BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG VŨ HOÀI CHUNG ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ CHO ĂN THỨC ĂN SỐNG VÀ MẬT ĐỘ ƯƠNG NUÔI LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ HỒNG MỸ Sciaenops ocell
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VŨ HOÀI CHUNG
ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ CHO ĂN THỨC ĂN SỐNG VÀ MẬT ĐỘ ƯƠNG NUÔI LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG
CỦA CÁ HỒNG MỸ (Sciaenops ocellatus Linnaeus, 1766)
GIAI ĐOẠN CÁ BỘT LÊN CÁ GIỐNG TẠI KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VŨ HOÀI CHUNG
ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ CHO ĂN THỨC ĂN SỐNG VÀ MẬT ĐỘ ƯƠNG NUÔI LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG
CỦA CÁ HỒNG MỸ (Sciaenops ocellatus Linnaeus, 1766)
GIAI ĐOẠN CÁ BỘT LÊN CÁ GIỐNG TẠI KHÁNH HÒA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
trong luận văn này là thành quả nghiên cứu của Đề tài cấp tỉnh “Chuyển giao công nghệ sản
xuất giống nhân tạo cá hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus) tại Khánh Hòa” Tôi là thành viên
tham gia với tƣ cách làm luận văn cao học, nằm trong kế hoạch hoạt động đào tạo của đề tài Tôi đƣợc sự đồng ý của ông Chủ nhiệm đề tài (TS Ngô Văn Mạnh) cho phép sử dụng tất cả các số liệu nghiên cứu đƣợc cho luận văn cao học của mình
Tôi xin cam đoan các kết quả, số liệu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Nha Trang, ngày 14 tháng 10 năm 2016
Sinh viên thực hiện
VŨ HOÀI CHUNG
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Viện Nuôi trồng Thủy sản và quý thầy, cô trong Viện Nuôi trồng Thủy sản đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập, nghiên cứu và hướng dẫn giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn tới giáo viên hướng dẫn PGS.TS Lại Văn Hùng,
TS Ngô Văn Mạnh, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thành viên của Trại thực nghiệm hải sản Đường
Đệ, Ba Làng, Nha Trang, Khánh Hòa (KS Nguyễn Văn Quân, KS Nguyễn Văn Vinh,
KS Trần Ngọc Thắng…) đã tạo điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên
và giúp đỡ cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Nha Trang, ngày 14 tháng 10 năm 2016
Học viên thực hiện
VŨ HOÀI CHUNG
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIÊT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Đặc điểm sinh học của cá hồng Mỹ 3
1.1.1 Phân loại và phân bố 3
1.1.2 Dinh dưỡng và sinh trưởng 3
1.1.3 Một số đặc điểm sinh học sinh sản 3
1.2 Tình hình nuôi cá biển trên thế giới và Việt Nam 4
1.2.1 Tình hình nuôi và sản xuất giống cá biển trên thế giới 4
1.2.2 Tình hình sản xuất giống và nuôi cá biển tại Việt Nam 6
1.2.3 Tình hình nghiên cứu cá hồng Mỹ trên thế giới 7
1.2.4 Tình hình nghiên cứu cá hồng Mỹ tại Việt Nam 8
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỷ lệ sống trong ương giống cá biển 9
1.3.1 Ảnh hưởng mật độ ương 9
1.3.2 Ảnh hưởng của thức ăn và chế độ cho ăn 11
1.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng HUFA trong thức ăn đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và chất lượng giống cá biển 11
1.5 Sản phẩm làm giàu và kỹ thuật làm giàu 13
1.5.1 Sản phẩm làm giàu 13
1.5.2 Kỹ thuật làm giàu 13
1.5.2.1 Làm giàu trong thời gian dài (phương pháp gián tiếp) 13
1.5.2.2 Làm giàu trong thời gian ngắn (phương pháp trực tiếp) 13
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 14
Trang 62.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 14
2.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 15
2.3.1 Nguồn cá bột và cá giống làm thí nghiệm 15
2.3.2 Phương pháp thực hiện nội dung nghiên cứu 15
2.3.2.1 Ảnh hưởng của chế độ cho ăn lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ từ giai đoạn cá bột mới nở đến giai đoạn giống 15
2.3.2.2 Ảnh hưởng của nồng độ DHA Protein Selcolàm giàu lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và khả năng chịu sốc của cá bột cá hồng Mỹ 16
2.3.2.3 Ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ từ giai đoạn cá bột mới nở lên cá giống 17
2.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh trưởng, tỷ lệ sống, phân đàn và hệ số FCR 17
2.4.1 Công thức tính các chỉ tiêu 18
2.4.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 18
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
3.1 Ảnh hưởng của chế độ cho ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ từ giai đoạn cá bột mới nở đến cá giống 20
3.1.1 Ảnh hưởng của số lần cho ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá bột đến cá hương 20
3.1.1.1 Ảnh hưởng của số lần cho ăn lên sinh trưởng và hệ số phân đàn của cá bột đến cá hương 20
3.1.2 Ảnh hưởng của số lần cho ăn lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá hương lên cá giống 21
3.1.2.1 Ảnh hưởng của số lần cho ăn lên sinh trưởng và hệ số phân đàn của cá hương lên cá giống 21
3.1.2.2 Ảnh hưởng của số lần cho ăn lên tỷ lệ sống, sinh khối thu và hệ số thức ăn của cá hương lên cá giống 23
3.2 Ảnh hưởng của nồng độ DHA Protein Selco giàu thức ăn sống lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá bột cá hồng Mỹ lên cá hương 24
3.2.1 Ảnh hưởng của nồng độ DHA Protein Selco làm giàu thức ăn sống lên sinh trưởng và hệ số phân đàn của cá bột lên cá hương 24
3.2.2 Ảnh hưởng của nồng độ DHA Protein Selco làm giàu thức ăn sống lên tỷ lệ sống và sinh khối thu của cá bột lên cá hương 25
Trang 73.2.3 Ảnh hưởng của nồng độ DHA Protein Selco làm giàu thức ăn sống lên tỷ lệ
dị hình, khả năng chịu sốc cơ học, độ mặn và nhiệt độ của cá bột 26
3.3 Ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ giai đoạn cá bột mới nở đến cá giống 28
3.3.1 Ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá bột đến cá hương 28
3.3.1.1 Ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng và hệ số phân đàn của cá bột lên cá hương 28
3.1.1.2 Ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh khối, tỷ lệ sống của cá bột lên cá hương 30
3.3.2 Ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá hương lên cá giống 31
3.3.2.1 Ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng và hệ số phân đàn của cá hương lên cá giống 31
3.3.2.2 Ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh khối, tỷ lệ sống và hệ số thức ăn (FCR) 33
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 35
1 KẾT LUẬN 35
2 ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIÊT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Sinh trưởng và hệ số phân đàn của cá bột cá hồng Mỹ khi cho ăn số lần cho
ăn khác nhau 20 Bảng 3.2 Sinh trưởng và hệ số phân đàn của cá hương lên cá giống khi cho ăn số lần
khác nhau 22 Bảng 3.3 Tỷ lệ sống, sinh khối thu và hệ số thức ăn của cá hương lên cá gống khi cho
ăn số lần khác nhau sau 4 tuần thí nghiệm 23 Bảng 3.4 Sinh trưởng và hệ số phân đàn của cá bột cá hồng Mỹ ở các nồng độ DHA
Protein Selco khác nhau 24 Bảng 3.5 Sinh trưởng và hệ số phân đàn của cá bột cá hồng Mỹ ương với các mật độ
khác nhau 29 Bảng 3.6 Sinh trưởng và hệ số phân đàn của cá hương lên cá giống ở các mật độ khác
nhau sau 4 tuần ương nuôi 32 Bảng 3.7 Tỷ lệ sống, sinh khối cá thu và hệ số thức ăn (FCR) của cá hương lên cá
giống ương ở các mật độ khác nhau sau 4 tuần 33
Trang 10Hình 3.2 Sinh trưởng về chiều dài và khối lượng của cá giống ở các lần cho ăn khác
nhau trong 4 tuần thí nghiệm 22 Hình 3.3 Ảnh hưởng của nồng độ DHA Protein Selco làm giàu thức ăn sống lên tỷ lệ
sống và sinh khối thu của cá bột cá hồng Mỹ (Các chữ cái khác nhau đi kèm mỗi cột của đồ thị thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ( p < 0,05)) 25
Hình 3.4 Số cá chết quan sát hàng ngày trong quá trình ương cá bột cá hồng Mỹ với
