1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu bất bình đẳng giới về phân công lao động trong gia đình viên chức tại xã cộng hòa, huyện quốc oai, thành phố hà nội​

91 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên phương diện công tác xã hội, có rất ít các công trình nghiên cứu về bình đẳng giới hoặc có nhưng khách thể nghiên cứu của họ chủ yếu là bình đẳng giới trong doanh nghiệp, chính trị…

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VƯƠNG MINH HUYỀN

CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM NHẰM GIẢM THIỂU BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI VỀ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG TRONG GIA ĐÌNH VIÊN CHỨC TẠI XÃ CỘNG HÒA,

HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VƯƠNG MINH HUYỀN

CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM NHẰM GIẢM THIỂU BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI VỀ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG TRONG GIA ĐÌNH VIÊN CHỨC TẠI XÃ CỘNG HÒA,

HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành : Công tác xã hội

Mã số : 60900101

LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Ngươig hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ THÁI LAN

Hà Nội – 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành đề tài luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong khoa Xã hội học, trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là

PGS TS Nguyễn Thị Thái Lan - người đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, động viên tôi

trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài

Tôi xin gửi lời cám ơn tới chính quyền địa phương tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, các cán bộ tại địa phương và các khách thể nghiên cứu của tôi

đã luôn tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài của mình

Xin chân thành cám ơn!

Hà Nội, tháng 11 năm 2020

Trang 5

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU

Biểu đồ 2.1: Biểu đồ thể hiện độ tuổi của khách thể nghiên cứu 34

Bảng 2.1: Quan điểm của hai giới về việc phân công lao động trong gia đình 36

Bảng 2.2: Người chịu trách nhiệm chính trong các công việc gia đình 38

Biểu đồ 2.2 Thời gian tham gia các công việc trong gia đình của vợ và chồng(Đơn vị: ĐTB) 40

Biểu đồ 2.3 Thời gian nghỉ ngơi của chồng và vợ (tính từ 6h-18 hằng ngày (Đơn vị: ĐTB) 40

Bảng 2.3: Các hoạt động của vợ và chồng sau khi kết thúc công việc ngoài xã hội 41

Bảng 2.4: Mức độ tham gia công việc nội trợ của vợ và chồng 42

Bảng 2.5: Mức độ tham gia công việc chăm sóc và giáo dục con cái của chồng và vợ 44

Bảng 2.6: Mức độ tham gia các công việc cộng đồng của chồng và vợ 45

Bảng 2.7: Quyền quyết định các công việc trong gia đình 46

Bảng 2.8: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trong việc phân công lao động trong gia đình 48

Bảng 3.1: Kế hoạch hoạt động nhóm 56

Bảng 3.2: Quan điểm của hai giới về việc phân công lao động trong gia đình trước và sau khi áp dụng tiến trình CTXH nhóm 59

Bảng 3.3: Quan điểm về việc ai là người chịu trách nhiệm chính trong các công việc gia đình 61

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Biểu đồ thể hiện độ tuổi của khách thể nghiên cứu 34 Biểu đồ 2.2 Thời gian tham gia các công việc trong gia đìnhcủa vợ và chồng 40 Biểu đồ 2.3 Thời gian nghỉ ngơi của chồng và vợ (tính từ 6h-18 hằng ngày 40

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC TỪ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU iii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv

MỤC LỤC v

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 14

1.1.Các khái niệm công cụ 14

1.1.1 Phân công lao động theo giới 14

1.1.2 Gia đình viên chức 17

1.1.3Phân công lao động trong gia đình viên chức 18

1.2.Công tác xã hội nhóm 19

1.2.1.Công tác xã hội 19

1.2.2.Công tác xã hội nhóm 20

1.2.3.Công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu bất bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình viên chức 22

1.2.4.Một số lý thuyết vận dụng trong công tác xã hội nhóm 22

1.3.Biểu hiện của sự phân công lao động theo giới trong gia đình viên chức 25

1.3.1.Nhận thức về phân công lao động theo giới trong gia đình viên chức: 25

1.3.2.Phân công lao động trong gia đình viên chức theo các nhóm công việc: 25

1.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phân công lao động trong gia đình viên chức 28

Tiểu kết chương 1: 31

Trang 8

CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG CỦA VIỆC PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG TRONG GIA ĐÌNH VIÊN CHỨC TẠI XÃ CỘNG HÒA, HUYỆN QUỐC OAI,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI 32

2.1 Mô tả địa bàn nghiên cứu 32

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 32

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 32

2.2 Thực trạng trong phân công lao động trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 33

2.2.1 Mô tả khách thể nghiên cứu và thang đo 33

2.2.2 Phân công lao động theo giới trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 35

2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc phân công lao động trong gia đình 47

Tiểu kết chương 2: 50

CHƯƠNG 3:ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM 51

3.1 Căn cứ lựa chọn phương pháp Công tác xã hội nhóm 51

3.2 Tiến trình công tác xã hội nhóm 52

3.3 Kết quả đạt được 58

3.4 Đánh giá chung quá trình áp dụng tiến trình CTXH nhóm 62

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 65

1 Kết luận 65

2.Khuyến nghị 65

2.1.Đối với gia đình, các cặp vợ chồng 66

2.2.Đối với chính quyền địa phương xã Cộng Hòa 66

2.3.Đối với nhân viên CTXH 66

2.4.Đối với Vụ Bình đẳng giới – Bộ Lao động thương binh và xã hội 68

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69 PHỤ LỤC

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong các quan hệ giữa con người với con người thì mối quan hệ giữa giới nam và giới nữ trong gia đình có ý nghĩa quan trọng và có tính chất đặc biệt Đó là mối quan hệ tình cảm có tính riêng tư, cá nhân diễn ra trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày giữa vợ và chồng, đồng thời lại có tính xã hội sâu sắc và rộng lớn Khi nói đến mối quan hệ giữa hai giới là nói đến trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ của nam giới và nữ giới Ngoài ra, mối quan hệ giữa hai giới còn thể hiện vị trí, vai trò và địa vị xã hội của mình một cách công bằng và ngang nhau về cơ hội Yếu tố giới luôn được đề cập đến ở tất cả các lĩnh vực Đây là loại hình phân công lao động

xã hội xuất hiện rất sớm trong lịch sử loài người, chúng phản ánh bản chất mối quan

hệ xã hội giữa phụ nữ và nam giới cũng như trình độ phát triển kinh tế xã hội của các xã hội khác nhau Trong những thập kỷ qua, vấn đề này đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và các nhà làm chính sách

Trên thế giới đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về bất bình đẳng giới trong phân công lao động, nhưng chủ yếu là tập trung nghiên cứu về thực trạng

bất bình đẳng giới trong gia đình mà chưa đề cập đến góc nhìn từ Công tác xã hội

Theo Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CADEW) [47]chỉ ra gánh nặng của phụ nữ phải chịu trung bình từ các nước đang phát triển là 53% và các nước công nghiệp đang phát triển là 51% Song, chỉ có tổng số thời gian lao động của nam giới và nữ giới là thuộc về kinh tế, nửa kia là lao động trong gia đình hoặc các hoạt động trong cộng đồng mà trong đó thường là hoạt động nội trợ

và chăm sóc con cái phụ nữ phải đảm nhiệm

Tại Việt Nam, mục tiêu xây dựng mối quan hệ bình đẳng giữa nam giới và nữ giới trong phạm vi gia đình và xã hội đã được xác định ngay từ khi Đảng cộng sản

và Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo đã tuyên bố “nam nữ bình quyền” Từ đó đến nay, vấn đề bình đẳng nam nữ, bình đẳng giới tiếp tục được Đảng và Nhà nước tích cực chỉ đạo và triển khai thực hiện Sự ra đời và triển khai trong thực tế của

Trang 10

nhiều chính sách, pháp luật, tiêu biểu là Luật Bình đẳng giới (2006), Luật Hôn nhân

và gia đình, Luật phòng chống bạo lực gia đình là những minh chứng thể hiện sự phát triển ngày càng cao về nhận thức cũng như sự cam kết của Đảng và Nhà nước trong thực hiện bình đẳng giới Việc nâng cao chất lượng cuộc sống trong gia đình,

sự công bằng khi phân công lao động trong gia đình giữa hai giới cũng là một trong những mục tiêu lớn trong chiến lược thực hiện bình đẳng giới ở nước ta Mục tiêu này không chỉ là trách nhiệm của đoàn thể, cơ quan hay của một giới, một gia đình

mà là của toàn xã hội

Công tác xã hội là một ngành khoa học ứng dụng, một hoạt động chuyên nghiệp trong đó nhân viên công tác xã hội cần sử dụng những kiến thức, kĩ năng của mình để

hỗ trợ cá nhân, nhóm, cộng đồng yếu thế trong xã hội nhằm phát huy những tiềm năng của họ, giúp họ tự vươn lên trong cuộc sống Nhóm phụ nữ đang là nạn nhân của bất bình đẳng giới và đó chính là đối tượng của công tác xã hội

Tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, công tác thực hiện bình đẳng giới, đặc biệt là việc bình đẳng giới trong lĩnh vực phân công lao động trong gia đình ngày càng được nâng cao bởi trình độ học vấn cũng như chất lượng cuộc sống ổn định hơn Song, bên cạnh đó vẫn tồn tại khá nhiều những bất cập Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức của người dân vẫn ảnh hưởng bởi lối tư tưởng và

quan niệm cũ [47] Tính đến thời điểm hiện tại, xã Cộng Hòa chưa có một công

trình nghiên cứu nào về vấn đề bình đẳng giới, đặc biệt là theo hướng tiếp cận công tác xã hội Chủ yếu nâng cao nhận thức của người dân về bình đẳng giới thông qua truyền thông và tập huấn

Trên thực tế, các nghiên cứu về bình đẳng giới chủ yếu dựa trên nghiên cứu xã hội học và đưa ra kết quả của thực trạng bất bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình Trên phương diện công tác xã hội, có rất ít các công trình nghiên cứu về bình đẳng giới hoặc có nhưng khách thể nghiên cứu của họ chủ yếu

là bình đẳng giới trong doanh nghiệp, chính trị…Hơn nữa, cũng chưa có công trình nghiên cứu nào ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhằm giảm thiểu bất bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình, đặc biệt là gia đình viên chức

Trang 11

Đối với các nghiên cứu về bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình thì chưa thật sự rõ nét Với mong muốn tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm thiểu bất bình đẳng giới của việc phân công lao động theo giới trong gia đình viên chức, từ đó áp dụng tiến trình can thiệp công tác xã hội nhóm nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa,

huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, tôi chọn đề tài “Công tác xã hội nhóm nhằm

giảm thiểu bất bình đẳng giới về phân công lao động trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội”

2 Tổng quan nghiên cứu

2.1.Trên thế giới

Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự PCLĐ theo giới trong gia đình, các hướng nghiên cứu chính chủ yếu đề cập đến thực trạng và vai trò của người phụ nữ trong gia đình Trên thực tế còn thiếu vắng các công trình nghiên cứu

về công tác xã hội trong lĩnh vực bình đẳng giới trong phân công lao động

Trong thời gian vừa qua, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về bất bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình và các lĩnh vực có liên quan

Tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước” của

Engels (1840) [30] Đây là một trong những công trình nghiên cứu về sự phân công lao động theo giới sớm nhất Đứng trên quan điểm duy vật lịch sử, Engels đã mô tả

sự phân công lao động theo giới gắn liền với sự tồn tại của các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất khác nhau, các kiểu hôn nhân và gia đình khác nhau Theo đó, địa vị của phụ nữ và nam giới đã thay đổi khi có sự thay đổi về mô hình phân công lao động mà nguồn gốc sâu xa của nó bắt nguồn từ sự thay đổi về quan hệ đối với tư liệu sản xuất, về kỹ thuật cũng như hình thái hôn nhân và gia đình [5] Nghiên cứu

của E.Boserup với đề tài “Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế” (1970) [28]

đã làm thay đổi nhận thức về phân công lao động theo giới của con người “Lần đầu tiên Bo…đã xác định 1 cách có hệ thống và ở phạm vi thế giới, sự phân công lao động theo giới trong các nền kinh tế nông nghiệp” Những khám phá của bà đã góp phần làm sáng tỏ hơn nữa bức tranh về phân công lao động theo giới thông quan

Trang 12

việc phân tích và khẳng định vai trò của lao động nữ trong các nước thuộc thế giới thứ ba, đặc biệt trong sản xuất lương thực, thực phẩm cho toàn thế giới.[8]

Đề tài “Công việc của phụ nữ - Sự phát triển và phân công lao động theo

giới”, E.Leacock, Helen I.Safa và những người khác (1986) [30] một lần nữa đã làm

sáng tỏ những kết luận của Boserup về phân công lao động theo giới và vai trò của phụ nữ trong thế giới thứ ba Không những thế, nghiên cứu của họ đã mở rộng ra để xem xét sự phân công lao động theo giới cả trong xã hội nông nghiệp và xã hội công nghiệp Các tác giả đã chứng mình rằng trong xã hội nông nghiệp hay xã hội chủ nghĩa thì phụ nữ cũng bị đặt những gánh nặng của công việc tái sản xuất ngoài hoạt động sản xuất để kiếm sống, điều đó khiến cho họ thường xuyên phải lao động quá sức

Theo nhóm tác giả nghiên cứu gồm John Knodel, Trung tâm Nghiên cứu Dân

số (Đại học Michigan, USA) và Bussarawan Puk Teerawichitchainan, Trường Khoa học xã hội (Đại học Quản lý Singapore), Vũ Mạnh Lợi và Vũ Tuấn Huy (Viện Xã

hội học), [34] đã báo báo kết quả nghiên cứu về phân công giới trong lao động gia

đình ở Việt Nam phụ nữ vẫn là người giữ vai trò chính trong việc nội trợ và chăm sóc con cái mặc dù sự tham gia của nam giới đang ở mức tăng lên theo 3 thời kì là:

thời chiến (83,5 - 85%), thời thống nhất đất nước (83,7 - 85%) và thời kì đổi mới (81 - 84%)

Trong nghiên cứu “Division of Labor - Contemporary Divisions Of Labor”

(Phân công lao động đương đại) ở Mỹ, Robinson đã chỉ ra rằng “Người chồng chỉ đóng góp khoảng hai giờ mỗi tuần với nhiệm vụ kết hợp nấu ăn, rửa bát, dọn dẹp nhà cửa và giặt giũ, so với mức trung bình gần hai mươi lăm giờ mỗi tuần cho các

bà vợ” Đối với Coltrane thì cho rằng “Sau đó nghiên cứu công việc gia đình đã tìm thấy rằng phụ nữ, đặc biệt là sử dụng phụ nữ đang làm việc nhà ít hơn trước và những người đàn ông là làm thêm một chút Tuy nhiên, người phụ nữ đã lập gia đình trung bình ở Hoa Kỳ đã làm khoảng ba lần so với nấu ăn, dọn dẹp, giặt ủi, và làm việc nhà thường xuyên khác vào những năm 1990 khi người đàn ông đã kết hôn trung bình Công việc gia đình tiếp tục được phân chia theo giới tính, với phụ nữ

Trang 13

thực hiện phần lớn các nhiệm vụ lặp đi lặp lại công việc gia đình trong nhà và những người đàn ông thực hiện nhiệm vụ ngoài trời thỉnh thoảng”[38]

Trong nghiên cứu “Household Division of Labor: Is There Any Escape From

Traditional Gender Roles?” (Phân công lao động trong gia đình: Giải pháp nào cho

vai trò giới truyền thống?) [39] của Catherine Sofer & Sayyid Salman Rizavi, họ đã nghiên cứu và chỉ ra rằng việc chia sẻ công việc trong gia đình là đáng kể ổn định Tuy nhiên, bên cạnh đó việc bình đẳng vẫn chưa ở mức cân bằng Các nước như Na

Uy, Phần Lan hay Bỉ là các nước được coi là chia sẻ bình đẳng nhất Nhưng nước Pháp – một trong những nước phát triển nhất thế giới mà có tỷ lệ bất bình đẳng lại cao nhất (Đàn ông làm công việc gia đình chiếm 34%)

Will mott và Young (nước Anh) họ cho rằng “gia đình đối xứng” có sự bình đẳng hơn giữa vợ và chồng “Gia đình đối xứng” không còn tồn tại lối phân công

lao động cũ mà hoàn toàn ngược lại Phụ nữ làm việc của nam giới là kiếm tiền (trụ cột kinh tế) còn nam giới đảm nhận công việc gia đình như nội trợ, chăm sóc con cái…[7]

Trong tác phẩm “Giới tính thứ hai” của Simone De Beauvoir [36] (Theo bản dịch của Nguyễn Trọng Định và Đoàn Ngọc Thanh) tác giả giải thích nguyên nhân dẫn đến “ địa vị hạng 2” của phụ nữ, bà khẳng định rằng phụ nữ phải đảm nhận phần lớn các công việc nội trợ và bà cũng lên tiếng, đưa ra quan điểm bênh vực phụ

nữ nhằm xóa bỏ bất bình đẳng nam – nữ trên thế giới

Ở thập kỉ 90, Caralin O N Moser cho ra tác phẩm “Kế hoạch hóa về giới và

Hiên) Ngoài những khái niệm then chốt liên quan đến PCLĐ trong gia đình, cuốn sách này còn chỉ ra thực trạng PCLĐ theo giới ở nhiều xã hội khác nhau và mục

đích đòi hỏi sự công bằng, bình đẳng cho phụ nữ Bên cạnh đó, trong tác phẩm: “Sự

phát triển kinh tế

Hơn thế nữa, tác phẩm “Gender and Domestic life” [36] của Tony Chapma cho thấy cuộc sống của gia đình truyền thống ảnh hưởng tới vị trí, vai trò của người phụ

