ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN --- HỒ VĂN TRÃI CÔNG CHÖNG ĐBSCL VỚI CHƯƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ TRÊN SÓNG PHÁT THANH CỦA CÁC ĐÀI PT-TH ĐỊA PHƯƠNG LUẬN V
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
-
HỒ VĂN TRÃI
CÔNG CHÖNG ĐBSCL VỚI CHƯƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ TRÊN SÓNG PHÁT THANH CỦA
CÁC ĐÀI PT-TH ĐỊA PHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Vĩnh Long - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
CÁC ĐÀI PT-TH ĐỊA PHƯƠNG
Chuyên ngành: Báo chí học định hướng ứng dụng
Mã số : 8320101.01(UD)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Chủ tịch Hội đồng chấm luận văn Người hướng dẫn khoa học thạc sĩ khoa học
PGS.TS Đặng Thị Thu Hương TS Trần Thị Tri
Vĩnh Long - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn“Công chúng ĐBSCL với chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-TH địa phương” là công trình
nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn tận tình, trách nhiệm của TS Trần Thị Tri, các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, những kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được trích dẫn rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu trách nhiệm đối với luận văn của mình
Tác giả luận văn
Hồ Văn Trãi
Trang 42
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới TS Trần Thị Tri, giảng viên hướng dẫn luận văn đã tận tình định hướng, chỉ dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tập thể các thầy cô giáo Khoa Báo chí- Truyền thông, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học QGHN; cùng các thầy
cô giáo đã tham gia giảng dạy trong suốt thời gian khóa học cao học, để giúp tôi có được kiến thức, kinh nghiệm thực hiện đề tài này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến lãnh đạo các Đài PT-TH Vĩnh Long, Kiên Giang và Bạc Liêu, các anh, chị BTV và các bạn đồng nghiệp cũng như công chúng đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn
Trang 5
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN
QUAN TỚI CÔNG CHÖNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT
THANH VĂN NGHỆ
15 1.1 Một số khái niệm
1.2 Một số vấn đề lý luận về công chúng phát thanh
1.3 Đặc điểm vai trò của công chúng các chương trình PTVN
tại ĐBSCL
1.4 Yêu cầu đối với PTVN nhằm phát triển công chúng mảng
VN tại ĐBSCL
Tiểu kết chương 1
Chương 2: KHẢO SÁT CÔNG CHÚNG ĐBSCL VỚI
CHƯƠNG TRÌNH VĂN NGHỆ TRÊN SÓNG PHÁT THANH
CỦA CÁC ĐÀI PT-TH ĐỊA PHƯƠNG
2.2 Nội dung và hình thức thể hiện các chương trình văn nghệ
được khảo sát
42
45
Trang 6TH ĐỊA PHƯƠNG KHU VỰC TÂY NAM BỘ 86
3.1 Các vấn đề đặt ra đối với việc thu hút, phát triển công chúng 86 3.2 Các giải pháp để thu hút và mở rộng các đối tượng phục vụ của PTVN
Trang 84
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.2: Phương tiện nghe Đài của công chúng ĐBSCL 52
Bảng 2.21: Yêu cầu, mong muốn đối với chương trình văn nghệ 68
Trang 9Từ thực tế trong đời sống hiện đại con người vốn bận rộn và căng thẳng thì các chương trình văn nghệ ngày càng được quan tâm, có vị thế quan trọng, trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa, tinh thần của con người Văn nghệ còn là một hình thức để phản ánh hiện thực đời sống xã hội, tư tưởng, tình cảm của con người đối với môi trường xã hội Nếu như báo truyền hình mạnh về các chương trình vui chơi, giao lưu; báo in mạnh về truyện cười, câu đố vui, tranh biếm họa thì báo phát thanh
có thế mạnh trong việc đem lời thoại và âm nhạc đến với con người, mang lại sự thư giãn, đẩy lùi căng thẳng, tái tạo sức lao động, làm giàu đời sống tinh thần của công chúng
Trong nhiều năm qua, đời sống văn hóa, văn nghệ ĐBSCL có nhiều khởi sắc Người dân đã có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận, tham gia và thưởng thức các loại hình văn học nghệ thuật, vui chơi giải trí thông qua nhiều hình thức, trong đó có các chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh Với tư cách
là một kênh thông tin văn hóa, giải trí lành mạnh, trong thời gian qua, sóng phát thanh của các Đài PT-TH trong khu vực đã mang đến công chúng ĐBSCL nhiều món ăn tinh thần bổ ích, đa dạng, phong phú về nội dung và
Trang 107
hình thức thể hiện Công chúng có nhiều cơ hội tham gia các chương trình âm nhạc tương tác trực tiếp như: Quà tặng âm nhạc, Ca cổ theo yêu cầu, Tiểu phẩm, Câu chuyện truyền thanh, Đọc truyện đêm khuya, ĐCTT, Sân khấu cải lương… mang nhiều sắc thái riêng, đáp ứng đời sống tinh thần, nhu cầu giải trí của đông đảo công chúng khu vực
Cũng như một tờ báo hay một chương trình truyền hình, một chương trình phát thanh, để ra đời, trước hết phải dựa trên nhu cầu công chúng Việc thiết lập nội dung, hình thức, thời lượng, thời điểm phát sóng của chương trình phát thanh cũng đều cần phải căn cứ vào nhu cầu, mong muốn, đặc điểm, sở thích của công chúng Mỗi chương trình phát thanh nhằm phục vụ một nhóm đối tượng thính giả nhất định Công chúng là yếu tố quyết định đối với thành công của các chương trình Công chúng còn là người tiếp nhận và đánh giá, thẩm định chất lượng của các chương trình phát thanh Công chúng
là yếu tố quyết định đối với thành công của các chương trình Tuy nhiên, tại khu vực Tây Nam bộ chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về thói quen, sở thích, mối quan tâm của công chúng nghe Đài đối với các chương trình văn nghệ trên các Đài địa phương Các chương trình PTVN được sản xuất hầu hết chưa dựa trên nghiên cứu công chúng nên chưa thật sự đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng cũng như những nhận xét, đánh giá của công chúng về chất lượng nội dung và hình thức thể hiện Đặc biệt, công chúng hiện nay được tiếp cận nhiều nội dung văn nghệ tràn ngập trên không gian mạng và các hoạt động văn nghệ, giải trí trên thực tế cũng diễn ra với tần suất lớn, họ có nhiều
sự lựa chọn cùng với các thiết bị nghe nhìn hiện đại Cùng với đó là sự phát triển nhanh như vũ bão về công nghệ và sự cạnh tranh để thu hút công chúng giữa các loại hình báo chí, những tác phẩm PTVN sản xuất theo truyền thống không còn thu hút sự theo dõi và tham gia của người nghe Thực tế này đòi hỏi chương trình PTVN cần xác định đối tượng công chúng và mục đích của
Trang 118
chương trình để từ đó định hướng những công việc phải làm, sản xuất ra những chương trình văn nghệ thu hút đông đảo thính giả, đi vào lòng người nghe Vì vậy việc nghiên cứu công chúng và những giải pháp phát triển, thu hút công chúng đang là một vấn đề cấp bách để làm căn cứ, hoạch định hoạt động của các chương trình PTVN trên nguyên tắc xác định rõ công chúng của mình là ai, họ mong muốn gì, hy vọng gì và chờ đợi điều gì từ phía các Đài PT-TH Từ đó có phương án, kế hoạch, phục vụ công chúng của mình một
* Nhóm các công trình nghiên cứu về công chúng báo chí
- Năm 1998, Trần Hữu Quang tiến hành bảo vệ Luận án Tiến sĩ Xã hội
học "Truyền thông đại chúng và công chúng - trường hợp thành phố Hồ Chí Minh” Luận án là công trình mang tính đại diện và nghiên cứu công chúng
