LÊ THỊ VÂNTÌM HIỂU VIỆC THỰC HIỆN NHÓM QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ TRONG CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN TRẺ EM CỦA CÁC GIA ĐÌNH NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ Mã số: 60 31 30
Trang 1LÊ THỊ VÂN
TÌM HIỂU VIỆC THỰC HIỆN NHÓM QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ TRONG CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN TRẺ EM CỦA CÁC GIA ĐÌNH NGƯỜI DÂN THÀNH
PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Mã số: 60 31 30
Người hướng dẫn: TS Mai Thị Kim Thanh
HÀ NỘI - 2008
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU Trang
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 6
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 7
Ý nghĩa khoa học 7
Ý nghĩa thực tiễn 8
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
Mục đích nghiên cứu 8
Nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 9
Đối tượng 9
Khách thể 9
Phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 10
Phương pháp luận 10
Phương pháp nghiên cứu cụ thể 13
Phương pháp phân tích tài liệu 13
Phương pháp phỏng vấn sâu 13
Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi 14
Phương pháp thảo luận nhóm 14
Phương pháp quan sát 14
6 Giả thuyết và khung lý thuyết 15
Giả thuyết nghiên cứu 15
Khung lý thuyết 16
Trang 3PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH 18
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 18 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 18
1.1.1.Trên thế giới 18
1.1.2 Tại Việt Nam 19
1.2 Khái niệm công cụ 21
1.2.1.Trẻ em 21
1.2.2 Gia đình 21
1.2.3 Bảo vệ 21
1.2.4 Nhóm quyền được bảo vệ 22
1.2.5 Một số khái niệm liên quan 23
1.3.Lý thuyết nghiên cứu 25
1.3.1.Lý thuyết hành vi 25
1.3.2.Lý thuyết biến đổi xã hội 27
1.3.3.Lý thuyết hành động xã hội 29
1.4 Những điều được quy định về quyền được bảo vệ trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em 31
1.4.1 Vì sao trẻ em cần được bảo vệ 31
1.4.2 Sơ lược về Công ước quốc tế về quyền trẻ em và nhóm quyền được bảo vệ 31
1.5 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về việc thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em 32
1.5.1 Vị trí, vai trò của trẻ em trong đời sống xã hội nước ta 32
1.5.2 Những quan điểm cơ bản Đảng về việc thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em 33
1.6 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 35
Trang 41.6.1 Vài nét về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của thành phố Hà Nội và
địa bàn khảo sát 35
1.6.1.1 Điều kiện địa lý – dân số 35
1.6.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 35
1.6.1.3 Điều kiện văn hoá, chính trị
36
1.6.1.3 Vài nét về hoạt động bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em tại địa bàn nghiên cứu
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHÓM QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ TRONG CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN TRẺ EM TẠI CÁC GIA ĐÌNH NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 38
I THỰC TRẠNG THỰC HIỆN NHÓM QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ TRONG CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN TRẺ EM 38
1.1 Nhận thức của các gia đình người dân thành phố Hà Nội về nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em 38
1.1.1 Nhận thức của người dân thành phố Hà Nội về Công ước quốc tế về quyền trẻ em 38
1.1.1.1 Nhận thức của các bậc cha mẹ về Công ước quốc tế về quyền trẻ em 38
1.1.1.2 Nhận thức của trẻ em về Công ước quốc tế về quyền trẻ em 43
1.1.2 Nhận thức của người dân thành phố Hà Nội về nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em 45
1.2 Thực trạng việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước của các gia đình người dân thành phố Hà Nội 47
1.2.1 Việc quan tâm chăm sóc trẻ em trong gia đình của các bậc cha mẹ 1.2.1.1 Về mức độ chăm sóc con cái 47
1.2.1.2 Thời gian chăm sóc con cái 52
1.2.2 Lao động trẻ em tại gia đình 55
Trang 51.2.2.1 Làm việc nhà 55
1.2.2.2 Sức ép học hành 57
