1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học phần di truyền và biến dị sinh học 9 trung học cơ sở​

137 27 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các chương trình giáo dục hướng nghiệp cho học sinh, cụ thể là học sinh trung học cơ sở THCS được thiết kế để giải quyết các khó khăn về thể chất, cảm xúc, các mối quan hệ xã hội, những

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

HOÀNG PHÚC CƯƠNG

TÍCH HỢP GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG DẠY HỌC PHẦN “DI TRUYỀN VÀ BIẾN DỊ”

SINH HỌC 9 – TRUNG HỌC CƠ SỞ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC

HÀ NỘI – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

HOÀNG PHÚC CƯƠNG

TÍCH HỢP GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG DẠY HỌC PHẦN “DI TRUYỀN VÀ BIẾN DỊ”

SINH HỌC 9 – TRUNG HỌC CƠ SỞ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PPDH “BỘ MÔN SINH HỌC

Mã số: 8.14.01.11

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Văn Hưng

HÀ NỘI – 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học phần di truyền và biến dị - Sinh học 9 - Trung học cơ sở” được hoàn thành tại khoa Sư phạm – Trường Đại học Giáo dục

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Ban giám hiệu, ban chủ nhiệm khoa cùng tất cả các thầy cô khoa Sư phạm đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn vô cùng sâu sắc tới PGS.TS Mai Văn Hưng đã nhiệt hình tâm huyết hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn

Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tác giả được sự giúp đỡ của ban giám hiệu trường và tập thể các lớp 9 Trường THCS Phùng Chí Kiên

Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp luôn động viên và khích lệ trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Qua nghiên cứu, đề tài đã đạt được những kết quả nhất định, tuy vậy còn nhiều hạn chế trong quá trình nghiên cứu Vì vậy tác giả kính mong những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô giáo và các anh chị học viên

Trân trọng cảm ơn! Hà Nội, ngày 08 tháng 03 năm 2020

Tác giả

Hoàng Phúc Cương

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 So sánh các thành tố giữa dạy học tích hợp và dạy học đơn môn 21

Bảng 1.2 Thực trạng dạy học giáo dục hướng nghiệp (GDHN) 27

Bảng 1.3 Kết quả khảo sát mức độ hứng thú của học sinh 30

Bảng 1.4 Kết quả lựa chọn nghề liên quan tới Sinh học 31

Bảng 1.5 Kết quả tìm hiểu nguồn thông tin 31

Bảng 1.6 Định hướng học tập của học sinh 32

Bảng 1.7 Định hướng nghề nghiệp của học sinh 34

Bảng 1.8 Lý do lựa chọn nghề nghiệp 35

Bảng 1.9 Khó khăn khi lựa chọn nghề nghiệp 36

Bảng 2.1 Phân tích nội dung phần di truyền và biến dị Sinh học 9 41

Bảng 2.2 Năng lực hướng nghiệp cần đạt ở học sinh sau GDHN[30] 48

Bảng 2.3 Tiêu chí đánh giá quá trình học tập của học sinh 51

Bảng 3.1 Kết quả khảo sát mức độ hứng thú của học sinh 67

Bảng 3.2 Định hướng học tập của học sinh 69

Bảng 3.3 Lựa chọn nghề nghiệp của học sinh 70

Bảng 3.4 Lý do lựa chọn nghề nghiệp 72

Bảng 3.5 Bảng phân bố tần số điểm của lớp TN và ĐC 73

Bảng 3.6 Bảng phân bố tần suất điểm của lớp TN và ĐC 74

Bảng 3.7 Bảng phân bố tần suất tích lũy điểm số bài kiểm tra 74

Bảng 3.8 Bảng tổng hợp điểm của các lớp 75

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 1.1 Sự lựa chọn hình thức dạy học 29

Biểu đồ 1.2 Định hướng học tập của học sinh 33

Biều đồ 3.1 Phân bố tần suất tích lũy kết quả bài kiểm tra 74

Sơ đồ 2.1 Các bước xây dựng giáo án tích hợp GDHN 46

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4

4 Giả thuyết khoa học 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Những đóng góp của đề tài 6

8 Cấu trúc luận văn 6

CHƯƠNG 1 7

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7

1.1 Lịch sử nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp 7

1.1.1 Tình hình giáo dục hướng nghiệp trên thế giới 7

1.1.2 Tình hình giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam 11

1.2 Cơ sở lý luận 16

1.2.1 Một số khái niệm về hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp 16

1.2.2 Giáo dục hướng nghiệp trong hệ thống giáo dục 23

1.3 Cơ sở thực tiễn của tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học Sinh học ở cấp Trung học cơ sở 27

Tiểu kết chương 1 38

CHƯƠNG 2 39

NỘI DUNG TÍCH HỢP GIÁO DỤC HƯỚNG NGIỆP TRONG DẠY HỌC PHẦN DI TRUYỀN HỌC VÀ BIẾN DỊ, SINH HỌC LỚP 9 39

2.1 Phân tích nội dung phần Di truyền và biến dị - Sinh học 9 39

2.1.1 Những nguyên tắc tích hợp giáo dục hướng nghiệp vào môn Sinh học 39 2.1.2 Mục đích dạy phần Di truyền và biến dị 39

Trang 8

2.2 Các bước xây dựng kế hoạch tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong

môn Sinh học 9 45

2.2.1 Các bước xây dựng kế hoạch 45

2.2.2 Ví dụ giáo dục hướng nghiệp tích hợp trong dạy học phần di truyền và biến dị, Sinh học 9 54

Tiểu kết chương 2 64

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 65

3.1 Mục đích thực nghiệm 65

3.1.1 Muc đích thực nghiệm 65

3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 65

3.2 Phương pháp thực nghiệm 65

3.2.1 Nội dung thực nghiệm 65

3.2.2 Phương pháp thực nghiệm 65

3.2.3 Các bước nghiên cứu 66

3.3 Kết quả thực nghiệm 67

3.3.1 Kết quả định lượng 67

3.3.2 Kết quả định tính 75

Tiểu kết chương 3 77

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Xuất phát từ nhiệm vụ đổi mới giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học

ở trường Trung học cơ sở

Toàn cầu hóa và hiện đại hóa, có ảnh hưởng lớn đến văn hóa, đời sống

xã hội, giáo dục và kinh tế của cả thế giới Những biến đổi được thể hiện rõ ràng nhất trong nền kinh tế đã mang lại một số thay đổi trong ngành nghề, cơ cấu tổ chức, và đời sống kinh doanh Quá trình toàn cầu hóa phát triển nhanh chóng trong lĩnh vực truyền thông thông tin - công nghệ đã và đang làm thay đổi cách chúng ta làm việc Các lĩnh vực nghề nghiệp mới đang nổi lên dựa trên sự linh hoạt và kiến thức trong cuộc sống làm việc và những thay đổi trong vị thế của con người với sự nghiệp, thời gian đào tạo, giờ làm việc, v.v dẫn tới con người phải đối mặt với nhiều vấn đề mới hàng ngày trong công việc, sự nghiệp, cuộc sống gia đình, lựa chọn nghề nghiệp, phát triển nghề nghiệp và lập kế hoạch nghề nghiệp tương lai Đây cũng chính là nguyên nhân tạo ra sự phát triển vượt bậc trong lĩnh vực tư vấn hướng nghiệp, đặc biệt là giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường ngày càng được nhiều người quan tâm Giáo dục hướng nghiệp có tầm quan trọng lớn trong quá trình dạy học Nó đóng một vai trò quan trọng trong kế hoạch nghề nghiệp của học sinh, sinh viên trong tương lai và sự phát triển của mỗi quốc gia

Khái niệm nghề nghiệp với các em học sinh còn là một cái gì đó rất mơ

hồ, do đó việc lựa chọn nghề gì luôn là vấn đề mang nhiều khó khăn Vì vậy giáo dục hướng nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng, là một phần không thể thiếu trong hệ thống giáo dục Các chương trình giáo dục hướng nghiệp cho học sinh, cụ thể là học sinh trung học cơ sở (THCS) được thiết kế để giải quyết các khó khăn về thể chất, cảm xúc, các mối quan hệ xã hội, những kiến thức về nghề nghiệp và học tập của học sinh Điều này là để bổ sung cho việc

Trang 10

giúp học sinh phát triển toàn diện Đây là nội dung mà giáo dục Việt Nam đang thực hiện Nội dung giáo dục hướng nghiệp (GDHN) cho học sinh (HS)

là một trong những vấn đề quan trọng được Đảng ta và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Đặc biệt Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 522/QĐ-

TTg phê duyệt Đề án“Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018-2025” [3] Mục tiêu của đề án

nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp trong giáo dục cơ sở và phổ thông, góp phần chuyển biến mạnh mẽ công tác phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông vào học các trình độ giáo dục nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương, đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực quốc gia, hội nhập khu vực và quốc tế

Trong những năm trở lại đây, nhiều học sinh gặp rất nhiều khó khăn trong việc lựa chọn trường thi và định hướng nghề nghiệp trong tương lai, đây chính là nguyên nhân chính d ẫn đến tình trạng các em học sinh ngồi nhầm lớp, nhầm trường, không hứng thú với học tập, thậm chí hậu quả nặng nề hơn

là rất nhiều học sinh bỏ học, sinh viên sau khi ra trường không tìm được việc làm, tỉ lệ sinh viên ra trường làm trái ngành nghề với chuyên môn được đào tạo chiếm tỉ lệ rất cao Vậy nguyên nhân nào dẫn tới thực trạng trên?