truyền thông, mức độ và cách thức tiếp cận các phương tiện truyền thông đại chúng của người dân thành phố Hồ Chí Minh, phân tích tương quan giữa đọc báo, xem truyền hình và nghe Đài phát thanh, "các trục nội dung thường được theo dõi", "các mô thức tiếp nhận truyền thông đại chúng", "sự tác động của một số nhân tố", những luận giải khoa học từ kết quả điều tra xã hội học
- Ở công trình “Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” năm 2006,
tác giả Nguyễn Văn Dững chủ biên, với phương pháp tiếp cận hệ thống, các tác giả đề cập vấn đề nghiên cứu công chúng - nhóm đối tượng trong mối quan hệ một chu trình truyền thông, phân tích nội dung của nghiên cứu ban đầu về công chúng, gồm ba bình diện, các bước tiến hành và phương pháp nghiên cứu
Trang 12sở kết quả nghiên cứu, luận án dự báo một số xu hướng vận động của nhu cầu
và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động báo chí
- Bàn luận về công chúng báo chí - truyền thông trên bình diện lý thuyết xã hội học công chúng, tác giả Mai Quỳnh Nam có nhiều bài viết về lý luận và tác động của truyền thông đại chúng đối với đời sống xã hội Cụ thể là
các bài nghiên cứu: “Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội” - Tạp chí Xã hội học số 1 năm 1996, “Về đặc điểm và tính chất của giao tiếp đại chúng” - Tạp chí Xã hội học số 2 năm 2000, “Về vấn đề nghiên cứu hiệu quả của truyền thông đại chúng” - Tạp chí Xã hội học số 4 năm 2001, “Xã hội hóa và truyền thông đại chúng” - Tạp chí nghiên cứu con người số 6 năm 2010
* Nhóm công trình nghiên cứu về phát thanh và công chúng phát thanh:
- Sách chuyên luận “Nghề báo nói” của tác giả Nguyễn Đình Lương do
Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin ấn hành năm 1993 Nội dung sách gồm bảy phần, trong đó đã đề cập một cách tổng quát về đặc trưng, phương pháp, thể tài và những vấn đề thuộc về nguyên lý, kỹ năng và quy trình nghề báo phát thanh; phát thanh với thính giả v.v
- Giáo trình “Báo chí phát thanh” do 13 tác giả ở Phân viện Báo chí và
Tuyên truyền và Đài TNVN viết (Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin ấn hành năm 2002) có tổng cộng 20 chương, đề cập một cách khá toàn diện về những vấn đề của phát thanh Việt Nam hiện đại
- Sách “Lý luận báo phát thanh” của Đức Dũng (Nhà xuất bản Văn hoá
- Thông tin ấn hành năm 2003) gồm 9 chương, trong đó đề cập đến những vấn
đề của đặc trưng loại hình và các thể loại báo phát thanh
Trang 139
- Cuốn Báo phát thanh -lý thuyết và kỹ năng cơ bản của TS Đinh Thị
Thu Hằng bàn về phương thức sản xuất chương trình phát thanh trực tiếp trong tương quan so sánh với phương thức sản xuất chương trình phát thanh truyền thống, đồng thời chỉ ra những yêu cầu của phương thức này
- Cuộc điều tra xã hội học của Đài TNVN và Ban Tư tưởng- Văn hoá Trung ương (2001), tiến hành trên 30 tỉnh, thành phố trong cả nước, cho thấy, mức độ, cách thức nghe Đài của thính giả, thay đổi theo giới tính, độ tuổi, mức sống, nơi sống, học vấn Tại mỗi tỉnh, thành phố điều tra những lý do thính giả không nghe Đài, những đánh giá chất lượng, nguyện vọng và đề xuất của thính giả
- Sách“Phương pháp điều tra thính giả” năm 2003 của Đài TNVN tập
hợp một số chuyên luận của Nguyễn Đình Lương, Nguyễn Văn Dững, Dương Xuân Sơn, Phạm Chiến Khu vừa nêu rõ vai trò của điều tra dư luận xã hội,
dư luận thính giả, vừa đề cập một số vấn đề về công chúng, lý luận về phương pháp và ngôn ngữ điều tra thính giả
- Sách “Báo Phát thanh” năm 2002 và sách “Công chúng phát thanh”
của tác giả Nguyễn Văn Dững có định nghĩa khái niệm công chúng, các loại công chúng báo chí, vai trò công chúng, các nội dung và phương pháp nghiên cứu công chúng
* Nhóm các công trình nghiên cứu về văn hóa- văn nghệ ĐBSCL:
- Sách “Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ”do Trần Ngọc Thêm
chủ biên năm 2013, NXB Văn hóa- Văn nghệ;
- Sách “Văn minh miệt vườn” của nhà văn Sơn Nam, 1992, NXB Văn học; Sách “Đồng Bằng Sông Cửu Long – Nét sinh hoạt xưa và Văn minh miệt vườn” của Sơn Nam, 1998, NXB Trẻ;
- Sách “ĐBSCL qua vài nét văn hóa miệt vườn” của tác giả Nguyễn
Văn Trần, 2000, NXB Văn hóa- Văn nghệ;
Trang 1410
- Công trình nghiên cứu “Dân ca Cửu Long” của các tác giả Lư Nhất
Vũ- Nguyễn Văn Hòa- Lê Giang- Thạch An, Sở VHTT Cửu Long ấn hành năm 1986;
- Sách “Ca nhạc cổ truyền”, Lê Văn Ngưu biên soạn, NXB Văn nghệ
TPHCM, 1995;
Các sách và công trình trên nghiên cứu một cách toàn diện về ĐBSCL qua nét sinh hoạt truyền thống và nền văn minh sông nước, những giá trị văn hóa tinh thần của một bộ phận người đã tạo nên diện mạo của một vùng đất này; Các giải pháp khắc phục thực trạng đời sống văn hóa, văn nghệ trong hiện tại, từng bước củng cố, xây dựng chiến lược phát triển con người trên cơ
- Luận văn thạc sĩ của Trần Hoàng Kiệm chuyên ngành báo chí học,
Học viện Báo chí tuyên truyền Hà Nội (2015), “Đổi mới phương thức sản xuất chương trình phát thanh trực tiếp của Đài Phát thanh -Truyền hình Vĩnh
Long hiện nay” Trên cơ sở phân tích, đánh giá khách quan, luận văn khảo sát
một cách có hệ thống về phương thức sản xuất chương trình phát thanh trực tiếp của Đài PT-TH Vĩnh Long
- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Minh Diễm chuyên ngành báo chí
học, Học viện Báo chí tuyên truyền Hà Nội (2009),“Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh cấp tỉnh khu vực Bắc Sông Hậu, ĐBSCL” Đây là đề
tài khảo sát một cách có hệ thống về chất lượng các chương trình phát thanh cấp tỉnh khu vực Bắc Sông Hậu, ĐBSCL, là bức tranh thực tế sinh động về các chương trình phát thanh Đài tỉnh Bắc Sông Hậu có thể tạo ra những so
Trang 1511
sánh cần thiết cho các Đài ở khu vực này có cơ sở tham khảo, đối chiếu và vận dụng để nâng cao chất lượng chương trình của mình
- Luận văn thạc sĩ báo chí học của Bùi Trọng Điển, Học viện Báo chí
và tuyên truyền (2015), “Nghiên cứu nâng cao đặc trưng văn hóa miệt vườn sông nước Cửu Long trong các chương trình phát thanh của cơ quan thường trú khu vực ĐBSCL” Luận văn đã chỉ rõ những nét đặc trưng cơ bản của văn
hóa miệt
vườn sông nước Cửu Long để xây dựng các sản phẩm phát thanh, chương trình phát thanh tương thích, phù hợp hơn với văn hóa đặc trưng của người dân Nam Bộ của cơ quan thường trú khu vực ĐBSCL nói riêng và Đài TNVN nói chung
Các tài liệu, công trình nghiên cứu được tác giả luận văn tham khảo đã nêu ra những vấn đề nghiên cứu công chúng trong mối quan hệ một chu trình truyền thông, đi sâu phân tích, tìm hiểu về đặc điểm, nhu cầu, mối quan hệ, thói quen, cách thức tiếp cận thông tin của công chúng đối với báo chí và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng chương trình, đáp ứng nhu cầu xem truyền hình, nghe phát thanh và đọc báo của công chúng Tuy nhiên, hiện chưa có công trình nào nghiên cứu về công chúng ĐBSCL với chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh, đây vẫn còn là một đề tài đang bỏ ngỏ Do đó, bản thân nhận thấy cần phải tiến hành nghiên cứu, khảo sát mức độ thưởng thức, khả năng đáp ứng và quá trình tham gia, phản hồi của công chúng đối với các chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-TH khu vực ĐBSCL Từ kết quả trên, luận văn sẽ nhận diện được công chúng của chương trình, từ đó góp phần vào việc nâng cao hiệu quả phát sóng các chương trình văn nghệ phục vụ tốt hơn nhu cầu công chúng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 1612
Trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến công chúng, vai trò, đặc điểm, cách thức tìm hiểu về thói quen, nhu cầu, sở thích, cách thức tiếp cận công chúng và thu hút công chúng, luận văn tiến hành khảo sát công chúng các chương trình PTVN ở ĐBSCL để từ đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị mang tính khả thi cho việc đổi mới, nâng cao chất lượng chương trình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thưởng thức văn nghệ và phát triển, mở rộng công chúng văn nghệ ở khu vực ĐBSCL
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, tác giả luận văn thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về công chúng phát thanh, xây dựng khung lý thuyết để làm cơ sở cho việc khảo sát;
- Mô tả, khảo sát và phân tích làm rõ được thực trạng tiếp nhận chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của công chúng khu vực ĐBSCL; Cách thức các Đài PT-TH tiếp cận, thu hút công chúng;
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút, phát triển công chúng với các chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-TH địa phương khu vực Tây Nam bộ
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là công chúng ĐBSCL, các chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-TH địa phương
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu là các nhóm công chúng ĐBSCL đang sinh sống
và làm việc tại khu vực thành thị và nông thôn các tỉnh trong diện khảo sát; Các chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh được nhiều người yêu thích của các Đài PT-TH Vĩnh Long, Kiên Giang và Bạc Liêu (Quà tặng âm nhạc,
Trang 1713
ca cổ theo yêu cầu, Đờn ca tài tử Nam bộ, Câu lạc bộ sân khấu, Câu chuyện truyền thanh, Đọc truyện đêm khuya)
Thời gian khảo sát từ tháng 06 đến 12/2019
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tiến hành thực hiện luận văn sẽ sử dụng tổng hợp các
phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích, khảo sát tài liệu: được sử dụng để tiếp cận các giáo trình và các sách chuyên khảo, các tài liệu, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài và một số tài liệu liên quan đến báo chí phát thanh, từ đó rút ra những vấn đề lý luận cần thiết
- Phương pháp điều tra bằng bằng hỏi: được thực hiện với 300 phiếu phát đến thính giả chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh ở một số địa phương ĐBSCL thuộc 3 tỉnh Vĩnh Long, Kiên Giang và Bạc Liêu nhằm thu thập, phân tích một cách có định lượng ý kiến của thính giả thuộc các tầng lớp nhân dân đối với chương trình PTVN
- Phương pháp PV sâu: tác giả PV 9 đối tượng là lãnh đạo các Đài
PT-TH, lãnh đạo phòng phát thanh (văn nghệ - giải trí) và các BTV văn nghệ, nhằm thu thập tìm hiểu sâu về các biện pháp để thu hút công chúng văn nghệ; Việc đổi mới nội dung, hình thức chương trình PTVN; Làm thế nào để thỏa mãn nhu cầu công chúng; Quan điểm của họ về sức hấp dẫn của chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh trong sự cạnh tranh ở lĩnh vực nghe nhìn; Nhận xét về tầm quan trọng của ý kiến công chúng trong việc đổi mới chương trình PTVN
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn làm sâu sắc thêm mảng lý luận về công chúng văn nghệ phát thanh và góp phần bổ sung, làm phong phú hơn những luận điểm khoa học
Trang 18đề tài này cũng là cơ hội để tác giả luận văn có thể nâng cao kiến thức sau thời gian học cao học Báo chí tại Trường Đại học KHXHNV Hà Nội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan tới công chúng của các chương trình phát thanh văn nghệ
Chương 2 Khảo sát công chúng ĐBSCL với chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-TH địa phương
Chương 3 Một số giải pháp, kiến nghị nhằm thu hút, phát triển công chúng với các chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-TH địa phương khu vực Tây Nam bộ
Trang 19Trong truyền thông: “Công chúng nói chung có thể được hiểu là những người tiếp nhận và được các sản phẩm báo chí tác động, hoặc hướng vào để tác động” [13, tr.397]
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững tác giả quyển Báo chí và Dư luận xã hội (2012) thì: Công chúng là đông đảo người trong mối quan hệ với “người diễn thuyết”, người biễu diễn, với tác giả, tác phẩm báo chí” [13, tr.398] Còn trong quyển Cơ sở lý luận báo chí (NXB Lao động 2015), tác giả Nguyễn Văn Dững cho rằng: “Công chúng là quần thể cư dân hay nhóm đối tượng trực tiếp hay gián tiếp tiếp nhận thông tin hoặc chịu ảnh hưởng từ tác động của thông tin báo chí” [12, tr.57]
1.1.1.2 Công chúng báo chí
Tác giả Mai Quỳnh Nam đưa ra khái niệm về công chúng báo chí như
sau: “Công chúng báo chí thuộc mọi tầng lớp xã hội, tuổi tác, giới tính, trình
Trang 20xã hội, là lực lượng quan trọng, quyết định vai trò, vị thế xã hội của cơ quan báo chí”[14, tr.35]
Còn tác giả Trần Bá Dung trong nghiên cứu Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội nêu: “Công chúng báo chí là nhóm lớn dân cư, không đồng nhất trong xã hội, được báo chí hướng vào để tác động hoặc chịu ảnh hưởng tác động của báo chí và có tác động trở lại, giám sát, đánh giá, quyết định hiệu quả hoạt động của cơ quan báo chí”[6, tr.78]
Từ những góc nhìn trên cho thấy, công chúng báo chí truyền thông là một thực thể rất phức tạp Công chúng báo chí là khái niệm dùng để chỉ những người tiếp nhận sản phẩm báo chí Công chúng báo chí được xem xét trong mối quan hệ với tác phẩm báo chí, với cơ quan báo chí và với nhà báo Việc nghiên cứu công chúng đòi hỏi phải có cái nhìn tổng hợp, toàn diện
và đặt đối tượng nghiên cứu trong môi trường văn hóa - xã hội cụ thể Bên cạnh đó, tùy theo đặc điểm của mỗi loại hình báo chí mà có thể xác định những khác biệt của từng loại công chúng Chẳng hạn như với báo in, công chúng là bạn đọc (độc giả); với báo phát thanh, công chúng là người nghe
Trang 21để đưa ra khái niệm về phát thanh
Theo TS Đinh Thị Thu Hằng tác giả quyển sách “ Báo phát thanh- Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” (Nhà xuất bản Chính trị- Hành chính, 2013) thì: Báo phát thanh là tờ báo bằng âm thanh (nhìn từ góc độ phương tiện chuyển tải); Phát thanh là tiếp nhận thông tin bằng tai (nhìn từ góc độ tiếp nhận); Phát thanh là sử dụng âm thanh để chuyển tải thông tin (nhìn từ góc độ sáng
tạo) [22, tr.31]
Theo Lois Baird, tác giả cuốn Hướng dẫn sản xuất chương trình phát thanh của Trường PT-TH điện ảnh Australia đã nêu ra và phân tích đặc tính sau đây của phát thanh: Radio là hình ảnh; Radio là thân mật riêng tư; Radio
dễ tiếp cận và dễ mang; Radio là trực tiếp; Radio có ngôn ngữ riêng của mình; Radio có tính tức thời; Radio không đắt tiền; Radio có tính lựa chọn; Radio gợi lên cảm xúc; Radio làm công việc thông tin giáo dục; Radio là âm nhạc [3, tr.13]
Còn hai tác giả Paul Chantler và Peter Stewart viết: “Radio là phương tiện truyền thông tốt nhất để kích thích trí tưởng tượng; Phát thanh là phương tiện truyền thông mang tính riêng tư”