1.2.3 Về vấn đề bạo lực đối với trẻ khi chúng mắc lỗi của các cha mẹ 59
1.2.3.1 Bạo lực thân thể 59
1.2.3.2 Bạo lực tinh thần 63
1.2.3.3 Chứng kiến bạo lực gia đình 65
II NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN NHÓM QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ TRONG CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN TRẺ EM CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 67
2 1 Nhận thức của trẻ em 67
2.2 Nhận thức của gia đình 67
2.3 Phong tục tập quán 72
2.4 Hoạt động của Hội phụ nữ 75
2.5 Hoạt động của truyên thông văn hóa 77
2.6 Điều kiện kinh tế gia đình 79
2.5 Chính sách luật pháp của Đảng và Nhà nước III XU HƯỚNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN NHÓM QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ TRONG CÔNG ƯỚC TRONG CỦA CÁC GIA ĐÌNH TRONG THỜI GIAN TỚI .80
3 1 Nhận thức của người dân về nhóm quyền được bảo vệ trong thời gian tới 80
3 2 Xu hướng thực hiện nhóm quyền được bảo vệ trong thời gian tớ 81
KẾT LUẬN, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 83
PHỤ LỤC 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 6PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Bạo hành đối với trẻ em đã được lựa chọn là một trong 10 sự kiện chính trị, xã hội lớn nhất năm 2007 Chưa bao giờ nạn bạo hành, xâm hại trẻ em xuất hiện nhiều như hiện nay và chưa bao giờ dư luận xã hội lại lên tiếng phản ứng gay gắt đến vậy Trong thời gian gần đây không ít vụ xâm hại trẻ em liên tiếp được phanh phui trước dư luận trên các phương tiện truyền thông đại chúng Theo một nghiên cứu của Tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển và Viện Khoa học Dân số, Gia đình và Trẻ em năm 2006 về thực trạng trừng phạt thân thể và tinh thần trẻ em tại Việt Nam thì hình thức giáo dục bằng roi vọt vẫn tồn tại và phổ biến trong nhiều gia đình Việc đánh đập, quát mắng, chửi rủa trẻ em được người lớn sử dụng thường xuyên khi trẻ mắc lỗi Có đến 63% bà mẹ và 56% ông bố sử dụng hình thức trừng phạt này đối với con cái Liệu đó có phải
là cách cư xử, dạy dỗ con cái phù hợp của người cha, người mẹ trong bối cảnh hiện nay, nhất là khi vấn đề nhân quyền luôn được đưa lên hàng đầu Rõ ràng bạo lực, xâm hại trẻ em không còn là vấn đề của riêng các gia đình mà nó đã trở thành một vấn đề xã hội cần đặc biệt quan tâm Chính vì vậy, hơn lúc nào hết, việc giúp các bậc cha mẹ nhận thức tốt, hiểu và thực hiện tốt nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước cho trẻ em được đặt ra như một yêu cầu bức bách cần phải được chú trọng, nhằm giúp các em được hưởng một cách tốt nhất quyền của mình mà Công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc và Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam đã đề ra
Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và nước thứ 2 phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em Việt Nam cũng cam kết thực hiện tuyên bố chung Một thế giới phù hợp với trẻ em mà ở đó trẻ em được an toàn và lớn lên trong một môi trường không có sự lạm dụng và bạo lực, các em được bảo vệ khỏi nguy cơ tai nạn giao thông, chết đuối, tai nạn thương tích Chúng ta cũng
Trang 7đã phê chuẩn Công ước 182 của Tổ chức lao động quốc tế về chống lại các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất Năm 1991 Nhà nước ta cũng đã ban hành “Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em” Như vậy, điều này đã minh chứng cho sự quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em Vậy mà, ở nhiều nơi trong các gia đình trên địa bàn của Thủ đô – trung tâm văn hoá, kinh tế, chính trị của cả nước, tình trạng trẻ
em trong gia đình vẫn bị đánh đập, chửi rủa, bị bóc lột, bị sao nhãng…vẫn tồn tại phổ biến Tại sao tình trạng này vẫn tồn tại, thậm chí có những loại hình xâm hại trẻ em còn phổ biến hơn tại các địa bàn khác, khi mà người dân Hà Nội hoàn toàn có điều kiện hơn trong việc thực hiện quyền trẻ em, khi mà hoạt động bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em được nhiều cơ quan đoàn thể, chính quyền tham gia?
