Những yêu cầu và tiêu chí đánh giá công tác tuyên truyền về bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp trên báo chí địa phương...45 TIỂU KẾT CHƯƠNG I...49 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THÔ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HỒ PHƯỚC GIANG
VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI KHU CÔNG NGHIỆP
ĐỊA PHƯƠNG TRÊN BÁO CHÍ VĨNH LONG (Khảo sát Đài phát thanh truyền hình Vĩnh Long
và Báo Vĩnh Long, năm 2019)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học
VĨNH LONG - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HỒ PHƯỚC GIANG
VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI KHU CÔNG NGHIỆP
ĐỊA PHƯƠNG TRÊN BÁO CHÍ VĨNH LONG (Khảo sát Đài phát thanh truyền hình Vĩnh Long
và Báo Vĩnh Long, năm 2019)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học (Định hướng ứng dụng)
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó giáo sư - Tiến sĩ Bùi Chí Trung Đề tài luận văn không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố trong và ngoài nước Các số liệu, thông tin trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, tin cậy và được trích dẫn theo quy định về khoa học Các kết quả nghiên cứu của luận văn chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tác giả
là người duy nhất chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung của luận văn!
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành, trước hết, bằng sự nỗ lực và nghiêm túc trong nghiên cứu của tác giả, nhưng không thể không kể đến sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tình, trách nhiệm của rất nhiều người Những sự giúp đỡ và hướng dẫn đó giúp tác giả hoàn thành được luận văn đúng tiến độ và đóng góp vào hoạt động nghiên cứu về bảo vệ môi trường tại các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và trân trọng tới:
Các thầy, cô giáoViện Đào tạo Báo chí và Truyền thông (Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội) đã hướng dẫn, chỉ bảo
và cung cấp kiến thức để bản thân nâng cao trình độ nghiệp vụ về báo chí, mà
cụ thể là Báo Vĩnh Long và Đài Phát thanh - Truyền hình Vĩnh Long trong suốt thời gian qua
Đặc biệt, xin được chân thành cảm ơn Thầy Phó giáo sư - Tiến sĩ Bùi Chí Trung - người đã rất tận tình hướng dẫn, giúp đỡ bản thân hoàn thành luận văn này!
Lãnh đạo cơ quan, lãnh đạo Báo Vĩnh Long, lãnh đạo Đài Phát thanh
và Truyền hình Vĩnh Long cùng các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ, góp ý, động viên tôi trong suốt khóa học và thời gian nghiên cứu luận văn
Trong khuôn khổ một luận văn, do sự giới hạn về thời gian và kinh nghiệm nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy, cô giáo và các bạn!
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG 3
DANH MỤC CÁC HÌNH 4
PHẦN MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN TUYÊN TRUYỀN VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1.1 Các khái niệm và thuật ngữ có liên quan tới đề tài 15
1.2 Vấn đề bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp hiện nay 31
1.3 Vai trò của báo chí với vấn đề bảo vệ môi trường nhìn từ lý thuyết trách nhiệm xã hội và thiết lập chương trình nghị sự 33
1.4 Những nội dung trọng tâm và hình thức thông tin tuyên truyền về bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp trên báo chí địa phương 43
1.5 Những yêu cầu và tiêu chí đánh giá công tác tuyên truyền về bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp trên báo chí địa phương 45
TIỂU KẾT CHƯƠNG I 49
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN TUYÊN TRUYỀN VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI ĐỊA BÀN KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN BÁO CHÍ TỈNH VĨNH LONG 2.1 Giới thiệu khái quát về Báo Vĩnh Long và Đài phát thanh truyền hình Vĩnh Long 51
2.2 Khảo sát thực trạng vấn đề bảo vệ môi trường khu công nghiệp trên Báo Vĩnh Long và Đài PT-TH Vĩnh Long 54
2.3 Đánh giá những thành công, hạn chế và nguyên nhân 96
TIỂU KẾT CHƯƠNG II 106
Trang 6CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THÔNG TIN TUYÊN TRUYỀN CỦA BÁO CHÍ VĨNH LONG TRONG TUYÊN TRUYỀN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
3.1 Một số vấn đề đặt ra trong việc bảo vệ môi trường khu công nghiệp hiện
nay 107
3.2 Bài học kinh nghiệp trong công tác tuyên truyền về bảo vệ môi trường 110
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền về bảo vệ môi trường trên báo chí địa phương 114
TIỂU KẾT CHƯƠNG III 122
KẾT LUẬN 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
PHỤ LỤC MẪU BẢNG BIỂU KHẢO SÁT CÔNG CHÚNG 129
PHỎNG VẤN SÂU 131
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT UBND Ủy ban nhân dân
Bảng 2.6 Ý kiến của đọc giả báo Vĩnh Long và Đài Vĩnh Long về việc
có hay không có Đọc báo, xem Đài Vĩnh Long
Bảng 2.7 Ý kiến của công chúng nhận xét về nội dung tuyên truyền bảo
vệ môi trường tại các Khu công nghiệp trên Báo chí Vĩnh Long nội dung phong phú, phản ánh đúng thực trạng
Bảng 2.8 Ý kiến của công chúng về tuyên truyền tác động mạnh mẽ đến nhận thức và hành vi
Bảng 2.9 Ý kiến của công chúng về nội dung sơ sài chưa phản ảnh đúng thực trạng
Bảng 2.10 Ý kiến của công chúng về việc tăng số lượng tin bài trên báo chí Vĩnh Long và đổi mới nội dung và hình thức
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH MINH HỌA
Biểu đồ 2.1: Nội dung tuyên truyền trên báo chí Vĩnh Long
Biểu đồ 2.2: Số tin bài về môi trường trên báo chí Vĩnh Long giai đoạn
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Công tác thông tin tuyên truyền về bảo vệ môi trường tại các Khu công nghiệp giữ một vai trò quan trọng, là mắt xích không thể thiếu để việc bảo vệ, gìn giữ môi trường trở nên hiệu quả nhờ sự thống nhất ý chí và hành động trên phạm vi rộng rãi nhất Nghị quyết số 41/NQ-TW về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã xác định việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường là giải pháp hàng đầu Trong đó, đa dạng hóa các hình thức thông tin tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật và các thông tin về môi trường cho cộng đồng; đồng thời lên án nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm pháp luật
về bảo vệ môi trường… tăng cường giáo dục đạo đức môi trường cho mọi tầng lớp nhân dân Điều này, một lần nữa đã được khẳng định trong Nghị quyết số 24-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường vừa mới được ban hành gần đây
Bảo vệ môi trường tại các Khu công nghiệp là chủ đề lớn, thậm chí là nóng bỏng của đời sống xã hội nói chung và đời sống báo chí cũng như sự quan tâm dõi theo thường nhật của cộng đồng xã hội Do vậy, hầu hết, các cơ quan hoạt động báo chí từ trung ương đến địa phương đều có chuyên mục, chuyên đề, chương trình về lĩnh vực tài nguyên môi trường và bảo vệ môi trường tại các Khu công nghiệp cũng không ngoại lệ Riêng với lĩnh vực môi trường tại các Khu công nghiệp, theo Tổng cục Môi trường, từ nhiều năm nay, Tổng cục đã tích cực phối hợp với các cơ quan thông tấn, báo chí ở Trung ương và địa phương tăng cường công tác tuyên truyền về bảo vệ môi trường với nhiều hình thức đa dạng, hướng tới nhiều nhóm đối tượng khác nhau Các nội dung thông
Trang 10tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng tập trung vào phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường tại các Khu công nghiệp; các vấn đề môi trường nổi cộm, bức xúc, các “điểm nóng” về môi trường nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đối với công tác bảo vệ môi trường; công khai thông tin về cơ sở gây ô nhiễm, vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường để tạo áp lực xã hội, sức ép dư luận buộc các cơ sở này phải nhanh chóng thực hiện các biện pháp khắc phục và xử lý môi trường
Nội dung thông tin tuyên truyền về ô nhiễm môi trường tại các Khu công nghiệp đã luôn được thể hiện thường xuyên, liên tục cập nhật, đa dạng trên các loại hình báo chí như: Báo in, báo phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử với lưu lượng, dung lượng khá lớn, phương thức truyền tải và cách thức thể hiện sinh động, hấp dẫn
Điển hình những năm qua, vai trò của báo chí được thể hiện rất rõ qua