Trên cơ sở xem xét những cách hiểu khác nhau, có thể hiểu: Báo phát thanh là một loại hình báo chí sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền thanh, truyền đi ngôn ngữ âm thanh, trực tiếp tác động vào thính giác của đối tượng tiếp nhận
Trang 2220
1.1.2.2 Chương trình phát thanh
TS Đinh Thị Thu Hằng tác giả cuốn “Báo phát thanh- Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” khái niệm về chương trình phát thanh như sau: “Chương trình phát thanh là một chỉnh thể trong đó các phần tin bài, âm nhạc, lời dẫn… được bố trí, sắp xếp một cách hợp lý trong một khoảng thời gian xác định nhằm đáp ứng nhiệm vụ của cơ quan truyền thông và mang lại hiệu quả ca nhất đối với người nghe”[22, tr.153]
Theo PGS TS Tạ Ngọc Tấn:“Chương trình phát thanh là sự tổ chức các tin tức, bài vở, tài liệu cùng các chất liệu khác trong phát thanh theo thời lượng nhất định, mục đích nhất quán và nhằm vào đối tượng công chúng cụ thể Thông thường một chương trình phát thanh mở đầu bằng nhạc hiệu và kết thúc bằng lời chào tạm biệt Ngay sau nhạc hiệu là lời xướng của phát thanh viên, chỉ ra tên hoặc đặc trưng của chương trình" [43, tr.92]
Trong thực tế, tùy theo tiêu chí phân loại, mỗi chương trình phát thanh
có đối tượng tác động riêng, có nội dung phản ánh cũng như phương thức
thực hiện riêng Thính giả dễ dàng phân biệt chương trình phát thanh Thanh niên với Câu lạc bộ những người cao tuổi, chương trình Thời sự với Diễn đàn các vấn đề xã hội Sự phân công và chuyên môn hóa trong quá trình lao
động tạo ra cho các chương trình phát thanh có sự phân định rõ ràng Quá trình tiếp nhận của công chúng gắn liền với các chương trình phát thanh Người nghe có thể nắm bắt được thông tin thời sự một cách nhanh nhất qua chương trình thời sự và họ chờ đợi những hướng dẫn cụ thể qua chương trình chuyên đề
Trong thực tế đang tồn tại nhiều cách phân dạng các chương trình phát
thanh, theo tác giả Tạ Ngọc Tấn: "Căn cứ vào đặc điểm nội dung, mục đích thông tin và đối tượng người ta chia chương trình phát thanh thành 4 loại
Trang 23cụ thể một người hay một nhóm nhỏ nào đó" [36, tr.95]
Theo tác giả Nguyễn Đình Lương tác giả cuốn chuyên luận Nghề báo nói do Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin ấn hành năm 1993, thì: “Công chúng của phát thanh được gọi là thính giả hay người nghe Là những người, những nhóm người tiếp nhận thông tin từ Đài phát thanh, là đối tượng tác động của các chương trình phát thanh”[32, tr.40]
PGS.TS Nguyễn Đức Dũng cho rằng: “Công chúng phát thanh còn gọi
là thính giả, bạn nghe Đài, là những người tiếp nhận sản phẩm báo phát thanh”
“Công chúng phát thanh được sử dụng ở đây là để chỉ người nghe radio nói chung trong xã hội, nhưng cũng có thể dùng để chỉ một người hay những nhóm nhỏ nào đó mà chương trình phát thanh hướng vào để tác động, lôi kéo, thuyết phục Các chương trình truyền thống trên sóng phát thanh vừa nhằm vào quảng đại quần chúng, đồng thời cũng nhằm tới những nhóm đối tượng cụ thể”[11, tr.60]
Các khái niệm trên đã chỉ rõ, công chúng phát thanh có thể được hiểu là
nhóm lớn xã hội được chương trình phát thanh tác động, hoặc nhóm lớn mà chương trình phát thanh hướng tới để tác động Có công chúng tiềm năng và công chúng thực tế, công chúng trực tiếp và công chúng gián tiếp Công chúng tiềm năng là nhóm lớn xã hội mà chương trình nhắm vào, tác động lôi kéo Nhưng trong thực tế, không phải tất cả các thành viên nhóm lớn xã hội
Trang 2422
mà chương trình nhắm vào đều tiếp nhận được các chương trình phát thanh Hay nói cách khác, chỉ một phần trong nhóm lớn mà chương trình phát thanh hướng vào, tiếp nhận được sự tác động Bộ phận ấy gọi là công chúng thực tế
Ở bình diện khác lại có công chúng trực tiếp và gián tiếp Công chúng trực tiếp là những người trực tiếp tiếp nhận các chương trình phát thanh Còn công chúng gián tiếp là những người được công chúng trực tiếp kể lại những thông điệp mà họ tiếp nhận qua các chương trình phát thanh Do đó, các chương trình trên radio vừa nhắm vào những đối tượng cụ thể vừa nhắm vào quảng đại quần chúng Chương trình phát thanh phụ nữ nhằm vào nhóm công chúng phụ nữ, nhưng kể cả nam giới cũng không phải vô tình nghe được mà nghe theo sở thích và nhu cầu
Do vậy, công chúng phát thanh có thể được hiểu là nhóm lớn xã hội được chương trình phát thanh tác động, hoặc nhóm người mà phát thanh hướng vào để tác động Công chúng phát thanh là người đầu tiên quyết định việc hình thành các chương trình phát thanh, một chương trình phát thanh ra đời trước hết phải dựa trên nhu cầu của công chúng Việc thiết lập nội dung, hình thức, thời lượng, thời điểm phát sóng của chương trình phát thanh cũng đều căn cứ trên nhu cầu, mong muốn, đặc điểm, sở thích của công chúng Mỗi chương trình phát thanh nhằm phục vụ một nhóm đối tượng thính giả nhất định Chương trình nào công chúng ấy và ngược lại công chúng nào chương
trình ấy
Công chúng là một nguồn đề tài phong phú của các chương trình phát thanh Cuộc sống, tâm tư, tình cảm, nguyện vọng… của họ luôn là đều được các nhà báo, các chương trình phát thanh quan tâm phản ánh Trong các chương trình giao lưu, tương tác công chúng còn tham gia với tư cách là khách mời, là người nêu câu hỏi, là người lắng nghe trực tiếp và phản hồi Sau mỗi chương trình phát sóng, những thông tin phản hồi từ thính giả có tác
Trang 25Các phương tiện truyền thông ngày nay rất nhiều và ngày càng đa dạng, thuyết “sử dụng và hài lòng” giải quyết hai câu hỏi mà các nhà truyền thông thường gặp: "Con người sử dụng phương tiện truyền thông nào?" và "Tại sao con người lại chọn phương tiện truyền thông đó?" Thuyết còn tìm hiểu về cách người dùng chọn phương tiện truyền thông nào để thỏa mãn nhu cầu, cụ thể hơn là để nâng cao kiến thức, thư giãn, tương tác xã hội, tìm sự đồng hành, đa dạng hóa hoặc trốn thoát Vì vậy, lý thuyết này đòi hỏi độ sẵn sàng cung cấp thông tin cao của các phương tiện truyền thông về data, đánh giá trải nghiệm, thời lượng sử dụng, thời điểm sử dụng, của khách hàng.Thuyết “sử dụng và hài lòng” cho rằng người dùng không bị động so với phương tiện truyền thông mà ngược lại có quyền lực và chủ động về việc sử dụng chúng
và từ đó kết hợp chúng vào đời sống của họ Không giống như những lý thuyết khác, thuyết “sử dụng và hài lòng” cho rằng người dùng chịu trách nhiệm chọn ra phương tiện truyền thông để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn
Trang 2624
của họ để đạt được sự hài lòng Thuyết này còn ngụ ý rằng các phương tiện truyền thông đang cạnh tranh với các nguồn thông tin khác để mang đến sự hài lòng cho khách hàng
1.2.2 Đặc điểm của công chúng phát thanh
1.2.2.1 Đặc điểm công chúng
Mỗi loại hình báo chí đều có những đặc điểm riêng biệt, chi phối tới cách tiếp nhận thông tin của công chúng và có ảnh hưởng nhất định tới tâm lý tiếp nhận của công chúng Cũng chính từ đặc điểm này mà hình thành nên các
lớp công chông chúng, các đối tượng công chúng khác nhau [22, tr.46]
Trong cuốn “Handbook for the URN Advanced Radio Journalism
Course in Political Reporting” các tác giả chỉ ra rằng:
“ Công chúng cần điều gì?
