Vì nằm trong khu vực dân cư đông đúc nên vấn đề thực hiện trách nhiệm xã hội TNXH về BVMT của công ty càng đặt ra cấp bách hơn vì nó có tác động tới đông đảo cuộc sống sinh hoạt cũng như
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ CHÚC
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÔNG TY PHÂN ĐẠM VÀ HÓA CHẤT HÀ BẮC
TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC QUẢN LÝ
Hà Nội, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ CHÚC
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÔNG TY PHÂN ĐẠM VÀ HÓA CHẤT HÀ BẮC
TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC QUẢN LÝ
MÃ SỐ: ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Linh Khiếu
Hà Nội, 2014
Trang 3Luận văn đã được chỉnh sửa theo góp ý của Hội đồng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
3 Mục tiêu nghiên cứu 9
4 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Mẫu khảo sát 10
6 Câu hỏi nghiên cứu 10
7 Giả thuyết nghiên cứu 10
8 Phương pháp nghiên cứu 10
9 Kết cấu của luận văn 11
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 12
1.1 Trách nhiệm xã hội và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 12
1.1.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội 12
1.1.2 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 15
1.2 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 25
1.2.1 Khái niệm bảo vệ môi trường 25
1.2.2 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 30
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÔNG TY PHÂN ĐẠM VÀ HÓA CHẤT HÀ BẮC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 38
2.1 Vài nét về ngành hóa chất Việt Nam và về công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc 38
2.1.1 Về ngành hóa chất Việt Nam 38
2.1.2 Về công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc 40
2.2 Khái quát việc thực hiện trách nhiệm xã hội của công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 43
2.2.1 Về sản phẩm và dịch vụ của công ty 44
2.2.2 Về công nghệ sản xuất, sử dụng các nguồn nguyên liệu và năng lượng 47
2.2.3 Về hệ thống quy trình quản lý và kiểm soát môi trường 56
2.2.4 Các hoạt động xã hội về bảo vệ môi trường hướng tới cộng đồng 65
2.3 Đánh giá một số ưu điểm và hạn chế đối với việc thực hiện trách nhiệm xã hội của công ty trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 66
2.3.1 Về một số ưu điểm 66
2.3.2 Về một số hạn chế 69
Trang 5CHƯƠNG 3 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN TỐT HƠN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÔNG TY PHÂN ĐẠM VÀ HÓA CHẤT HÀ BẮC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG 71
3.1 Quan điểm của công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội về bảo vệ môi trường 71
3.2 Một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn trách nhiệm xã hội của công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 74
3.2.1 Giải pháp về phía cơ quan quản lý Nhà nước 74
3.2.2 Giải pháp về phía doanh nghiệp 83
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình, trong quá trình triển khai nghiên cứu, khi những kinh nghiệm về nghiên cứu khoa học, những kinh nghiệm về thực tế cũng như năng lực của bản thân còn hạn chế và thời gian nghiên cứu chưa đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của một luận văn thạc sỹ, em đã nhận được sự chỉ bảo rất tận tình của giáo viên hướng dẫn, sự động viên, giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Khoa học Quản lý, thầy cô trong nhà trường và sự chia sẻ, giúp đỡ của bạn bè, người thân
Qua đây, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Linh
Khiếu - người đã hết mực nhiệt tình, tận tâm hướng dẫn em trong suốt thời
gian thực hiện đề tài, từ việc định hướng khoa học đến việc lựa chọn các phương pháp nghiên cứu và cách trình bày kết quả nghiên cứu
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các anh chị trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc đã hợp tác, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn ở bên cạnh động viên, khuyến khích
và tạo điều kiện để em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp thạc sỹ của mình
Học viên
Nguyễn Thị Chúc
Trang 8Bảng tổng hợp các loại nước thải và các lưu lượng có
trong nguồn thải
57
Bảng 2.3 Kết quả phân tích mẫu nước tại cửa xả từ trạm bơm 420
ra sông Thương năm 2013
60-61
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế thị trường (KTTT) đã mang lại cho đất nước ta những thành quả đáng ngạc nhiên trên tất cả các mặt của hoạt động xã hội: nó đã đẩy lùi sự trì trệ, khắc phục một cách có hiệu quả khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài nhiều năm trong thời bao cấp, cải thiện và duy trì ổn định tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm Đặc biệt, KTTT đã tác động mạnh mẽ làm thay đổi
tư duy trong tất cả các tầng lớp dân cư Bên cạnh những mặt tích cực, nền KTTT cũng ẩn chứa trong mình nhiều nguy cơ và thách thức Đó là, nguy cơ băng hoại đạo đức do sự cạnh tranh không lành mạnh vì mục tiêu lợi nhuận, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân chủ nghĩa, nguy cơ phá hoại môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên…
Chưa bao giờ trong lịch sử vấn đề bảo vệ môi trường (BVMT) được các quốc gia trên thế giới quan tâm nhiều như hiện nay Hiện tượng ô nhiễm môi trường (ÔNMT) gây hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu đang có những tác động ngược trở lại cuộc sống của con người một cách mạnh mẽ, làm nảy sinh mâu thuẫn ngày càng gia tăng giữa tăng trưởng kinh tế và vấn đề BVMT
Ở Việt Nam hiện nay, hầu hết các lĩnh vực, từ doanh nghiệp (DN) đến người dân, từ thành thị đến nông thôn và miền núi chúng ta còn có nhiều hành vi mang tính phá hoại môi trường Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự ÔNMT và việc BVMT chưa bền vững ở nước ta hiện nay Điều quan trọng là nhiều khi người ta ý thức được những hậu quả của hành vi gây ÔNMT của mình, song họ vẫn thực hiện hành vi đó Ở đây, khi thực hiện hành vi gây ÔNMT, chủ thể hành vi không hề có tinh thần trách nhiệm, ý thức về nghĩa vụ BVMT của mình….Điều đó buộc chúng ta phải nhìn nhận vấn đề trách nhiệm của con người với chính bản thân mình và với tự nhiên với một thái độ nghiêm túc và khoa học hơn Bài toán được đặt ra lúc này là cần phải cân bằng lợi ích kinh tế và vấn đề BVMT để tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển bền vững (PTBV)
Trang 10Theo số liệu điều tra của Bộ Công nghiệp Việt Nam và cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) trong số các nhà máy đã được xác định là nguyên nhân gây ÔNMT hiện nay thì đa số lại nằm trong khu vực dân cư đông đúc; các nguồn gây ô nhiễm phân bố chủ yếu ở các ngành công nghiệp thực phẩm, hoá chất, vật liệu xây dựng Trong đó, công nghiệp hoá chất chiếm tỉ lệ khá cao Vấn đề môi trường ở các nhà máy sản xuất hoá chất thường xuyên được đặt ra Vấn đề xử lý, tận dụng chất thải hiện đang là nhiệm vụ quan trọng của ngành hóa chất và đây cũng là nhiệm vụ của ngành công nghiệp nước ta trong quá trình xây dựng nền kinh tế PTBV
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc nguyên là nhà máy sản xuất phân đạm đầu tiên của Việt Nam, là thành viên trực thuộc tổng công ty Hóa chất Việt Nam Trụ sở công ty tại phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Sản phẩm chính của công
ty là phân đạm Urê, ngoài ra công ty còn sản xuất các sản phẩm khác như phân lân NPK, NH3, CO2 lỏng và rắn, Oxy, than hoạt tính… Với đặc điểm chung của ngành hóa chất Việt Nam là khả năng gây ô nhiễm lớn với hàm lượng khí thải, nước thải và đặc biệt là hàm lượng chất thải rắn thải ra môi trường cao nên khả năng gây ÔNMT của nhà máy là rất lớn Vì nằm trong khu vực dân cư đông đúc nên vấn đề thực hiện trách nhiệm xã hội (TNXH) về BVMT của công ty càng đặt ra cấp bách hơn vì nó có tác động tới đông đảo cuộc sống sinh hoạt cũng như sức khỏe của người dân xung quanh và cả chính những người lao động đang trực tiếp tham gia sản xuất tại nhà máy
Xuất phát từ những nguyên nhân trên, tác giả đã chọn vấn đề: “Trách
nhiệm xã hội của công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường” làm đề tài nghiên cứu
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
TNXH của DN hiện đang là lĩnh vực nhận được sự quan tâm của nhiều độc giả và nhà nghiên cứu Vấn đề thực hiện TNXH trong lĩnh vực BVMT càng được quan tâm nhiều hơn trong bối cảnh nền KTTT nhiều DN vì chạy theo lợi nhuận mà quên đi trách nhiệm của mình trong lĩnh vực này gây nguy
Trang 11hại tới môi trường làm việc của người lao động và môi trường sống của nhiều người dân xung quanh Liên quan tới vấn đề này có một số nghiên cứu như:
* Nguyễn Thị Lan Hương (2009), Trách nhiệm môi trường – Một
phương diện của trách nhiệm xã hội, Kỷ yếu hội thảo quốc tế Trách nhiệm xã
hội trong điều kiện kinh tế thị trường Trong bài viết này tác giả đã đề cập tới
một trong những vấn đề cấp bách hiện nay, đó là trách nhiệm của con người đối với môi trường sống của mình từ góc nhìn của TNXH
* Nguyễn Thị Huyền (2009), Đạo đức môi trường - Một khía cạnh của
trách nhiệm xã hội, Kỷ yếu hội thảo quốc tế Trách nhiệm xã hội trong điều
kiện kinh tế thị trường Bài viết đã đưa ra được một trong những vấn đề cấp
bách hiện nay là phải cân bằng giữa lợi ích kinh tế và vấn đề đảm bảo môi sinh, môi trường Tuy nhiên, khái niệm trách nhiệm được tác giả đề cập tới bao hàm cả trách nhiệm pháp lý lẫn trách nhiệm đạo đức Vì vậy nếu chỉ đơn thuần dựa vào pháp luật hay các quy tắc mang tính cưỡng chế thì không thể giải quyết được bài toán cân bằng lợi ích
* GS.TS Vũ Dũng (2011), Đạo đức môi trường ở nước ta – Lý luận và
thực tiễn, NXB Từ điển Bách Khoa Đây là cuốn sách đầu tiên phân tích về
đạo đức môi trường ở nước ta một cách hệ thống từ lý luận đến thực tiễn Cuốn sách được viết dựa trên kết quả nghiên cứu của Dự án điều tra cơ bản
“Đánh giá đạo đức môi trường ở nước ta hiện nay” do Bộ Tài nguyên và Môi trường giao cho Viện Khoa học xã hội Việt Nam thực hiện, GS.TS Vũ Dũng
làm chủ nhiệm, thực hiện trong 2 năm 2009, 2010 Cuốn sách trình bày các
vấn đề cơ bản về đạo đức môi trường cũng như kinh nghiệm BVMT ở một số nước nhìn từ góc độ đạo đức môi trường và đưa ra cái nhìn tổng quan về môi trường và ÔNMT ở nước ta hiện nay, nhận thức của người dân về đạo đức môi trường, thực trạng hành vi đạo đức môi trường ở nước ta
* GS.TS Võ Quý - trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường –
Đại học Quốc Gia Hà Nội, Một số vấn đề môi trường toàn cầu và Việt Nam:
thân thiện với thiên nhiên để PTBV Trong đề tài này tác giả đã chỉ ra hiện
trạng của môi trường toàn cầu và một số vấn đề của môi trường Việt Nam
Trang 12hiện nay như tình trạng chặt phá rừng bừa bãi, khả năng mất cân bằng sinh thái, khả năng gây ô nhiễm và cạn kiện nguồn tài nguyên nước, các vấn đề liên quan tới biến đổi khí hậu như hạn hán, lũ lụt… Trước bối cảnh ấy bài viết cũng đưa ra những xu thế chung của thế giới và đề xuất những giải pháp PTBV tại Việt Nam
…
Ngoài ra, có nhiều tác phầm khác cũng bàn luận về TNXH của DN hay TNXH của DN trong lĩnh vực BVMT Tuy nhiên, chúng có phạm vi nghiên cứu rộng, nội dung nghiên cứu mang tính khái quát cao Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả chỉ lựa chọn một khía cạnh của vấn đề TNXH tại một
DN cụ thể trên địa bàn tỉnh Bắc Giang để nghiên cứu
3 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở tìm hiểu những vấn đề lý luận
chung về TNXH của DN trong lĩnh vực BVMT, khảo sát và đánh giá thực trạng việc thực hiện TNXH trong lĩnh vực BVMT của công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc thời gian qua, đề tài đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần thực hiện tốt hơn TNXH của công ty trong lĩnh vực BVMT thời gian tới
- Về không gian: công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc
- Về thời gian nghiên cứu: từ 2008 đến nay
- Về nội dung: việc thực hiện TNXH về BVMT của công ty Phân đạm
và Hóa chất Hà Bắc
Trang 135 Mẫu khảo sát
Đề tài của tác giả là nghiên cứu trường hợp tại công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc nên mẫu khảo sát là toàn bộ Công ty Tuy nhiên, tác giả tập trung khảo sát những nơi có khả năng gây ô nhiễm cao như xưởng amoni,
xưởng ure, tại lò khí hóa, tháp tạo hạt…
6 Câu hỏi nghiên cứu
1 TNXH của công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc trong lĩnh vực BVMT được thực hiện như thế nào từ năm 2008 đến nay?
2 Những giải pháp nào để thực hiện tốt hơn TNXH của công ty trong lĩnh vực BVMT thời gian tới?
7 Giả thuyết nghiên cứu
1 Nhận thức được vai trò của việc thực hiện TNXH trong lĩnh vực
BVMT, từ năm 2008 đến nay công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc luôn quan tâm, chú trọng tới việc BVMT Công ty đã có nhiều hành động cụ thể để đầu tư chiều sâu, dần đổi mới công nghệ sản xuất, hướng tới ngành sản xuất sạch Tuy nhiên, với đặc điểm chung của ngành hóa chất Việt Nam là công nghệ sản xuất lạc hậu, việc thay đổi công nghệ khó có thể được thực hiện trong thời gian ngắn và tiến hành một cách đồng bộ nên trong những năm qua việc sản xuất của công ty vẫn có những tác động xấu đến môi trường
2 Để thực hiện tốt hơn TNXH của công ty trong lĩnh vực BVMT thời gian tới cần phải thực hiện một cách đồng bộ các giải pháp về phía cơ quan quản lý Nhà nước và giải pháp về phía DN Trong đó nhóm giải pháp về phía doanh nghiệp cần tập trung vào việc tăng tính thân thiện với môi trường của sản phẩm, của công nghệ sản xuất, sử dụng tiết kiệm nguồn nguyên liệu và năng lượng, có những biện pháp tốt để duy trì hiệu quả công tác xử lý môi trường và công ty cũng cần quan tâm hơn nữa tới các hoạt động xã hội về BVMT hướng tới cộng đồng
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu - tổng hợp tài liệu: thu thập, phân tích và tổng hợp các tài liệu về lý thuyết TNXH của DN trong lĩnh vực BVMT để
Trang 14đưa ra luận cứ lý thuyết cho đề tài Đồng thời, đề tài phân tích và tổng hợp các tài liệu của công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc liên quan tới lĩnh vực BVMT để phục vụ cho luận cứ thực tiễn
- Phương pháp phỏng vấn: Thực hiện phỏng vấn sâu đối với ông Đỗ Doãn Hùng - tổng giám đốc công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc để thấy rõ quan điểm của Công ty trong việc thực hiện TNXH về BVMT Ngoài ra, tác giả còn thực hiện phỏng vấn sâu đối với ông Hoàng Văn Huệ - Trưởng phòng
Kỹ thuật an toàn – môi trường của Công ty và ông Nguyễn Minh Tiến – Trưởng phòng Kỹ thuật – Công nghệ của Công ty để tìm hiểu sâu về công nghệ sản xuất và thực trạng việc thực hiện TNXH trong lĩnh vực BVMT của Công ty những năm qua Tác giả còn thực hiện phỏng vấn sâu đối với một số người dân sinh sống quanh nhà máy để thấy được đánh giá của họ về việc thực hiện trách nhiệm xã hội của công ty trong lĩnh vực BVMT thời gian qua
9 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương 7 tiết
Trang 15PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1 Trách nhiệm xã hội và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội
Công bằng xã hội, đoàn kết xã hội và TNXH là những yếu tố quan trọng giúp duy trì sự ổn định của xã hội, đồng thời chúng cũng là những động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Để làm rõ khái niệm TNXH, trước hết phải làm rõ khái niệm trách nhiệm
Khái niệm trách nhiệm được cấu tạo bởi hai từ “trách” và “nhiệm”: Trách được hiểu là phận sự phải làm còn nhiệm (nhận) là gánh vác công việc phải làm Do vậy, nghĩa của khái niệm “trách nhiệm” là gánh vác công việc, nhiệm vụ, chức năng phải làm hoặc được giao phó, phải hoàn thành công việc, nhiệm vụ, chức năng đó (nếu không hoàn thành công việc, nhiệm vụ, chức năng đó thì phải chịu hậu quả - chịu trách nhiệm) Mỗi con người sống trong xã hội đều có trách nhiệm trước bản thân, gia đình, tập thể và cộng đồng Sở dĩ người ta được thừa nhận và có thể có được những vị trí nhất định trong các mối quan hệ, các tổ chức chính trị xã hội nhất định là vì con người
ấy đã làm tròn bổn phận, vai trò của mình
Trách nhiệm là một khái niệm thuộc phạm trù luật học, đạo đức học và
xã hội học phản ánh thái độ xã hội đặc biệt thể hiện thái độ đạo đức - pháp luật của cá nhân, cộng đồng đối với xã hội và đối với nhân loại nói chung, thái độ này biểu thị sự hoàn thành nghĩa vụ đạo đức của mình và các tiêu chuẩn pháp luật Trong luật học, trách nhiệm được cụ thể ra thành trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm tài chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự… kèm theo với mỗi loại trách nhiệm đó là những quy định chặt chẽ về trách nhiệm bồi thường, các mức phạt cao thấp khác nhau khi không thực hiện trách nhiệm pháp lý Trong đạo đức học, phạm trù trách nhiệm thể hiện một điều không thể thoái thác, không thể không làm của một chủ thể hành
Trang 16động nhằm đáp lại một yêu cầu chính đáng nào đó Trong xã hội học thì trách nhiệm được xem như là một cam kết tinh thần trong việc thực hiện các chuẩn mực đạo đức của xã hội Phạm trù trách nhiệm bao quát vấn đề triết học - xã hội học về mức độ năng lực và khả năng của con người thể hiện ra với tư cách chủ thể của những hành động của mình, cũng như những vấn đề cụ thể hơn, như khả năng của con người có thể thực hiện một cách tự giác (có chủ ý,