nồng độ làm giàu thức ăn sống bằng DHA Protein Selco khác nhau 26 Hình 3.5 Quan sát khả năng chịu sốc độ mặn của cá hồng Mỹ 27 Hình 3.6 Quan sát khả năng chịu sốc nhiệt độ của cá hồng Mỹ 28 Hình 3.7 Ảnh hưởng của mật độ ương lên tỷ lệ sống và sinh khối của cá bột cá hồng
Mỹ (Các chữ cái khác nhau đi kèm mỗi cột của đồ thị thể hiện sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê ( p < 0,05)) 30 Hình 3.8 Tỷ lệ chết tự nhiên của cá bột cá hồng Mỹ quan sát được khi ương với mật
độ khác nhau 30 Hình 3.9 Sinh trưởng về chiều dài và khối lượng của cá hương lên cá giống ở các mật
độ ương khác nhau trong 4 tuần thí nghiệm 32
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
I THÔNG TIN CHUNG
Tên luận văn: ““Ảnh hưởng của chế độ cho ăn thức ăn sống và mật độ ương
nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus Linnaeus, 1766) giai đoạn cá bột lên cá giống tại Khánh Hòa”
Thời gian bảo vệ:
II NỘI DUNG
Cá hồng Mỹ là một nhóm cá biển gồm nhiều loài có giá trị kinh tế cao, thịt thơm ngon và được nhiều người ưa chuộng Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá hồng Mỹ đã được thực hiện nhưng sản lượng con giống tạo ra chưa nhiều, chưa đáp ứng được yêu cầu của người nuôi Trong sản xuất giống cá biển nói chung và cá hồng Mỹ nói riêng, việc nâng cao tỷ lệ sống, sinh trưởng và chất lượng con giống có vai trò rất quan trọng Nhiều nghiên cứu trên các loài cá biển khác chỉ ra rằng, chế độ cho ăn, mật độ ương và
bổ sung dinh dưỡng cho cá bột cá có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và
chất lượng của cá giống Chính vì vậy, đề tài “Ảnh hưởng của chế độ cho ăn thức ăn
sống và mật độ ương nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus Linnaeus, 1766) giai đoạn cá bột lên cá giống tại Khánh Hòa” đã được
thực hiện, nhằm góp phần vào việc nghiên cứu xác định chế độ cho ăn, làm giàu thức
ăn sống và mật độ ương từ giai đoạn cá bột đến giai đoạn giống của cá hồng Mỹ là rất cần thiết để hoàn thiện kỹ thuật sản xuất giống loài cá này
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 12/2015 – tháng 06/2016 trên đối tượng cá
hồng Mỹ Sciaenops ocellatus (Linnaeus, 1766) tại Nha Trang, Khánh Hòa Cá hồng
Mỹ thí nghiệm được sản xuất giống nhân tạo tại Trại thực nghiệm sản xuất giống cá biển Đường Đệ, Nha Trang, Khánh Hòa Trứng được ấp với mật độ 1.500 – 2.000 trứng/L trong bể composite thể tích 200L đặt trong nhà, độ mặn: 32 -33 ppt, nhiệt độ:
thể dị hình, dị tật, sau đó định lượng và bố trí thí nghiệm
Trang 12Cá hương để thí nghiệm 30 ngày tuổi, có kích thước trung bình 2,19±0,28cm/con, khối lượng trung bình 0,14 ± 0,02g/con Cá có kích cỡ đồng đều, không dị hình, dị tật màu sắc tự nhiên, không bị xây sát và khỏe mạnh, vận động linh hoạt
Nghiên cứu đã đạt được kết quả và phân tích cụ thể:
Chế độ cho ăn ảnh hưởng lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và hệ số thức ăn của cá hồng Mỹ; chế độ cho ăn phù hợp với giai đoạn ương cá bột lên cá hương là 1 - 2 lần/ngày, giai đoạn cá hương lên cá giống 3 lần/ngày
Cá hồng Mỹ ương từ giai cá bột mới nở lên cá hương cho ăn thức ăn sống làm giàu DHA Protein Selco với nồng độ 100 ppm trở lên góp phần cải thiện đáng kể sinh trưởng,
tỷ lệ sống, tăng khả năng chịu sốc độ mặn và nhiệt độ, giảm tỷ lệ chết tự nhiên ở cá con Mật độ ương ảnh hưởng lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và hệ số thức ăn của cá hồng Mỹ; mật độ ương phù hợp với giai đoạn ương cá bột lên cá hương là 40 con/L, giai đoạn cá hương lên cá giống là 3,5 con/L
Từ khóa: cá hồng Mỹ, Sciaenops ocellatus, chế độ cho ăn, làm giàu DHA protein
Selco
Nha Trang, ngày 14 tháng 10 năm 2016
HỌC VIÊN
VŨ HOÀI CHUNG
Trang 13MỞ ĐẦU
Cá hồng Mỹ Sciaenops ocellatus (Linnaeus, 1766) hay còn gọi là cá đù đỏ có tên
tiếng Anh là Red drum là loài cá rộng muối, rộng nhiệt, phân bố ở vịnh Mexico và vùng duyên hải Tây Nam nước Mỹ Cá hồng Mỹ sống thành đàn, phạm vi phân bố rộng, khi trưởng thành thường di cư đến vùng cửa sông và vùng biển nông để sinh sản Đây là đối tượng dễ nuôi, có kích thước lớn, tốc độ sinh trưởng nhanh, thịt cá thơm ngon giàu dinh dưỡng và đang được chú trọng phát triển tại nhiều nước [17] Sản lượng cá hồng Mỹ nuôi trên thế giới không ngừng tăng cao trong những năm gần đây, năm 2004 sản lượng đạt 40.000 tấn, năm 2006 là 52.000 tấn [27] và năm 2014 trên 71.000 tấn [30] Trong đó Trung Quốc, Mauritius, Mayotte, Israel và Mỹ là những nước có sản lượng nuôi lớn nhất, chiếm 94% tổng sản lượng cá hồng Mỹ nuôi [27]
Tại Việt Nam, cá hồng Mỹ được di nhập lần đầu tiên vào năm 1999 đến năm
2003, Trạm nghiên cứu Thủy sản nước lợ thuộc Viện nghiên cứu Hải sản đã sản xuất thành công và phần nào đáp ứng nhu cầu con giống cho nghề nuôi thương phẩm tại một số tỉnh phía Bắc như Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An nhưng sản lượng không đáng kể [17] Đến năm 2014, xuất phát từ nhu cầu đa dạng hóa đối tượng nuôi và tận dụng tiềm năng lợi thế về điều kiện khí hậu và diện tích mặt nước các tỉnh Nam Trung
Bộ và Nam Bộ Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu sản xuất giống cá hồng Mỹ của các tỉnh phía Bắc, nhóm nghiên cứu thuộc Viện Nuôi trồng thủy sản, Đại học Nha Trang thực hiện đề tài “Chuyển giao công nghệ sản xuất giống nhân tạo cá hồng Mỹ tại Khánh Hòa (2014-2016)” Kết quả bước đầu đã cho sinh sản thành công cá hồng
Mỹ Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới dừng ở mức sản xuất ra con giống và vẫn chưa đi sâu vào nghiên cứu những giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao tỷ lệ sống và chất lượng cá giống Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu các vấn đề này nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất giống cá hồng Mỹ là rất cần thiết
Trong sản xuất giống cá biển nói chung và cá hồng Mỹ nói riêng, việc nâng cao
tỷ lệ sống, sinh trưởng và chất lượng con giống có vai trò rất quan trọng Nhiều nghiên cứu trên các loài cá biển khác chỉ ra rằng, chế độ cho ăn [24], mật độ ương [37], bổ sung dinh dưỡng cho cá bột có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và chất lượng của cá giống [2] Chính vì vậy, việc xác định chế độ cho ăn, làm giàu thức ăn sống và mật độ ương từ giai đoạn cá bột đến giai đoạn giống của cá hồng Mỹ là rất cần
Trang 14Xuất phát từ thực tế trên, đề tài: “Ảnh hưởng của chế độ cho ăn thức ăn sống và
mật độ ương nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus
Linnaeus, 1766) giai đoạn cá bột lên cá giống tại Khánh Hòa” được thực hiện
Mục tiêu của đề tài: xác định ảnh hưởng của chế độ cho ăn, nồng độ DHA
Protein Selco làm giàu thức ăn sống và mật độ ương lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ từ giai đoạn cá bột đến cá giống
Nội dung nghiên cứu:
1 Ảnh hưởng của chế độ cho ăn lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ từ giai đoạn cá bột mới nở đến cá giống
2 Ảnh hưởng của nồng độ DHA Protein Selco làm giàu thức ăn sống lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá bột đến cá hương
3 Ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ từ giai đoạn cá bột mới nở đến cá giống
những thông tin khoa học về chế độ cho ăn, nồng độ DHA Protein Selco làm giàu thức
ăn sống và mật độ ương của cá hồng Mỹ từ giai đoạn cá bột mới nở đến giai đoạn giống từ đó làm cơ sở khoa học để phục vụ sản xuất giống cá hồng Mỹ, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng con giống cung cấp cho thị trường nuôi cá biển thương phẩm
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Đặc điểm sinh học của cá hồng Mỹ
1.1.1 Phân loại và phân bố
Cá hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus, Linnaeus, 1766), tên tiếng Anh là Red drum,
thuộc họ cá đù Sciaenidae, bộ cá vược Perciformes Cá phân bố nhiều ở vịnh Mexico