- Thông tin có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ
- Thông tin mà bạn biết là họ cần
- Tin tức về địa phương, bộ tộc mà họ sống trong đó
- Không gian để thảo luận rộng rãi
- Được giải trí…”
Xét theo thang nhu cầu của Abraham Maslow, công chúng quan tâm trước hết đến các nhu cầu sinh lý cơ bản như ăn, uống, thở, ngủ, chỗ ở Tiếp theo đó, họ quan tâm tới nhu cầu an toàn cả về thể chất, tinh thần và của cải Thứ ba, công chúng mong muốn được giao tiếp và tham gia vào các mối quan
hệ xã hội Thứ tư, công chúng muốn được tôn trọng, ngưỡng mộ, yêu quí Và thang nhu cầu cuối cùng là được phát huy năng lực, các tố chất cá nhân và
thành công
Công chúng phát thanh tiếp nhận theo qui luật nghe và phát huy trí tưởng tượng Nhà báo phát thanh phải làm sao để thông qua chuỗi âm thanh của mình giúp thính giả tạo dựng hình ảnh về sự kiện trong đầu Công chúng
Trang 2725
phát thanh còn tiếp nhận thông tin theo quy luật xa gần Đó là sự tổng hòa nhiều phương hướng như địa lý, tình cảm, thời gian, xã hội… Các kênh sóng, các chương trình phát thanh phải trở thành diễn đàn để công chúng thể hiện quan điểm, suy nghĩ, cảm nhận của mình trước các vấn đề của đời sống Phong cách giao tiếp với công chúng phát thanh luôn cần thể hiện sự tôn
trọng, sự phục vụ, sẻ chia
Các nghiên cứu về công chúng cho thấy, báo phát thanh có công chúng đa dạng, phong phú Tuy mỗi chương trình khác nhau có một nhóm đối tượng riêng nhưng nhìn chung công chúng phát thanh là đông đảo người dân,
cả những đối tượng có trình độ học vấn cao và thấp
1.2.2.2 Phân loại công chúng
- Phân loại theo đặc điểm xã hội học
Căn cứ vào những tiêu chí khác nhau, có thể có cách phân chia thành các nhóm công chúng khác nhau Nếu căn cứ vào độ tuổi, sẽ có nhóm công chúng trẻ em, công chúng thanh niên, công chúng người cao tuổi, công chúng trung niên…; căn cứ vào giới sẽ có công chúng nam giới và nữ giới; căn cứ vào địa bàn sinh sống sẽ có công chúng đô thị, công chúng nông thôn, công chúng miền núi; căn cứ theo nghề nghiệp có thể chia thành công chúng là cán
bộ công chức, nông dân, học sinh - sinh viên, nội trợ…[45]
+ Theo lứa tuổi
Độ tuổi của công chúng đóng một vai trò quan trọng trong việc phân
loại Trước đây, với thính giả có độ tuổi càng cao, tỷ lệ nghe Đài cũng tăng theo Lý do là phát thanh dễ tiếp cận, dễ tiếp nhận với người cao tuổi do họ có nhiều thời gian, tiếp nhận thông tin qua tiếng nói dễ dàng hơn với mắt vì lý do sức khỏe Người cao tuổi nghe Đài còn do thói quen vì có nhu cầu hiểu biết
về tình hình thời sự trong nước, quốc tế và để giải trí Còn độ tuổi trẻ có trình
độ học vấn cao hơn nhưng tỷ lệ nghe Đài thường thấp hơn người cao tuổi và
Trang 2826
ngược lại Tuy nhiên người cao tuổi có trình độ học vấn bình quân thấp hơn nhưng thường xuyên nghe Đài hơn Điều này có thể hiểu là do tính chất của tuổi trẻ nên họ có những sở thích và quan tâm đặc thù, và tham gia nhiều hoạt động xã hội nên ít có thời gian theo dõi tin tức qua Đài phát thanh
Tuy nhiên, hiện nay, do môi trường làm việc và xã hội thay đổi, người trẻ cũng nghe radio nhiều hơn do đặc thù phải di chuyển nhiều Họ vẫn muốn tiếp nhận thông tin thời sự, cập nhật trong khi di chuyển mà không có điều kiện tiếp cận các hình thức truyền thông khác, thí dụ như lúc đang lái xe Do
đó, các Đài phát thanh cũng phải thay đổi theo công chúng để xây dựng những kênh, chương trình phù hợp hơn với giới trẻ, đáp ứng nhu cầu thực sự của họ Ngoài ra, cần chú ý đến thông tin chuyên biệt dành riêng cho đối tượng thính giả trung thành có tuổi như thông tin sức khỏe, sinh hoạt tinh thần, hướng về quê hương, cội nguồn
+ Theo nhu cầu thông tin, sở thích của công chúng
Đây cũng là một góc nhìn phân loại quan trọng, từ đó góp phần các Đài phát thanh định hình nên công chúng của mình Thí dụ công chúng là giới trẻ
có nhu cầu tìm thông tin nhiều về thông tin giải trí như âm nhạc, điện ảnh, người nổi tiếng, đời sống tình cảm… Công chúng trong độ tuổi từ 24-35 quan tâm nhiều về thông tin thị trường, kinh doanh, đời sống gia đình hoặc sức khỏe…
+ Theo vùng, miền
Yếu tố địa phương, địa lý theo vùng, miền cũng là một yếu tố quan trọng trong phân loại công chúng Thí dụ, đối tượng công chúng phát thanh của các miền khác nhau ở nước ta có sự quan tâm đến các vấn đề nội dung và
phong cách tiếp nhận thông tin khác nhau
+ Theo nghề nghiệp
Trang 2927
Nghề nghiệp là yếu tố chi phối công chúng lựa chọn nội dung thông tin
và loại hình báo chí nào để tiếp nhận Với đối tượng lao động, trí thức, làm công tác quản lý, họ tìm kênh phát thanh để theo dõi tình hình thời sự và mở mang kiến thức cho công việc Nhóm người lao động chân tay có nhiều nhu cầu về thông tin giải trí, sức khỏe, nhưng chỉ có thể tiếp cận thông tin sau giờ làm việc Người kinh doanh nghiêng về thông tin giá cả thị trường, đời sống Người nông dân, người làm nông nghiệp thích theo dõi thông tin qua Đài phát thanh về thông tin trồng trọt, chăn nuôi, tin tức thời tiết
+ Theo giới tính
Kết quả nhiều cuộc điều tra xã hội học ở Việt Nam cho thấy, tỷ lệ nữ giới tiếp nhận các phương tiện truyền thông nói chung và phát thanh nói riêng ít hơn nam giới Lý do chính là phụ nữ ít có thời gian hơn để tiếp cận thông tin của báo chí hơn nam giới, do họ phải dành nhiều thời gian làm việc nhà, chăm sóc con cái Ngoài ra, phụ nữ quan nhiều đến thông tin gần gũi với đời sống hơn như sức khỏe, gia đình, công việc… Như vậy có thể thấy sự chênh lệch mức hưởng thụ
và sự quan tâm đối với Đài phát thanh giữa nữ và nam vẫn là một vấn đề xã hội lớn liên quan tới vấn đề bất bình đẳng giới trong xã hội
+ Theo trình độ
Trình độ học vấn là một trong những điều kiện tác động nhiều tới việc tiếp nhận những sản phẩm truyền thông đại chúng Theo xu hướng chung, người có trình độ học vấn càng cao thường hay theo dõi nhiều tin tức, thời sự, kinh tế, giáo dục, khoa học… nhằm tăng thêm hiểu biết, đáp ứng nhu cầu công việc Người có học vấn không cao thường nằm trong những nhóm công chúng thiên về tiếp nhận thông tin xã hội, giải trí như ca nhạc, giải trí, tư vấn đời sống, tâm lý tình cảm, an ninh trật tự, nghe quảng cáo và ít tiếp nhận những chương trình thời sự
Trang 3028