Rõ ràng, hiện nay nhiều trẻ em vẫn phải chịu những xâm phạm từ phía những người lớn tuổi, bởi sự tác động của những yếu tố về kinh tế, xã hội Tiếp cận từ góc độ quyền trẻ em chúng ta nhận thấy rằng người lớn đang vô tình vi phạm các quyền của trẻ em, vi phạm luật pháp Việt Nam về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em Thêm vào đó, chính trẻ em cũng chưa nhận thức được những quyền của mình để tự bảo vệ khi bị xâm phạm Có thể nói, đây là một vấn đề bức thiết không chỉ ở góc độ gia đình mà đã trở thành một vấn đề mang tính quốc tế, vấn đề vi phạm nhân quyền, cụ thể ở đây là quyền trẻ em
Đã đến lúc chúng ta cần nhận thức lại một cách nghiêm túc những vấn đề liên quan đến việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ cho trẻ em của các gia đình
và có những phân tích cẩn trọng nhằm nâng cao chỉ số phát triển con người
mà Liên hiệp quốc đã nêu và nước ta đang phấn đấu Đây cũng là ý tưởng gợi
nên trong tôi hướng nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em của các gia đình người dân thành phố Hà Nội hiện nay”
Trang 82 Ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học
2.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ hệ thống lý thuyết của xã hội học như: Lý thuyết hành động xã hội, lý thuyết vị trí – vai trò xã hội, lý thuyết biến đổi xã hội, Nghiên cứu còn góp phần làm rõ hơn những đặc thù cũng như những thuận lợi và khó khăn của người dân Việt Nam khi thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em
2.2.Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp thêm thông tin về Công ước nói chung và quyền được bảo vệ của trẻ em nói riêng cho trẻ em và đặc biệt là cho cha mẹ Trên cơ sở đó một phần giúp họ thay đổi nhận thức và hành vi về trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện quyền trẻ em
Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận văn cũng góp phần bổ sung hoàn thiện cho các nghiên cứu trước đó về tình hình thực hiện Công ước quốc
tế về quyền trẻ em tại Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước quốc
tế về quyền trẻ em của các gia đình người dân thành phố Hà Nội, tìm hiểu các nhân tố cơ bản tác động đến việc thực hiện nhóm quyền này của họ; đề ra xu hướng thực hiện nhóm quyền được bảo vệ trong thời gian tới để từ đó đưa ra những khuyến nghị có tính khả thi đối với hoạt động bảo vệ trẻ em nói chung
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn, phương pháp luận nghiên của đề tài nghiên cứu
- Tìm hiểu, phân tích, đánh giá việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em của người dân thành phố Hà Nội
Trang 9- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em tại các gia đình được chọn nghiên cứu
- Đề xuất những giải pháp, khuyến nghị có tính khả thi giúp người dân nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi trong việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục con cái trong gia đình
4 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
- Các tình huống nguy hiểm và chiến tranh
- Sự bạo lực, lạm dụng, xâm hại, bóc lột và ngược đãi
- Sự phân biệt đối xử
Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu, chúng tôi quan tâm tìm hiểu tình hình thực hiện một số quyền trong nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em của các gia đình người dân thành phố Hà Nội, cụ thể là quyền được bảo vệ khỏi các hành vi bạo lực, bị bóc lột và bị sao nhãng
+ Đối tượng nghiên cứu
Vì điều kiện nghiên cứu, đề tài chỉ khảo sát các gia đình hạt nhân với hai đối tượng chính là cha mẹ và trẻ em, nên đề tài chỉ tập trung khảo sát
Trang 10đối với những bậc cha mẹ có con trong độ tuổi từ 6- 18 tuổi và khảo sát trẻ
em từ 6- 18 tuổi
