Ứng dụng công nghệ mô phỏng trong giảng dạy mô đun sửa chữa bảo dưỡng hệ thống khởi động đánh lửa của nghề công nghệ ô tô Ứng dụng công nghệ mô phỏng trong giảng dạy mô đun sửa chữa bảo dưỡng hệ thống khởi động đánh lửa của nghề công nghệ ô tô luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI -
LƯƠNG ĐỨC HUY
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ MÔ PHỎNG TRONG GIẢNG DẠY MÔ
ĐUN SỬA CHỮA BẢO DƯỠNG HỆ THỐNG KHỞI ĐỘNG – ĐÁNH
LỬA CỦA NGHỀ CÔNG NGHỆ Ô TÔ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG
NGHỀ CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Trang 2Trang 1
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn
đến GS.TS Nguyễn Xuân Lạc, người đã dành nhiều thời gian, công sức và trí tuệ
để tận tình chỉ dẫn giúp đỡ tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn này
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo Viện Sư phạm kỹ thuật, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, các cán bộ Viện đào tạo sau đại học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và các thầy, cô giáo tham gia giảng dạy lớp cao học sư phạm
kỹ thuật khóa 2010 – 2012 đã quản lý, giảng dạy, tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tác giả trong thời gian học tập và nghiên cứu đề tài tại trường
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các đồng nghiệp và các em sinh viên khoa công nghệ ô tô trường cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ trong thời gian thực nghiệm sư phạm tại trường
Đồng thời tác giả xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè và những người thân trong gia đình đã quan tâm, động viên, giúp đỡ và tham gia đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu thực hiện luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến, để đề tài được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 28 tháng 01 năm 2013
Tác giả
Lương Đức Huy
Trang 3Trang 2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những gì được viết trong luận văn này đều do sự tìm hiểu
và nghiên cứu của bản thân, mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác, nếu có, đều được trích dẫn đầy đủ
Luận văn này cho đến nay vẫn chưa hề được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng bảo vệ luận văn thạc sĩ nào trên toàn quốc cũng như nước ngoài và cho đến nay chưa hề được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan trên đây
Hà Nội, ngày 28 tháng 01năm 2013
Tác giả
Lương Đức Huy
Trang 4Trang 3
1.2 Đặc điểm và thực trạng dạy mô đun “sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống khởi
Trang 5Trang 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG NGHỆ MÔ PHỎNG (CNMP)
TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
17
1.2.1.4 Chức năng và nhiệm vụ của phương tiện dạy học trong giờ học 24
1.2.1.5 Một số yêu cầu về nguyên tắc sư phạm và sử dụng PTDH 27
Trang 6Trang 5
1.2.2.3 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác 31
1.2.2.4 Kết hợp đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học 32
1.2.2.5 Một số quy luật cơ bản chi phối phương pháp dạy học 33
1.4.2 Tính ưu việt và hạn chế của PPDH theo mô hình mô phỏng 45
Trang 7Trang 6
2.1.5 Các nguồn lực chính của trường CĐN Công Nghiệp Hà Nội 53 2.2 Thực trạng cơ sở vật chất và đội ngũ GV của khoa CN ô tô 55
2.3 Thực trạng dạy học mô đun “sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống khởi động- đánh
2.3.3 Đặc điểm của chương trình mô đun “sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống khởi
2.3.4 Thực trạng dạy học mô đun “sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống khởi động-
2.4 Khảo sát thực trạng áp dụng phương pháp mô phỏng trong dạy học mô đun
“sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống khởi động- đánh lửa” ở khoa CN ô tô 62
CHƯƠNG III: ỨNG DỤNG CNMP TRONG GIẢNG DẠY MÔ ĐUN “ SỬA
CHỮA, BẢO DƯỠNG HỆ THỐNG KHỞI ĐỘNG ĐÁNH LỬA VÀ KẾT QUẢ
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM TẠI KHOA CN Ô TÔ - TRƯỜNG CĐN CÔNG
NGHIỆP HN
64
Trang 8Trang 7
3.1.2 Xây dựng sơ đồ khối của hệ thống khởi động điện ô tô 64
3.2.3 Mô phỏng nguyên lý hoạt động của hệ thống khởi động ô tô 72
3.3.3.3 Đánh giá kết quả kiểm tra và thái độ học tập của người học 85
Trang 9Trang 8
7
Trang 10Trang 9
DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT CTMH Chương trình môn học
CTĐT Chương trình đào tạo
PTDH Phương tiện dạy học
Trang 11Trang 10
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.2 Nội dung và phân phối thời gian mô đun sửa chữa, bảo dưỡng
hệ thống khởi động đánh lửa ô tô
59
Bảng 3.1: Kết quả khảo sát ý kiến người học lớp thực nghiệm Công nghệ ô
tô
84
Bảng 3.2: Kết quả kiểm tra các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 85
Bảng 3.4: Các chuyên gia và người dạy tham gia góp ý kiến 88
Bảng 3.5: Kết quả khảo sát ý kiến chuyên gia về tính phù hợp và tác động
của mô phỏng trong việc dạy học mô đun sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống
Trang 12Trang 11
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.2: Mục tiêu, nội dung quy định phương pháp 35
Hình 1.4: Mô hình nâng cao chất lượng dạy học bằng PPMP 42
Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức Trường CĐN Công Nghiệp Hà Nội 53
Hình 2.2 Thống kê tỉ lệ trình độ nghiệp vụ sư phạm của khoa CN ô
Hình 3.6 Mô phỏng cấu tạo của hệ thống khởi động điện ô tô 71
Hình 3.7 Mô phỏng nguyên lý hoạt động của hệ thống khởi động
điện ô tô khi khóa điện ở vị trí OFF
72
Hình 3.8 Mô phỏng nguyên lý hoạt động của hệ thống khởi động
điện ô tô khi khóa điện ở vị trí Start
73
Hình 3.11 bảng chọn cấu trúc nguồn điện 74
Hình 3.13: Mô hình hệ thống khởi động cắt bổ lắp trên ô tô 76
Hình 3.14: Sơ đồ cấu tạo hệ thống khởi động bằng điện 76
Hình 3.15: Nguyên lý hoạt động của hệ thống khởi động 77
Trang 13Trang 12
LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
1.1 Yêu cầu của xã hội đối với đào tạo nghề:
Báo cáo chính trị tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam đã đánh giá thực trạng về chất lượng giáo dục và đào tạo nói chung chưa cao, trình độ kiến thức, kỹ năng thực hành, phương pháp tư duy khoa học của người học còn yếu, thể hiện sau khi tốt nghiệp nhiều người học còn thiếu năng động, chưa thích ứng kịp với những biến đổi nhanh chóng trong các ngành kỹ thuật – công nghệ Một trong những nguyên nhân cơ bản của thực trạng này là nội dung chương trình đào tạo chưa gắn với cuộc sống, phương pháp giáo dục đào tạo còn chậm đổi mới, chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học, chưa khai thác và
sử dụng có hiệu quả các phương tiện dạy học hiện đại
Nghị quyết Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã định hướng phát triển
giáo dục, đào tạo và dạy nghề giai đoạn 2006-2011 như sau: “ Phát triển mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế động lực và xuất khẩu lao động
Mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề, phát triển trung tâm dạy nghề quận huyện Tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới Đẩy mạnh xã hội hoá, khuyến khích phát triển các hình thức dạy nghề đa dạng, linh hoạt: dạy nghề ngoài công lập, tại doanh nghiệp, tại làng nghề ”
Để người học sau khi ra trường có đủ khả năng và trình độ tiếp cận với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, không chỉ làm việc cho hiện tại mà phải sẵn sàng làm chủ tương lai