vụ việc vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường của Công ty TNHH Vedan Việt Nam, Công ty Miwon Phú Thọ xả nước thải chưa qua xử lý gây ô nhiễm môi trường sông, vấn đề ô nhiễm kênh Ba Bò Báo chí cùng chung tay với các cơ quan quản lý Nhà nước xử lý những sai phạm của doanh nghiệp, tổ chức như:
Vụ nhập khẩu rác thải; vi phạm của Công ty TungKuang (Hải Dương) Những minh chứng đó đã khẳng định, báo chí là phương tiện tuyên truyền, phổ biến thông tin, kiến thức, cơ chế chính sách pháp luật về tài nguyên và môi trường đến với từng người dân, các tổ chức, góp phần nâng cao nhận thức cho cộng đồng xã hội Đồng thời, báo chí góp phần tuyên truyền, cổ vũ các gương điển hình tiên tiến, nhân tố mới có nhiều đóng góp trong công tác bảo vệ môi trường Thông tin về những hành vi vi phạm pháp luật về môi trường trên các phương tiện thông tin đại chúng được nhân dân ủng hộ, tạo ngọn cờ tập hợp ý chí, tiếng nói, mong muốn của nhân dân
Trang 11Vĩnh Long là tỉnh nằm giữa 2 thành phố lớn trực thuộc trung ương: thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Cần Thơ, có điều kiện thuận lợi về mặt giao thông với 5 tuyến quốc lộ đi qua và hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt Dù không là địa phương thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Đồng Bằng Sông Cửu Long nhưng công nghiệp vẫn đóng một vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế chung của tỉnh Năm 2019, ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 17,21% trong cơ cấu nền kinh tế của tỉnh, góp phần giải quyết nhiều công ăn, việc làm cho người lao động và đóng góp khá lớn cho ngân sách địa phương
Tỉnh hiện có 2 khu công nghiệp đang hoạt động (Khu công nghiệp Hoà Phú, huyện Long Hồ và Khu Công nghiệp Bình Minh, Thị xã Bình Minh) và 1 Tuyến Công nghiệp Cổ Chiên thuộc hai huyện (Long Hồ và Mang Thít) Tỉnh cũng đang kêu gọi, đầu tư mở rộng các khu công nghiệp hiện có và các khu công nghiệp theo quy hoạch như: Khu Công nghiệp Đông Bình, Khu Công nghiệp Bình Tân, Khu Công nghiệp An Định
Ngoài các khu công nghiệp trọng điểm như vừa nêu, tỉnh Vĩnh Long còn
có nhiều doanh nghiệp sản xuất CN và tiểu thủ CN thuộc các thành phần kinh tế nằm phân tán, xen lẫn trong các khu dân cư, dễ xảy ra các vấn đề ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng cảnh quan đô thị, khó thực hiện công tác quản lý và triển khai các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế
Vấn đề bảo vệ môi trường tại các Khu, Cụm, Tuyến công nghiệp tại Vĩnh Long là vấn đề cấp bách hiện nay Có nhiều nguyên nhân khiến tình trạng nóng
về vấn đề môi trường tại các khu, cụm, tuyến công nghiệp, trong đó chủ yếu là
do công tác thông tin tuyên truyền chưa tốt, người dân chưa nhận thức được những chính sách liên quan đến bảo vệ môi trường nên vẫn còn diễn ra tình trạng ô nhiễm môi trường mà nguyên nhân là do ý thức của người dân và các doanh nghiệp địa phương
Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách liên quan đến bảo
vệ môi trường, do người dân chưa hiểu được nên ở nhiều nơi, nhiều địa phương,
Trang 12đặc biệt là tại khu vực nông thôn thì những vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường tại các Khu công nghiệp nóng hơn bao giờ hết Tuy nhiên, cần đánh giá chân xác, thẳng thắn về kết quả thông tin tuyên truyền những thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của chính quyền địa phương liên quan đến bảo vệ môi trường và hiệu quả tác động của nó đối với đông đảo công chúng trên nhiều địa bàn Cần rút ra những vấn đề trọng tâm, những bài học kinh nghiệm, phương thức hay để chất lượng nội dung và hình thức tuyên truyền bảo vệ môi trường qua phương tiện báo chí tại Vĩnh Long đạt được những hiệu quả cao hơn nữa Đồng thời cần tìm hiểu thêm những phương pháp, mô hình truyền thông nào phù hợp với đặc thù công chúng báo chí tại Vĩnh Long, thực sự đáp ứng được nhu cầu thông tin, quyền lợi, nghĩa vụ của người dân
Xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn về truyền thông những chính sách bảo vệ
môi trường, tác giả luận văn chọn nghiên cứu vấn đề “Bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp địa phương trên Báo Chí Vĩnh Long” Khảo sát tại Đài
Phát thanh - Truyền hình Vĩnh Long và Báo Vĩnh Long trong năm 2019
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nhóm những công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận báo chí và vai trò của báo chí đối với các vấn đề xã hội
Giáo trình Cơ sở lý luận báo chí của PGS.TS Nguyễn Văn Dững được
Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông ấn hành năm 2018 Cuốn sách đã trình bày một cách đầy đủ và khoa học những vấn đề cốt yếu có ý nghĩa lý luận về báo chí Đây thực sự là một công trình có giá trị với việc hoàn thiện hệ thống khái niệm phục vụ cho nghiên cứu này
Tác giả cũng dành sự quan tâm lớn đến giáo trình Lý luận và báo chí
truyền thông của PGS.TS Dương Xuân Sơn được Nhà xuất bản Giáo dục ấn
hành năm 2013 Đây thực sự là một cuốn sách cung cấp những vấn đề lý luận và phương pháp luận nền tảng quan trọng cho bất cứ ai muốn tìm hiểu, nghiên cứu
Trang 13lĩnh vực báo chí Công trình đã kế thừa được rất nhiều những nội dung mang tính lý luận về báo chí từ cuốn giáo trình giá trị này
Năm 2013, NCS Dương Văn Thắng đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ
báo chí với chủ đề Nghiên cứu hiệu quả báo chí trong hoạt động truyền thông về
an sinh xã hội ở Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế tại Trường Đại học Khoa học
xã hội nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sau khi hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận của chủ đề nghiên cứu, tác giả đã đi sâu vào phân tích thực trạng hiệu quả báo chí trong hoạt động truyền thông về an sinh xã hội ở nước ta qua các kết quả khảo sát thực tế ở 5 tờ báo Trên cơ sở đó, tác giả Dương Văn Thắng đã bước đầu chỉ ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông về an sinh xã hội của báo chí ở nước ta trong thời gian tới Đây là một công trình công phu và nghiêm túc về hiệu quả báo chí với các vấn đề xã hội được chúng tôi kế thừa cho việc nghiên cứu luận văn của mình
Chúng tôi cũng quan tâm đến cuốn sách Trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ
công dân của nhà báo được Hội Nhà báo Việt Nam xuất bản năm 1999 Đây là
một cuốn sách tập hợp được rất nhiều bài viết có giá trị về vai trò của báo chí cũng như nhà báo đối với các vấn đề xã hội Chúng tôi đã tìm được những chỉ dẫn và định hướng quan trọng cho đề tài của mình khi tham khảo cuốn sách này
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng quan tâm đến các bài viết đề cập đến trách nhiệm xã hội của báo chí trên một số tạp chí chuyên nghành như: Trần Linh
Khiếu Trách nhiệm xã hội của báo chí Việt Nam hiện nay Tạp chí Triết học số
6 năm 2009; Cầm Phan Trách nhiệm của báo chí: Xây dựng chương trình nghị
sự Tạp chí tuổi trẻ online, ngày 25 tháng 6 năm 2014 Các bài viết đã tập trung
tiếp cận và khai thác các khía cạnh khác nhau vai trò của báo chí đối với xã hội nói chung
Nhóm các công trình nghiên cứu về hoạt động của báo chí địa phương
Luận án tiến sĩ Báo chí học của Nguyễn Tiến Vụ với chủ đề: Xu thế phát
triển của báo chí địa phương Việt Nam trong bối cảnh truyền thông đa phương
Trang 14tiện được bảo vệ thành công năm 2017 tại Học viện Báo chí và tuyên truyền
Tác giả đã khảo sát mâu các cơ quan báo chí các tỉnh thành phố: Quảng Ninh, Thừa Thiên- Huế, Tp Hồ Chí Minh và Tiền Giang từ năm 2013 đến năm 2016 Công trình đã trình bày một cách có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn của báo chí địa phương trong xu thế hội nhập Trên cơ sở đánh giá thực trạng và chỉ
ra những thách thức của báo chí địa phương hiện nay Tác giả đã định hướng, nhận diện xu thế phát triển của báo chí các địa phương đồng thời đưa ra những khuyến nghị quan trọng để báo chí địa phương phát triển trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện Luận án của tác giả có ý nghĩa quan trọng với nghiên cứu của chúng tôi trong việc làm sáng tỏ những khái niệm và nhận diện những vấn
đề lý thuyết của báo chí địa phương trong đó có truyền hình
Năm 2016, tác giả Trần Thị Hải Lý đã bảo vệ thành công Luận án tiến sĩ
