Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên dạy nghề trường cao đẳng nghề Việt Đức Vĩnh Phúc Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên dạy nghề trường cao đẳng nghề Việt Đức Vĩnh Phúc Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên dạy nghề trường cao đẳng nghề Việt Đức Vĩnh Phúc luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
NGUYỄN TRỊNH HOÀNG QUY
QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN DẠY NGHỀ TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
VIỆT ĐỨC – VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
CHUYÊN SÂU: QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS, TS NGUYỄN MINH ĐƯỜNG
Hà Nội – Năm 2014
Trang 2i
M ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Các luận điểm cơ bản của luận văn 2
6 Đóng góp mới của tác giả 3
6.1 Về lý luận: 3
6.2 Về thực tiễn: 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
7.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá 3
7.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: 3
7.3 Phương pháp tọa đàm: 3
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN DẠY NGHỀ Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ 4
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
1.1.1 Công trình của nước ngoài 4
1.1.2 Công trình trong nước 4
1.2 Một số khái niệm 5
1.2.1 Quản lý 5
1.2.2 Giảng viên dạy nghề 8
1.2.3 Chất lượng 8
1.3 Mô hình nhân cách của người Giảng viên dạy nghề hiện đại 10
1.4 Đặc điểm hoạt động dạy học của người GVDN hiện đại 12
1.5 Chuẩn chức danh GVDN 15
1.6 Nội dung quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên dạy nghề 21
1.6.1 Quản lý việc chuẩn hóa đội ngũ giảng viên 21
1.6.2 Quản lý việc tuyển chọn và sử dụng giáo viên mới 23
Trang 3ii
1.6.3 Quản lý việc xây dựng đội ngũ GV đầu đàn 24
1.6.4 Quản lý việc thực hiện chính sách đối với GV, đặc biệt là GV đầu đàn 25 KẾT LUẬN CHƯƠNG I 28
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN DẠY NGHỀ Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ VIỆT ĐỨC - VĨNH PHÚC 29
2.1 Khái quát về Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh Phúc 29
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của trường 29
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của nhà trường 30 2.1.3 Ngành ng hề, quy mô và cơ cấu đào tạo 32
2.1.4 Chất lượng đào tạo 34
2.2 Thực trạng về đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh Phúc 35 2.2.1 Thực trạng về số lượng và cơ cấu giảng viên 35
2.2.2 Thực trạng về chất lượng 38
2.2.3 Nhận xét chung về đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh Phúc 44
2.3 Thực trạng công tác quản lý chất lượng đội ngũ GV của trường CĐN Việt - Đức Vĩnh Phúc 46
2.3.1 Thực trạng quản lý việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ GVDN để chuẩn hóa đội ngũ GVDN 46
2.3.2 Thực trạng quản lý việc tuyển chọn GVDN mới 53
2.3.3 Thực trạng quản lý việc sử dụng GVDN 54
2.3.4 Thực trạng quản lý việc xây dựng đội ngũ GV đầu đàn 55
2.3.5 Thực trạng quản lý thực hiện các chính sách đối với giảng viên 56
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 62
CHƯƠNG III : BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ VIỆT – ĐỨC VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2011 - 2020 63
Trang 4iii
3.1 Định hướng phát triển trường CĐN Việt – Đức Vĩnh Phúc giai đoạn
2015 – 2020 63
3.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 65
3.2.1 Đảm bảo tính mục đích 65
3.2.2 Đảm bảo tính kế thừa 65
3.2.3 Đảm bảo tính khả thi 66
3.2.4 Đảm bảo tính thực tiễn 66
3.3 Các biện pháp quản lý chất lượng đội ngũ GV trường CĐN Việt - Đức Vĩnh Phúc giai đoạn 2011 - 2020 66
3.3.1 Biện pháp 1: Đổi mới quản lý việc đánh giá năng lực đội ngũ giảng viên 66
3.3.2 Biện pháp 2: Chuẩn hóa đội ngũ GVDN 70
3.3.5 Biện pháp 5: Đổi mới quản lý việc xây dựng đội ngũ giảng viên đầu đàn 80
3.3.6 Biện pháp 6: Đổi mới quản lý việc thực hiện chính sách đối với GV, đặc biệt là giảng viên đầu đàn 83
3.4 Khảo sát đánh giá về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 85
3.4.1 Mục đích của khảo sát 85
3.4.2 Đối tượng khảo sát 85
3.4.3 Kết quả khảo sát 86
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 91
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
1 Kết luận: 92
2 Kiến nghị 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 96
Trang 5iv
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian qua, để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi đã luôn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô trong Khoa Sư phạm kỹ thuật trường Đại học Bách khoa Hà nội, Ban giám hiệu và tập thể cán bộ, Giảng viên, Công nhân viên Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh phúc, đặc biệt là sự thường xuyên quan tâm, góp ý, giúp đỡ tận tình của thầy giáo GS TSKH Nguyễn Minh Đường, người
đã trực tiếp hướng dẫn tôi
Tôi xin trân trọng cảm ơn:
Các thầy cô giáo Khoa Sư phạm kỹ thuật trường Đại học Bách khoa Hà Nội, các giảng viên ở các Viện Nghiên cứu giáo dục Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập và đề tài luận văn tốt nghiệp
Tôi xin gủi lời cảm ơn chân thành nhất của mình đến GS.TSKH Nguyễn Minh Đường đã tạo điều kiện dành thời gian, công sức để sửa chữa, bổ sung từng trang bản thảo của luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu , các phòng khoa, trung tâm và các đồng chí giảng viên Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh phúc đã tận tình giúp
đỡ tôi trong việc cung cấp số liệu, tài liệu, tham gia đóng góp những ý kiến quý báu
và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng , nhưng do thời gian cũng như bản thân còn hạn chế, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong các nhận được ý kiến đóng ghóp của các Thầy, Cô giáo trong hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 03 năm 2014
T ác giả luận văn
Nguyễn Trịnh Hoàng Quy
Trang 6v
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những lời mà tôi đã viết trong luận văn này là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể
Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ Hội đồng bảo vệ luận văn thạc sỹ nào và chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những điều mà tôi đã cam đoan ở trên
Hà Nội, tháng 03 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Trịnh Hoàng Quy
Trang 7vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BD CĐN CNH CBQL CNKT CSVC
ĐT
ĐH ĐHSPKT
ĐN
GV GVDN
GS HĐH LĐTBXH NXB NCKH NLTH
PP THCN
TS
SV
SL UBND
Bồi dưỡng Cao đẳng nghề Công nghiệp hóa Cán bộ quản lý Công nhân kỹ thuật
Cơ sở vật chất Đào tạo
Đại học Đại học sư phạm kỹ thuật Đội ngũ
Giảng viên Giảng viên dạy nghề Giáo sư
Hiện đại hóa Lao động thương binh xã hội Nhà xuất bản
Nghiên cứu khoa học Năng lực thực hiện Phương pháp Trung học chuyên nghiệp Tiến sỹ
Sinh viên
Số lượng
Ủy Ban nhân dân
Trang 8vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tổng quy mô đào tạo của trường CĐN Việt – Đức 33
Bảng 2.2: Số lượng HS, SV tốt nghiệp từ năm 2008- 2012 34
Bảng 2.3: Đánh giá kết quả tốt nghiệp từ năm 2009 – 2013 34
Bảng 2.4: Số lượng giáo viên, số lượng học sinh 36
Bảng 2.5: Cơ cấu giảng viên theo độ tuổi (theo khoa) 36
Bảng 2.6: Cơ cấu giảng viên theo thâm niên công tác (Theo khoa) 37
Bảng 2.7 : Cơ cấu giáo viên theo giới (Theo khoa) 38
Bảng 2.8 Trình độ chuyên môn đội ngũ giảng viên Trường CĐN Việt – Đức Vĩnh Phúc 39
Bảng 2.9 : Trình độ nghiệp vụ sư phạm của giáo viên dạy nghề 40
Bảng 2.10: Trình độ ngoại ngữ của giáo viên dạy nghề 41
Bảng 2.11: Trình độ tin học của giáo viên dạy nghề 42
Bảng 2.12: Kết quả đề tài NCKH các cấp của đội ngũ GVDN 42
