1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chính sách, pháp luật của australia về xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp của ngư dân và kinh nghiệm cho việt nam​

136 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tham luận này, hai tác giả đã làm rõ được các vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp dưới góc độ luật nhân đạo quốc tế, trong đó, làm rõ được những biện ph

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ THỊ XUÂN PHƯƠNG

CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CỦA AUSTRALIA

VỀ XỬ LÝ HÀNH VI ĐÁNH BẮT CÁ

BẤT HỢP PHÁP CỦA NGƯ DÂN

VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ THỊ XUÂN PHƯƠNG

CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CỦA AUSTRALIA

VỀ XỬ LÝ HÀNH VI ĐÁNH BẮT CÁ

BẤT HỢP PHÁP CỦA NGƯ DÂN

VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Biển và Quản lý biển

Mã số : 8380101.08

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN BÁ DIẾN

Hà Nội – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn ―Chính sách, pháp luật của Australia về xử lý

hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp của ngư dân và kinh nghiệm cho Việt Nam‖ là công

trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn được sử dụng phân tích trong Luận văn này có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn này do tôi tự tìm hiểu, phân tích, đánh giá một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật theo quy định cho lời cam đoan của mình

Trân trọng cảm ơn!

Học viên

Lê Thị Xuân Phương

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC CÁC BẢNG 5

DANH MỤC CÁC HÌNH 6

MỞ ĐẦU 7

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH BẮT CÁ BẤT HỢP PHÁP 18 1.1 Lịch sử hình thành, khái luận chung về đánh bắt cá bất hợp pháp 18

1.1.1 Tổng quan về hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp và lịch sử hình thành 18

1.1.2 Định nghĩa về đánh bắt cá bất hợp pháp, và xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp 20

1.2 Vai trò của hoạt động nghề cá và thực trạng đánh bắt cá bất hợp pháp trên các vùng biển của Australia 22

1.2.1 Tổng quan về vai trò của hoạt động nghề cá đối với Australia 22

1.2.2 Thực trạng đánh bắt cá bất hợp pháp trên các vùng biển của Australia 25

1.3 Tổng quan hệ thống pháp luật quốc tế và Australia về đánh bắt cá bất hợp pháp29 1.3.1 Hệ thống pháp luật quốc tế về đánh bắt cá bất hợp pháp 29

1.3.2 Tổng quan hệ thống chính sách, pháp luật Australia về đánh bắt cá bất hợp pháp 48

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 52

Chương 2 NỘI DUNG CỦA CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT AUSTRALIA VỀ ĐÁNH BẮT CÁ BẤT HỢP PHÁP 53

2.1 Vai trò của Australia trong công tác phòng ngừa, ngăn chặn và loại bỏ đánh bắt cá bất hợp pháp 53

2.2 Hệ thống giải pháp nhằm phát hiện, ngăn ngừa và loại bỏ đánh bắt cá bất hợp pháp của Australia 54

2.2.1 Tiếp cận dưới vai trò là một quốc gia ven biển 54

2.2.2 Tiếp cận dưới vai trò là một quốc gia tàu mang cờ 58

2.2.3 Tiếp cận dưới vai trò là một quốc gia cảng 66

Trang 5

2.2.4 Tiếp cận dưới vai trò thị trường tiêu thụ 68

2.2.5 Tiếp cận thông qua hợp tác quốc tế 69

2.3 Hệ thống chính sách, pháp luật Australia về xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp 74

2.3.1 Đối với hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp của tàu thuyền và công dân Australia 74

2.3.2 Đối với hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp của tàu thuyền nước ngoài trong vùng biển Australia 81

2.4 Đánh giá chính sách, pháp luật Australia về xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp 89

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 93

Chương 3 MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM VỀ XỬ LÝ HÀNH VI ĐÁNH BẮT CÁ BẤT HỢP PHÁP 94

3.1 Hiện trạng nghề cá của Việt Nam và vấn đề đánh bắt cá bất hợp pháp 94

3.2 Tổng quan chính sách, pháp luật của Việt Nam về đánh bắt cá bất hợp pháp 99 3.1.1 Hệ thống chính sách, pháp luật của Việt Nam về hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp 99

3.1.2 Đánh giá hệ thống chính sách, pháp luật của Việt Nam về xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp 109

3.3 Kinh nghiệm cho Việt Nam từ chính sách pháp luật Australia 114

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 124

KẾT LUẬN CHUNG 125

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 128

Trang 6

Australian Border Force

2 AFMA Cơ quan quản lý nghề cá

4 CCAMLR Ủy ban Bảo tồn Tài nguyên

Sinh vật biển Nam Cực

Commission for the Conservation of Antarctic

Marine Living Resources

5 CCSBT Ủy ban bảo tồn cá ngừ vây

xanh phía Nam

Commission for the Conservation of Southern

Bluefin Tuna

6 CDS Chương trình về tài liệu đánh

bắt

Catch Documentation Scheme

7 EEZ Vùng đặc quyền kinh tế Exclusive Economic Zone

8 EU Liên minh châu Âu European Union

9 FAO Tổ chức Lương thực và Nông

nghiệp Liên Hiệp Quốc

Food and Agriculture Organization of the United

Nations

Trang 7

10 FFV Tàu cá nước ngoài Foreign fishing vessels

11 IPOA-IUU Kế hoạch hành động quốc tế

nhằm ngăn chặn, phòng ngừa

và loại bỏ đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không

được kiểm soát

International Plan of Action to prevent, deter and eliminate illegal, unreported and

unregulated fishing

12 IUU Bất hợp pháp, không báo cáo

và không được kiểm soát

Illegal, Unreported and

Unregulated

14 PSMA Hiệp định về các biện pháp của

United Nations Convention

on the Law of the Sea

Systems

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 2.1 Một số hình phạt đối với hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp

của công dân Australia

2 Bảng 2.2 Một số hình phát đối với công dân nước ngoài đánh bắt trái

phép trong vùng biển Australia

3 Bảng 3.1 Giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tại EU giai đoạn

2010 - 2016

4 Bảng 3.2 Sản phẩm thủy sản xuất khẩu sang EU giai đoạn 2012-2016

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

1 Hình 1.1 Vùng đặc quyền kinh tế Australia và khu vực biển

thường xuyên xảy ra hoạt động đánh bắt cá IUU của FFVs

2 Hình 1.2 Một poster chống ―thuyền xanh‖ vào năm 2017

3 Hình 2.1 Vùng đánh cá Australia (AFZ)

4 Hình 2.2 Mô hình hệ thống giám sát tàu của Australia

5 Hình 3.1 Sản lượng thủy sản của Việt Nam giai đoạn 1995 -

2016

6 Hình 3.2 Số lượng tàu cá ở Việt Nam giai đoạn 2011-2015 theo

công suất máy

7 Hình 3.3 Giá trị xuất khẩu các sản phẩm thủy sản của Việt Nam

giai đoạn 2005-2016

8 Hình 3.4 Bảng so sánh lợi nhuận và chi phí tổn thất của một tàu

cá IUU khai thác hải sâm

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Thế kỷ 21 được gọi là ―Thế kỷ của biển và đại dương‖ Khai thác biển đã trở thành vấn đề quan trọng mang tính chiến lược của hầu hết các quốc gia trên thế giới,

kể cả các quốc gia có biển và các quốc gia không có biển Trong điều kiện nguồn tài nguyên trên đất liền đang ngày càng cạn kiệt, các quốc gia ngày càng giành sự quan tâm nhiều hơn tới biển Cùng với đó, sự gia tăng mạnh mẽ của dân số thế giới đã làm cho không gian kinh tế truyền thống đã trở nên chật chội, các quốc gia bắt đầu hướng

ra biển như một giải pháp cuối cùng nhằm hình thành một không gian kinh tế mới và tìm kiếm các nguồn tài nguyên thiên nhiên từ biển, đặc biệt là nguồn tài nguyên sinh vật biển, như một sự cung ứng thiết yếu và quan trọng cho các nhu cầu lương thực của con người Chính sự nở rộ trong xu hướng tiến ra biển của các quốc gia đã dẫn đến hoạt động khai thác biển quá mức cho phép, cùng với đó là vấn nạn ô nhiễm biển, các hình thức hủy hoại cảnh quan, nơi cư trú của các loài sinh vật biển, … đã dẫn đến hiện trạng suy giảm đa dạng sinh học, suy thoái các hệ sinh thái và suy kiệt nguồn lợi hải sản trong thời gian qua, thậm chí tới mức báo động đã làm cho nguồn tài nguyên hải sản ngày càng có nguy cơ bị cạn kiệt Trước hiện trạng đó, các cộng đồng ngư dân có xu hướng tìm kiếm một ngư trường đánh bắt giàu tiềm năng hơn để đáp ứng cho nhu cầu sinh kế của mình Tuy nhiên, xuất phát từ sự thiếu hiểu biết về luật pháp quốc tế cũng như các quy định của pháp luật quốc gia đối với hoạt động đánh bắt cá trong các vùng biển của cộng đồng ngư dân dẫn đến tình trạng đánh bắt và khai thác trái phép trong các vùng biển giàu tiềm năng của quốc gia khác

Là một quốc gia biển, Australia có ý thức bảo tồn và bảo vệ các nguồn lợi biển

từ khá sớm, điều này thể hiện ở việc quốc gia này là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới tiến hành quản lý tổng hợp biển Australia cũng là quốc gia có đóng góp tính cực nhất cho hoạt động chống đánh bắt cá bất hợp pháp của FAO Đối với

hệ thống chính sách, pháp luật quốc gia, để giải quyết thực trạng đánh bắt cá bất hợp

Trang 11

pháp trong các vùng biển của quốc gia mình, Australia đã tiến hành xây dựng một hệ thống chính sách, pháp luật về nghề cá cũng như các chính sách, pháp luật phụ trợ có liên quan khác nhằm hướng đến việc phát hiện, ngăn ngừa và loại bỏ hoàn toàn vấn nạn khai thác trái phép này Qua đó, những nỗ lực này của Australia đã góp phần cung cấp những kinh nghiệm quan trọng cho các quốc gia biển khác trong công tác

xử lý thực trạng đánh bắt cá trái phép của quốc gia mình Việc lựa chọn Australia làm một điển hình trong luận văn này sẽ cung cấp nhiều kinh nghiệm cho các quốc gia biển khác trong đó có Việt Nam