và Mỹ thuộc vùng biển Tây Đại Dương Sau đó được di nhập vào nuôi ở một số nước châu Á như Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam,… và nhanh chóng trở thành đối tượng nuôi quan trọng trong khu vực này Đây là loài rộng muối, có thể sống được ở độ mặn
tốc độ sinh trưởng nhanh, dễ nuôi, giá trị kinh tế cao nên đã trở thành đối tượng nuôi hấp dẫn ở nhiều nước thuộc châu Á – Thái Bình Dương [6]
1.1.2 Dinh dưỡng và sinh trưởng
Các loài trong họ cá đù đều là cá dữ, ăn đáy, thức ăn chủ yếu của chúng là các loài động vật không xương sống như thân mềm, giáp xác, giun nhiều tơ, kể cả cá nhỏ, Cá hồng Mỹ cũng như hầu hết các loài cá biển khác, trong giai đoạn nhỏ thức
ăn chủ yếu là động vật phù du như: luân trùng (Brachionus plicatilis), động vật chân
chèo nước mặn (Copepoda), cá lớn hơn ăn các loài tôm, cá nhỏ, Trong điều kiện
nuôi, thức ăn cho cá con là luân trùng, nauplius Artemia và Copepoda, người ta còn sử
dụng các loại thức ăn tổng hợp khi cá đạt cỡ 15 mm trở đi, giai đoạn nuôi thương phẩm cá cũng sử dụng tốt các loại thức ăn công nghiệp có hàm lượng protein từ 40 – 45% hoặc cá tạp [27]
Cá hồng Mỹ sinh trưởng nhanh, kích thước cơ thể lớn nhất bắt gặp ngoài tự nhiên
là 155 cm, nặng 45 kg Cá sinh trưởng chậm ở giai đoạn đầu và tăng nhanh sau khi đạt cỡ
50 g trở lên Cá con 1 ngày tuổi có chiều dài 2 mm, sau 35 ngày nuôi đạt cỡ 30 - 40 mm
Cỡ cá 6 – 8 g nuôi bằng thức ăn công nghiệp có hàm lượng protein 40% và lipid 10% sau
1 năm nuôi thâm canh trong ao đạt khối lượng từ 1,0 – 1,3 kg, năng suất 9 – 24 tấn/ha, tỷ
lệ sống 88,7 – 94,9%, hệ số FCR 2,15 – 2,60 Trong nuôi thương phẩm bằng lồng trên biển, cá sinh trưởng chậm hơn, sau 1 năm đạt 0,9 -1,2 kg [52, 27]
1.1.3 Một số đặc điểm sinh học sinh sản
Cá hồng Mỹ có thể sống ở cả nước ngọt, nước lợ và nước mặn khi thành thục thường đi đến những vùng nước có độ mặn cao và ổn định để sinh sản Mùa vụ sinh sản ngoài tự nhiên của cá hồng Mỹ ở vùng địa lý khác nhau là khác nhau Ví dụ, ở
Trang 16châu Á mùa vụ sinh sản từ tháng 1 đến tháng 4, trong khi tại Bắc Trung Mỹ là từ tháng
8 đến tháng 12 [40]
Cá hồng Mỹ thường thành thục ở tuổi 3+-5+ Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi nhốt có thể thành thục sớm hơn Gần đến giai đoạn thành thục, chúng thường không ăn hàng ngày mà chỉ ăn 3 lần/tuần Mỗi cá cái có thể thành thục hơn một lần/năm, cá biệt
ở một số trại cá giống ở Texas, Mỹ có những con có thể đẻ tới 7 lần trong thời gian 26 ngày Sức sinh sản của cá hồng Mỹ phụ thuộc lớn vào tuổi, kích thước cá bố mẹ, cũng như chế độ dinh dưỡng, thông thường mỗi lần đẻ của một cá cái có thể đẻ 0,5 triệu trứng/lần và đạt 1,0-3,0 triệu trứng/ năm Cá hồng Mỹ là loài đẻ trứng nổi, trứng sau khi đẻ sẽ nổi trong môi trường nước nhờ giọt dầu, đường kính trứng sau khi trương nước 0,9 – 1,0 mm [40, 14, 35]
Dựa trên các nghiên cứu về tập tính sinh sản của cá trong bể, nhiều tác giả cho biết cá đực và cá cái thành thục sẽ tách đàn và ngừng ăn một tuần trước khi đẻ Khi cá cái thành thục sinh dục nó sẽ gia tăng các hoạt động sinh dục với cá đực Cá đực và cá cái chín muồi sinh dục bơi lội thành cặp, thường xuyên ở tầng mặt khi sắp đẻ trứng Cá
đẻ nhiều đợt trong ngày Thời gian đẻ trứng vào lúc chiều tối từ 19 đến 23 giờ [14]
1.2 Tình hình nuôi cá biển trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình nuôi và sản xuất giống cá biển trên thế giới
Theo báo cáo của FAO (2016), tổng sản lượng thủy sản từ khai thác và nuôi trồng trên thế giới năm 2014 vào khoảng 167,2 triệu tấn, trong đó nuôi trồng thủy sản đóng góp 73,8 triệu tấn chiếm 44,1% tổng sản lượng, tăng 42,1 % so với năm 2012 và 31,1% so với năm 2004 và đạt 160,2 tỷ USD [30] Tính từ 2000 đến 2014, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm nuôi trồng thủy sản là 8,7% Trong đó, nuôi thủy sản mặn,
lợ tăng mạnh và được xem như một ngành công nghiệp thu lợi nhuận cao [30] Nuôi thủy sản biển đóng góp tới 30% sản lượng và 29,2% giá trị thủy sản nuôi; nuôi thủy sản nước lợ chiếm 7,9% sản lượng và 12,8% giá trị chủ yếu là nhóm giáp xác và cá biển có giá trị kinh tế cao [28]
Sản lượng cá nước mặn, nước lợ nuôi năm 2012 là 5.552.000 tấn, chỉ chiếm 12,6% tổng sản lượng động vật thủy sản mặn, lợ nhưng về giá trị chiếm 26,9% tương đương 23,5 tỷ USD Đối tượng nuôi chính là cá hồi Đại Tây Dương, cá tráp, cá chẽm châu Âu, cá cam, cá đù, cá măng, cá mú, cá chẽm, cá hồng, cá đối, cá bơn, cá giò, cá chim, cá tuyết, cá ngừ Các nước có sản lượng nuôi lớn như: Trung Quốc, Nauy, Chi
Trang 17Lê, Nhật Bản, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Đài Loan, Philippine, Indonesia, Việt Nam, Australia…[36, 38, 34, 53, 31, 29]
Sản lượng cá biển ở châu Á-Thái Bình Dương năm 2014 đạt 6.306.631 tấn, trong đó nước có sản lượng cá biển lớn nhất là Trung Quốc với 1.189.700 tấn, chiếm gần 19% sản lượng cá biển của thế giới [30] Kỹ thuật sản xuất giống cá biển nhân tạo
ở Trung Quốc bắt đầu từ những năm 1950 đến năm 1980 đã cho sinh sản nhân tạo thành công 54 loài thuộc 24 họ cá biển với số lượng lớn đáp ứng cho nhu cầu nuôi thương phẩm Số lượng sản xuất hàng năm khoảng 10 tỷ con giống cá biển các loại và
tập trung chủ yếu vào các loài có giá trị kinh tế như cá mú (Epinephelus spp.,), cá hồng (Lutjanus spp.,), cá nóc (Takifugu xanthopterus), cá đù vàng (Pseudosciaena crocea), cá vược Nhật (Lateolabrax japonicus), cá bơn Nhật (Paralichthys olivaceus)
cá đù đỏ (Sciaenops ocellatus), cá tráp đỏ (Pagrus major), cá chẽm (Lates calcarifer),
cá đối (Mugil cephalus), cá măng (Chanos chanos) [49]
Nghề nuôi trồng thuỷ sản ở Đài Loan xuất hiện cách đây trên 300 năm Mặc dù sản lượng cá biển nuôi không lớn, tuy nhiên nền công nghiệp sản xuất giống cá biển
cá biển sản xuất nhân tạo không những cung cấp đủ cho nhu cầu nuôi trong nước mà còn xuất khẩu sang các nước khác Tính đến năm 1998, có khoảng 64 loài cá biển được nuôi ở Đài Loan, trong đó 90% số loài đã được sản xuất giống nhân tạo thành công với số lượng giống sản xuất hàng năm trên 600 triệu con Trong đó, đối tượng chính là cá mú, cá hồng, cá đù đỏ, cá tráp, cá chẽm, cá giò và cá măng biển [39]
Nhật Bản cũng là nước có công nghệ sản xuất giống cá biển hiện đại, trình độ cao và đứng hàng thứ 2 với 256.000 tấn sản lượng/năm, nhưng lại đứng đầu về giá trị với hơn 2 tỷ USD, với đối tượng nuôi chủ yếu là các loài có giá trị kinh tế cao Nhật Bản hiện đang chiếm 22% tổng sản lượng cung cấp của toàn khu vực nhưng giá trị sản lượng cá biển của Nhật Bản chiếm đến gần 50% Trong đó, chiếm ưu thế là cá cam
(Seriola quinqueradiata), cá tráp đỏ (Chrysophrys major) Sản lượng cá biển nuôi ở
Nhật Bản tăng từ 150.068 tấn năm 2004 lên 159.741 tấn năm 2005, và giá trị tương ứng tăng từ 1,276 tỷ USD lên 1,359 tỷ USD [27]
Nhóm cá nước lạnh như cá hồi, cá tráp, cá chẽm châu Âu, cá bơn, cá tuyết,…được nuôi nhiều ở các nước châu Âu và châu Mỹ như Na Uy, Chi Lê, Canada,…trong đó cá hồi Đại Tây Dương chiếm sản lượng chủ yếu Đối với nhóm cá
Trang 18này thường được nuôi với quy mô lớn, nguồn giống được sản xuất nhân tạo, sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp, công nghệ nuôi hiện đại nên năng suất rất cao
1.2.2 Tình hình sản xuất giống và nuôi cá biển tại Việt Nam
Việc phát triển kinh tế biển, đảo gắn với đảm bảo quốc phòng an ninh đã và đang là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong những năm vừa qua, trong
đó nuôi trồng thủy sản biển là một trong những nội dung quan trọng được đề cập tới Nước ta với những ưu đãi về điều kiện tự nhiên và khí hậu, nguồn lao động dồi dào; cùng với thành công của nhiều công trình nghiên cứu sản xuất giống và nuôi thương phẩm các loài cá biển có giá trị kinh tế Với những lợi thế trên, Việt Nam đặt chỉ tiêu phấn đấu cho năm 2020 đạt 260.000 tấn cá nước lợ, mặn, nhu cầu con giống cá biển
