1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Truyện ngắn, Nguyễn Ngọc Tư, Văn học Việt Nam

114 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số luận văn, khoá luận đã khai thác và tiếp cận tác phẩm từ góc độ trần thuật học về cốt truyện, nhân vật, kết cấu, giọng điệu, ngôn ngữ, người kể chuyện, đặc điểm sáng tác,… so sánh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THÚY NGA

NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN

NGUYỄN NGỌC TƯ

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lí luận văn học

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THÚY NGA

NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN

NGUYỄN NGỌC TƯ

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Đức Phương

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, là kết quả lao động nghiêm túc, tìm tòi và kế thừa trong quá trình nghiên cứu của tôi Các

số liệu khảo sát và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp

đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Học viên

Nguyễn Thị Thuý Nga

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô và cán bộ của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã tạo kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đặc biệt tới các thầy cô khoa Văn học của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ cho tôi trong suốt quá trình học tập

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đoàn Đức Phương – người thầy đầy tinh thần trách nhiệm và lòng thương mến đã dìu dắt, hướng dẫn tôi ngay từ ngày đầu lựa chọn đề tài và theo dõi sát sao trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi vô cùng cảm ơn sự quan tâm ủng hộ, động viên của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong thời gian tôi học tập cũng như thực hiện luận văn Đó chính là nguồn động viên tinh thần rất lớn để tôi theo đuổi và hoàn thành luận văn này

Dù đã rất cố gắng và tâm huyết với đề tài nhưng luận văn khó tránh khỏi những hạn chế, rất mong được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, ngày 18 tháng 9 năm 2016

Học viên

Nguyễn Thị Thuý Nga

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Cấu trúc luận văn 8

Chương 1: KHÁI LƯỢC VỀ NHÂN VẬT VÀ SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 9

1.1 Khái lược về nhân vật 9

1.1.1 Khái lược về nhân vật trong văn học 9

1.1.2 Khái lược về nhân vật trong truyện ngắn 16

1.2 Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư 21

1.2.1 Hành trình sáng tác 23

1.2.2 Quan điểm sáng tác 30

Chương 2: CÁC LOẠI HÌNH NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 38

2.1 Nhân vật kiếm tìm, khát khao hạnh phúc 39

2.2 Nhân vật bình dị, nhân hậu 49

2.3 Nhân vật lãng mạn, cô đơn 58

2.4 Nhân vật vị tha, bao dung 65

Chương 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 74

3.1 Nghệ thuật sử dụng chi tiết 74

3.2 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình, hành động 80

3.3 Nghệ thuật biểu hiện nội tâm 86

3.4 Ngôn ngữ nhân vật 92

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 6

MỞ ĐẦU

Ở vài thập kỉ gần đây, nền văn xuôi đương đại Việt Nam xuất hiện nhiều cây bút nữ, trẻ cả tuổi nghề lẫn tuổi đời Họ đã mang đến một làn gió mới với những sáng tạo và phong cách văn học cá tính, độc đáo, dung dị, đời thường nhưng rất đỗi sâu sắc Tiêu biểu trong số các nhà văn nữ đó, Nguyễn Ngọc Tư được biết đến như một “hiện tượng” đặc biệt trên văn đàn Việt Nam đương đại Không chỉ gặt hái được nhiều thành công ở trong nước mà các tác phẩm của chị còn để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả nước ngoài

Dù là một cây bút trẻ nhưng Nguyễn Ngọc Tư đã tạo cho mình một phong cách văn chương đặc sắc, mang đậm chất Nam Bộ Tên tuổi của chị gắn liền với những tác phẩm dường như đã “đóng đinh” trong lòng độc giả và giới phê bình Các tác phẩm văn chương của chị từng trở thành đề tài tranh luận sôi nổi trên nhiều tạp chí và các diễn đàn văn học Đặc biệt hơn, nhân vật trong các sáng tác của chị đã trở thành một dấu ấn đặc trưng trong phong cách cũng như quan điểm sáng tác của chị

về cuộc sống và con người Nam Bộ Thử nghiệm và sáng tác ở nhiều thể loại như tản văn, truyện ngắn, tiểu thuyết, … nhưng dường như truyện ngắn là “sở trường hiện tại”, thể loại đang khẳng định ưu thế của chị Mỗi truyện ngắn là một nội dung, một nhân vật có trạng thái, cảm xúc, tâm hồn khác nhau nhưng đều có một điểm chung là viết về văn hoá, cuộc sống con người Nam Bộ Các tác phẩm của chị có ý nghĩa như một thứ “đặc sản miền Nam” vừa quen vừa lạ

Khác với thế hệ của các nhà văn như Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức,… Nguyễn Ngọc Tư đã tạo cho mình một phong cách văn chương đặc sắc, chuyên biệt từ những trang viết đầu tay Đó là việc xây dựng hệ thống nhân vật như con người thật ngoài đời, không chú trọng xây dựng mẫu nhân vật điển hình mà tập trung khai thác vào chiều sâu tâm lý của nhân vật qua đó khái quát về số phận, đưa

ra những nét đặc trưng trong tính cách và chất người lao động nghèo ở Nam Bộ Nhân vật trong các truyện ngắn của chị vừa mang đậm tính truyền thống, đặc trưng

Trang 7

vùng miền, mộc mạc, nhân hậu, phóng khoáng, nghĩa tình vừa mang hơi thở của cuộc sống hiện đại thức thời, nhạy bén

Theo sự tìm hiểu của người viết, cho đến nay, các sáng tác của Nguyễn Ngọc

Tư được tiếp cận từ nhiều góc độ nghiên cứu văn học, văn hoá nhưng đa số là đi sâu vào những phương diện cụ thể chứ chưa có nhiều đề tài nghiên cứu một cách kĩ lưỡng, có hệ thống Một số luận văn, khoá luận đã khai thác và tiếp cận tác phẩm từ góc độ trần thuật học về cốt truyện, nhân vật, kết cấu, giọng điệu, ngôn ngữ, người

kể chuyện, đặc điểm sáng tác,… so sánh các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư với các cây bút nữ cùng thời, khía cạnh nhân vật cũng có một vài công trình đề cập đến nhưng chưa đi sâu và khái quát toàn diện Vì vậy, đây chính là lý do khi người viết

chọn đề tài cho luận văn của mình là: Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Hiện tại, Nguyễn Ngọc Tư là cây bút trẻ có được biết đến nhiều trong thời gian khoảng một thập niên trở lại đây Ngay từ những trang viết đầu tay, chị đã thu hút được công chúng với một phong cách văn chương mới lạ mang đậm dấu ấn Nam Bộ Nguyễn Ngọc Tư không chỉ nổi tiếng ở trong nước mà các trang viết của chị còn có sức lay động tới trái tim của độc giả nước ngoài Vì vậy, những bài viết

về chị: phong cách văn chương, quan niệm sáng tác, truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn,… được đăng tải rất nhiều trên các phương tiện truyền thông Giới chuyên môn

và các nhà phê bình văn học cũng có những ấn tượng, nhận định và đánh giá cao về phong cách văn chương, các tác phẩm của chị Đó là một “tài năng hiếm có”, một tâm hồn “tinh tế, cảm nhận mới mẻ”, một giọng văn bình dị, mộc mạc, giàu cảm xúc Có thể nói, ngay từ khi ra mắt bạn đọc những tác phẩm đầu tay của mình, “những đứa con tinh thần” của chị đã nhận được rất nhiều sự đánh giá, phê bình của độc giả Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư đã được nghiên cứu

và phê bình, đánh giá dưới nhiều góc độ khác nhau

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã có những ấn tượng sâu sắc về chị trong Lời

giới thiệu của tập truyện Ngọn đèn không tắt: “Ngọn đèn không tắt đã tạo nên một

không khí rất tự nhiên về màu sắc, hương vị của mảnh đất cuối cùng của Tổ quốc –

Trang 8

mũi Cà Mau, của những con người tứ xứ, về mũi đất của rừng, của sông nước, của biển cả mà cha ông ta đã dày công khai phá… Qua ngòi bút của Nguyễn Ngọc Tư, những con người lam lũ, giản dị, bộc trực ấy chứa đựng bên trong cả tâm hồn vừa nhân hậu, vừa tinh tế qua cách đối nhân xử thế”

Trong cuộc trao đổi với các nhà văn Trung Trung Đỉnh và Chu Lai về tác

phẩm Cánh đồng bất tận trong bài viết Chia sẻ cùng Nguyễn Ngọc Tư và “Cánh

đồng bất tận” trên trang http://giaitri.vnexpress.net/, nhà thơ Hữu Thỉnh (Chủ tịch

Hội Nhà văn Việt Nam) đưa ra những nhận xét: “Nguyễn Ngọc Tư đã có sự bứt phá

rất ngoạn mục, tự vượt lên chính mình và tạo nên những bất ngờ thú vị cho giới nhà văn.”; “Nguyễn Ngọc Tư khiến cho người đọc phải xót xa vì sự tan vỡ của một gia đình bé nhỏ trên cánh đồng bất tận là cuộc đời rộng mênh mông.”; “Nguyễn Ngọc

Tư đã đặt ra vấn đề về cách cứu vớt, về hậu quả của việc lấy cái ác để trả ác Tác phẩm đưa ra thông điệp, trước lỗi lầm, người ta chỉ có thể cứu vớt được bằng sự khoan dung, tha thứ, lấy ân trả oán… Từ câu chuyện về gia đình và cách ứng xử của con người, Nguyễn Ngọc Tư miêu tả sự đau đớn, vật vã của kiếp người bằng tất

cả tình yêu thương con người Dòng chảy của chủ nghĩa nhân văn này đã có sức cuốn hút sâu sắc đến bạn đọc mọi tầng lớp Tác phẩm phải có được những giá trị nhất định thì mới được bạn đọc yêu mến đến như thế chứ.” [61]

Cùng chia sẻ về Cánh đồng bất tận, nhà văn Chu Lai đưa ra ý kiến đồng tình:

“Tôi là người đã bỏ phiếu bầu Nguyễn Ngọc Tư vào Hội Nhà văn, bỏ phiếu ủng hộ

cô trong nhiều giải thưởng Sáng tác của cô đề cập đến những vấn đề chính thống

với cái nhìn sâu sắc và đậm chất nhân văn chứ không câu khách, rẻ tiền Cánh

đồng bất tận viết về những con người Nam Bộ với tính cách đặc thù: chân thực,

hồn nhiên, chất phác và bản năng Cốt truyện mang tính chất cổ điển, không có gì mới nhưng tác giả viết bằng thứ ngôn ngữ và hơi văn lạ, tạo được sức rung chuyển thẩm mỹ Cái hồn khí của truyện chứng tỏ nhà văn là người rất yêu vùng đất và con người miền Tây chứ không hề có gì là xúc phạm, bóp méo sự thật Người miền Trung, miền Bắc đọc tác phẩm này sẽ cảm thấy yêu mến mảnh đất Cà Mau hơn.” [61]

Trang 9

Tác giả Bùi Việt Thắng trong Bài học văn chương từ Cánh đồng bất tận đăng

trên tạp chí Nghiên cứu văn học, số 7/2006 nhận xét: “Nguyễn Ngọc Tư tỏ ra “bối

rối, thiếu bình tĩnh….non nớt,chưa đủ bản lĩnh nghệ thuật… thiếu một sự tự chuẩn

bị toàn diện về mặt kinh nghiệm sống, kinh nghiệm nghề nghiệp, và quan trọng nhất

là một nền văn hoá cần thiết” Về phương diện ngôn ngữ, Bùi Việt Thắng nhận xét:

“văn viết Nguyễn Ngọc Tư rất gần với văn nói” Từ những phân tích và nhận xét chủ quan của mình, ông đi đến kết luận: “Nguyễn Ngọc Tư đang đi từ trong kênh

rạch ra biển lớn, thiết nghĩ, nhà văn phải có ý thức lao động nghệ thuật nhiều hơn nữa để cho tác phẩm của mình trở thành tài sản quốc gia” Ngược lại với những ý kiến trên, đa số các bài viết tập trung làm nổi bật vẻ đẹp, sự cuốn hút của tác phẩm

từ cốt truyện, câu chữ, cho tới nội dung đầy tính nhân văn” [28]

Tác giả Trần Thiện Khanh trong Bàn lại với tác giả Bùi Việt Thắng đăng trên

tạp chí Nghiên cứu văn học, số 8/2006 đã đưa ra những ý kiến không đồng tình với

tác giả Bùi Việt Thắng khi đã “thiếu khách quan khi qui kết Nguyễn Ngọc Tư “thấy

cây mà không thấy rừng” Nhân vật người cha đâu chỉ có lòng hận thù, xét riêng những tình tiết cuối truyện, phẩm chất tốt đẹp của nhân vật đó bộc lộ khá rõ Bùi Việt Thắng cắt đứt mối liên hệ giữa tư tưởng nhà văn với thế giới quan, giữa sáng tác văn học và thực tế , khi ông nhấn mạnh Nguyễn Ngọc Tư thiếu “kinh nghiệm”,