Báo chí học tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền với chủ đề Năng lực cạnh
tranh của các kênh truyền hình địa phương miền trung và Tây Nguyên hiện nay (khảo sát kênh TRT, KTV, LTV từ 1/2010- 12/2014) Bên cạnh hệ thống thuật
ngữ, khái niệm quan trọng của đề tài mà chúng tôi có thể kế thừa, luận án đã đưa đến một cái nhìn tương đối đầy đủ và có hệ thống về hiện trạng của các kênh truyền hình địa phương hiện nay Trên cơ sở đó, Luận án đã đi vào kiến giải và đưa ra một số kiến nghị có ý nghĩa để các kênh truyền hình địa phương nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong tương lai
Tác giả luận văn cũng quan tâm đến nội dung Luận văn thạc sĩ báo chí
học của tác giả Nguyễn Thị Lý với chủ đề Quảng bá du lịch Ninh Bình dưới góc
nhìn của báo chí địa phương và báo chí Trung ương bảo vệ thành công năm
2017 tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội Bằng việc khảo sát đồng thời cả các tờ báo chí ở Trung ương và của Ninh Bình, tác giả đã trình bày khá rõ nét thực trạng quảng bá du lịch Ninh Bình hiện nay, trên cơ sở đó, tác giả cũng đã chỉ ra những mặt nổi cộm của vấn đề và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong tương lai Công
Trang 15trình này có ý nghĩa trong việc góp phần giúp chúng tôi định hình cấu trúc nghiên cứu của mình
Nhóm các công trình nghiên cứu về vai trò của báo chí trong bảo vệ môi trường
Năm 2017, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội cho ấn hành cuốn sách
chuyên khảo Báo chí với vấn đề biến đổi khí hậu ở Việt Nam của tác giả Đinh
Văn Hường và Nguyễn Minh Trường Đây là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia cùng tên được thực hiện từ năm 2015 Sau khi tham khảo các phương thức truyền thông về biến đối khí hậu của một số nước trên thế giới, cuốn sách đã tập trung phản ánh thực tiễn thông tin, truyền thông về biến đổi khí hậu ở Việt Nam từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng báo chí
về biến đổi khí hậu ở Việt Nam Chúng tôi đã tìm thấy cho công trình của mình nhiều thông tin quan trọng từ cuốn sách này
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng quan tâm đến các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành đề cập đến vai trò của truyền thông với vấn đề môi trường như: Trần Linh Chi Truyền thông môi trường trong tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Tạp chí nghiên cứu tôn giáo số 1 năm 2014; Việt Hưng Đẩy mạnh truyền thông
môi trường góp phần phát triển bền vững Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 3 năm
2006 Các bài viết cũng đã ít nhiều đề cập đến vai trò của báo chí, truyền thông đối với vấn đề môi trường hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khung lý thuyết liên quan, luận văn sẽ khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động thông tin tuyên truyền bảo vệ môi trường khu công nghiệp được chuyển tải trên báo chí Vĩnh Long, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả việc sử dụng hệ thống này để các hoạt động thông tin tuyên truyền về bảo vệ môi trường góp phần nâng cao nhận thức và hành động đúng cho người dân
Trang 163.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích, tác giả xác định những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Làm rõ khái niệm về vai trò báo chí Vĩnh Long, các cơ sở lý thuyết, phương pháp luận và cơ sở thực tiễn của nghiên cứu về hoạt động thông tin tuyên truyền bảo vệ môi trường
- Khảo sát, phân tích, đánh giá, làm rõ được thực trạng về báo chí Vĩnh Long ở các địa bàn khu công nghiệp trong việc thông tin tuyên truyền bảo vệ môi trường năm 2019
- Đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin tuyên truyền về bảo vệ môi trường cho báo chí Vĩnh Long làm tốt hơn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu nghiên cứu vấn đề “Bảo vệ môi trường
tại Khu công nghiệp địa phương trên Báo Chí Vĩnh Long”
4.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát tại Đài Phát thanh - Truyền hình Vĩnh Long và Báo Vĩnh Long
Thời gian khảo sát: năm 2019
5 Cơ sở lý luận vàphương pháp nghiên cứu
5.1.1 Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở nhận thức luận các vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí, thông tin và tuyên truyền; các lý thuyết như: Lý thuyết thông tin và tuyên truyền; Lý thuyết báo chí học; Luật học; Tâm lý học; Xã hội học truyền thông đại chúng
5.1.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu, thu thập dữ liệu tài liệu thứ cấp: tại Đài Phát
thanh - Truyền hình Vĩnh Long và Báo Vĩnh Long trong năm 2019 Trong đó
Trang 17có các dữ liệu về quá trình hình thành và phát triển của Đài Phát thanh - Truyền hình Vĩnh Long và Báo Vĩnh Long, thực trạng vấn đề tuyên truyền về bảo vệ môi trường trên hệ thống Đài Phát thanh - Truyền hình Vĩnh Long và Báo Vĩnh Long hiện nay
- Phương pháp phân tích nội dung: Được sử dụng để phân tích và đánh
giá những thành công cũng như những tồn tại liên quan đến nội dung thông tin tuyên truyền về bảo vệ môi trường trên Đài Phát thanh - Truyền hình Vĩnh Long và Báo Vĩnh Long, nhằm đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng nội dung tác phẩm
-Phương pháp phỏng vấn sâu: Nhằm thu thập ý kiến của chuyên gia phân
tích về các nội dung vấn đề trong phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu trưng cầu ý kiến công
chúng: Luận văn có bảng tổng hợp kết quả điều tra ý kiến, phát phiếu khảo sát,
thu thập các dữ liệu, ý kiến đánh giá của của công chúng
- Phương pháp thống kê, tổng hợp: Được sử dụng để sắp xếp, tổng hợp dữ
liệu sơ cấp thu thập được một cách khoa học nhất, biến dữ liệu sơ cấp thành dữ liệu thứ cấp phục vụ cho quá trình phân tích thực trạng vấn đề bảo vệ môi trường tại các Khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Long trên hệ thống Đài Phát thanh -Truyền hình Vĩnh Long và Báo Vĩnh Long
6 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài
Trang 18trường tại Đài Phát thanh truyền hình Vĩnh Long và Báo Vĩnh giúp cho cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung và cấp ủy, chính quyền địa phương, các phóng viên, biên tập viên, lãnh đạo Đài, Báo và người dân hiểu sâu sắc hơn về công tác bảo vệ môi trường Từ đó có chủ trương, cơ chế chính sách phù hợp trong việc thông tin tuyên truyền, bảo vệ môi trường hiệu quả hơn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, kết cấu của luận văn gồm 3 chương Cụ thể như sau:
Luận văn gồm 3 phần: Mở đầu, Nội dung và Kết luận
Phần Nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về vai trò của báo chí trong hoạt động thông tin tuyên truyền về bảo vệ môi trường
Chương II: Thực trạng vấn đề thông tin tuyên truyền về bảo vệ môi trường
trên Đài Phát thanh truyền hình Vĩnh Long và Báo Vĩnh Long hiện nay
Chương III: Giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thông tin tuyên truyền về bảo vệ môi trường trên hệ thống Đài Phát thanh - Truyền hình Vĩnh Long và Báo Vĩnh Long
Trang 19CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN TUYÊN TRUYỀN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1 Các khái niệm và thuật ngữ có liên quan tới đề tài
1.1.1 Báo chí
Báo chí là một hiện tượng xã hội phổ biến, phát triển từng ngày và tác động, chi phối đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội Báo chí được hiểu là phương tiện thông báo, thông tin về những sự việc mới được diễn ra hàng ngày cho nhiều người biết, báo chí là phương tiện thông tin thời sự, phương tiện giao tiếp
xã hội; là diễn đàn cung cấp, trao đổi và chia sẻ thông tin công khai Mặt khác, báo chí là công cụ nằm trong tay kẻ thống trị
Theo nghĩa hẹp báo chí được hiểu bao gồm báo và tạp chí; theo nghĩa rộng, bao gồm các loại hình báo chí: báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử (và báo chí công dân) Ngày nay, với sự phát triển của kỹ thuật, công nghệ và phương thức truyền thông đa dạng, báo chí gắn với truyền thông xã hội, mạng xã hội, giới báo chí có thể được gọi chung là giới truyền thông [1,tr 75-78]