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng trên chủ yếu là do HS gặp rất nhiều khó khăn trong việc nhận thức và đánh giá được năng lực bản thân, khó khăn trong việc tìm thông tin về ngành nghề, trường thi, nghề nghiệp Đặc biệt nhiều gia đình, có sự bất đồng quan điểm giữa bố mẹ và con cái trong quá trình lựa chọn trường, lựa chọn ngành nghề Đây là những nút thắt quan trọng trong cuộc đời của mỗi học học sinh, nếu những khó khăn này không được giải quyết kịp thời sẽ gây nên sự lo lắng cho các em HS và dẫn đến hậu quả là các em học sinh đưa ra những quyết định không đúng đắn trong qua trình chọn trường thi, nghề nghiệp trong tương lai Trong các nhà trường hiện nay

Trang 11

có nhiều hình thức GDHN cho học sinh như: thông qua các môn học, qua các hoạt động trải nghiệm, qua các buổi nói chuyện ngoại khóa Tuy nhiên những hoạt động GDHN chủ yếu được tổ chức ở các trường trung học phổ thông (THPT), rất ít ở các trường THCS, nếu có thì thời lượng tổ chức các hoạt động trong nhà trường rất hạn chế Do đó, khi học sinh muốn tìm hiểu thêm các vấn đề khác có liên quan thì nhà trường không đáp ứng được hoặc chưa cung cấp đầy đủ những thông tin thắc mắc về nghề nghiệp, do đó làm cho các

em chưa ý thức được sự cần thiết và có nhu cầu cần phải được tư vấn khi chọn nghề

1.2 Xuất phát từ nội dung môn Sinh học và nội dung của phần Di truyền

và biến dị - Sinh học 9 - Trung học sơ sở

Chương trình sách giáo khoa (SGK) môn sinh học 9 và nội dung giáo dục phổ thông mới phải đáp ứng được nhiệm vụ nêu tại Nghị quyết số 29-

NQ/TW là "Xây dựng và chuẩn hóa nội dung giáo dục phổ thông theo hướng hiện đại, tinh gọn, bảo đảm chất lượng, tích hợp cao ở các lớp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học trên; giảm số môn học bắt buộc; tăng môn học, chủ đề và hoạt động giáo dục tự chọn"[4].Thực hiện mục tiêu "phân luồng

mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng", nội dung giáo dục được xây dựng theo hướng tích hợp ở các cấp học dưới và phân hóa theo định hướng nghề nghiệp ở cấp học trên để tạo thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động dạy học gắn với thực tiễn, qua đó phát triển năng lực học sinh

Giáo dục hướng nghiệp là vấn đề cấp bách, bởi các em học sinh lớp 9 cuối cấp, rất cần được hướng dẫn để lựa chọn phân ban và phân hóa tại cấp trung học phổ thông đồng thời hướng dẫn cho một bộ phận rất lớn các em học xong THCS sẽ không học tiếp THPT mà học theo các trường chuyên nghiệp hay trường nghề

Trang 12

Xuất phát từ các lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài“Tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học phần di truyền và biến dị - Sinh học lớp 9 - Trung học cơ sở”

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất một số biện pháp tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học phần di truyền và biến dị sinh học lớp 9, nhằm trợ giúp HS giải quyết những khó khăn trong quá trình chọn nghề góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường THCS hiện nay, đồng thời góp phần nâng cao hứng thú, chất lượng dạy học Sinh học ở trường THCS hiện nay

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các biện pháp tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học phần di truyền và biến dị, sinh học lớp 9

3.2 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học sinh học lớp 9

4 Giả thuyết khoa học

Nếu tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học Sinh học 9, Trung học cơ sở một cách khoa học sẽ nâng cao được hiệu quả hướng nghiệp trong nhà trường THCS và góp phần bồi dưỡng hứng thú, tạo động lực học tập, phát triển năng lực của học sinh

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Khảo sát thực trạng giáo dục hướng nghiệp trong các nhà trường THCS 5.2 Nghiên cứu cơ sở lý thuyết của tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học phần di truyền và biến dị, sinh học lớp 9

5.3 Đề xuất một số giải pháp tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học phần di truyền và biến dị, Sinh học lớp 9

5.4 Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính hiệu quả của các biện pháp được

đề xuất

Trang 13

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Tổng hợp, sưu tầm và phân tích các tài liệu liên quan đến GDHN và tích hợp GDHN trong các môn khoa học, đặc biệt là môn Sinh học .làm cơ sở cho việc tích hợp GDHN trong dạy học phần di truyền và biến dị, Sinh học 9 – Trung học cơ sở

- Hệ thống hóa các khái niệm, các quan điểm tư tưởng cơ bản của những nhà nghiên cứu trước làm nền tảng cơ sở lý luận của đề tài Tổng quan các công trình đã nghiên cứu về để tài

- Tìm hiểu các chủ chương chính sách của nhà nước, của các bộ ngành liên quan tới đề tài nghiên cứu

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp dùng bảng hỏi điều tra:

+ Bảng hỏi về tình trạng dạy học GDHN trong nhà trường đối với giáo viên + Bảng hỏi về hứng thú học tập của học sinh

+ Bảng hỏi về định hướng lựa chọn nghề nghiệp vàk hhó khăn lựa chọn nghề nghiệp của hoc sinh

6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

6.4 Phương pháp thống kê toán học

- Sử dụng các phần mềm Excel và SPSS để phân tích, xử lý số liệu thu được

từ đó đưa ra các kết luận khoa học

Trang 14

7 Những đóng góp của đề tài

Trên cơ sở phân tích, hệ thống hoá và kế thừa các lí thuyết về giáo dục hướng nghiệp, luận văn đã bổ sung và làm sáng tỏ thêm khái niệm, mục tiêu, nội dung, hình thức và quy trình hoạt động hướng nghiệp trong GDHN, góp phần bổ sung cho lí thuyết về giáo dục hướng nghiệp ở THCS của Việt Nam hiện nay

Xây dựng được một số biện pháp tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học phần di truyền và biến dị - Sinh học lớp 9 - Trung học cơ sở

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Khuyến nghị và Phụ lục, luận văn gồm 3 nội dung chính như sau:

- Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

- Chương 2 Tích hợp giáo dục hương nghiệp trong dạy học phần di truyền và biến dị - Sinh học lớp 9 - Trung học cơ sở

- Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp

Trong một kỷ nguyên toàn cầu hóa, sự phát tiển của công nghệ cao và

hệ thống thông tin mới thúc đẩy sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế, mang lại một cuộc cách mạng trong giáo dục, thị trường lao động, và thúc đẩy sự phát triển về đời sống ở khắp các quốc gia châu Á và Thái Bình Dương Việt Nam cũng không ngoại lệ Việt Nam đã có sự chuyển mình mạnh mẽ với thành tựu đáng chú ý không chỉ trong phát triển kinh tế của mà còn trong tất

cả các khía cạnh của xã hội Một nền kinh tế mới đã tạo ra một điều kiện quan trọng mới để phát triển sự nghiệp quần chúng cũng như mở cửa cho sự phát triển của hướng nghiệp nói chung và GDHN nói riêng

Trong xã hội, từ khi xuất hiện các hình thức phân công lao động, đồng thời con người chú trọng đến các phẩm chất cá nhân phù hợp với từng công việc cụ thể Trong một thế giới phát triển, có rất nhiều các loại hình nghề nghiệp, sự lựa chọn một nghề phù hợp với bản thân là một điều hết sức quan trọng với mỗi người Tuy nhiên lựa chọn được một nghề, một hướng đi phù hợp với bản thân là một điều hết sức khó khăn, gặp rất nhiều trở ngại Do vậy