“chưa đủ bản lĩnh nghệ thuật”.[19]

Trần Thiện Khanh cho rằng: “Từ Ngọn đèn không tắt, Ông ngoại đến Biển

người mênh mông, Giao thừa, Nước chảy mây trôi… và Cánh đồng bất tận, nghệ

thuật trần thuật của Nguyễn Ngọc Tư đã bắt đầu chín, đặc biệt khi chị tập trung tả

“khuôn mặt khác của cuộc sống” Nếu không có một vốn sống dày dặn, dưới ngòi bút của Nguyễn Ngọc Tư, nỗi đau se thắt, u uất của thân phân con người đâu hiện

ra tự nhiên và cảm động nhường ấy.” [19]

Nếu như trong Bài học văn chương từ Cánh đồng bất tận, tác giả Bùi Việt

Thắng yêu cầu ngôn ngữ của một cây bút có chất giọng Nam Bộ phải được “quốc

gia hoá”, chứ không được sử dụng “từ ngữ quá đặc thù vùng miền” thì tác giả Trần

Thiện Khanh phản biện lại: “Cánh đồng bất tận” có ngôn ngữ, giọng điệu, sắc

Trang 10

thái, cấu trúc riêng của mình, không thể cô lập “Cánh đồng bất tận” khỏi ảnh hưởng của phương ngữ Nam Bộ” [19]

Trong bài viết Lời đề từ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, tác giả Phạm Phú Phong đã có những phát hiện: “Nguyễn Ngọc Tư rất hay sử dụng lời đề từ trong các

tác phẩm của mình: "Cánh đồng bất tận gồm 14 truyện, thì có 11 truyện được tác giả sử dụng lời đề từ" [23] Lời đề từ như là một ẩn dụ của câu chuyện Nó góp phần thâu tóm tư tưởng chủ đạo của tác phẩm hay đơn giản nó là tâm trạng, quan điểm của tác giả trước cuộc sống, con người Nguyễn Ngọc Tư đã tạo cho mình một dấu ấn riêng, thể hiện ở lời đề từ trong mỗi câu truyện đúng như Phạm Phú Phong nhận xét: "chị có sự đậm đặc của một giọng điệu văn chương Nam Bộ, trong đó có những kế thừa thế hệ trước, nhưng lại là giọng điệu của đời sống hiện đại, không trộn lẫn với bất kỳ ai Đó là điều đáng quí, cần được khẳng định ở Nguyễn Ngọc Tư" [23]

Trong bài viết Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, tác giả Trần Phỏng Diều đưa ra những nhận xét: “Cũng nói về vùng đất và con người Nam

Bộ nhưng Nguyễn Ngọc Tư có cách tiếp cận khác: không có gì lớn lao mà rất đỗi đời thường, như dòng sông chẳng hạn Nhưng từ cái nhỏ bé, đời thường tưởng chừng như ai cũng biết mà khái quát nó lên, chuyển tải lòng mình vào đó mới chính

là giá trị của nghệ thuật Thành công của Nguyễn Ngọc Tư cũng là ở đó Giọng văn của chị có duyên, đôi khi dí dỏm nhưng ngọt ngào và sâu sắc Câu văn giản dị, mộc mạc, chân tình, đọc truyện chị tưởng như đang trò chuyện với chị vậy Phong cách Nguyễn Ngọc Tư là như thế.” [10]

Xung quanh vấn đề "thế giới nhân vật" trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư,

có nhiều bài viết có giá trị khoa học bởi sự tâm huyết và đồng điệu của nhà phê

bình Trong bài "Nguyễn Ngọc Tư, một nhà văn trẻ Nam Bộ" của Huỳnh Công Tín, tác giả thừa nhận "Vùng đất và con người Nam Bộ trong sáng tác của chị được

dựng lại bằng chính chất liệu của nó là ngôn từ và văn phong nhiều chất Nam Bộ"

[27], Huỳnh Công Tín cũng đánh giá cao khả năng miêu tả tâm lí người và vật hết

sức sắc sảo của Nguyễn Ngọc Tư

Trang 11

Trong bài viết của Đỗ Hồng Ngọc đăng trên báo Tuổi trẻ, số ra ngày

30/1/2005 có nhận định: “Người đọc bất ngờ trước những kiếp người, phận người

hôm nay, tại đây như một truyện kể, và bất ngờ trước một văn bút khá lạ của người viết truyện Nguyễn Ngọc Tư đã bắt đầu chạm vào những vỉa tầng cuộc sống của những vùng đất cô sống và viết văn Dữ dội và nhân tình, văn Tư bắt đầu là thế”

Trong bài viết Nguyễn Ngọc Tư – điềm đạm mà thấu đáo trên trang http://tuoitre.vn/ ngày 22/4/2004, nhà văn Dạ Ngân đã đánh giá cao tài năng của Nguyễn Ngọc Tư:

“Nguyễn Ngọc Tư giỏi ở chỗ cái tưởng không có gì mà Tư cũng viết được, lại viết

rất có duyên, rất nhân hậu Đọc cái nào cũng phải nhoẻn miệng cười sung sướng, sung sướng mà lại ứa nước mắt, thấy nước mắt của mình cũng trong trẻo và đẹp đẽ,

ấy là cái đáng giá mà Nguyễn Ngọc Tư cho người đọc hôm nay”

Ngưỡng mộ và yêu quý tài năng được đánh giá “quý hiếm” này, Giáo sư Trần Hữu Dũng – một Việt kiều tại Mỹ đã lập một website có tên là http://www.viet-

studies.net/NNTu/ để “thu thập vào một nơi những bài của (về) Nguyễn Ngọc Tư

rải rác trên web, và sau đó chia sẻ với những bạn thích văn Nguyễn Ngọc Tư như tôi.” Điều đó đã cho thấy sức hút của Nguyễn Ngọc Tư rất mạnh mẽ Bản thân vị

Giáo sư này cũng có những bài viết chuyên luận, khảo cứu về các sáng tác của

Nguyễn Ngọc Tư Trong bài viết Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền Nam, ông cho rằng: “Đọc truyện của Nguyễn Ngọc Tư, họ sẽ khám phá rằng nếu dùng đúng chỗ,

trong tay một tác giả cẩn trọng, phương ngữ mộc mạc miền Nam, giọng điệu dân dã miền Nam hoàn toàn có khả năng cấu tạo một nhánh văn chương đặc biệt, không giống, nhưng chuẩn mực không kém những miền khác Mỗi truyện viết của Nguyễn Ngọc Tư là một bữa ăn văn chương thịnh soạn, dọn bày chu đáo, gồm toàn đặc sản miệt vườn, với những vật liệu hảo hạng, tươi sống.”; “Văn của Nguyễn Ngọc Tư nghe như nhạc Nhiều câu trong trẻo và buồn (nhưng không nghẹn ngào) như một bản vọng cổ hoài lang Giọng buồn của Nguyễn Ngọc Tư không là tiếng than vãn thì thầm của một người lớn tuổi, nhưng là một lời thốt, lửng lơ, đứt ngang, nhưng rất đủ, của một người trẻ bỗng nhiên phát giác những bất hạnh của cuộc đời, mà vẫn hi vọng Văn Nguyễn Ngọc Tư là văn của lời nói Cách ngắt câu của cô là cách

Trang 12

ngắt của âm điệu Cái tài của Nguyễn Ngọc Tư là đem những cảnh tượng rất bình thường, khoanh lại, biến nó thành châu báu.”

Qua khảo sát, người viết thấy có khá nhiều luận văn, khoá luận tốt nghiệp của học viên, sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nội tìm hiểu về phong cách văn chương, các tác phẩm của chị từ góc độ trần thuật học, thẩm mĩ, đặc điểm sáng tác,… Xung quanh vấn đề “thế giới nhân vật” trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, đã có nhiều bài viết có giá trị khoa học Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư cũng đã có một số công trình đã đề cập đến, nhưng thường đặt nó trong tổng thể thế giới nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư mà ít có những khảo sát kĩ lưỡng Cụ thể là Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt

Nam của Nguyễn Thị Phương với đề tài: Đặc điểm sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

(2012) Luận văn đưa ra những quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư về văn chương, con người và sự chi phối những quan niệm đó tới sáng tác của chị Đi khảo sát một số kiểu nhân vật và những đặc điểm trong sáng tác

Căn cứ vào quá trình tìm hiểu lịch sử vấn đề, dựa trên một số tập truyện ngắn

đã xuất bản và những bài viết của các nhà báo, nhà phê bình về các tác phẩm của chị trong thời gian qua, người viết lấy đó là tư liệu để nghiên cứu về nhân vật trong truyện ngắn của cây bút trẻ này

Dựa trên những tư liệu đã có, người viết lấy đó là một số gợi ý để triển khai đề tài của luận văn và lựa chọn cách tiếp cận lịch sử vấn đề, thống kê và khảo sát để phân tích những loại hình nhân vật cũng như nghệ thuật xây dựng nhân vật truyện Nguyễn Ngọc Tư qua những tập truyện khác nhau

Luận văn này tập trung tìm hiểu “Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc

Tư” nhằm mục đích chỉ ra những đặc điểm cơ bản của các loại hình nhân vật trong

truyện Nguyễn Ngọc Tư, đồng thời tìm ra những nét độc đáo, đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn

Việc khảo sát và nghiên cứu thế giới nhân vật truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư chưa nhiều và chưa có hệ thống Do đó, người viết mong muốn bổ sung thêm một

Trang 13

số nhận định có ý nghĩa khoa học bên cạnh những ý kiến đã có về vấn đề này và đóng góp một chút công sức nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu nhà văn trẻ đầy triển vọng Nguyễn Ngọc Tư, một điểm sáng của truyện ngắn Việt Nam đương đại Trong phạm vi luận văn này, người viết khảo sát các tập truyện ngắn sau của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư:

- Ngọn đèn không tắt (Tập truyện ngắn, Nxb Trẻ, 2000)

- Biển người mênh mông (Tập truyện, Nxb Trẻ, 2003)

- Giao thừa (Tập truyện, Nxb Trẻ, 2003)

- Nước chảy mây trôi (Tập truyện và kí, Nxb Văn nghệ TPHCM, 2004)

- Khói trời lộng lẫy (Tập truyện, Nxb Thời đại, 2010)

- Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (Tập truyện, Nxb Trẻ, 2012)

- Cánh đồng bất tận (Tập truyện, Nxb Trẻ, 2014)

- Đảo (Tập truyện, Nxb Trẻ, 2014)

Đây là những văn bản tập hợp những tác phẩm đặc sắc, có giá trị và tiêu biểu cho văn chương Nguyễn Ngọc Tư Tuy nhiên, luận văn cũng chú ý đến nghiên cứu những tác phẩm khác trong cả quá trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, thấy được

sự vận động trong truyện ngắn của chị

Để thực hiện đề tài này, trên bình diện lí thuyết, người viết tiếp cận đối tượng từ những phương pháp sau:

- Phương pháp tiếp cận văn hoá học

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp hệ thống

- Phương pháp loại hình

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Khái lược về nhân vật và sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

Chương 2: Các loại hình nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

Trang 14

Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ NHÂN VẬT VÀ SÁNG TÁC

CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 1.1 Khái lược về nhân vật

1.1.1 Khái lược về nhân vật trong văn học

Trong một tác phẩm văn học, nhân vật là sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo, là biểu hiện của khả năng chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật cùng với tư tưởng nghệ thuật, lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn về con người Sự tồn tại của nhà văn trong thực tế là rất ngắn còn nhân vật thì tồn tại qua nhiều thế hệ Với mỗi tác phẩm văn học, đặc biệt là trong văn xuôi, nhân vật có yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công và sức hấp dẫn Do nhân vật có vai trò quan trọng như vậy nên nhiều nhà văn

đã rất coi trọng việc xây dựng nhân vật trong quá trình sáng tác của mình

Khái niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi rộng lớn, ngoài những nhân vật là con người có tên hoặc không tên, được khắc hoạ sâu đậm hoặc thoáng qua trong tác phẩm còn xuất hiện những sự vật, loài vật ít nhiều đều mang bóng dáng của con người Đó là những Dế Mèn, Dế Trũi, Bọ Ngựa, con mèo lười trong truyện thiếu nhi của Tô Hoài, là vầng trăng, bông hoa hồng trong thơ Bác, là

lá trầu, cái chổi, hạt mưa trong thơ của Trần Đăng Khoa… Hơn thế, nhân dân

trong Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, đồng tiền trong Ơ-giê-ni Gơ-răng-đê

của Ban-dắc, hay thời gian trong sáng tác của Sê-khốp,… là những nhân vật, tuy không phải là một con người, sự vật cụ thể mà chỉ là một hiện tượng nổi bật trong tác phẩm

Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật có tính ước lệ, có những dấu hiệu để nhận biết: tên gọi, những dấu hiệu về tiểu sử, nghề nghiệp, những đặc điểm riêng,… Những dấu hiệu đó thường được giới thiệu ngay từ đầu và thông thường, sự phát triển về sau của nhân vật gắn bó mật thiết với những giới thiệu ban đầu đó Việc giới thiệu Thuý Vân, Thuý Kiều khác nhau dường như cũng báo trước về số phận của hai nàng “tố nga” Nếu vẻ đẹp của Thuý Vân là “mây thua, tuyết nhường” gợi lên một cuộc sống êm đềm, nhẹ nhàng thì vẻ đẹp “hoa ghen,

Trang 15

liễu hờn” của Thuý Kiều lại gợi lên một số phận truân chuyên, trắc trở, nhiều nước

mắt Hay trong truyện ngắn Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, nhà văn đã giới thiệu

nhân vật Thai xuất hiện đầu tiên ở vùng núi có tên là Núi Đợi và cảnh vật xung quanh toàn là những hòn vọng phu Bối cảnh xuất hiện đó của nhân vật Thai là một dụng ý nghệ thuật của nhà văn như ngầm dự báo về số phận của nhân vật sẽ phải sống trong sự khắc khoải, đợi chờ giống như người chinh phụ hay nàng Tô Thị

Nhân vật còn được coi là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực, phát ngôn cho nhận thức, quan điểm của mỗi tác giả Những cái tên như chị Dậu, anh Pha, Chí Phèo, là những nhân vật đại diện cho số phận của người nông dân trước cách mạng tháng Tám Những Điền, Hộ, Thứ,… trong các sáng tác của Nam Cao lại đại diện cho tầng lớp trí thức tiểu tư sản nghèo thể hiện những quan niệm

nghệ thuật của nhà văn: “Chao ôi! Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa

dối, không nên là ánh trăng lừa dối Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia

thoát ra từ những kiếp người lầm than” (Trăng sáng) hay “Văn chương không cần

đến sự khéo tay, làm theo một vài khuôn mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo

những cái gì chưa có.” (Đời thừa) Đọc một tác phẩm, điều đọng lại sâu sắc nhất

trong tâm hồn người đọc thường là những số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư của những con người được nhà văn thể hiện Vì vậy, nhà văn Tô Hoài đã có lí khi cho rằng “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác” Các nhân vật trong một tác phẩm nghệ thuật thực sự tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh Chúng đều có mối liên hệ với nhau, không chỉ liên kết với nhau bằng tiến trình sự kiện mà còn được miêu tả bằng lô-gíc tư duy nghệ thuật của nhà văn Hệ thống nhân vật bộc lộ nội dung của tác phẩm nhưng tự nó lại là một trong các phương diện của kết cấu tác phẩm

Nhân vật văn học có chức năng khái quát quy luật cuộc sống con người, những suy nghĩ, ước ao, kì vọng của con người và thể hiện quan niệm của nhà văn

về cuộc đời Khi xây dựng nhân vật, nhà văn gắn liền mục đích sáng tác với những

Trang 16

vấn đề mà nhà văn muốn đề cập đến trong tác phẩm Vì vậy, khi tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm, bên cạnh việc xác định những nét tính cách, cần nhận ra những vấn đề của hiện thực và quan niệm của nhà văn mà nhân vật muốn thể hiện Chẳng hạn, khi nhắc đến một nhân vật, nhất là các nhân vật chính, người ta thường nghĩ đến các vấn đề gắn liền với nhân vật đó Gắn liền với Kiều là thân phận của người phụ nữ có tài sắc trong xã hội cũ Gắn liền với Kim Trọng là vấn đề tình yêu và ước mơ vươn tới hạnh phúc Gắn liền với Từ Hải là vấn đề đấu tranh để thực hiện khát vọng tự do, công lí Ðằng sau nhiều nhân vật trong truyện cổ tích là vấn đề đấu tranh giữa thiện và ác, tốt và xấu, giàu và nghèo, những ước mơ tốt đẹp của con người Do nhân vật có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời cho nên trong quá trình mô tả nhân vật, nhà văn có quyền lựa chọn những chi tiết, yếu tố mà họ cho là cần thiết bộc lộ được quan niệm của mình về con người và cuộc sống Chính vì vậy, không nên đồng nhất nhân vật văn học với con người trong cuộc đời Khi phân tích, nghiên cứu nhân vật được xây dựng từ nguyên mẫu có thật ngoài đời cần đối

chiếu, so sánh để hiểu rõ thêm về nhân vật (anh hùng Núp trong Ðất nước đứng

lên, chị Sứ trong Hòn Ðất, chị Út Tịch trong Người mẹ cầm súng ) nhưng cũng

cần chú ý đến những vấn đề của hiện thực cuộc sống được nêu ra trong tác phẩm, bởi nhân vật văn học là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo gắn liền với ý đồ tư tưởng của nhà văn

Nhân vật văn học còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người Vì thế nhân vật luôn gắn chặt với chủ đề của tác phẩm Nhân vật văn học còn được miêu tả qua các biến cố, xung đột, mâu thuẫn và mọi chi tiết các loại Đó là mâu thuẫn nội tâm của nhân vật, mâu thuẫn giữa nhân vật này với nhân vật kia, giữa tuyến nhân vật này với nhân vật khác Nhờ được miêu

tả qua xung đột, mâu thuẫn nên khác với hình tượng hội hoạ và điêu khắc, nhân vật văn học là một chỉnh thể vận động, có tính cách được bộc lộ dần trong không gian, thời gian, mang tính quá trình

Trang 17

Nhân vật là một hiện tượng hết sức đa dạng Những nhân vật được xây dựng thành công từ xưa đến nay bao giờ cũng là những sáng tạo độc đáo, không lặp lại Tuy nhiên, xét về mặt nội dung, tư tưởng, kết cấu, chất lượng miêu tả,… có thể thấy những hiện tượng lặp đi lặp lại tạo thành các loại nhân vật khác nhau Để nắm bắt được thế giới nhân vật đa dạng, phong phú, có thể phân loại nhân vật ở nhiều góc độ khác nhau

Dựa vào vị trí, vai trò của nhân vật trong tác phẩm: có các loại nhân vật

chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm

Nhân vật chính: là nhân vật giữ vai trò then chốt, xuất hiện nhiều trong tác

phẩm Nhân vật chính là nhân vật xuất hiện nhiều hơn cả trong tác phẩm, đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện tập trung đề tài, chủ đề và tư tưởng của tác phẩm Nhân vật chính thường được khắc họa tương đối đầy đặn trên các mặt ngoại hình, nội tâm, tính cách, quá trình phát triển Đó là những nhân vật như Thuý Kiều (Nguyễn Du), Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu), Chí Phèo (Nam Cao), Quỳ (Nguyễn Minh Châu), Kiên (Bảo Ninh), …

Nhân vật phụ: là nhân vật phụ trợ, có tính chất bổ sung, không thể thiếu

trong tác phẩm Đúng như G.N Pospelov nhận xét đó là “nhân vật giữ chức năng

“dây cót” cho bộ máy cốt truyện vận động” Chẳng hạn “thằng bán tơ” là một

nhân vật rất phụ trong Truyện Kiều Nhưng không có nhân vật này thì sẽ cũng

không có sự kiện “gia biến” dẫn đến các sự kiện “bán mình”, “15 năm lưu lạc” về sau,…

Nhân vật trung tâm: là nhân vật được thể hiện đặc biệt, có ý nghĩa tư tưởng – thẩm

mĩ sâu sắc nhất Nếu nhân vật chính giúp người đọc hiểu được tư tưởng, khát vọng

và suy tư của nhà văn trước cuộc đời thì nhân vật trung tâm đóng vai trò là đầu mối của mọi sự kiện diễn ra trong suốt tác phẩm, nơi quy tụ các mối mâu thuẫn trong tác phẩm, nơi thể hiện các vấn đề trung tâm Đó là các nhân vật như Jean Christophe, EnmaBovary, Prométheus, Lecid, Kiều, Hamlet Các mâu thuẫn, các vấn đề chủ yếu thường được tập trung và bộc lộ ở các nhân vật trung tâm này Cho nên trong nhiều trường hợp người ta lấy tên nhân vật chính có ý nghĩa trung tâm

Trang 18

đặt tên cho tác phẩm như Don Quijote, Othello, A Q chính truyện, Prometheus

bị xiềng, Edip làm vua,

Dựa vào đặc điểm tính cách, việc truyền đạt lý tưởng của nhà văn: nhân vật

văn học được chia thành nhân vật chính diện và nhân vật phản diện

Nhân vật chính diện: (còn gọi là nhân vật tích cực) thường được tác giả đề

cao và khẳng định, đó là nhân vật mang lí tưởng của thời đại; khi nhân vật này có

ý nghĩa mẫu mực cao độ cho lối sống của một tầng lớp, một giai cấp, một dân tộc thì nó được gọi là nhân vật lí tưởng

Nhân vật phản diện: mang sự phê phán, phủ định của tác giả, đó là những

nhân vật mang phẩm chất xấu xa, trái với đạo lý và lý tưởng, đối lập về tính cách

với nhân vật chính diện Trong Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, có thể

nhận thấy hai tuyến nhân vật này, một bên là Lục Vân Tiên, Vương Tử Trực, Hớn Minh, Nguyệt Nga một bên là cha con Võ Thế Loan, Bùi Kiệm, Trịnh Hâm…

Dựa vào thể loại văn học: ta có nhân vật trữ tình, nhân vật tự sự, nhân vật

kịch

Nhân vật tự sự: là nhân vật được miêu tả theo phương thức tự sự, chủ yếu

xuất hiện trong các tác phẩm tự sự như trong tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa, truyện thơ Đây là loại nhân vật có thể được miêu tả đầy đặn nhất, phong phú nhất,

ít bị hạn chế

Nhân vật kịch: là nhân vật được miêu tả theo phương thức kịch, chủ yếu xuất

hiện ở trong kịch Vì kịch viết là để diễn bị hạn chế bởi không gian và thời gian nên nhân vật kịch chỉ được miêu tả ở những khâu xung đột căng thẳng nhất Do đó nhân vật kịch giàu kịch tính, góp phần tạo nên tính kịch của vở kịch Các nhân vật

có tính kịch trong tự sự là loại nhân vật gần gũi với nhân vật kịch

Nhân vật trữ tình: là nhân vật được xây dựng theo phương thức trữ tình, trực

tiếp thể hiện cảm xúc, ý nghĩ trong tác phẩm Nhân vật trữ tình thường xuất hiện dưới dạng phiến đoạn trong nhiều thể loại khác nhau như thơ trữ tình, bút kí, tùy bút nhưng chủ yếu là trong thơ trữ tình

Trang 19

Dựa vào cấu trúc hình tượng: nhân vật được chia thành nhân vật chức năng

(hay mặt nạ), nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng

Nhân vật chức năng: có đặc điểm phẩm chất cố định, không thay đổi từ đầu

đến cuối, không có đời sống nội tâm, sự tồn tại và hoạt động của nó chỉ nhằm thực hiện một số chức năng trong truyện và trong việc phản ánh đời sống Nhân vật đồng nhất với vai trò mà nó đảm nhận trong tác phẩm Trong văn học cổ đại và trung đại, đặc biệt là trong các sáng tác truyền miệng, đó đều là những nhân vật chức năng Ví dụ : Chức năng cho phép màu thử thách và ban phát hạnh phúc như

ông Bụt trong Tấm Cám; anh hùng xuất hiện để giết trăn tinh, yêu quái, phù thuỷ,

cứu người đẹp như Thạch Sanh trong truyện cổ tích cùng tên Trong tuồng cổ, vai trung bao giờ cũng cương trực, thực hiện đạo lý, vai nịnh, phản trắc, gièm pha, hãm hại người tốt Trong văn học phục hưng, nhân vật chức năng thường là nhân vật thực hiện chức năng một chiều, hoặc có bề ngoài không đổi che đậy một cái gì khác ở bên trong

Nhân vật loại hình: là nhân vật thể hiện tập trung một loại phẩm chất, tính

cách nào đó của con người hoặc các phẩm chất, tính cách đạo đức của một loại người nhất định, của một thời đại Ví dụ: Các nhân vật của Molière như Apagon thể hiện tập trung thói keo kiệt, Tartufe thể hiện thói đạo đức giả và ông Juocdan

là hiện thân cho thói phù phiếm, hám danh của gã tư sản muốn làm quý tộc Nhân vật loại hình là loại nhân vật mà ở đó có một nét tính cách được tô đậm trở nên tiêu biểu cho loại người nào đó trong xã hội của những thời đại nhất định Loại nhân vật này dựa trên cơ sở tập trung miêu tả một nét tính cách nổi bật và thường

là nét tính cách trở thành tên gọi của nhân vật Đó là nét “keo kiệt” của Apagon, nét “đạo đức giả” của Tartufe trong hài kịch Molière, nét ”con người bổn phận” trong Horatius hay Simen của P Corneille,…