Bảng 2.13 Đánh giá của CBQL về năng lực NCKH của đội ngũ GVDN 43
Bảng 2.14: số lượng và tỉ lệ GVDN đạt chuẩn 43
Bảng 2 -15: Đánh giá của cán bộ quản lý và giảng viên về kết quả ĐT, BD 46
Bảng 2.16: Kết quả tổng hợp nhu cầu về các nội dung đào tạo, bồi dưỡng của giảng viên dạy nghề 51
Bảng 2.17: Đánh giá của cán bộ quản lý và giảng viên về xây dựng đội ngũ giảng viên đầu đàn 55
Bảng 2.18:Đánh giá của cán bộ quản lý và giảng viên về thực hiện chính sách 57
Bảng 3.1: Tổng hợp số CBQL và GVDN được trưng cầu ý kiến về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 85
Bảng 3.2: Kết quả khảo sát về tính cần thiết của các biện pháp phát triển đội ngũ GV tại trường CĐN Việt - Đức Vĩnh Phúc 86
Bảng 3.3 Kết quả khảo sát về tính khả thi qua các biện pháp phát triển đội ngũ GV tại trường CĐN Việt - Đức Vĩnh Phúc 87
Bảng 3.4 Sự tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý chất lượng đội ngũ GV tại trường CĐN Việt - Đức Vĩnh Phúc 89
Trang 9viii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Các chức năng cơ bản của quản lý 8
Sơ đồ 1.2 Mô hình nhân cách của người GVDN 10
Sơ đồ 1.3 Sự thay đổi về hoạt động của GV 14
Sơ đồ 1.4 Mối quan hệ giữa nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học 18
Sơ đồ 2.1: Quá trình hình thành và phát triển của trường 30
Biểu đồ 2.1: So sánh nhu cầu bồi dưỡng của giáo viên 51
Biểu đồ 3.1: Mối tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý chất lượng đội ngũ GV tại trường CĐN Việt - Đức Vĩnh Phúc 89
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo viên có vị trí đặc biệt trong việc trong giáo dục và đào tạo Nghị quyết
TW 2 khoá VIII của Đảng đã khẳng định: “Giáo viên giữ vị trí quan trọng trong
việc đảm bảo chất lượng giáo dục- đào tạo và được xã hội tôn vinh…” [7] Chỉ thị
số 40 CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban bí thư Trung ương Đảng đã nêu rõ nhiệm vụ:
“Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo” Nghị quyết
số 14/2005/NQCP ngày 2/11/2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện
giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006- 2020 nhấn mạnh: “Xây dựng đội ngũ
giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao, phong cách giảng dạy và quản
rõ nguyên nhân của các yếu kém trong giáo dục của nước ta là “Quản lý về giáo
dục còn yếu kém và bất cập” Báo cáo cũng đã nêu rõ "Việc quản lý giáo dục truyền thống cần được thay bằng quản lý giáo dục theo chất lượng" [4]
Trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc được nâng cấp lên trường Cao đẳng chưa lâu, đội ngũ giảng viên (GV) dạy Cao đẳng chưa được chuẩn hóa để đảm bảo chất lượng đào tạo và đáp ứng yêu cầu phát triển của trường trong thời gian tới
Trang 112
Với những lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Quản lý chất lượng đội ngũ
giảng viên Trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc” làm đề tài nghiên cứu
luận văn Thạc sĩ của mình
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc nhằm đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển nhà trường
3 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý chất lượng đội ngũ GV dạy nghề trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc
4 Phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng: Giảng viên ở trường Cao đẳng nghề có nhiều loại: GV dạy
các môn chung cho nhiều nghề và GV dạy lý thuyết tích hợp với kỹ năng nghề của từng nghề mà trường đào tạo, được gọi là giảng viên dạy nghề (GVDN) Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về GVDN, bởi lẽ đây là loại hình GV chiếm đa số và chủ yếu của trường Mặt khác, GVDN có hoạt động đa dạng, phức tạp và khó khăn nhất
so với các loại GV khác và cũng đang là điểm yếu nhất trong đội ngũ GV của các trường Cao đẳng nghề hiện nay
- Về trình độ: Trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc đào tạo đa cấp từ
sơ cấp nghề, trung cấp nghề đến cao đẳng nghề Tuy nhiên, đề tài giới hạn chỉ nghiên cứu đội ngũ giảng viên dạy trình độ cao đẳng vì trình độ trung cấp và sơ cấp đối với trường không phải là vấn đề khó khăn bởi lẽ trường đã nhiều năm đào tạo trình độ trung cấp nghề và sơ cấp nghề
5 Các luận điểm cơ bản của luận văn
- Để nâng cao chất lượng đào tạo nghề của trường, việc thiết yếu là phải nâng cao chất lượng đội ngũ GV dạy nghề
- Muốn có đội ngũ GVDN có chất lượng, cần đổi mới quản lý GVDN từ quản lý theo kiểu hành chính, sự vụ sang quản lý chất lượng
- Quản lý chất lượng đội ngũ GVDN phải xuất phát từ mô hình hoạt động của GVDN trong bối cảnh mới và quản lý theo chuẩn chất lượng
Trang 127 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp sau đây:
7.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các tài liệu các văn bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: các công trình nghiên cứu, các thông tin khoa học, nghị quyết của Đảng, chủ trương chính sách của nhà nước, các tài liệu thực tế có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận cho luận văn
7.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi:
Để khảo sát ý kiến của giáo viên và CBQL về thực trạng quản lý chất lượng đội ngũ GV của trường cũng như về tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp được đề xuất
7.3 Phương pháp tọa đàm:
Để phỏng vấn sâu và trao đổi với một số giáo viên về tính cần thiết và khả
năng vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực
Trang 134
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
DẠY NGHỀ Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Công trình của nước ngoài
Về quản lý chất lượng nhà trường có các công trình "Quản lý chất lượng
trong giáo dục" của Taylor A, F Hill [15], "Quản lý chất lượng lấy nhà trường làm
cơ sở" của Dorothy Myers và Robert Stonihill [9] Những công trình này đã đưa ra những quan điểm và phương pháp vận dụng các nội dung quản lý chất lượng trong
sản xuất vào đổi mới quản lý chất lượng trong giáo dục, trong đó có quản lý đội ngũ GV
Về quản lý con người có các công trình: “Quản trị nhân sự tổng thể” của
Martin Hilb [14], công trình “Quản lý đội ngũ có hiệu quả - Sổ tay đánh giá” của
Rudi Schollaert [20] Các công trình này đã đưa ra mục tiêu, chiến lược và công cụ
đánh giá để quản lý nhân sự của một tổ chức
1.1.2 Công trình trong nước
Về quản lý chất lượng giáo dục có các công trình: “Quản lý chất lượng trong các tổ chức” của Tạ Thị Kiều An [1]; “Quản lý chất lượng trong giáo dục trung cấp chuyên nghiệp: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Đức Trí [18];
Những công trình này đã đề cập đến quản lý các yếu tố cấu thành chất lượng của
giáo dục, trong đó có đội ngũ GV
Về quản lý con người có các công trình: “Quản trị nguồn nhân lực” của Trần
Kim Dung [6]; “Quản lý nhân sự” của Nguyễn Hữu Thân [16]; “Quản lý nhân lực trong giáo dục” của Mạc Văn Trang [17]; … Những công trình này đã đề cập đến nội
dung quản lý đội ngũ nhân lực của nhà trường, trong đó GV là lực lượng chủ chốt
Về đào tạo và phát triển đội ngũ GV có các công trình: “Đào tạo nghiệp vụ
sư phạm” của Đinh Quang Báo [2]; “Vấn đề giáo viên - Những nghiên cứu lý luận
và thực tiễn”của Trần Bá Hoành [12]; “Bàn về mô hình giáo viên dạy nghề trước yêu cầu mới”của Nguyễn Minh Đường [10]; Chính phủ cũng đã có “Đề án xây
Trang 145
dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn
2005 – 2010” [3]
Cũng đã có một số luận văn Cao học nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo
viên như: “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng Công nghiệp Việt
Đức đến năm 2010” của Nguyễn Viết Hải [11]; “Phát triển đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc” của tác giả Đặng Ngọc Sơn [19]