đã có rất nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu vấn đề giáo dục hướng nghiệp để một phần nào đó giúp đỡ những học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên có những cơ sở khoa học để lựa chọn một ngành nghề phù hợp với năng

lực của mình

1.1.1 Tình hình giáo dục hướng nghiệp trên thế giới

Những nội dung, khái niệm liên quan đến hướng nghiệp đã được đề cập

từ rất lâu cùng với lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của con người Ngay từ năm đầu tiên của thế kỷ thứ I sau công nguyên, khái niệm về hướng nghiệp đã được đề cập đến trong bài viết của Epictetus là một triết gia Hy Lạp Ông

Trang 16

phù hợp với yêu cầu của nghề hay không Đây chính là một trong những lý thuyết cơ bản của hướng nghiệp hiện nay

Thời trung cổ, theo nghiên cứu của Juan Huartey Navarro (1530-1592) trong một cuốn sách của ông là “Examen de los ingenios para las ciencias - Kiểm tra khoa học, 1575” Trong cuốn sách ông viết một số nội dung về những quy tắc để khám phá năng lực của bản thân và từ đó lựa chọn nghề nghiệp phù hợp nhất với năng lực của mình [36]

Ở Ấn độ, giáo dục hướng nghiệp đc nghiên cứu khá sớm, từ đầu những năm 1954, một trong nhà nghiên cứu là H.P.Mehta Ông tiến hành 3 cuộc điều tra về tình hình giáo dục ở Ấn độ và thu được kết quả như sau:

- Trong năm 1954, ông tiến hành điều tra và thu được các kết quả khác nhau trong việc tư vấn nghề nghiệp, giáo dục hướng nghiệp rất kém phát triển, sự kém phát triển này xuất phát từ truyền thống văn hóa

- Năm 1957, ông tiếp tục tiến hành điều tra về tình hình giáo dục 25 trường khác nhau, đối tương được khảo sát là các hiệu trưởng nhưng kết quả mang lại cũng không mấy khả quan Hầu hết mọi người đều không đánh giá cao vai trò của giáo dục hướng nghiệp, các hiệu trưởng không quan tâm nhiều đến những lựa chọn của học sinh sau khi ra trường

- Năm 1961, ông phát hiện ra rằng những hạn chế trong luật giáo dục là một trở ngại thực sự cho sự phát triển giáo dục hướng nghiệp [32]

Báo cáo năm 1956 của C W Riddle về một dự án thí điểm trong hướng dẫn sinh viên và tư vấn ở Calcutta cho thấy kết quả khả quan hơn Ông

so sánh giữa những sinh viên được tư vấn đề hướng nghiệp với sinh viên không được tư vấn hướng nghiệp Sau đó có rất nhiều các nhà khoa học khác như : A A Khatri(1962), A D'Costa (1961), V V Kothurkar(1962) đã tiến hành nghiên cứu và phát triển giá dục hướng nghiệp ở Ấn độ và đạt được nhiều thành tựu to lớn Thành tựu lớn nhất thu được của các nhà nghiên cứu

Trang 17

đó là Chính phủ Ấn Độ bắt đầu quan tâm đến những chương trình hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp cho các thanh niên (1958) [32,34]

Tại Nhật Bản, thuật ngữ hướng nghiệp được đề cập vào khoảng những năm 1912-1928 và được áp dụng vào trong dạy học khoảng những năm 1920 Đến năm 1927 “Hiệp hội hướng nghiệp” được thành lập, vào thời điểm đó Bộ giáo dục Nhật Bản thấy rõ sự cần thiết của giáo dục hướng nghiệp với thanh thiếu niên, đã yêu cầu các trường tiểu học, trung học cơ sở hỗ trợ tích cực học sinh trong việc hướng nghiệp[34]

G.L.Weaver đã viết trong cuốn “Handbook on Vocational Guidance”

về việc cải thiện chương trình giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường, ông nhận thấy rằng Bộ giáo dục đã thấy rõ vai trò giữa học vấn văn hóa phổ thông với kiến thức và kĩ năng lao động - nghề nghiệp nên đã đưa thêm nội dung giáo dục hướng nghiệp vào nhà trường Tạo cơ hội cho sự phát triển của giáo dục hướng nghiệp, đặc biết là đối với các giáo viên giảng dạy chương trình hướng nghiệp giúp họ nâng cao năng lực và trình độ chuyên môn [35]

Ở Mỹ, tư vấn hướng nghiệp phát triển vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ

20, trong bối cảnh xã hội có nhiều biến động và thay đổi Sự biến động xã hội được thể hiện rõ rệt ở việc nhiều người bị mất việc làm, yêu cầu công việc đòi hỏi chuyên môn cao do công nghiệp hóa, nhiều nông dân không thể cạnh tranh và tồn tại trước sự xuất hiện của máy móc Nên sự ra đời của hướng nghiệp là nhu cầu tất yếu để phần nào giải quyết các vấn đề trên Frank Parsons (1909) được gọi là cha đẻ của khái niệm “hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp” khi lần đầu tiên công bố nó trong một nghiên cứu Những nghiên cứu của ông chủ yếu dựa vào sự quan sát và thu thập dữ liệu, ông đưa

ra những kết luận khi quan sát những người thất nghiệp sống trong một nhà tình thương ở Boston Ông nhấn mạnh rằng sự lựa chọn nghề nghiệp của một người dựa vào 3 yếu tố:

Trang 18

- Hiểu rõ các điều kiện và yêu cầu để thành công trong công việc

- Hiểu rõ mối quan hệ giữ năng lực bản thân và sự thành công trong nghề nghiệp [40]

Ở Pháp, hướng nghiệp có lịch sử phát triển hàng trăm năm, nó có liên quan đến sự phát triển của kinh tế và biến động xã hội Hướng nghiệp có những biến đổi phù hợp với sự chuyển biến mạnh mẽ của kinh tế và xã hội nên rất được coi trọng Đặc biệt là giáo dục hướng nghiệp đã được chính quyển đương thời quan tâm và có chính sách phát triển lâu dài Ở Pháp năm

1848 xuất bản cuốn “Hướng dẫn chọn nghề” cuốn sách viết về vấn đề sự phát triển đa dạng của thế giời nghề nghiệp và việc phải hỗ trợ thanh niên trong việc sự lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực

Ở Anh, ban đầu hướng nghiệp chỉ hướng đến đối tượng là các thanh niên, giúp họ định hướng và chuyển đổi nghề nghiệp nếu cần thiết Sau chiến tranh thế giới thứ 2 ở Anh, hiệp hội Tư vẫn việc làm cho những người chưa thành niên được sáp nhập vào hiệp hội có tên là Tư vấn việc làm cho người trẻ, dành cho những người dưới 18 Hiệp hội này không chỉ hướng nghiệp cho thanh thiếu niên mà còn quả lý những thanh thiếu niên bị thất nghiệp tạo cơ hội cho họ kiếm được việc làm Đến năm 1952 hầu hết các trường đại học ở Anh đều có các trung tâm hướng nghiệp nhắm cung cấp cho sinh viên các thông tin liên quan về nghề nghiệp Vào cuối những năm 60 đầu những năm

70 hướng nghiệp phát triển mạnh mẽ ở Anh, kéo theo những nội dung liên quan đến giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường cũng phát triển nhanh chóng Nội dung giáo dục hướng nghiệp dành học sinh tập chung vào năng lực tự nhân thức bản thân và đưa ra các quyết định phù hợp trong việc lựa chọn nghề nghiệp Và sự kiện nổi bật nhất chứng minh cho sự phát triển hướng nghiệp ở Anh đó là sự ra đời của Đảng Lao Động vào năm 1997, nó làm thay đổi mạnh mẽ những quan điểm về hướng nghiệp Đối tượng của

Trang 19

hướng nghiệp không chỉ là thanh thiếu niên mà dành cho tất cả mọi người trong xã hội [33]

Tại Trung Quốc vào năm 1914 -1915, Yanpei Huang tiến hành điều tra và khảo sát tại các trường trung học về vấn đề hướng nghiệp, ông không ủng hộ quan điểm giáo dục của Trung Quốc lúc bấy giờ Sau chuyến thăm quan tại các trường học ở Mỹ, ông nhận định rằng nội dung hướng nghiệp của