các loại đến năm 2020 là 150 triệu con ( nguồn: Tổng cục thủy sản năm 2011)
Nghề nuôi cá biển ở Việt Nam được bắt đầu vào những năm 1990, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Khánh Hòa, Kiên Giang,… với các hình thức nuôi lồng bè quy mô nhỏ và ao đất Tập trung nuôi những đối tượng có giá trị kinh tế như cá mú, cá chẽm, cá giò,… Hiện đã có một số doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư nuôi với quy mô công nghiệp bằng lồng nổi cỡ lớn có thể tích hàng ngàn mét khối (kiểu lồng Na Uy), có thể chịu được sóng gió cấp 9, cấp 10 Với công nghệ nuôi này đã mở ra hướng mới cho việc phát triển nuôi cá lồng trên biển với quy mô lớn ở nước ta [1] Bên cạnh đó có sự đóng góp rất lớn của các công trình nghiên cứu thành công về sản xuất giống và nuôi thương phẩm một số loài cá biển như: cá chẽm [16, 4, 14], cá giò, cá mú [7, 15], cá chẽm mõm nhọn [11, 13], cá chim vây vàng [3, 5] Hiện nay các trại sản xuất giống cá biển tập trung chủ yếu ở Khánh Hòa, Bà Rịa-Vũng Tàu, và một số ít ở các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ An, Quảng Bình, Ninh Thuận,… Theo ước tính sản lượng giống cá biển sản xuất ra hàng năm khoảng 60-70 triệu con, trong đó chủ yếu là cá chẽm Tuy nhiên, số lượng cá giống này chỉ có thể đáp ứng 60-70% nhu cầu nuôi, còn lại phải nhập từ các nước Trung Quốc, Đài Loan và Indonesia Khánh Hòa là tỉnh sản xuất giống và nuôi cá biển hàng đầu cả nước, theo thống kê của Chi cục NTTS Khánh Hòa, năm 2012 sản xuất được 24 triệu con giống, năm 2013 là 23,8 triệu con giống, trong đó cá chẽm chiếm khoảng 22 triệu, cá giò 0,4 triệu con, cá chim 1,1 triệu, còn lại là một số loài khác như cá mú, cá hồng, cá bè,… Đến năm 2014, chỉ sản xuất được
11 triệu con giống, nguyên nhân là do nhu cầu nuôi cá chẽm giảm nên nhiều trại chuyển
sang sản xuất giống cá giò dẫn đến số lượng con giống giảm mạnh (nguồn: Chi cục NTTS Khánh Hòa năm 2012, 2013, 2014)
Trang 19Những dẫn liệu trên cho thấy nghiên cứu và nuôi cá biển ở nước ta đang được chú trọng, đầu tư và phát triển Nhất là nghiên cứu hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo các loài cá biển có giá trị kinh tế, được ứng dụng vào sản xuất trên quy mô lớn, để có thể đáp ứng được nhu cầu con giống cho người nuôi và mở ra một triển vọng lớn cho nghề nuôi cá biển ở nước ta
1.2.3 Tình hình nghiên cứu cá hồng Mỹ trên thế giới
Cá hồng Mỹ là loài nuôi phổ biến ở khu vực Bắc Trung Mỹ, cá được sản xuất giống lần đầu tiên tại Mỹ năm 1978, đến năm 1985 được di nhập vào Martinique Cá
bố mẹ được bắt ngoài tự nhiên có khối lượng từ 5 – 7 kg, đưa vào nuôi vỗ trong bể cho
ăn bằng cá tươi, khi cá thành thục sinh dục tiêm hormone kích thích sinh sản, bình quân một cá cái sinh sản từ 500.000 – 3.500.000 trứng/lần đẻ Cá bột sau khi nở được đưa vào ương theo hình thức thâm canh trong các bể đặt trong nhà theo mô hình nước trong hay nước xanh hoặc ương quảng canh trong ao ngoài trời Cá bột được ương với
mật độ ương từ 15 – 30 con/L, thức ăn là vi tảo, luân trùng, nauplius Artemia làm giàu
DHA và EPA, tỷ lệ sống lên cá giống dao động từ 5- 17% [54]
Tại châu Á, cá hồng Mỹ được di nhập vào Đài Loan vào năm 1987 và cho sinh sản tự nhiên thành công vào năm 1991 Cá bột được nuôi trong bể với mật độ 20 – 50
con là vi tảo, luân trùng, nauplius Artemia, Copepoda, sau 30 – 40 ngày ương cá đạt cỡ
3 – 4 cm, tỷ lệ sống từ 5 – 30%, sau đó cá được chuyển ra ương trong ao đất lên cỡ 6 –
8 cm trước khi đưa ra nuôi thương phẩm Đến nay kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo đã hoàn thiện, hàng năm sản xuất được trên 30 triệu con giống, giá cá giống từ 0,1 – 0,2 USD [62, 43] Trong khi đó Trung Quốc sản xuất thành công vào năm 1996, mỗi năm sản xuất được hàng trăm triệu con giống phục vụ cho nhu cầu nuôi trong nước và xuất khẩu sang các nước khác trong khu vực Đông Nam Á [39]
Ở Mỹ, cá hồng Mỹ được phát triển nuôi thương phẩm trong các ao nước lợ từ cuối những năm 1980 đến đầu năm 1990 Nghiên cứu của Tucker và CTV (1997) cho thấy, cá dưới 1 g, cho ăn thức ăn dạng viên có hàm lượng protein từ 35 – 51%, khẩu phần ăn 3,7 – 6,5 % khối lượng thân, cá sinh trưởng nhanh khi cho ăn thức ăn cá hàm lượng protein cao, hệ số FCR từ 1,05 – 1,60; với cá kích thước lớn từ 1 – 34 g, cho ăn thức ăn có protein từ 35 – 45%, tỷ lệ sống từ 98 – 100%, hệ số FCR từ 1,2 – 2,7 Trong khi đó cá có khối lượng 60 g nuôi bằng thức ăn công nghiệp, sau thời gian nuôi
Trang 2011 tháng cá đạt 1.570 g, hệ số FCR từ 1,11 – 1,53, tỷ lệ sống trên 95% [58] Sandifer
và CTV (1993) thử nghiệm nuôi thâm canh cá hồng Mỹ trong ao nước lợ tại Carolina (miền Nam nước Mỹ) cho thấy, cá có khối lượng 6 – 8 g/con, nuôi trong ao đất có quạt
năm nuôi cá đạt cỡ thương phẩm từ 1.000 – 1.300 g/con, tỷ lệ sống từ 88,7 – 94,9%, năng suất 8.997 – 24.082 kg/ha, hệ số FCR từ 2,15 – 2,6 [52]
Nuôi lồng cá hồng Mỹ lại được áp dụng phổ biển tại châu Á Ở Trung Quốc cá
đạt cỡ 80 – 100 g chuyển sang nuôi trong lồng lớn, mật độ nuôi khoảng 20 - 40
ăn, sau 10 – 11 tháng nuôi cá đạt cỡ 800 – 1.000 g thì thu hoạch, tỷ lệ sống trên 75%,
hệ số FCR từ 1,81 – 2,52 [30]
1.2.4 Tình hình nghiên cứu cá hồng Mỹ tại Việt Nam
Cá hồng Mỹ mặc dù không phân bố tự nhiên tại Việt Nam, tuy nhiên do giá trị kinh tế cao, sinh trưởng nhanh, sử dụng được thức ăn công nghiệp và có thể nuôi được
ở các loại hình nước mặn, lợ và ngọt, phù hợp với nhiều người nuôi Với những ưu điểm trên, năm 2003, Viện nghiên cứu Nuôi Trồng Thủy Sản I thực hiện đề tài “Xây dựng quy trình sinh sản nhân tạo cá hồng Mỹ” đã sản xuất giống thành công, đáp ứng được phần nào nhu cầu con giống phục vụ nuôi nội địa Các chỉ tiêu đạt được từ kết quả thực hiện đề tài như sau: cá bố mẹ thành thục và đẻ trứng vào tháng 9 và tháng 10,
tỷ lệ thành thục của cá bố mẹ từ 20 – 93%, tỷ lệ thụ tinh từ 33 – 93%, tỷ lệ nở từ 21 –
mật độ ương cá bột từ 40 – 50 con/L, thức ăn là vi tảo, luân trùng, copepod và Artemia, sau 30 ngày ương cá đạt cỡ 2 – 3 cm, tỷ lệ sống của cá hương từ 10,9 – 14,2%, cá giống đạt tỷ lệ sống 75%
Mặc dù cá hồng Mỹ được coi là một trong những đối tượng nuôi có giá trị kinh
tế cao đang được thị trường rất ưa chuộng, song loài cá này lại mới chỉ được phát triển nuôi ở các tỉnh phía Bắc Trong khi đó, các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Bộ, nơi có tiềm năng to lớn để có thể phát triển nuôi đối tượng này lại chưa được người nuôi quan tâm Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó, năm 2014 nhóm nghiên cứu thuộc Viện Nuôi trồng Thủy sản - Trường Đại học Nha Trang đã sản xuất thành công giống cá hồng Mỹ với kết quả đạt được như sau: tỷ lệ sống của cá bố mẹ, tỷ lệ trứng thụ tinh và ấp nở đạt
Trang 21trên 80%, tỷ lệ sống của cá hương từ 10,3-16,9%, tỷ lệ sống của cá giống đạt từ 81,8% Tổng số lượng cá hương đã sản xuất được 334.000 con và 203.000 cá giống cỡ 6-7 cm Bên cạnh đó, đề tài cũng chuyển giao kỹ thuật sản xuất giống thành công cho một số cơ sở sản xuất giống cá biển tại địa phương, góp phần phát triển nuôi loài cá này ở các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Bộ Tuy nhiên, đề tài mới dừng ở mức sản xuất
63,6-ra con giống và vẫn chưa đi sâu vào nghiên cứu những giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao tỷ lệ sống và chất lượng cá giống Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu về chế độ cho
ăn, nồng độ làm giàu thức ăn sống và mật độ ương nuôi thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất giống cá hồng Mỹ là rất cần thiết