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về “Quản lý chất lượng đội ngũ
giảng viên dạy nghề của trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc”
1.2 Một số khái niệm
1.2.1 Quản lý
* Khái niệm chung về quản lý
Lịch sử phát triển loài người cho thấy trong tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó Các Mác đã từng viết:
“Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào, tiến hành trên quy
mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của những khách quan độc lập của nó”
Như vậy, quản lý đã xuất hiện và phát triển cùng với sự sự phát triển của xã hội loài người và cho đến ngày nay thì quản lý đã trở thành một khoa học mang tính nghệ thuật bởi nó có được những hệ thống cơ sở lý luận là những khái niệm, phạm trù mang tính quy luật và quy luật khách quan để từ đó những người nghiên cứu và các nhà quản lý thực tiễn vận dụng nhằm đưa ra các quyết định phù hợp với điều
kiện khách quan
Thuật ngũ quản lý được các nhà khoa học, quản lý kinh tế … trong và ngoài
nước định nghĩa theo những hướng tiếp cận khác nhau
Theo FW.Taylor: “ Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm
và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất”
Trang 156
Theo Harold Koont: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được các mục đích
của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất”
Theo Mary Parker Polle: “Quản lý là một nghệ thuật điều khiển công việc được thông qua người khác”
Một số nhà khoa học nước ngoài khác như: A.Fayol nhà lý luận quản lý kinh
tế, A.I Bevg nhà điều khiển học, A.N Kolmogovow nhà toán học, V.G Afanatsev nhà triết học… cũng đưa ra những định nghĩa và triết lý riêng về quản lý Ở Việt Nam bên cạnh các tác giả trong lĩnh vực khoa học quản lý cũng có một số tác giả trong lĩnh vực khoa học giáo dục đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về quản lý như:
Theo Phan Văn Kha: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực để đạt được mục đích đã định” [13]
Các tác giả khác như: Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Quốc Trí, Nguyễn Thị
Mỹ Lộc và nhiều tác giả khác đều đưa ra các khái niệm về quản lý: Là tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý) tới khách thể quản lý (người bị quản lý), trong một tổ chức về mặt chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội… bằng một hệ thống các luật lệ chính sách, nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể… nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu của tổ chức
Như vậy, quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tốt mục tiêu đã định
* Các chức năng của quản lý:
Quản lý bao gồm 4 chức năng cơ bản có liên quan mật thiết với nhau theo một chu trình: lập kế hoạch; tổ chức; lãnh đạo, chỉ đạo, điều khiển; kiểm tra, đánh giá
Trang 167
Lập kế hoạch: Kế hoạch là văn bản, trong đó xác định những mục tiêu và
những quy định, thể thức để đạt dược những mục tiêu đề ra Có thể hiểu lập kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu của hệ thống, các hoạt động và các điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó Kế hoạch là nền tảng của quản lý
Tổ chức thực hiện: Là sự bố trí sắp xếp và phân bổ công việc, và các nguồn
lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả Đối với những mục tiêu khác nhau đòi hỏi cơ cấu
tổ chức cho phù hợp với nhóm, mục tiêu và nhiệm vụ của tổ chức Quá trình đó được gọi là quá trình thiết kế tổ chức Tổ chức là công cụ của quản lý
Lãnh đạo, chỉ đạo: Là quá trình tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý
làm họ nhiệt tình, tự giác nỗ lực phấn đấu đạt các mục tiêu của tổ chức
Kiểm tra, đánh giá: Là những hoạt động của chủ thể quản lý nhằm đánh giá
và điều chỉnh khi cần thiết của quá trình vận hành tổ chức
Các yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra:
+ Xây dựng chuẩn thực hiện
+ Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn
+ Nếu có sự chênh lệch thì cần tìm hiểu nguyên nhân để điều chỉnh hoạt động
Trong trường hợp cần thiết thì có thể điều chỉnh mục tiêu
Các chức năng cơ bản của quá trình quản lý có quan hệ mật thiết với nhau và
có thể biểu diễn như ở sơ đồ 1.1
Xem xét trong một phạm vi rộng và lâu dài của công tác quản lý đối với một đối tượng quản lý nhất định, người ta thấy rằng các chức năng quản lý trên có thể được coi như những giai đoạn của một quá trình quản lý
Tuy nhiên, quá trình quản lý là một thể thống nhất trọn vẹn Sự phân chia thành các giai đoạn chỉ có tính chất tương đối giúp cho người lãnh đạo quản lý định hướng thao tác trong hoạt động của mình Trong thực tế, các giai đoạn diễn ra không tách bạch rõ ràng Thậm chí có chức năng diễn ra cả ở một số giai đoạn khác nhau trong quá trình đó
Trang 178
Sơ đồ 1.1: Các chức năng cơ bản của quản lý
Như vậy, đối với mỗi hệ thống hoạt động quản lý đều phải thực hiện theo quy trình: Lập kế hoạch; tổ chức thực hiện; chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch; kiểm tra, đánh giá các hoạt động và thực hiện các mục tiêu đã đề ra để thực hiện đầy đủ 4 chức năng của quản lý Trong những điều kiện cần thiết có thể điều chỉnh lại kế hoạch, hoặc mục tiêu hoặc các hoạt động cụ thể hoặc có thể đồng thời điều chỉnh hai hoặc ba nhân tố cho phù hợp
1.2.2 Giảng viên dạy nghề
Theo Luật Giáo dục 2005, GV là những người làm công tác giảng dạy ở các trường cao đẳng và đại học Tuy nhiên, chỉ có một số GV trong số đó dạy lý thuyết
và thực hành nghề của các nghề mà nhà trường đào tạo Những người này được gọi
là Giảng viên dạy nghề (GVDN)
1.2.3 Chất lượng
Có nhiều khái niệm về chất lượng
- Theo từ điển tiếng Việt phổ thông: Chất lượng là tổng thể những tính chất, những thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc) v.v làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác
- Theo từ điển Oxford Pocket Dictionnary: Chất lượng là mức hoàn thiện, đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ liệu, các thông
số cơ bản của một sự việc, sự vật nào đó
Trang 189
Theo các định nghĩa trên, chất lượng là cái vốn có của mỗi sự vật, nó tồn tại khách quan và mọi người phải thừa nhận nó Tuy nhiên, trong thực tế không phải lúc nào cũng như vậy Nhiều khi một sự vật được coi là có chất lượng đối với người này nhưng lại là không có chất lượng đối với người khác, bởi lẽ chất lượng của sự vật chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó được sử dụng như thế nào?
Ngày nay, khái niệm về chất lượng được thừa nhận ở phạm vi quốc tế, đó là định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá quốc tế Theo điều 3.1.1 của tiêu chuẩn ISO
9000 – 2000, chất lượng có khái niệm là: “Mức độ của một tập hợp các đặc tính
vốn có đáp ứng các yêu cầu” Như vậy, chất lượng có tính tương đối và linh hoạt, phụ thuộc vào yêu cầu của người sử dụng
- Chất lượng giảng viên dạy nghề
Với khái niệm về chất lượng như trên, một người GVDN có chất lượng là
người giảng viên phải có các năng lực cần thiết để có thể hoàn thành tốt những
nhiệm vụ được giao, đáp ứng được yêu cầu đào tạo của nhà trường Một trường
đào tạo với chất lượng cao đòi hỏi đội ngũ GVDN có chất lượng cao hơn trường
đào tạo nghề với chất lượng trung bình
- Chất lượng đội ngũ giảng viên dạy nghề
Đội ngũ GVDN của một trường dạy nghề bao gồm một số lượng quy định với nhiều ngành nghề và trình độ khác nhau để thực hiện nhiệm vụ đào tạo các trình độ nghề khác nhau mà trường đang đào tạo Tuy nhiên, không phải mọi GV đều phải