Theo quan điểm nổi trội của giai cấp tư sản, báo chí là phương tiện thông tin- thông tin sự kiện- khách quan, độc lập và không phụ thuộc vào chính trị Báo chí độc lập với chính trị, là quyền lực thứ tư (giám sát cả ba nhánh quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp) Thực chất đây là quyền lực của nhân dân và dư luận xã hội mà báo chí chỉ là kênh truyền tải, truyền dẫn và liên kết thành sức mạnh xã hội Bởi vì trong tay đông đảo nhân dân, báo chí là công cụ quan trọng bậc nhất để thể hiện sức mạnh, ý chí, nguyện vọng của mình; trong khi chính quyền có đầy đủ công cụ bạo lực và phi bạo lực để tổ chức và duy trì trật tự xã hội
Theo quan điểm của giai cấp vô sản, báo chí là công cụ tuyên truyền, là phương tiện đấu tranh giai cấp tên mặt trận tư tưởng văn hóa; báo chí là một bộ
Trang 20phận không thể tách rời trong bộ máy tổ chức của Đảng Cộng sản, là cơ quan ngôn luận của tổ chức Đảng Báo chí là công cụ thể hiện quyền lực chính trị
Theo quan điểm hệ thống, hệ thống tổ chức quyền lực chính trị của mỗi nước trên thế giới theo những mô hình khác nhau, có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của riêng mình và theo đó, hệ thống hay mạng lưới báo chí- truyền thông đại chúng cũng được vận hành theo thể chế khác nhau, trong môi trường văn hóa, điều kiện kinh tế…không giống nhau và ở những trình độ cụ thể của sự phát triển Trong các hệ thống tổ chức quyền lực chính trị khác nhau, dù quan điểm, chính sách và phương thức khai thác sử dụng báo chí khác nhau nhưng chúng vẫn có những điểm chung Điểm chung này xuất phát từ bản chất của báo chí truyền thông là hoạt động thông tin - giao tiếp xã hội trên quy mô rộng lớn nhất, là công cụ và phương thức kết nối xã hội hữu hiệu nhất, là công
cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mối quan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân và với nhóm lợi ích, với các nước trong khu vực và quốc tế [1,tr 79-87]
Theo PGS.TS Dương Xuân Sơn: Báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng truyền tải các sự kiện, sự việc, hiện tượng đang diễn ra trong hiện thực khách quan một cách nhanh chóng, chính xác và trung thực đến đông đảo công chúng nhằm tích cực hóa đời sống thực tiễn Khái niệm báo chí ở đây được coi
là sản phẩm của hoạt động báo chí để chỉ sự tiếp nhận của công chúng và được xem là một hệ thống xã hội, một thiết chế, một hoạt động chính trị- xã hội để xem xét mối quan hệ của báo chí với các thiết chế khác trong đời sống xã hội cũng như mối quan hệ tương tác hai chiều với công chúng [2,tr 64]
Theo khoản 1 điều 3 chương 1 Luật Báo chí được Quốc hội khóa 13
thông qua ngày 05 tháng 4 năm 2016: “Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự
kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử” Theo đó
Trang 21các loại hình báo chí được đề cập trong luật này cũng được hiểu lần lượt là:
“Báo in là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phương
tiện in để phát hành đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chí in; Báo nói là loại hình báo
chí sử dụng tiếng nói, âm thanh, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ
thuật ứng dụng công nghệ khác nhau; Báo hình là loại hình báo chí sử dụng hình
ảnh là chủ yếu, kết hợp tiếng nói, âm thanh, chữ viết, được truyền dẫn, phát sóng
trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau; Báo điện tử là loại
hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử
Báo chí hiện đại có thể được hiểu là những ấn phẩm xuất bản định kỳ hoặc không định kỳ (hoặc không định kỳ như báo mạng điện tử) được sản xuất với khối lượng lớn, phát hành rộng rãi đến đông đảo cư dân (công chúng) Khái niệm báo chí theo nghĩa rộng được dùng để chỉ các sản phẩm phát hành thông qua các loại hình báo in, phát thanh, truyền hình và báo mạng điện tử [3,tr 5]
Báo chí có nhiều vai trò trong đời sống xã hội trên nhiều lĩnh vực như:
Về chính trị: báo chí là công cụ, là vũ khí quan trọng trên mặt trận tư
tưởng - văn hóa Vai trò của báo chí trong lĩnh vực chính trị là hướng dẫn nhận thức và hành động của công chúng Báo chí là lực lượng xung kích trên mặt trận
tư tưởng- văn hóa của Đảng, là công cụ tham gia quản lý xã hội; công cụ giám sát cán bộ đảng viên về đạo đức, lối sống
Về kinh tế: Trong nền kinh tế thị trường, thông tin chính xác, kịp thời là
sức mạnh tạo nên thắng lợi cạnh tranh Các phương tiện thông tin đại chúng có vai trò to lớn trong việc cung cấp những thông tin có giá trị đó Báo chí không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin thuần túy mà còn có thể hướng dẫn thị trường, hướng dẫn việc áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, giới thiệu những mô hình, điển hình tiên tiến trong sản xuất và kinh doanh
Trang 22Về văn hóa- xã hội: báo chí góp phần nâng cao văn hóa, giải trí làm cho
mọi người ngày càng hiểu nhau, xích lại gần nhau hơn, chia sẻ tâm tư, tình cảm, đồng thời cùng học tập, tiếp thu được nền văn hóa đa dạng, phong phú của các dân tộc khác để làm giàu cho văn hóa dân tộc mình[4,tr 35]
Theo điều 4 quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí trong Luật Báo chí thì: Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị
xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân
Báo chí có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân; Tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, Mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, phát
triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của
Nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Phản ánh và hướng dẫn
dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của Nhân dân; phát hiện, nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới, điển hình tiên tiến; đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội; góp phần giữ gìn sự trong sáng và phát triển tiếng Việt, tiếng của các dân tộc thiểu số Việt Nam; mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc, tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, hữu nghị, hợp tác, phát triển bền vững
Trang 231.1.2 Tuyên truyền
Tuyên là nói, truyền là loang ra Theo từ điển Tiếng Việt- 2009, Nxb Đà Nẵng, tuyên truyền là “phổ biến, giải thích rộng rãi để thuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo”
Theo R.A.Nelsn, tuyên truyền được định nghĩa một cách trung tính như một dạng truyền thông có hệ thống, có chủ ý nhằm tác động đến cảm xúc, thái
độ, ý kiến và hành động của một nhóm người xác định vì các mục đích tư tưởng, chính trị hay thương mại thông qua việc truyền các thông điệp một chiều, được kiểm soát trên các phương tiện truyền thông
“Tuyên truyền” theo nghĩa rộng là hoạt động có mục đích của chủ thể nhằm truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đến đối tượng, biến những kiến thức, giá trị tinh thần đó thành nhận thức, niềm tin, tình cảm của đối tượng, thôi thúc đối tượng hành động theo những định hướng, những mục tiêu
do chủ thể tuyên truyền đặt ra
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tuyên truyền lớn của Đảng ta, là tấm gương mẫu mực về công tác tuyên truyền Người định nghĩa và xác định rõ mục đích
của tuyên truyền: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ,
dân theo, dân làm Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại” [Error! Reference source not found., tr.162]
1.1.3 Báo chí địa phương
Báo chí địa phương là một bộ phận quan trọng cấu thành nền báo chí cách mạng Việt Nam Về công tác quản lý đối với hệ thống báo chí địa phương, Báo Đảng do Tỉnh ủy/ Thành ủy trực tiếp quản lý; còn Đài Phát thanh- Truyền hình (PT-TH) tỉnh thì do Ủy ban Nhân dân (UBND) tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương trực tiếp quản lý; ngoài ra có sự tham gia thông tin tuyên truyền của các đài truyền thanh huyện, thị xã, thành phố do UBND cùng cấp trực tiếp quản lý
Hệ thống báo chí địa phương ở Việt Nam khá đa dạng Hiện nay ở tất cả
63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả nước đều có ít nhất 1 tờ báo
Trang 24in; một Đài PT- TH cấp tỉnh và các Website của các Báo, Đài (Riêng Thành phố
Hồ Chí Minh có đài phát thanh và đài truyền hình riêng biệt) Ngoài ra, hầu hết các địa phương còn có Website của Sở Thông tin- Truyền thông và Tạp chí của Hội Nhà báo, Hội Văn học, Nghệ thuật tỉnh Một số nơi còn có tạp chí hoặc trang thông tin của các sở, ban, ngành tỉnh Ở các huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh có hệ thống đài truyền thanh cấp huyện, thị xã, thành phố và một hệ thống dày đặc gồm hàng chục nghìn các đài truyền thanh cấp xã, phường, thị trấn, trạm truyền thanh ấp, khóm, khu, thôn, làng, bản…