Trình độ học vấn còn qui định cách tiếp nhận thông tin Nhóm thính giả trình độ cao thường chủ động trong tìm kiếm thông tin Họ có thể tiếp nhận thông tin mọi nơi, mọi lúc Người có trình độ học vấn thấp thường bị động hơn khi tiếp nhận thông tin Họ nghe, xem, đọc những thông tin có sẵn xung quanh, không chủ động tìm kiếm và không yêu cầu những thông tin cần thiết hoặc thông tin liên quan
- Phân loại theo cấp độ nghe của công chúng
Có nhóm công chúng tiềm năng và công chúng thực tế, nhóm công chúng trực tiếp và công chúng gián tiếp Công chúng tiềm năng là nhóm lớn
xã hội mà chương trình phát thanh hướng vào tác động lôi kéo, thuyết phục Nhưng trong thực tế không phải tất cả những thành viên nhóm lớn xã hội mà chương trình nhằm vào đều tiếp nhận được các chương trình phát thanh Hay nói cách khác, chỉ một phần trong nhóm lớn mà chương trình phát thanh hướng vào, tiếp nhận được sự tác động Bộ phận ấy gọi là công chúng thực tế
Ở bình diện khác, lại có công chúng trực tiếp và công chúng gián tiếp Công chúng trực tiếp là những người trực tiếp tiếp nhận các chương trình phát thanh Còn công chúng gián tiếp là những người được những người công chúng trực tiếp kể lại, thông tin lại những điều mà họ đã tiếp nhận qua sóng phát thanh Các chương trình truyền thông trên radio vừa nhằm vào đại chúng trên cơ sở xác định nhóm đối tượng cụ thể
1.2.2.3 Mối quan hệ giữa công chúng và chương trình phát thanh
- Vai trò của phát thanh với công chúng
Phát thanh được coi là “cổng thông tin” về tất cả những vấn đề đang
xảy ra trên thế giới, là khởi đầu những nội dung được đề cập trên tất cả các loại hình truyền thông khác và cũng là phương thức tiếp cận dễ dàng nhất tới nhiều đối tượng công chúng Giá trị của phát thanh chính là có thể giúp thính giả hiểu được điều gì đúng và điều gì quan trọng, chúng ta phải làm sao để
Trang 3129
thính giả có cảm nhận rằng họ đang được lắng nghe Nói cách khác, các chương trình phải thật sự phản ánh được nhu cầu và mối quan tâm của thính giả Điều duy nhất không thay đổi chính là nhu cầu được cung cấp thông tin đúng và hay Đây vẫn là động lực nghe chính của thính giả khi nghe Đài và cũng là nghĩa vụ của những người làm phát thanh Phát thanh luôn đóng vai trò cốt yếu trong việc cung cấp thông tin đa dạng tới người nghe và được công
nhận là một loại hình truyền thông tiêu biểu và căn bản nhất
- Vai trò của công chúng với phát thanh
Công chúng là người đầu tiên quyết định việc hình thành các chương
trình phát thanh Cũng như một tờ báo hay một chương trình truyền hình, một chương trình phát thanh ra đời trước hết phải dựa trên nhu cầu công chúng Việc thiết lập nội dung, hình thức, thời lượng, thời điểm phát sóng của chương trình phát thanh cũng đều căn cứ trên nhu cầu, mong muốn, đặc điểm,
sở thích của công chúng Mỗi chương trình phát thanh nhằm phục vụ một nhóm đối tượng thính giả nhất định Ví dụ, chương trình thiếu nhi được thiết
kế để phục vụ đối tượng thiếu nhi, chương trình ca khúc theo yêu cầu phục vụ
nhóm các bạn trẻ yêu thích âm nhạc…[21, tr.44]
Vai trò của công chúng có đóng góp to lớn cho sự phát triển của các chương trình phát thanh, công chúng vừa là đối tượng tiếp nhận vừa là đối tượng phản ánh Chính công chúng là người góp phần tạo nên các tác phẩm báo chí và chương trình phát thanh hay, có giá trị Công chúng ngày nay không chỉ thích nghe Đài mà còn có ý thức tham gia các chương trình phát thanh Họ luôn có sự
so sánh, đánh giá, nhận xét về những vấn đề được nêu ra
- Các hình thức tương tác truyền thống
+ Tương tác trong phát thanh không trực tiếp:
Trong chương trình phát thanh không trực tiếp, dù không xuất hiện nhiều nhưng tính tương tác cũng đã được các nhà sản xuất chương trình phát
Trang 3230
thanh áp dụng trong quy trình sản xuất hay thu thập thông tin Thông thường, các chương trình thu trước thường có độ chính xác cao về thông tin, tạo sự tin tưởng tuyệt đối trong lòng thính giả Tuy nhiên, với tính chất không phát trực tiếp nên sự tương tác qua lại giữa thính giả và một chương trình phát thanh cần một thời gian nhất định
+ Tương tác trong chương trình ca nhạc:
Từ trước đến nay, âm nhạc vẫn được coi là thế mạnh của phát thanh Vì thế, việc tận dụng âm nhạc trong sản xuất chương trình phát thanh vẫn luôn được chú trọng Các chương trình ca nhạc theo yêu cầu là một ví dụ điển hình mang tính tương tác, do tiếp nhận yêu cầu từ phía thính giả và phát sóng bài hát theo yêu cầu đó Giữa nhóm thực hiện chương trình và thính giả sẽ có mối liên hệ với nhau, thông qua việc tương tác qua thư hay qua điện thoại Điều này chúng ta thấy khá rõ từ một số chương trình như Ca nhạc theo yêu cầu, Quick And Snow show, Xone FM… của Đài TNVN
+ Tương tác trong chương trình tọa đàm:
Bên cạnh đó, chương trình phát thanh không trực tiếp vẫn có sự xuất hiện của nhiều yếu tố tương tác khác Ví dụ như đối với chương trình tọa đàm
sẽ có tương tác giữa người dẫn với khách mời, trong chương trình có hai người dẫn sẽ có sự tương tác giữa người dẫn với nhau…
+ Tương tác trong chương trình phát thanh trực tiếp:
Tính tương tác trong chương trình phát thanh trực tiếp trước hết thể hiện
ở yếu tố tương tác giữa thính giả với ekip thực hiện chương trình Với các chương trình phát thanh trực tiếp được thực hiện tại studio, sự tham gia của thính giả sẽ tạo nên bầu không khí giao lưu, cởi mở, giúp chương trình sống động hơn Từ đó, chương trình như một bức tranh âm thanh với nhiều giai điệu sẽ thu hút nhiều người cùng lắng nghe, suy ngẫm và đồng cảm nên có thể tạo ra những hiệu ứng lan tỏa lớn hơn Đây là ưu thế hơn hẳn của phát thanh
Trang 3331
trực tiếp mang tính tương tác so với chương trình phát thanh chỉ có sự xuất hiện của BTV và PTV [46]
1.2.3 Công chúng với các chương trình phát thanh văn nghệ
1.2.3.1 Khái niệm văn nghệ
- Khái niệm:
Theo từ điển Tiếng Việt: Văn nghệ là cách nói tắt của “văn học nghệ thuật”, là các hoạt động biểu diễn nghệ thuật như ca, múa, nhạc, … phục vụ vui chơi, giải trí (nói khái quát) [17, tr.405]
Văn nghệ hay còn gọi là văn học nghệ thuật, là thuật ngữ chỉ các hoạt động sáng tạo văn học và nghệ thuật (bao gồm các loại hình như văn học, sân khấu, mỹ thuật, âm nhạc, điện ảnh, kiến trúc, nhiếp ảnh, múa…), là bộ phận quan trọng của văn hóa Những giá trị sáng tạo của văn học, nghệ thuật là tinh hoa cốt lõi tạo nên diện mạo, bản sắc của một nền văn hóa tiêu biểu cho mỗi dân tộc