Để đáp ứng được yêu cầu đó, hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành phải thường xuyên bổ sung, cập nhật, hoàn thiện các chương trình dạy nghề đã có hoặc xây dựng các chương trình dạy nghề mới; nâng cao chất lượng đội ngũ người dạy, cán bộ quản lý; đầu tư, đổi mới trang thiết bị giảng dạy và đặc biệt chú trọng đổi
Trang 14Trang 13
mới phương pháp giảng dạy để đào tạo đội ngũ nhân lực kỹ thuật có tay nghề cao đáp ứng với kỹ thuật, công nghệ mới
1.2 Đặc điểm và thực trạng dạy mô đun “sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống khởi động- đánh lửa” tại trường CĐN Công nghiệp Hà Nội:
“sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống khởi động- đánh lửa” là một mô đun quan
trọng đối với chuyên ngành Công nghệ ô tô và được đánh giá cao ở năng lực thực
hiện Học chuyên ngành ô tô nói chung và học mô đun “sửa chữa, bảo dưỡng hệ
thống khởi động - đánh lửa” nói riêng là luôn đòi hỏi lý thuyết phải đi đôi với thực hành, thực hành đóng vai người học quan trọng và chủ yếu trong nội dung học Vì vậy chương trình mô đun và PPDG phải sát với thực tế, đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội (Dạy cái xã hội cần chứ không dạy cái mình có)
Mô đun “sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống khởi động- đánh lửa” với các bài
thực hành chủ yếu trên các loại động cơ đời mới đang thịnh hành trên thị trường Hệ thống khởi động, đánh lửa là một bộ phận vô cùng quan trọng trên ô tô máy kéo, do
có tầm quan trọng như vậy nên việc ứng dụng công nghệ mô phỏng trong giảng dạy
mô đun sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống khởi động đánh lửa là cần thiết để người học rèn luyện các thao tác, hình thành kiến thức và kỹ năng cũng như thái độ làm việc
Trường Cao đẳng công nghiệp HN trong thời gian qua đã quan tâm đến việc đổi mới phương pháp dạy học, nhưng còn gặp nhiều khó khăn do thiếu thiết bị và phương tiện dạy học để áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại, trong đó có phương pháp mô phỏng, do vậy chất lượng dạy học chưa cao
Với những lý do trên tác giả đã lựa chọn đề tài “Ứng dụng công nghệ mô phỏng trong giảng dạy mô đun sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống khởi động- đánh
lửa của nghề Công nghệ ô tô tại trường Cao đẳng nghề công nghiệp HN”, làm đề
tài luận văn thạc sĩ cho mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
* Mục đích:
Trang 15Trang 14
Vận dụng phương pháp mô phỏng vào quá trình dạy học, xây dựng và sử dụng mô hình hệ thống khởi động vào dạy học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy
mô đun sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống khởi động - đánh lửa của nghề Công nghệ
ô tô tại trường Cao đẳng nghề công nghiệp HN
* Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích trên, tác giả phải hoàn thành những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc vận dụng phương pháp mô phỏng vào dạy học:
- Đánh giá thực trạng và khả năng vận dụng phương pháp mô phỏng vào
giảng dạy mô đun sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống khởi động- đánh lửa tại trường trường Cao đẳng nghề công nghiệp HN
- Vận dụng công nghệ mô phỏng vào xây dựng mô hình hệ thống khởi động điện ô tô để giảng dạy mô đun sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống khởi động - đánh lửa
tại trường Cao đẳng nghề công nghiệp HN
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Quá trình dạy mô đun sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống khởi động- đánh lửa của nghề Công nghệ ô tô tại trường Cao đẳng nghề công nghiệp HN
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Vận dụng phương pháp mô phỏng vào quá trình dạy học mô đun sửa chữa,
bảo dưỡng hệ thống khởi động - đánh lửa của nghề Công nghệ ô tô tại Khoa công nghệ ô-tô, trường Cao đẳng nghề công nghiệp HN
3.3 Phạm vi nghiên cứu:
- Luận văn chỉ nghiên cứu vận dụng phương pháp mô phỏng vào giảng dạy
mô đun sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống khởi động- đánh lửa của nghề công nghệ ô
tô tại Khoa công nghệ ô-tô, trường Cao đẳng nghề công nghiệp HN
- Do giới hạn về thời gian, tác giả chỉ xây dựng và dạy thực nghiệm 1 bài giảng trên lớp của nghề công nghệ ô tô
Trang 16Trang 15
4 Giả thuyết khoa học:
Nếu vận dụng phương pháp mô phỏng một cách hợp lý vào dạy học sẽ kích thích hứng thú, phát triển tư duy kỹ thuật của người học từ đó nâng cao chất lượng
và hiệu quả đào tạo
5 Luận điểm cơ bản mới của tác giả:
5.1 Luận điểm cơ bản của luận văn:
- Thể hiện từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức thực tại khách
quan
- Vận dụng phương pháp mô phỏng trong dạy học để có thể mô hình hóa nguyên lý, cấu trúc phức tạp, trừu tượng trở thành đơn giản, trực quan, sinh động tạo thuận lợi cho người học phát triển tư duy, hình thành kỹ năng sáng tạo trong học tập
5.2 Đóng góp mới của tác giả:
- Hệ thống hóa được cơ sở lý luận về phương pháp mô phỏng và vận dụng phương pháp mô phỏng trong dạy học
- Đánh giá được thực trạng về vận dụng các phương pháp dạy học tại khoa công nghệ ô tô của trường Cao đẳng nghề công nghiệp HN
- Mô phỏng được cấu tạo và nguyên lý hoạt động của hệ thống khởi động điện ô tô bằng các phần mềm Microsoft Office Powerpoint, Flash và SnagIt…
- Biên soạn được bài giảng cho mô đun sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống khởi động- đánh lửa, với việc sử dụng các mô phỏng nêu trên và đã thực nghiệm sư phạm bài giảng này để minh chứng cho tính khả thi và hiệu quả của việc vận dụng phương pháp mô phỏng vào dạy mô đun sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống khởi động-
đánh lửa ở trường Cao đẳng nghề công nghiệp HN
6 Phương pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu luân văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp sau đây:
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Trang 17Trang 16
- Tiếp cận hệ thống
- Tiếp cận hoạt động
6.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi:
Để khảo sát ý kiến của người dạy và người học về các phương pháp dạy học hiện đang được áp dụng và khả năng áp dụng phương pháp mô phỏng vào dạy mô đun sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống khởi động- đánh lửa
6.3 Phương pháp thực nghiệm:
Để minh chứng cho tính khả thi của việc vận dụng phương pháp mô phỏng vào dạy mô đun sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống khởi động - đánh lửa và tính đúng đắn của giả thuyết khoa học đó được nêu ra
Trang 18Trang 17
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG NGHỆ MÔ PHỎNG (CNMP)
TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Từ những năm 90 của thế kỉ trước, khi so sánh quốc tế về xây dựng chương trình giáo dục, người ta thường nêu lên 2 cách tiếp cận chính: Thứ nhất, tiếp cận dựa vào nội dung hoặc chủ đề (content or topic based approach), và thứ hai là tiếp cận dựa vào kết quả đầu ra (outcome-based approach or outcome-focused
curriculum) Để ngắn gọn xin gọi cách 1 là tiếp cận nội dung và cách 2 là tiếp cận kết quả đầu ra Tiếp cận nội dung là cách nêu ra một danh mục đề tài, chủ đề của
một lĩnh vực/mô đun nào đó Tức là tập trung xác định và trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn người học cần biết cái gì?