Nhân vật tính cách: là loại nhân vật có cá tính đầy đặn nhiều mặt, là con

người cụ thể, cá biệt, độc đáo Trong nhân vật tính cách thường có rất nhiều mặt khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Ví dụ, nhân vật Anđrây Bôncônxki của L Tônxôi, vừa có vẻ ngoài kiêu kì, lạnh lùng, tự cao, nhưng bên trong lại là con

Trang 20

người có lòng tự trọng, sống có lí tưởng và rất có trách nhiệm Nhân vật Xcarlét

trong Cuốn theo chiều gió, vừa luôn mang trong mình những bài học chuẩn mực

về cách cư xử mà mẹ cô, một phụ nữ quý tộc cao quý, đã từng dạy dỗ, nhưng bên cạnh đó, Xcarlét lại có tính cách rất thực dụng để có thể tồn tại được qua những giai đoạn khốn khó nhất của cuộc đời Nhân vật tính cách được chú ý nhiều ở mối liên hệ, tương quan giữa các thuộc tính phức tạp có khi rất mâu thuẫn trong tính cách Và đặc biệt sự xung đột giữa những tính cách ấy trong quan hệ với tình huống, môi trường, đã góp phần làm nhân vật luôn phải tự đấu tranh, dằn vặt

Nhân vật Hộ (Đời thừa - Nam Cao) là một dạng như vậy Trong những mối liên

hệ đó ta thấy nổi lên cách ứng xử riêng biệt của nhân vật, bộc lộ những mâu thuẫn xung đột, chuyển biến của tính cách Như vậy, nhân vật tính cách thường hiện ra như một quá trình, có biến động, thay đổi một cách sinh động, biện chứng giống

như những con người hiện thực Nhân vật Chí Phèo (Chí Phèo), chị Dậu (Tắt

đèn), chị Đào (Mùa lạc), Pie Bêdukhôp (Chiến tranh và hòa bình), bà Bôvari (Bà Bôvari) là những nhân vật tính cách

Nhân vật tư tưởng: là loại nhân vật tập trung thể hiện một ý thức, một tư

tưởng nào đó mà theo tác giả loại ý thức, tư tưởng ấy rất đáng chú ý trong đời sống xã hội Giăng Vangiăng là nhân vật tư tưởng nhân đạo, thể hiện lòng yêu thương con người vô bờ bến, thậm chí thương và tha thứ cho kẻ thù của mình Giave là con người của tư tưởng phụng sự pháp luật Nhà nước Nhân vật người

điên trong Nhật kí người điên của Lỗ Tấn thể hiện tư tưởng lên án lễ giáo phong kiến, cái lễ giáo nhân nghĩa ăn thịt người của xã hội trung cổ Nhân vật Độ (Đôi

mắt) là thể hiện quan niệm về lối sống, cái nhìn, trách nhiệm của hai kiểu nhà văn

Nhân vật hoạ sĩ trong Bức tranh của Nguyễn Minh Châu cũng là nhân vật tư

tưởng khẳng định một phẩm chất phải có của nhân cách: đó là sự tự biết xấu hổ, biết sám hối, biết tự phán xét mình Nhân vật tư tưởng còn là loại nhân vật giữ

chức năng bộc lộ một tư tưởng, một quan niệm nào đó Trong Lục Vân Tiên, ông

Quán cũng là loại nhân vật tư tưởng, khi phát ngôn cho tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu

Trang 21

Để xây dựng thành công một nhân vật văn học, nhà văn phải có khả năng đồng cảm phát hiện những đặc điểm bền vững ở nhân vật Điều này đòi hỏi nhà văn phải hiểu đời, hiểu người Nhưng có một điều kiện không kém phần quan trọng là nhà văn phải miêu tả, khắc hoạ nhân vật ấy sao cho có sức thuyết phục mạnh mẽ tới người đọc Đây là vấn đề liên quan trực tiếp đến những biện pháp xây dựng nhân vật trong tác phẩm văn học Có nhiều biện pháp khác nhau xây dựng nhân vật: sử dụng các chi tiết, miêu tả ngoại hình, miêu tả hành động, biểu hiện nội tâm, biểu hiện ngôn ngữ, …

Truyện ngắn có thể có cốt truyện hoặc không có cốt truyện nhưng nhất thiết không thể không có chi tiết, ngoại hình, hành động, nội tâm, ngôn ngữ của nhân vật Chính nhờ vai trò quan trọng của yếu tố đó mà không khí, cảnh trí, tình huống, tính cách, hành động, tâm tư, số phận của nhân vật được bộc lộ đầy đủ Cũng chính nhờ vai trò dẫn dắt câu chuyện của chi tiết, ngoại hình, hành động, nội tâm, ngôn ngữ

mà truyện ngắn trở nên hấp dẫn độc giả, đồng thời cũng giúp người đọc hiểu được chủ đề, tư tưởng nghệ thuật tác phẩm

Nói tóm lại, nhân vật văn học là một yếu tố không thể thiếu trong tác phẩm văn học, nó là một chỉnh thể vận động, có tính cách được bộc lộ dần trong không gian, thời gian, mang tính chất quá trình Đọc tác phẩm văn học, người đọc có thể hình dung ra được các nhân vật như đang hoạt động, đang hiện diện Mỗi nhà văn

có thể đóng góp vào văn đàn bằng một loại hình nhân vật riêng, có thể ở ngoài ý muốn của tác giả, để mỗi khi nhớ về nhân vật ấy người ta lại thấy thấp thoáng bóng dáng nhà văn

1.1.2 Khái lược về nhân vật trong truyện ngắn

Truyện ngắn là thể loại gần gũi với đời sống hằng ngày, súc tích, dễ đọc, lại thường gắn liền với hoạt động báo chí, do đó có tác dụng, ảnh hưởng kịp thời trong đời sống Truyện ngắn đã hàm chứa cái thú vị của những điều sâu sắc trong một hình thức nhỏ, gọn và đầy truyền cảm, truyền dẫn cực nhanh những thông tin Chính vì thế, truyện ngắn đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đối với độc giả

Trang 22

Truyện ngắn có nhiều khả năng trong việc thể hiện quan niệm về con người

Do dung lượng nhỏ, nắm bắt những nét bản chất nhất của cuộc sống, truyện ngắn

có khả năng chuyển tải những vấn đề của thời đại, con người, một cách chính xác nhạy bén Cũng chính điều này đã khiến truyện ngắn trở thành thể loại cho phép nhà văn thử nghiệm và triển khai những khía cạnh mới mẻ, linh hoạt trong quan niệm nghệ thuật về con người Những day dứt của kiếp người nhiều khi lại thể hiện trong một anh kéo xe, trong một con điếm muốn tìm một khách làng chơi trong những

phút giây cuối cùng của một năm (Ngựa người, người ngựa - Nguyễn Công Hoan);

những ám ảnh về cuộc sống tù đọng nhiều khi không phải chỉ thể hiện ở những trí

thức, mà nó trở thành nhức nhối trong những kiếp người bé nhỏ (Hai đứa trẻ -

Thạch Lam) Truyện ngắn đề cập đến nhiều loại người trong xã hội, gắn với mỗi loại người, ấy là một vấn đề cần trăn trở, cần lưu tâm của cuộc sống nhân sinh Anh trí thức có những vấn đề của anh trí thức; người nông dân có những vấn đề của người nông dân, kẻ lang thang có những vấn đề của kẻ lang thang

Truyện ngắn thường chớp lấy những khoảnh khắc của kiếp người, lại có thể chú trọng đến nhiều loại người, cho nên, những vấn đề thời sự, nổi cộm nhất của cuộc sống được nó nắm bắt một cách nhanh chóng, nhạy bén Sự nhanh chóng nhạy bén này không chỉ thể hiện ở việc nắm bắt vấn đề, mà chỉ tính riêng đến thời gian

để ra đời một truyện ngắn cũng có thể nói lên điều đó Nhà tiểu thuyết phát hiện ra một vấn đề, nhưng để viết được một tiểu thuyết có dung lượng vừa phải, ít nhất nghệ sĩ phải mất một năm Những vấn đề nóng hổi của thời đại, những cách nhìn nhận mới về con người loé lên trong đầu nhà văn, có thể nói, thời gian để quan niệm

ấy hoá thân thành thế giới nghệ thuật sẽ không cần nhiều như tiểu thuyết Đây là một đặc điểm cơ bản của thể loại cỡ nhỏ này Cùng thể hiện quan niệm con người khó mà hoà hợp được khi bước từ thời chiến vào thời bình, Bảo Ninh đã sử dụng

đến dung lượng hàng trăm trang trong tiểu thuyết Thân phận tình yêu, còn Nguyễn

Huy Thiệp chỉ cần dùng một truyện ngắn với dung lượng vài chục trang mà cũng

không kém phần ấn tượng (Tướng về hưu) Vì thế, truyện ngắn không chỉ nắm bắt

một cách nhanh nhạy, mà còn thể hiện một cách ấn tượng và linh hoạt những khía

Trang 23

cạnh trong quan niệm nghệ thuật về con người Không chỉ tạo điều kiện cho nhà văn thể nghiệm và triển khai những khía cạnh mới mẻ, linh hoạt trong quan niệm nghệ thuật về con người, truyện ngắn còn tạo điều kiện khai thác khả năng đồng sáng tạo của độc giả Đặt con người vào trong “tổng hoà các mối quan hệ xã hội”, bên cạnh ý thức, nhân vật còn hiện diện cả phần nội tâm, tiềm thức và vô thức, các tác giả truyện ngắn đã khêu gợi ở người đọc cách lý giải, nhìn nhận con người Truyện ngắn thường nêu ra các vấn đề của nhân sinh để người đọc tự suy ngẫm, lí giải theo quan niệm của riêng mình Phương thức tồn tại đầy đủ nhất của tác phẩm văn học chính là tồn tại trong chủ quan tác giả, trong văn bản và trong sự tiếp nhận của độc giả Khai thác sự đồng sáng tạo từ phía người tiếp nhận không chỉ tạo nên tính dân chủ trong tiếp nhận mà còn tăng sức nặng của những vấn đề được đặt ra Những vấn đề nhà văn chỉ nêu lên sẽ lớn dần trong sự tiếp nhận Người đọc không đơn giản là người tiếp nhận một cách thụ động mà còn là người tích cực chủ động tham gia cùng nhà văn vào việc nhìn nhận về con người, bổ sung những quan niệm của mình Chính vì thế hình tượng nghệ thuật nói chung và quan niệm nghệ thuật về con người nói riêng trong truyện ngắn trở nên phong phú và sâu sắc hơn Vấn đề đặt ra đối với sáng tác văn học nói chung không đơn giản là chuyện nhà văn viết cái gì, mà là chuyện nhà văn đã gợi lên được điều gì trong lòng độc giả sau khi đọc xong truyện đó Vậy nên, truyện ngắn đã làm được điều này nhờ sức gợi của mình Để tạo nên sức gợi, bên cạnh việc lựa chọn cách trần thuật, tác giả truyện ngắn cũng rất chú trọng đến lựa chọn những sự kiện, chi tiết thể hiện các khả năng

có thể có của cuộc đời con người Những số phận, những con người, những sự kiện phức tạp tự nó đã cho phép nhiều cách hiểu khác nhau

Truyện ngắn thường sử dụng cách trần thuật đầy ẩn ý, thường sử dụng các biểu tượng đa nghĩa Chính điều này đã tạo nên tính hàm súc, cô đọng, chất thơ của thể loại, đồng thời phát huy khả năng đồng sáng tạo của độc giả trong việc đưa ra những quan niệm về con người, về cuộc sống nhân sinh Người đọc sẽ luôn trăn trở

về cách nhìn nhận con người cùng Nam Cao khi đọc Lão Hạc, Chí Phèo, Tư cách

mõ ; sẽ luôn bị ám ảnh, và cùng Nguyễn Huy Thiệp suy nghĩ về con người khi đọc

Trang 24

những truyện ngắn của ông như: Sang sông, Tướng về hưu, Không có vua Nếu

đem so sánh một tác phẩm với một tác phẩm thì rõ ràng, khả năng phản ánh hiện thực đời sống, khả năng thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của truyện ngắn không thể bằng tiểu thuyết Nhưng xét trên phương diện thể loại (bao gồm nhiều tác phẩm) thì truyện ngắn không hề thua kém tiểu thuyết trong lĩnh vực này Như ta biết, mỗi truyện ngắn thường chỉ thể hiện một quan niệm nghệ thuật về con

người; chẳng hạn, truyện Sang sông của Nguyễn Huy Thiệp yêu cầu chúng ta phải

có cái nhìn khác về con người hiện nay, nhiều khi phải “đập tan bình cổ” để tiến

đến một tương lai tươi sáng hơn, truyện Bức tranh của Nguyễn Minh Châu lại cho thấy bên trong con người luôn có cả rắn rết lẫn rồng phượng; truyện Hoá thân của