Sở dĩ chúng tôi lựa chọn mẫu như vậy là vì: Trẻ em ở độ tuổi dưới 6 tuổi chưa có khả năng hoặc rất hạn chế trong việc nhận thức về quyền của mình vì thế các em không có những nhận định riêng hoặc không thể trả lời những câu hỏi liên quan đến quyền trẻ em được Còn đối với cha mẹ mới chỉ
có con trong độ tuổi nhỏ đó thì việc cha mẹ đánh mắng trẻ, bắt trẻ lao động hay không dành thời gian chăm sóc con là rất hiếm xảy ra, điều này có thể ảnh hưởng đến mẫu nghiên cứu
+ Địa bàn và thời gian nghiên cứu:
Không gian: 3 Quận/huyện thuộc thành phố Hà Nội (quận Hoàn Kiếm, Quận Thanh Xuân, huyện Từ Liêm)
Chủ nghĩa DVBC xem xét các sự vật, hiện tượng xã hội trong mối quan
hệ biện chứng Không có sự vật hiện tượng nào tồn tại một cách biệt lập mà chúng luôn tồn tại trong mối quan hệ với các sự vật, hiện tượng khác, chúng tương tác lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau Do vậy, khi tìm hiểu việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em trong Công ước của các gia đình Hà Nội cần đặt chúng trong mối quan hệ với việc thực hiện quyền của trẻ em của các
tổ chức, ban ngành, đoàn thể các cơ quan chức năng của Nhà nước để thấy được sự tác động, ảnh hưởng đến việc thực hiện nhóm quyền này tại các gia đình Đồng thời khi xem xét việc thực hiện quyền trẻ em của các gia đình cần đặt trong mối quan hệ với các yếu tố tác động như kinh tế, văn hoá, trình độ học vấn, phong tục tập quán và nhận thức của các gia đình
Trang 11Chủ nghĩa DVCB và Chủ nghĩa DVLS xem xét các sự vật hiện tượng theo một quá trình Mọi sự vật hiện tượng trong xã hội không tồn tại một cách bất biến mà chúng luôn vận động, biến đổi không ngừng, từ sự hình thành, đến sự phát triển và suy vong Trong mỗi bối cảnh khác nhau, chúng vận động
và phát triển gắn liền với bối cảnh ấy Vì vậy, tìm hiểu việc thực hiện quyền được bảo vệ của trẻ em cần đặt nó trong một giai đoạn lịch sử cụ thể về thời gian, không gian, gắn liền với văn hóa vùng- miền
Trên cơ sở phương pháp luận Macxit, với đề tài nghiên cứu chúng tôi sử dụng các cách tiếp cụ thể dưới đây:
- Phương pháp tiếp cận văn hóa
Văn hóa quốc gia, văn hóa vùng miền, văn hóa gia đình là những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức thái độ, hành vi của mỗi con người Mỗi con người chịu sự tác động của nhiều môi trường văn hóa khác nhau và bản thân họ là chủ thể sáng tạo và đồng thời là sản phẩm của nền văn hóa đó Có thể dễ dàng nhận thấy, ở tầm vĩ mô, tại một giai đoạn lịch sử nhất định, mô hình hành vi của những người trong một cồng đồng là khá giống nhau Bởi họ đã tiếp nhận quá trình xã hội hóa một cách chính thức hay không chính thức các hệ giá trị, chuẩn mực của cộng đồng để trở thành một con người xã hội
Riêng văn hóa gia đình có đặc thù riêng và là môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi của mỗi thành viên Có thể nói gia đình là môi trường xã hội hóa quan trọng đầu tiên đối với các cá nhân từ khi sinh ra và lớn lên, nó tạo nên những nhân cách với thái độ, hành vi khác nhau Tiểu văn hóa gia đình có thể được lưu truyền, gìn giữ từ đời này qua đời khác tất nhiên có biến đổi ít nhiều Tiểu văn hóa này quy định cách nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cái của các bậc cha mẹ khác nhau Có những bậc cha mẹ quan niệm “thương cho voi cho vọt” và coi việc đánh, mắng, chửi con cái là chuyện bình thường
và cha mẹ có quyền dạy dỗ, ứng xử theo cách như vậy với con cái Tuy nhiên,
họ đã vô tình vi phạm quyền trẻ em mà không nhận thấy sai lầm của mình
Trang 12Vì vậy, tìm hiểu việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước quốc tế về QTE em tại gia đình cần xem xét trong hoàn cảnh môi trường văn hóa của gia đình để thấy được quan niệm họ trong việc nuôi dạy con cái cũng như quan niệm về việc vi phạm quyền trẻ em