Trang 14

nữ Nghiên cứu còn chỉ ra rằng ở thời kì đó, phụ nữ luôn cảm thấy ngột ngạt bởi những khắt khe của gia đình truyền thống

2.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về các lĩnh vực như thực trạng bất bình đẳng giới trong gia đình; các nghiên cứu về phân công lao động trong gia đình và những công trình nghiên cứu CTXH liên quan đến bình đẳng giới Đối với các công trình nghiên cứu về thực trạng bất bình đẳng giới tiêu biểu như:

Trong cuốn “Nghiên cứu phụ nữ giới và gia đình”, tác giả Nguyễn Linh

Khiếu cho rằng “Quan hệ giữa vợ và chồng trong giai đoạn hiện nay đã thay đổi khá căn bản so với trước đây Trước đây chỉ có người chồng, những người đàn ông làm

ra kinh tế, nuôi sống gia đình thì ngày nay, người vợ, người phụ nữ đã trở thành một trong những người mang lại nguồn thu nhập chính cho kinh tế gia đình Chính vì thế trong gia đình hiện nay nhiều vấn đề quan trọng, nhất là trong lĩnh vực kinh tế đều có một sự bàn bạc, thống nhất, cùng quyết định của vợ và chồng.”[4] Điều tra của Nguyễn Linh Khiếu cho thấy các công việc trong gia đình chủ yếu vẫn do người phụ nữ làm Tuy nhiên, việc chia sẻ và tham gia làm các công việc gia đình của người đàn ông cũng chiếm tỷ lệ khá cao

Theo nghiên cứu Bình đẳng giới trong gia đình người Sản Chỉ, khảo sát tại xã Bộc Bố, huyện Pắc Nặm, tỉnh Bắc Kạn cho thấy kết quả khảo sát các hoạt động như các công việc nội trợ và chăm sóc con cái thì phụ nữ vẫn chiếm tỷ lệ cao (73,7%) và nam giới chiếm tỷ lệ thấp (26,3 %)[19] Tuy nhiên, cũng theo nghiên cứu, công việc mua bán hay sửa chữa các thiết bị trong gia đình thì người đàn ông chiếm tỷ lệ cao

hơn nữa giới (82,6 %) Hay trong nghiên cứu “Bình đẳng giới trong sự phân công lao

động ở các gia đình đô thị hiện nay” (khảo sát trên địa bàn Hà Nội) [44] cho thấy

73,3% cho rằng nữ giới biết cách lo toan chăm sóc gia đình hơn nam giới Điều này chứng tỏ sự bất bình đẳng trong việc phân công lao động trong gia đình còn tồn tại Khi nói đến các vấn đề giới ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Hữu Minh và Trần Thị Vân Anh cho rằng “Phụ nữ phải nhận mức lương thấp hơn nam giới cho cùng

Trang 15

một công việc và thường không có quyền bình đẳng đối với tài sản gia đình mặc dù

đã có những tiến bộ trong các điều luật liên quan”[10]

Trong cuốn “Xã hôi học” của Nguyễn Hữu Minh khi đề cập đến vấn đề phân

công lao động trong gia đình thì đưa ra các nhận định về sự phân công lao động bị ảnh hưởng bởi lối tư tưởng cũ “Ở nhiều xã hội, sự phân công lao động phổ biến theo giới là giao việc nấu ăn cho phụ nữ Người ta tin rằng phụ nữ có khả năng thiên bẩm về nấu ăn và nam giới không có khả năng sinh học đó.”[7] Theo đó, kết quả khảo sát của Nguyễn Hữu Minh cho thấy rằng những người phụ nữ làm việc 2 ca/1 ngày: Công việc ở cơ quan và công việc ở nhà Thời gian làm việc của họ gấp đôi thời gian của nam giới

Trong chương II, Phụ nữ Việt Nam trong thời đại Phong kiến của tác phẩm

“Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại” thì “Vai trò của người phụ nữ bây giờ chính

thức là vai trò của một người “nội tướng” Ngoài việc cùng với chồng lao động sản xuất để đảm bảo kinh tế cho cả gia đình, người phụ nữ còn phải quán xuyến hầu hết công việc của nhà mình: Cơm nước, dầu đèn, củi lửa, lợn gà, vườn tược, áo quần, chợ búa, vốn liếng, tiền nong…”[24]

Với tác phẩm “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam”, tác giả

Lê Thi cho rằng gia đình là một thiết chế của xã hội Chính vì vậy, gia đình cần thực hiện các chức năng như việc tái sản xuất sức lao động, duy trì nòi giống, nuôi dưỡng, giáo dục,chăm sóc gia đình, tái sản xuất của cải vật chất thì phụ nữ hầu hết phải thực hiện tất cả các chức năng đó Còn đối với nam giới, họ chỉ cần thực hiện chức năng sản xuất của cải vật chất và tái sản xuất sức lao động Như vậy, “Vai trò kép của phụ nữ, gánh nặng mang thai, sinh đẻ, nuôi con nhỏ và làm nội trợ gia đình

đè nặng lên đôi vai người phụ nữ, trong khi họ phải đảm nhận các khâu sản xuất, các ngành nghề không kém gì nam giới”[21]

Quỹ HealthBridge Canada – Viện nghiên cứu phát triển xã hội (2014) [18] cho

ra kết quả nghiên cứu: Sự PCLĐ theo giới gắn liền với các hình mẫu văn hóa – xã hội trong đó xác định chức năng, nhiệm vụ mà phụ nữ và nam giới sẽ thực hiện trong gia đình và ngoài xã hội Tuy nhiên phần nhiều của sự sắp xếp theo giới này

Trang 16

lại xuất phát từ những khái niệm sinh học giữa nam và nữ và luôn được hậu thuẫn, củng cố thông qua sự giáo dục của chế độ phụ quyền Hậu quả là xã hội và ngay cả bản thân người phụ nữ cũng tin rằng phụ nữ do có cơ thể yếu ớt nên sẽ đảm nhận những công việc nhẹ nhàng như nội trợ và chăm sóc gia đình mà không đòi hỏi từ người đàn ông

Bên cạnh các công trình nghiên cứu về bình đẳng giới trong gia đình, các công trình nghiên cứu về sự phân công lao động trong gia đình cũng được đề cập khá phổ biến trong một số đề tài

Đề tài “Phân công lao động theo giới trong gia đình nông dân” (1997) của Lê

Ngọc Văn đã chỉ ra mô hình phân công lao động theo giới ở khu vực nông thông trong thời kỳ kinh tế thị trường Với xu thế nam giới được khuyến khích chuyển sang các hoạt động tạo thu nhập tiền mặt, phụ nữ gắn liền với công việc tái sản xuất và sản xuất các sản phẩm tiêu dùng của gia đình Sự phân công lao động ấy đã tạo ra sự bất lợi cho phụ nữ trong nâng cao học vấn, sức khỏe và vị thế xã hội của họ.[25]

Tác giả Vũ Tuấn Huy và Deborah S.Carr với nghiên cứu “Phân công lao động

nội trợ trong gia đình” (2000) đã khẳng định sự bất bình đẳng trong phân công lao

động nội trợ - nơi phụ nữ đảm nhận chủ yếu Các tác giả cũng chỉ ra sự tác động của các yếu tố nghề nghiệp, việc làm, số con, định hướng tâm thế nghề nghiệp có liên quan đến văn hóa và xã hội hóa.[3]

Theo nghiên cứu “Phân công lao động theo giới trong gia đình người Gialai và

Cơho” [1] cho thấy ở hai cộng đồng này đều có một đặc điểm chung là việc chăm sóc

gia đình là công việc chính của phụ nữ Bên cạnh đó, họ vẫn phải tham gia sản xuất ở mức đáng kể, còn đàn ông thì chỉ đảm nhận công việc tham gia sản xuất

Trong Luận án tiến sỹ “Bình đẳng giới trong lao động gia đình dân tộc thiểu số

miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay” [22] (2017), kết quả nghiên cứu của luận án về

PCLĐ theo giới trong sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc cho thấy trong điều kiện kinh tế - xã hội còn chưa phát triển, trình độ văn hóa xã hội còn thấp, đời sống vô cùng khó khăn, người phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Hầu hết họ tham gia vào các hoạt động sản xuất, tạo ra thu nhập

Trang 17

kinh tế cho gia đình Tuy nhiên, ngoài công việc tham gia sản xuất để phát triển kinh

tế thì họ vẫn phải thực hiện phần đa các công việc nội trợ, chăm sóc gia đình

Theo nghiên cứu: “Bình đẳng giới trong sự phân công lao động ở các gia

đình đô thị hiện nay” [44] cho rằng ngày nay vị thế, vai trò của phụ nữ ngày càng

được nâng lên và đánh giá cao hơn trong gia đình cũng như ngoài xã hội Tuy nhiên vẫn còn tồn tại khá nhiều sự bất bình đẳng, điều này gây ra sự thiếu công bằng cho phụ nữ