có chất lượng như nhau Tùy thuộc vào nhiệm vụ được giao, yêu cầu về chất lượng các GVDN không giống nhau GVDN dạy các lớp cuối khóa phải có trình độ kiến thức và đặc biệt là kỹ năng nghề cao hơn những GVDN giảng dạy cho các lớp đầu khóa GVDN dạy cao đẳng nghề phải có năng lực cao hơn GVDN dạy trung cấp nghề Một mặt khác, trong đội ngũ GVDN của trường cũng cần một tỉ lệ hài hòa giữa GV, GV chính và GV cao cấp
Bởi vậy, chất lượng đội ngũ GVDN được quan niệm là một đội ngũ GVDN có
cơ cấu trình độ hợp lý, trong đó mỗi thành viên của đội ngũ có đủ các năng lực cần thiết để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ ở vị trí công tác cụ thể mà mình được giao
Trang 1910
1.3 Mô hình nhân cách của người Giảng viên dạy nghề hiện đại
Sơ đồ 1.2 Mô hình nhân cách của người GVDN
Với nhiệm vụ của mình, người GVDN hiện đại tham gia nhiều hoạt động đa dạng khác nhau Để hoàn thành được nhiệm vụ của mình, GVDN phải có đa nhân cách: vừa phải có nhân cách của nhà sư phạm, vừa phải là người CNKT lành nghề, nhà kỹ thuật và nhà nghiên cứu khoa học Với nhân cách 4 trong 1 của mình, mô hình nhân cách của người GVDN được thể hiện như ở Sơ đồ 1.2
- Nhân cách n hà sư phạm
Với chức danh nghề nghiệp là người giảng viên, nhiệm vụ chủ yếu của GVDN
là giảng dạy cho học sinh, sinh viên học nghề Để làm được điều này, trước hết, người GVDN phải có nhân cách của một nhà giáo, nhà sư phạm
GVDN không chỉ dạy nghề mà còn phải dạy người Do vậy, ngoài năng lực về
sư phạm, người GVDN còn phải có phẩm chất đạo đức của một nhà giáo, phải là tấm gương về đạo đức để học sinh noi theo Bên cạnh đó, GVDN còn phải biết phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh, giáo dục lòng yêu nghề, hình thành tác phong công nghiệp và đạo đức nghề nghiệp cho SV
Nhân cách nhà sư phạm
Nhân cách người CNKT
Nhân cách nhà NCKH Nhân cách
nhà kỹ thuật ng Nhân cách ười GVDN
Trang 2011
Để thực hiện công việc dạy nghề, GVDN phải có năng lực quản lý để quản lý quá trình dạy học của mình ở lớp học Bên cạnh đó, với đặc trưng của dạy thực hành nghề, GVDN phải tổ chức cho SV học thực hành tại xưởng từ việc chọn sản phẩm để thực hành nghề đến việc bổ trí vị trí lao động và thiết bị cho từng nhóm SV cũng như liên hệ, tổ chức và quản lý SV thực tập tại xí nghiệp
- Nhân cách của người CNKT lành nghề
Nghị định 02/TTCP đã quy định rõ: “Giảng viên dạy nghề phải có trình độ
tay nghề cao hơn 2 bậc so với bặc thợ đào tạo Điều đó có nghĩa là giảng viên dạy nghề phải có tay nghề bậc cao để đạt tiêu chuẩn giảng dạy thực hành”
Dạy nghề chủ yếu là dạy thực hành để sau khi học xong một chương trình đào tạo, người học có kỹ năng để có thể thực hiện được các công việc của nghề đạt chuẩn quy định để có cơ hội tìm được việc làm Để làm được điều này, người GVDN phải
có phẩm chất và năng lực của người CNKH lành nghề
Muốn có năng lực thực hành nghề trình độ cao, đòi hỏi người giảng viên phải thường xuyên rèn luyện thông qua công việc sản xuất thực tế Vì thế, ngoài công tác giảng dạy người giảng viên dạy nghề cần phải tham gia sản xuất, trực tiếp làm ra các sản phẩm nghề như một người công nhân kỹ thuật lành nghề để phát triển năng lực thực hành nghề
- Nhân cách của nhà kỹ thuật
Dạy nghề không chỉ dạy kỹ năng nghề mà còn phải lý thuyết về kỹ thuật chuyên môn của nghề Ngày nay, dạy nghề đã được nâng cấp lên trình độ Cao đẳng và đặc biệt là đối với những nghề kỹ thuật cao (high-tech), lý thuyết về kỹ thuật chuyên môn
nghề được nâng cao Như vậy GVDN ở trường Cao đẳng phải có trình độ kỹ thuật
chuyên môn nghề trình độ đại học Nói một cách khác họ phải là một nhà kỹ thuật
Để đạt được yêu cầu đó, theo điều 77 luật GD 2005 người giảng viên dạy nghề phải tốt nghiệp ở các trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật hoặc các trường đại học Kỹ thuật Với trình độ này, người giáo viên mới đủ năng lực để truyền thụ kiến thức cho học sinh – sinh viên
Trang 2112
- Nhân cách của nhà nghiên cứu
Luật Giáo dục Đại học đã ghi rõ NCKH là một trong hai nhiệm vụ chủ yếu của các trường cao đẳng và đại học Đây cũng là điều khác biệt cơ bản giữa giáo dục trình độ đại học và các trình độ giáo dục khác
Theo Thông tư liên tịch số 06/2011/TTLT/BNV-BGDĐT cũng quy định,
giảng viên các trường Cao đẳng, Đại học có bốn nhiệm vụ cần phải thực hiện trong
quá trình tham gia công tác đó là: Giảng dạy; Nghiên cứu khoa học; Học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ; Tham gia công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu
khoa học, công tác đảng, đoàn thể và các hoạt động khác
NCKH ngày nay được coi là một trong những phương pháp dạy học tích cực hữu hiệu, giúp SV có thể tự phát hiện và lĩnh hội các tri thức khoa học qua các công trình nghiên cứu, đồng thời hình thành và phát triển năng lực NCKH của mình Bên cạnh đó NCKH cũng là biện pháp để nâng cao năng lực và trình độ của đội ngũ GV của trường
Ngành giáo dục đang bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo Do vậy, người GVDN hiện đại phải tham gia NCKH để cải tiến mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo và đổi mới phương pháp dạy học Như vậy,
GVDN phải có nhân cách của một nhà nghiên cứu khoa học
1.4 Đặc điểm hoạt động dạy học của người GVDN hiện đại
Do tính chất và đặc điểm hoạt động nghề nghiệp nên người GVDN có các đặc điểm hết sức riêng biệt, khác với các loại hình giáo viên khác Chúng ta đang sống trong một thời đại với nhiều biến đổi, hoạt động của người GVDN đã và đang thay đổi để thích ứng với một nền giáo dục nghề nghiệp hiện đại dưới sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó có một số chủ yếu có thể kể đến là sự phát triển của khoa học dạy nghề, của các thuyết dạy học và của tiến bộ KHCN
(1) Người GVDN hiện đại phải có năng lực để thực hiện được phương thức đào tạo theo mô đun năng lực thực hiện (NLTH)
Với dạy nghề truyền thống, dạy nghề theo tiếp cận nội dung, chương trình đào tạo nghề được thiết kế với cấu trúc các môn học và các bài thực hành riêng rẽ
Trang 2213
Quá trình dạy học cũng được tổ chức dạy lý thuyết nghề tách khỏi thực hành nghề nên trong trường dạy nghề tồn tại hai loại GVDN: Giáo viên dạy lý thuyết nghề và giáo viên dạy thực hành nghề Giáo viên dạy lý thuyết nghề thường là những nhà kỹ thuật (kỹ thuật viên hoặc kỹ sư), họ giỏi về lý thuyết nhưng kỹ năng thực hành thì chưa thành thạo Ngược lại, giáo viên dạy thực hành nghề là những công nhân kỹ thuật lành nghề có trình độ kỹ năng cao nhưng lại có trình độ kỹ thuật thấp Do vậy,
việc dạy lý thuyết và thực hành nghề nhiều khi ít phù hợp với nhau và thường lại được bố trí cách xa nhau có khi hàng tháng Bởi vậy, khi học thực hành thì lý thuyết
SV đã quên nhiều nên thường GV phải nhắc lại những nội dung chủ yếu, tốn thời gian và chất lượng dạy học thấp
Ngày nay, với phương pháp tiếp cận đầu ra, đào tạo nghề đã được chuyển sang đào tạo theo mô đun NLTH, chương trình đào tạo được thiết kế theo các mô đun NLTH tích hợp giữa lý thuyết và thực hành Điều 35 của Luật Giáo dục 2005
đã nêu rõ: “Phương pháp giáo dục nghề nghiệp phải kết hợp rèn luyện kỹ năng thực
hành với giảng dạy lý thuyết để giúp người học có khả năng hành nghề và phát triển nghề nghiệp theo yêu cầu của từng công việc” Do vậy, người GVDN phải
dạy từng công việc của nghề tích hợp giữa lý thuyết và thực hành để sau khi học xong chương trình đào tạo, người học có năng lực hoàn thành được tất cả các công việc của nghề Đào tạo theo mô đun NLTH có nhiều ưu điểm lớn: một mặt nâng cao được chất lượng và hiệu quả đào tạo, đáp ứng nhu cầu các doanh nghiệp và người học, mặt khác, tạo thuận lợi cho người học có thể cần gì học nấy, học suốt đời mà không phải học lại những điều đã học Tuy nhiên, sự ra đời của phương thức đào tạo nghề theo mô đun NLTH đã làm thay đổi hoạt động của người GVDN như đã nêu ở trên Điều này dẫn đến một yêu cầu mới là trong trường dạy nghề chỉ còn lại một loại GV vừa giỏi lý thuyết nghề vừa thành thạo thực hành để có thể dạy tích hợp lý thuyết với thực hành nghề (Sơ đồ 1.3) Như vậy, năng lực của người GVDN cũng đã thay đổi Điều này cũng dẫn đến tất yếu là phải thay đổi nội dung đào tạo