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
Theo quan điểm của Macx, xã hội được cấu trúc bởi các hệ thống xã hội con, mỗi hệ thống đó được gắn với quyền hạn và nghĩa vụ xác định Các hệ thống xã hội đó cùng tồn tại và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Và bản thân các hệ thống xã hội đó luôn thực hiện các chức năng của mình để nó được tồn tại và được công nhận
Theo quan điểm này gia đình được coi là một tiểu hệ thống được đặt trong hệ thống xã hội cụ thể Nó có mối quan hệ thường xuyên và chặt chẽ đối với các cơ quan nhà nước, các tổ chức ban ngành, đoàn thể để cùng thực hiện chức năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em như nhà trường, cộng đồng, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, mặt trận tổ quốc Nó không chỉ có quan hệ chặt chẽ
mà còn có sự ràng buộc lẫn nhau Chẳng hạn, nếu một gia đình có những hành
vi vi phạm quyền trẻ em trong việc nuôi dạy con cái, các tổ chức đoàn thể địa phương sẽ có sự khuyên giải, thậm chí can thiệp khi cần thiết Hay một gia đình có cha hoặc mẹ tham gia vào các tổ chức, đoàn thể như hội phụ nữ, “hội những người hai con”, “hội gia đình nuôi dạy con giỏi” thì hành vi của họ sẽ
bị chi phối bởi chuẩn mực và giá trị của nhóm, tổ chức, đoàn thể đó Như vậy, các tổ chức trong xã hội có tác động, chi phối lẫn nhau, hệ thống lớn tác động lên hệ thống nhỏ cụ thể ở đây là các tổ chức đoàn thể sẽ tác động đến các gia đình trong việc nuôi dạy con cái
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
5.2.1 Phân tích tài liệu
- Các nghiên cứu về vấn đề bảo vệ trẻ em, trẻ em bị lạm dụng, xâm hại, bóc lột, sao nhãng và các vấn đề liên quan như: “Nghiên cứu của Tổng thư ký
Trang 13Liên hiệp quốc về vấn đề bạo lực với trẻ em”, “báo cáo tình trạng lạm dụng trẻ
em ở Việt Nam” của UNICEF; “Báo cáo về hoạt động tham vấn đối với trẻ em
bị bạo lực tại khu vực Trung á và Châu Á Thái bình dương”; “Khảo sát thực trạng trừng phạt thân thể và tinh thần trẻ em”
- Các báo cáo quốc gia về tình hình thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em lần 1, lần 2 và dự thảo báo cáo lần 3, lần 4
- Các văn kiện, quyết định, đề án của Chính phủ liên quan đến vấn đề BVTE, ngăn ngừa tình trạng trẻ em bạo lực, xâm hại, bóc lột, lạm dụng trẻ em
- Các tài liệu trên mạng, sách báo, tạp chí
- Các tài liệu khác
5.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu với 3 nhóm đối tượng:
- Cha mẹ - với tư cách là người trực tiếp chăm sóc, bảo vệ trẻ
Phỏng vấn 5 cha mẹ theo các chỉ báo về nghề nghiệp, trình độ học vấn,
độ tuổi, mức sống
- Trẻ em – Người được bảo vệ và chăm sóc
Phỏng vấn 3 trẻ em theo các bậc học ( 1 em độ tuổi tiểu học, 1 em độ tuổi THCS, 1 em độ tuổi THPT)
- Đại diện các cơ quan đoàn thể tại địa phương: 3 người thuộc các phường/ xã thuộc 3 Quận, huyện (Chủ tịch hội phụ nữ phường/xã hoặc cán bộ dân số phường/xã)
5.2.3 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Khảo sát được tiến hành trên 3 Quận, huyện được lựa chọn
- Quận Hoàn Kiếm (Là quận trung tâm, đại diện cho địa bàn tập trung kinh doanh, buôn bán, dịch vụ)
- Quận Thanh Xuân (Là quận với đại đa số các gia đình là gia đình công nhân, viên chức)
Trang 14- Huyện Từ Liêm (Huyện ngoại thành, đại diện cho địa bàn có thành phần kinh tế nông nghiệp và các gia đình nông dân)
Mẫu khảo sát: - 450 Cha mẹ ( mỗi quận/ huyện 150 người)
- 210 trẻ em ( mỗi quận/ huyện 70 trẻ em)
5.2.4 Phương pháp thảo luận nhóm
Đề tài sử dụng phương pháp thảo luận nhóm bán cấu trúc với nhóm bố
mẹ theo chủ đề: Thái độ đối với quan niệm “yêu cho roi cho vọt” trong việc
nuôi dạy con cái của các bậc cha mẹ hiện nay?