Với việc sản xuất giống cá hồng Mỹ thành công đã góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi, giúp cho nghề nuôi biển chủ động được nguồn giống, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nghề nuôi cá lồng trên biển nói riêng và nghề nuôi trồng thủy sản nói chung, từ đó giảm được sức ép khai thác nguồn lợi cá giống ven bờ, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho cộng đồng ngư dân ven biển Ưu điểm của loài cá này là
có thể thích ứng với nhiều điều kiện nuôi khác nhau, nuôi nước lợ, nước mặn, nuôi trong lồng hay trong ao đều được Đặc biệt cá hồng Mỹ còn được coi là đối tượng nuôi phù hợp trong các ao nuôi tôm bị dịch bệnh đang bỏ trống hiện nay Hơn nữa, cá hồng
Mỹ trong quá trình nuôi ít bị hao hụt cho nên đạt năng suất rất cao Kết quả nuôi thử nghiệm loài cá nuôi trong lồng, bằng thức ăn công nghiệp tại Vũng Ngán (TP Nha Trang, Khánh Hòa) cho thấy cá sinh trưởng nhanh, tỷ lệ sống cao Sau 10 tháng nuôi
cá đạt khối lượng từ 1,3-2,2 kg, tỷ lệ sống gần 72%
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỷ lệ sống trong ương giống cá biển
Bên cạnh các yếu tố như: dòng chảy, ánh sáng, thức ăn, bệnh,…thì mật độ ương, khẩu phần ăn, số lần cho ăn cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và
tỷ lệ sống trong ương giống cá biển Đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này nhằm hoàn thiện quy trình sản xuất giống, nâng cao sinh trưởng, tỷ lệ sống và chất lượng đàn cá giống
1.3.1 Ảnh hưởng mật độ ương
Để tận dụng tối đa hiệu quả của hệ thống ương, người nuôi bắt buộc phải nâng cao mật độ ương, điều này sẽ dẫn đến sự cạnh tranh về không gian sống, thức ăn, … có thể làm cá sinh trưởng chậm, mức độ phân đàn tăng, ngoài ra còn làm giảm khả năng đề kháng với bệnh của cá [49]
Trang 22Đã có một số nghiên cứu cho thấy, mật độ ương có ảnh hưởng lên sinh trưởng, tỷ
lệ sống của cá bột cá biển Ví dụ, cá chẽm châu Âu (Dicentrarchus labrax) giai đoạn
cá bột ương mật độ 50, 100, 150, 200 con/L không cho thấy sự khác biệt về sinh
110 và 140 con/L không có ảnh hưởng lên tốc độ tăng trưởng nhưng có ảnh hương lên tỷ
lệ sống [51] Đối với loài (Sander lucioperca) khi ương với mật độ 25, 50 và 100 con/L,
kết quả thí nghiệm thu được tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá bột có xu hướng giảm khi tăng mật độ nuôi Szkudlarek & Zakęś (2007) đề xuất nên ương cá bột loài
Sander lucioperca sau 4 ngày tuổi với mật độ 100 con/L là thích hợp [56] Tương tự kết
quả nghiên cứu của Ngô Văn Mạnh (2015) trên cá chim vây vàng với mật độ 15, 30, 45
và 60 com/L có ảnh hưởng lên tỷ lệ sống nhưng không ảnh hưởng lên tốc độ sinh trưởng Tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng có xu hướng giảm khi tăng mật độ ương [10]
Ở giai đoạn cá giống cũng đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ ương đến đến sinh trưởng, tỷ lệ sống trên một số loài cá biển như: Rowland & CTV
(2004) đã ương nuôi thử nghiệm loài cá vược trắng (Bidyanus bidyanus) cỡ 23 g/con
và cũng có kết luận tương tự, mật độ ương khác nhau không ảnh hưởng đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và FCR của đàn cá nuôi Mặc
dù khi nuôi với cá mật độ cao, cá bắt mồi mạnh hơn và năng suất thu được cao hơn song cá lại mẫn cảm với tác nhân gây bệnh Ngoài ra, khi nuôi với cùng mật độ thì cá nuôi trong lồng lớn nhanh hơn trong bể [50] Ly & CTV (2005) đã nghiên cứu trên
loài cá mú chấm cam (Epinephelus coioides) cỡ 10-16 g/con, nuôi ở các mật độ 260,
giảm khi tăng mật độ nuôi nhưng không ảnh hưởng đến tăng trưởng, tỷ lệ sống và hệ
số thức ăn (FCR) [45]
Hatziathanasius & CTV (2002) đã thử nghiệm ương cá chẽm châu Âu
(Dicentrarchus labrax) từ cỡ 1,7 cm lên 2,1 cm với các mật độ 5, 10,15, 20 con/L
[37], các tác giả thông báo rằng, khi tăng mật độ nuôi càng cao thì tỷ lệ sống càng giảm Nguyễn Trọng Nho & Tạ Khắc Thường (2006) cho rằng, cá chẽm mõm nhọn
tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá giảm dần khi tăng mật độ nuôi [13] Trong khi đó cá
chẽm châu Á (Lates calcarifer) ương từ cỡ 3,1 cm trong bể tuần hoàn nước, với các
mật độ 10-20 con/L lại cho thấy mật độ không ảnh hưởng đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá [10]
Trang 23Qua đó thấy rằng, mức độ ảnh hưởng của mật độ nuôi lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và hệ số thức ăn tùy thuộc vào giai đoạn phát triển, hệ thống nuôi của từng loài
cá khác nhau
1.3.2 Ảnh hưởng của thức ăn và chế độ cho ăn
Loại thức ăn và chế độ cho ăn khác nhau thì mức độ ảnh hưởng lên sinh trưởng,
tỷ lệ sống, hệ số thức ăn và hệ số phân đàn của cá cũng khác nhau Đã có những nghiên cứu về ảnh hưởng của số lần cho ăn lên sinh trưởng, mức độ phân đàn và hệ số thức ăn Việc tăng thời gian và số lần cho ăn rất cần thiết vì cá lớn cạnh tranh thức ăn
sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của những cá nhỏ và yếu hơn [60] Việc tăng thời gian
và số lần cho ăn hợp lý cũng sẽ góp phần cải thiện sinh trưởng, hệ số FCR Ngoài ra, chế độ cho ăn phù hợp còn phụ thuộc vào đối tượng nuôi, hệ thống nuôi Chua và
Teng (1978) nghiên cứu trên loài cá mú mỡ (Epinephelus tauvina) nuôi trong lồng nổi
với các chế độ cho ăn 3, 2, 1 lần/ngày và 2, 3, 4, 5 ngày/lần thấy rằng, sinh trưởng, hệ
số thức ăn và tỷ lệ sống tốt nhất ở chế độ cho ăn 2 ngày/lần [21] Ly & CTV (2005),
cho cá mú chấm cam (E coioides) ăn với các chế độ 1, 2, 3 lần/ngày, ở chế độ ăn 3
lần/ngày khẩu phần ăn và hệ số thức ăn thấp nhất, tuy nhiên sinh trưởng nhanh, tỷ lệ sống cao và mức độ phân đàn thấp hơn so với cho ăn 1, 2 lần/ngày [45] Loài cá nóc
vân hổ (Takifugu rubripes) cỡ 4g cho ăn với các chế độ 1, 3, 5 lần/ngày, kết quả ở chế
độ cho ăn 3 lần/ngày cho kết quả tăng trưởng, hệ số thức ăn và tỷ lệ sống tốt hơn chế
độ cho ăn 1 và 5 lần/ngày
Như vậy, đã có khá nhiều nghiên cứu tìm hiểu về chế độ cho ăn của các loài cá khác nhau nhưng đối với cá hồng Mỹ thì những nghiên cứu này còn hạn chế Do vậy việc nghiên cứu tìm hiểu chế độ cho ăn phù hợp của loài cá này là rất quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất giống
1.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng HUFA trong thức ăn đến sinh trưởng,
tỷ lệ sống và chất lượng giống cá biển
Các acid béo thuộc nhóm n-3HUFA đã được biết đến như là thành phần dinh dưỡng tối cần thiết và đã có nhiều báo cáo đề cập đến các giải pháp làm tăng cao hàm lượng của chúng trong thức ăn sống khi ương cá bột cá biển Thức ăn có hàm lượng DHA cao, góp phần nâng cao khả năng chịu sốc nhiệt độ, sốc độ mặn, khả năng chịu đựng hàm lượng oxy thấp của cá bột cá tráp đỏ [41] và cá bơn Nhật [57], tăng cao sức sống ở cá bột cá chẽm [26], nâng cao tỷ lệ sống cá tuyết Đại Tây Dương giai đoạn 25-
51 ngày tuổi [25] Cá bột cá kèn sọc (Latris lineata) được cho ăn thức ăn có hàm
Trang 24lượng DHA thấp biểu hiện bơi lội không bình thường, chất lượng cá bột kém; cá bột cho ăn luân trùng làm giàu có hàm lượng DHA 8 mg/g khô đã giảm đáng kể tỷ lệ cá bột bị sốc khi vớt Hàm lượng DHA trong luân trùng thích hợp cho cá bột cá kèn sọc
là ≥13 mg/g khô [20]
Về ảnh hưởng của EPA và ARA đến cá biển giai đoạn cá bột, đã được ghi nhận
từ ở một số loài cá khác nhau: Cá bột cá bơn Nhật hình thành sắc tố tốt hơn nếu được cho ăn thức ăn làm giàu với hàm lượng thấp ARA, nhưng nếu hàm lượng ARA càng cao thì tỷ lệ cá hình thành sắc tố không bình thường càng lớn Theo Villalta và CTV (2008) xác định EPA ảnh hưởng đến sự hình thành sắc tố của cá bột cá bơn Senegal
(Solea senegalensis), tỷ lệ cá bột hình thành sắc tố bình thường cao hơn khi cá bột được cho ăn bằng Artemia được làm giàu với tỷ lệ cao EPA (chiếm 20% - 30% axít
béo tổng số trong chất làm giàu) [59] Theo Lund và CTV (2008), ARA có ảnh hưởng
ngược đến sự hình thành sắc tố ở cá bột cá bơn Dover (Solea solea) Khi ương cá bột bằng Artemia làm giàu với tỷ lệ cao ARA, tỷ lệ cá bột hình thành sắc tố không bình