Đối với Việt Nam, giống như hầu hết các quốc gia khác trong khu vực Biển Đông, vấn đề đánh bắt cá bất hợp pháp đã và đang đặt ra một thách thức vô cùng lớn Ngày 23/10/2017, EU chính thức rút thẻ vàng với các sản phẩm thủy sản Việt Nam, điều này đã gióng lên hồi chuông cảnh báo mạnh mẽ đối với thực trạng nghề cá Việt Nam nói chung và vấn đề đánh bắt cá bất hợp pháp nói riêng Đến thời điểm hiện tại, sau gần 3 năm kể từ khi EU rút thẻ vàng, những cố gắng của Việt Nam trong việc xử

lý các vi phạm về đánh bắt cá bất hợp pháp dường như vẫn chưa đủ, chính vì vậy, thực trạng đánh bắt cá bất hợp pháp này vẫn còn là một vấn đề lớn cần được quan tâm đúng mực và đưa ra những giải pháp phù hợp, kịp thời Song song đó, những chính sách, pháp luật mới được ban hành để điều chỉnh hoạt động này dường như chưa được thực thi triệt để trên thực tế, riêng đối với công tác lắp đặt thiết bị giám sát cho tàu thuyền, theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tính đến ngày 31/8/2020, số lượng tàu cá cả nước đã lắp thiết bị giám sát là 24.851/30.851 tàu đối với tàu cá có chiều dài từ 15m trở lên, đạt 80,61% Tuy nhiên, còn rất nhiều tàu khi ra khơi đã tự ý gỡ bỏ thiết bị giám sát thả xuống biển, còn tàu thì di chuyển ra chỗ khác

Trang 12

Nam đi khai thác trái phép ở vùng biển nước ngoài Tuy nhiên, công tác xử lý vi phạm còn nhiều hạn chế Nghiêm trọng hơn, vào ngày 17/8/2020, truyền thông Malaysia đưa tin, lực lượng thực thi pháp luật trên biển của quốc gia này đã đã tiến hành truy đuổi 1 tàu cá khai thác bất hợp pháp của Việt Nam tại vùng biển ngoài khơi bang Kelantan của Malaysia dẫn đến 1 ngư dân thiệt mạng

Xuất phát từ, những thực trạng và bất cập trên, việc tiếp tục nghiên cứu và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế chung liên quan đến hoạt động quản lý việc đánh bắt cá của cộng đồng ngư dân trong nước cũng như xử lý thực trạng đánh bắt cá bất hợp pháp của ngư dân là điều hoàn toàn cần thiết Trong đó, việc nghiên cứu chính sách, pháp luật biển của Australia về xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp nhằm vận dụng kinh nghiệm của một quốc gia hàng đầu trong công tác xử lý và ngăn chặn khai thác IUU sẽ giúp Việt Nam hoàn thiện hơn nữa hệ thống chính sách, pháp luật về nghề cá hiện tại, xóa bỏ thẻ vàng IUU và nâng cao hơn nữa hoạt động khai thác bền vững Từ đó, đặt ra định hướng quản lý và khai thác tài nguyên thiên nhiên bền vững trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và tuân thủ các quy định của luật pháp quốc tế

Vì những lẽ trên, tôi tâm huyết chọn đề tài “Chính sách, pháp luật của

Australia về xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp của ngư dân và kinh nghiệm cho Việt Nam” làm Luận văn Thạc sĩ của mình

1.2 Tình hình nghiên cứu

Liên quan đến vấn đề ―Chính sách, pháp luật của Australia về xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp của ngư dân và kinh nghiệm cho Việt Nam‖ đã có những nghiên cứu sau:

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

1 Bài nghiên cứu ―Đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không được kiểm soát và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam‖ của tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Ngân (2018), đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 6 (358)-tháng 3/2018

Trang 13

Bài nghiên cứu nêu lên được các vấn đề lý luận chung liên quan đến hoạt động đánh bắt cá cũng như hoạt động đánh bắt cá IUU trên nền tảng cơ sở các quy định chung của luật quốc tế và các thỏa thuận quốc tế Bên cạnh đó bài nghiên cứu cũng làm rõ được các thách thức đang đặt ra đối với Việt Nam liên quan đến vấn đề đánh bắt cá IUU, là cơ sở cung cấp các nền tảng lý luận để thực hiện Luận văn này Tuy nhiên, phạm vi của bài nghiên cứu gói gọn trong khuôn khổ của tạp chí nên nhiều vấn đề chưa được giải quyết, bài viết mới dừng lại ở những nghiên cứu lý luận và những vấn

đề đặt ra đối với Việt Nam, trong đó có mối liên hệ đến các quốc gia khác trong khu vực, cũng như phương hướng giải quyết cụ thể cho Việt Nam

2 Bài viết ―Một số giải pháp nhằm ngăn chặn tình trạng tàu cá Việt Nam khai thác IUU của Lực lượng Cảnh sát biển‖ (2020) của thiếu tá Bùi Thị Thanh Huyền, Trợ lý Phòng PCTP vi phạm/Cục Nghiệp vụ và pháp luật, đăng trên trang web chính thức của Cảnh sát biển Việt Nam tại địa chỉ: https://canhsatbien.vn/portal/cong-tac-canh-sat-bien/mot-so-giai-phap-nham-ngan-chan-tinh-trang-tau-ca-viet-nam-khai-thac-iuu-cua-luc-luong-canh-sat-bien Bài Viết đưa ra các số liệu về tình hình đánh bắt cá bất hợp pháp của Việt Nam trong những năm gần đây, và đưa ra được hệ các giải pháp mà lực lượng cảnh sát biển cần

áp dụng để ngăn chặn tình trạng khai thác IUU của ngư dân Tuy nhiên, như phạm vi thể hiện ở tiêu đề, bài viết chỉ mới dừng lại ở việc khái quát vấn đề và giải quyết vấn

đề dưới khía cạnh của lực lượng cảnh sát biển nên chưa làm rõ được thực trạng chính sách, pháp luật của Việt Nam về xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp như yêu cầu của Luận văn này đặt ra

3 Bài viết ―Khó khăn lắp đặt thiết bị giám sát hành trình trên tàu cá‖ (2020) của tác giả Hải Lý đăng trên trang web Thủy sản Việt Nam tại địa chỉ: https://thuysanvietnam.com.vn/kho-khan-lap-dat-thiet-bi-giam-sat-hanh-trinh-tren-tau-ca/ Trong khuôn khổ gói gọn bài viết chỉ tập trung làm rõ thực trạng lắm đặt thiết

bị giám sát hành trình đối với tàu cá Việt Nam hiện nay Qua đó, cung cấp thông tin thực tiễn để Luận văn này tiến hành công tác đánh giá tình hình xử lý vi phạm nghề

Trang 14

cá trên thực tế của Việt Nam và đi đến đề xuất những kinh nghiệm cụ thể trên cơ sở những kinh nghiệm được đúc kết từ chính sách, pháp luật biển Australia

4 Luận văn: Cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước của Liên hợp quốc

về luật biển năm 1982, của tác giả Nguyễn Mạnh Đông (2009), Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội Phạm vi nghiên cứu của luận văn liên quan đến các cơ chế giải quyết tranh chấp trong UNCLOS 1982, qua đó cũng cấp một số nền tảng lý luận cơ bản để đánh giá thực trạng xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp của các quốc gia trong khu vực đối với tàu cá Việt Nam dưới khía cạnh luật pháp quốc tế

5 Bài tham luận: ―Đánh bắt cá bất hợp pháp: Một số phân tích từ góc độ luật nhân đạo quốc tế và thực tiễn của các quốc gia tại Biển Đông‖ của hai học giả Nguyễn Thị Hồng Yến, Nguyễn Phương Dung tại Hội thảo quốc tế: Những phát triển của luật biển quốc tế - góc nhìn quốc tế và Việt Nam, Đà Nẵng, do Đại học Duy Tân

và Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội tổ chức năm 2018 Trong tham luận này, hai tác giả đã làm rõ được các vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp dưới góc độ luật nhân đạo quốc tế, trong đó, làm rõ được những biện pháp không được áp dụng trong quá trình xử lý hành vi đánh bắt cá IUU và thực tiễn áp dụng trong khu vực Biển Đông Qua đó, Tham luận góp phần giải quyết được những vấn đề về lý luận liên quan đến việc xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp dưới khía cạnh luật quốc tế của luận văn này Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của Luận văn đặt

ra bao gồm cả việc nghiên cứu về chính sách, pháp luật của Australia về xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp của ngư dân, do đó, bài tham luận chưa thể đáp ứng được hết tất cả các yêu cầu về tình hình nghiên cứu

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1 Bài nghiên cứu: ‗Blue boats‘ and ‗reef robbers‘: A new maritime security threat for the Asia Pacific của nhóm tác giả: Andrew M Song, Viet Thang Hoang, Philippa J Cohen, Transform Aqorau, Tiffany H Morrison (2019), đăng trên tạp chí Asia Pacific viewpoint (volume 60, issue 3) Bài nghiên cứu về tập trung vào vấn đề

Trang 15

đánh bắt cá bất hợp pháp của ―thuyền xanh‖ Việt Nam tại các quốc đảo nam đại dương, trong đó có Australia Trong đó làm rõ được thực trạng đánh bắt cá bất hợp pháp của một số tàu cá Việt Nam hiện nay, đồng thời đưa ra được những mối đe dọa

mà vấn đề đánh bắt cá bất hợp pháp gây ra đối với tàu nguyên, môi trường biển cũng như các vấn đề an ninh phi truyền thống Nghiên cứu cũng đưa ra được những giải pháp mà Australia và các quốc đảo khu vực này sử dụng để ngăn chặn nạn đánh bắt

cá bất hợp pháp Tuy nhiên nghiên cứu chưa đi vào làm rõ thực trạng xử lý hành vi đánh bắt cá trái phép trên thực tế mà tập trung nhiều hơn trong việc nghiên cứu vấn

đề dưới góc độ là một mối đe dọa về an ninh

2 Bài viết ―The blue threat: Vietnamese poachers are rocking the boat in the Pacific‖ năm 2017 của tác giả Bernadette H Carreon đăng tại địa chỉ: https://www.pacificislandtimes.com/single-post/2017/01/06/The-blue-threat-Vietnamese-poachers-are-rocking-the-boat-in-the-Pacific Bài viết đề cập đến vấn đề đánh bắt cá bất hợp pháp của tàu cá Việt Nam, những nguyên nhân sâu xa dẫn đến thực trạng này và đề ra những giải pháp mà diễn đàn nghề cá Tây và Trung Thái Bình Dương sử dụng để ngăn chặn hoạt động đánh bắt cá IUU đến từ thuyền xanh Đây là những số liệu quan trọng nhằm đánh giá thực trạng đánh bắt cá bất hợp pháp hiện tại của Việt Nam, tuy nhiên với phạm vi của một bài viết, nên các vấn đề chuyên sâu liên quan đến thực trạng chính sách pháp luật về xử lý các vi phạm này chưa được tác giả

đề cập

3 Bài viết: ―Lack of Transparency: the Achilles Heel in IUU Fishing Control‖ của House of Ocean năm 2016 đăng tại địa chỉ: http://www.iuuwatch.eu/2016/06/lack-of-transparency-the-achilles-heel-in-iuu-fishing-control/ Trong bài viết này tác giả đã đưa ra được điểm yếu trong công tác kiểm soát hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp của các quốc gia ven biển Châu Âu, trong đó làm rõ được vai trò của thiết bị giám sát tàu cá trong công tác xử lý vi phạm nghề cá Qua đó, góp phần hỗ trợ luận văn giải quyết các vấn đề có liên quan đến mô hình giám sát tàu cá này tại Việt Nam Tuy nhiên, như đã đề cập, phạm vi nghiên cứu mà