Ngoài những công trình nghiên cứu về sự bất bình đẳng trong phân công lao động trong gia đình dưới góc nhìn của xã hội học, còn có công trình nghiên cứu dưới hướng tiếp cận của Công tác xã hội

Đề tài “Vận dụng phương pháp công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu tình

trạng bất bình đẳng giới đối với phụ nữ trong gia đình nông thôn tại xã Tân Lập – Sông Lô – Vĩnh Phúc hiện nay” [11] đưa ra thực trạng của việc bất bình đẳng giới đối

với phụ nữ tại một vùng nông thôn, đồng thời đưa ra giải pháp và vận dụng kiến thức công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu bất bình đẳng với phụ nữ

Tóm lại, tất cả các nghiên cứu trên đều có sự xuất hiện của sự phân công lao động trong các gia đình Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu, mỗi đề tài khoa học lại nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của vấn đề và đặc biệt, chưa có đề tài nào áp dụng tiến trình can thiệp công tác xã hội nhóm về giảm thiểu bất bình đẳng giới của việc phân công lao động trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện, Quốc Oai, thành phố Hà Nội Để góp phần vào công cuộc nghiên cứu này, tôi đã lựa chọn và thực hiện nghiên cứu trên Đề tài mà tôi lựa chọn đảm bảo rằng không trùng với các công trình nghiên cứu đã công bố Ngoài việc kế thừa, chọn lọc từ các thành tựu nghiên cứu đã có, đề tài đi sâu vào việc tìm hiểu cơ sở lý luận và phân tích thực trạng của việc phân công lao động trong gia đình viên chức Từ đó, áp dụng tiến trình can thiệp công tác xã hội nhóm nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội

3 Mục đích nghiên cứu

Trang 18

Đề tài phân tích được thực trạng của việc bất bình đẳng giới về phân công lao động và đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đó trong gia đình viên chức tại

xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội Từ đó ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm nhằm thúc đẩy bình đẳng giới về phân công lao động theo giới trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc PCLĐ trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội

- Nghiên cứu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến PCLĐ trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội

- Ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong PCLĐ trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố

Hà Nội Từ đó đưa ra các đề xuất áp dụng CTXH nhóm trong thúc đẩy bình đẳng giới trong gia đình

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác xã hội nhóm về giảm thiểu bất bình đẳng giới của việc phân công lao động theo giới trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: từ 6/2019 đến 12/2019

- Không gian nghiên cứu: Xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội

- Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung: Bình đẳng giới

về phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình hạt nhân là viên chức

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp luận nghiên cứu khoa học

(1) Phương pháp tiếp cận liên ngành

Đối với phương pháp này, nhằm liên kết với phương pháp giáo dục, tác động nhận thức cho các cặp vợ chồng trong vấn đề bình đẳng giới

Trang 19

(2) Phương pháp tiếp cận hệ thống

Đề tài dựa trên lý thuyết hệ thống để xem xét vấn đề PCLĐ trong gia đình như một vấn đề bình thường trong xã hội và coi đó như một bộ phận cần tồn tại trong hệ thống xã hội Do đó, trong quá trình phát triển xã hội cần phải chú ý đến các giải pháp, mô hình can thiệp côn tác xã hội nhóm nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong PCLĐ trong gia đình viên chức

(3) Phương pháp tiếp cận lý thuyết tập nhiễm xã hội

Theo lý thuyết này thì học tập về bản chất là một quá trình xã hội hóa mà con người lĩnh hội những hành vi xã hội thông qua ba con đường chính: bắt chước, tập nhiễm và học chính quy Đối với yếu tố giới, tập nhiễm xã hội là yếu tố ảnh hưởng

đến quá trình nhận thức và hành vi của vợ và chồng trong PCLĐ trong gia đình

6.2 Các phương pháp nghiên cứu

6.2.1 Phương pháp phân t ch tài liệu

- Mục đích: Hiểu được các nội dung liên quan đến bình đẳng giới, phương pháp can thiệp công tác xã hội nhóm của việc phân công lao động theo giới trong gia đình nói chung và các gia đình viên chức nói riêng

- Cách thực hiện: Phân tích, tổng hợp, hệ thống và khái quát hóa những nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến bình đẳng giới, bất bình đẳng giới và phương pháp can thiệp công tác xã hội nhóm của việc phân công lao động giữa vợ và chồng

trong gia đình

6.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Mục đích: Đề tài sẽ sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi để thu thập thông tin về thực trạng phân công lao động theo giới trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội Đồng thời, sử dụng bảng hỏi về áp dụng tiến trình can thiệp công tác xã hội nhóm trước và sau khi thực hiện phương pháp

- Đề tài sẽ tiến hành khảo sát với 300 khách thể là vợ/chồng của gia đình viên chức trên địa bàn xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội

Trang 20

6.2.4 Phương pháp xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học

Số liệu thu thập được sau khảo sát thực tiễn được xử lý bằng chương trình SPSS phiên bản 20.0 Các thông số và ph p toán thống kê được sử dụng trong nghiên cứu này là phân tích thống kê mô tả và phân tích thống kê suy luận

Các phương pháp diễn giải và mô tả số liệu cơ bản như tính điểm trung bình, tần suất/mức độ, tỉ lệ %

6.2.5 Phương pháp công tác xã hội nhóm

- Mục đích: Áp dụng tiến trình CTXH nhóm nhằm mục đích giáo dục nhận thức, thay đổi quan điểm về vấn đề bất bình đẳng giới trong PCLĐ trong gia đình Dựa vào kết quả khảo sát để đánh giá mức độ hiệu quả của tiến trình

- Tiến trình công tác xã hội nhóm gồm 4 bước như sau:

Bước 1: Thành lập nhóm

Bước 2: Khảo sát nhóm

Bước 3: Triển khai các hoạt động nhóm

Bước 4: Kết thúc nhóm

7 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng bất bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội diễn ra như thế nào?

- Sự bất bình đẳng giới trong PCLĐ trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc oai, thành phố Hà Nội chịu sự ảnh hưởng bởi những yếu tố nào?

- Ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm như thế nào để giảm thiểu bất bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội?

8 Giả thuyết nghiên cứu

Trang 21

- Thực trạng bất bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình viên chức có diễn ra tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội

- Các yêu tố ảnh hưởng đến việc bất bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình viên chức có diễn ra tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội là do: Yếu tố thuộc về quan điểm, tư tưởng lạc hậu, yêu tố về nếp sống truyền thống, nghề nghiệp, trình độ học vấn, chức vụ, thu nhập, số con và yếu tố sinh học

- Phương pháp công tác xã hội nhóm là phương pháp phù hợp nhằm giảm thiểu bất bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình viên chức có diễn

ra tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội

9 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận

Chương 2 Thực trạng của việc phân công lao động trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội

Chương 3 Ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm

Trang 22

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1 Phân công lao động theo giới

Giới

Theo Luật Bình đẳng giới của Quốc hội Khóa XI, kì họp thứ 10, ngày 29 tháng 11 năm 2006 thì “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”.[15]

Theo tác giả Lê Thị Quy (Giáo trình Xã hội học giới) thì “giới là mối quan hệ giữa nam và nữ được xác định theo văn hóa và cách thức mối quan hệ đó được xác định trong xã hội”.[14]

Theo Vũ Mạnh Lợi thì “Khái niệm giới chỉ những hành vi và những kì vọng

xã hội khác nhau mà xã hội gán cho nam và nữ mà một người học được qua quá trình trưởng thành và giao tiếp xã hội”[8]

Từ các khái niệm nêu trên, ta có thể kết luận rằng giới là một phạm trù khoa học xã hội được dùng để chỉ các vai trò, thái độ và giá trị của giới tính trong xã hội Giới bao gồm các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong môi trường xã hội cụ thể Giới được xác định trong mối quan hệ nam –

nữ về quyền lực, vị trí xã hội và phân công lao động

Giới tính: Giới tính chỉ đặc điểm sinh học của nam và nữ.[15]

Có nhiều cách hiểu khác nhau về bình đẳng giới Có quan điểm cho rằng, bình đẳng giới là sự ngang bằng nhau giữa nam giới và nữ giới, nam giới như thế nào thì

nữ giới cũng như vậy Đây là cách hiểu chưa đầy đủ về bình đẳng giới

Ngân hàng thế giới đưa ra định nghĩa về bình đẳng giới như sau: “ bình đẳng giới theo nghĩa bình đẳng về luật pháp, về cơ hội – bao gồm sự bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn nhân lực, vốn và các nguồn lực sản xuất khác, bình đẳng trong thù lao công việc và trong tiếng nói” Cách tiếp cận này không định nghĩa bình đẳng

Trang 23

giới theo sự bình đẳng về thành quả Một cách hiểu khác đầy đủ hơn và tương đối phổ biến thì bình đẳng giới là “sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa nữ giới và nam giới Nam giới và nữ giới đều có vị thế bình đẳng và được tôn trọng như nhau”