và bồi dưỡng GVDN
Trang 2314
Sơ đồ 1.3 Sự thay đổi về hoạt động của GV
(2) Người GVDN hiện đại phải có năng lực để vận dụng một cách hợp lý và
có hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực
Đổi mới phương pháp dạy học đang là một yêu cầu quan trọng đối với GV nói
chung và GVDN nói riêng Để phát triển tính chủ động và sáng tạo của người học,
các phương pháp dạy học tích cực như: Dạy học chương trình hoá; Dạy học có hỗ trợ
bằng máy vi tính, dạy học theo tình huống, dạy học tương tác, dạy học mô phỏng, dạy học theo dự án,…đang bước đầu được ứng dụng trong dạy nghề ở nước ta
Tuy nhiên, không có phương pháp dạy học nào là vạn năng Một mặt khác, mỗi phương pháp dạy học chỉ có hiệu quả khi nó được vận dụng phù hợp với nộ dung học tập và điều kiện cụ thể của nhà trường Bởi vậy, ngoài việc có kiến thức
về các phương pháp dạy học tích cực, người GVDN cần có kỹ năng vận dụng thành thạo và hợp lý các phương pháp dạy học tích cực trong quá trình dạy học mới nâng cao được chất lượng và hiệu quả dạy học
(3) Người GVDN hiện đại phải tiếp cận được các tiến bộ khoa học và công nghệ và sự biến đổi của sản xuất
Trong thời đại ngày nay, tiến bộ KHCN đang thay đổi hàng ngày hàng giờ và tác động mạnh mẽ đến sản xuất, do vậy kiến thức và kỹ năng của người GVDN bị hao mòn nhanh chóng Tiến bộ KHCN cũng làm thay đổi nội dung đào tạo của các
Giáo viên dạy nghề
Giáo viên dạy
Trang 2415
nghề Để có thể dạy nghề có chất lượng, đáp ứng được yêu cầu của sản xuất, người GVDN phải thường xuyên cập nhật được kiến thức về các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ được áp dụng trong sản xuất
Mặt khác, sự phát triển nhanh chóng của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học đã và đang làm thay đổi chức năng của nhà giáo Công nghệ thông tin đã và đang tác động mạnh mẽ đến công nghệ dạy học Theo J Delors, công nghệ dạy học hiện đại được đặc trưng bởi việc sử dụng các phương tiện hiện đại như máy vi tính và các phần mềm hướng dẫn dạy và học, các thiết bị đa phương tiện và đa kênh truyền thông trao đổi thông tin tương tác, mạng thư viện điện tử, các hệ thống mô phỏng các quá trình hoạt động bằng vi tính, các hệ thống mô tả mùi, vị ảo v.v
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả dạy và học bằng cách phát huy cao độ tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh, biến quá trình học thành quá trình tự học, tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Điều này không những buộc giáo viên phải thay đổi phương pháp dạy học mà còn làm thay đổi cả chức năng và nội dung lao động của giáo viên Giáo viên sẽ là người thiết kế bài học, tổ chức và hướng dẫn học sinh tìm tòi, phát hiện và lĩnh hội kiến thức, sẽ là người theo dõi, phát hiện và uốn nắn kịp thời các thao tác sai lệch của học sinh Giáo viên là người quản lý quá trình dạy và học, còn vai trò của người thuyết giáo, giảng bài, truyền thụ kiến thức cho học sinh chỉ là phụ Để làm được điều này, người giáo viên phải có kiến thức về tin học, ngoại ngữ và cần được đào tạo hoặc bồi dưỡng để có những kiến thức và kỹ năng cần thiết, thích ứng với các công nghệ dạy học hiện đại
Tóm lại, người GVDN hiện đại cần được đào tạo và bồi dưỡng với những nội dung cần thiết để có đủ năng lực hoàn thành được những công việc của mình trước yêu cầu mới
1.5 Chuẩn chức danh GVDN
Bộ LĐTB&XH đã ban hành Thông tư số 30/2010/TT-BLĐTBXH về Chuẩn giảng viên Cao đẳng nghề bao gồm 4 tiêu chí và 13 tiêu chuẩn:
Trang 2516
Tiêu chí 1: Phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, lối sống
Tiêu chí này gồm 3 tiêu chuẩn:
- Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất chính trị;
- Tiêu chuẩn 2: Đạo đức nghề nghiệp;
- Tiêu chuẩn 3: Lối sống, tác phong
Tiêu chí 2: Năng lực chuyên môn
Tiêu chí này gồm 2 tiêu chuẩn:
- Tiêu chuẩn 1: Kiến thức chuyên môn
GVDN cần có năng lực tổng hợp, phân tích và lựa chọn kiến thức từ các nguồn tài liệu khác nhau, kết hợp với năng lực thực hành để gia công lý thuyết, biến
nó thành vốn riêng và được trình bày bằng phương pháp riêng của mình mang tính thuyết phục cao, phù hợp với người học, phải xác định nội dung để hoàn thành mục tiêu GV phải vừa có thể đảm bảo cho SV kém tiếp thu được, đồng thời phải có khả năng mở rộng để dẫn dắt SV khá, giỏi tìm tòi khám phá
- Tiêu chuẩn 2: Kỹ năng nghề
Đây là yêu cầu rất quan trọng đối với GV dạy thực hành hay hướng dẫn thí nghiệm trong các Trường Cao Đẳng Kỹ Thuật, nó quyết định nhiều đến uy tín của GV đối với SV vì mục đích của họ là học để hành nghề Người GV phải thể hiện được mình trong quá trình thực hành, cần có kỹ năng thực hành thành thạo để hướng dẫn các thao tác một cách chuẩn xác để học sinh làm theo, mặt khác tạo điều kiện cho SV tư duy sáng tạo trong quá trình thực hành, phải chuyển hóa lý thuyết vào những công việc
cụ thể một cách đơn giản, dễ hiểu có tính thuyết phục
Tiêu chí 3: Năng lực sư phạm dạy nghề
Tiêu chí này gồm 6 tiêu chuẩn:
- Tiêu chuẩn 1: Trình độ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề
Để tiến hành giảng dạy HS, SV, GV không chỉ cần trình độ chuyên môn nghề nghiệp mà còn phải có trình độ về nghiệp vụ sư phạm, đó là khối kiến thức rộng bao gồm những hiểu biết về tâm lý học, lý luận dạy học chung, lý luận về dạy học nghề (của nghề mà mình giảng dạy), lý luận về các thuyết dạy học và các phương pháp
Trang 2617
dạy học tích cực, phương tiện dạy học và ứng dụng phương tiện dạy học vào công việc của mình, Do vậy, Để dạy học ở trường Cao đẳng nghề, GVDN cần tốt nghiệp các trường ĐHSPKT hoặc được bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm bậc 1 và bậc 2 để có trình độ tương đương
Những năng lực về sư phạm cho phép GV chủ động lựa chọn những phương pháp dạy học, phương tiện dạy học thích hợp để dạy học có chất lượng với hiệu quả cao
- Tiêu chuẩn 2: Chuẩn bị hoạt động giảng dạy
Để chuẩn bị dạy học, GVDN cần có các năng lực sau đây:
* N ăng lực hiểu biết học sinh:
Được hình thành từ những kiến thức về tâm lý học và kinh nghiệm hoạt động của bản thân trong quá trình giao tiếp với SV, nhờ đó GV có thể thâm nhập vào thế giới bên trong của người học, hiểu biết động cơ học tập, ưu và khuyết điểm của người học , để lựa chọn phương pháp, nhịp độ dạy học thích hợp với đối tượng HS
* N ăng lực xây dựng mục tiêu bài giảng :
Từ mục tiêu chung của môn học người GV cần xác định các mục tiêu chi tiết
và những đóng góp của từng bài giảng vào mục tiêu chung của môn học, phải xác định cho được vị trí và tầm quan trọng của bài giảng trong môn học Từ đó xây dựng mục tiêu chi tiết cho từng bài giảng kết hợp một cách hợp lý với phương pháp giảng dạy và phương tiện để hoàn thành nhiệm vụ
* N ăng lực xây dựng nội dung bài giảng :
Từ chương trình đào tạo GV có đề cương mục tiêu môn học trong chương trình, các chương và các phần của chương Tự họ phải có khả năng lựa chọn tài liệu, phương pháp, phương tiện dạy học để thực hiện Việc xây dựng nội dung và phát triển nội dung từng phần đòi hỏi giảng viên phải có năng lực chuyên môn cao, có kiến thức sâu, rộng về thực tế nghề nghiệp, và căn cứ vào mục tiêu môn học để xây dựng nội dung chi tiết phù hợp với người học và hoàn thành tốt mục tiêu
* N ăng lực lựa chọn phương pháp dạy học cho bài giảng:
Nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học có quan hệ hữu cơ với nhau
và có thể mô tả như ở Sơ đồ 1.4
Trang 2718
Sơ đồ 1.4 Mối quan hệ giữa nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học
Người GV cần nắm vững và sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại vào công nghệ giảng dạy của mình Phương pháp dạy học cũng hình thành và phát triển theo thời gian Việc áp dụng từng phương pháp vào các thời điểm của bài giảng và kết hợp với phương tiện ra sao, đã trở thành nghệ thuật của nghề dạy học Việc hiểu tâm, sinh lý của đối tượng học, tận dụng kinh nghiệm trong quá trình dạy học, của từng GV để lựa chọn phương pháp phù hợp là rất quan trọng
* N ăng lực thiết kế bài giảng và giáo án dạy học:
Đòi hỏi GV phải lựa chọn được các loại tài liệu tham khảo, sách giáo khoa cần thiết, xác định được mục đích yêu cầu và các kiến thức cơ bản của giờ giảng, lựa chọn được phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp với từng loại bài tập và trình
độ tiếp thu của SV Xây dựng được bài giảng và thiết kế được giáo án hợp lý để chuẩn bị cho việc dạy học có hiệu quả
- Tiêu chuẩn 3: Thực hiện hoạt động giảng dạy
GVDN cần có các năng lực để thực hiện bài giảng như năng lực giao tiếp với
SV, năng lực tổ chức và quản lý quá trình dạy học, năng lực sử dụng thành thạo các phương pháp và phương tiện kỹ thuật dạy học, năng lực sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học, …
Phương pháp
Trang 2819
- Tiêu chuẩn 4: Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của SV
GVDN cần có các năng lực để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của SV như năng lực thiết kế và sử dụng thành thạo các công cụ kiểm tra, đánh giá hiện đại, năng lực đánh giá chất lượng bài giảng, năng lực đánh giá thái độ học tập của SV,
năng lực tổng kết bài học,…
- Tiêu chuẩn 5: Quản lý hồ sơ dạy học
GVDN cần có các năng lực để xây dựng, sử dụng và quản lý, lưu trử hồ sơ dạy học trong đó có kết quả học tập của từng SV để theo dõi và có biện pháp xử lý thích
hợp, kịp thời đối với các SV yếu kém để giảm thiểu tỉ lệ lưu ban, bỏ học
- Tiêu chuẩn 6: Phát triển chương trình đào tạo, biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy
GVDN cần có hiểu biết về phương pháp phân tích nghề DACUM và tiếp cận được với các công nghệ sản xuất hiện đại để làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc cải tiến và phát triển chương trình đào tạo nghề Phải có hiểu biết và các nguyên tắc và phương pháp biên soạn giáo trình và sách giáo khoa để phục vụ cho công tác đào tạo
Tiêu chí 4: Năng lực phát triển nghề nghiệp, nghiên cứu khoa học
Tiêu chí này gồm 2 tiêu chuẩn:
+ Tiêu chuẩn 1: Trao đổi kinh nghiệm, học tập, bồi dưỡng, rèn luyện
Trong thời đại ngày nay, khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão và sản xuất không ngừng phátn triển Do vậy, để giữ được vị trí lao động của mình, GVDN phải thường xuyên học tập, học suốt đời để không ngừng tự phát triển
Để làm được điều này, GVDN phải có trình độ ngoại ngữ ở mức cần thiết và
sử dụng thành thạo công nghệ thông tin cũng như có năng lực tự học, tự rèn luyện Bên cạnh đó Cần thường xuyên trao đổi kinhn nghiệm với các đồng nghiệp, học hỏi lẫn nhau để không ngừng phát triền
+ Tiêu chuẩn 2: Nghiên cứu khoa học
Hoạt động nghiên cứu khoa học sẽ góp phần nâng cao trình độ giảng viên Đặc biệt ngày nay, khi mà khoa học và công nghệ cũng như khoa học giáo dục không
Trang 2920
ngừng phát triển, giảng viên cần nghiên cứu ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ và khoa học giáo dục vào việc cải tiến nội dung, phương pháp dạy và học trong điều kiện Việt Nam Để có thể thực hiện các đề tài NCKH, GVDN cần được bồi dưỡng để có kiến thức cần thiết về phương pháp và quy trình nghiên cứu các đề tài NCKH cũng như cần có trình độ chuyên môn cao
Chuẩn trình độ GVDN
Bên cạnh chuẩn chức danh, nhà nước cũng đã ban hành chuẩn trình độ của GVDN Theo chuẩn của ngạch công chức ngành giáo dục và đào tạo, GV làm công tác giảng dạy trong các Trường Cao Đẳng được chia thành 3 cấp:
- Giảng viên
- Giảng viên chính
- Giảng viên cao cấp
Sự khác nhau cơ bản giữa các cấp chức danh chính là trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, khả năng dạy thực hành và lý thuyết cũng như các nhiệm vụ
khác: biên soạn giáo trình, nghiên cứu khoa học , sư phạm, quản lý
Để chuyển từ "giảng viên" lên "giảng viên cao cấp ", giảng viên phải đạt được các chứng chỉ sau:
- Có chứng chỉ bồi dưỡng sau Đại Học và có tay nghề dạy thực hành cho HS,
SV theo yêu cầu đào tạo nghề của trường
- Có chứng chỉ lý luận Mác- Lê nin theo chương trình BD cho cán bộ sau ĐH
Trang 3021
1.6 Nội dung quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên dạy nghề
Vấn đề về chất lượng đang được quan tâm ở nhiều lĩnh vực, trong đó nhìn chung chất lượng các nhà giáo đã được cải thiện, nhà giáo tận tuỵ với nghề, có phẩm chất đạo đức tốt, cần cù chịu khó, có ý tưởng phấn đấu, tinh thần trách nhiệm
và quyết tâm tự bồi dưỡng để thực hiện nhiệm vụ dạy tốt Đánh giá về chất lượng đội ngũ giảng viên đại học, cao đẳng có trình độ sau đại học thấp, số lượng giáo sư, phó giáo sư trong các trường đại học, cao đẳng chỉ chiếm khoảng 30% trong tổng số
GS, PGS trong cả nước, mặt khác chất lượng giảng dạy còn chưa đạt yêu cầu, đặc biệt trong việc gắn dạy học với nghiên cứu khoa học và phục vụ sản xuất, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy chậm đổi mới, trình độ đào tạo chưa theo kịp phát triển khoa học công nghệ hiện đại
Chỉ thị số 40-CT/TW về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo
và CBQL giáo dục trong đó yêu cầu " Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng cụ thể hoá các nội dung nêu trong chỉ thị này thành cơ chế, chính sách, xây dựng kế hoạch triển khai và chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước "
Chính vì vậy để nâng cao công tác quản lý về chất lượng đội ngũ nhà giáo thì cần phải xây dựng một kế hoạch chiến lược về nâng cao chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, năng lực và kỹ năng trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học, giao tiếp rèn luyện nhận thức chính trị, phẩm chất đội ngũ nhà giáo
1.6.1 Quản lý việc chuẩn hóa đội ngũ giảng viên
Để quản lý chất lượng đội ngũ GV, việc đầu tiên là phải chuẩn hóa đội ngũ
GV hiện có Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành trung ương khóa XI
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
đã nêu rõ nhiệm vụ: “Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và
trình độ đào tạo” [8]
Trang 3122
Việc chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo phải căn cứ vào chuẩn năng lực cũng như chuẩn chức danh của nhà giáo mà nhà nước đã ban hành cho các trình độ đào tạo, đồng thời phải căn cứ vào yêu cầu thực tế của trường trong từng giai đoạn phát triển, bởi lẽ các trường dạy nghề hiện nay đang đào tạo đa cấp đa ngành
Nội dung chủ yếu của việc quản lý chuẩn hóa đội ngũ GV là đào tạo và bồi dưỡng những người chưa đạt chuẩn về những mặt mà họ còn yếu để đạt chuẩn
Đó là sự vận dụng hệ thống các cơ chế, chính sách về giáo dục của Đảng và
nhà nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên có thể học tập nâng cao trình
độ theo yêu cầu chuẩn hóa
- Quản lý việc chuẩn hóa đội ngũ giảng viên hiện có cần quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng một số GVDN đầu đàn cho các bộ môn của trường Những
người này cần có năng lực “trên chuẩn”, có trình độ cao như Thạc sĩ, Tiến sĩ để xây dựng đội ngũ GVDN đầu đàn làm nòng cốt cho trường