F Kafka lại cho thấy sự bất lực của con người trong cuộc sống hiện tại Như vậy, nhiều tác phẩm gộp lại, ta lại thấy truyện ngắn có khả năng thể hiện một cách khá toàn diện những cách nhìn nhận về con người Cho nên, xét trên bình diện thể loại, khả năng thể hiện phong phú, đa dạng quan niệm nghệ thuật về con người của truyện ngắn là một thực tế

Truyện ngắn thường “chớp lấy cái thần thái” của nhân vật, ẩn sau mỗi sự kiện, chi tiết, nhân vật của truyện ngắn, bao giờ cũng là những ý tưởng hết sức sâu sắc Người đọc có cảm giác như người viết truyện ngắn có sẵn trong đầu những quan niệm (tất nhiên, những quan niệm này cũng được rút ra từ sự quan sát thực tế), rồi tìm những cảnh đời phù hợp với quan niệm ấy Đọc truyện ngắn, người đọc phải đi ngược lại tiến trình sáng tạo để tìm đến những quan niệm sâu sắc được nhà văn gửi gắm kín đáo Nhiều triết lí được đưa ra trong truyện ngắn (nhất là truyện rất ngắn),

ta có cảm giác như nó gần gũi với những bài học được rút ra từ truyện ngụ ngôn

Chẳng hạn truyện Bé yêu của L Corxinxki (Nga), truyện Lời nói tình yêu của B Laxkin, Sự biến hoá kì diệu của R Kazkova Nhà văn càng ít miêu tả, thuyết

minh cụ thể, chi tiết, thì sức khái quát càng cao Ở một mức độ nào đó, truyện ngắn gần với thơ trữ tình Đó chính là tính cô đúc, hàm súc, nói ít gợi nhiều Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ và truyện ngắn đều đạt tính khái quát xã hội cao nhưng truyện ngắn và thơ trữ tình vẫn có những nét riêng trong những khái quát về

Trang 25

con người Có thể nói truyện ngắn là thể loại tạo điều kiện để người sáng tác không ngừng vươn tới giới hạn tối đa trong cách hiểu con người

Nội dung thể loại của truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn gọn Bởi truyện ngắn được viết ra để đọc liền một mạch Tuy nhiên, truyện ngắn cũng có không ít những giới hạn trong việc thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người Trước hết,

do phải đảm bảo dung lượng “ngắn”, thể loại này chỉ có thể “nêu” lên những quan niệm nghệ thuật về con người Tức là truyện ngắn, không cho phép lí giải, phân tích, chứng minh, triển khai một cách dài hơi những quan niệm được nhà văn đưa

ra Với một quan niệm nghệ thuật về con người, nhà văn chỉ được phép thể hiện nó trong số lượng chi tiết, nhân vật, sự kiện hết sức hạn chế

Truyện ngắn là hình thức tự sự ngắn gọn nên nhân vật của truyện ngắn cũng chịu sự chi phối của đặc điểm này Nhân vật của truyện ngắn cũng là nhân vật tự sự nhưng có những điểm khác so với nhân vật tự sự của tiểu thuyết Các tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người chứ không nhằm tới việc khắc hoạ những tính cách điển hình, có cá tính đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh như ở tiểu thuyết Nhân vật trong truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người chứ không phải là toàn bộ tồn tại của con người trong mối quan hệ đối với xã hội Tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, một nét tính chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người - nhân vật tâm trạng Nhân vật trong truyện ngắn được tác giả đặc tả qua những chi tiết tiêu biểu, sáng nhất và đắt nhất Chi tiết còn cần để khắc họa ngoại hình và miêu tả hành động nhân vật Trong mỗi giai đoạn lịch sử, những khả năng của truyện ngắn được phát huy

và những hạn chế được khắc phục ở mức độ khác nhau, gắn với những quan niệm nghệ thuật khác nhau về con người Sau 1986, trong giai đoạn mới, truyện ngắn đã phát huy được khả năng tiếp cận và phản ánh hiện thực con người một cách nhanh nhạy và sắc bén Với đặc trưng cơ bản của thể loại, truyện ngắn đã tạo cơ sở cho sự

Trang 26

biểu hiện những thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người Có thể nói chưa bao giờ trong văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng, con người lại được khai thác ở nhiều chiều kích và bình diện đến vậy

Tiếp cận với thế giới nhân vật trong các sáng tác, người đọc như được tiếp xúc với những con người có thực ở ngoài đời, cũng sinh động, phong phú và không kém phần phức tạp Với ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, truyện ngắn góp phần làm cân bằng hài hoà trở lại cách nhìn nhận con người có chiều sâu và toàn diện hơn

1.2 Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976, quê ở xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Sinh ra trong một gia đình nghèo, điều kiện gia đình lại khó khăn nên Nguyễn Ngọc Tư chỉ học hết 9 rồi dừng lại Tưởng như đây sẽ là trở ngại của Nguyễn Ngọc Tư đến với nghề cầm bút, nhưng với sự động viên của người cha, Nguyễn Ngọc Tư đã viết những gì mà mình nghĩ, viết những gì mà cô đã trải qua

Sau ba truyện ngắn được đăng trên Tạp chí văn nghệ Cà Mau, Nguyễn Ngọc Tư đã

được nhận làm văn thư và học làm phóng viên báo tại đây Chị lập gia đình với một người là thợ kim hoàn và đến nay đã có hai bé trai Trong cuộc sống đời thường, Nguyễn Ngọc Tư là một người phụ nữ chân chất, hồn nhiên, thích cuộc sống giản đơn nhưng nội tâm phức tạp Trong văn chương, chị ví truyện của mình như trái sầu riêng – nhiều người thích nhưng cũng không ít người dị ứng Hiện tại, chị là một trong những Hội viên Hội Nhà văn trẻ tuổi gây được nhiều chú ý nhất ở Việt Nam

Với tác phẩm đầu tay là tập kí sự Nỗi niềm sau cơn bão, chị đã chính thức

bước vào nghề văn với giải ba báo chí toàn quốc năm 1997 Từ đó độc giả bắt đầu biết đến tên tuổi của Nguyễn Ngọc Tư qua các tác phẩm đã được xuất bản như:

- Ngọn đèn không tắt (Tập truyện, Nxb Trẻ 2000)

- Ông ngoại (Tập truyện thiếu nhi, Nxb Trẻ 2001)

- Biển người mênh mông (Tập truyện, Nxb Kim Đồng 2003)

- Giao thừa (Tập truyện, Nxb Trẻ 2005)

- Nước chảy mây trôi (Tập truyện và kí, Nxb Văn nghệ TP.HCM, 2004)

Trang 27

- Đau gì như thể (truyện ngắn - Giải ba cuộc thi truyện ngắn của báo Văn

nghệ năm 2004-2005)

- Sống chậm thời @ (tản văn, 2006) - đồng tác giả với Lê Thiếu Nhơn)

- Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (tập truyện ngắn, 2005)

- Cánh đồng bất tận (tập truyện ngắn, 2005)

- Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (tạp bút, 2005)

- Sầu trên đỉnh Puvan (2007)

- Ngày mai của những ngày mai (tạp bút, 2007)

- Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (tập truyện ngắn, 2008)

- Biển của mỗi người (tạp bút, 2008)

- Yêu người ngóng núi (tản văn, 2009)

- Khói trời lộng lẫy (tập truyện ngắn, 2010)

- Gáy người thì lạnh (tản văn, 2012)

- Bánh trái mùa xưa (tản văn, 2012)

- Sông (tiểu thuyết, 2012)

- Chấm (thơ, 2013)

- Đảo (tập truyện ngắn, 2014)

- Trầm tích (tập truyện ngắn, 2014), ra chung với Huệ Minh, Lê Thuý Bảo

Nhi, Thi Nguyễn

- Đong tấm lòng (gồm hơn 30 tản văn, Nxb Trẻ, 2015)

Cùng với số lượng tác phẩm lớn thì số lượng giải thưởng dành cho Nguyễn Ngọc

Tư cũng khá nhiều :

- Chị từng đạt giải Nhất cuộc vận động sáng tác “Văn học tuổi 20 lần thứ II”

do nhà xuất bản Trẻ, Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh, báo Tuổi Trẻ tổ chức

năm 2000 với tập truyện Ngọn đèn không tắt

- Giải thưởng văn học của Hội nhà văn Việt Nam năm 2001 cùng với tập

truyện ngắn Ngọn đèn không tắt Tập sách này đã được chọn in lại trong Tủ sách

vàng của Nhà xuất bản Kim Đồng năm 2003

Trang 28

- Nguyễn Ngọc Tư đạt giải Ba cuộc thi sáng tác truyện ngắn 2003 - 2004

của báo Văn nghệ với truyện ngắn Đau gì như thể…

- Là một trong “Mười gương mặt trẻ tiêu biểu năm 2003” do Trung ương Đoàn trao tặng

- Giải thưởng văn học ASEAN năm 2008…

- Chị cũng là tác giả trẻ nhất có tên trong tuyển tập truyện ngắn Việt Nam được dịch và in ở Mĩ, do đó chị đã vinh dự được chọn lên hình của chương trình

Người đương thời năm 2005 Nhiều truyện ngắn của chị được dịch ra tiếng Anh,

tiếng Nhật để giới thiệu với độc giả ở nước ngoài

Với một loạt những thành công liên tiếp như vậy, cho thấy, Nguyễn Ngọc Tư

là một trong những nhà văn trẻ đang ngày càng khẳng định được tài năng và vị trí của mình trên văn đàn Việt Nam Chị đã chứng tỏ mình là một người miệt mài lao động, miệt mài sống và tích luỹ vốn sống để nuôi dưỡng cảm hứng và năng lực sáng tác

1.2.1 Hành trình sáng tác

Xuất hiện trên văn đàn một cách đầy ấn tượng với hương vị mặn mòi của ruộng đồng Nam Bộ, các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư không chỉ mang đến cho văn học Việt Nam một hơi thở mới nồng nàn đậm chất thôn quê của vùng đồng bằng sông nước mà còn thể hiện những mảng hiện thực của đời sống, với đầy va chạm, ngột ngạt

Truyện ngắn đầu tay Ngọn đèn không tắt nổi bật sự nhân hậu, hồn hậu, và đây

là đặc điểm xuyên suốt trong văn của Nguyễn Ngọc Tư

Năm 2003, Nguyễn Ngọc Tư cho xuất bản tập truyện Giao thừa với 17 truyện ngắn, thể hiện ngòi bút già dặn hơn Đến các tập Biển người mênh mông, Nước

chảy mây trôi, các trang văn của Ngọc Tư thường viết về những câu chuyện nhỏ

nhẹ, man mác buồn Những câu chuyện được kể thật giản dị, tự nhiên, không cường điệu, chân thành về cuộc đời, thân phận, nhỏ hơn nữa là niềm vui, nỗi buồn, ước mong… của những con người nhỏ bé, thân thuộc đang vất vả mưu sinh giữa cuộc đời thường

Trang 29

Năm 2005, chị tạo ra bước đột phá mới theo một phong cách khác lạ so với

giai đoạn trước đó là cho ra đời tập truyện Cánh đồng bất tận gồm 13 truyện ngắn

xuất sắc, trong đó độc đáo nhất, gây xôn xao dư luận nhiều nhất là truyện được đặt

tên cho cả tập - Cánh đồng bất tận Tác phẩm như một điểm mốc đánh dấu sự thay

đổi trong cách viết của nhà văn Chị đã đi đến tận cùng những thể nghiệm trong bút pháp của mình: loại bỏ tầm quan trọng của sự kiện để đào sâu vào tâm lý và cảm xúc, đặt nhân vật vào trong những bối cảnh có tính tương phản cao Nguyễn Ngọc

Tư đã để cho nhân vật cảm nhận chất thơ của cuộc sống nhọc nhằn, cơ cực, trong sự