Mỹ lúc bấy giờ là phù hợp nhất đối với hệ thống giáo dục Trung Hoa trong việc giải quyết và ngăn chặn các khủng hoảng về kinh tế Ông đưa ra quan điểm kết hợp giữa giáo dục và nghề nghiệp, sau này được gọi là Hiệp hội giáo dục hướng nghiệp do ông và Yuanpei Ca thành lập tại Thượng Hải vào năm

1917 Từ 1917 đến 1948, Hiệp hội giáo dục hướng nghiệp thành lập 5 trường dạy nghề, 12 trung tâm giáo dục dạy nghề, và 12 trung tâm hướng nghiệp và

tư vấn hướng nghiệp Vào ngày 29 tháng 9 năm 1993, Hiệp hội Hướng dẫn Nghề nghiệp Trung Quốc (CCGA), một chi nhánh của Hiệp hội Giáo dục Kỹ thuật và Dạy nghề Quốc gia với sự hỗ trợ của Ủy ban Giáo dục Nhà nước, được thành lập tại Bắc Kinh Mục tiêu của CCGA bao gồm tăng cường nghiên cứu trong lĩnh vực hướng nghiệp, thúc đẩy thực hành hướng nghiệp, đào tạo các chuyên gia hướng nghiệp, thúc đẩy tăng cường trao đổi quốc tế và hợp tác trong tư vấn nghề nghiệp [39]

1.1.2 Tình hình giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam

Bác Hồ đã từng nói: một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có con người xã hội chủ nghĩa Bác mong muốn, đào tạo không chỉ có lòng yêu nước, tinh thần cách mạng, đạo đức

mà còn phải là người có kiến thức khoa học, chuyên môn trình độ vững vàng Bác là người rất coi trọng công tác giáo dục, Bác cho rằng kết hợp giữa lý thuyết và thực tế là một nguyên tắc quan trọng, học đi đôi với hành, học đi đôi với lao động

Trang 20

GDHN ở nước ta đã tiến hành nghiên cứu và triển khai khá sớm, từ những năm 70 của thế kỉ XX Cơ sở lý luận và thực tiễn GDHN của Việt Nam chủ yếu được xây dựng trên cơ sở lý luận và thực tiễn của Liên Xô Thời kỳ này GDHN ở Việt Nam chủ yếu giáo dục cho HS những hành vi, thái độ khi tham gia vào hoạt động nghề nghiệp [11]

Năm 1979, Bộ Chính trị đưa ra Nghị quyết về cải cách giáo dục khẳng định HN là bộ phận khăng khít của quá trình giáo dục Quyết định 126/CP ngày 19/3/1981 của Chính phủ có viết: “Về công tác HN trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý HS các cấp THSC và THPT tốt nghiệp ra trường” đã tạo hành lang pháp lí cho sự phát triển của công tác HN, nhất là

HN cho HS phổ thông [10]

Đầu những năm 80, người có công lớn nhất với sự nghiệp phát triển GDHN ở nước ta là GS Phạm Tất Dong Ông đã nghiên cứu rất nhiều những vấn đề liên quan đến GDHN như: nội dung và các phương pháp GDHN dành cho học sinh, thanh thiếu niên Những quan điểm và nội dung về GDHN của ông được thể hiện thông qua rất nhiều các bài báo khoa học, các công trình nghiên cứu Một trong những bài báo được nhiều người quan tâm nhất đó là

“Hướng nghiệp cho thanh niên” vào năm 1982

Ngoài ra cũng có rất nhiều tác giả khác như Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Thị Bình, Đoàn Chi, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Minh Đường, Nguyễn Văn Hộ cũng nghiên cứu về GDHN cho HS Họ đã đề cập đến vai trò của nhà trường trong việc định hướng nghề cho HS, đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lương GDHN trong nhà trường

Trong giai đoạn 1983-1996, GDHN ở nước ta đã đạt được một số thành tựu quan trọng, được coi là thời kì thịnh vượng nhất Các tác giả Nguyễn Trọng Bảo, Đoàn Chi, Cù Nguyên Hanh, Hà Thế Ngữ, Tô Bá Trọng, Trần Đức Xước, Nguyễn Thế Quảng, Nguyễn Phúc Chỉnh ngoài việc đi sâu nghiên

Trang 21

cứu việc tiến hành công tác GDHN tại các nhà trường THPT, còn tham gia nghiên cứu những nội dung liên quan đến tư vấn hướng nghiệp cho HS

Giai đoạn 1997 - đến nay, những nghiên cứu về GDHN chủ yếu là khái quát kinh nghiệm GDHN trên thế giới, đánh giá thực trạng và đưa ra những giải pháp về GDHN trong nhà trường ở Việt Nam hiện nay Việt Nam giai đoạn 2005-2010 có các tác giả Phạm Tất Dong, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Như

Ất, Lưu Đình Mạc, Phạm Huy Thụ, Nguyễn Văn Lê, Trần Khánh Đức, Hà Thế Truyền, Bùi Văn Quân đã nghiên cứu về những vấn đề trên Trong giai đoạn này, Bộ giáo dục cũng như nhiều tác giả đã xuất bản nhiều ấn phẩm về nội dung GDHN cho học sinh THCS và THPT Một số ấn phẩm nổi bật như:

“Giáo dục hướng nghiệp 9 - Sách Giáo Viên”, “Hoạt động giáo dục hướng nghiệp 10,11,12 - Sách Giáo Viên”,NXB Giáo dục “Một số cơ sở của công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông”, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000;

“Hoạt động giáo dục lao động, hướng nghiệp năm học 2000 - 2001 và phương hướng năm học 2001 – 2002”, Hà Nội, 2001 ; Có rất nhiều tài liệu hướng dẫn và tham khảo được phát hành phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao của

HS, SV về định hướng nghề nghiệp Có rất nhiều mô hình, hoạt động trải nghiệm nghề nghiệp hay các trung tâm tư vấn hướng nghiệp được mở rộng và nâng cao, mà đối tượng hướng tới là học sinh cấp tiểu học và THCS Điều này cho thấy rằng, hoạt động hướng nghiệp, GHDN trong nhà trường đã được

cả xã hội quan tâm

Theo của GS - TS Phạm Tất Dong, ông có nêu “Đổi mới công tác hướng nghiệp cho phù hợp với kinh tế thị trường Quán triệt chủ trương đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh việc củng cố và phát triển các trung tâm KTTH - HN – DN” (Bộ Giáo dục và Đào tạo Trung tâm lao động - hướng nghiệp, Hà Nội, 1992) Ông thấy rằng trong những người không có việc làm, không biết nghề thì thanh thiếu niên chiếm phần lớn Do vậy ông đề

Trang 22

mạnh công tác hướng nghiệp - dạy nghề cho học sinh Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản để thúc đẩy sự phát triển của nên kinh tế Ông đã đề nghị thiết lập một hệ thống GDHN từ bậc tiểu học với thời lượng tăng dần ở các năm trên Tăng cường tiết học và nội dung GDHN trong nhà trường chứ không chỉ là 9 buổi cho cả năm Ông cũng đề nghị giao nhiệm vụ GDHN cho các giáo viên đổi mới chương trình GDHN, thiết kế nhiều hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm nghề nghiệp, tham quan dành cho học sinh Có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường – gia đình – xã hội trong việc GDHN cho học sinh ngay từ cấp tiểu học [1,12,19]

Trong những năm gần đây, thưc hiện các quy định của chính phủ và Bộ giáo dục, nội dung GDHN trong nhà trường cụ thể là nội dung tích hợp GDHN trong các môn học được triển khai đồng bộ ở hầu hết các khối lớp và cấp học Các tác giả Phạm Thị Hồng Hạnh, Đinh Tiến Công, Nguyễn Phương Thảo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, trong một bài báo khoa học có viết

“Giáo dục trung học phổ thông (THPT) là giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, giai đoạn quan trọng đối với học sinh (HS) trong việc tiếp nhận, khám phá các tri thức khoa học và ảnh hưởng quyết định nghề nghiệp trong tương lai” Các tác giả thấy rõ được mối quan hệ mật thiết giữa kiến thức khoa học và GDHN, nên việc tích hợp GDHN là điều cần thiết hiện nay[16]