tự nguyện) những nhu cầu nhất định và hoàn thành những nhiệm vụ đặt ra cho mình, thực hiện một sự lựa chọn đúng đắn; đạt tới một kết quả nhất định, cũng như các vấn đề có liên quan khác Khi bàn về khả năng điều chỉnh hành
vi của các chuẩn mực đạo đức, Max Weber cho rằng mọi hành vi được điều chỉnh bởi hai nhóm chuẩn mực: những chuẩn mực dựa trên đạo đức và những chuẩn mực dựa trên trách nhiệm Ông tin rằng con người hành động không chỉ dựa trên mục đích mà còn dựa trên trách nhiệm Những chuẩn mực đạo đức dựa trên mục đích và trách nhiệm không hoàn toàn đối lập nhau mà bổ sung cho nhau
Trong chủ nghĩa Mác, vấn đề trách nhiệm mang tính lịch sử - cụ thể và được giải quyết trên cơ sở phân tích mức độ tự do hiện thực của con người trong những điều kiện lịch sử nhất định Việc xây dựng một xã hội không có bóc lột, không có những giai cấp thù địch, việc áp dụng nguyên lý tự giác một cách có kế hoạch vào đời sống xã hội, việc làm cho quần chúng nhân dân quen với việc tự quản lý xã hội và sáng tạo lịch sử sẽ tăng cường mạnh mẽ mức độ tự do của cá nhân và đồng thời, tăng cường TNXH và đạo đức của mỗi người Trong pháp luật xã hội chủ nghĩa, trách nhiệm công dân, trách nhiệm hành chính và hình sự của kẻ vi phạm pháp luật được xác định không phải bằng con đường vạch ra cấu tạo của tội phạm một cách thuần tuý hình thức, mà phải tính đến tình hình giáo dục, đời sống và hoạt động của người
đó, mức độ nhận thức tội lỗi và khả năng sửa chữa trong tương lai Trong đạo đức cộng sản chủ nghĩa, trách nhiệm của cá nhân không chỉ bao hàm những hành vi đã làm, mà cả sự nhận thức của cá nhân về lợi ích của xã hội nói chung, nghĩa là xét đến cùng, nhận thức được các quy luật phát triển của lịch
Trang 17sử Điều đó làm cho trách nhiệm pháp lý xích gần lại với trách nhiệm đạo đức
Như vậy, thông qua các cách hiểu về trách nhiệm như đã nêu ở trên, có
thể nêu một cách chung nhất khái niệm TNXH đó là ý thức của chủ thể về
nghĩa vụ, bổn phận của mình đối với xã hội, với cộng đồng, nó được thể thiện thông qua nhận thức và hành động cụ thể của con người trong các mối quan
hệ xã hội và trong cả mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên
TNXH bao gồm ba nội dung cơ bản:
- Thứ nhất, quan hệ giữa người với người cùng chung sống, hợp tác
khoan dung với nhau trong xã hội
- Thứ hai, sự gắn bó (đoàn kết, cố kết) giữa cá nhân với cộng đồng và
xã hội
- Thứ ba, trách nhiệm phải đóng góp vào sự bảo vệ và PTBV của cộng
đồng và xã hội Sự đóng góp này được thể hiện ở ba mức độ: tự nhiên, tự nguyện và nghĩa vụ
Về thực chất, TNXH được hình thành từ quyền và nghĩa vụ của cá nhân đối với xã hội cũng như của xã hội đối với cá nhân TNXH phản ánh mối quan hệ qua lại giữa cá nhân với cộng đồng và với xã hội Xã hội thừa nhận quyền của mỗi cá nhân và đảm bảo những quyền và lợi ích chính đáng
ấy bằng pháp luật, ngược lại mỗi cá nhân đều phải có trách nhiệm với cộng đồng, với xã hội Để đảm bảo xã hội như một chỉnh thể thống nhất và PTBV thì mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng và với xã hội phải đạt được sự đồng thuận Cơ sở của TNXH chính là lợi ích Giải quyết hài hòa và thỏa đáng mối quan hệ lợi ích giữa các cá nhân và lợi ích giữa cá nhân với xã hội
sẽ là động lực mạnh mẽ thúc đẩy cá nhân hành động có trách nhiệm để đạt được lợi ích của mình và đồng thời cũng đem lại lợi ích cho người khác và cho xã hội, làm gia tăng TNXH của cá nhân đó TNXH chính là chìa khóa của sự phát triển xã hội trong bối cảnh nền KTTT hiện nay
Thể hiện trách nhiệm của mỗi người đối với xã hội không phải là điều quá khó mà trước hết phụ thuộc vào thái độ, nhận thức của từng con người cụ
Trang 18thể Điều này rất dễ, nếu mỗi người dù ở cương vị nào, làm việc trong lĩnh vực gì, chỉ cần thực hiện tốt chức trách của mình, hy sinh chút ít quyền lợi cá nhân của mình vì cái chung, vì cộng đồng, chắc hẳn chúng ta sẽ xây dựng được một xã hội tốt đẹp, mang lại hạnh phúc cho nhân dân, cho dân tộc
1.1.2 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Trong xã hội hiện nay có thể phân chia thành ba khu vực chính: khu vực nhà nước, khu vực tư nhân và khu vực xã hội Một xã hội phát triển lành mạnh khi cả ba khu vực này hoạt động hữu hiệu Trong đó, khu vực tư nhân
và khu vực xã hội là các thành phần cốt lõi của xã hội, còn khu vực nhà nước
là một phần của xã hội hoạt động chủ yếu nhằm tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để cho khu vực tư nhân và khu vực xã hội hoạt động có hiệu quả
Đối với khu vực tư nhân thì nhiệm vụ chính của họ là tạo ra của cải vật chất và dịch vụ Làm tốt nhiệm vụ của mình, hoàn thành các nghĩa vụ và trách nhiệm theo luật định cũng đã là thực hiện trách nhiệm đối với xã hội
Về thực chất, DN được thành lập nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận nên DN phải đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu Việc DN “lách luật” để gia tăng lợi ích của mình không phải là hành động đáng bị lên án mà có chăng hành động
ấy phải đáng được tuyên dương vì nhờ đó những nhà làm luật mới có thể nhận biết điểm chưa hoàn thiện của luật để có thể hoàn thiện Tuy nhiên, nhìn dưới một góc độ khác, vì hoạt động trong môi trường xã hội nên DN cần phải
có trách nhiệm về những tác động phát sinh từ hoạt động của mình mà pháp luật không quy định hoặc quy định không tường minh nhưng lại có thể ảnh hưởng tới môi trường, đến khách hàng, đến cộng đồng, đến người lao động và những thành phần liên quan khác Nếu không có một môi trường thuận lợi thì
DN không thể phát triển, nếu bị xã hội tẩy chay DN không thể đứng vững
Theo truyền thống, DN thực hiện TNXH như là một hoạt động tự nguyện, tự giác tham gia giải quyết các vấn đề xã hội mang tính nhân đạo, từ thiện Nghĩa là, ngoài việc tuân thủ pháp luật lao động, pháp luật kinh doanh, các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước, DN không phải chịu trách nhiệm
Trang 19pháp lý nào khác đối với xã hội và người tiêu dùng Gần đây mới nổi lên một trường phái khác và đang ngày càng được ủng hộ cho rằng cần phải có sự can thiệp mạnh mẽ của Nhà nước và xã hội, kể cả cần có các quy định pháp luật nhằm tăng cường TNXH, chứ không chỉ dựa vào sự tự giác, tự nguyện của
DN Có một quan niệm khá thịnh hành hiện nay là “DN - Công dân” (Corporate Citizen) Quan niệm này cho rằng xét trên các phương diện hoạt động, một DN không khác gì so với một công dân: Công dân và DN đều cùng phải hoạt động kinh tế (làm ra thu nhập) để tồn tại, phát triển và đóng góp cho nền kinh tế; cả hai đều phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước (luật dân sự, luật thuế, luật đất đai, luật lao động, ); cả hai đều phải tuân thủ những quy định bất thành văn về đạo đức DN không chỉ đơn thuần là một tổ chức thu lợi nhuận mà còn cần phải trở thành một phần của cộng đồng Họ không chỉ thúc đẩy lợi ích của các cổ đông mà còn hướng tới lợi ích của tất cả những bên hữu quan TNXH của DN được coi là một phạm trù của đạo đức kinh doanh, liên quan tới mọi hoạt động kinh doanh của DN Trong thế giới kinh doanh, các DN có thể thể hiện TNXH của mình thông qua việc có được một số chứng chỉ và bộ quy tắc ứng xử được quốc tế công nhận Các tiêu chuẩn TNXH quan trọng nhất trên thế giới hiện nay là: SA 8000 dành cho nơi làm việc của các nhà máy, WRAP (sản xuất hàng may mặc có trách nhiệm Toàn cầu) - trách nhiệm trong ngành may mặc và da giầy của Hoa Kỳ, hoặc ISO
14001 hệ thống quản lý môi trường ở các DN, và OHSAS 1800 đối với an toàn sức khỏe
Trong thời gian qua, những thành quả đáng kể mà cộng đồng DN đã đóng góp cho tăng trưởng và phát triển kinh tế của xã hội là không thể phủ nhận Tuy nhiên, trong cuộc đua tăng trưởng, một số lượng không nhỏ các
DN đã bộc lộ mặt trái của kinh doanh thị trường Tình trạng DN gây ô nhiễm
đã ở mức báo động, còn người tiêu dùng đang lao đao vì thực phẩm độc hại, hàng hóa tiêu dùng kém chất lượng Thực trạng này đang gióng lên hồi chuông đối với việc thực thi TNXH trong các DN Để DN thực hiện đúng vai trò, trách nhiệm của mình đối với xã hội, trước tiên và quan trọng nhất là vấn
Trang 20đề hiểu đúng về khái niệm TNXH
Thuật ngữ TNXH của DN được xuất hiện trong cuốn “TNXH của
doanh nhân” (Social Responsibilities of the Businessmen) của H.R.Bowen
vào năm 1953 nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các DN làm tổn hại cho xã hội Tuy nhiên, từ đó đến nay, thuật ngữ TNXH của DN đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau
Theo Carroll thì “TNXH của DN bao gồm sự mong đợi của xã hội về
kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định”[10] Dựa trên quan điểm của mình, Carroll đã đưa ra mô
hình kim tự tháp về TNXH, đây được xem là cái nhìn khá toàn diện về TNXH:
Hình 1.1: Mô hình kim tự tháp về TNXH của Caroll (1999)
Theo mô hình TNXH của Carroll thì TNXH bao gồm trách nhiệm kinh
tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện:
- Thứ nhất, trách nhiệm kinh tế thể hiện qua hiệu quả và tăng trưởng, là
điều kiện tiên quyết bởi DN được thành lập trước hết vì mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận Trách nhiệm kinh tế là nền tảng của tất cả các trách nhiệm khác
Trang 21- Thứ hai, trách nhiệm tuân thủ pháp luật, đây chính là một phần của
bản khế ước giữa DN với xã hội Nhà nước ban hành các văn bản luật và buộc
DN chỉ được phép hoạt động để tìm kiếm lợi nhuận trong khuôn khổ pháp luật cho phép
- Thứ ba, trách nhiệm đạo đức: việc tuân thủ pháp luật chỉ được coi là
sự đáp ứng những đòi hỏi, chuẩn mực tối thiểu mà xã hội đặt ra DN cần phải thực hiện các cam kết ngoài luật Trách nhiệm đạo đức là tự nguyện, nó không bị xử lý về mặt pháp lý nhưng nếu DN không thực hiện hoặc thực hiện không tốt thì sẽ bị xã hội lên án, đây chính là trung tâm của TNXH
- Thứ tư, trách nhiệm từ thiện là những hành vi của DN vượt ra ngoài
sự trông đợi của xã hội như quyên góp ủng hộ cho người yếu thế, tài trợ học bổng, đóng góp cho các dự án cộng đồng…Giống với trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm từ thiện là tự nguyện
Trong điều kiện KTTT, vấn đề TNXH thường được quy về thành phần
xã hội quan trọng là khối sản xuất - kinh doanh Câu hỏi đặt ra là khi lấy đi các nguồn tài nguyên thiên nhiên, huy động vốn tư bản, vốn xã hội và vốn con người thì các DN đã trả lại những gì cho xã hội nói chung và bồi đắp những gì cho những người không được hưởng lợi trực tiếp từ quá trình đó Thực hiện TNXH thực chất là việc hoàn trả lợi tức lại cho xã hội của các DN
DN PTBV là DN thực hiện tốt TNXH; coi TNXH là một chiến lược kinh doanh của mình Theo chuyên gia Nigel Twose của Ngân hàng thế giới thì
TNXH của DN được định nghĩa là: "sự cam kết của DN đóng góp vào sự phát
triển kinh tế bền vững, hợp tác cùng người lao động, gia đình họ, cộng đồng
và xã hội nói chung để cải thiện chất lượng cuộc sống cho họ, sao cho vừa tốt cho DN vừa ích lợi cho phát triển”[22]
Ngoài ra, còn có nhiều định nghĩa khác để biểu đạt nội hàm khái niệm TNXH của DN, định nghĩa của Ngân hàng Thế giới được coi là khá toàn diện
và được nhiều độc giả chấp nhận Theo đó, “TNXH của DN là khái niệm mà
ở đó các tổ chức coi trọng lợi ích của xã hội bằng cách chịu trách nhiệm về tác động của các hoạt động của mình đối với khách hàng, nhà cung cấp,
Trang 22người lao động, cổ đông, cộng đồng và các bên liên quan khác, cũng như môi trường Trách nhiệm này được coi là vượt qua cả trách nhiệm tuân thủ luật pháp và xem như các tổ chức tự nguyện tiến hành thêm các biện pháp nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho người lao động và gia đình của họ cũng như cho cộng đồng địa phương và xã hội nói chung” [10]
Như vậy, thông qua các khái niệm về TNXH của DN được đề cập ở
trên có thể khái quát TNXH của DN là việc DN hoạt động sao cho vừa tốt cho
DN vừa đảm bảo lợi ích của các bên liên quan bao gồm: khách hàng, nhà cung cấp, người lao động, cổ đông và cho cả cộng đồng xã hội cũng như môi trường đảm bảo sự PTBV của xã hội Thông qua khái niệm TNXH của DN có
thể thấy nó bao gồm các yếu tố, các mặt như: 1 BVMT; 2 Đóng góp cho cộng đồng xã hội; 3 Thực hiện tốt trách nhiệm với nhà cung cấp; 4 Bảo đảm lợi ích và an toàn cho người tiêu dùng; 5 Quan hệ tốt với người lao động; và
6 Đảm bảo lợi ích cho cổ đông và người lao động trong DN Trong đó, bốn yếu tố đầu tiên thể hiện trách nhiệm bên ngoài của DN, còn hai yếu tố cuối thể hiện trách nhiệm bên trong, nội tại của DN Tất nhiên, sự phân chia thành trách nhiệm bên ngoài và trách nhiệm bên trong chỉ có ý nghĩa tương đối và không thể nói trách nhiệm nào quan trọng hơn trách nhiệm nào
Ở Việt Nam, không phải đến bây giờ, vấn đề TNXH của DN mới được đặt ra; mà trái lại, ngay trong thời bao cấp, người ta cũng đã nói nhiều về TNXH của các xí nghiệp đối với nhà nước và người lao động, cũng như đối với cộng đồng nói chung Nhưng, trong những năm gần đây, TNXH được hiểu một cách rộng rãi hơn, không chỉ từ phương diện đạo đức, mà cả từ phương diện pháp lý Những tác hại về môi trường do một số DN gây ra trong thời gian qua không những bị dư luận lên án về phương diện đạo đức,
mà quan trọng hơn là cần phải được xử lý nghiêm khắc về phương diện pháp
lý Do đó, không phải ngẫu nhiên trên sách báo và nhiều diễn đàn ở Việt
Nam, thuật ngữ TNXH của DN đã và đang được sử dụng ngày càng phổ biến
Tuy nhiên, TNXH vẫn là vấn đề còn khá mới mẻ và được hiểu theo nhiều cách khác nhau Có thể nói rằng, đến thời điểm này chưa có một định nghĩa
Trang 23thống nhất nào về TNXH và chúng ta chỉ có thể tiếp cận vấn đề TNXH bằng cách nhìn vào 02 lợi ích của nó, đó là lợi ích cho DN và lợi ích cho xã hội
1.1.2.2 Lợi ích thu được từ việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Ngày nay, TNXH đã trở thành một trong những nội dung quan trọng và không thể thiếu được trong hoạt động quản trị chiến lược của tất cả các DN với nội dung thực hiện không chỉ giới hạn trong các vấn đề truyền thống về môi trường sinh thái mà còn lan rộng tới rất nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội khác Nhiều nhà lãnh đạo DN đã bắt đầu coi TNXH là một cơ hội vừa nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của DN, vừa góp phần đóng góp cho xã hội Các nhà lãnh đạo xem TNXH là trọng tâm trong tất cả các chiến lược kinh doanh của DN, giúp DN tập trung vào những hoạt động kinh doanh chính một cách sáng tạo Người đầu tiên thực hiện TNXH, có thể nói là ông Noris, CEO đầu tiên của công ty Control Data Ông đã phác thảo những ý tưởng đầu tiên
về TNXH vào năm 1955 Theo Noris, các DN nên sử dụng tài năng và nguồn lực của mình nhằm đáp ứng những nhu cầu của xã hội Ý tưởng này thể hiện
sự kết nối và trách nhiệm của DN với cộng đồng Tuy nhiên, ông đã không thành công trong việc triển khai những ý tưởng của mình United Way là người đã phát triển ý tưởng của Noris thành chiến lược thành công giúp DN gia tăng lợi thế cạnh tranh đồng thời phát triển cộng đồng lâu dài
Đối với bất kỳ DN nào, ngay từ khi bắt đầu khởi nghiệp thì mục đích lợi nhuận là vấn đề DN quan tâm hàng đầu Nhưng để DN PTBV, có thương hiệu và uy tín trên thị trường trong nước cũng như quốc tế thì các DN cần chú trọng tới việc xây dựng hình ảnh DN Một trong những biện pháp hữu hiệu giúp xây dựng và quảng bá hình ảnh DN là việc thực hiện tốt TNXH của DN
đó Do vậy, song hành với quá trình phát triển sản xuất, kinh doanh, DN cần quan tâm đến việc thực hiện TNXH
Theo báo cáo của công ty Cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam
(Vietnam Report) có đến 62% trong số các DN VNR500 (top 500 DN lớn nhất
tại Việt Nam) được hỏi đều cho rằng TNXH ngày càng đóng vai trò quan
Trang 24trọng hơn trong chiến lược kinh doanh của họ, đặc biệt trong thời kỳ sau suy thoái kinh tế hiện nay Con số này cho thấy rằng các DN VNR500 nói riêng
và cộng đồng DN Việt nói chung đã có những nhận định đúng đắn về TNXH
và tầm quan trọng của TNXH trong sự PTBV của DN Cũng theo một nghiên cứu của công ty này dành cho các DN hàng đầu Việt Nam thì có đến 78% số
DN được hỏi cho rằng khía cạnh thu được nhiều lợi ích nhất từ việc thực hiện TNXH của DN trong thời gian qua là nâng cao được hình ảnh DN trong cộng đồng Thực vậy, khi DN thực hiện tốt TNXH, không chỉ người tiêu dùng, mà
cả cộng đồng biết đến DN với sự đánh giá cao về thương hiệu Một khía cạnh khác cũng được các DN nhận định là thu được lợi ích từ việc thực hiện TNXH của DN trong thời gian qua là việc thu hút và giữ chân nhân sự tài năng (30% trong tổng số DN VNR500 được hỏi) 1
Bởi, trong chiến lược thực
hiện TNXH của DN có sự quan tâm đến an toàn lao động, đến đời sống của không chỉ cá nhân người lao động mà còn cả gia đình họ nữa; người lao động làm việc trong các DN này được đào tạo nâng cao về chuyên môn, được làm việc trong một môi trường hiện đại, thân thiện và an toàn Chính vì thế, khối nhân sự tài năng này muốn gắn bó lâu dài với DN và cống hiến hết mình cho
DN Như vậy, việc thực hiện tốt TNXH đem lại cho DN rất nhiều thuận lợi: hình ảnh của DN được nâng cao, người lao động gắn bó và cống hiến hết mình cho DN, DN có ưu thế cạnh tranh hơn
Xét một cách tổng thể, việc thực hiện TNXH sẽ mang lại những lợi ích trực tiếp đối với DN và lợi ích cho xã hội:
* Ở cấp độ DN
Thứ nhất, thực hiện TNXH góp phần giảm chi phí và tăng năng suất
Trong một số trường hợp, TNXH có thể đem lại hiệu suất lớn hơn, tiết kiệm được chi phí từ việc ứng dụng các kỹ thuật giảm thiểu chất thải, và điều này
có thể giúp DN có được giá cả cạnh tranh hơn Một DN có thể tiết kiệm được
chi phí sản xuất nhờ đầu tư, lắp đặt các thiết bị mới Chẳng hạn, một DN sản
1
Theo Công ty Cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (VietNam Report) (2010), Báo cáo
thường kỳ số 7 của VNR: Trách nhiệm xã hội - con đường nào cho doanh nghiệp Việt
Trang 25xuất bao bì lớn của Ba Lan đã tiết kiệm được 12 triệu đôla Mỹ trong 5 năm nhờ việc lắp đặt thiết bị mới, nhờ đó làm giảm 7% lượng nước sử dụng, 70% lượng chất thải nước và 87% chất thải khí 2
Mặt khác, chi phí sản xuất và năng suất lao động phụ thuộc chặt chẽ vào hệ thống quản lý nhân sự Một hệ thống quản lý nhân sự hiệu quả cũng giúp DN cắt giảm chi phí và tăng năng suất lao động đáng kể Chế độ lương, thưởng hợp lý, môi trường lao động sạch sẽ và an toàn, các cơ hội đào tạo và chế độ bảo hiểm y tế và giáo dục đều góp phần giảm tỷ lệ nhân viên nghỉ, bỏ việc, do đó giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo nhân viên mới Tất cả những yếu tố đó góp phần giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động
Thứ hai, thực hiện TNXH góp phần tăng doanh thu Mỗi DN đều hoạt
động trên một địa bàn nhất định Do đó, việc đầu tư hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương có thể tạo ra một nguồn lao động tốt hơn, nguồn cung ứng rẻ và
đáng tin cậy hơn và nhờ đó tăng doanh thu Chẳng hạn, công ty Hindustan
Lever, một chi nhánh của tập đoàn Unilever tại Ấn Độ, vào đầu những năm
70 (của thế kỷ 20) chỉ hoạt động được với 50% công suất do thiếu nguồn cung ứng sữa bò từ địa phương và do vậy, đã bị lỗ trầm trọng Để giải quyết vấn đề này, công ty đã thiết lập một chương trình tổng thể giúp nông dân tăng sản lượng sữa bò Chương trình này bao gồm đào tạo nông dân cách chăn nuôi, cải thiện cơ sở hạ tầng cơ bản và thành lập một ủy ban điều phối những nhà cung cấp địa phương Nhờ đó, số lượng làng cung cấp sữa bò đã tăng từ 6 tới hơn 400, giúp cho công ty hoạt động hết công suất và đã trở thành một trong những chi nhánh kinh doanh lãi nhất tập đoàn 3
Thứ ba, thực hiện TNXH góp phần nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín của công ty TNXH có thể giúp DN tăng giá trị thương hiệu và uy tín đáng
kể Đến lượt nó, uy tín giúp DN tăng doanh thu, hấp dẫn các đối tác, nhà đầu
tư và người lao động Trên thế giới, những công ty khổng lồ đang chi một khoản tiền rất lớn để trở thành hình mẫu kinh doanh lý tưởng Ví dụ như hãng
2,3 Theo Công ty luật Sunlaw, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp,
ngày cập nhật 12.5.2013
Trang 26điện tử dân dụng Best Buy đã có chương trình tái chế sản phẩm; hãng cà phê nổi tiếng Starbucks đã và đang bắt tay vào các hoạt động cộng đồng; hãng nước khoáng nổi tiếng của Pháp Evian phân phối sản phẩm của mình trong những chai nước thân thiện với môi trường Những tập đoàn đa quốc gia như The Body Shop (tập đoàn của Anh chuyên sản xuất các sản phẩm dưỡng da
và tóc) và IKEA (tập đoàn kinh doanh đồ dùng nội thất của Thụy Điển) là những ví dụ điển hình Những công ty này đều nổi tiếng không chỉ vì các sản phẩm có chất lượng và giá cả hợp lý của mình, mà còn nổi tiếng là các DN có
trách nhiệm đối với môi trường và xã hội
Thứ tư, thực hiện tốt TNXH giúp các DN cạnh tranh hơn trong việc thu hút và giữ chân lao động giỏi TNXH khuyến khích các DN đảm bảo môi
trường làm việc tốt cho người lao động, bao gồm bảo hiểm xã hội, an toàn lao động, đối xử bình đẳng, chăm sóc sức khoẻ định kỳ Chính những điều này có thể giúp các DN giữ chân được người lao động có kỹ năng, tăng hiệu suất lao động và thậm chí thu hút thêm người lao động có trình độ Nguồn lao động giỏi, có năng lực là yếu tố quyết định năng suất và chất lượng sản phẩm của
DN Có một thực tế là, ở các nước đang phát triển, nguồn nhân lực được đào tạo có chất lượng cao không nhiều Vấn đề đặt ra đối với các DN là làm thế nào thu hút, giữ chân họ và phát huy hết khả năng của họ trong hoạt động quản lý, sản xuất kinh doanh của DN Do vậy, việc thu hút và giữ được nhân viên có chuyên môn tốt là một thách thức lớn đối với các DN Trong điều kiện của nền KTTT, những DN trả lương thỏa đáng và công bằng, tạo cho nhân viên cơ hội đào tạo, có chế độ bảo hiểm y tế và môi trường làm việc
sạch sẽ có khả năng thu hút và giữ được nguồn nhân lực có chất lượng cao
* Ở cấp độ xã hội
TNXH của DN có thể góp phần xoá đói giảm nghèo thông qua những chương trình từ thiện do các DN thực hiện như đóng góp cho quỹ vì người nghèo, quỹ vì người tàn tật… Các chính sách về TNXH trong bản thân các
DN như đối xử bình đẳng giữa nam giới và nữ giới, với lao động cũ và mới cũng đem lại công bằng xã hội nói chung Và một đóng góp quan trọng nữa
Trang 27của TNXH ở cấp độ xã hội là góp phần BVMT Điều này được xem là một đóng góp rất quan trọng do tình trạng ÔNMT hiện đang đe dọa cuộc sống con người hơn bao giờ hết và ngốn nhiều tiền của để xử lý vấn đề này
1.1.2.3 Một số lưu ý khi thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
* Thứ nhất, TNXH phải bắt đầu từ trong chính DN: Khái niệm TNXH
phải được xây dựng từ nền tảng sứ mệnh của DN Sẽ dễ dàng hơn nhiều nếu xây dựng văn hóa TNXH ngay từ khi mới thành lập DN Những chương trình TNXH thành công phải được dựa trên việc tạo dựng niềm tin và sự ủng
hộ của khách hàng và công chúng, tất cả cán bộ công nhân viên, các nhà cung cấp và phân phối, các nhà đầu tư và ngân hàng, và cuối cùng là các tổ chức chính quyền TNXH cần được áp dụng trong mọi khía cạnh hoạt động của công ty và tất cả các nhóm có quyền lợi liên quan
Việc thực hiện TNXH phải bắt nguồn từ người lãnh đạo Nếu những nhà quản lý không tin tưởng vào tầm quan trọng của TNXH, nếu họ không chủ động tiên phong hay hỗ trợ các hoạt động TNXH tại cơ sở, nếu họ không thể hiện tính chính trực và trung thực trong công việc cũng như trong cuộc sống cá nhân thì TNXH không thể thành công DN có thể tăng cường TNXH thông qua đổi mới quản trị DN, cụ thể là: làm mới triết lý của DN - biến điều lệ của DN thành một vật đảm bảo cho hành vi có trách nhiệm hơn của DN; tăng cường sự quản lý định hướng khách hàng - đặc biệt cho phép dòng thông tin hai chiều và sự phản hồi từ phía khách hàng; tăng cường quản trị DN - đặc biệt chỉ định các giám đốc từ bên ngoài và nâng cao tốc độ
ra quyết định và cuối cùng là thực hiện quản trị rủi ro thông qua việc đào tạo thực hành
* Thứ hai, sự hợp tác quốc tế với các tổ chức phi chính phủ, các DN, chính phủ và các đối tác khác cũng rất quan trọng để chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau nhằm gia tăng TNXH của DN Nó cũng hướng tới mục tiêu chia sẻ kinh
nghiệm quản lý lao động, cải thiện điều kiện làm việc, môi trường làm việc
và hệ thống chăm sóc sức khỏe cho người lao động trong các loại hình DN
Trang 28khác nhau
* Thứ ba, cùng với việc giúp cộng đồng DN và các bên liên quan làm
quen với khái niệm TNXH, các cơ quan chức năng, các hiệp hội kinh doanh
và các tổ chức phi chính phủ nên khích lệ các DN có những sáng kiến TNXH bằng các biện pháp khuyến khích như thưởng, báo cáo Việc thưởng và báo
cáo về TNXH là các công cụ khuyến khích hiệu quả những DN có những nỗ lực bền bỉ, loại ra các DN có tình hình hoạt động TNXH không tốt
*Thứ tư, bên cạnh việc thưởng và báo cáo về TNXH, việc tài trợ cho
các dự án TNXH cũng là một biện pháp khuyến khích hiệu quả để buộc các
DN phải tuân thủ các chuẩn mực TNXH Các loại dự án này thường được
các tổ chức quốc tế và các hiệp hội kinh doanh tài trợ
Khi tiếp cận TNXH của DN, chúng ta cần tiếp cận cả trên phương diện đạo đức lẫn phương diện pháp lý Chúng ta không nên chỉ hiểu trách nhiệm của DN ở khía cạnh đạo đức của chủ DN, ở công tác từ thiện của DN, mà cần hiểu cả ở khía cạnh pháp lý, tức thực thi TNXH là một yêu cầu bắt buộc đối với các DN Việc kết hợp cả hai phương diện đạo đức và pháp lý là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp nâng cao TNXH của DN Hội nhập kinh
tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh và cạnh tranh, vừa có nhiều
cơ hội và không ít thách thức Các DN muốn tham gia sân chơi lớn buộc phải
bổ sung thêm cho mình năng lực cạnh tranh mới đó là thực thi TNXH Nếu sớm được nhận thức và áp dụng, TNXH chính là một công cụ đắc lực giúp cho DN chiếm được ưu thế cạnh tranh hơn so với các đối thủ khác
1.2 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