Trang 16

bài viết đặt ra là khu vực châu Âu nên không thể giải quyết triệt để các yêu cầu đặt ra của Luận văn này

4 Cuốn sách ―Illegal, Unreported and Unregulated Fishing in Historical Perspective‖ của tác giả Joseph Christensen năm 2016, Nhà xuất bản Springer, Dordrecht Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã làm rõ được các vấn đề về đánh bắt cá bất hợp pháp tại các quốc đảo Nam đại dương, trong đó có Australia, đây

là tài liệu góp phần hỗ trợ Luận văn nghiên cứu các nội dung thực tiễn về chính sách

xử lý các vi phạm về đánh bắt cá bất hợp pháp của Australia

5 Bài nghiên cứu: ―Australia‘s Response to Illegal Foreign Fishing: A case of winning the Battle but losing the Law?‖ của tác giả Rachel Baird (2008), đăng tại tạp chí International Journal of Marine and Coastal Law, số 23 (1) Bài nghiên cứu đã tiến hành đánh giá hệ thống pháp luật biển của Australia liên quan đến việc xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp của tàu thuyền nước ngoài, và đưa ra được những hạn chế trong pháp luật Australia, qua đó cung cấp những nhận định khoa học để thực hiện Luận văn này Tuy nhiên, bài nghiên cứu được thực hiện từ khá lâu, nhiều vấn đề được đặt ra của tác giả không còn phù hợp với tình hình hiện tại

6 Báo cáo ―Illegal fishing and child labour in Vietnam‘s fishing fleet‖ năm

2019 của The Environmental Justice Foundation (EJF) Trong báo cáo này, Quỹ công lý môi trường đã nêu lên được những vấn đề liên quan đến thực trạng đánh bắt

cá bất hợp pháp hiện nay của Việt Nam, trong đó có các vấn đề như không lắp đặt các thiết bị giám sát, không có nhật ký hải trình, không có hợp đồng lao động, hay sử dụng lao động trẻ em, vì báo cáo được thực hiện dưới khía cạnh xem xét tổng quan thực trạng còn tồn tại của nghề cá Việt Nam nên chưa có những nghiên cứu và kết luận chuyên sâu mà chỉ mới dừng lại ở việc đặt vấn đề và nêu lên thực trạng hiện tại

Trang 17

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

1.3.1 Mục tiêu tổng quát

Luận văn xác định mục tiêu là làm sáng tỏ được hệ thống chính sách, pháp luật biển của Australia về xử lý hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp của ngư dân, đánh giá và đưa ra những kinh nghiệm thực tiễn cho Việt Nam

1.3.2 Mục tiêu cụ thể

Để đạt được mục tiêu trên, Luận văn sẽ hoàn thành những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, làm rõ được các vấn đề tổng quan của hoạt động đánh bắt cá bất

hợp pháp, bao gồm lịch sử hình thành và các khái niệm có liên quan đến hoạt động khai thác IUU Song song đó, làm rõ vai trò của hoạt động nghề cá và thực trạng đánh bắt cá bất hợp pháp trên các vùng biển của Australia để lý giải tại sao quốc gia này lại phát triển hệ thống chính sách, pháp luật về vấn đề này

Thứ hai, tổng hợp và làm rõ hệ thống chính sách, pháp luật quốc tế có liên

quan đến vấn đề đánh bắt cá IUU, và hệ thống chính sách pháp luật của Australia về vấn đề này

Thứ ba, trên cơ sở những vấn đề tổng quan về đánh bắt cá bất hợp pháp, làm

rõ hệ thống chính sách của Australia trong công tác phát hiện, ngăn ngừa và loại bỏ hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp Những quy định pháp luật cụ thể và hình thức xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp trong pháp luật Australia Từ đó, đưa ra những đánh giá, kết luận chung về hệ thống chính sách, pháp luật của quốc gia này

Thứ tư, phân tích và làm sáng tỏ thực trạng nghề cá của Việt Nam hiện tại và

hệ thống chính sách, pháp luật điều chỉnh hiện hành Tiến hành đánh giá hệ thống chính sách, pháp luật về xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp của Việt Nam trên cơ

sở đối chiếu với hệ thống chính sách, pháp luật Australia và pháp luật quốc tế đã được nghiên cứu trước đó

Trang 18

Thứ năm, trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đã đạt được, đưa ra những kinh

nghiệm cụ thể về việc xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp trong trường hợp của Việt Nam

1.4 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Về mặt lý luận: (i) Luận văn đã đạt được thành công bước đầu trong việc làm

sáng rõ và sâu sắc thêm các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến hoạt động đánh bắt

cá bất hợp pháp dưới khía cạnh luật pháp quốc tế Song song đó, luận văn cũng hệ thống và đưa ra được các cơ sở pháp lý quốc tế hiện tại có liên quan đến hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp Đây sẽ là cơ sở lý luận quan trọng cho những nghiên cứu chuyên sâu và mở rộng liên quan đến vấn đề đánh bắt cá bất hợp pháp, bảo vệ môi trường và bảo tồn các nguồn tài nguyên sinh vật biển (ii) Luận văn cũng đưa ra được

hệ thống chính sách, pháp luật của Australia về đánh bắt cá bất hợp pháp, cũng như bước đầu làm sáng tỏ những nội dung chuyên sâu liên quan đến việc xử lý vi phạm về đánh bắt cá bất hợp pháp của ngư dân trong hệ thống chính sách, pháp luật này Qua

đó, góp phần đánh giá luận giải và đưa ra được những kinh nghiệm cụ thể cho trường hợp Việt Nam Những kết quả đạt được này sẽ là tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo nhằm hướng đến việc xây dựng một hệ thống chính sách, pháp luật toàn diện hơn nữa về đánh bắt cá, xóa bỏ thẻ vàng nghề cá và hướng đến một khu vực Biển Đông khai thác và phát triển bền vững trong tương lai (iii) Luận văn cũng đã thành công trong việc phân tích và đánh giá hệ thống chính sách, pháp luật về xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp của Việt Nam hiện tại, đây sẽ là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu

và hoàn hiện hệ thống chính sách, pháp luật hiện tại của Việt Nam

Về mặt thực tiễn: (i) Luận văn đã đưa ra được thực trạng đánh bắt cá bất hợp

pháp tại các vùng biển của Australia và thực tiễn xử lý vi phạm của quốc gia này, qua

đó, đây sẽ là cơ sở quan trọng chứng minh cho sự thành công trong hệ thống chính sách, pháp luật có liên quan (ii) Luận văn cũng làm sáng tỏ được thực trạng đánh bắt

cá bất hợp pháp của một số cộng đồng ngư dân Việt Nam và hiện trạng xử lý vi phạm trên thực tế của các cơ quan chức năng, lực lượng thực thi pháp luật trên biển Các

Trang 19

điểm mới này không chỉ giúp luận văn tổng kết, đánh giá được thực trạng đánh bắt cá bất hợp pháp hiện tại và đưa ra được những kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam mà còn cung cấp tư liệu cho những nghiên cứu tiếp theo về vấn đề này

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đánh bắt cá bất hợp pháp, đặc biệt là chính sách, pháp luật của Australia về

xử lý hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp của ngư dân

1.5.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về hệ thống chính sách, pháp

luật có liên quan đến hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp và việc xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp của ngư dân, trong mối liên hệ đến các quy định của pháp luật

quốc tế, khu vực, chính sách, pháp luật có liên quan của Australia và Việt Nam

Về không gian: Luận văn nghiên cứu tập trung vào các vùng biển thuộc quyền

quản lý của Australia và các vùng biển của Việt Nam, cũng như các vùng biển lân cận, nơi có các hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp diễn ra cần được xử lý như nội dung phạm vi nghiên cứu đã trình bày

2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1 Nội dung nghiên cứu

Luận văn tập trung vào 03 vấn đề chính sau đây:

Thứ nhất, làm rõ được tổng quan về hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp dưới

khía cạnh luật quốc tế

Thứ hai, nghiên cứu và phân tích cơ sở pháp lý liên quan đến việc xử lý hành

vi đánh bắt cá bất hợp pháp trong chính sách, pháp luật của Australia

Thứ ba, đưa ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ việc xử lý hành vi đánh

bắt cá bất hợp pháp của ngư dân

Trang 20

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, cụ thể:

Về phương pháp luận, Luận văn được thực hiện dựa trên nền tảng phương

pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Marx-Lenin

Về phương pháp hệ, một số phương pháp tiêu biểu thường được sử dụng

trong lĩnh vực khoa học xã hội, chuyên ngành pháp lý bao gồm:

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đây là phương pháp chủ đạo xuyên suốt

nội dung của Luận văn trong việc tiếp cận, nghiên cứu các khái niệm và những luận điểm khoa học Bên cạnh đó, Luận văn còn sử dụng phương pháp này để làm rõ những quy định trong chính sách, pháp luật biển của Australia về xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp của ngư dân Lý giải thực trạng đánh bắt cá trái phép của tàu thuyền Việt Nam hiện tại và đánh giá hệ thống chính sách, pháp luật hiện hành của Việt Nam về vấn đề này

Phương pháp lịch sử: Luận văn sử dụng phương pháp này để tìm nguồn gốc

phát sinh, quá trình phát triển và chuyển hóa để phát hiện bản chất và quy luật vận động của khái niệm đánh bắt cá bất hợp pháp và các khái niệm có liên quan khác

Phương pháp so sánh: Phương pháp này được vận dụng ở cả 3 chương của

Luận văn để tìm ra những nét tương đồng hay khác biệt giữa các vấn đề lý luận, cơ sở pháp lý và thực tiễn trong chính sách pháp luật biển của Australia

Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu và rõ nét nhất

trong việc tiến hành thực hiện Chương 2 và Chương3 khi phân tích tích và làm rõ hệ thống chính sách pháp luật của Australia và Việt Nam về xử lý hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp của ngư dân, ngoài ra phương pháp này còn được sử dụng ở các Chương 1 nhằm tổng hợp và luận giải các vấn đề có liên quan

Về phương pháp lập luận cụ thể, Luận văn kết hợp sử dụng nhiều phương

pháp lập luận để hành văn rõ ràng nhưng cũng đảm bảo tính trôi chảy, mạch lạc như: phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp

Trang 21

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH BẮT CÁ BẤT HỢP PHÁP

1.1 Lịch sử hình thành, khái luận chung về đánh bắt cá bất hợp pháp

1.1.1 Tổng quan về hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp và lịch sử hình thành

Đánh bắt cá bất hợp pháp trong Luận văn này được hiểu một cách đầy đủ là những hoạt động đánh bắt cá trên biển trái với các quy định hiện hành của quốc gia ven biển, các quy định chung của tổ chức nghề cá khu vực và hệ thống pháp luật quốc

tế về quản lý nghề cá nhằm đảm bảo khai thác bền vững, bảo vệ môi trường và bảo tồn nguồn tài nguyên cá trong đó bao gồm ba nhóm vi phạm chính bao gồm đánh bắt

cá bất hợp pháp, không báo cáo và không được kiểm soát

Mặc dù vấn đề đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không được kiểm soát và tác hại của hoạt động này không phải là vấn đề mới, tuy nhiên việc bất cập trong công tác xử lý vi phạm cũng như việc thực thi hệ thống chính sách, pháp luật có điều chỉnh trên thực tế đã làm cho hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp trở thành mối