- Quan điểm của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh về Văn nghệ:
Quan điểm nhất quán, xuyên suốt toàn bộ tiến trình lãnh đạo văn hóa của Đảng ta từ 1930 đến nay là luôn luôn khẳng định văn hóa, văn nghệ là bộ phận khăng khít của toàn bộ sự nghiệp cách mạng, phục vụ các nhiệm vụ của cách mạng trong từng thời kỳ và gắn bó sâu sắc với đời sống nhân dân Luận điểm cô đúc và sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa, nghệ thuật cũng
là một mặt trận Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” đã làm nên một bước ngoặt cho toàn bộ tiến trình văn hoá Việt Nam, làm cho nền văn hóa mới và những người sáng tạo, hoạt đồng trên lĩnh vực văn hóa đó trở thành một sức mạnh to lớn, một bộ phận hữu cơ, gắn bó máu thịt với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta
Chủ tịch Hồ Chí Minh xem văn nghệ là một mặt trận đấu tranh tư tưởng, tác phẩm văn nghệ là một vũ khí sắc bén Văn học nghệ thuật là một
Trang 3432
hoạt động văn hóa, tư tưởng Nó được xem là một bộ phận quan trọng của văn hóa, là đỉnh cao của đời sống tinh thần, hình ảnh của tâm hồn dân tộc, thể hiện khát vọng của nhân dân về Chân – Thiện – Mỹ Văn nghệ được xét ở các khía cạnh:
Tính nghệ thuật: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng nhiều thể loại văn
nghệ, bám sát thực tế chiến đấu và sản xuất của nhân dân, tạo nên sức thuyết phục cho tác phẩm của mình
Nội dung: Quan niệm của chủ tịch Hồ Chí Minh về Văn nghệ rất rõ ràng: “Văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế, chính trị” Văn nghệ là một hoạt động tinh
thần phong phú vì thế nội dung của nó phải phản ánh các vấn đề xã hội phong
phú Nội dung phải phong phú: “Cần làm cho món ăn tinh thần phong phú, không nên bắt mọi người chỉ được ăn một món thôi Cũng như vào vườn hoa, cần cho mọi người được thấy nhiều loại hoa đẹp”
Đối tượng: Muốn phục vụ quần chúng, Văn nghệ phải đặt ra các câu hỏi: Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn, dễ đọc? Văn nghệ xem quần chúng là đối tượng cho sáng tác, đồng thời
cũng là đối tượng để văn nghệ phục vụ Cách nói, cách viết, nội dung, đối tượng đều nhằm phục vụ quần chúng lao động
Chức năng: Văn nghệ xưa nay vẫn nhấn mạnh ba chức năng cơ bản:
chức năng nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ
1.2.3.2 Chương trình phát thanh văn nghệ
TS Đinh Thị Thu Hằng tác giả cuốn “Báo phát thanh- Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” đã đưa ra các dạng chương trình phát thanh như sau:
- Chương trình ca nhạc
Có nhiều cách tổ chức chương trình ca nhạc dựa trên những tiêu chí lựa chọn khác nhau:
Trang 35+ Theo sở thích, nhu cầu, có: chương trình ca nhạc theo yêu cầu, lá thư
âm nhạc, âm nhạc kết nối…
+ Theo thể loại, có: chương trình dân ca và nhạc cổ truyền, chương trình chèo, cải lương, nhạc cổ điển…
- Chương trình giao lưu văn hóa
Trên sóng phát thanh thường có các chương trình giao lưu văn hóa như:
Giao lưu tác giả - tác phẩm, Thi giọng hát hay, Sân chơi âm nhạc, Giới thiệu thơ – người… Ứng dụng phương thức sản xuất chương trình phát thanh trực
tiếp, Đài phát thanh còn thực hiện các chương trình giao lưu văn hóa tại hiện trường (các trường đại học, CLB, nhà văn hóa…) Các chương trình này giúp công chúng thính giả thể hiện mình trong các mối quan hệ giao lưu, kết nối lẫn nhau, tăng cường và làm giàu đẹp các mối quan hệ [22, tr.166]
- Chương trình “Câu chuyện truyền thanh”
Theo tác giả Nguyễn Đình Lương: Thế mạnh của câu chuyện truyền thanh là ở chỗ nó vừa sử dụng một cách có hiệu quả những ưu thế của nghệ thuật truyền thanh vừa bám sát những đề tài sống động trong cuộc sống Câu chuyện truyền thanh phải có âm thanh, âm thanh phải mang sức thuyết phục, lôi cuốn, hấp dẫn, phải làm cho thính giả lắng tai nghe và tò mò muốn nghe nữa [32, tr.55]
- Chương trình “Đọc truyện đêm khuya”
Đọc truyện đêm khuya thuộc thể loại chương trình văn nghệ đã trở nên quen thuộc với nhiều thính giả, với rất nhiều câu chuyện đề cập tới những chủ
Trang 3634
đề quen thuộc như tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương đất nước, chiến tranh chống Mĩ, chống Pháp, đời sống văn hóa, chuyện vợ chồng, chuyện mẹ chồng nàng dâu… Tất cả đều được sưu tầm, biên soạn một cách kỹ lưỡng qua giọng đọc truyền cảm của các PTV đã trở thành một món ăn tinh thần bổ ích cho thính giả trên sóng phát thanh
1.2.3.3 Công chúng của chương trình PTVN
Công chúng của phát thanh nói chung và văn nghệ nói riêng rất rộng
lớn và đa dạng Đó là quần thể dân cư không phân biệt trình độc học vấn Mọi
đối tượng (chỉ trừ người khiếm thính) đều tiếp nhận thông tin qua radio, bởi
âm thanh không phân biệt vào hình ảnh hoặc chữ in nên có nhiều thuận lợi
trong khai thác sử dụng Ngày nay, cách thức nghe Đài, chọn chương trình
của công chúng cũng khác trước rất nhiều Số người nghe Đài bằng radio truyền thống trong các gia đình không tăng, nhưng lại gia tăng số người nghe Đài trên ô tô, trên mobile và các trang web Ngoài cách nghe khác, thì nhu cầu tiếp nhận thông tin trên Đài cũng khác trước rất nhiều Ví dụ những người
đi trên ô tô, vì trong trạng thái di chuyển, nên họ cần cái gì đó ngắn gọn, trực
tiếp, cần những quan điểm chính thống, cần những ý kiến đa chiều Người ta
không còn nghe Đài cả ngày nữa, mà lúc nào tiện thì nghe, lên ô tô thì nghe
Ở vùng nông thôn, miền núi, người ta nghe Đài địa phương qua loa truyền
thanh…
1.2.3.4 Tiêu chí của chương trình PTVN đáp ứng nhu cầu công chúng
Bất cứ loại hình báo chí nào muốn đến với công chúng thì phải chú ý
tới 2 điều: Nội dung là cốt lõi và hình thức là quan trọng Khái niệm nội dung ngày nay cũng không đơn thuần là nhanh và đúng, mà còn là độc đáo và tạo được cảm xúc và sức hấp dẫn cho người nghe Có nghĩa là người làm phát thanh phải luôn luôn mang tới cho công chúng những thông tin mới lạ, độc
Trang 3735
đáo chỉ có trên Đài phát thanh hoặc rất hấp dẫn trên Đài phát thanh Phải tìm được góc tiếp cận mới trong những vấn đề đang được nhiều báo chí đề cập; phát
thanh phải tạo điều kiện để công chúng nói lên tiếng nói của họ trên sóng
Về hình thức, phát thanh không chỉ đơn thuần là lời nói, mà còn phải