Dưới góc độ pháp lý, theo quy định tại Điều 5: Bình đẳng giới là việc nam, nữ

có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả và sự phát triển đó.[15] Đề tài của tôi dựa theo khái niệm này để thực hiện nghiên cứu

Bất bình đẳng giới: là sự phân biệt đối xử về vị trí, điều kiện và cơ hội bất

lợi cho nam, nữ trong việc thực hiện quyền con người, đóng góp và hưởng lợi từ sự phát triển của gia đình, của đất nước [10]

Hay nói cách khác, bất bình đẳng giới là sự đối xử khác biệt với nam giới và phụ nữ tạo nên các cơ hội khác nhau, sự tiếp cận các nguồn lực khác nhau, sự thụ hưởng khác nhau giữa nam và nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội

đức, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ.[15]

Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người Thực chất là sự vận động của sức lao động trong qua trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người Có thể nói lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế.[42]

Trong phạm vi đề tài, tôi tìm hiểu về lao động trong gia đình: là những công việc được thực hiện trong gia đình như công việc nội trợ, chăm sóc con cái, công việc trong dòng họ…

Trang 24

Phân công lao động

Trong Tác phẩm “Sự phân công lao động trong xã hội” (1893) của E

Durkheim cho rằng “Phân công lao động không chỉ có ý nghĩa thuần thúy kinh tế để làm giàu và nâng cao năng suất hiệu quả lao động mà còn thực hiện chức năng quan trọng về cuộc sống con người, đó là tạo ra sự đoàn kết, hội nhập trong xã hội hiện đại Theo E Durkheim thì yếu tố đặc trưng trong xã hội của sự đoàn kết có tổ chức

là sự phân công lao động Điều này có thể xảy ra trên cơ sở khác nhau về đặc điểm

tự nhiên của chủ thể lao động, cũng như đặc điểm của sự phát triển kinh tế xã hội”.[29]

Dựa trên quan điểm về phân công lao động và sự hiểu biết của mình, tôi có thể đưa ra nhận định về phân công lao động theo giới là sự phân chia lao động công bằng và phù hợp về tâm sinh lý giữa nam giới và nữ giới

Phân công lao động theo giới

Theo các nhà lý thuyết giới, “Phân công lao động theo giới hay hành động giới

là những chức năng xã hội, những khả năng và những cách thức của hành động thích hợp để các thành viên của một xã hội căn cứ vào khi họ là một phụ nữ hoặc là một nam giới”[35] hoặc “Phân công lao động là kết quả của sự phân định chức năng giữa hai giới trên cơ sở của sự thống nhất và sự khác biệt về mặt sinh học và những đặc trưng kinh tế - xã hội giữa hai giới.’’[9]

Trong đề tài này, tôi sử dụng khái niệm thứ hai vì ngoài việc tìm hiểu thực trạng phân công lao động trong gia đình mà tôi còn tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc phân công lao động trong gia đình như khái niệm đã nhắc tới là yếu tố sinh học và những đặc trưng kinh tế xã hội giữa hai giới

Gắn với phân công lao động theo giới là vai trò giới, hay nói cách khác, vai trò giới là kết quả của sự phân công lao động theo giới Có thể hiểu “ vai trò giới là vai trò mà con nguời được xã hội mong đợi thực hiện dù họ là đàn ông hay đàn bà trong

1 nền văn hóa riêng”[6]

Trang 25

1.1.2 Gia đình viên chức

Theo Luật Hôn nhân và Gia đình ban hành năm 2014, “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này.”[16]

Trong giáo trình “Xã hội học” của Phạm Tất Dong và Lê Ngọc Hùng thì “Gia

đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của các thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người”[2]

Trong tác phẩm “Gia đình” của hai nhà Xã hội học người Mỹ là F.W Burges

và H.J Locke định nghĩa “Gia đình là những người đoàn kết với nhau bằng những mối quan hệ hôn nhân huyết thống và việc nhận con nuôi tạo thành một bộ tộc đơn giản, tác động lẫn nhau trong vai trò tương ứng của họ (vợ, chồng, con…) tạo ra một nền văn hóa chung.”[32]

Từ các định nghĩa trên, ta có thể hiểu đơn giản gia đình là một dạng đặc biệt của thiết chế xã hội được hình thành bởi các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc nhận nuôi Các mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau và thể hiện vai trò tương ứng của họ như ông, bà, bố mẹ, con cái

Để phù hợp nội dung của đề tài, tôi lựa chọn khái niệm gia đình từ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để tiếp cận

Phân loại gia đình:

Dựa theo các cách tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học nghiên cứu về gia đình đã đưa ra các cách phân loại như: Gia đình truyền thống và gia đình hiện đại; Gia đình mở rộng và gia đình hạt nhân Trong đề tài của mình, tôi tiếp cận theo cách phân loại gia đình gồm gia đình mở rộng và gia đình hạt nhân

Trang 26

+ Gia đình mở rộng là gia đình có ít nhất ba thế hệ chung sống với nhau đó là ông bà, bố mẹ và con cái

+ Gia đình hạt nhân là gia đình chỉ có hai thế hệ chung sống với nhau đó là bố

Theo tìm hiểu, hiện nay chưa có một khái niệm cụ thể nào nói về gia đình viên chức Như vậy, từ khái niệm gia đình và khái niệm viên chức, trong đề tài của mình, tôi đưa ra nhận định của mình về gia đình viên chức là gia đình có vợ hoặc chồng, hoặc cả hai vợ chồng làm việc tại các đơn vị sự nghiệp theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật Hay nói một cách cụ thể, gia đình viên chức theo cách tiếp cận của đề tài

có thể là:

- Gia đình có vợ là viên chức

- Gia đình có chồng là viên chức

- Gia đình có cả vợ và chồng là viên chức

1.1.3 Phân công lao động trong gia đình viên chức

Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình viên chức Từ đó, tôi có thể đưa ra khái niệm phân công lao động trong gia đình viên chức là sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình có vợ hoặc chồng, hoặc cả hai vợ chồng là viên chức Sự phân công công việc có sự công bằng và phù hợp với đặc trưng tâm sinh lý của vợ và chồng

Trang 27

1.2 Công tác xã hội nhóm

1.2.1 Công tác xã hội

Theo Hiệp hội Quốc gia nhân viên công tác xã hội: Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ (Zastrow, 1996: 5) Công tác xã hội tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống (Zastrow, 1999: ) [40]

Các nhà nghiên cứu thuộc các ngành khoa học nhân văn đưa ra nhiều định

nghĩa mang giá trị khoa học cao hơn như: công tác xã hội là những hoạt động tương

tác, giáo dục hay phục vụ nhằm duy trì hoặc phát triển năng lực xã hội của cá nhân hoặc nhóm xã hội có những phương thức sinh tồn không còn phù hợp với các chuẩn

mực của địa phương. [40]

Dẫn theo giáo trình Nhập môn công tác xã hội[7]: Hiệp hội Công tác xã hội

quốc tế và các trường đào tạo công tác xã hội quốc tế (2012) thống nhất một định nghĩa về công tác xã hội như sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người Công tác xã hội sử dụng các học thuyết về hành vi con người

và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với với môi trường sống

Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh (trích từ tài liệu hội thảo 2004): Định nghĩa cổ điển: Công tác xã hội nhằm giúp cá nhân và cộng đồng TỰ GIÚP Nó không phải là một hành động ban bố của từ thiện mà nhằm phát huy sứ mệnh của hệ thống thân chủ (cá nhân, nhóm và cộng đồng) để họ tự giải quyết vấn đề của mình [40]

Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng

Trang 28

quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống

xã hội,công tác xã hội can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ [40]

Theo đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: Công tác xã hội góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến [23]

1.2.2 Công tác xã hội nhóm

 Công tác xã hội nhóm là phương pháp công tác xã hội nhằm giúp tăng

cường, củng cố chức năng xã hội của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm và khả

năng ứng phó với các vấn đề của cá nhân, có nghĩa là:

– Ứng dụng những kiến thức, kỹ năng liên quan đến tâm lý nhóm

– Nhóm nhỏ thân chủ có cùng vấn đề giống nhau hoặc có liên quan đến vấn đề – Các mục tiêu xã hội được thiết lập bởi nhân viên xã hội trong kế hoạch hỗ trợ thân chủ (cá nhân, nhóm, cộng đồng) thay đổi hành vi, thái độ, niềm tin nhằm giúp thân chủ tăng cường năng lực đối phó, chức năng xã hội thông qua các kinh nghiệm của nhóm có mục đích nhằm để giải quyết vấn đề của mình và thỏa mãn

nhu cầu.[41]

 Các mục tiêu của công tác xã hội nhóm:

– Đánh giá (thẩm định) cá nhân: về nhu cầu/khả năng/hành vi qua việc tự đánh giá của nhóm viên, đánh giá của nhan viên CTXH, đánh giá của bạn bè trong nhóm (nhóm trẻ em/người lớn phạm pháp, nhóm cha mẹ nuôi, trẻ em đường phố ) – Duy trì và hỗ trợ cá nhân: hỗ trợ cá nhân đương đầu với những khó khăn của cá nhân hay khó khăn trước hoàn cảnh xã hội (nhóm người khuyết tật, nhóm phụ huynh khuỵết tật )

– Thay đổi cá nhân: thay đổi từ hành vi cho đến phát triển nhân cách: kiểm soát xã hội (nhóm vi phạm luật pháp nhằm tránh tái phạm trong tương lai), xã hội

Trang 29

hoá (nhóm trẻ trong cơ sở tập trung học tập kỹ năng xã hội để sống tại cộng đồng), hành vi tương tác (nhóm huấn luyện để tự khẳng định), giá trị và thái độ cá nhân (nhóm sử dụng ma túy nhằm tác động đế giá trị và thái độ của họ, hoàn cảnh kinh tế (nhóm người thất nghiệp với mục đích tìm việc làm), cảm xúc và khái niệm về bản thân (nhóm phát triển lòng tự trọng, tăng năng lực), phát triển nhân cách

– Cung cấp thông tin, giáo dục (nhóm giáo dục sức khỏe, nhóm kỹ năng làm cha mẹ, nhóm tình nguyện viên )

– Giải trí (vui chơi để đền bù sự mất mát trong cuộc sống)

– Môi trường trung gian giữa cá nhân và hệ thống xã hội: nhóm bệnh nhân và bệnh viện

– Thay đổi nhóm và/ hoặc hỗ trợ: nhóm gia đình - cải thiện vấn đề truyền thông, nhóm trẻ phạm pháp - hướng hành vi tiêu cực sang những họat động tích cực

– Thay đổi môi trường: phát triển cộng đồng – nhóm ở cơ sở cải thiện chất lượng cuộc sống, nhóm đòi hỏi phương tiện cho con em phụ huynh lao động… – Thay đổi xã hội: Tăng nhận thức của cá nhân và tái phân phối quyền lực

(nhóm chính quyền địa phương).[41]

 Các loại hình công tác xã hội với nhóm:

– Nhóm giải trí: rèn luyện và phát triển nhân cách

– Nhóm giáo dục: Kiến thức và kỹ năng

Trang 30

1.2.3 Công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu bất bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình viên chức

Công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu bất bình đẳng giới trong PCLĐ trong gia đình viên chức được hiểu là phương pháp giúp tăng cường, củng cố kiến thức, kĩ năng về bình đẳng giới cho các cặp vợ chồng có vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng là viên chức thông qua các hoạt động nhóm Từ đó họ nhận thức đúng, đủ và thay đổi nhận thức của mình về vấn đề bất bình đẳng trong PCLĐ trong gia đình

Trong đề tài này, tôi khảo sát về thực trạng bất bình đẳng giới trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, từ đó áp dụng công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu thực trạng bất bình đẳng giới thông qua 4 nội dung chính như sau:

- Phân công lao động giữa vợ và chồng đối với các công việc nội trợ trong gia đình

- Phân công lao động giữa vợ và chồng đối với chăm sóc và giáo dục con cái

- Phân công lao động giữa vợ và chồng trong việc tham gia các hoạt động trong dòng họ và ngoài cộng đồng

- Phân công lao động giữa vợ và chồng trong việc quyết định các việc lớn trong gia đình

Từ 4 nội dung trên, tôi đưa ra bảng khảo sát đầu vào và đầu ra về nhận thức của các cặp vợ chồng về vấn đề bình đẳng giới Sau đó thực hiện các bước trong phương pháp công tác xã hội nhóm, từ đó rút ra kết luận về hiệu quả của việc vận dụng phương pháp công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu bất bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình viên chức tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội

1.2.4 Một số lý thuyết vận dụng trong công tác xã hội nhóm

 Thuyết vai trò

Lý thuyết vai trò là một quan điểm xã hội học và tâm lý học xã hội mà xem xét hầu hết các hoạt động hàng ngày để được diễn xuất trong các mục được xác định về mặt xã hội (ví dụ như, người mẹ, người quản lý, giáo viên) Mỗi vai trò xã

Trang 31

hội là một tập hợp các quyền, nghĩa vụ, kỳ vọng, định mức và hành vi mà một người phải đối mặt và thực hiện đầy đủ Mô hình này dựa trên quan sát rằng mọi người hành xử một cách dự đoán hành vi của một cá nhân là bối cảnh cụ thể, dựa trên vị trí xã hội và các yếu tố khác

Phân công lao động trong xã hội có những hình thức của sự tương tác giữa các

vị trí chuyên môn không đồng nhất mà chúng ta gọi là vai trò

Vai trò xã hội bao gồm "thích hợp" và "được phép" hình thức của hành vi, hướng dẫn bởi các chuẩn mực xã hội, đó là thường được biết đến và do đó xác định

kỳ vọng

Vai trò đang bị chiếm đóng bởi các cá nhân, những người được gọi là "diễn viên" Khi các cá nhân chấp nhận một vai trò xã hội (tức là, họ xem xét vai trò "hợp pháp" và "xây dựng"), họ sẽ phải chịu chi phí cho phù hợp với các chuẩn mực của vai trò và cũng sẽ phải chịu chi phí để trừng phạt những người vi phạm định mức vai trò Điều kiện thay đổi có thể làm cho một vai trò xã hội đã lỗi thời hoặc bất hợp pháp, trong đó có trường hợp áp lực xã hội có khả năng dẫn đến sự thay đổi vai trò.[43]

Sự phân công lao động theo giới trong gia đình hiện nay trong bối cảnh chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, do đó, nó không đơn thuần bị quy định bởi vị thế - vai trò cá nhân của mỗi cá nhân mà còn bị qui định bởi các yếu tố ở cấp độ vĩ mô như những biến đổi về chính sách phát triển kinh tế, cơ chế thị trường và những thay đổi trong hệ giá trị văn hoá, trong thiết chế xã hội, cơ cấu xã hội Với đề tài này, thuyết vai trò đóng vai trò vô cùng quan trọng, nhằm giải thích và nâng cao vai trò xã hội của cá nhân, từ đó có sự bình đẳng giới trong những hoàn cảnh nhất định, cụ thể hơn là vấn đề PCLĐ

 Thuyết hệ thống sinh thái

- Giải thích con người bằng cách mô tả các khía cạnh của cá nhân môi trường

- Thuyết hệ thống sinh thái cho rằng con người chủ động tham gia vào quá

trình phát triển và môi trường của họ luôn luôn thay đổi, bản thân thay đổi

- Cách thức, con người thuyết sinh thái nhận thức về kinh nghiệm sống sẽ ảnh

hưởng đến an sinh

Trang 32

- Thuyết sinh thái nhấn mạnh đến môi trường cuộc sống, những tương tác của

môi trường, vật chất đã ảnh hưởng đến con người ra sao.[46]

Lý thuyết này trú trọng đến các mối quan hệ giữa con người và môi trường để giải quyết vấn đề đang đối diện Từ thuyết hệ thông sinh thái này, nhân viên xã hội

có thể đánh giá môi trường sống như gia đình, bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp, họ hàng, nhằm hiểu về tình trạng, vị trí hiện tại trong môi trường sống của thân chủ Đối với thuyết này được áp dụng trong CTXH nhóm nhằm thu thập được những thông tin về môi trường xung quanh, nhất là môi trường làm việc nhóm Đồng thời, lý thuyết này còn giúp xác định được hoàn cảnh, truyền thống gia đình

và các yếu tố ảnh hưởng như thế nào đến việc hình thành lên nhận thức, tư tưởng,

quan điểm của mình về vấn đề bình đẳng giới trong PCLĐ trong gia đình

 Khái niệm về hành vi: là một chuỗi các hành động lặp đi lặp lại, là xử sự của con người trong 1 hoàn cảnh cụ thể, biểu hiện ra bên ngoài bằng lời nói, cử chỉ nhất định Hành vi có thể thuộc về ý thức, tiềm thức, công khai hay bí mật, và tự giác hoặc không tự giác Hành vi là một giá trị có thể thay đổi qua thời gian

Thuyết nhận thức – hành vi nghiên cứu, nhấn mạnh về cách thức con người hành động xuất phát từ sự hiểu biết và nhận thức của họ Nghiên cứu mối liên hệ giữa hành vi và nhận thức Cách tiếp cận của lý thuyết thể hiện qua việc nhân viên công tác xã hội sử dụng phương pháp tiếp cận nhận thức – tiếp cận xúc cảm Cách tiếp cận này dựa trên thuyết cho rằng việc thay đổi nhận thức sẽ dẫn đến thay đổi hành vi.[45] Mối quan hệ giữa nhân viên công tác xã hội với thân chủ trong lý thuyết trên mang tính chất là mối quan hệ tích cực như là điểm tốt trong quá trình tham vấn