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài:
Mô phỏng đã được nghiên cứu xuất hiện rất sớm trong các công trình nghiên cứu Từ năm 1777 G.Comte de Bufon đã dùng phương pháp thử nghiệm ngẫu nhiên ném những cái kim xuống đất có kẻ các đường thẳng song song, sau đó tính xác suất số kim cắt đường kẻ La Place đã dùng thí nghiệm này để ước lượng giá trị của
số Pi [Nguồn dẫn www.wikipedia.org]
Năm 1989, Lord Rayleigh bắt đầu nghiên cứu về mô phỏng và thông qua phương pháp mô phỏng đã chứng minh được bước ngẫu nhiên một chiều có thể
cung cấp lời giải xấp xỉ cho phương trình vi phân [Nguồn dẫn www.wikipedia.org]
Trong dạy học, năm 1996, các trường đại học Hoa kỳ đã sử dụng các mô phỏng về hệ tuần hoàn, hệ tiêu hóa con người trong đào tạo bác sĩ, Mô phỏng tình huống cứu hộ trên biển, trên không trong đào tạo thủy thủ, phi công Trong dạy nghề, mô phỏng cũng đã được sử dụng để chế tạo các buồng lái tàu thủy, buồng lái
ô tô để đào tạo thuỷ thủ và lái xe trong nhà [Nguồn dẫn www.wikipedia.org]
Trang 19Trang 18
Tuy nhiên, mô phỏng được chính thức đưa ra thảo luận và đánh giá lần đầu tiên vào tháng 8 năm 1978 tại Viện Khoa học Weimann Rehovot của Israel và đã
phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây [Nguồn dẫn www.wikipedia.org]
1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước:
Ở Việt nam đã có một số công trình ứng dụng phương pháp mô phỏng trong dạy học như:
Năm 1996, tác giả Trịnh Hải Yến đã sử dụng các mô hình tĩnh để mô phỏng các hiện tượng vật lý trong quá trình dạy học môn vật lý [16]
Năm 1999, tác giả Hồ Đắc Thọ cùng nhóm người dạy trường Cao đẳng công nghệ dân lập thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng phần mềm mô phỏng công nghệ khí nén dưa vào giảng dạy [17]
Năm 2000, tác giả Phạm Gia Anh Vũ, trường Đại học sư phạm Vinh đã sử dụng phần mềm PAKMA để xây dựng phần mềm mô phỏng cho chương trình dạy động lực học lớp 10 [18]
Năm 2000 tác giả Nguyễn Tấn Quốc cùng một số người dạy khoa Cơ khí động lực trường Đại học Sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng một số phần mềm mô phỏng trong dạy học ngành động lực [19]
Năm 2001, Viện Vật lý Đại học Bách khoa Hà nội đã xây dựng phòng thí nghiệm vật lý ảo với 12 bài thí nghiệm dựa trên cơ sở phầm mềm 3D Studio Max[20]
Cũng đã có một số luận án và luận văn nghiên cứu ứng dụng phương pháp
mô phỏng vào dạy học như:
Luận án “Vận dụng phương pháp mô phỏng vào dạy học môn kỹ thuật công nghiệp ở trường Trung học phổ thông” của Lê Thanh Nhu, bảo vệ năm 2001[14]
Những công trình nghiên cứu vận dụng phương pháp mô phỏng vào dạy học
ở Việt nam chưa nhiều, nhưng đã khẳng định đó là một hướng đi đúng đắn để cải tiến phương pháp dạy học, nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học
Trang 20Trang 19
1.2 Công nghệ dạy học:
- Là một hệ thống Phương tiện dạy học, Phương pháp dạy học và Kỹ năng dạy học nhằm vận dụng những quy luật của tâm lý giáo dục học, tác động vào
người học, hình thành một nhân cách xác định
- Từ đây đã hình thành một quan điểm mới khi xem xét một đối tượng nào
đó: quan điểm công nghệ, theo quan điểm này thì hai thuộc tính cơ bản của đối
tượng được xét đó là tính khả thi (làm được) và tính hiệu quả (làm tốt) thông qua
kỹ năng cũng như sử dụng phương pháp và phương tiện
1.2.1 Phương tiện dạy học (PTDH):
1.2.1.1 Khái niệm phương tiện dạy học (PTDH):
Phương tiện dạy học có nhiều khái niệm với nhiều nghĩa khác nhau
- Theo từ điển bách khoa toàn thư Microsoft Encyclopedia phương tiện được hiểu là một người, vật trung gian hoặc một công cụ trung gian để thực hiện việc giao tiếp
- Trong luận văn này, khái niệm “phương tiện dạy học” được sử dụng theo
định nghĩa: PTDH là sản phẩm nhân tạo phục vụ việc giảng dạy và học tập, có tính tương tác giữa người dạy và người học trong quá trình dạy học
1.2.1.2 Vai trò của phương tiện dạy học:
Mục tiêu trong một bài học là “kết quả mà người học cần đạt được sau khi học xong bài học”, đó có thể là học kiến thức lý thuyết mới, học một kỹ năng hay học để vận dụng một quan điểm, một cách nhìn nhận vấn đề Trong suốt quá trình học tập luôn diễn ra sự sư phạm tương tác giữa người học với nội dung học tập và phương tiện dạy học
Sư phạm tương tác (SPTT) là một dạng tiếp cận sư phạm hiện đại, coi qúa
trình dạy học là quá trình tương tác đặc thù giữa bộ ba tác nhân: người học, người dạy và môi trường - trong đó, người học là trung tâm, người dạy là người hướng
dẫn và giúp đỡ
Trang 21Trang 20
Trong dạy học tương tác và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, phương tiện không chỉ đóng vai trò là phương tiện chở thông điệp từ người dạy đến người học mà còn là một tác nhân trong quá trình dạy học, giúp rút ngắn thời gian giảng dạy của người dạy, đồng thời sự lĩnh hội tri thức của người học nhanh hơn và nhớ lâu hơn
1.2.1.3 Phân loại PTDH:
Có thể phân loại các phương tiện dạy học theo một vài cách khác nhau tùy theo quan điểm sử dụng
a Theo lịch sử:
Dựa vào cấu tạo của phương tiện có thể phân các PTDH theo lịch sử thành
hai loại: các PTDH truyền thống và các PTDH hiện đại
Hình 1.1: Mô hình dạy học bộ ba tương tác
Người học
Trang 22Trang 21
dụng phần cứng, người người dạy đã cơ giới hóa và điện tử hóa quá trình dạy học,
mở rộng không gian lớp học và phạm vi kiến thức truyền đạt
Phần mềm (software) là những phương tiện trong đó sử dụng các nguyên lý
sư phạm, tâm lý, KHKT để xây dựng nên cho người học một khối lượng kiến thức hay cải thiện hành vi ứng xử cho người học Phần mềm bao gồm: chương trình môn học, báo chí, sách vở, tạp chí, tài liệu giáo khoa
c Theo hoạt động:
* Có tương tác:
Là quá trình tương tác đặc thù giữa bộ ba tác nhân: người học, người dạy và môi trường Trong đó, người học là trung tâm, người dạy là người hướng dẫn và giúp đỡ