làm sinh động hơn bằng âm nhạc, bằng tiếng động hiện trường Chỉ khi nào nghe phát thanh mà như được sống, được thở trong cuộc sống thực thì lúc đó phát thanh mới có được sự chú ý, sự ủng hộ, sự đón đợi của công chúng Đối với chương trình PTVN, tiêu chí quan trọng hàng đầu là mang lại giá trị tinh thần, phục vụ đời sống văn hóa, văn nghệ của đông đảo công chúng bằng những chương trình mang đậm bản sắc văn hóa vùng miền, bản sắc dân tộc Thông qua đó, chương trình cần kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những lệch lạc về tư tưởng, quan niệm trong xã hội, đấu tranh chống lại những biểu hiện văn hóa lai căng, hướng ngoại, nhằm tiếp tục phát huy truyền thống của dân tộc, góp phần giữ gìn và xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ đổi mới Các chương trình PTVN không chỉ đáp ứng nhu cầu giải trí mà còn hướng đến nâng cao thẩm mỹ âm nhạc, định hướng cách cảm, cách nghĩ, tăng cường giao lưu trong đời sống Chương trình càng mang tính giao lưu càng cao thì càng có lượng người nghe đông đảo [18,
tr.64]
1.3 Đặc điểm của công chúng các chương trình PTVN tại ĐBSCL
1.3.1 Đặc trưng văn hóa ĐBSCL
Những nét đặc trưng của văn hóa khu vực ĐBSCL khá phong phú Nó
được thể hiện rõ ở phong tục tập quán, ở lễ hội, ở tính cách con người Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo ra của một dân tộc, một vùng, một quốc gia Và bao giờ nó cũng gắn liền với những sinh hoạt của con người Con người một mặt sáng tạo ra văn hoá, mặt khác con người cũng là đối tượng của văn hóa Các khái niệm về văn hoá, văn minh, văn hiến, văn vật…
Trang 3836
đều có những nét tác động qua lại Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền lợi cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và tín ngưỡng… (theo định nghĩa của Unesco)
Những giá trị vật chất và tinh thần ấy đều do con người sáng tạo ra Nó là chìa khóa của sự phát triển xã hội
Đối chiếu với những nét chung của văn hóa dân tộc, thì văn hóa khu vực ĐBSCL có những nét khu biệt riêng ĐBSCL là vùng đất mới được hình
thành hơn 300 năm nay Ở đây, con người được thiên nhiên ưu đãi “Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn”, và từ độ cha ông “mang gươm đi mở cõi” thì vô vàn khó khăn phải đối mặt “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp trêu”, hoặc “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lềnh tựa bánh canh”… Với môi trường tự nhiên như
vậy, tính cách con người Nam Bộ cũng có những nét đặc biệt như: trọng nghĩa, khinh tài, nóng nảy cương trực, hồn nhiên, chất phác, tự tin, thích kể chuyện Tàu, thích ca cải lương, và một chút điệu nghệ Ở vùng đất này có sự cộng cư của các dân tộc anh em như: Kinh, Khmer, Hoa, Chăm từ các thế kỷ trước Vì thế trong phong tục, lễ hội, sinh hoạt, lao động cũng có những nét riêng Song, có ba nét nổi bật nhất về văn hoá ĐBSCL là kiến trúc đền
chùa, văn minh ẩm thực và ĐCTT
Với lịch sử hình thành và phát triển đa dạng và phong phú, văn hóa ĐBSCL cũng song hành cùng sự phát triển của vùng đất với nhiều sắc thái, phong phú; tạo nên nền tảng để cho ĐBSCL phát triển Đó là văn hoá của các tộc người, văn hoá của lối sống, cách lao động, sản xuất sinh hoạt đến phong tục tập quán tín ngưỡng Nói đến văn hoá ĐBSCL là nói đến sự đa dạng và là một khái niệm có nội hàm rộng bởi văn hoá ĐBSCL không thể tách rời và mang đầy đủ các giá trị của văn hoá Việt Nam trường tồn qua hàng ngàn năm;
có sự pha trộn, hoà quyện với văn hoá khác; đồng thời nảy sinh trên vùng đất mới, nhiều sông rạch nên việc phân biệt văn hoá ĐBSCL với không gian văn
Trang 39Bạc Liêu và Cà Mau)
ĐBSCL là vùng đông dân (đứng thứ hai Đồng bằng sông Hồng) Ngoài
người Kinh, còn có người Khơ-me, người Chăm, người Hoa ĐBSCL có tỉ lệ gia tăng tự nhiên của dân số bằng mức bình quân của cả nước; GDP/người, tỉ
lệ người lớn biết chữ, tỉ lệ dân số thành thị còn thấp hơn mức trung bình của
cả nước Tuy nhiên, tỉ lệ hộ nghèo thấp hơn và tuổi thọ trung bình cao hơn
mức trung bình của cả nước
Phân bố dân cư chênh lệch lớn giữa thành thị - nông thôn và giữa các
địa phương Khoảng 80% dân số sống ở nông thôn, mật độ dân số của vùng
đất phù sa ngọt cao hơn nhiều các vùng đất phèn và đất mặn [21]
1.3.2.2 Thói quen thưởng thức văn nghệ
Kết quả từ cuộc khảo sát của Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL- Đại học Cần Thơ (2007) cho thấy người dân đồng bằng đòi hỏi được đáp ứng thông tin văn hóa xã hội rất cao, chiếm 69% số người được hỏi Do đó “Văn hóa tại gia”- chủ yếu qua sóng truyền hình, phát thanh, internet, chính là đặc
Trang 4038
điểm hưởng thụ văn hóa của người dân ĐBSCL hiện nay Điều đó thể hiện đời sống văn hóa tinh thần tại đây vẫn còn nghèo nàn, chỉ khuôn hẹp trong phạm vi gia đình Chính điều này là cơ sở để các chương trình văn nghệ trên sóng PT-TH có cơ hội phục vụ khán thính giả nơi đây Từ đó, các chương trình PTVN ngày càng thân thiết với công chúng và luôn là người bạn tin cậy, gần gũi của bà con nơi đây, chương trình có điều kiện lan tỏa, hòa nhập với văn hóa giải trí, làm phong phú hơn đời sống văn hóa tinh thần và nâng cao nhu cầu hưởng thụ của đông đảo công chúng ĐBSCL.[51]
1.3.3 Đời sống VHVN hiện nay và ảnh hưởng của nó tới công chúng Đời sống văn nghệ của người dân khu vực ĐBSCL rất phong phú, đặc biệt nhất được thể hiện qua các loại hình nghệ thuật tiêu biểu, là những loại hình nghệ thuật đặc sắc của vùng đất phương Nam vốn cần cù, bình dị nhưng rất đổi nhân văn như ĐCTT, vọng cổ, cải lương, lý, hát ru, hò Nam bộ Các chương trình PTVN khu vực ĐBSCL đã góp phần nâng cao trình độ hiểu biết mọi mặt cho công chúng trong vùng về vốn văn hóa đặc sắc của mình, bao gồm từ việc trang bị những tri thức phổ thông có hệ thống, xã hội hóa các kinh nghiệm sống, truyền bá những tri thức về các giá văn hóa của các dân
tộc
Tuy nhiên, ở ĐBSCL đang diễn ra quá trình giao lưu tiếp biến văn hoá giữa văn hoá vùng, văn hoá dân tộc và văn hoá nước ngoài; công chúng đang hàng ngày hàng giờ tiếp nhận các sản phẩm và nhân tố văn hoá từ nước ngoài Đảng và Nhà nước ta phải nhanh chóng có chiến lược để chủ động thực hiện việc tiếp biến văn hoá, “mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những
cái hay, cái tiến bộ trong văn hoá các dân tộc khác”, tránh cho nhân dân và
nhất là thế hệ trẻ những hụt hẫng, “cú sốc về văn hoá” Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, quá trình đô thị hoá ngày càng phát triển Vì vậy, bên cạnh cái phức thể văn hoá nông nghiệp- nông thôn của vùng, phải