Trang 33

Phương pháp lý thuyết nhận thức – hành vi chú trọng tới hành vi, nhận thức nhưng

là ở hiện tại (hoặc quá khứ), sau đó bằng cách tác động trực tiếp lên nhận thức lệch lạc của thân chủ, nhân viên công tác xã hội giúp thân chủ học hỏi tiếp thu dẫn đến thay đổi tạo ra những khuôn mẫu hành vi có kết quả

1.3 Biểu hiện của sự phân công lao động theo giới trong gia đình viên chức

1.3.1 Nhận thức về phân công lao động theo giới trong gia đình viên chức:

Hiện nay, Ở Việt Nam cũng như trên thế giới đang quan tâm tới vấn đề bình đẳng giới Công cuộc thực hiện bình đẳng giới đang được cải thiện trong mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó có sự phân công lao động theo giới trong gia đình Tuy nhiên, bên cạnh các cặp vợ chồng có những tư tưởng tiến bộ về bình đẳng giới, biết quan tâm và chia sẻ với vợ/chồng các công việc trong gia đình thì vẫn tồn tại những gia đình có lối tư tưởng cũ Cả nam và nữ đều cho rằng những công việc như nội trợ, chăm sóc con cái là thiên chức của người phụ nữ hay những người phụ nữ giỏi

là những người luôn làm tròn trách nhiệm với gia đình Tư tưởng này xuất phát từ Nho giáo Khổng Tử, đồng thời, xã hội cũng không mong đợi nam giới làm việc nhà Lối tư tưởng cũ này chịu sự tác động khá lớn từ phía gia đình Các cặp vợ chồng chịu sự tác động của gia đình mình, và những đứa con cũng chịu sự ảnh hưởng từ đó Nhưng điều này không chỉ tồn tại ở tư tưởng của nam giới mà nó còn thể hiện trong nhận thức và suy nghĩ của phụ nữ Họ cảm thấy hài lòng với cuộc sống của họ, họ không cần những người đàn ông giúp làm việc nhà mà họ nghĩ rằng

đó là trách nhiệm sứ mệnh của mình Không chỉ vậy, chính xã hội chúng ta cũng đang đẩy phụ nữ vào vòng quẩn quanh của công việc nhà với khẩu hiệu “Phụ nữ Việt Nam giỏi việc nước, đảm việc nhà” Xã hội đang cho rằng là phụ nữ thì phải giỏi việc nước, đảm việc nhà Vậy còn nam giới, họ được nằm ở đâu với hai trách nhiệm này? Thay vì đó sao không để là “Nam nữ Việt nam, giỏi việc nước, đảm

việc nhà”? Đó là những bất cập mà chính xã hội cũng đang thiếu xót

1.3.2 Phân công lao động trong gia đình viên chức theo các nhóm công việc:

Trên thực tế ta thấy, các công việc trong gia đình được hiểu là các công việc nội trợ, công việc chăm sóc và giáo dục con cái, công việc chăm sóc người ốm

Trang 34

trong gia đình, tham gia các công việc ngoài cộng đồng, họ hàng hay công việc tạo

ra thu nhập cho gia đình Tuy nhiên, để phù hợp với đề tài và phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi tiếp cận dưới 4 nhóm công việc là:

- Phân công lao động giữa vợ và chồng đối với các công việc nội trợ trong

gia đình

- Phân công lao động giữa vợ và chồng đối với chăm sóc và giáo dục con cái

- Phân công lao động giữa vợ và chồng trong việc tham gia các hoạt động

Trước đây, các công việc nội trợ được coi là các công việc của phụ nữ, nó được gắn quan niệm đó là thiên chức của người phụ nữ

Theo các báo cáo nghiên cứu về thực trang phân công lao động theo giới trong gia đình ở Việt Nam thì hầu hết người phụ nữ vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc nội trợ Sự tham gia của đàn ông chỉ là sự chia sẻ thứ yếu.Với bản tính cũng như những quan niệm cũ thì những người đàn ông khi kết thúc công việc ở cơ quan, có thể là họ đi nhậu cùng bạn bè, hoặc khi trở về nhà chỉ thực hiện những công việc cá nhân như tắm, chơi thể thao, xem ti vi, lướt web… mà ít ai dành thời gian đó để chia sẻ các công việc trong gia đình cùng người vợ của mình Những người đàn ông

họ đều nghĩ những công việc được cho là “cỏn con”, “không tên” và không được trả công ấy có thể thực hiện một cách đơn giản mà người phụ nữ không cần sự trợ giúp của người đàn ông Gánh nặng đè lên vai người phụ nữ, cùng một khung thời gian làm việc ngoài xã hội với chồng nhưng khi về nhà, họ phải dọn dẹp nhà cửa, nấu

Trang 35

cơm, giặt quần áo, rửa bát….còn chồng thì làm những gì mà mình thích Điều này ít

“đấng mày râu” nào có thể hiểu hoặc có thể họ hiểu nhưng chưa thay đổi được Song, Những năm qua, bình đẳng giới được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, đồng thời, trình độ học vấn của cả hai giới được nâng cao nên việc quan tâm, chia

sẻ và trách nhiệm của vợ/chồng trong các công việc nội trợ của gia đình cũng được nâng cao Phụ nữ ngày nay đang có mặt trong tất cả các hoạt động ngoài xã hội, chính vì vậy, việc phân công lao động trong gia đình là cần thiết và hợp lý

2) Phân công lao động giữa vợ và chồng đối với chăm sóc và giáo dục con cái Trong việc chăm sóc và giáo dục con cái bao gồm các công việc như cho con

ăn, ngủ, tắm cho con, dạy con học…

Ở nhóm công việc này, người chồng tỏ ra đã thực hiện nhiều hơn so với công

việc nội trợ Dù là vẫn thực hiện theo sự bị động (khi con cái quá quấy khóc hoặc

vợ nhờ) nhưng nó vẫn thể hiện sự hứng thú nhiều hơn là làm các công việc nội trợ

Để lựa chọn giữa việc nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa hay cho con ngủ, bế con đi chơi thì họ vẫn hứng thú trong việc chăm con Họ hứng thú hơn với các công việc đó cũng có thể là do họ muốn gần gũi với con hơn hoặc họ rất sợ làm các công việc nội trợ Tuy vậy, với một số gia đình, việc đốc thúc con học bài hay kèm cặp con học vẫn là người phụ nữ thực hiện nhiều hơn Môi trường gia đình rất quan trọng cho sự hình thành và phát triển của con người ngay từ khi lọt lòng, chính vì vậy, con người cần được chăm sóc cả về thể chất lẫn tinh thần để dảm bảo tốt nhất sự hình thành và phát triển Thế nhưng, vì một số lý do nào đó đã dẫn đến sự thiên lệch trong việc chăm sóc và giáo dục con cái giữa các cặp vợ chồng Họ cho rằng việc chăm con và nuôi dạy con tốt là trách nhiệm, nghĩa vụ và là thiên chức của người mẹ, người vợ trong gia đình Trẻ em sẽ phát triển tốt hơn nếu có được sự quan tâm, chăm sóc và đùm bọc của cả bố và mẹ

3) Phân công lao động giữa vợ và chồng trong việc tham gia các hoạt động trong dòng họ và ngoài cộng đồng

Công việc cộng đồng ở đây là những công việc mang tính tập thể như họp dân, hiếu, hỷ….Những công việc này thể hiện vị thế, địa vị xã hội của gia đình hay chính

Trang 36

là quyền lợi của mỗi người trong cộng đồng Người ta coi đó là công việc đại sự, là công việc của đàn ông, đó không phải chỗ dành cho đàn bà vì “đàn bà có biết gì đâu” nên sự phân công trong gia đình có sự chênh lệch

Trước đây, ở nhiều gia đình vẫn tồn tại suy nghĩ lạc hậu thì cho rằng người đàn ông có trình độ hơn phụ nữ và sẽ là người đại diện cho gia đình để tham gia các công việc cộng đồng Nhưng ngày nay xã hội phát triển, trình độ của phụ nữ cũng được nâng cao nên việc phân công tham gia các công việc cộng đồng được dựa theo nhiều yếu tố như thời gian hoặc tính chất của công việc cộng đồng

4) Phân công lao động giữa vợ và chồng trong việc quyết định các việc lớn trong gia đình

Việc ra quyết định trong các công việc gia đình: Việc ra quyết định trong các công việc gia đình được thể hiện ở quyền quyết định thuộc về người vợ hay người chồng về các vấn đề có liên quan đến cuộc sống gia đình như: quản lý kinh tế, mua sắm đồ đạc, quyết định số con,…

Trước đây, việc ra quyết định trong các gia đình của những công việc nhỏ như việc chi tiêu hằng ngày thì người vợ quyết định, còn các quyết định mang tính vĩ mô như mua sắm đồ đắt tiền, chuyển nhà mới…hay những quyết định liên quan đến xây dựng và đóng góp chính sách thì đều do người đàn ông – trụ cột trong gia đình quyết định Cũng vì điều đó mà sự tham gia của phụ nữ trong việc đóng góp chính sách còn hạn chế, dẫn đến những thiên lệch liên quan đến bình đẳng của phụ nữ