Theo tác giả Vũ Cẩm Tú - Tạp chí Giáo dục số 437, có nêu: “Có nhiều nguyên nhân, kết quả của hoạt động GDHN ở trường phổ thông vẫn còn nhiều hạn chế Một trong các nguyên nhân phải kể đến đó là sự thiếu kiến thức cũng như kĩ năng trong GDHN cho HS của giáo viên (GV)” Tác giả nhận định rằng GDHN có hiệu quả chưa cao không chỉ ở nội dung và phương pháp, mà chính bản thân giáo viên hướng nghiệp chưa có đủ năng lực cần thiết trong việc GDHN cho học sinh Tác giả đã đề xuất khung năng lực cho giáo viên, nhằm phát triển năng lực GDHN cho giáo viên hiện nay [27]

Trang 23

Theo nghị quyết về đổi mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông số: 88/2014/QH13 của Quốc hội có nêu: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh.” Về nội dung đổi mới: “Giáo dục phổ thông 12 năm, gồm hai giai đoạn giáo dục: giai đoạn giáo dục cơ bản (gồm cấp tiểu học 5 năm và cấp trung học cơ sở 4 năm) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (cấp trung học phổ thông

3 năm) Giáo dục cơ bản bảo đảm trang bị cho học sinh trí thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở Giáo dục định hướng nghề nghiệp bảo đảm học sinh tiếp cận nghề nghiệp, chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng;” Và cũng theo nội dung chương trường trình giáo dục tổng thể mới: Giáo dục hướng nghiệp là hoạt động bắt buộc với cấp học THCS, THPT [25]

Với bộ môn Sinh học, có rất nhiều tác giả Nguyễn Quang Vinh, Trần

Doãn Bách, Trần Bá Hoành, Trịnh Nguyên Giao, Trần Đăng Cát đã đề cập giáo dục thực hành và hướng nghiệp là nhiệm vụ của bộ môn Sinh học

Các tác giả Lê Thị Hương, Lê Văn Tính trong nghiên cứu của mình đã đưa ra mô hình “Vườn thực nghiệm sinh học trong dạy học Sinh học, Công nghệ nông nghiệp (CNNN)” Mục đích của mô hình là tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệm cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm

đã có và huy động kiến thức, kỹ năng môn Sinh học và CNNN vào thực tế đời sống Qua mô hình ngoài việc áp dụng các kiến thức vào thực tế, cũng là một phương pháp rèn luyện năng lực của học sinh thích ứng với cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp tương lai [20]

Trang 24

Những công trình khoa học về GDHN trong và ngoài nước đã mang lại rất nhiều giá trị về phương pháp và lý luận đối với GDHN của nước ta Thông quan việc nghiên cứu, phân tích các đề tài nghiên về vấn đề GDHN hiên nay, chúng ta nhận thấy rằng, các đề tài đều khẳng định được tầm quan trọng của GDHN, là một hoạt động cấp bách và cần thiết với sự phát triển giáo dục toàn diện của học sinh, cũng như sự phát triển của mỗi quốc gia Tuy vậy, thực trạng GDHN ở nước ta hiện nay chưa có được nhiều sự quan tâm của mọi người trong xã hội Đa số ở các trường, GDHN chỉ được coi là một phần nhỏ trong mục tiêu giáo dục, đa số các trường chỉ lồng ghép trong một số hoạt động ngoại khóa Do vậy chưa phát huy hết hiệu quả của GDHN mang lại cho

HS Có rất nhiều phương pháp được các tác giả đề xuất nhằm nâng cao chất lượng GDHN, gây hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập Nhưng đa

số các đề tài này chưa thực sự mang lại hiểu quả cao, các tác giả chỉ đưa ra được nội dung mà chưa có phương pháp cụ thể chi tiết cho từng khối lớp, môn học cụ thể Do đó hiện nay vì tính cấp bách của vấn đề có rất nhiều đề tài đưa ra những phương pháp GDHN mới và đem lại kết quả cao, đó là tích hợp GDHN vào môn khoa học Đây là chính là một hướng đi mới cần được nghiên cứu và đầu tư

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Một số khái niệm về hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp

1.2.1.1 Khái niệm nghề nghiệp

Có rất nhiều lĩnh vực khoa học trong đời sống nghiên cứu về giáo dục

hướng nghiệp do vậy có rất nhiều quan điểm khác nhau về nghề nghiệp được

đưa ra Chúng ta cần xem xét các quan điểm khác nhau để hiểu rõ bản chất của hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp:

Theo từ điển tiếng Việt thì nghề là “công việc chuyên môn làm theo sự phân công lao động của xã hội” Nghề nghiệp là nghề để sinh sống và phục vụ

xã hội [24]

Trang 25

Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp viết: "Từ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị những công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong xã hội Những từ này thường được những người trong ngành nghề đó biết và sử dụng Những người không làm nghề ấy tuy ít nhiều cũng có thể biết nhiều từ ngữ nghề nghiệp nhưng ít hoặc hầu như không sử dụng chúng Do đó, từ ngữ nghề nghiệp cũng là một lớp từ vựng được dùng hạn chế về mặt xã hội"[15]

Tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” cho rằng: "Từ vựng nghề nghiệp bao gồm những đơn vị từ vựng được sử dụng để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành lao động trí óc (nghề thuốc, ngành văn thư ) [8]

Như vậy nghề là một hoạt động lao động trong đó con người dựa vào năng lực, phẩm chất của mình tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần, là điều kiện cơ bản cho sự tồn tại của con người cũng như toàn xã hội xã hội

1.2.1.2 Khái niệm hướng nghiệp

Trong lịch sử phát triển xã hội loài người nói chung, cùng với đó là sự phát triển và tiến hoá của hệ thống nghề nghiệp nói riêng, cho đến tận ngày nay

đã cho thấy rất rõ được tính phức tạp, khó dự báo của các quy luật chuyển hoá nghề nghiệp Xã hội ngày càng phát triển, tính phức tạp ấy càng tăng lên Cùng với sự phát triển không ngừng về mọi mặt của cuộc sống nói chung và thế giới nghề nghiệp nói riêng, hoạt động hướng nghiệp đã và đang ngày càng phát huy vai trò to lớn của mình trong việc giúp đỡ, hỗ trợ cá nhân lựa chọn được một lĩnh vực nghề nghiệp chuyên môn phù hợp mà còn như một công cụ quan trọng để thực hiện công tác phân luồng học sinh, thanh niên vào các lĩnh vực lao động theo định hướng phát triển của quốc gia cũng nhu nhu cầu của thị trường lao động Ngay nay, hướng nghiệp được đã và đang được xem như một lĩnh vực

Trang 26

Có rất nhiều khái niệm hướng nghiệp được đưa ra, chúng ta sẽ em xét các khái niệm về hướng nghiệp trên nhiều phương diện khác nhau

- Theo từ điển tiếng Việt: “Hướng nghiệp là thi hành những biện pháp nhằm

đảm bảo sự phân bố tối ưu (có chú ý tới năng khiếu, năng lực thể lực) nội dung theo ngành và loại lao động giúp đỡ lựa chọn hợp lý ngành nghề” [24]

- Theo từ điển giáo dục học: “Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp giúp

đỡ học sinh làm quen tìm hiểu nghề, lựa chọn, cân nhắc nghề nghiệp với nguyện vọng, năng lực, sở trường của mỗi người Với nhu cầu và điều kiện thực tế khách quan của xã hội” [17]

- Theo UNESCO, “hướng nghiệp (HN) là một quá trình cung cấp cho người

học những thông tin về bản thân, về thị trường lao động và định hướng cho người học có các quyết định đúng đối với sự lựa chọn nghề nghiệp” Như chúng ta biết, hiện nay giáo dục nói chung và GDHN nói riêng không chỉ cung cấp cho người học kiến thức, tri thức khoa học, mà thông qua hoạt động học còn giúp người học phát huy tích cực năng lực, phẩm chất cá nhân, giúp học sinh phát triển toàn diện, đáp ứng được yêu cầu của xã hội Đây cũng là

cơ sở định hướng cho sự lựa chọn nghề nghiệp của học sinh Ngày nay, người

ta đã nhận thấy chỉ cung cấp thông tin là không đầy đủ mà cần phải chỉ ra sự phát triển về mặt cá nhân, xã hội, giáo dục và nghề nghiệp của học sinh Một

sự thay đổi khác có ảnh hưởng lớn đến hoạt động HN là nó được nhận thức như là một quá trình phát triển, đòi hỏi một cách tiếp cận chương trình chứ không chỉ đơn giản là các cuộc phỏng vấn cá nhân tại các thời điểm quyết định Trong các cuộc cải cách giáo dục, việc đưa vào giáo dục phổ thông nội dung giáo dục nghề nghiệp để chúng ta có thể định hướng nghề nghiệp, giúp các em có khái niệm về nghề nghiệp và chọn lựa nghề của mình trong tương lai là nội dung rất được coi trọng trong các nền giáo dục tiên [22]