1.2.1 Khái niệm bảo vệ môi trường
Triết học Mác luôn khẳng định, môi trường tự nhiên là cái có trước con người Sự xuất hiện của con người là một bước nhảy vọt về chất trong quá trình tiến hoá của môi trường tự nhiên Vì lẽ đó, con người là một bộ phận của môi trường tự nhiên, là sản phẩm trong quá trình tiến hoá lâu dài của môi trường tự nhiên Khi mới thoát thai từ động vật để bước vào lịch sử xã hội,
Trang 29con người còn phụ thuộc gần như hoàn toàn vào tự nhiên, bị tự nhiên chi phối
và thống trị Dần dần, trong quá trình sản xuất xã hội, thông qua lao động, con người học được cách biến đổi tự nhiên, biến đổi môi trường để phục vụ cuộc sống của mình
Tự nhiên đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình là xây dựng ngôi nhà chung - sinh quyển - cho tất cả các cơ thể sống trên hành tinh trái đất, kể cả con người Hoạt động của con người nhằm chinh phục tự nhiên ngày càng giảm bớt sự phụ thuộc của họ vào “các thế lực không kiểm soát được” và ngày càng tăng quyền hành của con người trước tự nhiên, đó là một dấu hiệu tiến bộ của sự phát triển xã hội Trong quá trình sản xuất, con người đã dần dần nhận thức được các quy luật của tự nhiên Việc nắm bắt các quy luật tự nhiên, sự phát triển của nhu cầu ngày càng kích thích thêm những hoạt động định hướng của con người nhằm chinh phục các hiện tượng tự nhiên, khai thác tài nguyên thiên nhiên bắt chúng phục vụ cho mình
Môi trường và tài nguyên thiên nhiên chính là nhân tố giữ vị trí tương đương với dân số và phương thức sản xuất trong cấu trúc tồn tại xã hội Vì vậy, môi trường là một trong ba nhân tố cơ bản quy định đặc điểm và sự vận động của toàn bộ tồn tại xã hội Đó là lý do, con người không thể để môi trường tiếp tục bị tàn phá đến mức mất cân bằng, không thể tiếp tục biến mình thành kẻ hủy diệt ngày càng tàn ác hơn đối với môi trường Để thực hiện xu thế của sự PTBV, thì con người không có cách nào khác là phải tìm ra
phương thức sống ngày càng thân thiện hơn với môi trường
Thế giới ngày nay đang đứng trước nhiều thách thức về môi trường Con người đang ra sức phá hủy thiên nhiên vì lợi ích kinh tế của mình và do
đó, cũng đang phá hủy môi trường sống của chính bản thân mình Hội nghị Quốc tế lần I tại Stockhom (Thụy Điển, 1972) đã cảnh báo thế giới về một hiện trạng khó xử nghiêm trọng Một mặt, cần tăng tối đa nhịp điệu phát triển kinh tế để đáp ứng những nhu cầu cơ bản của loài người đang ngày càng đông lên Mặt khác, sự chạy đua vũ trang của các nước giàu và đẩy nhanh "công nghiệp hoá, hiện đại hoá" ở các nước nghèo để phát triển theo mô hình các xã
Trang 30hội phương Tây đã gây ra những tác động xấu chưa từng có đối với môi trường, đặc biệt đối với hệ sinh thái - hệ nuôi dưỡng sự sống trên trái đất
Trong nền văn minh nông nghiệp, con người đã có tác động lên môi trường tự nhiên, nhất là lên đất đai, rừng đã làm biến đổi theo chiều hướng tiêu cực Song, dẫu sao, vẫn “còn nằm trong giới hạn chịu đựng” của tự nhiên Các chất thải bỏ của sản xuất nông nghiệp ở thời kỳ này vẫn còn được các động, thực vật và các vi sinh vật xử lý, nên chu trình trao đổi chất, năng lượng, thông tin của sinh quyển luôn được bảo toàn
Thập niên 1980 trở lại đây chúng ta đã chứng kiến sự bùng phát các thảm hoạ môi trường: hạn hán, bão lụt, ô nhiễm không khí và mưa axit, các sự
cố hạt nhân và rò rỉ hoá chất độc hại, sự suy thoái thảm hại quỹ đất trồng trọt, lan tràn hoá chất bảo vệ thực vật và ô nhiễm các nguồn nước, thủng tầng ôzôn, hiện tượng ấm lên toàn cầu do hiệu ứng nhà kính… Sự ô nhiễm và sức phá hoại do con người gây ra đối với tự nhiên đã vượt quá năng lực tái sinh của quả đất Nhằm duy trì và gìn giữ sự sống trên trái đất, giới khoa học quốc
tế cùng với các chính phủ, các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ khác đã có nhiều kế hoạch hành động để BVMT sống của con người và xã hội loài người Vậy, thực chất của việc BVMT hiện nay là gì?
Theo GS TSKH Lê Huy Bá: “BVMT gồm các chính sách, chủ trương,
các chỉ thị nhằm ngăn chặn hậu quả xấu của con người đối với môi trường, các sự cố môi trường do con người và thiên nhiên gây ra BVMT còn bao hàm
cả ý nghĩa sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên”[2, tr.96-97] Theo định
nghĩa này, BVMT gồm các chính sách, chủ trương, các chỉ thị của Đảng, Nhà nước nhằm ngăn chặn hậu quả xấu của con người đối với môi trường, các sự
cố môi trường do con người và thiên nhiên gây ra và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên Tuy nhiên, định nghĩa chưa thể hiện được hành động của con người nhằm BVMT, cải tạo, phục hồi những nơi môi trường đã bị ô nhiễm
Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “BVMT là tập hợp các biện
pháp giữ gìn, sử dụng hoặc phục hồi một cách hợp lý sinh giới (vi sinh vật,
Trang 31thực vật, động vật và môi sinh, đấ t nước, không khí, lòng đất) nghiên cứu thử nghiệm thiết bị sử dụng tài nguyên thiên nhiên, áp dụng công nghệ ít có hoặc không có phế liệu… nhằm tạo ra một không gian tối ưu cho cuộc sống của con người Ngoài ra, BVMT còn tạo ra điều kiện tinh thần, văn hóa khiến cho đời sống con người được thoải mái”[14, tr.160] Theo định nghĩa này, BVMT
được hiểu là bao gồm những hoạt động, những việc làm trực tiếp, gián tiếp tạo điều kiện giữ cho môi trường tự nhiên và môi trường xã hội trong lành, sạch đẹp, cải thiện điều kiện vật chất và tinh thần của con người, sinh vật, làm cho chất lượng cuộc sống tốt hơn, duy trì cân bằng sinh thái trên cơ sở tăng đa dạng sinh học và sản xuất sạch
Luật BVMT năm 2005 định nghĩa: “BVMT là hoạt động giữ cho môi
trường trong lành, sạch đẹp, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học” [21, điều 3] Định nghĩa này khá đầy đủ
về nội dung BVMT là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa tác động xấu đối với môi trường; phục hồi, cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học Tuy nhiên, nếu BVMT chỉ là những hoạt động nêu trên thì chưa đủ mà cần phải có
cơ sở chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn, phù hợp của Đảng và Nhà nước
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cho rằng: “BVMT là trách
nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và nghĩa vụ của mọi công dân Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát, ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm với khôi phục và BVMT sinh thái Phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch và tiêu dùng sạch Coi trọng nghiên cứu, dự báo và thực hiện các giải pháp ứng phó với quá trình biến đổi khí hậu và thảm họa thiên nhiên Quản lý, bảo vệ, tái tạo và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên quốc gia”[ 9, tr.78]
Như vậy, BVMT có thể được hiểu là tập hợp các biện pháp nhằm góp phần ngăn chặn, khắc phục những ảnh hưởng xấu gây ra đối với môi trường
Trang 32sinh thái cũng như các biện pháp sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và năng lượng hợp lý BVMT bao hàm các nội dung như: kết hợp chặt chẽ giữa
kiểm soát, ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm với khôi phục và BVMT sinh thái; phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch và tiêu dùng sạch; coi trọng nghiên cứu, dự báo và thực hiện các giải pháp ứng phó với quá trình biến đổi khí hậu
và thảm họa thiên nhiên; quản lý, bảo vệ, tái tạo và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên quốc gia Đây cũng là những nội dung cơ bản về BVMT ở nước ta trong thời gian tới
Hoạt động BVMT phải được thực hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau Ở cấp độ cá nhân, môi trường ảnh hưởng đến bất cứ con người nào Mỗi cá nhân
có thể có những hành vi thân thiện với môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu tới môi trường Do đó, BVMT phải được coi là công việc thường xuyên của mỗi cá nhân Ở cấp độ cộng đồng, dù tồn tại dưới hình thức nào, gắn kết với nhau bằng yếu tố nào, các cộng đồng đều phải BVMT Hoạt động BVMT có thể là những quy ước, kể cả quy ước bất thành văn, qua đó ý thức BVMT của các thành viên trong cộng đồng được nâng cao
Môi trường của các cộng đồng không tách rời khỏi môi trường chung nên việc BVMT sẽ đạt hiệu quả cao hơn nếu được tổ chức, thực hiện với sự tham gia của nhiều cộng đồng Cấp độ địa phương được hiểu theo địa giới hành chính - cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh Cấp quốc gia, Nhà nước Trung ương thực hiện quản lý thống nhất về BVMT thông qua ban hành và thực hiện chiến lược, chính sách, kế hoạch và pháp luật về môi trường, thực hiện thống nhất các hoạt động quản lý ở tầm vĩ mô cũng như xác lập quan hệ quốc