đe dọa toàn cầu Trong nhiều thập kỷ qua hoạt động đánh bắt quá mức đã dẫn đến nguy cơ của một cuộc khủng hoảng sắp diễn ra đối với nguồn cá trên toàn thế giới, khi mà các nguồn thủy sản này thường xuyên bị khai thác quá mức và không bền vững

Trên thực tế, thuật ngữ ―bất hợp pháp, không báo cáo và không được kiểm soát‖ được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1997 do Ủy ban Bảo tồn Tài nguyên Sinh vật biển Nam Cực (CCAMLR) đưa ra trong một báo cáo ghi nhận về tình trạng đánh bắt bất hợp pháp diễn ra trong vùng đặc quyền kinh tế thuộc Nam Đại Dương [27][44, tr 135] Năm 1999, trước những áp lực của hành vi đánh bắt bất hợp pháp, FAO

đã cam kết phát triển một chiến lược toàn cầu về vấn đề này [44, tr 135]Theo đó, năm 2001, FAO đã cho ra đời Kế hoạch hành động quốc tế nhằm hạn chế, ngăn chặn

và loại bỏ đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không được kiểm soát (FAO 2001) quy định cụ thể hơn về hoạt động đánh bắt cá IUU Trong đó chính thức ghi nhận IUU là một thuật ngữ chỉ hành vi đánh bắt cá trái phép được hợp thành bởi 03

Trang 22

hành vi cụ thể bao gồm đánh bắt cá bất hợp pháp, đánh bắt cá không được báo cáo và đánh bắt cá không được kiểm soát Có thể nhận thấy, đánh bắt cá IUU là một thuật ngữ rộng hơn so với các khái niệm về khai thác không bền vững, định nghĩa này bao gồm nhiều hoạt động đánh bắt khác nhau, và thường được thực hiện bởi các tàu không treo cờ quốc gia hoặc tàu treo cờ của một quốc gia nhưng không được phép đánh bắt cá trong vùng biển của một quốc gia ven biển, hoặc đánh bắt xa bờ dưới sự kiểm soát của tổ chức quản lý nghề cá khu vực

Những vi phạm liên quan đến khai thác IUU xảy ra ở nhiều cấp độ khác nhau, tùy thuộc vào sự liên quan của hoạt động đánh bắt cá đến chuỗi lợi ích mà chủ thể vi phạm nhận được Chính vì vậy, các sai phạm liên quan đến đánh bắt cá IUU được diễn ra ở cả trên biển và trên đất liền trong suốt quy trình khai thác, chế biến và tiêu thụ cá Điều đó có nghĩa là, những sai phạm về đánh bắt cá IUU không chỉ đơn thuần thuộc về người khai thác mà còn liên quan đến nhiều nhóm đối tượng khác nhau, trong đó nhóm chủ thể khai thác là nhóm đối tượng chính yếu và thường xuyên nhất của vi phạm Theo số liệu từ năm 2018, khoảng 20% tổng trữ lượng cá và sản phẩm

cá trên thị trường thế giới được ước tính có nguồn gốc từ đánh bắt cá bất hợp pháp Giá trị ước tính của các sản phẩm cá bất hợp pháp này khoảng 23,5 tỷ USD[51] Đánh bắt cá bất hợp pháp gây thiệt hại lớn về kinh tế và xã hội cho tất cả quốc gia phải đối mặt với vấn đề này, làm méo mó thị trường, xáo trộn các nền tảng tự nhiên của nguồn cá và khiến nguồn tài nguyên bị thu hẹp Vấn đề này còn đặc biệt nghiêm trọng đối với các quốc đảo nhỏ hơn ở Nam bán cầu, vì các quốc đảo này chủ yếu có nền kinh tế dựa vào nghề cá, làm tổn hại đến kinh tế và an ninh lương thực

Về phạm vi tiến hành, đánh bắt cá IUU thường diễn ra trong các khu vực thuộc phạm vi quyền tài phán quốc gia, trong các khu vực thuộc sự kiểm soát của cơ quan thủy sản khu vực và thậm chí là trên các vùng biển quốc tế Trước nhu cầu tiêu dùng ngày càng lớn đối với các sản phẩm thủy sản cũng như sự suy giảm tài nguyên thủy sản đã dẫn đến tình trạng đánh bắt cá IUU ngày càng tăng, đây là mối quan tâm lớn đối với tất cả các quốc gia đánh cá có trách nhiệm, trong đó có Australia Trong

Trang 23

một báo cáo năm 1999 gửi Đại hội đồng LHQ, Tổng thư ký LHQ tuyên bố rằng đánh bắt cá IUU là ―một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất hiện đang ảnh hưởng đến nghề cá thế giới‖ [44, tr 135]

Như vậy, bằng cách cản trở những nỗ lực điều chỉnh một ngành công nghiệp nghề cá hợp pháp, đánh bắt cá IUU đang là một trong những mối đe dọa hàng đầu đến an ninh lương thực trên toàn thế giới, có nguy cơ làm thất thoát hàng trăm triệu USD đối với các quốc gia hoạt động nghề cá và đe dọa đến sinh kế của đại đa số cư dân ven biển vì nguồn cá có giá trị đang dần cạn kiệt dưới mức bền vững Tuy nhiên, bất chấp các nguy cơ đe dọa đối với môi trường bởi những hoạt động khai thác cường

độ cao, hiện trạng sử dụng ngư lưới cụ có tính chất hủy diệt càng làm tăng thêm mối

lo ngại đối với vấn đề này [44, tr 135]

1.1.2 Định nghĩa về đánh bắt cá bất hợp pháp, và xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp

Như đã đề cập, Kế hoạch hành động quốc tế nhằm hạn chế, ngăn chặn và loại

bỏ đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không được kiểm soát 2001 là văn bản ghi nhận các định nghĩa đầy đủ nhất về hoạt động đánh bắt cá IUU, theo đó:

Đánh bắt bất hợp pháp là các hoạt động đánh bắt cá: (i) được thực hiện bởi

tàu thuyền của quốc gia hoặc nước ngoài trong vùng biển thuộc quyền tài phán của một quốc gia mà không được quốc gia đó cho phép hoặc trái với các quy định pháp luật của quốc gia đó về vấn đề nghề cá; (ii) được thực hiện bởi tàu thuyền mang cờ của các quốc gia là thành viên của một tổ chức quản lý nghề cá khu vực có liên quan nhưng hoạt động đánh bắt thủy sản được thực hiện trái với các quy định về bảo tồn và quản lý nguồn lợi thủy sản được thông qua bởi tổ chức quản lý nghề cá đó cũng như các quy định có liên quan của pháp luật quốc tế hiện hành; hoặc là (iii) các hoạt động

vi phạm luật pháp quốc gia hoặc nghĩa vụ quốc tế, bao gồm cả những hoạt động được thực hiện bởi công dân của quốc gia hợp tác với một tổ chức quản lý nghề cá khu vực

có liên quan nhưng trái với quy định của tổ chức đó về vấn đề bảo tồn và quản lý nguồn lợi thủy sản [40, tr 2]

Trang 24

Đánh bắt không được báo cáo là những hoạt động đánh bắt cá: (i) không báo

cáo hoặc báo cáo sai sự thật cho các cơ quan có thẩm quyền của quốc gia có liên quan, trái với hệ thống pháp luật và quy định của quốc gia đó; hoặc là (ii) được thực hiện trong vùng biển thuộc thẩm quyền quản lý của một tổ chức quản lý nghề cá khu vực có liên quan nhưng không báo cáo hoặc báo cáo sai sự thật, trái với các thủ tục báo cáo của tổ chức đó [40, tr 2]

Đánh bắt không được kiểm soát là các hoạt động đánh bắt cá: (i) được tiến

hành trong vùng biển thuộc sự quản lý của một tổ chức quản lý nghề cá khu vực có liên quan, bởi các tàu không có quốc tịch hoặc các tàu mang cờ của một quốc gia không phải thành viên của tổ chức quản lý nghề cá đó hoặc được thực hiện bởi các chủ thể đánh bắt cá theo các phương thức không phù hợp hoặc trái với các biện pháp

về bảo tồn và quản lý tài nguyên của tổ chức nghề cá đó; hoặc là (ii) Đánh bắt cá trong các vùng biển hoặc đối với các nguồn cá chưa có các quy định về biện pháp bảo tồn và quản lý tài nguyên tương ứng Song song đó, các hoạt động đánh bắt này được thực hiện trái với các nghĩa vụ của quốc gia về bảo tồn tài nguyên sinh vật biển theo luật quốc tế [7] [40 tr 2, 3]

Có thể nhận thấy, trước tình hình gia tăng của các hoạt động đánh bắt cá IUU trên toàn cầu, một định nghĩa có nội hàm rộng như vậy về đánh bắt cá IUU là điều thiết yếu Qua đó, áp dụng rộng rãi đối với các hoạt động trên thực tế, cũng như các khuyến nghị của IPOA Bên cạnh đó, việc đưa ra định nghĩa chính xác đối với hoạt động đánh bắt cá IUU cũng là cơ sở quan trọng cho việc nhận diện các hoạt động trái phép này trên thực tế, hướng đến việc xử lý triệt để vi phạm, phát hiện, phòng ngừa

và ngăn chặn hoạt động đánh bắt cá đi ngược lại các xu hướng chung được xây dựng

và phát triển bởi cộng đồng quốc tế

Trên cơ sở đó, thuật ngữ, xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp trong Luận văn này được sử dụng như một thuật ngữ để chỉ các biện pháp được đặt ra nhằm giải quyết thực trạng đánh bắt trái phép trên thực tế, trong đó bao gồm các hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không được kiểm soát Các hoạt động liên

Trang 25

quan đến công tác xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp bao gồm: (1) Hệ thống các quy định của pháp luật nhằm xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp; (2) Hệ thống các chính sách được áp dụng nhằm xử khắc phục, giải quyết thực trạng đánh bắt cá bất hợp pháp; và (3) thực trạng áp dụng và thực thi hệ thống chính sách, pháp luật về

xử lý hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp trên thực tế

1.2 Vai trò của hoạt động nghề cá và thực trạng đánh bắt cá bất hợp pháp trên các vùng biển của Australia

1.2.1 Tổng quan về vai trò của hoạt động nghề cá đối với Australia

Tổng quan về đất nước Australia

Australia tên đầy đủ là Liên bang Australia (The Commonwealth of Australia) là một quốc gia nằm phía Nam bán cầu được bao bọc bởi Nam Thái Bình Dương ở phía Đông, Ấn Độ Dương ở phía Tây, Biển Arafura ở phía Bắc và Nam Đại Dương ở phía Nam, với diện tích đất liền 7.74 triệu km2 Các nước láng giềng của Australia gồm có New Zealand về phía Đông Nam; Indonesia, Đông Timor và Papua New Guinea về phía Bắc; Quần đảo Solomon, Vanuatu và New Caledonia về phía Đông Bắc [25] Sự phân cấp địa giới hành chính của Australia được chia thành sáu bang và hai vùng lãnh thổ, bao gồm: New South Wales, Victoria, Tasmania, Nam Australia, Queensland, Tây Australia, Lãnh Thổ phía Bắc nước Australia và Lãnh Thổ Thủ Đô nước Australia Ngoài ra, Australia có một số lãnh thổ phụ thuộc, gồm một số đảo và quần đảo như: Ashmore và Cartier, Christmas, Cocos, Biển San hô, Heard, Mc Donald, Norfolk và Macquarie [10]