- PGS TS Phạm Viết Vượng quan niệm “Hướng nghiệp là hoạt động định hướng nghề nghiệp của các nhà sư phạm cho học sinh nhằm giúp họ chọn một

Trang 27

nghề phù hợp với hứng thú, năng lực của cá nhân và yêu cầu nhân lực xã hội” [28]

Hướng nghiệp là 1 chuỗi các biện pháp nhằm giúp cho mỗi học sinh đưa ra những lựa chọn định hướng học tập và nghề nghiệp dựa trên năng lực

và phẩm chất của mỗi cá nhân sao cho phù hợp với nhu cầu của xã hội Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng hướng nghiệp không chỉ là nhiệm vụ của chỉ riêng ngành giáo dục mà đó là một hoạt động của nhiều lĩnh vực khác nhau trong xã hội với mục đích cuối cùng giúp học sinh khám phá năng lực của bản thân để lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, đáp ứng được yêu cầu chuyên

môn trong sản xuất lao động

Trong giáo dục, hướng nghiệp cũng được coi là một hoạt động dạy học của giáo viên và học sinh Giáo viên hướng dẫn giúp đỡ học sinh đưa ra các lựa chọn về phương hướng học tập và nghề nghiệp dựa trên phân tích năng lực, hứng thú bản thân và yêu cầu của xã hội Như vậy, hướng nghiệp trong trường học được thể hiện như một hệ thống tác động sư phạm nhằm làm cho các em học sinh chọn được nghề một cách phù với với năng lực bản thân [13] Hay có thể nói “Hướng nghiệp là sự tác động của một hệ thống những biện pháp tác động của nhà trường, gia đình và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề, tại những nơi xã hội đang cần phát triển, đồng thời phù hợp với hứng thú, năng lực cá nhân” [18]

1.2.1.3 Khái niệm giáo dục hướng nghiệp

Trong những năm gần đây khái niệm GDHN thường xuyên được sử dụng trong các tài liệu khoa học, các công trình nghiên cứu, điều này chứng tỏ rằng

GDHN ngày càng được quan tâm Có thể hiểu rằng, GDHN bao gồm các hoạt

động của nhà trường phối hợp với gia đình và các tổ chức xa hội nhằm trang

bị kiến thức, hình thành năng lực định hướng nghề nghiệp cho bản thân HS

Trang 28

cách, sở thích, phù hợp với điểu kiện, hoàn cảnh gia đình của mỗi học sinh và

phù hợp với nhu cầu của xã hội [16]

Như vậy, GDHN như là một kim chỉ nam, là một quá trình tác động nhiều mặt giúp các em HS hiểu rõ bản thân, từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn với sự lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai

1.2.1.4 Tích hợp và dạy học tích hợp

Theo từ điển Giáo dục học “tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực

khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học” [17]

Theo từ điển tiếng Việt thì “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp” Tích hợp trong môn khoa học thường được hiểu là sự kết hợp nội dung kiến thức của nhiều môn học để giải quyết một vấn đề, một nhiệm vụ học tập nào đó [24]

Hội nghị phối hợp trong chương trình của UNESCO, Paris 1972 có đưa

ra định nghĩa: Dạy học tích hợp các khoa học là một cách trình bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau [5]

Theo Xaviers Roegirs “Sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh nhằm phục vụ cho quá trình học tập tương lai, hoặc hoà nhập học sinh vào cuộc sống lao động Khoa sư phạm tích hợp làm cho quá trình học tập có ý nghĩa” [31]

Theo Nguyễn Văn Khải “Dạy học tích hợp tạo ra các tình huống liên kết tri thức các môn học, đó là cơ hội phát triển các năng lực của học sinh

Trang 29

Khi xây dựng các tình huống vận dụng kiến thức, học sinh sẽ phát huy được năng lực tự lực, phát triển tư duy sáng tạo” [21]

Quan điểm của Ban chỉ đạo đổi mới chương trình, sách giáo khoa sau

2015 cho rằng: Dạy học tích hợp được hiểu là giáo viên tổ chức để học sinh

huy động đồng thời kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó lại hình thành những kiến thức,

kỹ năng mới, từ đó phát triển những năng lực cần thiết [5]

Có rất nhiều hình thức tích hợp như: tích hợp truyền thông, đơn môn, liên môn, đa môn, xuyên môn nhưng hình thức tích hợp chủ yếu hiện nay thường được sử dụng là tích hợp liên môn Tích hợp liên môn là hình thức sử dụng những kiến thức của các môn khoa học khác nhau để giải quyết một tình huống, một vấn đề

Bảng 1.1 So sánh các thành tố giữa dạy học tích hợp và dạy học đơn môn

Các thành tố của

quá trình dạy học

Dạy học tích hợp Dạy học đơn môn

Mục tiêu Mục tiêu đơn môn + các mục

tiêu phát triển các năng lực

Mục tiêu đơn môn

Nội dung Xuất phát từ vấn đề gắn với

thực tiễn, ít quan tâm đến logic nội tại của môn học

Trình bày theo cấu trúc logic nội tại của môn học

Phương tiện Không có sự khác biệt về bản chất mà chỉ là do sự khác

biệt về nội dung quy định Phương pháp,

hình thức tổ chức

Không có phương pháp dạy học tích hợp mà sử dụng chung hệ thống phương pháp dạy học giống như khi dạy học truyền thống

Kiểm tra đánh giá Không có sự khác biệt về công cụ hay cách thức đánh

giá

Trang 30

Như vậy, dạy học tích hợp có thể hiểu đó là một quan điểm dạy học nhằm hình thành và phát triển ở học sinh những năng lực cần thiết trong đó có năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết có hiệu quả các tình huống thực tiễn Điều đó cũng có nghĩa là để đảm bảo cho mỗi học sinh biết vận dụng kiến thức được học trong nhà trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ thường gặp phải trong đời sống thực tiễn; qua đó trở thành một người công dân có trách nhiệm, một người lao động có năng lực Dạy học tích hợp đòi hỏi việc học tập các nội dung lý thuyết trong nhà trường phải luôn được gắn với thực tiễn cuộc sống của học sinh Như vậy, dạy học tích hợp sẽ phát huy tối đa năng lực và phát triển phẩm chất cá nhân mỗi học sinh, giúp các

em thành công trong cuộc sống sau này

1.2.1.5 Tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học các môn khoa học

Tích hợp GDHN vào các môn khoa học, được hiểu giống như tích hợp liên môn Trong quá trình học các nội dung liên quan đến hướng nghiệp sẽ được tích hợp trong các bài dạy môn khoa học ở những mức độ kiến thức khác nhau.Tích hợp GDHN trong dạy học các môn khoa học là một ví dụ cụ thể cho câu nói “Học đi đôi với hành” Hoạt động học không chỉ cung cấp cho các em những kiến thức về khoa học, về các ngành nghề mà thông qua các hoạt động học tập học sinh sẽ có những hiểu biết thực tiễn với những ngành nghề mà các em có thể lựa chọn cũng như hình thành những phẩm chất và năng lực cần thiết đối với nghề mà các em lựa chọn Dựa vào mục tiêu đề ra, nội dung môn học, việc tích hợp GDHN trong dạy học ở trường có thể được thực hiện dưới các mức độ khác nhau (thông qua hoạt động tham quan trải nghiệm, hoạt động ngoại khóa .) Tích hợp GDHN vào các môn học giúp học sinh hiểu rõ bản chất của những kiến thức khoa học mà còn giúp học sinh hiểu về ứng dụng của nó trong cuộc sống đặc biệt là lĩnh vực nghề nghiệp Do vậy, tích hợp GDHN trong dạy học các môn học không chỉ giúp học sinh phát

Trang 31

triển những năng lực chung mà còn giúp học sinh phát triển những năng lực liên quan đến nghề nghiệp [9]

Với môn Sinh học, việc tích hợp GDHN trong dạy học được thể hiện ở hoạt động GV sử dụng các phương pháp, hình thức, kỹ thuật dạy học thích hợp khai thác các kiến thức của Hướng nghiệp nhưng vẫn đảm bảo được các kiến thức, kỹ năng, thái độ theo mục tiêu của môn học Tùy nội dung và kiến thức từng bài mà GV có thể tích hợp GDHN ở những mức độ khác nhau