- Về bồi dưỡng GVDN có nhiều mục đích, nội dung và phương pháp khác nhau: + Bồi dưỡng đạt chuẩn cho những GVDN chưa đạt chuẩn Nội dung bồi dưỡng loại này là phải đánh giá, phân loại GVDN và tổ chức bồi dưỡng các nội dung mà từng loại GVDN chưa đạt chuẩn
+ Bồi dưỡng các chuyên đề chuyên môn theo nhu cầu của từng loại GVDN như các phương pháp dạy học tích cực, dạy học theo mô đun NLTH, kỹ năng nghề
và công nghệ sản xuất hiện đại, tin học, ngoại ngữ, năng lực nghiên cứu khoa học,…
Bồi dưỡng phải luôn gắn với tự bồi dưỡng mới mang lại hiệu quả
Quản lý đào tạo và bồi dưỡng GVDN bao gồm các nội dung có liên hệ chặt chẽ với nhau, quan hệ tương tác lẫn nhau và phải thực hiện theo một chu trình gồm các bước: (1) Xây dựng kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng cho từng loại đối tượng GVDN của trường;
(2) Tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm đạt được mục tiêu đề
ra của trường
(3) Chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng
Trang 3223
(4) Kiểm tra và đánh giá kết quả đào tạo và bồi dưỡng GVDN
1.6.2 Quản lý việc tuyển chọn và sử dụng giáo viên mới
Tuyển chọn có hiệu quả và đạt được mục tiêu đặt ra thì cần phải căn cứ vào:
- Chuẩn GV nhà nước quy định theo các cấp trình độ
- Ngành nghề chuyên môn mà trường đang thiếu
- Nghị quyết 14 của Thủ tướng Chính phủ trong đó nêu: Cần ưu tiên GV có học hàm, học vị cao
- Đối với GVDN cần ưu tiên những người có kỹ năng nghề giỏi vì thời lượng các chương tình đào tạo nghề chiếm từ 60-70% là thực hành Một mặt khác, yếu về
lý thuyết thì dễ bồi dưỡng hơn còn yếu về kỹ năng thực hành thì khó bồi dưỡng hơn
và tốn thời gian hơn nhiều
Việc tuyển chọn phải bảo đảm các nguyên tắc: chính xác, công bằng, công khai để chọn được những người thực sự có năng lực, đồng thời tránh được những tiêu cực xã hội
- Để tuyển chọn GV được chính xác, các nội dung kiểm tra để tuyển chọn cần được xác định rõ ràng và hợp lý theo yêu cầu từng ngành nghề và trình độ GVDN
- Để tuyển chọn GV được công bằng cần thành lập Hội đồng tuyển chọn và xây dựng, ban hành quy trình tuyển chọn hợp lý, rõ ràng Hội đồng cần có đại diện các khoa, bộ môn cần tuyển dụng người Quy trình tuyển chọn hợp lý để thực hiện tuyển chọn đúng quy trình, tránh tùy tiện trong tuyển chọn GV mới
- Để tuyển chọn GV được công khai, minh bạch, cần công bố trước cho những người dự tuyển về số lượng cần tuyển chọn, các tiêu chí và nội dung kiểm tra để tuyển chọn,
Trang 3324
Tuyển chọn bao gồm việc tuyển chọn, bồi dưỡng ban đầu và sắp xếp công việc nhằm mục đích chọn đúng người và bố trí công việc phù hợp với khả năng của họ Cần căn cứ và nhu cầu sử dụng đội ngũ giảng viên của từng ngành nghề, từng trường từng cơ sở đào tạo mà tuyển chọn dựa trên những tiêu chuẩn quy định của
bộ giáo dục và Đào tạo ban hành và những văn bản pháp luật của nhà nước Quá trình tuyển chọn bao gồm từ khâu ra văn bản thông báo (Các tiêu chuẩn số lượng
trình độ VV ) đến kết luận (ra quyết định)
- Sử dụng đúng trình độ, đúng sở trường và năng lực của từng GVDN trong nhà trường, điều đó sẽ phát huy được năng lực, sở trường của từng GVDN và gây được hứng thú cho họ để họ phát huy hết khả năng, năng lực trí tuệ, lòng nhiệt tình yêu nghề trong công việc giảng dạy của mình cho cômng việc đào tạo của trường Ngược lại, nếu sử dụng ĐNGV không phù hợp với trình độ, sở trường của GV điều
đó sẽ có tác dụng ngược lại làm hiệu quả giáo dục thấp, và sẽ nảy sinh những tiêu
cực, v.v
- Thường xuyên theo dõi, đánh giá và khen thưởng kịp thời, kỷ luật nghiêm minh
là những yếu tố không thể thiếu trong quá trình sử dụng đội ngũ GVDN của trường
1.6.3 Quản lý việc xây dựng đội ngũ GV đầu đàn
Đội ngũ GV đầu đàn có một vị trí quan trọng đối với công tác đào tạo và NCKH của trường Cán bộ đầu đàn để giữ các chức dạnh chủ nhiệm các bộ môn và làm chủ nhiệm các đề tài NCKH, cải tiến nội dung chương trình đào tạo cũng như biên soạn sách giáo khoa cho trường
Trong quá trình bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên, cần phải quan tâm xây dựng đội ngũ giáo viên đầu đàn cho từng nghề Đây là lực lượng chủ đạo sẽ tham gia tích cực trong mọi hoạt động tổ chức quản lý quá trình đào tạo trong Trường Trong điều kiện môi trường sư phạm có nhiều thay đổi, trong giai đoạn chuyển đổi hình thức dạy nghề, chính họ sẽ là lực lượng quan trọng để đi đầu trong việc xây dựng chương trình dạy nghề, xây dựng giáo trình, học liệu, ngân hàng đề thi, tham gia chuyển đổi phương pháp đào tạo, triển khai thực hiện chương trình dạy nghề mới, thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học…
Trang 3425
Trong phạm vi một tổ bộ môn, một Khoa, đội ngũ giáo viên này sẽ là nòng cốt để sưu tầm, cập nhật, ứng dụng những kiến thức khoa học,công nghề mới, duy trì tổ chức các buổi hội thảo, trao đổi, thống nhất những nội dung chuyên môn để đưa vào giảng dạy, tổ chức các hoạt động sư phạm trong bộ phận Bên cạnh đó họ
sẽ là hạt nhân quan trọng tham gia quá trình kèm cặp, giúp đỡ đồng nghiệp nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm thích ứng với môi trường làm việc mới
Quản lý việc xây dựng đội ngũ GV đầu đàn bao gồm các nội dung:
- Đánh giá và lựa chọn những GV có năng lực và phẩm chất tốt, có chí tiến thủ, có uy tín trong đơn vị để đào tạo thành GV đầu đàn
- Lập kế hoạch và gửi GV đi đào tạo NCS theo từng lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp mà trường đang đào tạo
1.6.4 Quản lý việc thực hiện chính sách đối với GV, đặc biệt là GV đầu đàn
* Chính sách về đào tạo và bồi dưỡng:
Hệ thống các cơ chế, chính sách về lĩnh vực đào tạo và bồi dưỡng là nhằm kích thích, thu hút người học tạo điều kiện hỗ trợ cho người học trong quá trình học tập nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ dưới các hình thức đào tạo hay quá trình bồi dưỡng, tự bồi dưỡng của người học, những chính sách nhằm thu hút, tạo điều kiện cho người học được quy định tại Nghị định 35/20011 NĐ-CP của chính phủ, nhờ vậy mà đã nâng cao rõ rệt về chất lượng đào tạo và bồi dưỡng, chính sách đào lạo và bồi dưỡng giáo viên đã được cụ thể hoá trong chương trình mục tiêu quốc gia với các mục tiêu đặt ra là: Bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên theo chu
kỳ 5 năm /chu kỳ, đa dạng hoá loại hình đào tạo và bồi dưỡng, thực hiện liên kết trong quá trình bồi dưỡng giáo viên (trên kết giữa các nhà trường, liên kết giữa các trường với địa phương, liên kết giữa các địa phương ), hiện nay bộ giáo dục và đào tạo đã có kế hoạch trình chính phủ về chương trình , kế hoạch đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo với các cơ chế, chính sách thông thoáng nhằm thực hiện tốt chương trình của đề án xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục 2005-2010
Trang 3526
Tuy vậy, để công tác đào tạo, bồi dưỡng có hiệu quả cần phải làm tốt công tác quản lý về các chính sách như Triển khai thực hiện các chính sách mở, phù hợp và tạo điều kiện phát triển cho GV sau khi được đào tạo và bồi dưỡng, thực hiện chính sách miễn học phí cho các trường sư phạm các chính sách về đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo để nâng cao chất lượng, chính sách khuyến khích GV nghiên cứu khoa học…
* Chính sá ch về sử dụng và đãi ngộ
Hiện nay các định mức về giảng viên/ lớp, số tiết giảng/ tuần, giờ giảng chuẩn/ năm cán bộ giảng dạy Đại học, Cao đẳng vv đang được thực hiện theo các quy định tại một loạt các văn bản được ban hành trong những năm 70 và hiện nay đang
dự thảo bổ xung và sửa đổi mới
Các văn bản pháp quy này đã tạo ra một hệ thống quy định chung về tổ chức biên chế, chế độ làm việc của GV ở tất cả các cấp học thống nhất chung trong cả nước Vì vậy việc quản lý ở các cơ sở đào tạo, các trường đều dựa trên các văn bản