Đến ngày nay, các cặp vợ chồng, đặc biệt là các gia đình có trình độ học vấn cao thì họ sẽ cùng nhau bàn bạc và đưa ra các quyết định đó Tính bình đẳng đã được thể hiện trong việc bàn bạc giữa các cặp vợ chồng

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phân công lao động trong gia đình viên chức

Việc phân công lao động theo giới trong gia đình viên chức nói riêng cũng như việc phân công lao động theo giới trong gia đình nói chung chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố Các yếu tố đó bao gồm: Thu nhập của gia đình, tính chất công việc, quan điểm tư tưởng lạc hậu, nếp sinh hoạt truyền thống của gia đình, yếu tố sức khỏe, số con, chức vụ, trình độ học vấn

Trang 37

 Thu nhập

Thu nhập của hai vợ chồng ảnh hưởng đến sự phân công là vì nhiều tư tưởng cho rằng ai kiếm ít tiền hơn thì người đó phải lo công việc nhà Trước đây ở một số gia đình, họ cho rằng người kiếm được nhiều tiền sẽ không phải làm việc nhà, còn những người kiếm được ít hoặc không kiếm được tiền thì sẽ phải làm các công việc gia đình không tạo ra thu nhập đó để sự đóng góp cho gia đình của hai vợ chồng được ngang nhau Họ cho rằng đó là bình đẳng Ngày nay, các gia đình đã có sự thay đổi tiến bộ hơn, tuy nhiên vẫn ảnh hưởng bởi bản tính của những người đàn ông gia trưởng và những người phụ nữ có tư tưởng truyền thống phụ hệ

 Tính chất công việc

Mỗi nghề nghiệp có một đặc thù riêng nên thời gian dành cho mỗi công việc cũng khác nhau Viên chức bao gồm những nghề như giáo viên, bác sỹ, y tá, hộ lý….Và đặc thù của mỗi công việc khác nhau Nhiều nghề nghiệp đòi hỏi thời gian làm việc của họ thường cao hơn giờ làm hành chính Chính vì vậy, yếu tố này cũng ảnh hưởng đến việc phân công lao động trong gia đình và trong mỗi gia đình cần có

sự linh hoạt, tránh sự dập khuôn, máy móc

Điều này cho thấy đây chính là định kiến về vai trò, trách nhiệm của phụ nữ và nam giới Nó ko chỉ có trong nhận thức của nam giới mà còn có trong chính nhận thức của nữ giới Trước đây, do ảnh hưởng của lối tư tưởng, quan niệm cũ nên họ cho rằng các công việc gia đình là bổn phận và nghĩa vụ của người phụ nữ, người chồng không nên làm vì sẽ khiến cho người đàn ông thấp kém với xã hội Người đàn ông chỉ cần là trụ cột cho gia đình, và kiếm được nhiều tiền Tư tưởng này không chỉ tồn tại trong suy nghĩ của nam giới mà còn có ở phụ nữ Những người phụ nữ cũng ngại khi nhờ chồng làm các công việc trong gia đình Chính điều này

đã gián tiếp đẩy nam giới là những con người thiếu trách nhiệm trong công việc gia đình Chính vì vậy, cuộc cách mạng bình đẳng giới, thay đổi nhận thức cần có sự hợp tác của cả hai phía Nhận thức của vợ chồng như vậy cũng ảnh hưởng một phần nào đó từ môi trường sống, đặc biệt là gia đình Tư tưởng đó mang nhiều đặc trưng

Trang 38

của gia đình truyền thống Họ cho rằng “Vắng đàn ông quạnh nhà, vắng đàn bà quạnh bếp” Nghiễm nhiên tất cả các công việc nhà là của phụ nữ còn các công việc lớn ngoài xã hội là của đàn ông

 Nếp sống sinh hoạt truyền thống của gia đình

Những người vợ, người chồng có quan niệm về vấn đề giới một phần do ảnh

hưởng của truyền thống gia đình từ thế hệ trước Do sự dạy dỗ và giáo dục của bố

mẹ nên ảnh hưởng đến việc PCLĐ trong gia đình

 Yếu tố sức khỏe

Việc phân chia công việc trong gia đình cần quan tâm đến yếu tố sinh học của

vợ và chồng Bình đẳng trong phân công lao động cần phải quan tâm đến việc phân công các công việc sao cho bình đẳng và đảm bảo sự phù hợp với đặc điểm sinh lý của nam giới và nữ giới Ta có thể lấy ví dụ như sức lực của một người nam giới không thể so sánh và đòi bình đẳng với nữ giới trong những công việc sử dụng nhiều đến sức lao động

 Số con

Số con trong gia đình ảnh hưởng đến sự phân công lao động trong gia đình Điều này được thể hiện ở chỗ nếu gia đình đông con thì thời gian dành cho các hoạt động về chăm sóc và giáo dục con cái sẽ tăng lên, điều đó đồng nghĩa với việc cần phải điều chỉnh sự phân công lao động giữa vợ và chồng

vi Trên thực tế, những người có trình độ học vấn thấp, họ sẽ nhận thức theo quan điểm truyền thống nhiều hơn những người có trình độ học vấn cao Từ nhận thức đó

đã ảnh hưởng tới việc phân công lao động trong gia đình, đặc biệt là gia đình viên

Trang 39

chức sẽ có sự chênh lệch về trình độ học vấn giữa vợ và chồng Hầu hết những người làm viên chức đều có lối tư tưởng, suy nghĩ tiến bộ hơn so với những người không phải là viên chức

Trên đây là toàn bộ những yếu tố ảnh hưởng đến việc phân công lao động trong gia đình nói chung Với mỗi công việc xã hội của vợ hoặc chồng có tính chất khác nhau thì việc phân công lao động trong gia đình phải được phân chia một cách linh hoạt và phù hợp, yếu tố được thể hiện chủ yếu là thời gian Phân công lao động dựa trên quỹ thời gian của vợ hoặc chồng dành cho công việc xã hội Từ đó đánh giá sự cân bằng về thời gian nghỉ ngơi và thời gian làm việc của mỗi giới để có sự bình đẳng

Tiểu kết chương 1:

Chương 1 trình bày những nội dung khái quát nhất về cơ sở lý luận của việc phân công lao động theo giới trong gia đình Cụ thể đó là hệ thống các khái niệm công cụ như: Khái niệm bình đẳng giới; Bất bình đẳng giới; Phân công lao động; Phân công lao động trong gia đình; Công tác xã hội nhóm; Công tác xã hội nhóm nhằm giảm thiểu bất bình đẳng giới trong phân công lao động trong gia đình viên chức Một số lý thuyết vận dụng trong công tác xã hội nhóm, biểu hiện của sự phân công lao động theo giới cũng như những yếu tổ ảnh hưởng đến việc phân công lao động trong gia đình tại xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội

Trang 40

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG CỦA VIỆC PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG TRONG

GIA ĐÌNH VIÊN CHỨC TẠI XÃ CỘNG HÒA,HUYỆN QUỐC OAI,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Mô tả địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Xã Cộng Hòa nằm ở phía Đông Nam huyện Quốc Oai, cách trung tâm huyện 5

Km và cách Thành phố Hà Nội 20km về phía Đông Về phía Bắc, xã Cộng Hòa giáp với huyện Hoài Đức, phía Nam giáp với huyện Chương Mỹ, phía Tây giáp với

xã Đồng Quang và phía Đông giáp với xã Tân Hòa

Địa hình tương đối bằng phẳng, địa hình được chia thành 02 vùng gồm: Vùng đồng và vùng bãi, có 2 đồi 60 và 80

Cũng như các địa phương khác trong huyện Quốc Oai, Cộng Hòa thuộc vùng nhiệt đới gió mùa và có 4 mùa rõ rệt với nhiệt độ không khí bình quân năm là gần

23 độ C, trong năm nhiệt độ thấp nhất trung bình 8-10 độ C (vào tháng 1), nhiệt độ cao nhất trung bình 38 - 40 0 C Độ ẩm không khí trung bình là 86%, cao nhất 94%

và thấp nhất là 31% Về lượng mưa bình quân năm khoảng 1.600 – 1.800 mm, lượng mưa cao nhất là 2.497 mm và thấp nhất là 709 mm Tổng số ngày nắng trung bình năm là 1464 giờ Tốc độ gió trung bình mùa đông là 2.8m/s, tốc độ gió mùa hè

là 2.2m/s và hướng gió chủ đạo mùa hè là hướng Đông-Nam

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Dân cư của xã Cộng Hòa được bố trí tại 6 thôn, với tổng số 1.828 hộ và 7.381 nhân khẩu; Số lao động trong độ tuổi là 4.255 người, chiếm 57,64% dân số

Ngày đăng: 09/02/2021, 23:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w