1.2.2 Giáo dục hướng nghiệp trong hệ thống giáo dục

1.2.2.1 Mục đích của giáo dục hướng nghiệp

Theo PGS.TS Pham Tất Dong, mục đích chung của GDHN là hình thành cho lứa tuổi trẻ năng lực tự định hướng nghề phù hợp với những đặc điểm bản thân và những nhu cầu của xã hội Thực hiện được mục đích nêu trên, hướng nghiệp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả lao động xã hội, điều chỉnh

từ gốc sự phân luồng nguồn lao động dự trữ trên bình diện cả nước [13, 18]

Qua hướng nghiệp, các em được làm quen với những nghề cơ bản trong

xã hội, những nghề có vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân, những nghề cần thiết phải phát triển ở ngay địa phương mình Theo sách thì giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông có 5 nhiệm vụ sau đây:

1/ Tổ chức cho học sinh làm quen với các ngành nghề của nền kinh tế, đặc biệt với các nghề phổ biến;

2/ Tổ chức các hoạt động giáo dục nghề cho học sinh nhằm giúp các em

có ý thức chọn nghề;

3/ Tiến hành tư vấn chọn nghề cho học sinh;

4/ Giúp học sinh tìm hiểu nhân cách của mình để giúp các em chọn nghề phù hợp;

5/ Giáo dục học sinh có thái độ lao động đúng với mọi ngành nghề [2] Mục tiêu của hoạt động GDHN được quy định như sau:

Trang 32

- Về kiến thức: HS biết được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc lựa chọn nghề trong tương lai; Một số kiến thức cơ bản về vấn đề chọn nghề; Một số thông tin cơ bản về định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đất nước và khu vực, về thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động, hệ thống giáo dục nghề nghiệp, CĐ và ĐH ở địa phương và cả nước; Biết cách tìm kiếm thông tin nghề và cơ sở đào tạo cần thiết cho bản thân; Và biết cách tự đánh giá năng lực bản thân, điều kiện gia đình và nhu cầu xã hội để định hướng học tập và chọn nghề tương lai

- Về kĩ năng: HS có khả năng tự đánh giá được năng lực bản thân và điều kiện gia đình trong việc định hướng nghề nghiệp tương lai; Tìm kiếm được những thông tin nghề và cơ sở đào tạo cần thiết cho bản thân trong việc chọn nghề; Định hướng và lựa chọn được nghề nghiệp tương lai cho bản thân

- Về thái độ: HS chủ động, tự tin trong việc chọn hướng đi, chọn nghề;

Có hứng thú và khuynh hướng chọn nghề đúng đắn [14]

1.2.2.2 Ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp

Ý nghĩa của GDHN được các tác giả giả Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Truyền, Bùi Văn Quân nêu ra rất rõ trong cuốn “Một số vấn đề về hướng nghiệp cho học sinh phổ thông” Theo tác giả ý nghĩa của GDHN được đề cập

ở những mặt sau [23]:

- Ý nghĩa về giáo dục: Do có GDHN, góp phần cho nhà trường thực

hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh Trong đó một trong những mục tiêu quan trọng là giáo dục cho học sinh có hứng thú và động cơ nghề nghiệp đúng đắn, có lý tưởng và thái độ đúng đắn với lao động trong tương lai Do đó, hướng nghiệp chính là một bộ phận không thể thiếu trong nội dung giáo dục Cho học sinh tiếp xúc, làm quen, tham gia với nghề, với các kỹ thuật và công nghệ sản xuất ngay trên ghế nhà trường góp phần quan trọng

giúp học sinh hình thành và rèn luyện những năng lực và phẩm chất cần thiết

Trang 33

- Ý nghĩa về mặt kinh tế: Một trong những ý nghĩa quan trọng về mặt

kinh tế đó chính là sự phân luồng học sinh ngay khi trên ghế nhà trường Phân luồng học sinh là cơ sở cho sự phân lường nhân lực cho xã hội, góp phần sử dụng một cách hợp lý tiềm năng lao động trong tương lai Đây chính là tiền

đề cho sự phát triển kinh tế, nâng cao năng xuất lao động Mỗi năm, cả nước

có hàng triệu học sinh tốt nghiệp THCS và THPT nếu có sự kết hợp chặt chẽ, đồng bộ, khoa học của nhà trường và gia đình trong GDHN, phân luồng học sinh thì chúng ta sẽ có một nguồn nhân lực dồi dào, trình độ chuyên môn

nghiệp vụ cao, đặc biệt là đa ngành đa nghề phục vụ xa hội

đó góp phần phát triển dân trí, bồi dưỡng tài năng theo định hướng phát triển

xã hội trong từng giai đoạn

+ Về mặt xã hội: GDHN sớm cho học sinh, giúp học sinh định hướng được cuộc sống lao động trong tương lai GDHN hỗ trợ học sinh tìm được công việc phù hợp với năng lực, sở thích và yêu cầu của xã hội, có như vậy mới hang xay, cống hiến trí lực trong công việc Đây là cơ sở làm cho xã hội bình ổn

1.2.2.3.Căn cứ để xây dung nội dung của việc giáo dục hướng nghiệp

Giáo dục hướng nghiệp không chỉ thỏa mãn nhu cầu của người học về những kiến thức liên quan đến nghề nghiệp mà họ quan tâm Mục đích của chương trình hướng nghiệp là giúp học sinh hiểu được tầm quan trọng của việc giáo dục hướng nghiệp và chỉ rõ cho học sinh những năng lực phẩm chất cần có trong nghề nghiệp mà mình lựa chọn Việc xây dựng nội dung giáo

Trang 34

cũng như các mục tiêu của hệ thống giáo dục địa phương nói riêng hay rộng hơn là của cả quốc gia nói chung Nội dung giáo dục hướng nghiệp còn dựa trên kế hoạch dạy học, nhiệm vụ và mục tiêu của trường

- Xây dựng nội dung dựa trên nhu cầu và thực tế của học sinh Nhu cầu

cụ thể của học sinh liên quan đến giáo dục hướng nghiệp và nội dung chương trình giáo dục hướng nghiệp được gắn liền với nhau, giúp học sinh phát triển một cách toàn diện Sự phát triển tâm sinh lý của mỗi học sinh ở mỗi cấp học,

độ tuổi là khác nhau do vậy để biết được nhu cầu, mong muốn của học sinh nhà trường có thể đánh giá thông qua việc khảo sát Việc khảo sát này tùy vào điểu kiện của mỗi trường sẽ tiến hành bằng cách yêu cầu học sinh trả lời các phiếu trắc nghiệm, làm các bài test ngắn hoặc có thể phỏng vấn trực tiếp vv

- Tình hình thực tế của nhà trường và địa phương Nội dung giáo dục

hướng nghiệp phải được xây dựng trên cở sở phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường và địa phương Cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên của trường

có đáp ứng được yêu cầu của nội dung chương trình hay không? Phụ huynh học sinh và các cấp lãnh đạo địa phương có những hỗ trợ gì trong việc giáo dục hướng nghiệp của con em mình?

- Mục tiêu và nội dung giáo dục hướng nghiệp phải phù hợp với xu thế phát triển của xã hội Những nhà giáo dục, cụ thể ở đây là giáo viên luôn phải

cập nhật những thông tin liên quan về chuyên môn, về thông tin đa dạng trong thế giới nghề nghiệp hiện tại, về những nghề nghiệp mới được giới trẻ ưa thích, những nghề nghiệp có tiềm năng phát triển trong tương lai, hay những nghề nghiệp có thể phát triển tại địa phương vv Những thông tin này này không chỉ được tìm hiểu qua sách báo, internet mà có thể tìm hiểu trong trải nghiệm thực tế

Nghề nghiệp hay thế giới nghề nghiệp là phạm trù vô cùng rộng lớn,

nó không chỉ gói gọn trong một lĩnh vực, một thời điểm cụ thể, nó xuyên suốt quá trình phát triển xã hội loài người Mỗi mặt trong xã hội luôn tồn tại nhiều

Trang 35

nghề đặc trúng và cốt lõi Nhưng mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn là không thể chối bỏ trong các lĩnh vực nghề nghiệp Có lý thuyết chúng ta hiểu những kiến thức, kỹ năng căn bản của nghề, những lý thuyết đó được áp dụng vào thực tiễn làm rõ hơn bản chất của những kiến thức khoa học Với sinh học cũng vậy, nghề nghiệp trong lĩnh vực sinh học phủ kín mọi mặt của xã hội Như vậy việc tích hợp GDHN trong dạy học sinh học giúp học sinh có những cái nhìn đa chiều hơn với nghề nghiệp từ đó đưa ra những lựa chọn phù hợp với bản thân