Theo Hiến pháp của Australia, quyền lập pháp được giao cho Quốc hội, Chính phủ nắm quyền hành pháp và các cơ quan tư pháp Cơ cấu này được tổ chức ở cả cấp Liên bang và Bang [3, tr 67, 68] Đối với vấn đề lập pháp, Quốc hội Liên bang là cơ quan quyền lực cao nhất bao gồm 2 viện: Hạ viện và Thượng viện Quốc hội mỗi bang cũng gồm 2 viện Chính phủ liên bang có trách nhiệm quản lý nhà nước và thực thi hệ thống chính sách, pháp luật hiện hành Trong đó, Đảng hoặc liên minh đảng nào chiếm đa số phiếu trong Hạ viện thì có quyền thành lập chính phủ Người đứng

Trang 26

đầu Chính phủ Liên bang là Thủ tướng, có nhiệm kỳ 3 năm và có quyền chỉ định các

Bộ trưởng trong nội các Người đứng đầu chính quyền các bang là Thủ hiến Bang Dưới cấp bang có các chính quyền địa phương [10]

Như vậy, bằng một hệ thống bộ máy nhà nước đặc thù theo thể chế liên bang, hoạt động ban hành và thực thi chính sách, pháp luật về biển, đảo của Asutralia đặc biệt là chính sách, pháp luật về hoạt động quản lý nghề cá và xử lý các vi phạm liên quan đến đánh bắt cá bất hợp pháp cũng được trao quyền cho hội đồng lưỡng viện và chính phủ Bên cạnh đó, là một quốc gia biển, các bang và lãnh thổ đặc biệt trong khối thịnh vượng chung cũng có quyền ban hành hệ thống chính sách pháp luật riêng của mình và kiểm soát trong một phạm vi lãnh thổ mà liên bang trao quyền Chính sự đặc biệt từ vị trí địa và cơ cấu tổ chức nhà nước này đã tạo nên những đặc điểm đặc thù trong hệ thống chính sách, pháp luật của Australia, các nội dung này sẽ được phân tích cụ thể tại Chương 2

Vai trò của biển và đại dương đối với Australia

Là một quốc gia biển, Australia có đường bờ biển dài 25760 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng gần 11 triệu km2, lớn thứ ba trên thế giới, vùng biển Australia là nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật, với hơn 4000 loài cá, trong đó bao gồm cả những loài đặc trưng chỉ xuất hiện ở vùng biển này Australia cũng là quốc gia có hệ sinh thái cỏ biển lớn và đa dạng nhất thế giới, diện tích các rạn san hô lớn nhất thế giới và các loại cây ngập mặn đa dạng [19] Các vùng biển và đại dương của Australia có đóng góp đáng kể vào đời sống của nhiều người dân Australia với 85% dân cư sống tại các khu vực ven biển, 95% khối lượng hàng hóa được vận chuyển bằng đường biển Biển và đại dương là một phần quan trọng và thiết yếu trong việc kết nối không gian văn hóa biển và đất liền, thông qua các cộng đồng dân cư [18]

Nguồn tài nguyên biển đã góp phần hỗ trợ cho hoạt động nghề cá và nuôi trồng thủy sản thương mại của Australia với nguồn lợi nhuận khoảng 2,5 tỷ USD trong giai đoạn 2013 -2014 Các chuyên gia Australia dự báo, giá trị kinh tế của các nguồn tài nguyên khai thác từ đại dương của quốc gia này dự kiến sẽ tăng gấp đôi vào

Trang 27

năm 2029-2030 [18] Đáng chú ý, ngành công nghiệp đánh cá là một trong sáu ngành công nghiệp thực phẩm cơ bản của Australia đem về lợi nhuận hàng năm lên đến 1,4

tỷ AUD (số liệu vào năm 2012-2013) Ngoài ra, câu cá giải trí còn đóng góp thêm 2,5

tỷ AUD cho nền kinh tế quốc gia Tổng sản lượng thủy sản lên đến 232.600 tấn trong năm 2013 trong đó 67% sản lượng đến từ đánh bắt hải sản Tuy nhiên, con số này đã giảm kể từ năm 2005 phản ánh sự sụt giảm lớn của nguồn tài nguyên biển tại Australia Sản lượng thủy sản nuôi chiếm ưu thế là cá hồi Đại Tây Dương (55%) và động vật thân mềm (25%) Đối với ngành đánh bắt, tôm hùm đá, cá ngừ vây xanh miền Nam, bào ngư, sò và tôm là những loài chủ đạo, chiếm phần lớn kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Australia Năm 2013, ngành thủy sản đã cung cấp khoảng 8.600 việc làm trực tiếp với 15% lao động nữ Năm 2011, Australia có khoảng 2.170 tàu đánh cá, trong đó có 94 tàu có chiều dài dưới 24 mét [39]

Trong báo cáo năm 2010, 96 ngư trường thuộc 22 khu công nghiệp nghề cá đã được đánh giá, trong đó 56 ngư trường được đánh giá đảm bảo các điều kiện đánh bắt, 11 ngư trường thuộc hạng mục đánh bắt quá mức và 29 ngư trường còn lại không chắc chắn về tình trạng đánh bắt của chúng Trong đó, các khu công nghiệp nghề cá được đánh giá bao gồm 10 khu được quản lý bởi Cơ quan quản lý nghề cá Australia,

và 12 khu công nghiệp nghề cá được quản lý chung với các khu vực pháp lý khác của Australia ở cấp độ bang hoặc các quốc gia khác thông qua các thỏa thuận quốc tế [39]

Trước tình trạng đó, Chính phủ Australia ủng hộ cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái để quản lý nghề cá như là một phần của việc thực hiện phát triển bền vững

về mặt sinh thái Qua đó, đòi hỏi một cách tiếp cận toàn diện nhằm quản lý xem xét các tương tác nghề cá và tác động đến các loài sinh vật biển (bao gồm các loài bị đe dọa, có nguy cơ tuyệt chủng và được bảo vệ), môi trường sống ở biển, cộng đồng và

hệ sinh thái Trên cơ sở đó, các khu bảo tồn biển Khối thịnh vượng chung mới được quy hoạch để đáp ứng các cam kết quốc tế và quốc gia đang được thiết lập từ năm

2012 [39]

Trang 28

Như vậy, có thể nhận thấy, nghề cá, đặc biệt là đánh bắt cá thương mại, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Australia, góp phần nâng cao GDP mỗi năm của khối Thịnh vượng chung, giải quyết vấn đề việc làm và nhu cầu sinh kế cho một bộ phận không nhỏ công dân Australia, đóng góp vào hoạt động đảm bảo an ninh lương thực của Austrlia cũng như nhiều quốc gia nhập khẩu cá khác Tuy nhiên, tương như nhận định đặt ra về sự cấp thiết của nghề cá trong Luận văn này, đánh bắt cá, đặc biệt

là đánh bắt quá mức, gây căng thẳng cho một số loài và cũng có thể ảnh hưởng đến các loài khác thông qua sự gián đoạn chuỗi thức ăn hoặc vô tình bắt cá, chim, động vật có vú và rùa khác trong các ngư trường của Australia

1.2.2 Thực trạng đánh bắt cá bất hợp pháp trên các vùng biển của Australia

Đánh bắt bất hợp pháp một lần nữa trở thành tâm điểm chú ý sau khi Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNEP) và Đánh giá phản ứng nhanh của INTERPOL xem xét sự gia tăng của Tội phạm Môi trường bao gồm tội phạm môi trường có tổ chức xuyên quốc gia và buôn bán trái phép tài nguyên thiên nhiên Theo đó, đánh bắt bất hợp pháp ngày càng được nhìn nhận như một thảm họa sinh thái, thách thức sinh

kế cá nhân, sự tồn tại kinh tế của các ngành công nghiệp nghề cá và xa hơn nữa là sự tồn tại của các quốc đảo nhỏ Những ảnh hưởng của hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp đã và đang đe dọa đến sự bền vững trong nghề cá của hầu hết các quốc gia ven biển, trong đó Australia cũng như các lãnh thổ phụ thuộc trong khối Thịnh vượng chung không phải là một ngoại lệ Hiện tại, hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp diễn

ra trong lãnh thổ Australia phần lớn đều xuất phát từ các tàu cá nước ngoài

Hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp của tàu cá nước ngoài trong vùng biển của Australia được nhìn nhận như một trong 08 mối đe dọa gây ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia Australia, được chính phủ Australia nhìn nhận như một vấn đề nguy hại tồn tại trong hoạt động dân sự trên biển Hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp của FFVs tại Australia chủ yếu tập trung vào các vùng biển phía bắc của quốc gia này đồng thời

Trang 29

nhắm đến các loại có giá trị cao như vi cá mập, hải sâm, cá rạn san hô, và những loài

ít di chuyển khác [28, tr.27]

Các vùng biển, thuộc các rạn san hô của Australia luôn là mục tiêu hướng đến của các tàu thuyền hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, trong đó chủ yếu nhằm vào các loài sinh vật có giá trị cao như hải sâm, ốc xà cừ, hay các loài nhuyễn thể ít di chuyển khác Các số liệu báo cáo của AFMA, cho thấy đánh bắt cá bất hợp pháp ước tính gây ra thiệt hại từ 11-30 tỷ USD mỗi năm cho nghề cá Australia, song song đó, gây đe dọa nghiêm trọng đến các vấn đề về môi trường và hệ sinh thái Trong đó, các vùng biển thuộc khu vực bắc Australia là khu vực có mật độ các tàu đánh bắt cá được phát hiện và xử lý nhiều nhất.[30]

Hình 1.1: Vùng đặc quyền kinh tế Australia và khu vực biển thường xuyên

xảy ra hoạt động đánh bắt cá IUU của FFVs [28]

Hoạt động khai thác IUU của tàu cá Việt Nam tại Australia:

Trong số các vi phạm về đánh bắt cá được phát hiện và xử lý của Australia, các hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp đến từ tàu cá Việt Nam chiếm một bộ phận không nhỏ, Chính phủ Australia đã nhiều lần bày tỏ quan ngại về thực trạng này tại các diễn đàn nghề cá khu vực và các cơ quan chức năng của Việt