tế về môi trường Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và môi trường, thống nhất quản lý BVMT trong cả nước, có chính sách đầu tư, tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật BVMT Ở cấp quốc tế, các quốc gia đang nỗ lực hợp tác nhằm BVMT toàn cầu Các hội nghị quốc tế được tổ chức, các tổ chức quốc tế đang được hình thành và các điều ước quốc tế về môi trường được ký kết là thành quả nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế
Trang 331.2.2 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Môi trường ngày càng bị hủy hoại nghiêm trọng, gây tổn thương cho con người đang sống ở hiện tại và các thế hệ tương lai, điều này buộc chúng
ta phải xem xét lại thước đo của sự phát triển Cần phải tính đến lợi ích của những cộng đồng không được hưởng lợi hoặc hưởng lợi quá ít từ sự tăng trưởng, đến lợi ích của thế hệ mai sau, đến chi phí cần phải sử dụng để đền bù thiệt hại về môi trường hoặc để cải thiện môi trường Việc tính toán chi phí môi trường gộp vào chi phí phát triển đã dẫn đến một khái niệm mới, đó là
khái niệm PTBV
Tháng 6 năm 1972, Hội nghị của Liên Hợp Quốc về con người và môi trường được tổ chức tại Stockhom, Thụy Điển được đánh giá là hành động đầu tiên đánh dấu sự nỗ lực chung của toàn thể nhân loại nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường Một trong những kết quả của hội nghị lịch sử này là sự thông qua bản tuyên bố về nguyên tắc và kế hoạch hành động chống ÔNMT
Và cũng tại hội nghị này lần đầu tiên khái niệm PTBV đã xuất hiện với ý nghĩa là một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa
Tiếp sau đó, thuật ngữ này chính thức được xuất hiện vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế -IUCN) với nội
dung: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh
tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”[6] Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào
năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban
Brundtland) Trong thời gian gần đây thuật ngữ PTBV xuất hiện khá thường
xuyên nhằm biểu thị sự phát triển bảo đảm tăng trưởng kinh tế trên cơ sở sử dụng một cách hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ được môi trường tự nhiên nhằm vừa có thể thỏa mãn được nhu cầu của thế hệ hôm nay, vừa
Trang 34không làm ảnh hưởng đến điều kiện thỏa mãn nhu cầu và môi trường sống của các thế hệ mai sau Thực chất của sự PTBV là giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và BVMT tự nhiên, bảo đảm sự công bằng giữa các thế hệ trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và BVMT
Chúng ta không sở hữu trái Đất, chúng ta vay mượn trái Đất từ con cháu mình Chúng ta sinh ra từ những quá trình tự nhiên không phải để thống trị, mà để sống hoà hợp với thiên nhiên Sự phát triển của mỗi người, mỗi cộng đồng và mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào những điều kiện môi trường của mình và không một thế hệ nào được phép tự cho mình cái quyền được lạm dụng hay phá huỷ những yếu tố cần thiết cho sự tồn tại của các thế hệ
sau Theo Uỷ ban Môi trường và Phát triển thế giới, 1987 định nghĩa:
“PTBV là những thế hệ hiện tại cần đáp ứng nhu cầu của mình, sao cho
không làm hại đến khả năng các thế hệ tương lai đáp ứng các nhu cầu của họ”[6]
Ở Việt Nam, ngoài nội dung trên đây, khái niệm PTBV còn được bổ
sung thêm nhiều nội dung mới Luật BVMT 2005 định nghĩa: “phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ
sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” [21, điều 3] Việt Nam đang chủ trương xây dựng
chiến lược PTBV phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước Nội dung cơ bản của chiến lược PTBV của Việt Nam bao gồm:
Một là, phát triển nhanh phải đi đôi với tính bền vững Điều đó phải
được kết hợp ở cả tầm vĩ mô lẫn vi mô, ở cả tầm ngắn hạn lẫn dài hạn
Hai là, tăng trưởng về số lượng phải đi liền với nâng cao chất lượng,
hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế
Ba là, trong khi khai thác các yếu tố phát triển theo chiều rộng, phải
đặc biệt coi trọng các yếu tố phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức
Bốn là, phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển
Trang 35toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo
Năm là, phải coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng
bước phát triển
Sáu là, phát triển kinh tế phải đi đôi với việc bảo đảm ổn định chính trị
- xã hội, coi đây là tiền đề, điều kiện để phát triển nhanh và bền vững
Chiến lược PTBV của Việt Nam đã đề cập một cách khá toàn diện các
khía cạnh khác nhau của sự phát triển, trong đó nổi lên việc giải quyết hài
hòa các mối quan hệ, như hài hòa giữa phát triển nhanh và bền vững, giữa
tăng trưởng về số lượng và nâng cao chất lượng, giữa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu; hài hòa giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ và cải thiện môi trường Với mục tiêu như vậy, TNXH của DN sẽ là một yếu tố quan trọng góp phần vào việc thực hiện chiến lược PTBV Việc thực thi TNXH của DN
là một đòi hỏi, một yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay bởi lẽ, chúng ta đang vay mượn và tiêu dùng quá mức các nguồn tài nguyên của thế hệ mai sau Đây là một hậu quả tất yếu của việc xây dựng các nhà máy, xí nghiệp còn mang nặng tính tự phát, chỉ tính tới lợi ích kinh tế đơn thuận mà chưa có quy hoạch sinh thái, chưa chú ý tới việc BVMT
Trong phạm trù TNXH của DN, lĩnh vực mà DN phải có trách nhiệm
là rất rộng Theo nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử, mỗi một phương thức sản xuất đều được đặc trưng bởi một lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, đó là sự thể hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với con người và mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên Trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, TNXH của DN được thể hiện là trách nhiệm về BVMT DN hoạt động cần đảm bảo các hoạt động của mình không ảnh hưởng tới sức khỏe của con người, không làm ảnh hưởng tới môi trường sinh
thái Điều đó có nghĩa: TNXH của DN trong lĩnh vực BVMT là việc DN hoạt
động sao cho không có những hành động gây ảnh hưởng xấu tới môi trường,
Trang 36đồng thời nó còn bao hàm cả việc DN hoạt động sao cho đảm bảo tiết kiệm năng lượng, không khai thác tài nguyên một cách bừa bãi, có những phương
án bảo tồn nguồn tài nguyên, giảm thiểu ÔNMT bằng cách đầu tư có hiệu quả vào việc xử lý chất thải trước khi đưa nó trở lại với môi trường sống
Như vậy, TNXH của DN trong lĩnh vực BVMT bao gồm các nội dung: DN hoạt động sao cho không gây ảnh hưởng xấu tới môi trường; Sử dụng tiết kiệm nguồn nguyên liệu và năng lượng; Công tác xử lý nước thải phải được đầu tư mang lại hiệu quả tốt
* Nội dung cụ thể của TNXH trong lĩnh vực BVMT:
Nội dung 1: Sản xuất sản phẩm, dịch vụ thân thiện với môi trường
Hiện nay, vấn đề môi trường đang được nhiều nước sử dụng để làm các rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế Từ những năm 90 của thế kỷ XX, người tiêu dùng (đặc biệt ở các nước châu Âu và Mỹ) đã bắt đầu quan tâm tới vấn đề môi trường khi đưa ra các quyết định mua một sản phẩm nào đó và họ bắt đầu đặt ra yêu cầu về sản phẩm mang tính thân thiện với môi trường Chính nhu cầu này đã thúc đẩy các nhà sản xuất chú tâm đến việc tạo ra các sản phẩm thân thiện với môi trường hay còn gọi là “sản phẩm xanh” và làn sóng nhãn sinh thái đã được dấy lên trên toàn thế giới
Sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường chính là một trong những cách thức để thực hiện trách nhiệm BVMT của DN và người tiêu dùng nhằm hướng tới mục tiêu PTBV Đây là nhóm sản phẩm mà quá trình sản xuất, tiêu thụ và thải bỏ không ảnh hưởng tiêu cực đối với môi trường hoặc nếu có thì cũng nhẹ hơn so với tác động tới môi trường của các sản phẩm tương tự cùng loại Xét trong chừng mực nào đó, đôi khi các sản phẩm thân thiện với môi trường còn có những ảnh hưởng tích cực tới môi trường, giúp khôi phục lại môi trường sinh thái Cho đến nay chưa có sản phẩm nào được coi là thân thiện với môi trường một cách tuyệt đối mà chỉ tồn tại những sản phẩm thân thiện với môi trường một cách tương đối Một sản phẩm chỉ được coi là thân thiện với môi trường khi và chỉ khi nó đáp ứng đầy
đủ các tiêu chuẩn về tính thân thiện với môi trường từ giai đoạn sản xuất cho
Trang 37tới giai đoạn đưa vào tiêu dùng, sử dụng và cuối cùng là giai đoạn thải bỏ sau khi được sử dụng Các tiêu chuẩn đánh giá tính thân thiện cũng khác nhau qua từng vùng lãnh thổ, từng khu vực
Nội dung 2: Sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường; Khai thác,
sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các nguồn năng lượng có hiệu quả
Việc đầu tư vào những công nghệ mới thân thiện với môi trường ngày càng được nhiều nơi trên thế giới áp dụng, chẳng những nó đem lại lợi ích cho môi trường sống của con người mà còn mang lại những hiệu quả kinh tế rất to lớn Sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường không chỉ giảm thiểu được những dòng thải trong quá trình sản xuất mà còn giúp DN tiết kiệm được năng lượng và nguồn nguyên liệu đầu vào
Như chúng ta đều biết, tài nguyên là yếu tố gắn liền với hoạt động kinh
tế, là yếu tố đầu vào của hệ thống kinh tế, chúng có thể đo đếm và hạch toán được trong sổ sách kế toán, còn môi trường bao gồm hệ thống tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người ảnh hưởng tới đời sống và hoạt động của con người Tài nguyên và môi trường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong một hệ sinh thái xác định, khi đề cập tới BVMT cũng có nghĩa bao hàm cả bảo vệ tài nguyên Việc khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các nguồn năng lượng có hiệu quả sẽ góp phần giúp DN tiết kiệm được chi phí đầu vào và tránh lãng phí trong vay mượn tài nguyên và nguồn năng lượng của thế hệ tương lai
Nội dung 3: Kiểm soát tốt chất thải vào môi trường, có hệ thống quy trình quản lý và kiểm soát môi trường
Thực tế cho thấy để một DN nằm trong khu công nghiệp, chế xuất xây dựng hệ thống xử lý nước thải đôi khi tốn hàng trăm triệu đồng có khi đến hàng tỷ đồng Để làm giảm tác động của ô nhiễm, DN có thể có hai lựa chọn, một là đẩy mạnh công tác xử lý đầu ra, hai là kiểm soát thật tốt khâu đầu vào cũng như quá trình sản xuất để giảm thiểu tối đa chất thải Với việc xác định chính xác các vấn đề môi trường cần quản lý sẽ giúp DN tập trung nguồn lực
để giải quyết vấn đề một cách có hiệu quả nhất, giúp cho người lao động
Trang 38trong tổ chức hiểu được các vấn đề môi trường mà họ đang phải đối mặt, khi
đó họ sẽ có các ứng xử tốt hơn với môi trường Đó là lý do bất cứ một DN nào cũng cần xây dựng cho mình một hệ thống quản lý và kiểm soát môi trường
Hệ thống quản lý và kiểm soát môi trường là một công cụ quản lý được
sử dụng để định hướng và kiểm soát mọi hoạt động của một tổ chức có khả năng gây ra các tác động tới môi trường xung quanh Để có thể áp dụng thành công hệ thống quản lý môi trường tổ chức cần phải thiết lập chính sách môi trường, đồng thời tiến hành nhận diện các tác động tới môi trường xung quanh gây nên bởi mọi mặt hoạt động, sản phẩm/dịch vụ của tổ chức Bước tiếp theo cần thiết lập các mục tiêu, chỉ tiêu môi trường và các chương trình quản lý môi trường để đạt được mục tiêu và chỉ tiêu đó Trong quá trình thực hiện phải định kỳ tiến hành kiểm tra, đánh giá hiệu quả, hiệu lực của việc thực hiện làm cơ sở đề xuất xem xét và có những cải tiến hệ thống quản lý cho phù hợp Hiện nay, các yêu cầu bộ tiêu chuẩn ISO 14001 với phương pháp luận lập kế hoạch - thực hiện - kiểm tra - hành động khắc phục (plan - do - check - act/PDCA) được xem là nền tảng của hệ thống quản lý môi trường Nếu như các tổ chức áp dụng và duy trì tốt hệ thống quản lý môi trường tốt thì việc giảm dần các tác động môi trường có hại từ các hoạt động của chính bản thân các tổ chức không phải là khó khăn khi mà chi phí cho việc xây dựng cũng như duy trì hệ thống quản lý môi trường này nhỏ hơn rất nhiều so với việc họ phải đầu tư vào công nghệ hoặc chi phí mà các tổ chức DN phải chi trả cho việc xử lý
Nội dung 4: Các hoạt động xã hội về BVMT hướng tới cộng đồng
Để thực hiện TNXH của DN trong lĩnh vực BVMT thì bên cạnh các biện pháp giảm thiểu tác động đến môi trường, DN cần luôn sẵn sàng tham gia trong các hoạt động bảo vệ, cải thiện môi trường thông qua việc đóng góp bằng nguồn lực con người, hỗ trợ tài chính, kêu gọi và truyền đạt về nhận thức BVMT đến tất cả các nhân viên của mình cũng như các cá nhân trong cộng đồng thông qua các chương trình môi trường
Trang 39Một trong những chương trình nổi bật hướng tới cộng đồng nhằm cải thiện môi trường trong thời gian qua phải kể tới chương trình “Quỹ 1 triệu cây xanh cho Việt Nam” do Tổng cục Môi trường (VEA) và Vinamilk phối hợp thực hiện, bắt đầu phát động từ năm 2012 Đây là hoạt động hướng về môi trường bằng cách kêu gọi cộng đồng cùng tham gia trồng thêm nhiều cây xanh cho Việt Nam Chương trình được mở rộng tới các khu vực mà cây xanh đem lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng như: khu dân cư, khu công cộng, các tuyến đường trung tâm, các trường học… tại các thành phố lớn trên toàn quốc Với mỗi sản phẩm nước giải khát Vfresh của Vinamilk được bán ra công ty sẽ trích 50 đồng để đóng góp vào Quỹ “1 triệu cây xanh cho Việt Nam” Hay Coca-Cola Việt Nam cũng tài trợ gần 2,8 tỷ đồng để thực hiện chương trình đưa nước sạch về cộng đồng trong năm 2012 tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh Hoạt động chính của dự án là lắp đặt đường ống, đồng hồ nước cho các hộ nghèo tại Liên Chiểu (Đà Nẵng), Thủ Đức (thành phố Hồ Chí Minh); khoan giếng, lắp đặt hệ thống lọc nước cho các hộ nghèo tại Thường Tín (Hà Nội), kết hợp với giáo dục vệ sinh cá nhân và ý thức bảo vệ tài nguyên nước cho cộng đồng Bên cạnh các dự án trên, trong nhiều năm qua, Coca - Cola Việt Nam còn hợp tác với Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên thực hiện dự án Phục hồi sinh thái đất ngập nước Đồng Tháp Mười tại Vườn Quốc Gia Tràm Chim thông qua các hoạt động phục hồi sinh cảnh, quản lý tài nguyên có sự tham gia của cộng đồng và các hoạt động hỗ trợ sinh kế của người dân Đồng thời, Coca - Cola còn hỗ trợ Quỹ quốc tế bảo
vệ thiên nhiên thực hiện dự án thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái ở Bến Tre Tổng ngân sách tài trợ cho hai dự án vào khoảng 24 tỷ đồng trong giai đoạn 2007-2012…
Ở Việt Nam, nhìn chung, vấn đề thực hiện TNXH của DN trong lĩnh vực BVMT vẫn chưa được các DN quan tâm đầu tư Một thực trạng cần được nhanh chóng chấn chỉnh là có một số nhà máy, xí nghiệp ra đời trước khi có chủ trương quy hoạch, chủ đầu tư thường chủ động chọn địa điểm xây dựng trước, sau đó hợp pháp hóa các thủ tục và tiến hành sản xuất kinh doanh
Trang 40Điều đó dẫn đến việc nhiều cơ sở xây dựng đan xen trong khu dân cư, trên một đơn vị hành chính, một đoạn sông Tình trạng trên đây đã gây ÔNMT nghiêm trọng Ngoài việc phân bố sản xuất không đồng đều, quá tải môi trường, đa số mặt bằng chỉ vừa đủ cho bố trí máy móc, thiết bị và các công đoạn sản xuất, hậu cần và trụ sở văn phòng, thiếu đất cho xây dựng hệ thống
xử lý chất thải gây ÔNMT Ngoài ra, các DN đang hoạt động trong khu công nghiệp thường xao nhãng việc áp dụng biện pháp BVMT do phải tự bỏ chi phí xây dựng kết cấu hạ tầng Trình độ hiểu biết về pháp luật và tuân thủ pháp luật của các DN lớn đã được nâng cao và có nhiều tiến bộ, song tại các DN nhỏ, các hộ kinh doanh cá thể việc tuân thủ pháp luật lao động, các quy định
vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều hạn chế Tình trạng chỉ thấy cái lợi trước mắt mà không thấy cái hại lâu dài, chỉ thấy cái lợi cục bộ mà không thấy cái giá phải trả, lại thêm cách làm chắp vá, thiếu quan điểm đồng bộ và thiếu quy hoạch tổng thể đã dẫn đến việc cất thải của các khu công nghiệp đang làm ô nhiễm trầm trọng môi trường nước, không khí, đất đai…, làm đảo lộn hệ thống các công trình thủy lợi của cả một vùng rộng lớn đất đai canh tác xung quanh vùng đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp Nguyên do của thực trạng trên chủ yếu vẫn là từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước do cơ chế quản lý lỏng lẻo, không chặt chẽ trong việc xét duyệt hệ thống kỹ thuật
và công nghệ xử lý chất thải, cùng với đó là hệ quả từ phía các DN là thái độ thờ ơ và thiếu nhận thức về nghĩa vụ thực thi pháp luật cũng như trách nhiệm của mình đối với xã hội Các cơ quan Nhà nước đang “ôm vào mình” quá nhiều công việc, mà một lượng lớn trong đó hoàn toàn có thể chuyển giao cho các tổ chức dân sự, như hiệp hội, đoàn thể Và vì quá tải, nên bộ máy nhà nước không thể thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của mình Các tổ chức thuộc xã hội dân sự Việt Nam đã được hình thành và hoạt động, có đóng góp thiết thực, như Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các Hiệp hội ngành nghề, như Dệt may, Xuất khẩu thuỷ sản, Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính ; song, do thiếu cơ sở pháp lý cần thiết, nên sự đóng góp đó còn hạn chế Bản thân các hiệp hội đó còn cần phải nâng cao tính chuyên nghiệp và