Là cơ quan ngôn luận của Đảng bộ, chính quyền và là diễn đàn của nhân dân, báo chí địa phương giữ vai trò quan trọng trong việc giữ vững sự ổn định chính trị, thúc đẩy công cuộc đổi mới về mọi phương diện, nhất là phát triển kinh tế, góp phần nâng cao dân trí và dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội ở địa phương Báo chí địa phương không chỉ là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là cơ quan tuyên truyền, giải thích, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách mà còn định hướng chính trị, tư tưởng cho nhân dân trước các sự kiện, vấn đề trong tỉnh, thành, khu vực, trong nước cũng như quốc tế
Trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, qua nhiều thập kỷ, báo chí địa phương đã có sự phát triển từng bước vững mạnh, trở thành một bộ phận không thể tách rời của nền báo chí cách mạng Việt Nam So với các Đài, Báo Trung ương và của ngành, Báo chí địa phương có lợi thế là nắm chắc hoàn cảnh cụ thể, phong tục tập quán địa phương, đi sâu vào từng đối tượng riêng biệt, từ đó thông tin gần gũi, góp phần tác động vào tư tưởng, tình cảm của ngườu dân địa phương một cách trực tiếp Mỗi địa phương đều có những truyền thống, đặc điểm riêng về đời sống kinh tế - xã hội, có sắc thái riêng trong tâm lý của công chúng báo chí Công chúng địa phương thích đọc báo, nghe đài địa phương trước hết vì họ luôn luôn muốn biết được những thông tin của địa phương mình, những thông tin đã và đang diễn ra xung quanh mình Đó là lợi thế của hệ thống báo chí này
Trang 25Những năm qua, nhìn chung hệ thống báo chí địa phương nước ta đã không ngừng đổi mới, cải tiến các chuyên trang, chuyên mục, chương trình….phù hợp với nhu cầu của công chúng; góp phần to lớn trong việc động viên tinh thần thi đua lao động, làm việc, học tập trong các tầng lớp nhân dân; cổ
vũ những nhân tố mới, những điển hình tiên tiến, góp phần tích cực trong việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở địa phương; đem đến cho công chúng địa phương những thông tin bổ ích, thiết thực, gắn với cuộc sống hằng ngày của
họ Báo chí địa phương cũng phát hiện, vạch trần nhiều vụ việc, gióng lên những tiếng chuông cảnh tỉnh trước những tiêu cực cản trở sự tiến bộ xã hội; góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao dân trí cùng nhau tham gia thực hiện phong trào thi đua yêu nước do Đảng và Nhà nước phát động
Báo chí địa phương trong giai đoạn hiện nay có rất nhiều nhiệm vụ quan trọng nhưng tập trung nhất có thể nói đến 4 nhiệm vụ chủ yếu sau đây
- Báo chí địa phương là tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể ở địa phương, là diễn đàn của các tầng lớp nhân dân
- Báo chí địa phương vừa cung cấp thông tin trên các lĩnh vực của đời sống vừa cổ vũ động viên các tầng lớp nhân dân thi đua lao động sản xuất, vừa đáp ứng nhu cầu giải trí, gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống của nhân dân trong tỉnh
- Báo chí địa phương cũng góp phần quảng bá, giới thiệu về vùng đất, con người, tiềm năng, thế mạnh của địa phương mình với các địa phương khác ở trong nước và nước ngoài
- Báo chí địa phương là phương tiện hữu dụng trong việc đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch
Hiện nay, hệ thống báo chí địa phương đã có những phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng; nội dung thông tin có nhiều tiến bộ mới, tiến bộ, hình thức ấn phẩm có những thay đổi phong phú, đa dạng, do đó đã làm tốt chức năng vừa là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, vừa là diễn đàn
Trang 26của nhân dân địa phương và đóng góp tích cực vào sự nghiệp cách mạng Việt Nam [4,tr 37-39]
1.1.4 Môi trường, bảo vệ môi trường
Kalesnik là người đưa ra quan niệm đầu tiên về môi trường (1959, 1970): Môi trường (môi trường địa lý) chỉ là một bộ phận của trái đất bao quanh con người, mà ở một thời điểm nhất định xã hội loài người có quan hệ tương hỗ trực tiếp với nó Nghĩa là môi trường có quan hệ một cách gần gũi với đời sống và hoạt động sản xuất của con người
I.P Gheraximov (1972): Môi trường (bao quanh) là khung cảnh của lao động, của cuộc sống riêng tư và nghỉ ngơi của con người, trong đó môi trường
tự nhiên là cơ sở cần thiết cho sự sinh tồn của nhân loại
Trong tuyên ngôn của UNESCO (1981): Môi trường được hiểu là toàn bộ
hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người sáng tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của mình
R.G Sharma (1988) đưa ra định nghĩa rất ngắn gọn: Môi trường là tất cả những gì bao quanh con người [5, tr.5-6]
Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội khóa 13
thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014: Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất
tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người
Trang 27cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản phục vụ cho sản xuất và tiêu thụ
Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con người Đó là luật lệ, thể chế, cam kết, quy định ở các cấp khác nhau Môi trường
xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác
Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên hoặc biến đổi theo, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống như ô tô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu đô thị, công viên…[6, tr.11-12]
Sự phân chia môi trường thành các loại chỉ để phục vụ cho việc nghiên cứu và phân tích các hiện tượng phức tạp trong môi trường Trong thực tế các loại môi trường cùng tồn tại, xen lẫn vào nhau, tương tác với nhau hết sức chặt chẽ và đều ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của mỗi con người
Hiện nay, vấn đề môi trường có tính chất toàn cầu mà nhân loại quan tâm thường không phải là môi trường nói chung mà chủ yếu là môi trường tự nhiên hay còn gọi là môi trường sinh thái và ở để tài này chúng tôi cũng sử dụng thuật ngữ môi trường với ý nghĩa môi trường sinh thái
1.1.5 Khu công nghiệp
Phát triển khu công nghiệp là một nhu cầu tất yếu của nền kinh tế mỗi quốc gia Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, Nhà nước nỗ lực tìm kiếm giải pháp nhằm phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân Một trong những giải pháp là quy hoạch, xây dựng và phát triển khu công nghiệp
Khái niệm “khu công nghiệp” đã được quy định trong một số văn bản
luật, chúng ta có thể kể tới 2 văn bản tiêu biểu là Luật Đầu tư năm 2014 và Nghị định số 29/2008/CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định về Khu
Trang 28công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, Nghị định số 164/2013/NĐ-CP ngày
12 tháng 11 năm 2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 29/2008/CP Các văn bản luật này đều đưa ra khái niệm khu công nghiệp, tuy ngôn ngữ khác nhau nhưng về nội hàm khái niệm là như nhau Liên quan đến việc tìm hiểu khái niệm khu công nghiệp, chúng ta cần quan tâm đến các khái niệm sau đây:
“Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản
xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp” (khoản
11 điều 3 Luật Đầu tư 2014)
“Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực
hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu” (Khoản
10 điều 3 Luật Đầu tư 2014)
Khu công nghiệp, khu chế xuất được gọi chung là khu công nghiệp trừ trường hợp có quy định cụ thể
Ngoài ra, hiện nay còn xuất hiện một số khái niệm mới chưa được đưa chính thức vào văn bản pháp luật nào nhưng được 1 số học giả sử dụng trong các công trình nghiên cứu khoa học như:
Cụm công nghiệp là một dạng của khu công nghiệp nhưng có quy mô nhỏ
do chính quyền địa phương phê duyệt, cấp phép và quản lý
Điểm công nghiệp là một dạng công nghiệp tập trung mới xuất hiện gần đây do sự phát triển bùng phát của các làng nghề Điểm công nghiệp có quy mô nhỏ từ vài chục ha trở xuống, được chính quyền địa phương phê duyệt và cấp phép
Như vậy, với các khái niệm nêu trên ta có thể khái quát, khái niệm khu
công nghiệp được hiểu theo nghĩa hẹp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp
và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ Hiểu theo nghĩa rộng, khu công
Trang 29nghiệp bao gồm có: khu công nghiệp theo nghĩa hẹp, khu chế xuất, cụm công nghiệp, điểm công nghiệp [8, tr.11-13]
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài khái niệm khu công nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng
Khu công nghiệp mang những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, về không gian khu công nghiệp: Khu vực này có ranh giới địa
lý xác định, phân biệt với các vùng lãnh thổ khác và thường không có dân cư sinh sống trong khu vực Thông thường các khu công nghiệp có những hàng rào làm mốc ranh giới phân biệt với các vùng còn lại thuộc lãnh thổ quốc gia Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc khu công nghiệp không chỉ tuân thủ quy định của pháp luật hiện hành mà còn phải tuân thủ quy chế riêng và hưởng nhiều
ưu đãi so với các khu vực sản xuất, kinh doanh khác Cơ sở vật chất kỹ thuật khu công nghiệp được xây dựng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh không phục vụ cho mục đích sinh sống của dân cư, kể cả những người làm việc trong khu công nghiệp Việc xây dựng ranh giới địa lý rõ ràng không chỉ có ý nghĩa về mặt quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất công nghiệp tại đây
mà còn có ý nghĩa về bảo vệ môi trường, giảm thiểu những ảnh hưởng xấu của môi trường đối với cuộc sống sinh hoạt của người dân
Thứ hai, về chức năng hoạt động của khu công nghiệp: Khu công nghiệp
là khu vực chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp Ngay từ trong quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội đã thể hiện
rõ mục đích của việc thành lập các khu công nghiệp là phục vụ cho sản xuất công nghiệp Trong khu công nghiệp không có các hoạt động sản xuất nông lâm ngư nghiệp và các dịch vụ phục vụ cho loại hình sản xuất này Đây chính là đặc điểm cơ bản nhất của khu công nghiệp
Thứ ba, về thành lập khu công nghiệp: Khu công nghiệp không phải là
khu vực được thành lập tự phát mà được thành lập theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt do Chính phủ định ra dựa trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt Việc
Trang 30thành lập các khu công nghiệp sẽ mang lại hiệu quả về mặt kinh tế nhưng bên cạnh đó nếu cơ chế quản lý không tốt thì khu công nghiệp sẽ mang lại nhiều tác động tiêu cực như ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội…vì thế, việc thành lập các khu công nghiệp phải được đặt trong sự tính toán nghiêm chỉnh của Nhà nước, phải tuân thủ nhiều loại quy hoạch phát triển (quy hoạch toàn quốc, quy hoạch vùng, quy hoạch môi trường, quy hoạch kinh tế, quy hoạch dân sinh….)[8, tr.6]
1.1.6 Môi trường khu công nghiệp
Môi trường khu công nghiệp là bộ phận hợp thành môi trường tổng thể Môi trường khu công nghiệp là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhận và nhân tạo trong công nghiệp có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.[8, tr46]
Môi trường tại khu công nghiệp mang những đặc điểm chung của môi trường nói chung như có vai trò rất lớn với sự tồn tại, phát triển của con người;
có tính thống nhất, có tính lan tỏa… bên cạnh đó, môi trường khu công nghiệp
có những đặc điểm riêng biệt sau:
Thứ nhất, khu công nghiệp là nơi dễ xảy ra ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố môi trường Khu công nghiệp là nơi tập trung sản xuất công
nghiệp, có rất nhiều các nhà máy, xí nghiệp vì thế lượng chất thải rất lớn Chất thải trong khu công nghiệp bao gồm nước thải, khí thải, rác thải, tiếng ồn, độ rung, bùn thải Nếu chất thải trong khu công nghiệp không được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường, quy chuẩn kỹ thuật môi trường thì khu vực này sẽ xảy ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Hơn nữa, mỗi nhà máy, xí nghiệp phát sinh các loại chất thải với thành phần hóa học khác nhau Nếu việc xử lý chất thải không triệt để, chất thải của các nhà máy, xí nghiệp khác nhau trộn lẫn thành chất gây ô nhiễm mới
Khu công nghiệp cũng là nơi tập trung sản xuất nhiều nhà máy xí nghiệp nên hoạt động khai thác các yếu tố của môi trường để phục vụ cho sản xuất như đất, nước…diễn ra với quy mô lớn Nếu hoạt động khai thác này không được
Trang 31kiểm soát chặt chẽ dễ dẫn đến suy thoái môi trường Bên cạnh đó, khu công nghiệp là nơi tập trung sản xuất công nghiệp với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại như hệ thống điện, đường giao thông, lò hơi, máy móc phục vụ sản xuất…ở khu vực này, dễ xảy ra cháy, nổ… tạo nên sự cố môi trường Như vậy,
so với các khu vực khác, khu công nghiệp là nơi dễ xảy ra ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố môi trường
Thứ hai, môi trường tại khu công nghiệp có tính tách biệt tương đối với bên ngoài Theo quy định về quy hoạch khu công nghiệp hiện nay, khu công
nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, thường không có dân cư sinh sống Như vậy, môi trường khu công nghiệp tách biệt với khu dân cư và các khu vực khác Việc tách biệt như vậy tạo nên nhiều thuận lợi cho công tác quản lý môi trường tại khu công nghiệp, góp phần hạn chế được những ảnh hưởng từ ô nhiễm môi trường khu công nghiệp đối với đời sống dân sinh Tuy nhiên, sự tách biệt của môi trường khu công nghiệp đối với khu vực khác chỉ mang tính chất tương đối Đặc điểm này là do đặc tính môi trường là một thể thống nhất Điều đó có nghĩa rằng, vấn đề ô nhiễm môi trường khu công nghiệp nếu không được kiểm soát vẫn gây nhiều tác động tiêu cực tới tính mạng, sức khỏe, tài sản của người dân sinh sống xung quanh
Thứ ba, trong khu công nghiệp có hệ thống xử lý chất thải tập trung Hiện
nay, theo quy định về quy hoạch khu công nghiệp, mỗi khu công nghiệp đều phải có nhà máy xử lý chất thải tập trung Cơ sở sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ nào không tự xử lý được chất thải sẽ ký hợp đồng với các đơn vị xử lý chất thải tập trung này Việc xử lý chất thải tập trung tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý môi trường khu công nghiệp Cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra đơn vị xử lý chất thải tập trung để kiểm soát việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác trong khu công nghiệp Việc xử lý chất thải tập trung còn tiết kiệm chi phí Tuy nhiên, đặc điểm này cũng gây ra nhiều phức tạp cho công tác xử lý chất thải và kiểm soát ô
Trang 32nhiễm môi trường khu công nghiệp trong trường hợp hệ thống xử lý chất thải tập trung không hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả dẫn đến dồn ứ lượng chất thải Nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh chỉ chuyển một lượng nhỏ chất thải của mình ra khu xử lý chất thải tập trung để giảm thiểu chi phí còn một lượng lớn chờ thời cơ “xả thải trộm” ra môi trường.[9, tr.47-48]
1.1.7 Bảo vệ môi trường khu công nghiệp
Hoạt động bảo vệ môi trường khu công nghiệp là hoạt động để giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường khai thác
và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành trong khu công nghiệp
Bên cạnh những ưu điểm, việc xây dựng và phát triển các khu công nghiệp còn để lại nhiều hệ lụy cho xã hội Một trong những vấn nạn đang được quan tâm hiện nay là vấn đề ô nhiễm môi trường khu công nghiệp Ô nhiễm môi trường khu công nghiệp chủ yếu do lượng nước thải từ các nhà máy sản xuất quá lớn Trước đây, do ý thức của các doanh nghiệp chưa cao, hoạt động quản lý nhà nước chưa được quan tâm đúng mức… nên hệ thống xử lý nước thải trong các khu công nghiệp chưa được chú trọng xây dựng hoặc nếu có thì vận hành không hiệu quả Những năm gần đây, Nhà nước đã có cơ chế quản lý chặt chẽ vấn đề xây dựng nhà máy xử lý nước thải trong các khu công nghiệp Theo đó, các doanh nghiệp hoạt động trong các khu công nghiệp buộc phải có phương án
xử lý chất thải, nước thải Doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong hai phương thức xây dựng nhà máy xử lý chất thải riêng hoặc đấu nối với hệ thống xử lý chất thải tập trung của khu công nghiệp.[8, tr.34-35]
Tại các khu công nghiệp, yêu cầu về bảo vệ môi trường thường được đặt