thường tăng cao Tuy nhiên sự ảnh hưởng này không xảy ra ở giai đoạn hậu cá bột (khi
cá bắt đầu chuyển vị trí mắt) và cá giống [44]
Sargent & CTV (1999), trên cơ sở xem xét thành phần HUFA trong trứng cá, đã
đề nghị mức tối ưu của HUFA trong thức ăn của cá bột cá biển là 3%, trong đó chủ yếu là acid béo DHA và EPA Nghiên cứu trên cá bột cá chẽm châu Âu cho thấy, hàm lượng EPA và DHA tối ưu là 2,5%, việc thiếu hụt các acid béo này làm giảm sinh trưởng và tăng tỷ lệ chết và dị hình ở cá bột, trong đó tỷ lệ dị hình có thể lên tới 35% chủ yếu là vẹo thân, lệch hàm và mất xương nắp mang [59] Bên cạnh đó, sự mất cân bằng về tỷ lệ giữa các acid béo trong nhóm HUFA cũng tác động tiêu cực lên sự phát triển của cá bột, tỷ lệ DHA/EPA > 2/1 và EPA/ARA > 5/1 được coi là phù hợp với cá bột cá biển [19]
Qua các nghiên cứu trên có thể thấy rõ sự ảnh hưởng của các HUFA đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và chất lượng giống cá biển; tuy nhiên sự ảnh hưởng này còn tùy thuộc vào từng loại HUFA, tùy thuộc vào từng loài, từng giai đoạn Trong khi DHA là quan trọng với cá bột ở tất cả các loài cá đã nghiên cứu, ảnh hưởng lớn đến sức sống của cá bột ở tất cả các loài, ảnh hưởng đến sinh trưởng ở cá bột một số loài, thì vai trò của EPA và ARA có thể không thể hiện rõ rệt hoặc có ảnh hưởng ngược ở một số loài
Vì vậy, cần có sự nghiên cứu về nhu cầu HUFA ở cá bột cá hồng Mỹ khi nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo, nhằm nâng cao chất lượng đàn giống và hiệu quả kinh tế
Trang 251.5 Sản phẩm làm giàu và kỹ thuật làm giàu
1.5.1 Sản phẩm làm giàu
Hiện tại, trên thị trường có nhiều sản phẩm làm giàu thương mại như Selco, Algamac, Với thành phần hàm lượng dinh dưỡng khác nhau tùy theo sản phẩm, nhưng được sử dụng phổ biến hiện nay trong các cơ sở sản xuất giống cá biển là sản phẩm DHA Protein Selco (INVE) có thành phần và hàm lượng dinh dưỡng cụ thể như sau: Tổng (n-3) HUFA trọng lượng khô 70 mg/g, tỷ lệ DHA/EPA 2,3 mg/g; chất béo
750.000 IU/kg, 75.000 IU/kg, 72.000 mg/kg và 20.000 mg/kg và các khoáng chất Canxi 0,1 % và Sudium 0,1 % Với sản phẩm này, khi làm giàu cần xay bằng máy xay sinh tố để tạo thành dạng nhũ có cỡ hạt phù hợp với kích cỡ mồi của luân trùng và
nauplius Artemia
1.5.2 Kỹ thuật làm giàu
1.5.2.1 Làm giàu trong thời gian dài (phương pháp gián tiếp)
Là sự kết hợp giữa nuôi và làm giàu chất dinh dưỡng trong suốt thời gian nuôi
động vật mồi, chủ yếu là luân trùng, hoặc có thể áp dụng khi nuôi Artemia thu sinh
khối Ưu điểm của kỹ thuật làm giàu gián tiếp là có thể làm tăng cao hàm lượng HUFA nhưng vẫn giữ nguyên được hàm lượng bình thường của lipid (14-18%) Việc duy trì hàm lượng lipid rất quan trọng khi sản xuất giống nhân tạo các loài cá vùng
môi trường nước có nhiệt độ thấp [48]
1.5.2.2 Làm giàu trong thời gian ngắn (phương pháp trực tiếp)
Là phương pháp động vật mồi (nauplius Artemia, luân trùng) được sử dụng như
là phương tiện để “nhồi” chất dinh dưỡng cần làm giàu Đây là phương pháp sử dụng phổ biến trong kỹ thuật sản xuất giống cá biển Ưu điểm của phương pháp này là cho phép chúng ta dễ dàng và nhanh chóng bổ sung chất dinh dưỡng cần thiết cho cá bột
Tóm lại, cá hồng Mỹ là đối tượng có giá trị kinh tế cao và đã được sản xuất giống thành công tại Việt Nam Tuy nhiên, tỷ lệ sống của cá con thấp và dị hình vẫn còn cao ảnh hưởng tới chất lượng con giống Trên cơ sở kế thừa các thành tựu nghiên cứu trên các loài cá biển khác, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao sức sống và hiệu quả ương giống cá hồng Mỹ, góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất giống loài cá này là rất cần thiết
Trang 26CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu
– Địa điểm nghiên cứu: trại thực nghiệm hải sản Đường Đệ, Ba Làng, Nha Trang, Khánh Hòa
– Thời gian thực hiện: từ ngày 30/12/2015 đến ngày 30/05/2016
– Đối tượng nghiên cứu: cá hồng Mỹ Sciaenops ocellatus (Linnaeus, 1766) giai
đoạn cá bột đến giai đoạn cá giống
Hình 2.1 Hình dạng bên ngoài cá hồng Mỹ 2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Hình 2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Trang 272.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Nguồn cá bột và cá giống làm thí nghiệm
Trứng thụ tinh có nguồn gốc từ sinh sản nhân tạo tại Trạm nghiên cứu nuôi cá
bố mẹ đặt tại vũng Ngán - vịnh Nha Trang (Khánh Hòa), sau khi cá đẻ thu trứng và chuyển vào trại đất liền để ấp nở Trứng được ấp với mật độ 1.500 – 2.000 trứng/L trong bể composite thể tích 200L đặt trong nhà, độ mặn: 32 -33 ppt, nhiệt độ: 27 -28
hình, dị tật, sau đó định lượng và bố trí thí nghiệm
Cá hương để thí nghiệm, có kích thước trung bình 2,19±0,28cm/con, khối lượng trung bình 0,14 ± 0,02g/con Cá có kích cỡ đồng đều, không dị hình, dị tật màu sắc tự nhiên, không bị xây sát và khỏe mạnh, vận động linh hoạt
2.3.2 Phương pháp thực hiện nội dung nghiên cứu
2.3.2.1 Ảnh hưởng của chế độ cho ăn lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ từ
giai đoạn cá bột mới nở đến giai đoạn giống
2.3.2.1.1 Ảnh hưởng của số lần cho ăn lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá bột lên cá hương
Thí nghiệm được bố trí vào 12 bể composite, thể tích 70 L/bể với số lần cho ăn
1, 2, 3, 4 lần/ngày, mỗi thí nghiệm được lặp lại 3 lần và kéo dài 31 ngày Mật độ ương
30 con/L, thức ăn cho cá từ ngày tuổi thứ 3-10 là luân trùng mật độ 10-50 con/ml/ngày
cho ăn, naupilus Artemia cho ăn từ ngày 8-23, mật độ 0,5-5 con/ml/ngày Luân trùng
và Artemia được làm giàu bằng DHA Protein Selco với nồng độ 100 ppm, chế độ cho
ăn 1 lần/ngày (7h00), 2 lần/ngày (7h00, 14h00), 3 lần/ngày (7h00, 11h00, 15h00) và 4 lần/ngày (7h00, 10h00, 14h00, 17h00)
Để cung cấp thức ăn cho luân trùng và ổn định môi trường nuôi, tảo Nannochloropsis sp
được cho vào bể từ ngày tuổi thứ 2 với mật độ 40.000- 60.000 tế bào/mL, cấp tảo 1 lần/ngày vào lúc 8 giờ sáng, tảo được duy trì trong suốt thời gian cho ăn luân trùng Thức ăn tổng hợp NRD, Thái Lan cỡ hạt 300-500 µm được tập cho ăn từ ngày 14, thời điểm tập cho
cá ăn thức ăn tổng hợp diễn ra trước khi cho ăn nauplius Artemia khoảng 30 phút, lượng
thức ăn sử dụng để bắt đầu tập cho cá ăn là từ 1,0 – 1,5 g/1.000 cá/ngày Si phông và thay nước được bắt đầu từ ngày thứ 13, lượng nước thay 20 – 30% thể tích Các thông số môi
C, oxy hòa tan 3,9 – 5,7 ppm; độ mặn 32 ppt,
NH3-N < 0,5 ppm Sau 31 ngày thí nghiệm kết thúc, các chỉ tiêu đánh giá là sinh trưởng, tỷ
lệ sống, hệ số phân đàn của cá con
Trang 282.3.2.1.2 Ảnh hưởng của số lần cho ăn lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá hương lên cá giống
Cá hương có chiều dài 2,19±0,28 cm, khối lượng 0,14±0,02 g phân cỡ đồng đều
và được bố trí trong 9 bể composite hình tròn, thể tích 70L/ bể với các số lần cho ăn lần lượt là 2 lần/ngày (7h00 và 17h00); 3 lần/ngày (7h00, 12h00, 17h00); 4 lần/ngày (7h00, 12h00, 17h00, 22h00) Mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần, thời gian kết thúc thí nghiệm 28 ngày
Cá được cho ăn bằng thức ăn NRD, Thái Lan có cỡ hạt 300-1.200 µm tùy thuộc
cỡ cá và cho ăn theo nhu cầu của cá con Hàng ngày quan sát hoạt động ăn mồi của cá, ghi chép lượng thức ăn sử dụng của từng bể Các thông số môi trường như pH từ 7,6 –
Các chỉ tiêu đánh giá là tỷ lệ sống, sinh trưởng, hệ số CV và hệ số FCR
2.3.2.2 Ảnh hưởng của nồng độ DHA Protein Selcolàm giàu lên sinh trưởng, tỷ lệ
sống và khả năng chịu sốc của cá bột cá hồng Mỹ
Thí nghiệm đuợc bố trí ương trong 15 bể composite hình tròn, đáy chóp thể tích
70 L/bể, mật độ ương 30 cá bột/L Cá bột cá được cho ăn thức ăn sống (luân trùng,
nauplius Artemia) làm giàu bằng DHA Protein Selco với 5 nồng độ làm giàu là 0, 50,