về chính sách của nhà nước, nhờ đó mà các trường thực hiện đồng bộ và thống nhất
và căn cứ vào các văn bản quy định này mà các trường xây dựng kế hoạch về nhân lực, sử dụng hợp lý và hiệu quả đội ngũ đảng viên trong quá trình đào tạo
Tuy nhiên trên thực tế trong nhiều năm vừa qua do sự biến động và chuyển đổi của nền kinh tế - thị trường, vì vậy mà giáo dục cũng có sự tác động, ảnh hưởng nhiều nhiều trường đã có sự vận dụng khác nhau về những quy định (tiêu chuẩn giờ giảng: cách bố trí sắp xếp giảng viên trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học, học tập nâng cao trình độ ), vì vậy ở một số trường GV quá căng không còn thời gian để nghiên cứu khoa học, đặc biệt là học tập nâng cao trình độ, do vậy cũng đã ảnh
hưởng đến chất lượng đào tạo
Việc quản lý tốt những chính sách đãi ngộ về tiền lương, phụ cấp sẽ có tác dụng rất lớn đến chất lượng đội ngũ nhà giáo, trong những năm gần đây Chính phủ
đã quan tâm ban hành những chính sách tạo thuận lợi cho nhà giáo như việc chuyển xếp lương mới theo Nghị định 251 CP ngày 25/5/1993 của chính phủ đã có ưu tiên với ngành giáo dục và đào tạo, và một loạt các chính sách khác về nhà giáo như:
Trang 3627
Phụ cấp ưu đãi đứng lớp, phụ cấp nơi khó khăn theo hướng tăng hơn trước, phụ cấp luân chuyển vùng những chính sách này đều nhằm thúc đẩy và phát triển về chất lượng đội ngũ nhà giáo làm cho GV yên tâm công tác, tập chung về chuyên môn, hoàn thành nhiệm vụ của mình góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nói chung, đặc biệt là nhằm thực hiện các chương trình giáo dục của chính phủ
Đối với đội ngũ giảng viên đầu đàn, với vai trò và vị trí quan trọng trong công tác đảm bảo chất lượng đào tạo trong nhà trường ngoài việc quản lý tốt những chính sách đãi ngộ về tiền lương, phụ cấp cần phải có các ưu đãi khác Đối với những giảng viên có thành tích cao trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa hoạc cần quan tâm đến việc đề xuất các cấp ngành kịp thời vinh danh, khen thưởng và trao tặng các danh hiệu như: Giáo viên dạy giỏi, nhà giáo ưu tú, nhà giáo nhân dân…
Trang 3728
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
GV có vị trí đặc biệt trong việc trong giáo dục và đào tạo GVDN hiện đại có những đặc điểm riêng và hoạt động rất đa dạng, họ vừa phải là một nhà sư phạm để thực hiện nhiệm vụ dạy học và giáo dục HS/SV, là một nhà kỹ thuật để dạy kỹ thuật chuyên môn, là một người CNKH lành nghề để dạy kỹ năng nghề cho SV đồng thời
là một nhà NCKH để nghiên cứu cải tiến nội dung chương trình đào tạo, cải tiến phương pháp dạy học, viết sách giáo khoa cũng như nghiên cứu về các lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp
GVDN hiện đại cần có đủ năng lực thực hiện đồng thời được các nhiệm vụ nêu trên
Để có được đội ngũ GVDN có năng lực phức hợp như trên trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chúng ta đang bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT, cần đổi mới quản lý đội ngũ GVDN từ quản lý theo kiểu hành chính
sự vụ sang quản lý chất lượng đội ngũ GVDN
Quản lý chất lượng đội ngũ GVDN cần quản lý các mặt: Quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ GV hiện có; Quản lý việc tuyển chọn và sử dụng GVDN mới, Quản lý việc xây dựng đội ngũ GV đầu đàn và Quản lý việc thực hiện
chính sách đối với GV, đặc biệt là GV đầu đàn
Trang 3829
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN DẠY NGHỀ Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
VIỆT ĐỨC - VĨNH PHÚC
2.1 Khái quát về Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh Phúc
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của trường
Trường Cao đẳng nghề Việt - Đức tỉnh Vĩnh Phúc tiền thân là trung tâm đào tạo kỹ thuật nghiệp vụ ngành xây dựng được thành lập tháng 11/1998, trực thuộc Sở Xây dựng Vĩnh Phúc
Ngày 04/5/2000, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ký Quyết định số 760/QĐ-UB về việc thành lập trường Đào tạo nghề Vĩnh Phúc trên cơ sở nâng cấp Trung tâm đào tạo kỹ thuật nghiệp vụ ngành xây dựng và chuyển giao quyền quản lý nhà nước từ ngành Xây dựng sang ngành Lao động TB&XH
Thực hiện Luật dạy nghề ban hành ngày 29/11/2006, nhà trường đã nâng cấp
và đổi thành trường Trung cấp nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc tại Quyết định số 498/QĐ-UBND ngày 12/02/2007 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc
Ngày 03/7/2007 Nhà trường được nâng cấp thành trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc tại Quyết định số 922/QĐ-BLĐTBXH ngày 03/7/2007 của
Bộ Lao động TB&XH
Tháng 7 năm 2009, Nhà trường được Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xếp hạng
I trường cao đẳng nghề theo Quyết định số 2095/QĐ-CT ngày 07 tháng 7 năm 2009
Năm 2010, Trường hoàn thành công tác tự kiểm định chất lượng dạy nghề
và được Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cấp Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng dạy nghề cấp độ 3 ngày 10/3/2011, số đăng ký 02/2010
Tuy mới thành lập còn nhiều khó khăn, song nhờ khai thác tốt những lợi thế, trường đã nhanh chóng trở thành địa chỉ có uy tín trong công tác đào tạo nguồn lao động kỹ thuật có chất lượng cho tỉnh
Trang 3930
Sơ đồ 2.1: Quá trình hình thành và phát triển của trường
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của nhà trường
2.1.2.1.Chức năng của nhà trường
Tổ chức đào tạo bồi dưỡng công nhân kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất và nhân viên dịch vụ ở trình độ Cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tạo điều kiện cho họ có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động
2.1.2.2 Nhiệm vụ của nhà trường
- Đào tạo nhân lực có trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề
- Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý kỹ thuật chuyên ngành, công nhân
kỹ thuật bậc cao đạt tiêu chuẩn quy định của nhà nước và yêu cầu của doanh nghiệp
- Tổ chức xây dựng, duyệt và thực hiện các chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề đối với ngành nghề được phép đào tạo
Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh Phúc
Trang 4031
- Xây dựng kế hoạch tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh học nghề
- Tổ chức các hoạt động dạy và học; thi, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp, cấp bằng, chứng chỉ nghề theo quy định của Bộ LĐ-TB&XH
- Tuyển dụng, quản lý đội ngũ GV, cán bộ, nhân viên của trường đủ về số lượng; phù hợp với ngành nghề, quy mô, trình độ đào tạo theo quy định của pháp luật
- Tổ chức nghiên cứu khoa học; ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ; thực hiện sản xuất, kinh doanh và dịch vụ khoa học, kỹ thuật theo quy định của pháp luật
- Tư vấn học nghề, tư vấn việc làm miễn phí cho người học nghề
- Tổ chức cho người học nghề tham quan, thực tập tại doanh nghiệp
- Phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, gia đình người học nghề trong hoạt động dạy nghề
- Tổ chức cho GV, CB, nhân viên và người học nghề tham gia các hoạt động XH
- Đưa nội dung giảng dạy về ngôn ngữ, phong tục tập quán, pháp luật có liên quan của nước mà người lao động đến làm việc và pháp luật có liên quan của Việt Nam vào chương trình dạy nghề khi tổ chức dạy nghề cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Bộ LĐ-TB&XH
- Liên kết đào tạo với các trường Đại học
2.1.2.3 Cơ cấu tổ chức của nhà trường
Tổ chức bộ máy của Nhà trường bao gồm:
+ Phòng Công tác Học sinh, sinh viên;
+ Phòng N/C KH & Hợp tác quốc tế;
+ Phòng Thanh tra, khảo thí, KĐCL