ra khắt khe hơn, đòi hỏi tính tổ chức cao hơn so với các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ lẻ Bởi lẽ, các khu công nghiệp, quy mô tác động đến môi trường
thường rất lớn do có nhiều tác động cùng lúc và cùng tập trung vào một khu vực
Trang 33nên nguy cơ ô nhiễm, suy thoái môi trường do tác động quá sức chịu tải của môi trường là rất cao
Yêu cầu bảo vệ môi trường trong việc lập quy hoạch xây dựng khu công nghiệp Theo điều 7 của Thông tư số 35/2015/TT-BTNMT ban hành ngày 30
tháng 6 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì: Quy hoạch các khu chức năng trong khu công nghiệp phải đảm bảo giảm thiểu ảnh hưởng của loại hình sản xuất gây ô nhiễm với các loại hình sản xuất khác; thuận lợi cho công tác phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường Các dự án trong khu công nghiệp có khoảng cách an toàn môi trường theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về các công trình hạ tầng kỹ thuật để giảm thiểu khả năng ảnh hưởng đến các cơ sở khác trong khu công nghiệp và các đối tượng kinh tế- xã hội xung quanh khu công nghiệp Hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường được bố trí phù hợp với các loại hình đầu tư trong khu công nghiệp đảm bảo giảm thiểu tác động xấu đối với môi trường xung quanh Diện tích cây xanh trong phạm vi khu công nghiệp tối thiểu chiếm 10% tổng diện tích toàn bộ khu công nghiệp
Trong giai đoạn triển khai thi công xây dựng khu công nghiệp: các tổ
chức, cá nhân thực hiện giải phóng mặt bằng và chuẩn bị đất xây dựng có trách nhiệm thu gom và xử lý tất cả các chất thải rắn phát sinh theo đúng quy định của pháp luật về quản lý chất thải rắn Chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu
hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp, cụm công nghiệp phải có trách nhiệm có báo cáo đánh giá tác động môi trường gửi cho cơ quan phê duyệt, ban quản lý khu công nghiệp hoặc cơ quan quản lý cụm công nghiệp về kế hoạch xây lắp, giám sát môi trường trong giai đoạn thi công
Giai đoạn hoạt động của khu công nghiệp: Trong quá trình sản xuất, các
khu công nghiệp đã làm cho môi trường ngày càng nghiêm trọng thì các cơ quan nhà nước, các đơn vị kinh tế ở các khu công nghiệp phải có những hành động nhất định để phòng ngừa, khắc phục, xử lý khống chế ô nhiễm Đó gọi là hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường Hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường
Trang 34tại các khu công nghiệp là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước, các đơn vị kinh tế nhằm loại trừ, hạn chế những tác động xấu đối với môi trường phòng ngừa ô nhiễm môi trường; khắc phục, xử lý hậu quả do ô nhiễm môi trường gây nên từ những hoạt động sản xuất ở các khu công nghiệp Kiểm soát ô nhiễm môi trường bao gồm các hoạt động kiểm soát như kiểm soát về không khí, nước thải, khí thải, chất thải….[8, tr.22-27]
Nguyên tắc quản lý bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp
Nguyên tắc phòng ngừa luôn khẳng định được ý nghĩa về mặt kinh tế
cũng như về phương diện môi trường, phát triển bền vững Nguyên tắc này giúp cho các chủ thể quản lý đề phòng, lường trước, dự báo nguồn thải, khí thải, nước thải, chất thải để các nhà quản lý chủ động ngăn ngừa, hạn chế gây hại cho môi trường, sức khỏe của con người và sinh vật trong khu công nghiệp Đây cũng chính là nguyên tắc thực hiện “an toàn tốt hơn phiền toái” đối với quản lý môi trường bởi lẽ: chi phí để phục hồi các hủy hoại gây ra luôn tốn kém hơn chi phí cho công tác phòng ngừa sự cố hay thiệt hại cho môi trường
Nguyên tắc phối hợp liên ngành trong phòng ngừa và kiểm soát chất thải
và chất gây ô nhiễm để có thể tập trung nguồn lực là con người, tài chính, công
nghệ để có thể giải quyết vấn đề cấp bách, ưu tiên mà các chủ thể tham gia cùng
có trách nhiệm, cùng có nghĩa vụ bằng cách tạo ra cơ hội trao đổi, giao lưu, tái chế, tái sử dụng chất thải trong phạm vi khu công nghiệp Đây chính là nguyên tắc đem lại lợi ích chung, sử dụng hiệu quả nhân lực, tài nguyên thiên nhiên
Nguyên tắc thực hiện nghiêm túc quy hoạch môi trường để tối ưu hóa quá
trình khoanh vùng, định hướng khu vực đất đai cùng với sử dụng năng lượng, nguyên liệu của khu vực dân cư nhưng không làm tăng sức chịu tải của môi trường Nguyên tắc này đảm bảo cho việc phát triển hài hòa các thành tố của môi trường trong khu công nghiệp giúp cho việc vận hành khu công nghiệp an toàn và bền vững
Trang 35Áp dụng việc đánh giá tác động môi trường được sử dụng làm nguyên tắc
cơ bản, công cụ để dự báo những tác động trong tương lai luôn tiềm ẩn rủi ro của khu công nghiệp Sử dụng đánh giá tác động môi trường khu công nghiệp để
dự báo tiềm năng ô nhiễm của những công nghệ riêng biệt được dùng trong quá trình vận hành khu công nghiệp [8, tr.54-55]
1.2 Vấn đề bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp hiện nay
1.2.1 Nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm môi trường khu công nghiệp hiện nay
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng ô nhiễm môi trường trong các khu công nghiệp Chúng ta có thể kể tới những nguyên nhân cơ bản sau:
Thứ nhất, sự thiếu trách nhiệm trong vấn đề bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp hoạt động trong các khu công nghiệp Doanh nghiệp trong các
khu công nghiệp là chủ thể xả chất thải ra môi trường Nếu nhận thức và thực hiện đúng nghĩa vụ đối với môi trường, doanh nghiệp phải xử lý chất thải trước khi xả thải Tuy nhiên, hiện nay do tối đa hóa lợi nhuận, nhiều doanh nghiệp đã
cố tình vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường Nhiều doanh nghiệp không xây dựng hệ thống xử lý chất thải, hoặc nếu có xây dựng thì mang tính thủ tục, vận hành không hiệu quả Đối với những doanh nghiệp không xây dựng hệ thống xử lý chất thải ở khu tập trung của khu công nghiệp, nhằm giảm thiểu chi phí, doanh nghiệp tìm mọi cách để giảm số lượng, khối lượng chất thải Thủ đoạn thường thấy trong các khu công nghiệp là doanh nghiệp lắp đặt đường ống dẫn nước thải ngầm, “lén lút” xả thải ra môi trường chưa qua xử lý Có trường hợp, doanh nghiệp lợi dụng nước mưa, nước thủy triều dâng để tháo đường ống nước thải, nước thải chảy cùng nước mưa, nước biển ra ngoài môi trường
Thứ hai, cơ chế, chính sách pháp luật bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế bất cập Việc triển khai những quy định pháp luật về bảo vệ môi trường
chưa mang lại hiệu quả Hiện nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo
vệ môi trường nói chung, bảo vệ môi trường khu công nghiệp nói riêng tương
Trang 36đối nhiều Tuy nhiên, hệ thống văn bản này còn tồn tại nhiều mâu thuẫn, chồng chéo, tính ổn định không cao, tình trạng văn bản được ban hành phải sửa đổi, bổ sung trong thời gian ngắn là khá phổ biến Thực trạng này làm hạn chế khả năng điều chỉnh hành vi của các tổ chức cá nhân trong hoạt động bảo vệ môi trường Chế tài xử phạt vi phạm trong khu công nghiệp còn thiếu và chưa đủ mạnh Thông thường trên thực tế, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường rất khó khăn, chủ yếu là xử phạt hành chính Đối với trường hợp buộc phải di dời ra khỏi khu vực gây ô nhiễm môi trường cũng chưa được áp dụng nhiều hoặc nếu có áp dụng thì cơ quan có thẩm quyền thiếu nghiêm khắc, thiếu kiên quyết còn doanh nghiệp thì trây ỳ nên cũng không hiệu quả
Thứ ba, việc phân định thẩm quyền cho các cơ quan bảo vệ môi trường còn nhiều điều chưa rõ ràng, nhiều cơ quan chưa được trao đầy đủ thẩm quyền
nên đã hạn chế hiệu quả nắm bắt tình hình, phát hiện, ngăn chặn và xử phạt những hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường Đặc biệt, Ban quản lý khu công nghiệp là chủ thể có cơ hội phát hiện sớm những sai phạm của doanh nghiệp nhưng hiện nay chưa được trao đầy đủ thẩm quyền để phát huy vai trò
Thứ tư, cơ quan có thẩm quyền bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp chưa nhận thức đầy đủ và chưa quan tâm đúng mức tới công tác bảo vệ môi trường Công tác thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của các
doanh nghiệp trong khu công nghiệp chưa được coi trọng đúng mức, nhiều trường hợp chỉ được tiến hành cho đủ thủ tục dẫn tới chất lượng thẩm định và phê duyệt không cao Công tác thanh tra, kiểm tra và xử phạt doạnh nghiệp vi phạm còn nhiều bất cập Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong bảo vệ môi trường khu công nghiệp chưa chặt chẽ và hầu như chỉ mang tính hình thức