1.3 Cơ sở thực tiễn của tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học Sinh học ở cấp Trung học cơ sở

* Thông tin khảo sát:

- Về giáo viên: có 47 giáo viên và 3 cán bộ quản lý tham gia khảo sát

- Về học sinh: có 193 tham gia khảo sát trong đó có khoảng 40-50% là học sinh khá giỏi và 50-60% là học sinh trung bình, khoảng 1% là học sinh yếu kém

* Nội dung khảo sát: Gồm 2 nội dung khảo sát trong đó nội dung 1

dành cho giáo viên (3 câu hỏi), nội dung 2 dành cho học sinh

* Kết quả khảo sát:

- Với giao viên: Để biết được thực trạng của dạy học GDHN trong nhà

trường tôi tiến hành “Phiếu hỏi ý kiến” đối với các giáo viên trong trường THCS Phùng Chí Kiên, Nam Định Số lượng giáo viên tham gia: 50 giáo viên bao gồm cả giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn Kết quả tiến hành khảo

sát như sau:

Bảng 1.2 Thực trạng dạy học giáo dục hướng nghiệp (GDHN)

Mức độ dạy học GDHN trong nhà trường

Trang 36

1 Thỉnh thoảng 25(50%)

2

Phương pháp, kỹ thuật dạy học thầy cô thường

sử dụng(có thể chọn nhiều hơn 1 phương pháp):

Số lượt GV chọn

Qua kết quả “phiếu hỏi ý kiến” của giáo viên ta có những nhận xét sau:

- Với câu hỏi số 1, khi được hỏi về mức độ dạy học GDHN trong nhà trường

thì chỉ có 3% giáo viên tham gia khảo sát thường xuyên dạy GDHN, số giáo viên không tham gia dạy GDHN là 12% còn lại đa số giao viên ít khi dạy(25%) hay thỉnh thoảng dạy (50%) Lý giải cho thực trạng trên tôi nhận thấy rằng, tất cả những giáo viên trong nhà trường vào giáo viên tham gia khảo sát đều không phải là giáo viên chuyên về dạy GDHN Những giáo viên này đều là kiêm nhiệm việc dạy GDHN cho học sinh Trước kia, việc dạy GDHN được Sở Giáo dục, nhà trường tổ chức sẽ do những giáo viên thuộc trường trung cấp nghề trên địa bàn đảm nhiệm Sau khi Sở Giáo dục cho

Trang 37

trường tự quản trong việc GDHN cho học sinh, thì những giáo viên bộ môn trong nhà trường sẽ kiêm nhiệm Do không được đào tạo chuyên môn, chưa

có nhiều kinh nghiệm trong việc dạy GDHN là nguyên nhân dẫn đến giáo viên bộ môn còn chưa tâm huyết với việc dạy GDHN Dẫn tới hiệu quả của việc GDHN trong nhà trường không đạt được hiệu quả cao Nguyên nhân thứ làm cho hiệu quả GDHN trong nhà trường chưa cao là GDHN không được sếp vào môn học trong nhà trường do đó số tiết dạy GDHN rất ít chỉ sắp xếp vào các buổi sinh hoạt cuối tuần của lớp hay các buổi học ngoại khóa toàn trường

- Với câu hỏi số 2, khi được hỏi về hình thức, phương pháp dạy học GDHN

đa số giáo viên lựa chọn những hình thức, phương truyền thống như vấn đáp, thuyết trình, kỹ thuật bản đồ tư duy mà rất ít sử dụng các phương pháp dạy học mới như: STEM, dạy học them góc, theo trạm dẫn đến hiệu quả của GDHN chưa cao

Biểu đồ 1.1 Sự lựa chọn hình thức dạy học

- Với học sinh: Để biết được thực trang học tập của học sinh đối với môn

Sinh học và hoạt động GDHN trong nhà trường, tôi tiến hành “Điều tra xa hội

Trang 38

học” đối với các học sinh khối 9 của trường THCS Phùng Chí Kiên Kết quả

khảo sát như sau:

Kết quả khảo sát nội dung 1

Trong câu hỏi số 1 “Thái độ học tập môn Sinh học của bản thân học sinh”, tôi chỉ tiến hành điều tra ở 3 mức độ gồm: Thích, bình thường, không thích.Hứng thú trong học tập luôn là một trong những thang điểm quan trọng trong việc đánh giá kết quả học tập của học sinh ở tất cả các môn học Mức độ hứng thú với môn học có ý nghĩa quyết định tới kết quả học học tập của học sinh Kết quả thống kê thu được như bảng 1.3:

Bảng 1.3 Kết quả khảo sát mức độ hứng thú của học sinh

là những thách thức đặt ra với các giáo viên bộ môn trong việc dạy học Việc dạy học luôn yêu cẩu phải đổi mới cả về nội dung và phương pháp nhằm tạo hứng thú cho học sinh

Để làm rõ mức độ hiểu biết của học sinh đối với môn Sinh học, đặc biệt

là sự quan tâm tới nghề nghiệp, tôi đưa ra câu hỏi số 2 “Em hãy chọn những lĩnh vực nghề nghiệp có liên quan đến Sinh học” Kết quả thu được như sau:

Trang 39

Bảng 1.4 Kết quả lựa chọn nghề liên quan tới Sinh học

10 Kiến trúc sư thiết kế nội thất 5(2.59%)

Từ kết quả trên, nhận thấy rằng hầu hết các em đã chọn đúng những nghành nghề liên quan tới sinh học Tuy nhiên vẫn có nhiều em lựa chọn sai như kỹ sư lâm nghiệp chỉ có 46,63% các em lựa chọn, nhưng có đến tận 36.27% các em lựa chọn dược sĩ là nghề có liên quan đên Sinh học Ngoài ra vẫn còn học sinh hiểu chưa đúng về ngành nghề có liên quan đến Sinh học như: Lựa chọn kiến trúc sư (2.59%), kỹ sư xây dựng (1.55%)

- Với câu hỏi số 3, khi được hỏi về “Em đã tìm hiểu thông tin về nghề nghiệp

từ những nguồn này?” thu được kết quả như sau:

Bảng 1.5 Kết quả tìm hiểu nguồn thông tin

2 Kiến thức môn khoa học trên lớp 27(13.99%)

3 Các phương tiện thông tin đại chúng: tivi, đài,

báo

150(77.72%)

5 Từ người thân gia đình, bạn bè 53(27.46%)

6 Thông qua nội dung giáo dục hướng nghiệp 10(5.18%)

Trang 40

Qua kết quả bảng khảo sát cho ta thấy, học sinh chủ yếu tìm hiểu thông tin về môn học, về nghề nghiệp chủ yếu qua các phương tiện thông tin đại chúng (77.72% tương ứng 150 lượt học sinh chọn), qua mạng xã hội(76.17% tương ứng với 147 lượt học sinh chọn) Như vậy có thể thấy rằng đa số các em đều tim hiểu thông tin từ các nguồn chưa chính thống, điều này có thể dẫn tới thông tin các em tìm kiếm có thể sai lệch dẫn đến sự hiểu sai của các em về một vấn đề nào đó Nhưng chỉ có 10 học sinh (5.18%) lựa chọn tìm hiểu thông tin qua hoạt động GDHN, điều này cho thấy rằng việc GDHN trong nhà trường còn nhiều hạn chế Hoạt động GDHN trong nhà trường chủ yếu là giới thiệu cho học sinh cách xác định và hướng chọn nghề chung chung mà chưa

đi vào chi tiết Điều này dẫn đến hậu quả là học sinh “đói” thông tin, tự các

em sẽ tìm hiểu các thông tin về học tập hay GDHN bằng những cách khác nhau, dẫn tới kiến thức có thể sai lệch

Kết quả khảo sát nội dung 2

Mục đích của nội dung 2 của phiếu “Điều tra xa hội học” là làm sáng tỏ

về sự hiểu biết của học sinh với khái niệm thế nào là nghề nghiêp? Và tìm hiểu những khó khăn của học sinh trong quá trình chọn trường, chọn nghề Từ

đó sẽ đưa ra những phương pháp, nội dung dạy học GDHN phù hợp với học sinh, đáp ứng được những thắc mắc của các em

- Kết quả điểu tra với câu hỏi 1 “Sau khi tốt nghiệp THCS, em lựa chọn

hướng đi” như sau:

Bảng 1.6 Định hướng học tập của học sinh

Ngày đăng: 09/02/2021, 23:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w