100, 150, 200 ppm, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần Chế độ cho ăn, kiểm soát môi trường, … ở thí nghiệm này tương tự như thí nghiệm 1 Sau 31 ngày thí nghiệm kết thúc, các chỉ tiêu đánh giá là sinh trưởng, tỷ lệ sống, hệ số phân đàn, dị hình và khả năng chịu sốc cơ học, độ mặn và nhiệt độ của cá con Các thông số môi trường như pH
0,5 ppm
Sốc cơ học: Sốc cơ học được tiến hành ở 31 ngày tuổi Cá trước khi kiểm tra
khả năng chịu sốc cơ học cho nhịn ăn 12 giờ, dùng vợt vớt ngẫu nhiên cá từ trong bể ương thí nghiệm ra thau chứa nước 10 L nước biển có sục khí và độ mặn tương đương
bể ương, mỗi lần vớt tối thiểu 50 con/bể Quan sát và đếm số cá bị sốc và bị chết trên tổng số cá vớt ra
Sốc nhiệt độ: Khi kết thúc thí nghiệm, cho cá nhịn ăn 12 giờ, bắt cá từ bể ương
C Ghi nhận số cá bị sốc sau khi đưa vào gây sốc, đếm số sốc và chết sau 15 phút gây sốc
Trang 29Sốc độ mặn: Khi kết thúc thí nghiệm, cá được bắt ngẫu nhiên 30 con/bể ương
có độ mặn 33 ppt chuyển vào xô chứa 5 L nước độ mặn 0 ppt , có sục khí Ghi nhận số
cá bị sốc sau khi đưa vào gây sốc, đếm số cá sốc và chết sau 40 phút gây sốc
2.3.2.3 Ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ
từ giai đoạn cá bột mới nở lên cá giống
2.3.2.3.1 Ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá bột lên cá hương
Thí nghiệm được bố trí vào 12 bể composite, thể tích 70 L/bể với các mật độ 20,
30, 40, 50 cá bột/L, thí nghiệm kéo dài 31 ngày Chế độ cho ăn, kiểm soát môi trường,
… ở thí nghiệm này tương tự như thí nghiệm 1 Hàng ngày quan sát hoạt động ăn mồi của cá, ghi chép lượng thức ăn sử dụng của từng bể Các chỉ tiêu sinh trưởng, hệ số phân đàn và tỷ lệ sống xác định ở ngày tuổi thứ 31
2.3.2.3.2 Ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hương lên
cá giống
Cá hương có chiều dài 2,19±0,28 cm, khối lượng 0,14±0,02 g phân cỡ đồng đều
và được bố trí trong 15 bể composite tròn đáy chóp với thể tích 70L/bể với 5 mật độ:
Cá được cho ăn 4 lần/ngày bằng thức ăn NRD, Thái Lan có cỡ hạt 300 – 1.200 µm tùy thuộc cỡ cá và cho ăn theo nhu cầu của cá con Hàng ngày quan sát hoạt động ăn mồi của cá, ghi chép lượng thức ăn sử dụng của từng bể Các thông số môi trường như pH từ 7,6 – 8,3; nhiệt độ 28 – 30o
C, oxy hòa tan 3,6 – 5,2 ppm; độ mặn 32 ppt, NH3-N < 0,5 ppm Sau
28 ngày kết thúc thí nghiệm Các chỉ tiêu đánh giá là tỷ lệ sống, sinh trưởng, phân đàn và hệ
số FCR
2.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh trưởng, tỷ lệ sống, phân đàn và hệ số FCR
Số lượng cá để cân và đo chiều dài chuẩn mỗi lần được lấy ngẫu nhiên 30 con/bể Cá được cân khối lượng bằng cân điện tử với độ chính xác đến 0,1 mg đối với
cá bột cá và đến 0,01 g đối với cá giống; đo chiều dài bằng giấy kẻ ô ly có độ chính xác đến 1 mm Để xác định hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR), lượng thức ăn hàng ngày của mỗi bể thí nghiệm đều được cân trước và sau mỗi lần cho ăn
Trang 30Xác định mức độ phân đàn về chiều dài của cá ương (CVtl-)
Wta: khối lượng thức ăn sử dụng (g) Wc: khối lượng cá gia tăng (g)
2.4.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Toàn bộ số liệu thu được ở các thí nghiệm xử lý trên phần mềm Excel và SPSS
16 Hàm phân tích phương sai một nhân tố (oneway-ANOVA) và LSD test đã được sử
Trang 31dụng để kiểm định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) của các thông số giữa các nghiệm thức trong 5 thí nghiệm Số liệu đƣợc trình bày trong báo cáo là giá trị trung bình (TB) ± sai số chuẩn (SE)
Trang 32CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Ảnh hưởng của chế độ cho ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ
từ giai đoạn cá bột mới nở đến cá giống
3.1.1.1 Ảnh hưởng của số lần cho ăn lên sinh trưởng và hệ số phân đàn của cá bột đến cá hương
Các chỉ tiêu chiều dài, khối lượng, tốc độ tăng trưởng đặc trưng ngày theo chiều dài và hệ số phân đàn theo chiều dài thể hiện ở Bảng 3.1
Bảng 3.1 Sinh trưởng và hệ số phân đàn của cá bột cá hồng Mỹ khi cho ăn
số lần cho ăn khác nhau
TL (mm) 21,07 ± 0,85b 19,6 ± 0,88ab 20,9 ± 1,33b 17,5 ± 0,40aCVtl (%) 9,85 ± 1,57a 11,64 ± 1,55a 12,07 ± 2,26a 9,72 ± 1,77a
BW (g) 0,11 ± 0,02a 0,11 ± 0,01a 0,14 ± 0,02a 0,09 ± 0,00aSGRL(%/ngày) 7,03 ± 0,13b 6,79 ± 0,15ab 7,0 ± 0,21b 6,42 ± 0,08a
Trong cùng một hàng, giá trị trung bình đi kèm chữ cái khác nhau thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Số lần cho ăn khác nhau ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê lên chiều dài toàn thân
và tốc độ tăng trưởng đặc trưng (SGR) của cá hồng Mỹ (p<0,05) Sinh trưởng chiều dài và SGR của cá cao nhất ở Nghiệm thức 1 lần lượt là 21,07 mm; 7,03%, thấp nhất ở Nghiệm thức 4 là 17,5 mm; 6,42% Theo Rabe và Brown (2000) cho thấy khi ương
nuôi loài Pleuronectes ferrugineus với số lần cho ăn 1, 2 và 4 lần/ngày, tốc độ sinh
trưởng chịu ảnh hưởng bởi số lần cho ăn và có xu hướng tăng khi tăng số lần cho ăn [47]
Hệ số CV (%) thể hiện mức độ đồng đều về kích cỡ giữa các cá thể trong quần đàn Kết quả thí nghiệm cho thấy, hệ số CV không ảnh hưởng lên số lần cho ăn (p>0,05), dao động (9,12 – 12,07%), tuy nhiên hệ số này có xu hướng tăng dần khi tăng số lần cho ăn từ 1 lần đến 3 lần/ngày lần lượt là 9,85%; 11,64%; 12,07% nhưng giảm xuống (9,72%) ở số lần cho ăn 4 lần/ngày Kết quả này không tương đồng với nghiên cứu về cá chim vây vàng của Ngô Văn Mạnh (2015) cho rằng, số lần cho ăn có ảnh hưởng lên hệ số CV (p<0,05), khi tăng số lần cho ăn từ 2 – 8 lần/ngày thì hệ số này lại có xu hướng giảm [10]
Trang 33
Hình 3.1 Ảnh hưởng của số lần cho ăn thức ăn sống lên tỷ lệ sống và sinh khối
của cá hồng Mỹ (Các chữ cái khác nhau đi kèm mỗi cột của đồ thị thể hiện sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê ( p < 0,05))
Tỷ lệ sống và sinh khối thu chịu ảnh hưởng của số lần cho ăn (p<0,05) Tỷ lệ sống ở Nghiệm thức 4 cao hơn có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với Nghiệm thức 3 nhưng không
có sự sai khác với các Nghiệm thức 1 và 2 Tương tự, sinh khối thu Nghiệm thức 4 cao hơn có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với Nghiệm thức 1 nhưng không có sự sai khác với
Nghiệm thức 2 và 3 Kết quả này trái ngược với nghiên cứu trên loài cá Pleuronectes ferrugineus với số lần cho ăn 1, 2 và 4 lần/ngày không ảnh hưởng lên tỷ lệ sống của cá bột
nhưng cho ăn 1 lần/ngày cho tỷ lệ sống thấp nhất [47]
Như vậy, số lần cho ăn khác nhau (1, 2, 3 và 4 lần/ngày) đã ảnh hưởng lên sinh trưởng về chiều dài, tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và sinh khối thu nhưng lại không ảnh hưởng lên sinh trưởng về khối lượng, hệ số phân đàn ở cá hồng Mỹ ương với mật
độ 20 - 50 con/L và giai đoạn ương cá bột lên cá hương có thể cho ăn với chế độ 1 – 2 lần/ngày được coi là phù hợp
Trang 34Bảng 3.2 Sinh trưởng và hệ số phân đàn của cá hương lên cá giống khi cho ăn
Trong cùng một hàng các chữ cái khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p<0,05); Chiều
dài và khối lượng trung bình của cá ban đầu là 2,19 ± 0,28 cm; 0,14±0,02g
Hình 3.2 Sinh trưởng về chiều dài và khối lượng của cá giống ở các lần cho ăn
khác nhau trong 4 tuần thí nghiệm
Kết quả cho thấy, các chỉ tiêu sinh trưởng về chiều dài, khối lượng và tốc độ
tăng trưởng ở nghiệm thức cho ăn 3 lần/ngày (53,8 cm; 1,81 g và 9,92 %/ngày) cao
hơn so với các nghiệm thức còn lại nhưng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Hệ số
phân đàn cao nhất ở nghiệm thức cho ăn 4 lần/ngày (11,83%) và thấp nhất ở nghiệm
thức cho ăn 2 lần/ngày (8,88%) (p<0.05)
Đã có những nghiên cứu về ảnh hưởng của số lần cho ăn lên sinh trưởng, tỷ lệ
sống của các đối tượng nuôi khác nhau Theo Tucker (2006) thử nghiệm trên cá tráp
đỏ (Pagrus auratus) cỡ 0,14g với số lần cho ăn 2, 4, 8 lần/ngày đã ảnh hưởng đến sinh