- Học (apprendre): người học sử dụng nội lực, để kiến thức và kỹ năng được
nảy sinh trong mình theo một cách nào đó (PP học) Người học trước hết là người đi học chứ không phải là người đi dạy, người học là chủ thể của hoạt động học
- Giúp đỡ (aider/assister): người dạy bằng kiến thức, kỹ năng và ứng xử của
mình làm nảy sinh kiến thức và kỹ năng ở người học theo cách của một người hướng dẫn và hỗ trợ
- Tác động (agir): môi trường bên trong cũng như bên ngoài, ảnh hưởng rất
lớn, có khi còn quyết định tới việc dạy và học
Đồng thời người học phải:
Tham gia vào dự án học tập của tập thể, hoàn thành nhiệm vụ mà tập thể giao phó, chia sẻ, giúp đỡ, đóng góp những ý kiến để tập thể hoàn thành tốt nhiệm vụ đã
đề ra
Nhờ sự phát triển của CNTT và truyền thông với các phần mềm dạy học tương tác không khác các trò chơi tương tác, với mọi mức độ, ngày càng khả thi và hiệu quả, người học thực sự trở thành trung tâm của quá trình dạy học Ngoài ra hiện nay tương tác giữa các phần tử trong một tác nhân: giữa những người học với nhau (cộng tác nhóm), giữa những người dạy với nhau (cộng tác đội), giữa những
Trang 23Trang 22
bộ phận trong một môi trường hay giữa các môi trường dạy học với nhau (nhà trưòng và doanh nghiệp, nhà trường và mạng e-learning) đang được nghiên cứu, phát triển, đạt nhiều thành tựu đáng kể Tóm lại, SPTT đòi hỏi ở người học sự hứng thú, tham gia tích cực và có trách nhiệm
*Không tương tác:
Phương tiện dùng trực tiếp để dạy học bao gồm những máy móc, thiết bị và dụng cụ được người dạy sử dụng trong giờ dạy để trình bày kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho người học, đó có thể là:
- Máy chiếu (truyền xạ, phản xạ), máy chiếu phim dương bản, máy chiếu phim, máy ghi âm, máy quay đĩa, máy thu hình, máy dạy học, máy tính điện tử, máy quay phim
- Các tài liệu in (sách giáo khoa, sách chuyên môn, các tài liệu chép tay, sổ tay tra cứu, sách bài tập, chương trình môn học )
- Các phương tiện mang tin thính giác, thị giác và hỗn hợp (băng ghi âm, đĩa ghi âm, các chương trình phát thanh, tranh vẽ, biểu bảng, bản đồ, đồ thị, ảnh, phim dương bản, phim cuộn, buổi truyền hình )
d Theo giác quan:
* PT ảo:
Máy vi tính và phần mềm dạy học:
Cùng với sự phát triển mạnh của công nghệ thông tin, máy vi tính đã và đang thâm nhập vào nhà trường Trong dạy học, máy vi tính có thể được xem là một phương tiện đa chức năng thể hiện rõ nhất ở chức năng của một phương tiện nghe nhìn có tương tác cao
Máy vi tính và những phần mềm dạy học tương ứng đóng vai người học là nguồn cung cấp thông tin cho người học trong quá trình nhận thức Thông tin cung cấp từ máy vi tính có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau và được thể hiện dưới nhiều dạng (văn bản, tranh ảnh, hoạt hình, phim, âm thanh )
Trang 24Trang 23
Nếu được sử dụng hợp lý thì máy vi tính đóng vai trò quan trọng trong việc
cá biệt hóa chương trình và nội dung học tập Người học có thể tham gia vào hoạt động học với máy tính và làm việc với máy tính theo một cách thức và con đường riêng, không ai giống ai
Sử dụng máy vi tính trong học tập, người học được làm quen với một môi trường học tập mới trong đó họ có nhiều điều kiện hơn để ôn tập, củng cố, tự kiểm tra kiến thức hoặc "dạy" cho máy tính làm một công việc cụ thể (thông qua lập trình hoặc các chương trình hệ tác giả) Ví dụ, người học có thể tạo ra các mô hình
về đối tượng mà mình đã học, trên cơ sở đó có thể tiến đến việc sáng tạo ra những
mô hình mới với những cấu trúc nội tại khác hẳn các mô hình đã có
Với hệ thống trò chơi đa dạng, phong phú, người học có thể học tập thông qua trò chơi, vận dụng những kiến thức vật lý, toán học để giải quyết một nhiệm
vụ "ảo" trên máy tính (ví dụ trò chơi hạ cánh trên mặt trăng, trò chơi đua xe ) Trong một số chương trình khác, người học có thể tự nghiên cứu một vi thế giới với những định lý, định luật hoàn toàn như thế giới vật lý thực sự xung quanh mình nhưng ở một góc độ khác hẳn Người học có thể thay đổi các tham số, yếu tố cấu thành của thế giới (ví dụ như bỏ hẳn ma sát giữa các mặt tiếp xúc)
*PT thật:
PT thật là vật thật được dùng trong quá trình dạy học là những máy móc, thiết bị, bộ phận, chi tiết máy có thể sử dụng trong thực tế sản xuất Tính chất đặc trưng của loại phương tiện này là tính xác thực và nguyên bản Chúng có thể được
sử dụng trên lớp với danh nghĩa là phương tiện chung hoặc cá biệt tùy theo công dụng của chúng
Phương tiện này bao gồm các thiết bị thí nghiệm, trang thiết bị của xưởng trường, mẫu các chi tiết máy
Vật thật, nếu được sử dụng như phương tiện cung cấp thông tin, giúp cho người học dễ dàng chuyển tiếp từ hình ảnh cụ thể đến tư duy trừu tượng Vật thật có
Trang 25Trang 24
thể được quan sát bao lâu tùy ý và từ những góc nhìn khác nhau Người học sẽ có khái niệm đúng đắn về hình dáng, màu sắc và kích thước của vật
Trong mọi trường hợp sử dụng làm việc với vật thật, người học phải được sự hướng dẫn của người dạy hoặc làm việc với phiếu ghi hoặc phiếu công nghệ
Các vật thật được bổ cắt là các phương tiện được sử dụng khá rộng rãi Các phương tiện loại này không những chỉ được chế tạo từ những máy móc, thiết bị cũ
mà ngay cả từ máy móc thiết bị mới, hiện đại Mục đích của việc bổ cắt là làm cho người học có thể quan sát được các chi tiết bên trong máy trong kết cấu và hoạt động thực tế
Việc tháo lắp các vật thật trong thực tế giúp cho người học khả năng tìm hiểu cấu tạo của chúng và kết cấu giữa các chi tiết
Dạy học bằng vật thật có giá trị ở chỗ nó giúp cho việc đào tạo cho người học bước vào công việc sản xuất thực tế dễ dàng và làm việc sớm thành thạo