Trang 30

Nam Trong đó, các hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp này không chỉ nhằm vào Australia mà còn tiến hành trong vùng biển của nhiều quốc gia lân cận khác, chính

vì vậy Australia và các quốc đảo Thái Bình Dương gọi những tàu đánh bắt đến từ Việt Nam là ―tàu xanh‖ và xây dựng chiến lược hành động nhằm chống lại sự xâm nhập của đội tàu này vào các vùng biển của quốc gia mình Theo một nghiên cứu khoa học đăng trên tạp chí Asia Pacific viewpoint năm 2019 cho biết những chiếc tàu xanh này lần đầu tiên được phát hiện và bắt giữ vào năm 2015 trong vùng biển của nhiều quốc đảo Thái Bình Dương như Palau, Liên bang Micronesia (FSM), Papua New Guinea, Quần đảo Solomon, Vanuatu và New Caledonia cũng như Australia

Từ tháng 12/2014 đến tháng 9/2016, Liên bang Micronesia đã bắt giữ hơn 09 tàu Việt Nam và khoảng 169 thành viên thủy thủ đoàn.[26] Riêng đối với Australia Cơ quan quản lý nghề cá Australia cho biết số lượng tàu đánh cá nước ngoài đánh bắt hoạt động bất hợp pháp được báo cáo đã tăng từ 6 vụ trong năm 2014 lên đến 20 vụ vào năm 2016 với hầu hết các tàu có nguồn gốc từ Việt Nam và Indonesia Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, việc đội tàu xanh của Việt Nam ở các vùng biển của Australia xuất phát từ việc cạn kiệt nguồn tài nguyên cá ở Biển Đông, cũng như các hoạt động khiêu khích, gây hấn trên biển đến từ phía Trung Quốc Các tàu cá Việt Nam đã di chuyển qua những vùng biển không được kiểm soát để tiếp cận với các vùng đảo không có người ở để tìm kiếm hải sâm trong đó có cả việc tiếp cận vào các rạn san hô của Australia [16]

Để ngăn chặn các các hoạt động đánh bắt bất hợp pháp xuất phát từ đội tàu xanh Việt Nam, Australia và các quốc đảo Thái Bình Dương dường như muốn áp dụng một cách tiếp cận chặt chẽ hơn để phối hợp, giám sát và bắt giữ những chiếc tàu hoạt động IUU trên biển Bằng việc đóng góp tích cực vào Diễn đàn Nghề cá các nước quốc đảo Thái Bình Dương (FFA) một tổ chức nghề cá khu vực với nhiệm vụ tăng cường năng lực quốc gia và đoàn kết khu vực để 17 thành viên có thể quản lý, kiểm soát và phát triển nghề cá trong vùng biển của mình ở hiện tại và tương lai, qua

đó, cơ chế này đã có đóng góp tích cực đối với Australia và các quốc đảo Thái Bình Dương trong việc chống lại nạn đánh bắt cá IUU đến từ tàu xanh Việt Nam FFA là

Trang 31

một tổ chức quản lý nghề cá khu vực, có trụ sở tại Honiara, Quần đảo Solomon, 17 thành viên của diễn đàn này gồm Australia, Quần đảo Cook, Liên bang Micronesia, Fiji, Kiribati, Quần đảo Marshall, Nauru, New Zealand, Niue, Palau, Papua New Guinea, Samoa, Quần đảo Solomon, Tokelau, Tonga, Tuvalu và Vanuatu Từ năm

1979, FFA đã tạo điều kiện hợp tác khu vực để tất cả các nước Thái Bình Dương được hưởng lợi từ việc sử dụng cá ngừ bền vững - nguồn tài nguyên trị giá hàng tỷ đô

la quan trọng đối với sinh kế của nhiều người ở Thái Bình Dương [37]

Chiến dịch Rai Balang là một cuộc tuần tra giám sát hàng hải thường niên kéo dài 10 ngày do Trung tâm giám sát nghề cá khu vực của FFA tổ chức cùng với sự tham gia của 9 bang thuộc liên bang Micronesian và Melanesian cũng như các lực lượng quốc phòng hàng hải và hàng không của các quốc gia ―bộ tứ‖ (Australia, New Zealand, Pháp và Hoa Kỳ) Chiến dịch này tiến hành các cuộc tuần tra không báo trước trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc đảo Thái Bình Dương và biển cả để phát hiện và bắt giữ các tàu cá hoạt động IUU Chiến dịch này được tiến hành năm 2017 nhằm hỗ trợ một nhiệm vụ thứ yếu là tìm kiếm và báo cáo các tàu xanh thông qua các hình thức giám sát trên không trong một khu vực tuần tra rộng 14,7 triệu km2

[16]

Hình 1.2: Một poster chống ―thuyền xanh‖ vào năm 2017 [16]

Trang 32

Tựu trung lại, có thể nhận thấy rằng, hoạt động khai thác IUU đã và đang gây ra những thách thức to lớn đối với nghề cá Australia trên nhiều phương diện, quốc gia này đã đưa ra nhiều giải pháp hữu hiệu nhằm giải quyết thực trạng này Song song đó, là một quốc gia còn tồn tại thực trạng đánh bắt cá bất hợp pháp, cũng như các hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp trên các vùng biển Australia, việc tiếp thu các kinh nghiệm của quốc gia này trong việc xử lý các vấn đề có liên quan

là điều cần thiết để Việt Nam cải thiện tình trạng báo động đối với nghề cá quốc gia hiện nay Các vấn đề này sẽ được phân tích trong các nội dung tiếp theo của Luận văn

1.3 Tổng quan hệ thống pháp luật quốc tế và Australia về đánh bắt cá bất hợp pháp

1.3.1 Hệ thống pháp luật quốc tế về đánh bắt cá bất hợp pháp

1.3.1.1 Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982

Như đã khẳng định, khái niệm đánh bắt ―bất hợp pháp, không báo cáo và không được kiểm soát được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1997, do đó, UNCLOS không đề cập những quy định trực tiếp và chuyên biệt liên quan đến đánh bắt cá IUU mà những nội dung có liên quan được ngầm giải thích thông qua các quy định

về khai thác các nguồn tài nguyên sinh vật biển

(1) Đối với vùng nội thủy và lãnh hải: theo quy định của UNCLOS, các vùng nội thủy và lãnh hải thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển, do đó tất cả các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn tài nguyên sinh vật biển trong hai vùng biển này hoàn toàn thuộc thẩm quyền của quốc gia ven biển [9] Vấn đề khai thác tài nguyên cá chủ yếu được đề cập đến trong quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển, cụ thể là vùng đặc quyền kinh tế (bao trùm lên vùng tiếp giáp lãnh hải)

(2) Đối với vùng đặc quyền kinh tế: Trong vùng biển này, UNCLOS mở ra cho quốc gia các quyền chủ quyền liên quan đến các nguồn tài nguyên sinh vật

Trang 33

biển, đặc biệt là nguồn cá Quyền chủ quyền của quốc gia ven biển đối với nguồn tài nguyên sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế bao gồm: bảo tồn nguồn tài nguyên sinh vật; khai thác nguồn tài nguyên sinh vật; thi hành các luật và quy định của quốc gia ven biển [9]

Tại Điều 61, UNCLOS quy định nội dung liên quan đến bảo tồn các nguồn lợi sinh vật như sau:

Một là, các quốc gia ven biển phải có nghĩa vụ trong việc ấn định khối lượng cá và các nguồn sinh vật đánh bắt theo từng mức độ nhất định phù hợp với đặc điểm của nguồn tài nguyên biển trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia đó

Hai là, các quốc gia ven biển phải tiến hành các biện pháp cần thiết và thích hợp nhất để bảo tồn và quản lý nguồn tài nguyên sinh vật trong vùng biển của quốc gia mình, các giải pháp này phải dựa trên cơ sở những nghiên cứu và số liệu khoa học đáng tin cậy, nhằm đảm bảo việc duy trì các nguồn lợi sinh vật biển và tránh khỏi các hoạt động khai thác quá mức Song song đó, việc duy trì các nguồn lợi sinh vật biển cũng cần được tiến hành thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế ở các cấp độ khu vực và thế giới

Ba là, các biện pháp được các quốc gia sử dụng nhằm mục đích duy trì và khôi phục nguồn cá khai thác và đảm bảo năng suất đối với nguồn cá khai thác đạt

ở mức ổn định tối đa, trong đó có tính đến các yếu tố về sinh thái và kinh tế, kể cả nhu cầu kinh tế của cộng đồng dân cư ven biển, nhu cầu riêng của các quốc gia đang phát triển cũng như có tính đến các phương thức đánh bắt, mối quan hệ tương

hỗ giữa các đàn cá và tính đến tất cả các yếu tố về luật pháp quốc tế và khu vực ở mức tối thiểu

Bốn là, việc áp dụng các biện pháp bảo tồn nguồn lợi biển của các quốc gia phải bao gồm sự trù định về những tác động đối với loài quần hợp, các loài được khai thác cũng như phụ thuộc vào các loài đó để duy trì hoặc khôi phục các đàn của những loài quần hợp nhằm tránh việc làm tổn hại nghiêm trọng đến loài

Trang 34

Năm là, các quốc gia trong quá trình tiến hành các biện pháp bảo tồn nguồn lợi biển cần tiến hành trao đổi thông tin khoa học, các số liệu thống kê liên quan đến hoạt động đánh bắt, hiệu suất đánh bắt cũng như các số liệu khác liên quan đến việc bảo tồn cho các tổ chức quốc tế và các tổ chức khu vực có liên quan, đặc biệt

là các quốc gia có hoạt động khai thác thương mại trong vùng đặc quyền kinh tế

Qua đó, UNCLOS đã quy định các quốc gia ven biển phải xác định nguồn lợi thủy sản và tổng khối lượng có thể đánh bắt trong vùng đặc quyền kinh tế của mình Đồng thời, quốc gia ven biển cũng phải thực hiện các biện pháp bảo tồn và quản lý phù hợp, trên cơ sở các thông tin và kết quả nghiên cứu khoa học để đảm bảo là tài nguyên sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế của mình không bị khai thác một cách quá mức Như vậy, mặc dù không trực tiếp quy định các điều khoản nhằm hạn chế hoạt động đánh bắt cá IUU nhưng UNCLOS cũng đã tính đến việc bảo tồn các nguồn lợi biển thông qua việc giao cho các quốc gia ven biển thẩm quyền quy định khối lượng đánh bắt và biện pháp bảo tồn đối với nguồn tài nguyên sinh vật biển, trong đó có bao gồm các nguồn cá biển cũng như các nguồn hải sản đánh bắt khác

(3) Hoạt động đánh bắt cá của các quốc gia khác trong vùng biển của quốc gia ven biển UNCLOS quy định hoạt động đánh bắt cá của các quốc gia khác trong vùng biển của một quốc gia ven biển bất kỳ được tiến hành trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia đó và chỉ được tiến hành khi và chỉ khi có sự đồng ý của quốc gia ven biển này Cụ thể, Điều 62 UNCLOS quy định:

Một là, các quốc gia ven biển cần xác định khả năng của mình trong việc khai thác tài nguyên sinh vật tại EEZ Trong trường hợp khả năng khai thác của quốc gia đó thấp hơn tổng khối lượng hải sản được phép đánh bắt, có nghĩa là trong ngưỡng bền vững, thì quốc gia đó có thể cho phép các quốc gia khác tiến hành đánh bắt trong vùng đặc quyền kinh tế của mình

Hai là, các quốc gia ven biển khi đồng ý cho phép quốc gia khác tiến hành đánh bắt trong vùng đặc quyền kinh tế của mình phải tính đến tất cả các yếu tố cần

Trang 35

thiết bao gồm: (1) Tầm quan trọng của nguồn tài nguyên sinh vật trong khu vực đánh bắt đối với nền nền kinh tế cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp khác của quốc gia; (2) Việc cho phép tính bắt phải tính đến lợi ích của các quốc gia không có biển và các quốc gia bất lợi về địa lý theo các Điều 69 và 70 của UNCLOS cũng như nhu cầu của các quốc gia đang phát triển khác trong khu vực, phân khu vực mà quốc gia ven biển có trữ lượng cá dư thừa là thành viên

Ba là, công dân của các quốc gia khác khi tiến hành đánh bắt trong vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia ven biển như vậy phải tuân thủ theo các biện pháp bảo tồn, cũng như tổng thể hệ thống chính sách, pháp luật về khai thác và bảo tồn nguồn tài nguyên sinh vật biển do quốc gia ven biển đó ban hành, theo đó, hệ thống chính sách pháp luật áp dụng phải phù hợp với UNCLOS và phải bao hàm các nội dung sau: (1) các nội dung liên quan đến việc cấp phép và các khoản thuế cần thiết; (2) phải nêu rõ từng chủng loại cho phép đánh bắt và ấn định số lượng, thành phần loài được phép đánh bắt; (3) quy định về thời gian và địa điểm đánh bắt, kích cỡ, số lượng các phương tiện đánh bắt cũng như kiểu dáng, kích cỡ và số lượng tàu thuyền đánh bắt được cho phép sử dụng; (4) độ tuổi và kích cỡ của cá và các loài khai thác cũng cần được quy định rõ ràng; (5) Các thông tin cần thiết mà quốc gia ven biển yêu cầu tàu thuyền đánh bắt phải báo cáo, đặc biệt là những số liệu thống

kê liên quan đến việc đánh bắt và sức đánh bắt cũng như thông báo vị trí đến các tàu thuyền; (6) các biện pháp mà quốc gia ven biển tiến hành nhằm giám sát và kiểm tra hoạt động khai thác của tàu thuyền đó, cũng như tiến hành các công tác nghiên cứu khoa học hay các hoạt động có liên quan khác trên các tàu đánh bắt; …

Như vậy, tất cả mọi hành vi đánh bắt cá của các tàu thuyền nước ngoài trong vùng biển của một quốc gia ven biển, nếu chưa có sự đồng ý của quốc gia ven biển đều là hành vi đánh bắt bất hợp pháp Ngoài ra, việc đánh của các tàu nước ngoài được cấp phép nếu trái với các quy định về việc bảo tồn và các thể thức đánh bắt, chủng loại đánh bắt cũng như các điều kiện khác được đề ra trong các luật và quy định của quốc gia ven biển về hoạt động nghề cá đều được xem là hoạt động đánh

Trang 36

bắt trái với quy định của luật pháp quốc tế, cụ thể là theo quy định của điều luật này Có thể nhận thấy, mặc dù UNCLOS không trực tiếp đề cập đến các quy định

về đánh bắt cá IUU, tuy nhiên, bản hiến pháp về biển và đại dương đã mở ra một phạm vi pháp lý rộng lớn điều chỉnh vấn đề này, dựa trên các nguyên tắc và quy định chung của pháp luật quốc tế về khai thác và bảo tồn nguồn lợi biển

Song song đó, UNCLOS cũng quy định các quốc gia ven biển phải có nghĩa

vụ hợp tác với các quốc gia khác trong việc bảo tồn các đàn cá lưỡng cư (Điều 63), các loài cá di cư xa (Điều 64), các loài động vật có vú (Điều 65), các đàn cá vào sông sinh sản (Điều 66), và các đàn cá ra biển sinh sản (Điều 67)

Như đã khẳng định, quốc gia ven biển có thẩm quyền toàn bộ đối với hoạt động khai thác và bảo tồn các nguồn lợi biển trong vùng biển của quốc gia mình Vậy thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển đối với hành vi vi phạm quyền chủ quyền của quốc gia ven biển trong khai thác, quản lý tài nguyên cá được UNCLOS quy định như thế nào?

(4) Quyền tài phán của quốc gia ven biển đối với các hoạt động đánh bắt cá IUU UNCLOS quy định về thẩm quyền của quốc gia ven biển tại Điều 73 ―Thi hành các luật và quy định của quốc gia ven biển‖ Cụ thể:

[1 Trong việc thực hiện các quyền thuộc chủ quyền về thăm dò, khai thác,

bảo tồn và quản lý các tài nguyên sinh vật của vùng đặc quyền về kinh tế, quốc gia ven biển có thể thi hành mọi biện pháp cần thiết, kể cả việc khám xét, kiểm tra, bắt giữ và khởi tố tư pháp để bảo đảm việc tôn trọng các luật và quy định mà mình đã ban hành theo đúng Công ước

2 Khi có một sự bảo lãnh hay một bảo đảm đầy đủ khác thì cần thả ngay chiếc tàu bị bắt và trả tự do ngay cho đoàn thủy thủ của chiếc tàu này

3 Các chế tài do quốc gia ven biển trù định đối với những vụ vi phạm các luật và quy định về mặt đánh bắt trong vùng đặc quyền về kinh tế không được bao

Trang 37

gồm hình phạt tống giam, trừ khi các quốc gia hữu quan có thỏa thuận khác, và không bao gồm một hình phạt thân thể nào khác

4 Trong trường hợp bắt hay giữ một tàu thuyền nước ngoài, quốc gia ven biển thông báo ngay cho quốc gia mà tàu mang cờ biết, bằng các con đường thích hợp, các biện pháp được áp dụng cũng như các chế tài có thể sẽ được tuyên bố sau đó.]

Như vậy, có thể nhận thấy để bảo vệ các quyền chủ quyền của quốc gia ven biển đối với nguồn tài nguyên cá, UNCLOS cho phép các quốc gia ven biển thực hiện các biện pháp kiểm tra, bắt giữ và tiến hành các thủ tục tố tụng có liên quan đến việc đánh bắt và khai thác trái phép trong các vùng biển của quốc gia đó

(5) Đối với thềm lục địa và vùng biển quốc tế:

Ở thềm lục địa, đối với các sinh vật thuộc loài định cư, quốc gia ven biển cũng có quyền chủ quyền trong thăm dò và khai thác các tài nguyên này Bên cạnh

đó, UNCLOS còn quy định về hoạt động đánh bắt cá trên vùng biển quốc tế Ở vùng biển này, tất cả các quốc gia đều được hưởng quyền tự do biển cả với các nội dung bao gồm cả quyền tự do đánh bắt cá Hoạt động đánh bắt cá trong vùng biển quốc tế được sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia mà tàu treo cờ và các quy định của pháp luật quốc tế UNCLOS đồng thời quy định nghĩa vụ của quốc gia phải tự mình, hoặc hợp tác với các quốc gia khác, để xác định các biện pháp cần thiết nhằm bảo tồn tài nguyên sinh vật của biển quốc tế, trong đó bao gồm nguồn tài nguyên cá

Có thể nhận thấy, liên quan đến các hoạt động đánh bắt cá IUU mặc dù UNCLOS chưa đưa ra các quy định trực tiếp điều chỉnh vấn đề này, tuy nhiên bước đầu UNCLOS cũng đã vạch ra được những điều khoản có liên quan nhằm điều chỉnh các vấn đề tương tự liên quan đến hoạt động khai thác và đánh bắt các nguồn tài nguyên biển, bao gồm cả nguồn tài nguyên cá

Trang 38

1.3.1.2 Hiệp định thúc đẩy tuân thủ các biện pháp quốc tế về bảo tồn và quản lý thực hiện bởi tàu cá tại vùng biển quốc tế của FAO năm 1993

Hiệp định thúc đẩy tuân thủ các biện pháp quốc tế về bảo tồn và quản lý thực hiện bởi tàu cá tại vùng biển quốc tế được các quốc gia thành viên của FAO thông qua vào ngày 24/11/1993 và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 24/4/2003 Mặc dù nội dung trực tiếp của Hiệp định không trực tiếp điều chỉnh đến các hoạt động đánh bắt cá IUU tuy nhiên nội dung chính của Hiệp định đã hướng đến các trách nhiệm pháp lý của quốc gia tàu mang cờ cũng như thúc đẩy việc trao đổi thông tin về các hoạt động nghề cá tại vùng biển quốc tế Về cơ bản, Hiệp định ghi nhận thẩm quyền của quốc gia đối với việc đánh bắt cá trên biển trên cơ sở tuân thủ các quy định có liên quan của luật pháp quốc tế trong đó bao gồm các nội dung được phản ánh tại UNCLOS

Hiệp định quy định về trách nhiệm của các quốc gia thành viên liên quan đến hoạt động đánh bắt cá và bảo tồn các nguồn lợi biển với các nội dung chính như sau: (1) Các quốc gia thành viên phải thực hiện các biện pháp nhằm đảm bảo rằng các tàu treo cờ không tiến hành bất kỳ các hoạt động nào nhằm làm giảm hiệu quả của các quy định về các biện pháp quản lý và bảo tồn nghề cá quốc tế (2) Các hoạt động đánh bắt cá tại biển cả của các tàu mang cờ phải được cấp phép đánh bắt bởi chính quyền địa phương và các cơ quan có thẩm quyền của quốc gia mà tàu treo cờ Theo đó, các tàu đánh cá được cấp phép sẽ đánh bắt trong các phạm vi được trao quyền Đồng thời quốc gia thành viên phải đảm bảo thực hiện hiệu quả các trách nhiệm của quốc gia mình về bảo tồn và quản lý nguồn tài nguyên biển theo Hiệp định này đối với hoạt động đánh bắt của tàu cá đó (3) Các quốc gia không được cấp phép cho các tàu cá đã được cấp phép trước đó bởi một quốc gia khác là thành viên của Hiệp định này, cũng như tiến hành các hoạt động làm giảm hiệu quả trong các quy định của luật pháp quốc tế về quản lý và bảo tồn đối với các hoạt động đánh bắt trên biển, trừ khi việc cấp phép trước đó đã hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ (4) Các quốc gia thành viên phải đảm bảo tất cả các tàu treo cờ được cấp

Trang 39

phép đều được lập hồ sơ thông tin về hoạt động đánh bắt, hành trình và cảng cá mà tàu neo đậu, … (5) Các quốc gia thành viên quy định về biện pháp thực thi, hình phạt áp dụng đối với các hoạt động đánh bắt cá của tàu thuyền nhằm đảm bảo việc tuân thủ các quy định của Hiệp định này, bao gồm cả việc từ chối, đình chỉ và tước

bỏ giấy phép đánh bắt của các tàu cá (Điều 3, Hiệp định thúc đẩy tuân thủ các biện pháp quốc tế về bảo tồn và quản lý thực hiện bởi tàu cá tại vùng biển quốc tế của FAO năm 1993)