Thứ năm, công tác tuyên truyền giáo dục về bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp còn hạn chế, chưa phát huy được ý thức tự giác của các doanh
nghiệp trong việc bảo vệ môi trường Bên cạnh đó, cơ chế khuyến khích các chủ
Trang 37thể thực hiện tốt nghĩa vụ bảo vệ môi trường chưa được áp dụng rộng rãi nên chưa khuyến khích được ý thức và tinh thần bảo vệ môi trường [8, tr.40-41]
1.2.2 Các giải pháp chủ yếu bảo vệ môi trường khu công nghiệp hiện nay
Các sở tài nguyên và môi trường thường xuyên thực hiện chương trình quan trắc và phân tích chất lượng môi trường địa phương về không khí, nước mặt
Diện tích cây xanh tại các khu công nghiệp cần được đáp ứng tỷ lệ nhất định Các doanh nghiệp trong khu công nghiệp cần đẩy mạnh phong trào “xanh- sạch- đẹp”
Tăng cường công tác giám sát chất lượng môi trường tại các khu công nghiệp, khu chế xuất đảm bảo phát hiện kịp thời các sự cố môi trường cũng như các yếu tố nguy hại đến môi trường, biện pháp xử lý kịp thời
Công tác xây dựng hạ tầng kỹ thuật phải được tiến hành song song với công tác thu hút đầu tư
Cần có biện pháp thưởng phạt thích hợp đối với các doanh nghiệp đầu tư xây dựng công trình xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn quy định, áp dụng công nghệ sản xuất sạch nhằm góp phần bảo vệ môi trường
Cần áp dụng mô hình khu công nghiệp phù hợp hơn với sự phát triển kinh tế- xã hội Ví dụ như mô hình khu công nghiệp chuyên ngành, việc xử lý toàn bộ chất thải rắn, nước thải sẽ do trạm xử lý tập trung của của khu công nghiệp giải quyết; khu công nghiệp sinh thái là mô hình mang tính công sinh công nghiệp được lựa chọn sao cho nhà máy này tận dụng phế liệu của nhà máy kia làm nguyên liệu sản xuất cho mình [10, tr.28-29]
1.3 Vai trò của báo chí với vấn đề bảo vệ môi trường nhìn từ lý thuyết trách nhiệm xã hội và thiết lập chương trình nghị sự
1.3.1 Vai trò của báo chí với vấn đề bảo vệ môi trường nhìn từ lý thuyết trách nhiệm xã hội
Trang 38Theo Từ điển Triết học: “Trách nhiệm xã hội thuộc phạm trù đạo đức và
pháp luật phản ánh thái độ xã hội đặc biệt và thái độ đạo đức pháp luật của cá nhân đối với xã hội (đối với nhân loại nói chung); thái độ này biểu thị sự hoàn thành nghĩa vụ của mình và các tiêu chuẩn pháp luật” [11, tr.595]
Trách nhiệm xã hội là một thuật ngữ đã trở lên tương đối phổ biến trong thế giới hiện đại Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn còn rất nhiều cách hiểu khác nhau về trách nhiệm xã hội
Đứng từ góc độ quản lý, trách nhiệm xã hội được xem xét trong quan hệ với vấn đề kỷ luật Từ góc độ này, trách nhiệm xã hội được hiểu như việc hoàn thành bổn phận của mội một cá nhân, một nhóm người, một tổ chức trong hệ thống quản lý xã hội Nó thể hiện việc tuân thủ bắt buộc đối với cơ chế hoạt động của hệ thống quản lý và được bảo đảm bằng những quan hệ kỷ luật.Từ khía cạnh đạo đức, trách nhiệm xã hội được xét như một phẩm chất chủ quan, một đặc tính đạo đức của một con người Theo đó, trách nhiệm xã hội hay tính
tự nguyện phụ thuộc vào tính cách, tâm lý của bản thân mỗi cá nhân trong một
tổ chức xã hội Từ cách tiếp cận trách nhiệm xã hội từ góc độ triết học thì, bản chất của trách nhiệm xã hội chính là sự nhận thức về bổn phận, nghĩa vụ và việc thực hiện nó Vai trò của trách nhiệm xã hội được thể hiện ở chỗ, nó vừa kiềm chế vừa kích thích hành động của con người và chức năng của trách nhiệm xã hội là góp phần điều chỉnh các nhu cầu của con người trên cơ sở sự thống nhất của các lợi ích [12, tr.346- 351]
Trách nhiệm xã hội hiểu theo nghĩa hẹp được hiểu là bổn phận của cá nhân cũng như của cộng đồng xã hội đối với những quyết định và hành động nhằm làm tăng nghĩa vụ và quyền lợi đối với mỗi thành viên trong xã hội Theo nghĩa rộng trách nhiệm xã hội còn bao hàm cả trách nhiệm của toàn thể xã hội trong việc đảm bảo sự hoạt động của cá nhân mỗi con người trong hoạt động thực tiễn, trong mối quan hệ nhân quả với những cá nhân khác trong xã hội Xét về khía
Trang 39cạnh lợi ích, vai trò và chức năng của trách nhiệm xã hội thể hiện ở chỗ nó có thể kiềm chế và kích thích con người trong mọi hành động, góp phần điều chỉnh
hệ thống các nhu cầu của con người trên cơ sở sự thống nhất lợi ích Trách nhiệm xã hội góp phần điều chỉnh, định hướng và phát triển nhân cách con người theo hướng ngày càng tiến bộ Cùng với đạo đức, trách nhiệm xã hội là một trong những yếu tố đảm bảo sự ổn định về chính trị và tạo điều kiện thúc đẩy các hoạt động kinh tế phát triển lành mạnh [13, tr.21- 25]
Quan niệm về trách nhiệm tự nó đưa đến những lập luận cơ bản về đạo đức
và thách thức sự giải thích của các lý thuyết hành vi Chính vì vậy, mong muốn
có một định nghĩa chuẩn của khái niệm này trên các chiều cạnh là không thể Trách nhiệm xã hội là sự nhận thức về nghĩa vụ cũng như sự thực hiện các nghĩa
vụ đó trong những vai trò xã hội Trách nhiệm xã hội còn bao hàm ý nghĩa nhận thức về những hậu quả của việc thực hiện các vai trò xã hội của bản thân mình
và của người khác Trách nhiệm xã hội cũng là nhận thức được các cơ hội và đảm nhận những vai trò xã hội mới [14, tr.21- 25]
“Trách nhiệm xã hội: Quan hệ người- người chung sống, tham gia hợp tác, khoan dung, gắn bó với nhau, với cộng đồng, xã hội, đóng góp công của bảo vệ, phát triển bền vững cộng đồng, xã hội từ xóm giềng, phố phường đến quốc gia dân tộc, thế giới - loài người Ngày 9 tháng 4 năm 2002, Liên Hợp quốc đã công
bố cam kết toàn cầu về trách nhiệm xã hội, yêu cầu ủng hộ các giá trị: quyền con người, chuẩn lao động, môi trường, chống tham nhũng”[15, tr.6]
Trách nhiệm xã hội gồm 3 nội dung cơ bản là: Thứ nhất, thể hiện quan hệ giữa những người cùng chung sống với nhau trong cộng đồng người, có sự hợp tác khoan dung với nhau.Thứ hai, sự gắn bó giữa cá nhân với xã hội.Thứ ba, phải có trách nhiệm tham gia đóng góp cho sự phát triển bền vững của xã hội Quá trình đóng góp được thể hiện ở 3 mức độ: tự nhiên, tự nguyện và nghĩa vụ.[16, tr.8]
Trang 40Trách nhiệm xã hội của báo chí
Theo như quan điểm của Theodore Peterson về trách nhiệm xã hội của báo
chí được trình bày trong thuyết trách nhiệm xã hội thì: “Do được hưởng vị trí
đặc quyền dưới sự quản lý của chính quyền, báo chí buộc phải có trách nhiệm với xã hội trong việc thực hiện một số chức năng thiết yếu nhất định của phương tiện tuyên truyền trong xã hội đương đại Trong chừng mực mà báo chí thực hiện những trách nhiệm của mình và coi chúng là nền tảng của chính sách hoạt động, hệ thống tự do sẽ thỏa mãn nhu cầu của xã hội Nếu báo chí không đảm nhận trách nhiệm này, các cơ quan khác sẽ phải đảm bảo những chức năng thiết yếu của tuyên truyền được thực hiện”.[17, tr.132]
Chức năng của báo chí theo thuyết trách nhiệm xã hội về cơ bản giống với những gì được quy định trong học thuyết tự do nhưng nó phản ánh sự không bằng lòng với cách diễn dịch những chức năng nêu trên của các chủ sở hữu và các nhà điều hành các phương tiện tuyên truyền và với cách báo chí thực hiện chúng Học thuyết trách nhiệm xã hội chấp nhận vai trò của báo chí trong việc phục vụ hệ thống chính trị, khai sáng cho công chúng, bảo vệ tự do cá nhân, nhưng nó nêu lên ý kiến rằng báo chí đã không thực hiện tốt các nhiệm vụ này
Nó chấp nhận vai trò của báo chí trong việc phục vụ hệ thống kinh tế, nhưng nó không ưu tiên nhiệm vụ này hơn các chức năng khác như thúc đẩy quá trình dân chủ, tăng cường kiến thức cho công chúng Học thuyết này chấp nhận vai trò của báo chí trong việc cung cấp dịch vụ giải trí nhưng với điều kiện rằng chương trình giải trí đó phải tốt Nó chấp nhận yêu cầu rằng báo chí giống như một tổ chức phải duy trì khả năng tự chủ tài chính nhưng nếu cần thiết một vài phương tiện tuyên truyền có thể được miễn trừ trách nhiệm tự tìm kiếm lợi nhuận trong thương trường.[17, tr.133]
Từ học thuyết trách nhiệm xã hội, Ủy ban Tự do Báo chí đã liệt kê 5 yêu cầu của xã hội hiện đại đối với hoạt động báo chí: thứ nhất, ngành báo chí phải chính xác và không được phép dối trá Nó cũng có nghĩa là báo chí phải xác định được