Luận văn này tác giả chỉ đề cập đến một số PTDH bằng máy tính, có tính tương tác
1.2.1.4 Chức năng và nhiệm vụ của phương tiện dạy học trong giờ học:
a Chức năng của phương tiện dạy học trong các giai đoạn của giờ học:
Trong lý luận dạy học có nhiều quan điểm khác nhau khi phân chia các giai đoạn trong một giờ học Vì vậy chúng ta sử dụng một mô hình giờ học đơn giản mô
tả quá trình dạy - học trong một tiết như sau:
* Giai đoạn định hướng, tạo hứng thú học tập:
Trong mỗi giờ học phải quan tâm tới đặc điểm của người học (tâm sinh lý, điều kiện xã hội, trình độ) cũng như hứng thú học tập và sự chú ý của người học về chủ đề của bài học, chỉ như thế một giờ học mới có thể thành công được Để làm tốt điều đó cần có những biện pháp kích thích hứng thú và tập trung học tập của người học như
- Nhắc lại kiến thức vừa học tiết trước
- Đưa ra một số nhiệm vụ cần giải quyết
Trang 26Trang 25
- Đặt một tình huống có vấn đề (tình huống chứa đựng mâu thuẫn)
* Giai đoạn làm việc với nội dung mới:
Trong giai đoạn này người học được tiếp cận với nội dung học tập mới Người dạy sử dụng phương tiện dạy học để giới thiệu, truyền đạt nội dung học Mỗi giờ học đều có một nội dung học được quy định bởi chương trình môn học, những nội dung đó cần được người học tiếp thu nhờ chỉ dẫn và làm mẫu của người dạy, qua việc thuyết giảng hay qua phương tiện dạy học Chức năng này là chức năng quan trọng nhất của phương tiện Người dạy có thể sử dụng phim, tranh ảnh hay băng từ để truyền tải phần lớn nội dung dưới dạng thông tin khác nhau như chuyển động, tiếng động, hình ảnh, Trong dạy học đa phương tiện có thể kết hợp hình ảnh
và âm thanh để tạo ra những hiệu quả học tập nhất định
Trong giai đoạn này người dạy cũng có thể nêu vấn đề và hướng dẫn người học tương tác với phương tiện để phát hiện và lĩnh hội kiến thức hoặc hình thành kỹ năng
* Giai đoạn củng cố kiến thức:
Trong giai đoạn này người học có thể thông qua việc tiếp xúc với phương tiện để đào sâu kiến thức của mình Đặc biệt sử dụng mô phỏng trên máy tính có thể giúp người học tìm hiểu, vận dụng kiến thức vừa học để giải thích các hiện tượng xẩy ra trên mô hình
* Giai đoạn kiểm tra đánh giá:
Để kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong mỗi giờ học, người dạy có thể sử dụng cách kiểm tra miệng, kiểm tra viết hay kiểm tra bằng thực hành Điều này được thực hiện bằng cách đặt ra các câu hỏi và bài tập, do đó cũng cần dùng đến phương tiện dạy học: các bản câu hỏi, bài tập từ lâu đã thông dụng trong dạy học;
có thể sử dụng các câu hỏi trắc nghiệm được lập trình sẵn trên máy tính v.v
b Nhiệm vụ của phương tiện dạy học trong giờ học:
* Truyền đạt nội dung học tập:
Trang 27Trang 26
Cách truyền đạt nội dung học tập sơ khai nhất và thực nhất là sử dụng các đối tượng thực, ví dụ như vật thật, cây, con, Tuy nhiên vì nhiều lý do mà không thể đưa các đối tượng thực vào giờ học, khi đó người ta phải sử dụng các phương tiện nghe nhìn như như tranh ảnh, băng từ, phim ảnh…
Phương tiện dạy học trong trường hợp này cần thiết càng gần, giống vật thật càng tốt, nó có thể là hình ảnh thu nhỏ của vật thật hay mô tả chi tiết bằng ngôn ngữ
Ngoài ra, cũng có những nội dung học tập mà không hề tồn tại vật thật, ví dụ như các định luật vật lý hoặc các công thức toán học Trong trường hợp đó người ta phải sử dụng đến phương tiện đặc biệt là ký hiệu, chữ viết và ngôn ngữ
* Điều khiển giờ học:
Một sự giới thiệu nội dung học thuần tuý, ví dụ như những nội dung trình bày trong một cuốn từ điển, không thể coi là một giờ học Vì thế ngoài việc giới thiệu nội dung thì phương tiện dạy học còn có nhiệm vụ điều khiển Người dạy cần chiếm được sự chú ý của người học và hướng sự chú ý đó tới trọng tâm của bài giảng, để cho việc học tập đạt được mục đích đề ra
Nhiệm vụ cơ bản của người dạy khi sử dụng phương tiện dạy học là phải lựa chọn phương tiện phù hợp với nội dung học tập Phương tiện dạy học sẽ giúp cho người dạy hướng sự chú ý của người học tới những điểm quan tâm trong bài học mà không bị phân tán tư tưởng, giúp việc học của người học có hiệu quả hơn
Trong các sách giáo trình cũng thường chứa đựng sẵn những yếu tố điều khiển như các câu hỏi, bài tập Trong phương tiện dạy học hiện đại, ví dụ như những đoạn phim hay chương trình trên máy tính, khả năng điều khiển hoạt động dạy học của người học được nâng cao và có tác dụng rõ rệt hơn thông qua việc chuẩn bị của người dạy
Phương tiện dạy học phục vụ cho giảng dạy trực quan, tạo hứng thú học tập cho người học, làm cho nội dung trở nên sống động Phương tiện dạy học tác động lên nhiều giác quan, tạo ra sự tập trung và sẵn sàng học cái mới của người học, thúc
Trang 28Trang 27
đẩy động cơ học tập Rất nhiều công việc mà người dạy tự mình không thể làm được nếu không có phương tiện
Phương tiện cũng có thể có tác dụng ngược lại đối với quá trình dạy học nếu như việc sử dụng chúng không hợp lý, đơn điệu quá nhiều phương tiện cùng được
1.2.1.5 Một số yêu cầu về nguyên tắc sư phạm và sử dụng phương tiện dạy học:
* Tính khoa học sư phạm:
- PTDH phải phù hợp với mục tiêu, nội dung, điều kiện dạy học, … và phát huy được tối đa các giác quan của người học, bảo đảm tiếp thu được các kiến thức,
kỹ năng nghề nghiệp tương xứng với chương trình đào tạo một cách thuận lợi
- Nội dung và cấu tạo của PTDH phải bảo đảm các đặc trưng của việc dạy học lý thuyết, dạy học thực hành và các chuẩn mực sư phạm
- Các PTDH tập hợp thành bộ phải có mối liên hệ chặt chẽ về nội dung, bố cục và hình thức trong đó mỗi loại trong một bộ phận phải có vị trí, chức năng riêng
- PTDH cần thúc đẩy việc sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học hiện đại (e-learning, dạy học theo dự án, )
* Tính khoa học kỹ thuật:
- Chất lượng vật liệu dùng để chế tạo PTDH phải bảo đảm tuổi thọ cao và độ bền chắc, không gây ô nhiễm môi trường
Trang 29Trang 28
- PTDH phải có tính năng kỹ thuật thể hiện các thành tựu mới nhất của khoa học chuyên ngành hay trình độ công nghệ và tổ chức sản xuất của nghề
- PTDH phải có kết cấu thuận lợi cho việc lắp đặt, sử dụng, lưu trữ và bảo quản
b Mục tiêu bài dạy và các nhiệm vụ học tập:
Trang 30Trang 29
Tuỳ theo mục tiêu bài dạy và các nhiệm vụ học tập, người dạy phải áp dụng phương pháp dạy học thích hợp, do đó, các PTDH tương ứng sẽ được lựa chọn
c Đặc điểm bài học: bao gồm nội dung, thời gian, đối tượng người học, không gian
môi trường tổ chức hoạt động dạy học, …
d Sự cản trở thực tế:
Hiện trạng thực tế của nhà trường cả về hành chính lẫn kinh tế là một yếu tố cản trở lớn đến việc sử dụng PTDH Có nhiều loại PTDH hiện đại có hiệu quả cao trong đào tạo nhưng không phải trường nào cũng có đủ khả năng tài chính và tổ chức để trang bị đầy đủ Vì vậy phải căn cứ vào thực tế của nhà trường mà lựa chọn loại PTDH thích hợp cùng các yếu tố khác có liên quan
e Năng lực của người dạy:
Đây là một nhân tố rất quan trọng Trong nhiều phương pháp dạy học, người dạy chỉ đóng vai người học hướng dẫn, nhưng dù thế nào vai trò của họ vẫn có ảnh hưởng rất lớn đối với kết quả học tập Điều này thể hiện ở sự say sưa, toàn tâm toàn
ý vào việc chuẩn bị bài giảng cũng như trong quá trình dạy học Đối với dạy học thực hành thì người dạy còn phải có đủ kỹ năng nghề mới thực sự làm chủ được thiết bị theo tiêu chuẩn thực hiện
Người dạy phải tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng trên và xuất phát từ thực tế của nhà trường mà lựa chọn các loại PTDH thích hợp nhất cho mình mới bảo đảm hiệu quả sử dụng cao Việc lựa chọn PTDH là một phần của công việc thiết kế dạy học và mục đích cuối cùng là phải xây dựng được một danh mục các PTDH được lựa chọn một cách hệ thống cho một đề mục, một bài giảng hay mô đun/môn học
Trang 31Trang 30
thuận lợi nhất (mà trước đó người dạy đã dẫn dắt, gợi mở, nêu vấn đề chuẩn bị), đúng lúc nội dung và phương pháp dạy học cần đến nó
- Cần cân đối và bố trí lịch sử dụng PTDH hợp lý, đúng lúc, thuận lợi trong một ngày, một tuần nhằm tăng hiệu quả sử dụng của chúng
+ Đúng chỗ:
- Sử dụng PTDH đúng chỗ tức là tìm vị trí để giới thiệu hợp lý nhất, giúp cho mọi người họccó thể sử dụng nhiều giác quan nhất để tiếp xúc với phương tiện một cách dễ dàng và rõ
- Đảm bảo các yêu cầu về chiếu sáng, thông gió và các yêu cầu kỹ thuật đặc biệt khác Đồng thời cũng không ảnh hưởng tới quá trình làm việc, học tập của các lớp khác
- Các phương tiện được lưu giữ, bảo quản và sắp xếp sao cho khi cần lấy ra dễ dàng
+ Đủ cường độ (thời lượng và số lượng phương tiện sử dụng):
- Nguyên tắc này chủ yếu đề cập nội dung và phương pháp giảng dạy sao cho thích hợp, vừa với đối tượng người học
- Nếu kéo dài việc trình diễn PTDH hoặc dùng lặp lại một loại phương tiện quá nhiều lần trong một buổi dạy học, hiệu quả của chúng sẽ giảm sút
c Bảo đảm tính hiệu quả:
- Sử dụng kết hợp nhiều loại PTDH một cách có hệ thống, đồng bộ và trọn vẹn; các PTDH không mâu thuẫn, loại trừ nhau
- Bảo đảm sự tương tác trong hệ thống dạy học
1.2.2 Phương pháp dạy học (PPDH):
1.2.2.1 Đặc điểm cơ bản của PPDH:
Trong phương pháp dạy học tương tác, người học- đối tượng của hoạt động
"dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" được cuốn hút vào các hoạt động học tập do người dạy tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều
Trang 32Trang 31
mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được người dạy sắp đặt, dựa trên các đặc điểm cơ bản sau:
+ Gắn liền với nghề nghiệp
+ Gắn liền với thực tiễn (XH và KHKT)
+Gắn liền với nghiên cứu sáng tạo
Người dạy không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành
động, giúp cho từng người học biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng
1.2.2.2 Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học:
PPDH TT xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho người học không chỉ
là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh, với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kỹ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão thì không thể nhồi nhét vào đầu óc người học khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho người học phương pháp học ngay từ bậc tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho
họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp
mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của người dạy
1.2.2.3 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác:
Trong một lớp học trình độ kiến thức, tư duy của người học không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ
Trang 33Trang 32
càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo
nhu cầu và khả năng của mỗi người học
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Dạy học là mối tương tác giữa
bộ 3 người dạy – người học – môi trường, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh
nghiệm sống của người dạy
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại, tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội
Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho người học
1.2.2.4 Kết hợp đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học:
Trong dạy học, việc đánh giá người học không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của người học mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của người dạy
Trước đây người dạy giữ độc quyền đánh giá người học Trong phương pháp tích cực, người dạy phải hướng dẫn người học phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự
Trang 34Trang 33
điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, người dạy cần tạo điều kiện thuận lợi
để người học được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho người học
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với sản xuất, với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học
mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế
1.2.2.5 Một số quy luật cơ bản chi phối phương pháp dạy học:
a Quy luật thống nhất:
Thống nhất giữa hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người học là qui luật cơ bản của quá trình dạy học Nó chi phối quan hệ người dạy, người học, tạo lập mối quan hệ tương tác và biện chứng giữa dạy và học Người dạy với vai trò chủ đạo tổ chức, điều khiển lãnh đạo hoạt động nhận thức của người học, còn người học với hoạt động học - hoạt động nhận thức có tính chất nghiên cứu, nghĩa là nắm vững những chân lý đã được phát hiện có liên quan đến nghề nghiệp trong tương lai, đồng thời dần dần tham gia tìm kiếm chân lý mới dưới hình thức nghiên cứu khoa học Người học vừa là đối tượng của dạy học vừa là chủ thể của quá trình nhận thức, do đó họ phải tự vận động trên cơ sở phát huy cao độ tinh thần
tự giác tích cực, độc lập dưới sự hướng dẫn của người dạy, có thể nói rằng: Vai trò chủ đạo của người dạy có ý nghĩa cực kỳ to lớn đối với sự hình thành, phát triển tính tự giác, tích cực, độc lập của người học, nghĩa là bảo đảm cho họ hoàn thành được hoạt động nhận thức có tính chất nghiên cứu Ngược lại tính tích cực, tự giác
và độc lập của người học lại có tính quyết định trong việc nhận thức của người học
và tạo điều kiện cho vai trò chủ đạo của người dạy ngày càng phát huy tác dụng ở mức độ cao hơn
Trang 35Trang 34
Tính tự giác của người học trong học tập được xét như niềm tin của cá nhân trong quá trình tíêp thu tri thức, kỹ năng, thái độ, nó được thể hiện ở chỗ: Hiểu rõ và nắm vững các nhiệm vụ học tập của mình, ý thức được nghề nghiệp tương lai, ý thức được vị trí, vai người học tương lai của mình trong xã hội
Do vậy, dạy học tích cực hướng tới dạy lượng tri thức tối thiểu để tạo nên sự phát triển trí tuệ tối đa của người học
b Quy luật biện chứng giữa chủ thể và khách thể:
Phương pháp có mặt chủ quan, có mặt khách quan:
- Mặt chủ quan:
Gắn liền với chủ thể sử dụng phương pháp Phương pháp dạy học là do người dạy tự lựa chọn theo chủ quan của mình tuỳ thuộc vào nội dung và môi trường dạy học và người học phải tuân theo Đó là những thao tác hướng vào đối tượng mà chủ thể lựa chọn hợp với quy luật chi phối đối tượng, là hành động đúng đắn hợp quy luật
- Mặt khách quan:
Gắn liền với đối tượng của phương pháp, là quy luật khách quan chi phối đối tượng mà chủ thể phải ý thức được Chẳng hạn, trong việc giảng dạy của người dạy, mặt khách quan của phương pháp giảng dạy là những quy luật tâm lý lứa tuổi, lý luận dạy học, trình độ người học… chi phối quá trình lĩnh hội của người học - đối tượng của phương pháp dạy, mà người dạy ý thức được
Hai mặt khách quan và chủ quan của phương pháp luôn luôn tương tác với nhau và tạo nên tính hiệu quả của phuơng pháp
Từ những điều vừa trình bày, ta có thể nêu lên tiêu chí hàng đầu về tính hiệu
quả của phương pháp là chủ thể phải có kiến thức đầy đủ về đối tượng, và thao tác đúng đắn hợp quy luật khách quan
Về nguyên tắc, hiểu biết đầy đủ về đối tượng sẽ giúp chủ thể tìm ra được thao
tác đúng đắn với đối tượng
Trang 36
Trang 35
c Quy luật:"Mục tiêu và nội dung quy định phương pháp”:
Nội dung sẽ cụ thể hóa mục tiêu, nội dung nào phương pháp ấy, không có phương pháp chung cho mọi nội dung của hoạt động dạy học Muốn cho phương pháp được hiệu quả, hoạt động dạy học thành công thì phảỉ đảm bảo được hai điều:
* Xác định được mục tiêu đúng đắn và nội dung phù hợp
* Tìm được phương pháp dạy học thích hợp với nội dung để đạt được mục tiêu đề ra
Sự thống nhất nội dung với phương pháp thể hiện ở lôgic phát triển của bản thân đối tượng nghiên cứu Hêgen cho rằng phương pháp là hình thức của sự vận động bên trong nội dung Đối với các hiện tượng, nội dung là cấu trúc, tổ chức bên trong của hệ là thành phần, tức là bộ phận, những mối liên hệ cấu tạo nên hệ; còn hình thức là cách tồn tại và biểu hiện của nội dung, cách thức tổ chức bên trong của nội dung, sự liên hệ các bộ phận lại với nhau (tương tác) là tính chất tương tác giữa các bộ phận của hệ Do đó, phương pháp là nhận thức của chủ thể về hình thức, về cách thức tổ chức bên trong (tương tác, liên kết, tự vận động ) của các thành tố cấu tạo nên hệ, tức là thành phần của hệ (nội dung) Rõ ràng là cấu trúc của hệ (nội dung) quyết định cách thức tự tổ chức của hệ
Quy luật trên đây đưa ta đến một hệ quả rất quan trọng về mặt phương pháp luận: Một lý thuyết khoa học trưởng thành sẽ có khả năng tác động như một phương pháp khoa học Đó là vì lý thuyết khoa học phanh phui được bản chất cấu trúc của
hệ (nội dung) và cách thức vận hành của hệ, cách thức tồn tại và biểu hiện của hệ (hình thức)
Về tính hiệu nghiệm phương pháp: Mọi hoạt động cần chọn được phương pháp thích hợp với mục tiêu, nội dung, thống nhất giữa mục tiêu và nội dung
Hình 1.2: Mục tiêu, nội dung quy định phương pháp
Trang 37Trang 36
- Quá trình dạy học là quá trình thực hiện hai hoạt động tương tác là Dạy và
Học, ngày nay đã có thể diễn ra dưới hai hình thức giáp mặt hoăc từ xa (qua mạng)
và cần đáp ứng đồng thời hai yêu cầu sau:
- Một bài dạy giáp mặt đạt chuẩn mực sư phạm
- Một bài dạy qua mạng, người học có thể tái hiện đầy đủ những gì người dạy cung cấp
Khái niệm Bài và Dạy được hiểu cụ thể như sau:
- Bài: là một hay nhiều trang Web có đặc trưng của bài dạy giáp mặt có bảng đen
truyền thống được soạn trên máy tính, có thể xem, trình diễn, tương tác, có thể in sao, tái hiện và tương tác theo ý muốn để tự học, tự ôn tập, tự kiểm tra