Để thực hiện được việc kiểm soát này, Hiệp định cũng thúc đẩy các bên tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế và trao đổi thông tin liên quan đến tàu cá hoạt động tại khu vực biển quốc tế thông qua hệ thống cơ sở dữ liệu được quản lý bởi FAO

1.3.1.3 Bộ quy tắc ứng xử về nghề cá có trách nhiệm của FAO

Bộ quy tắc ứng xử về nghề cá có trách nhiệm (CCRF) được hội nghị FAO nhất trí thông qua vào ngày 31/10/1995, mặc dù tinh thần chung của Bộ quy tắc dựa trên sự tự nguyện thực hiện của các quốc gia tuy nhiên Bộ quy tắc cũng đã cung cấp một khuôn khổ ứng xử cần thiết cho các quốc gia và cộng đồng quốc tế trong việc đảm bảo khai thác bền vững nguồn lợi thủy sản, hài hòa với môi trường

Đây là một công cụ đột phá, được áp dụng dựa trên sự tự nguyện của các quốc gia, Bộ quy tắc ứng xử FAO năm 1995 gần như là quy chuẩn ứng xử nghề cá toàn cầu được trích dẫn nhiều nhất, có tính phổ biến cao và được biết đến rộng rãi trên thế giới sau Công ước Liên hợp quốc năm 1982 [42] Với đặc tính này, toàn diện đó, Bộ quy tắc ứng xử này đã được các chính phủ và các bên liên quan đến hoạt động nghề cá và nuôi trồng thủy sản thực hiện một cách toàn diện

Mục đích của Bộ quy tắc ứng xử FAO năm 1995 là đặt ra các tiêu chuẩn quốc tế cho các hoạt động đánh bắt cá có trách nhiệm nhằm đảm bảo bảo tồn, quản

lý và phát triển nguồn lợi thủy sản, tôn trọng hệ sinh thái và đa dạng sinh học

Trang 40

Đối với việc quản lý nguồn cá, bộ quy tắc định hướng các quốc gia đến việc

xây dựng một hệ thống chính sách và khung pháp lý phù hợp với những biện pháp tối ưu nhằm bảo tồn cũng như sử dụng bền vững và lâu dài các nguồn lợi thủy sản Đối với các khu vực thuộc quyền tài phán của mình, các quốc gia cần xác định các nội dung liên quan đến khai thác và đánh bắt cũng như thiết lập các thỏa thuận cần thiết nhằm hướng tới một nghề cá có trách nhiệm Liên quan đến các vùng nước chung, các đàn cá di cư và nguồn cá tại vùng biển quốc tế các quốc gia cần hợp tác với nhau và tham gia vào các tổ chức quản lý nghề cá khu vực có liên quan nhằm bảo tồn và quản lý tài nguyên hiệu quả Trong đó, bộ quy tắc ưu tiên khuyến khích việc các quốc gia thành lập các các tổ chức nghề cá song phương, tiểu vùng Để làm được những điều này, các quốc gia cần thiết lập các cơ chế hiệu quả để giám sát, kiểm tra đối với các hoạt động nghề cá trên thực tế nhằm đảm bảo sự tuân thủ các quy định có liên quan của luật pháp quốc tế Tiến hành áp dụng các biện pháp phòng ngừa rộng rãi để bảo tồn các nguồn tài nguyên biển, đặc biệt là nguồn cá [42, Điều 7]

Đối với các hoạt động nghề cá, Bộ quy tắc xác định, các quốc gia chỉ được

phép cấp phép cho các hoạt động nghề cá đối với các vùng biển thuộc thẩm quyền của quốc gia mình và các hoạt động này phải được thực hiện một cách có trách nhiệm Các quốc gia cũng cần thiết lập và duy trì bộ hồ sơ về nghề cá liên quan đến việc cấp phép đánh bắt và các trữ lượng được phép đánh bắt, cũng như các thông tin liên quan đến nhận thức và lộ trình đánh bắt của ngư dân trên thực tế, nhằm đảm bảo sự giám sát chặt chẽ nhất đối với hoạt động nghề cá trên cơ sở các tiêu chuẩn chung của luật quốc tế Đối với các vùng biển thuộc quyền tài phán của quốc gia khác, các quốc gia cần đảm bảo rằng các tàu treo cờ của quốc gia mình đánh bắt theo đúng các thỏa thuận nghề cá và phải được lập hồ sơ đánh bắt để giám sát trên thực tế, ban hành những quy định pháp luật có liên quan để giám sát chặt chẽ các hoạt động này Cũng như vậy, các quốc gia cảng cũng cần thiết xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện trên tinh thần chung của luật quốc tế nhằm đảm bảo được việc khai thác hợp lý và tính đến các yếu tố về bảo tồn nguồn cá [42, Điều 8]

Ngày đăng: 09/02/2021, 23:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thị Thanh Huyền, ―Một số giải pháp nhằm ngăn chặn tình trạng tàu cá Việt Nam khai thác IUU của Lực lƣợng Cảnh sát biển‖, Cảnh sát biển, https://canhsatbien.vn/portal/cong-tac-canh-sat-bien/mot-so-giai-phap-nham-ngan-chan-tinh-trang-tau-ca-viet-nam-khai-thac-iuu-cua-luc-luong-canh-sat-bien,truycập ngày 02/2/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảnh sát biển
2. Hải Lý, ―Khó khăn lắp đặt thiết bị giám sát hành trình trên tàu cá‖, Thủy sản Việt Nam, https://thuysanvietnam.com.vn/kho-khan-lap-dat-thiet-bi-giam-sat-hanh-trinh-tren-tau-ca/, truy cập ngày 25/5/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủy sản Việt Nam
3. Hoàng Văn Việt (2016), ―Tính Anh - Mỹ trong hệ thống chính trị Liên Bang Australia‖, Tạp chí phát triển KH&CN, Tập 19, số X4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí phát triển KH&CN
Tác giả: Hoàng Văn Việt
Năm: 2016
4. Hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (2018), Sách trắng về chống khai thác IUU ở Việt Nam, http://vasep.com.vn/sach-trang-iuu.pdf, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách trắng về chống khai thác IUU ở Việt Nam
Tác giả: Hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
Năm: 2018
5. Hương Giang, Thanh Tâm, ―Tăng cường quản lý và kiểm soát hệ thống giám sát tàu cá‖, Báo Nhân dân online, https://nhandan.com.vn/tin-tuc-kinh-te/tang-cuong-quan-ly-va-kiem-soat-he-thong-giam-sat-tau-ca-614792/, truy cập ngày 17/7/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Nhân dân online
6. Nguyễn Mạnh Đông (2009), Cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982
Tác giả: Nguyễn Mạnh Đông
Năm: 2009
7. Nguyễn Thị Hồng Yến, Đánh bắt cá bất hợp pháp, không được báo cáo và không được kiểm soát (IUU) trong luật quốc tế và thực tiễn của một số quốc gia, Bài báo này được thực hiện trong khuôn khổ đề tài của Trường Đại học Luật Hà Nội: Đánh bắt cá bất hợp pháp, không đƣợc báo cáo, không đƣợc kiểm soát (IUU Fishing) và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh bắt cá bất hợp pháp, không được báo cáo và không được kiểm soát (IUU) trong luật quốc tế và thực tiễn của một số quốc gia
9. Nguyễn Thị Kim Ngân (2018), ―Đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không đƣợc kiểm soát và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam‖, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6 (358) - tháng 3/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Ngân
Năm: 2018
10. Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh, ―Thông tin cơ bản về Australia‖,Website Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh, http://www.mofahcm.gov.vn/vi/tintuc_sk/tulieu/nr060208110833/nr060504144221/ns061117151241, truy cập ngày 20/9/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Website Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh
11. Tạ Hà, 47 cảng cá đủ hệ thống xác nhận nguồn gốc thủy sản khai thác, http://vasep.com.vn/Tin-Tuc/785_54979/47-cang-ca-du-he-thong-xac-nhan-nguon-goc-thuy-san-khai-thac.htm, truy cập ngày 20/9/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 47 cảng cá đủ hệ thống xác nhận nguồn gốc thủy sản khai thác
13. VASEP, Tổng quan ngành thủy sản Việt Nam, http://vasep.com.vn /1192/OneContent/tong-quan-nganh.htm, truy cập ngày 08/8/2020.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan ngành thủy sản Việt Nam
14. AFMA, Australian Fisheries Management Authority, Catch disposal records, https://www.afma.gov.au/monitoring-enforcement/catch-disposal-records,truy cập ngày 22/2/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Catch disposal records
15. AFMA,Australian Fisheries Management Authority, Electronic monitoring program, https://www.afma.gov.au/monitoring-enforcement/electronic-monitoring-program, truy cập ngày 20/2/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Electronic monitoring program
17. Attorney-General (2020), Notice of Indexation of the Penalty Unit Amount, Australia Government Sách, tạp chí
Tiêu đề: Notice of Indexation of the Penalty Unit Amount
Tác giả: Attorney-General
Năm: 2020
18. Australia State of the environment, Marine environment, https://soe.environment.gov.au/theme/marine-environment, truy cập ngày 5/7/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marine environment
19. Australian Bureau of Statistics (2002), Measuring Australia's Progress, https://www.abs.gov.au/ausstats/abs@.nsf/0/14679F1063CF6826CA256BDC00122410?opendocument, truy cập ngày 5/7/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measuring Australia's Progress
Tác giả: Australian Bureau of Statistics
Năm: 2002
20. Australian Customs and Border Protection Service (2010), Illegal Foreign Fishing in Australia's Northern Waters, Auditor-General Report No. 23 Of 2009–10, https://www.anao.gov.au/work/performance-audit/illegal-foreign-fishing-australias-northern-waters, truy cập ngày 5/4/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Illegal Foreign Fishing in Australia's Northern Waters, Auditor-General Report No. 23 Of 2009–10
Tác giả: Australian Customs and Border Protection Service
Năm: 2010
21. Australian Fisheries Management Authority (2019), Australia continues to fight against illegal, unreported and unregulated fishing , https://www.afma.gov.au/news-media/media-releases/australia-continues-fight-against-illegal-unreported-and-unregulated?fbclid=IwAR0XVNMzADP189S-4QaNsOvn9ztq9CHjNjufFogF2dzDFRkzFMGrdSpsD_U, truy cập ngày 21/3/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Australia continues to fight against illegal, unreported and unregulated fishing
Tác giả: Australian Fisheries Management Authority
Năm: 2019
22. Australian Fisheries Management Authority, Domestic Compliance, https://www.afma.gov.au/domestic-compliance, truy cập ngày 21/3/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Domestic Compliance
44. Map Courtesy of the Australian Fisheries Management Authority, 2008, https://www.agriculture.gov.au/fisheries/domestic/zone, truy cập ngày 21/3/2020 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w