ấm cúng của một triền sông nước, giữa cuộc sống bộn bề hôm nay Truyện ngắn

Cánh đồng bất tận đã được đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình chuyển thể thành

một bộ phim điện ảnh cùng tên và gặt hái được nhiều thành công rực rỡ Khác với

các truyện ngắn viết trước đó, ở tập truyện Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư đã

khéo léo linh hoạt tìm ra những phương thức thích hợp nhất để thể hiện sắc nét dòng tâm trạng, cảm xúc, những suy tư, trăn trở trong nội tâm của từng nhân vật Qua đó, việc đi sâu khám phá nội tâm của các nhân vật đã giúp Nguyễn Ngọc Tư nhắn nhủ tới người đọc cần có một cái nhìn sâu sắc hơn trong cuộc sống này

Trong năm 2005 - 2006, nền văn học nước nhà có nhiều bước chuyển biến, đặc biệt thể loại truyện ngắn Những tác phẩm truyện ngắn của chị đã mang đến một

sự khác biệt, mới lạ cho văn xuôi đương đại Nguyễn Ngọc Tư đi sâu hơn vào việc khai thác những mảng hiện thực đang bày ra trước mắt, với đầy va chạm, bụi bặm

và ngột ngạt của cuộc sống đời thường Ở những tác phẩm này, chị vẫn chủ yếu viết

về những con người nông dân chất phác, sống cảnh đời nghèo khó, đơn côi, những

mối tình buồn thương, day dứt khôn nguôi trong: Cuối mùa nhan sắc, Hiu hiu gió

bấc, Mối tình năm cũ, Thương quá rau răm…

Tháng 9/2008, Nguyễn Ngọc Tư cho ra đời tập truyện ngắn tiếp theo Gió lẻ và

9 câu chuyện khác với lối viết quen thuộc, trở lại với cái nhìn đau đáu, xót xa về

thân phận con người, và trở lại với sự hóa thân tài tình vào các nhân vật Trong tập truyện này, tác giả đã hóa thân vào rất nhiều vai với nhiều tâm trạng khác nhau…

Từ cảm giác của một ông bố luôn thấy thua kém đứa con gái của mình, nỗi lòng của

Trang 30

một vị giáo sư già nua khi được một cô sinh viên đeo đuổi, sự day dứt của một người mẹ đi ngoại tình không thể về để che chở cho các con khi trời mưa bão, đến nỗi đau của một cô gái vì chứng kiến quá nhiều bi kịch đến nỗi không còn nói được tiếng người Từ một đứa trẻ đến một người già, từ một tâm hồn ngây thơ trong sáng nhất đến một đầu óc lạnh lùng tàn nhẫn nhất

Năm 2010, Nguyễn Ngọc Tư trở lại với bạn đọc văn học nước nhà với mong muốn mang đến một sự khác lạ, một cái mới, hay cụ thể hơn là một tác phẩm để chị

vượt qua cái bóng của Cánh đồng bất tận Chị đã dành hết tâm huyết và bút lực để

vẽ nên chân dung người phụ nữ miền Tây Nam Bộ trong Khói trời lộng lẫy gồm 10

câu chuyện nhỏ Tập truyện vẫn chất giọng mộc mạc, dung dị của con người miền Tây sông nước, viết về đề tài quen thuộc đậm chất Nguyễn Ngọc Tư: thân phận con người, nhiều nhất là về những người đàn bà Mỗi truyện là một câu chuyện về những cuộc đời khác nhau, những bi kịch khác nhau nhưng đều đồng điệu ở những thân phận con người đầy dang dở, mất mát và mặc cảm Chị viết về những cảnh đời

cụ thể, những thân phận cụ thể, trong một góc nhỏ bé cụ thể, nhưng những cái tưởng như nhỏ hẹp ấy lại mở ra một thế giới mới đầy chiều sâu và mênh mang cảm xúc tình người Ở đấy, người ta bắt gặp cái nồng ấm thủy chung của tình làng nghĩa xóm, tình vợ chồng, tình cha con, tình nghĩa của những thân phận người dưng trôi dạt về bên nhau bởi sự đẩy đưa của cuộc đời Không chỉ dừng lại ở đó, Nguyễn Ngọc Tư còn kể cho người đọc nghe những mất mát, những tai họa đang lớn dần lên trong cuộc sống hàng ngày: tình trạng “nước đuổi”, tình trạng tàn phá thiên nhiên, sự lộng hành của cái ác, tâm lý trả thù và những nỗ lực gần như tuyệt vọng

để cứu vãn cái đẹp và những giá trị bình an Một lần nữa, với bút pháp tả thực kết hợp thủ pháp tượng trưng, với cái “tâm” nhạy cảm đầy day dứt trước những vấn nạn của xã hội đương thời, Nguyễn Ngọc Tư ngày càng đi được những bước vững chắc

hơn trong sự nghiệp của mình Những truyện ngắn trong Khói trời lộng lẫy vẫn thể

hiện một Nguyễn Ngọc Tư chân chất, với những từ ngữ mộc mạc nhưng đầy thấm thía và khiến người ta phải suy nghĩ rất nhiều Trước đây, sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư thường là những trăn trở về vấn đề nông dân-nông thôn thì với tập truyện

Trang 31

này, nhà văn đã phản ánh đa diện những mặt trái của xã hội đương thời Đó là xã hội mà tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn tồn tại gây nên những hệ lụy nhói lòng Trong tập truyện, Nguyễn Ngọc Tư đã miêu tả sống động nỗi bất hạnh của những nạn nhân trước cái tư tưởng lạc hậu này

Năm 2012, Nguyễn Ngọc Tư cho ra đời tiểu thuyết đầu tay mang nhan đề

Sông Tác phẩm được coi như là bước thể nghiệm của chị ở thể loại mới để vượt

qua “giới hạn của bản thân” đi đào sâu, tìm tòi, “khơi những nguồn chưa ai khơi và

sáng tạo những cái gì chưa có” Sông là sự đổi mới toàn diện của Nguyễn Ngọc Tư

Bởi, nó đã phản ánh được hơi thở của cuộc sống Tác phẩm đề cập khá đầy đủ nhiều mảng đề tài xã hội được dư luận nhắc đến hàng ngày như đồng tính, bi kịch gia đình, ngược đãi trẻ em, tôn giáo, tệ nạn xã hội (ma túy, buôn lậu, dân đào vàng, lâm tặc, mãi dâm, dân giang hồ xử nhau…), suy đồi đạo đức, ô nhiễm môi trường, lũ lụt, lạm phát, lễ hội và tượng đài, báo mạng lá cải… đến những vấn đề chính trị nhạy cảm cũng thấp thoáng như tranh chấp quyền lực, hòa hợp dân tộc, chủ quyền biển đảo, quan hệ quốc tế… và tất nhiên là phải kể đến yếu tố sex

Sông là câu chuyện của một lớp người trẻ hiện đại đi tìm cội nguồn và ý

nghĩa tồn tại của mình ngay trên chính quê hương mình Tác giả để cho từng nhân vật trôi đi trong một thực tại đầy hư ảo của kiếp người với ám ảnh “tồn tại hay không tồn tại, đó mới là vấn đề” Mỗi người đều có những thôi thúc sâu xa mà chính họ cũng không biết chính xác nó là gì Nỗi thất vọng với người tình đồng tính

là cái cớ để nhân vật Ân làm một cuộc soi lại chính mình Hành trình đi ngược sông

Di của Ân cũng là hành trình đào xới lại tâm thức, lật lại từng kỷ niệm, những “tình tiết” trong đời Người cha chưa bao giờ là cha theo mọi nghĩa, kể cả điều sâu xa nhất là cảm giác huyết thống với con người ấy Ân cũng không hề có Với mẹ, Ân là nơi để trút những kỳ vọng, yêu thương, là chiếc gương mà bà cần để ngày ngày soi ngắm bản thân, chứ không phải như là chính con người cậu Cuộc sống của sông là

sự chảy trôi, cũng như đời người, rốt cuộc tìm đến bản chất tận cùng ta chỉ thấy sự

vô thường Những dòng sông bị lấp nhưng dòng chảy vẫn miệt mài ở dưới tầng sâu dần bào mòn lòng đất, cho đến một thời điểm nào đó bật dậy thành những cuộc lở

Trang 32

sông kinh hoàng Và bản chất con người cũng vậy Sự vặn xoắn trong tâm thức con người đi ngược với bản chất tự nhiên, chối bỏ nó hoặc che đậy nó, để có thể sống yên ổn trong cái gọi là xã hội con người đều là cội nguồn bi kịch Với ý nghĩa đó,

Sông không hề nhẹ nhàng nhưng nó lại như đang ẩn náu trong cái thời đại này

Gần đây, chị cho xuất bản tập truyện ngắn Đảo (2014) gồm 17 truyện, trong

đó phần lớn là những truyện khá ngắn, khoảng trên dưới 2.000 chữ, thậm chí có truyện chỉ trên dưới 1.000 chữ Điểm khác biệt so với những truyện ngắn và truyện

vừa trước đây, đặc biệt là truyện vừa Cánh đồng bất tận, ở tập truyện này số chữ ít

đến mức không thể ít hơn được nữa, nhưng dường như tiếng vọng của hồn cốt câu

chuyện lại dài rộng ra trông thấy Đảo của chị là những cuộc đi, mà cũng là những

cuộc trở về trong chính tâm hồn của nhân vật Có gì đó xáo xác trong những giấc

mơ muốn tự mở cánh cửa cho cuộc đời mình nhưng lại không có cách nào thoát ra được vòng tròn mà người đời vẫn gọi là “số phận” Con người vùng vẫy, khao khát, kiếm tìm để rồi tuyệt vọng, chỉ còn lại những cuộc rời đi trong những lựa chọn

muốn tan biến Lúc thấy họ “đi vào khe của những cuốn sách, náu mình trong thứ

bóng tối trong veo” ở thư viện (Biến mất ở thư viện); lúc rẽ nước đi đâu đó xuống

lòng sông, nằm lại giữa đám cháy để được nhìn thấy, để được yêu thương…

Đâu đó trong tro tàn của những điều rạn vỡ là những trái tim thao thức khát vọng hạnh phúc, tận tụy và thủy chung; là những con người đi tìm con đường đúng nghĩa cho cuộc đời mình nhưng vẫn cứ mãi luẩn quẩn trong những khoảng sáng tối không

lối thoát Đảo bắt đầu từ nội tâm và kết thúc bằng nội tâm của nhân vật song con

đường đó cũng dài vô tận trong cuộc đấu tranh, chịu đựng, khao khát và bản ngã

của mỗi người Đảo thực ra chính là hành trình khám phá nội tại bản thân của các

nhân vật để rồi người đọc dễ dàng nhận thấy một phần chính mình trong đó, trong cuộc hành trình trôi dạt đời người đó

Truyện của Ngọc Tư luôn buồn Chị từng nói niềm vui thì nhiều nhưng lại không khiến người ta day dứt Trong bài diễn từ của mình khi nhận Giải thưởng

Văn học Đông Nam Á, Nguyễn Ngọc Tư chia sẻ: “Tôi hay nghĩ về sức mạnh của

những giọt nước mắt Chúng trong trẻo, giản dị nhưng lại gây rung cảm sâu sắc

Trang 33

Những tối trên bản tin truyền hình, tôi nhìn thấy một em bé hay một phụ nữ ở xứ sở

xa xôi nào đó đang khóc, vì chiến tranh vì bạo lực hay vì thiên tai…và những giọt nước mắt lay động bất cứ ai nhìn thấy chúng, bất chấp biên giới, màu da, thể chế chính trị, ngôn ngữ hay những cách biệt văn hóa khác Tôi nghĩ nếu vẽ một biểu tượng của nghề viết mà tôi đang đeo đuổi tôi sẽ vẽ hình ảnh của giọt nước mắt hay gần giống như thế, bởi văn học vẫn còn những rào cản ngôn ngữ Khi viết về thân phận, nỗi đau, sự bối rối thường trực của con người trước những biến cố của cuộc đời, tôi luôn ao ước những trang viết của mình có được sự rung cảm như những giọt nước mắt” Vì thế, mà những giọt nước mắt xuất hiện trong truyện ngắn của

Nguyễn Ngọc Tư ngày càng trĩu nặng

Văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư như thâm nhập được sâu vào thế giới bên trong, soi chiếu những góc khuất tâm hồn con người Từ đó làm cho thế giới nhân vật, cốt truyện mang màu sắc lãng mạn, huyền ảo Không những vậy nó còn tạo không gian

đa chiều, lung linh trên từng trang viết Tạo thành thế giới biểu tượng trong tác phẩm, đấy chính là một trong những yếu tố làm nên sự thành công của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư Mỗi tác phẩm là một hồi chuông rung lên cảnh tỉnh con người hiện đại hãy biết sống yêu thương, chia sẻ với nhau, bởi lẽ chỉ có tình yêu thương thực sự từ trái tim mới giúp con người thoát khỏi bi kịch cuộc đời Đó là tiếng chuông thức tỉnh mỗi con người tự nhìn nhận lại chính bản thân mình, để trở về nguồn nhân ái giữa một thế giới lây lan, sự vô cảm, phân ly Vì vậy, chúng ta thấy trên trang viết của chị là những điều bức xúc, những nỗi đớn đau và cả những nụ cười quê mùa, e thẹn, những giọt nước mắt ngân ngấn rưng rưng nhưng trong cái sầu ấy, chúng ta vẫn nhận thấy một niềm tin, một ánh sáng bền bỉ, dai dẳng trong từng trang viết của chị

