dựng đúng quy trình pháp lý quy định

Ngoài ra chương này trình bày sơ lược về lý thuyết áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO nhằm tạo cơ sở cho các đơn vị thực hiện nghành xây dựng xây dựng kế hoạch , hệ thống quy trình để thực hiện công trình đạt chất lượng

2.2 LÝ THUYẾT VỀ XI MĂNG

2.2.1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA XIMĂNG POOCLĂNG

Xi măng Pooclăng có tính chất : có cường độ cao, đóng rắn nhanh, hạt ximăng nhỏ mịn nên có thể kết dính với các vật liệu khác tạo thành sản phẩm có cường độ cao, chịu được lực, tạo được hình dáng bất kỳ, tạo ra bề mặt mịn thẩm mỹ dễ dàng Gần như trơ với các vật liệu thông thường, tồn tại được trong nhiều loại môi trường khắc nghiệt và tồn tại lâu dài theo thời gian, và đặt biệt là bảo vệ được cốt thép khi kết hợp với cốt thép chịu lực Ximăng là chất kết dính cho tất cả các loại bêtông ngoại trừ bêtông nhựa đường

Được sản xuất từ đầu thế kỷ 19, cho đến nay chưa có vật liệu kết dính nào có thể thay thế được

Trong bất kỳ công trình xây dựng nào đều có sử dụng ximăng, ximăng có tầm quan trọng rất lớn trong xây dựng Vì vậy để công trình đảm bảo chất lượng thì việc hiểu về nó là rất cần thiết

2.2.2 THÀNH PHẦN KHOÁNG VẬT CHÍNH CỦA XI MĂNG

Alit : 3CaO.SiO2 (C3S)

Belit : 2CaOSiO2 (C2S)

Trang 40

Aluminat tri can xi: 3CaO.Al2O3 (C3A)

Feroaluminat tetre can xi :4CaO Al2O3. Fe2O3 (C4AF)

Và các tạp chất : CaO, MgO, K2O, Na2O

2.2.3 TÍNH CHẤT CƠ LÝ CỦA XIMĂNG

Độ nhỏ : Xi măng có độ nhỏ (mịn) cao sẽ dễ tác dụng với nước, rắn chắc

nhanh Kích thước hạt càng nhỏ sản phẩm đóng rắn của ximăng phát triển cường độ càng cao Tăng độ mịn của xi măng có nghĩa là tăng mức độ thủy hóa xi măng và nâng cao cường độ của nó Theo kết quả thu được thì cứ tăng độ mịn của xi măng lên 1000 cm2/g thì cường độ của nó tăng 20 – 25%

Khối lượng riêng của xi măng pooclăng (không có phụ gia khoáng) là 3.05 –

3.15 g/cm3 Còn khối lượng thể tích tùy theo độ lèn chặt: đối với xi măng xốp là 1100; đối với xi măng lèn chặt mạnh là 1600, còn với xi măng lèn chặt trung bình là 1300 kg/m3

Lượng nước tiêu chuẩn của xi măng: là lượng nước (% so với khối lượng xi

măng), đảm bảo chế tạo hồ xi măng đạt độ dẻo tiêu chuẩn Độ dẻo tiêu chuẩn được xác định bằng dụng cụ Vica Hồ xi măng đảm bảo độ cắm sâu cửa kim vica (đường kính kim 10 mm) từ 33 – 35 mm thì hồ đó là hồ có độ dẻo tiêu chuẩn và lượng nước lúc đó là lượng nước tiêu chuẩn

Lượng nước tiêu chuẩn của xi măng phụ thuộc vào thành phần khoáng vật, độ mịn của nó và dao động trong khỏang 22 – 28% Nếu xi măng có phụ gia vô

cơ họat tính thì lượng nước tiêu chuẩn có thể lên tới 32 – 37%

Thời gian ninh kết của xi măng : được xác định từ hồ dẻo tiêu chuẩn bằng

dụng cụ vica (đường kính kim = 1 mm) Thời gian bắt đầu ninh kết là khoảng thời gian từ khi bắt đầu nhào trộn với nước đến khi kim vica cắm sâu tới 38 – 39 mm Thời gian ninh kết xong hay bắt đầu rắn chắc khoảng thời gian từ khi nhào trộn

xi măng với nước đến khi kim vica cắm sâu được 1 – 2 mm

Khi xi măng bắt đầu ninh kết nó mất tính dẻo, do đó khỏang thời gian này phải đủ để thi công (nhào trộn, vận chuyển, đổ khuôn, đầm chặt) Yêu cầu thời gian này không nhỏ hơn 45 phút Còn thời gian ninh kết xong là lúc xi măng đã đạt được cường độ nhất định Thời gian này phải đủ ngắn để có thể thi công nhanh (yêu cầu không vượt quá 10 giờ)

Để tạo ra thời gian ninh kết bình thường khi nghiền clanke thường phjải cho thêm 3 – 5 % thạch cao hai nước

Ngày đăng: 10/02/2021, 09:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w