trưởng và hệ số phân đàn giảm khi tăng số lần cho ăn [42] Chua & Teng (1978)
nghiên cứu trên cá mú mỡ (Epinephelus tauvina) giống, nuôi trong lồng nổi với các số
lần cho ăn 1, 2, 3 lần/ngày cho thấy, số lần cho ăn ảnh hưởng đến sinh trưởng của đối
tượng nuôi và cho ăn 2 lần/ngày cho tăng trưởng tốt nhất [21] Tuy nhiên, kết quả
nghiên cứu của Gokcek & CTV (2008) trên loài Barbus luteus lại cho rằng khi tăng số
lần cho ăn từ 3-6 lần/ngày thì tốc độ sinh trưởng và khối lượng có xu hướng giảm [33]
Trang 35Kết quả thí nghiệm trên cá hồng Mỹ giống trái ngược với kết luận của một số tác giả đã nghiên cứu trên các đối tượng khác nhau Điều này, có thể do sự khác nhau giữa các loài cá, hình thức nuôi, điều kiện môi trường và khoảng cách giữa các lần cho
ăn đã ảnh hưởng đến khả năng bắt mồi và chuyển hóa thức ăn của cá
3.1.2.2 Ảnh hưởng của số lần cho ăn lên tỷ lệ sống, sinh khối thu và hệ số thức ăn của
cá hương lên cá giống
Các chỉ số về tỷ lệ sống, sinh khối cá thu và hệ số thức ăn (FCR) của cá hồng
Mỹ giống sau 4 tuần thí nghiệm được thể hiện ở Bảng 3.3
Bảng 3.3 Tỷ lệ sống, sinh khối thu và hệ số thức ăn của cá hương lên cá gống khi
cho ăn số lần khác nhau sau 4 tuần thí nghiệm
Trong cùng một hàng các chữ cái khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Qua Bảng 3.3 cho thấy, số lần cho ăn khác nhau ảnh hưởng đến tỷ lệ sống, sinh khối cá thu và hệ số FCR (p<0,05) Sinh khối cá thu và tỷ lệ sống của cá thí nghiệm sau 4 tuần ương ở nghiệm thức cho ăn 3 lần/ngày (222,85g và 86,33%) cao hơn có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với các nghiệm thức còn lại Hệ số thức ăn có xu hướng tăng dần khi tăng số lần cho ăn Hệ số FCR thấp nhất (0,71) ở nghiệm thức cho ăn 2 lần/ngày và cao nhất ở nghiệm thức cho ăn 4 lần/ngày (0,79) Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Ngô Văn Mạnh và Hoàng Tùng (2009) trên cá chẽm giống trong mương nổi với chế độ cho ăn 2, 4, 6, 8 lần/ngày, khi tăng số lần cho ăn sẽ làm hệ số
FCR tăng [9] Tuy nhiên đối với loài cá Barbus luteus khi tăng số lần cho ăn không
ảnh hướng đến hệ số FCR nhưng có sự sai khác ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ sống (p<0,05), tỷ lệ sống giảm dần khi tăng số lần cho ăn từ 3 – 6 lần /ngày [33]
Trong ương nuôi cá giống nói chung và cá biển nói riêng, số lần cho ăn trong ngày hợp lý có thể làm giảm đi mức độ ô nhiễm môi trường và tăng khả năng sử dụng thức ăn của cá nuôi Kết quả cho thấy, khi ương cá hồng Mỹ giai đoạn cá hương lên cá giống cho ăn 3 lần/ngày cho tỷ lệ sống, sinh khối cá thu lớn nhất và hệ số CV, FCR thấp Tuy nhiên, số lần cho ăn lại không ảnh hưởng đến sinh trưởng của cá hồng Mỹ
Trang 363.2 Ảnh hưởng của nồng độ DHA Protein Selco giàu thức ăn sống lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá bột cá hồng Mỹ lên cá hương
3.2.1 Ảnh hưởng của nồng độ DHA Protein Selco làm giàu thức ăn sống lên sinh trưởng và hệ số phân đàn của cá bột lên cá hương
Các chỉ tiêu sinh trưởng và hệ số phân đàn của các nghiệm thức nuôi ở các
nồng độ làm giàu thức ăn sống khác nhau được thể hiện ở Bảng 3.4
Bảng 3.4 Sinh trưởng và hệ số phân đàn của cá bột cá hồng Mỹ ở các nồng độ
DHA Protein Selco khác nhau
về chiều dài, khối lượng và tốc độ sinh trưởng ở nghiệm thức này nhỏ hơn có ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức có làm giàu (p<0,05) (Bảng 3.4) Kết quả này phù hợp
với nghiên cứu về tỷ lệ làm giàu HUFA trên cá bột cá chẽm châu Á (Lates calcalifer)
của Lục Minh Diệp (2010) [2] Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của Ngô Văn Mạnh (2015) trên cá chim vây vàng giai đoạn từ 1 đến 31 ngày tuổi cho thấy, không có sự khác biệt về khối lượng, tốc độ sinh trưởng (SGR) lẫn hệ số CV giữa đối chứng và các nồng độ làm giàu trong suốt thời gian thí nghiệm (P > 0,05) [10] Nghiên cứu trên cá
măng (Chanos chanos) của Gapasin & Duray (2001) cũng cho kết quả không khác biệt
có ý nghĩa thống kê về sinh trưởng ở giai đoạn ấu trùng cá giữa nhóm sử dụng ăn thức
ăn sống có làm giàu và nhóm không làm giàu, nhưng khi tiếp tục nuôi cá giống thêm
60 ngày thì sinh trưởng ở nhóm sử dụng thức ăn có làm giàu đã vượt trội hơn hẳn [32]
Trang 373.2.2 Ảnh hưởng của nồng độ DHA Protein Selco làm giàu thức ăn sống lên tỷ lệ sống và sinh khối thu của cá bột lên cá hương
Hình 3.3 Ảnh hưởng của nồng độ DHA Protein Selco làm giàu thức ăn sống lên
tỷ lệ sống và sinh khối thu của cá bột cá hồng Mỹ (Các chữ cái khác nhau đi kèm
mỗi cột của đồ thị thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ( p < 0,05))
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, việc làm giàu thức ăn sống bằng DHA Protein Selco
đã cải thiện đáng kể tỷ lệ sống so với không làm giàu, thể hiện ở việc tỷ lệ sống của đối chứng (2,37%) thấp hơn nhiều so với các nghiệm thức có làm giàu DHA Protein Sleco
Trang 38Hình 3.4 Số cá chết quan sát hàng ngày trong quá trình ương cá bột cá hồng Mỹ với nồng độ làm giàu thức ăn sống bằng DHA Protein Selco khác nhau
Quan sát cá bột cá chết trong quá trình thí nghiệm cho thấy, cá bột có xu hướng chết nhiều trong giai đoạn từ ngày thứ 22 đến ngày thứ 31, do các tác động như thay đổi nhiệt độ, thao tác chăm sóc, cho ăn, vệ sinh bể (Hình 3.4) Về việc tỷ lệ sống của cá bột cá thấp hơn hẳn khi không làm giàu thức ăn sống, Bell & CTV (1995) chỉ ra rằng,
sự thiếu hụt DHA dẫn đến sự biến đổi thành phần acid béo trong mô thần kinh và làm giảm khả năng bắt mồi trong điều kiện ánh sáng yếu ở những loài bắt mồi bằng thị giác, đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ sống thấp [19]
3.2.3 Ảnh hưởng của nồng độ DHA Protein Selco làm giàu thức ăn sống lên tỷ lệ
dị hình, khả năng chịu sốc cơ học, độ mặn và nhiệt độ của cá bột
Ảnh hưởng của nồng độ DHA Protein Selco làm giàu thức ăn sống lên tỷ lệ dị hình
Nồng độ DHA Protein Selco khác nhau làm giàu thức ăn sống không ảnh hưởng lên tỷ lệ dị hình hình của cá hương cá hồng Mỹ khi kết thúc thí nghiệm Tỷ lệ
0 20 40 60 80 100
Trang 39ăn sống làm giàu DHA Protein Selco với nồng độ khác nhau không ảnh hưởng lên khả năng chịu sốc cơ học của cá
Sốc độ mặn: Kết quả gây sốc độ mặn đột ngột từ 33 ppt xuống 0 ppt sau 40 phút đối với cá con 31 ngày tuổi cho thấy, tỷ lệ cá bị sốc ở nghiệm thức không làm giàu và làm giàu với nồng độ 50 ppm lần lượt là 93,33 và 83,33%, cao hơn so với cá cho ăn thức ăn làm giàu với nồng độ 100 – 200 ppm (lần lượt là 3,33 – 30,0) (p < 0,05)
và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chỉ tiêu này giữa các nghiệm thức làm giàu từ 150 – 200 ppm (p > 0,05) (hình 3.5)
Hình 3.5 Quan sát khả năng chịu sốc độ mặn của cá hồng Mỹ
nhất ở nghiệm thức không làm giàu (100%) và thấp nhất ở nghiệm thức làm giàu nồng độ 200 ppm (16,3%) cao hơn có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với các nghiệm thức còn lại có tỷ lệ lần lượt là 26,7%, 63,3%, 23,3%, tương ứng với các nồng độ làm giàu thức ăn sống từ 50, 100 và 150ppm
Trang 40Hình 3.6 Quan sát khả năng chịu sốc nhiệt độ của cá hồng Mỹ
Như vậy, việc sử dụng thức ăn sống làm giàu với DHA Protein Selco tuy tác động không nhiều đến sinh trưởng nhưng lại có ảnh hưởng tích cực đến sức sống và giảm thiểu tỷ lệ dị hình trong giai đoạn cá bột, kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của
Dhert & CTV (1990) trên cá chẽm Lates calcarifer [26] và cá chim vây vàng [10] Từ
kết quả trên cho thấy, nồng độ DHA Protein Selco thích hợp để làm giàu thức ăn sống cho ương nuôi cá bột cá hồng Mỹ nhằm nâng cao tỷ lệ sống, chất lượng giống có thể chọn mức từ 100 ppm trở lên
3.3 Ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá hồng Mỹ giai đoạn cá bột mới nở đến cá giống
3.3.1.1 Ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng và hệ số phân đàn của cá bột lên