Ra đời muộn hơn, có khi luân phiên giữa các tập truyện là những kí, tạp văn,

tản văn của Nguyễn Ngọc Tư được in thành các tập: Nước chảy mây trôi (tập truyện ngắn và kí) NXB Văn nghệ TP.Hồ Chí Minh, 2004; Sống chậm thời @ (tản văn, 2006) - đồng tác giả với Lê Thiếu Nhơn); Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (tạp bút, 2005); Ngày mai của những ngày mai (tạp bút, 2007); Biển của mỗi người (tạp

Trang 34

bút, 2008), Yêu người ngóng núi (tản văn, 2009); Gáy người thì lạnh (tản văn, 2012), Bánh trái mùa xưa (tản văn, 2012), Đong tấm lòng (gồm hơn 30 tản văn,

NXB Trẻ, 2015) Tản văn của Nguyễn Ngọc Tư đã góp phần đáng kể trong việc dựng lên một bức tranh cuộc sống sinh động, bộn bề những điều phải suy tư, trăn trở Phát huy đặc trưng riêng của thể loại tản văn, Nguyễn Ngọc Tư đã phản ánh rất chân thực và đầy cảm xúc diện mạo của quê hương Đất Mũi thương yêu từ cảnh sắc, sản vật, con người đến phong tục tập quán và cả những vấn đề bức sốt, thiết thực về kinh tế chính trị ở nông thôn nơi đây Không chỉ bao quát nhiều đề tài, nhà văn đi sâu khai thác vẻ đẹp đặc trưng của xứ sở, tái hiện những nét đẹp văn hoá nông thôn thuần hậu Những trang viết của chị thể hiện sự gắn bó tha thiết, sự hoà điệu nhịp nhàng giữa một tâm hồn chất phác, dung dị với nếp quê hồn hậu, mộc mạc; khơi gợi nhiều tình cảm đáng quý nơi người đọc về quê hương xứ sở Ngoài

ra, tản văn Nguyễn Ngọc Tư còn cho thấy một tấm lòng luôn nặng trĩu nỗi đời Sự rung động, cảm thông, chia sẻ với những trắc trở, trái ngang trong cuộc sống phản ánh một tâm hồn nhân hậu, sâu sắc Trang văn của chị đem lại cảm giác “sống chậm”, “sống đầy” bởi nó sâu thẳm tình quê, nặng trĩu nỗi đời

Trong dòng chảy chung của văn xuôi đương đại Nguyễn Ngọc Tư đã tìm cho mình một lối đi riêng, một phong cách riêng để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng bạn đọc Nhà văn đã tạo ra một giọng điệu riêng: giọng tâm tình Nam Bộ với chất chính luận nhẹ nhàng mà sâu sắc, lối viết chân tình, mộc mạc, không lên gân, không nặng

nề mà giàu cảm xúc, tần suất phương ngữ xuất hiện dày đặc trên từng trang truyện Ban đầu có thể chỉ là sự ngạc nhiên trước vẻ đẹp giản dị, quê mùa của những truyện ngắn nhẹ nhàng dung dị, nhưng càng về sau chúng ta càng nhận thấy ở cây bút trẻ này một sức sáng tạo mạnh mẽ, một nội lực dồn nén và biết cách bung tỏa một cách hợp lý và chừng mực

Tên tuổi của Nguyễn Ngọc Tư ngày càng được khẳng định và trở nên quen thuộc đối với những người yêu văn chương trên mọi miền Tổ quốc Qua từng câu chuyện, mảnh đời chúng ta dường như đều tìm lại được quê hương đích thực trong

Trang 35

tâm tưởng, những kỷ niệm mà dường như không ai chia sẻ Phải chăng vì vậy mà tác phẩm của chị dễ dàng đi vào lòng người đọc

1.2.2 Quan điểm sáng tác

Sau năm 1986, đất nước đổi mới trên nhiều phương diện trong đó đời sống tư tưởng, văn hoá có những bước chuyển biến mạnh mẽ và sâu sắc Bên cạnh những cách tân nhằm đổi mới thể loại ở cả mặt hình thức và nội dung như thay đổi dạng thức cấu trúc truyện, trần thuật, ngôn ngữ, chủ đề, đề tài, các thủ pháp lạ hoá,… các chủ thể sáng tạo cũng đồng thời cách tân cả về mặt ý thức, tư tưởng, thẩm mỹ theo hướng khai thác sâu, rộng và đa diện hơn Quan niệm nghệ thuật về cuộc đời và con người được quan tâm nhiều hơn và được coi là một công cụ đắc lực cho việc khám phá thế giới nghệ thuật của nhà văn, bởi để sáng tạo một tác phẩm văn học, nhà văn phải có quan niệm về thế giới ấy qua góc nhìn nghệ thuật như một điều kiện không thể thiếu

Trên thế giới đã có nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học đã ứng dụng khái niệm quan điểm nghệ thuật về con người và cuộc sống để khảo sát các nền văn học trên thế giới như: P.X.Likhasốp, I Êrêmin, V.R.Secbina, V V.Timôphiep, N.G.Giulinxki… Ở Việt Nam, vấn đề này cũng được GS Trần Đình Sử đề cập đến:

“Quan niệm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu biết,

tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình” [24, tr 15] Như vậy, cái thúc đẩy sức sáng tạo nghệ

thuật chính là quan niệm nghệ thuật về cuộc đời và con người thể hiện sự thống nhất giữa hiện thực được phản ánh và năng lực cắt nghĩa, lý giải nghệ thuật của nhà văn Ứng với một quan niệm về cuộc đời và con người là một thế giới nghệ thuật tồn tại ngay trong khám phá của nhà văn Trên cơ sở quan niệm nghệ thuật đã hình thành trước trong tư duy, trong cảm xúc, tác giả có thể lựa chọn và xây dựng những hình tượng nghệ thuật khác nhau Và mỗi hình tượng nghệ thuật như vậy trong những tác phẩm khác nhau của cùng một tác giả lại gặp nhau ở cùng một điểm dưới

sự chỉ đạo của quan niệm nghệ thuật của tác giả Mỗi nhà văn lớn đều có một quan niệm về nghệ thuật và cuộc đời của riêng mình Chính điều này chi phối quá trình

Trang 36

thai nghén tác phẩm và phong cách nghệ thuật của nhà văn, đồng thời giúp độc giả xác định được mức độ chiếm lĩnh con người của hình tượng văn học và sự đóng góp tích cực của hiện tượng văn học đó vào lịch sử văn học cũng như vào sự phát triển nhân cách con người

Là một trong những cây bút trẻ có tiềm năng, với một phong cách văn chương riêng biệt của nền văn học Nam Bộ nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung, Nguyễn Ngọc Tư luôn có ý thức cao với nghề “cầm bút”, thể hiện một cách thẳng thắn về quan niệm văn chương và sáng tác của mình

Thuở mới chập chững bước vào nghề, Nguyễn Ngọc Tư coi cảm xúc là “cội nguồn”, điểm tựa của sáng tác Dù viết ở mảng nào, lĩnh vực nào, thể loại nào chị

vẫn quan niệm “Tôi là một cây bút nghĩ thế nào, viết thế ấy, nghĩ sao viết vậy” (Trả

lời phỏng vấn trên báo Tiền Phong ngày 31/10/2006) Chính những số phận bất hạnh, trớ trêu với vô vàn trái ngang, trắc trở, những nhân vật nhỏ bé, người nông dân nghèo lam lũ, người nghệ sĩ nghèo khổ, bất hạnh,… ở vùng nông thôn đồng bằng Nam Bộ là nguồn cảm hứng để chị sáng tác Vì thế, những trang viết đầu tay của chị luôn thấm đượm một giọng điệu dân dã, mộc mạc nhưng buồn đến nao lòng

Nó để lại trong lòng người đọc những ấn tượng khó phai về những kiếp người nhỏ

bé, lang thang, vô định giữa dòng đời Chị không xây dựng những tình huống truyện có xung đột, mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm, cao trào mà là những câu chuyện với lời văn đậm chất thơ, chất trữ tình dàn trải, man mác, bâng khuâng với một nỗi buồn lan toả đều trên từng mạch cảm xúc, ngấm dần in sâu vào trong tâm trí Quan niệm sáng tác văn chương dựa trên mạch cảm xúc của chị được thể hiện rõ nét nhất qua thể loại tản văn Bởi với chị, tản văn là thể loại truyền tải được nhiều cảm xúc

nhất: “Có thể tôi viết truyện là dành cho ai đó những viết tản văn là viết cho mình

Tản văn như một giải pháp để tôi giải toả những suy nghĩ…” Khác với những nhà

văn ở các thế hệ trước như Sơn Nam, Đoàn Giỏi lấy bối cảnh từ mảnh đất Nam Bộ

và dựa trên góc nhìn của văn hoá để sáng tác, Nguyễn Ngọc Tư lại chọn một cách tiếp cận là đi thẳng và đi sâu vào hoàn cảnh, tâm trạng, số phận của những con

người kiếm sống, lênh đênh, chìm nổi trên mảnh đất này Với quan niệm “viết như

Trang 37

cảm xúc của mình”, văn chương của Nguyễn Ngọc Tư đã mang tới một “hương vị”

mới mộc mạc, giản dị nhưng rất đằm thắm, đầy ắp cảm xúc

Là một nhà văn không chạy theo xu hướng của đám đông, không lựa theo thị hiếu của độc giả để sáng tác, Nguyễn Ngọc Tư vẫn luôn giữ cho mình một cá tính độc lập, có một lý tưởng thẩm mĩ riêng Chị tôn trọng độc giả nhưng không vì thế

đánh mất “cái tôi”, “Bao giờ khi bắt tay vào viết, tôi cũng nghĩ thoáng qua tác phẩm

mới này ai sẽ khen, và biết cả một vài khuôn mặt những người chê Lần nào cũng nghĩ nhưng lần nào cũng viết như cảm xúc của mình bởi trước khi viết cho ai đó thì tôi viết cho mình.”; “Mình không thể hiểu hết bạn đọc, có khi viết xong cái truyện

mà bản thân mình thấy thích lắm nhưng bạn đọc lại chê…Với lại, Tư cũng không có

ý tìm hiểu bạn đọc của mình” “Lúc đầu chỉ viết để giải toả cảm xúc cho nó nhẹ người đi, nhưng sau này thấy cái nghiệp mình đeo đuổi nặng trĩu, đầy nợ nần Viết

vì mình là Nguyễn Ngọc Tư” [63] Bởi vậy, chị không quan tâm đến những dư luận

trái chiều khi họ nói về tác phẩm của mình Chị viết văn là viết cho chính mình,

chấp nhận là “kẻ đẽo cày giữa đường” mặc cho những lời khen chê, dị nghị, tán

dương hay “phê bình” của dư luận Những truyện ngắn của chị luôn đong đầy cảm xúc, dạt dào tình người, tình đất của miền quê Nam Bộ Có thể, những điều chị viết

ra mang một sự giản dị, mộc mạc đến nỗi nó chỉ là những chuyện dễ thấy, thường xuyên bắt gặp trong cuộc sống đời thường nhưng quá trình thai nghén nó lại chất chứa nỗi lòng trắc ẩn, thương cảm của người nghệ sĩ kí thác vào trong tác phẩm của

mình Tác phẩm Cánh đồng bất tận là một trong những đứa con tinh thần của chị

từng bị “kiểm điểm nghiêm khắc, rút kinh nghiệm” khi người ta cho rằng nó thiếu

tính giáo dục cho xã hội, giáo dục con người và thiếu tính định hướng chân - thiện -

mỹ để con người vươn tới Sau một thời gian tranh cãi về tính thẩm mỹ, giá trị nội dung, tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm, dư luận cũng nhận ra được vẻ đẹp của

nó Cánh đồng bất tận đã phản ánh một cách “trần trụi” và chân thực về những vấn

đề nóng bỏng, những bức bách của nông thôn Nam Bộ, những tâm tư suy nghĩ của người nông dân Đó là không gian mênh mông sông nước, với cánh đồng dài bất tận chứa những vui buồn, hạnh phúc và hy vọng của kiếp người Sự tan vỡ của gia đình

Trang 38

bé nhỏ được bắt nguồn từ sai lầm của người mẹ và sự mê đắm vào việc trả thù của người cha Và cũng từ đây, ngòi bút của của Nguyễn Ngọc Tư trở nên khốc liệt và nghiệt ngã hơn

Chị coi sự đồng điệu, đồng cảm giữa nhà văn và công chúng hơn là lấy lòng công chúng để trở nên nổi tiếng Bên cạnh đó, chị cũng đưa ra một quan điểm về

nghề viết văn khá mới mẻ “…cô đơn là sự tối cần của người viết, nó là một điều

kiện hàng đầu của nhà văn Không một người viết hay nào tôi biết mà không cô đơn, không một thần tượng văn chương nào của tôi mà không bị cô đơn giày vò Và

để chạy trốn nỗi cô đơn trong giao tiếp đơn thuần mặt nhìn mặt, tay nắm tay, việc viết văn đã dẫn tôi đến sự cô đơn khác, đó là ở giữa đám đông mà họ không thấy tôi, hoặc họ thấy một cái gì đó giống tôi, họ tưởng là tôi, nhưng tôi đang đứng ở một chỗ khác, một mình, chờ một bàn tay chạm Khi người ta bằng mọi cách chạy trốn sự cô đơn thì tôi, và những đồng nghiệp của tôi lại nuôi cô đơn, cho nó ăn để duy trì sự cô đơn tồn tại trong người mình cho cái gọi là sáng tạo văn chương.”