- Dạy: ND có thể thực hiện bằng lời hoặc không, qua máy tính, máy chiếu đa
phương tiện hay qua mạng, có thể hiện bài dạy theo ý đồ sư phạm, bằng tương tác WIMP (Windown, Icon, Menu, Pointer) ngay trên các trang học liệu này
- Như vậy đòi hỏi người dạy phải là người có khả năng thiêt kế Web và có kĩ năng sư phạm
Như đã thấy công nghệ dạy học hiện đại đòi hỏi ND và NH đều phải có kiến thức và kỹ năng tối thiểu cần thiết về CNTT, qua đó lựa chọn sử dụng phần mềm
DH phù hợp
1.3 Tổng quan về phương pháp mô phỏng:
1.3.1 Khái niệm về mô phỏng:
Mô phỏng từ lâu đã được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: Kỹ thuật, kinh tế, xã hội… Trong khoa học và công nghệ, mô phỏng là con đường
Trang 38Trang 37
nghiên cứu thứ ba, song song với nghiên cứu lý thuyết thuần tuý và nghiên cứu thực nghiệm trên đối tượng thực Nó được sử dụng khi không thể, không cần hay không nên thực nghiệm trên đối tượng thực
Có nhiều quan điểm xung quanh khái niệm mô phỏng:
- Theo từ điển tiếng Việt, mô phỏng là phỏng theo
- Nancy Robert và đồng nghiệp giải thích: mô phỏng có nghĩa là bắt chước, đặc tính của mô phỏng là bắt chước một cái gì đó Ví dụ: người lái xe ôtô tập luyện lái xe “ trên đường” với mô phỏng buồng lái và hệ thống điều khiển, các mô hình này thường đơn giản hơn đối tượng thật
- Theo Robert E Stephenson, mô phỏng là nghiên cứu trạng thái mô hình để qua đó hiểu được hệ thống thực Ông cho rằng: các nhà kỹ thuật thường giải quyết vấn đề bằng trực giác và nhiều vấn đề đã được giải quyết bằng cách này, tuy nhiên trong thực tế họ phải gặp nhiều vấn đề khó khăn phức tạp (thời gian, kinh tế và sự nguy hiểm) mà chỉ có thể sử dụng phương pháp mô phỏng mới có thể giải quyết được
- Ở luận văn này mô phỏng được hiểu: mô phỏng là việc nghiên cứu trạng thái của mô hình để qua đó hiểu được hệ thống thực, mô phỏng là tiến hành thử nghiệm trên mô hình Đó là quá trình tiến hành nghiên cứu trên vật thật nhân tạo, tái tạo hiện tượng mà người nghiên cứu cần để quan sát và làm thực nghiệm, từ đó rút
ra kết luận tương tự vật thật
1.3.2 Quá trình mô phỏng:
Quá trình mô phỏng được tiến hành theo ba bước:
Bước 1: Lựa chọn loại mô hình: Từ mục đích nghiên cứu, cần lựa chọn một
số tính chất và mối quan hệ chính của đối tượng nghiên cứu đồng thời loại bỏ những tính chất và mối quan hệ thứ yếu để xây dựng mô hình
Thông thường, do kết quả của sự tương tự người ta đi đến hình dung sơ bộ về
sự vật, hiện tượng cần nghiên cứu, tức là đi đến việc lựa chọn loại mô hình sơ bộ, chưa đầy đủ
Trang 39Trang 38
Bước 2: Nghiên cứu mô hình (tính toán thực nghiệm ) để rút ra những hệ
quả lý thuyết, kết luận về đối tượng nghiên cứu
Sau khi mô hình được xây dựng, cần áp dụng những phương pháp lý thuyết hoặc thực nghiệm khác nhau từ tư duy trên mô hình và thu được kết quả, những thông tin mới Đối với các mô hình vật chất thì người ta làm thí nghiệm thực trên
mô hình
Bước 3: Đối chiếu kết quả thu được trên mô hình với kết quả thực tiễn đồng
thời xét tính hợp thức của mô hình Trong trường hợp kết quả không phù hợp với thực tiễn phải chọn lại mô hình
Những mô hình đã được kiểm nghiệm trong thực tế là những mô hình hợp thức và dùng để phản ánh một số mặt của thực tế khách quan Nó có thể thay đổi, hoàn chỉnh thêm hoặc bị bác bỏ khi người ta có thêm thông tin chính xác hơn về đối tương gốc
Quá trình mô phỏng được thể hiện theo hình dưới đây
Để việc mô hình hoá đạt hiệu quả, ngoài yêu cầu về tính đơn giản và trực quan của mô hình, cần phải chủ ý đến tính hợp thức của mô hình so với nguyên hình, có thể chuyển các kết quả nhận được khi nghiên cứu mô hình sang đối tượng nghiên cứu
1.3.3 Mô phỏng và Công nghệ mô phỏng:
Theo từ điển chính xác Oxford, bản 1976, "Mô phỏng có nghĩa là giả cách, làm ra vẻ như, hành động như, bắt chước giống với, mang hình thức của, giả bộ
Trang 40Trang 39
như , làm giả các điều kiện của tình huống nào đó thông qua một mô hình với mục đích huấn luyện hoặc tiện lợi
Nghĩa thứ hai, thực nghiệm quan sát được và điều khiển được trên mô hình
của đối tượng khảo sát, nói chung được gọi là mô phỏng (Simulation)
Trong luận văn này, mô phỏng được hiểu theo nghĩa thứ hai
1.3.3.1 Tính chất của mô phỏng:
Trong khoa học và công nghệ, mô phỏng là con đường nghiên cứu thứ ba, song song với nghiên cứu lý thuyết thuần túy (PP suy diễn) và nghiên cứu thực nghiệm trên đối tượng thực Nó được sử dụng khi không thể, không cần hay không nên thực nghiệm trên đối tượng thực
Theo như một số tài liệu, có khi không phân biệt mô hình hóa (modelling) với mô phỏng (simulation), thường hiểu điều đó là việc đề xuất mô hình toán học
của đối tượng và giải bài toán tương ứng trên máy tính Trong luận văn này, mô
hình và mô phỏng được hiểu theo nghĩa đầy đủ của thuật ngữ: hệ thống Phương tiện, phương pháp và kỹ năng được gọi là công nghệ mô phỏng
- Theo quan điểm của công nghệ, mô hình cần có các tính chất sau:
+ Hợp thức:
- Được xác định theo lí thuyết mô hình tương ứng nếu có, đảm bảo từ kết quả nghiên cứu trên mô hình có thể rút ra kết luận phù hợp cho nguyên hình, nếu không thì cần phải có luận chứng hợp lý
+ Khả thi và hiệu quả (tính công nghệ):
Trong trường hợp thông thường đó chính là tính đơn giản về cấu trúc của mô hình so với nguyên hình Tuy nhiên trong không ít trường hợp, đặc biệt với mô hình toán học, thì khả thi và hiệu quả không nhất thiết đồng nghĩa với đơn giản, ví dụ như: phương trình vi phân của hai mạch dao động điện khi được giải bằng máy tính tương tự gồm các bộ cộng, nhân, nghịch đảo v.v thì sẽ có cấu trúc phức tạp hơn nguyên hình, nhưng tính khả thi và hiệu quả lại cao hơn vì có thể chuẩn hóa và lắp ráp thuận tiện theo dạng phương trình