(Lời tựa Biển của mỗi người)

Nếu như Nam Cao từng thông qua các tác phẩm của mình để đưa ra những

tuyên ngôn về nghệ thuật: “Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu,

biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Đời

thừa) thì Nguyễn Ngọc Tư cũng đưa ra những phát ngôn về việc chọn đề tài sáng

tác cho mình với một giọng điệu khiêm nhường, dung dị: “Tư chọn viết những gì

mà người đi trước không viết thôi Với những gì người đi trước viết rồi, nếu mình đi lại con đường ấy, hoặc mình phải tránh qua một bên, hoặc là mình phải vượt trội hơn Nhưng vượt trội thì khó quá, ví dụ như để vượt qua Vũ Trọng Phụng thì thôi…đi, Tư không tự làm khó mình mà chọn cái mình làm được” Là người luôn có

ý thức và trách nhiệm với nghề cầm bút, Nguyễn Ngọc Tư xác định viết văn là:

“một lựa chọn khó, đầy nhọc nhằn, nặng nề, dằn vặt” Đối với chị, con đường văn

chương dẫu có nhiều nhọc nhằn, gập ghềnh, trắc trở nhưng chị không hề nản lòng Chị vẫn giàu nhiệt huyết và miệt mài với hành trình sáng tạo nghệ thuật Không dừng lại ở những gì đã có hay ngủ quên trên chiến thắng, chị vẫn muốn vươn xa

Trang 39

hơn nữa trên con đường nghệ thuật Chị muốn văn chương phải đúng nghĩa là nghề sáng tạo chứ không rập khuôn, máy móc đi theo một quy trình đã được lập sẵn Hơn

nữa, chị coi việc viết văn là lẽ sống “Tôi yêu viết lách vì viết lách làm tăng sức sống

trong tôi” Người viết phải luôn sáng tạo và thay đổi không ngừng nghỉ, vượt qua

được những đỉnh cao của bản thân và luôn sẵn sàng thử nghiệm với những thể loại mới Người viết văn cần có những bản lĩnh, biết chấp nhận mạo hiểm để khám phá

những chiều sâu, những tư duy nghệ thuật mới: “Tôi cho phép mình sai sót, bởi nghĩ

không có gì là hoàn hảo hết Trên con đường lên núi, đôi khi tôi muốn dừng lại nghỉ

chân, và gắng giữ mình đừng bao giờ bị lùi bước.”; “Tôi chỉ sợ cái bóng của Cánh

đồng bất tận quá lớn đến nỗi người đọc sẽ không nhìn thấy tôi Trên cuộc hành

trình của đời mình, tôi tình cờ rẽ vào một con đường nhỏ, tình cờ dựng cái rào, rồi thấy việc trèo qua cái rào do chính mình dựng lên là vô lý, nên tôi bỏ ngang, lại tiếp tục tìm một con đường khác, nhưng bạn đọc thì cứ chờ tôi mãi ở cuối cái đường có rào kia, bạn đọc không quan tâm tôi đã đi tới đâu, đã làm được gì.”; [59]“…tôi đã

thực sự nhìn thấy một bi kịch, là bạn đọc cứ trải chiếu ở cái chỗ Cánh đồng bất tận

và muốn tôi ngồi uống rượu mãi ở đó Trong khi tôi muốn đi và thực sự đã đi rồi Tại sao tôi cứ luẩn quẩn ở cánh đồng đó trong năm năm, mười năm và hai ba mươi năm nữa, mà không được đi uống rượu, ngắm cảnh ở không gian khác ? Tôi biết, cái chỗ tôi muốn tới và thích tới không đông đảo người chờ đợi và chúc tụng; nhưng tôi tự hào là mình cũng chịu dời chân khỏi cái hào quang cũ mà đi.” [53]

Hiện thực quê hương vốn là nguồn cảm hứng sáng tác của nhiều tác giả Bởi quê hương là tiếng vọng thiên liêng nhất đối với mỗi con người Sinh sống chủ yếu

ở vùng đất Nam Bộ nên những tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư đều viết về đất và người Nam Bộ Mặc dù, đây là mảnh đất mới khai phá, nền văn hóa chưa thực sự dày và sâu, lại nằm xa những trung tâm văn hóa, kinh tế lớn, đặc biệt là văn học ít

có thành tựu, không được đánh giá cao trong giới cầm bút, trong những tổng kết của văn học Việt Nam Nhưng những trang viết của chị về mảnh đất và con người nơi đây đã trở thành một thứ “đặc sản” của miền Nam, chị tự ví văn chương của mình

như “một trái sầu riêng” mang dư vị và hương thơm nồng ấm

Trang 40

Như mọi nhà văn chân chính, mối quan tâm lớn trước hết ở Nguyễn Ngọc Tư

là quan hệ giữa văn học với đời sống, với thời đại Nhà văn phải hướng ngòi bút của mình đến con người, những con người của đời thực, gần gũi mà sâu sắc, thấm thía Các truyện ngắn của chị luôn làm ám ảnh bạn đọc Nhiệm vụ của nghệ thuật là phải phản ánh được đối tượng mà nó hướng đến một cách sâu sắc nhất, với Nguyễn Ngọc Tư nghệ thuật là một cái gì đó rất giản dị, không hề cao siêu Con người mà chị thể hiện trong văn chương rất gần gũi, đó là những người dân Nam Bộ mà chị gặp và tiếp xúc hàng ngày, nhưng ở họ dường như lại mang những nỗi ám ảnh, những nỗi buồn, những bi kịch Nhân vật của chị từ những đứa trẻ đến những thanh niên, cụ già; từ người phụ nữ đến những người đàn ông…tất cả dường như sống trong bi kịch Nhân vật nông dân thường nghèo khó, cơ cực, những khao khát dù bình dị, nhỏ nhoi nhưng không bao giờ đạt được Nhân vật người nghệ sĩ thường sống hết mình với những vai diễn, nhưng khi rời sàn diễn họ trở về với đời thường đầy nghiệt ngã, đắng cay Nhà văn đã đi sâu vào những bi kịch của nhân vật, khai thác, mổ xẻ nó qua tâm trạng nhân vật, từ đó thể hiện quan niệm của mình về con người đồng thời cũng thể hiện quan niệm của mình về nghệ thuật Khi xây dựng nhân vật, chị thường hướng tới thế giới nội tâm, khai thác những góc khuất trong tâm hồn con người, coi trọng tình cảm, coi trọng tình người Vì vậy, nhân vật của chị đa số là những con người hiền lành, cam chịu Họ không khao khát kiếm tiền, không nỗ lực cố gắng tìm lối thoát ra khỏi hoàn cảnh khó khăn của hiện tại Chị có biệt tài trong việc khai thác những truyền thống tốt đẹp của lịch sử, những vẻ đẹp hiển hiện và tiềm ẩn của con người Nam Bộ trong cuộc sống thường nhật

Điểm nổi bật trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư là việc xây dựng thành công những hình tượng con người luôn sống hết mình vì người khác với tấm lòng bao dung độ lượng, giàu đức hi sinh vì người khác Đó cũng là một phẩm chất đẹp của con người Nam Bộ được chị khắc hoạ rõ nét Trong những truyện viết về đề tài tình yêu dang dở, nhân vật của chị hầu hết đều sống hết mình người khác Cả nhân vật nữ và nhân vật nam đều có những cách cư xử hết sức cao thượng, sẵn sàng hi sinh hạnh phúc của bản thân để vun đắp hạnh phúc tương lai cho người mình yêu

Ngày đăng: 09/02/2021, 21:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Duy Anh (2000), Nghệ thuật viết truyện ngắn và ký, Nxb Thanh niên 2. Lại Nguyên Ân (1994), Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật viết truyện ngắn và ký", Nxb Thanh niên 2. Lại Nguyên Ân (1994), "Văn học và phê bình
Tác giả: Tạ Duy Anh (2000), Nghệ thuật viết truyện ngắn và ký, Nxb Thanh niên 2. Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Thanh niên 2. Lại Nguyên Ân (1994)
Năm: 1994
3. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2004
4. Nguyễn Thành Ngọc Bảo (2008), Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Tác giả: Nguyễn Thành Ngọc Bảo
Năm: 2008
5. Lê Huy Bắc (1998), Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại, Tạp chí Văn học, (số 9), tr. 66-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
6. Phan Quý Bích (2006), Sức lôi cuốn của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư, Văn nghệ trẻ, (số 46), tr. 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn nghệ trẻ
Tác giả: Phan Quý Bích
Năm: 2006
7. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995: Những đổi mới cơ bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995: Những đổi mới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
8. Nguyễn Minh Châu (1999), Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn học, Hà Nội 9. Chu Xuân Diên (1999), Cơ sở văn hoá, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn", Nxb Văn học, Hà Nội 9. Chu Xuân Diên (1999), "Cơ sở văn hoá
Tác giả: Nguyễn Minh Châu (1999), Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn học, Hà Nội 9. Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
10. Trần Phỏng Diều (2006), Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Văn nghệ quân đội, (số 467), tr.94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn nghệ quân đội
Tác giả: Trần Phỏng Diều
Năm: 2006
11. Đăng Dung, Nguyễn Cương (1999), Các vấn đề của khoa học văn học, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề của khoa học văn học
Tác giả: Đăng Dung, Nguyễn Cương
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1999
15. Vũ Thị Thu Hà (2006), Khám phá thế giới nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học KHXH&NV Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khám phá thế giới nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Tác giả: Vũ Thị Thu Hà
Năm: 2006
16. Lê Bá Hán (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG, Hà Nội 17. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học", Nxb ĐHQG, Hà Nội 17. Đỗ Đức Hiểu (2000), "Thi pháp hiện đại
Tác giả: Lê Bá Hán (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG, Hà Nội 17. Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2000
18. Nguyễn Thái Hòa (2001), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục 19. Trần Thiện Khanh (2006), Bàn lại với tác giải Bùi Việt Thắng, Tạp chí Nghiên cứu văn học, (số 8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện", Nxb Giáo dục 19. Trần Thiện Khanh (2006), Bàn lại với tác giải Bùi Việt Thắng, "Tạp chí Nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa (2001), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục 19. Trần Thiện Khanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục 19. Trần Thiện Khanh (2006)
Năm: 2006
20. Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam (2002), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
21. Trần Thị Thanh Mai (2011), Nhân vật người phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu và Phan Thị Vàng Anh, Luận văn thạc sĩ, Đại học KHXH&NV Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật người phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu và Phan Thị Vàng Anh
Tác giả: Trần Thị Thanh Mai
Năm: 2011
22. Nguyễn Đăng Mạnh (2000), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
24. Trần Đình Sử (1993), Dẫn luận Giáo trình Thi pháp học, Nxb Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận Giáo trình Thi pháp học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1993
25. Trần Đình Sử (2004), Tự sự học - một số vấn đề lí luận và lịch sử, Phần 1, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sự học - một số vấn đề lí luận và lịch sử
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2004
26. Trần Đình Sử (2008), Tự sự học - một số vấn đề lí luận và lịch sử, Phần 2, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sự học - một số vấn đề lí luận và lịch sử
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2008
27. Huỳnh Công Tín (2006), Nguyễn Ngọc Tư: Nhà văn trẻ Nam bộ, Tạp chí Tạp chí Văn nghệ đồng bằng sông Cửu Long, (số 15) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Văn nghệ đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Huỳnh Công Tín
Năm: 2006
28. Bùi Việt Thắng (2006), Bài học văn chương từ cánh đồng bất tận, Tạp chí Nghiên cứu văn học, (số 7), tr.132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu văn học
Tác giả: Bùi Việt Thắng
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w