6 Giả thuyết và khung lý thuyết
6 1 Giả thuyết nghiên cứu
- Đại đa số các gia đình người dân thành phố Hà Nội còn chưa biến đến Công ước quốc tế về QTE nói chung và nhóm quyền được bảo vệ nói riêng
- Trong số các bậc cha mẹ biết đến Công ước và nhóm quyền được bảo
vệ, đại đa số họ vẫn có những hành động vi phạm các quyền của trẻ em
- Phong tục tập quán lạc hậu và hoạt động của các tổ chức đoàn thể, chính quyền chưa hiệu quả trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em là nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến nhận thức và hành động của các bậc cha mẹ trong việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước quốc tế về QTE
- Việc thực hiện chưa tốt nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước quốc tế về QTE trong thời gian tới vẫn còn tồn tại
Trang 15( tuyên truyền, nâng cao nhận thức, can thiệp)
Nhân thức về nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em
Yếu tố luật pháp
Đặc điểm cộng đồng (Phong tục
tập quán)
Hoạt động truyền thông văn hóa
Việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em
Trẻ em được bảo vệ Trẻ em không được
bảo vệ
Trang 16Sự tương quan của các biến số:
+ Biến độc lập: Môi trường kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội thành phố HN + Biến can thiệp (trung gian)
Trang 17PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1.Trên thế giới
“Nghiên cứu của tổng Thư ký liên hợp quốc về tình trạng bạo lực với trẻ em” cho thấy tính chất, mức độ, quy mô của
tình trạng xâm hại trẻ em trên phạm vi toàn cầu
Đây là nghiên cứu đầu tiên lớn nhất cung cấp
một bức tranh toàn cảnh về các hình thức và
quy mô của nạn bạo hành diễn ra hằng ngày đối
với trẻ em Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, bạo hành
không chỉ diễn ra tại trường học, trong cộng
đồng mà nó còn diễn ra ngay chính trong gia
đình
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng quan hệ mang tính quyền lực giữa người lớn và trẻ em đã góp phần tạo ra sự bạo hành về cả thể chất và tâm lý đối với trẻ em Những đối tượng như trẻ em lang thang đường phố, trẻ em tàn tật, trẻ
em vi phạm pháp luật, trẻ em sống trong các cơ sở giáo dưỡng là những đối tượng có nguy cơ bị bạo lực cao Đặc biệt, nghiên cứu đã đưa ra các kiến nghị cần thiết để ngăn chặn và giải quyết tình trạng bạo lực với trẻ em ở mọi nơi trên thế giới
“Đánh giá về tình trạng bạo lực trẻ em ở Đông Á và Châu Á Thái Bình Dương” do UNICEF tiến hành năm 2002 đã tiến hành nghiên cứu ở nhiều
nước khác nhau như Australia, Trung Quốc, Combodia, Indonexia, Việt Nam…Nghiên cứu đã cho thấy hiện nay dữ liệu định lượng và định tính về tình hình bạo hành với trẻ em ở các quốc gia còn hạn chế Sự cởi mở và nhận
Trang 18thức về vấn đề bạo lực với trẻ em ở các quốc gia là khác nhau Và để có sự thay đổi nhận thức của người dân về vấn đề này cần có một thời gian nhất định và cần có sự nâng cao nhận thức của chính các em về bạo lực và những điều quy định trong Công ước quốc tế về QTE
“Báo cáo tại Hội nghị tham vấn khu vực Đông Á và Thái Bình dương
về tình trạng bạo lực đối với trẻ em” thực hiện năm 2005, do UNICEF tiến hành đã bổ sung nhiều và đóng góp quan trọng cho nghiên cứu của Tổng thư
ký Liên hiệp quốc về tình trạng bạo lực đối với trẻ em
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trẻ em bị bạo lực tại nhiều môi trường khác nhau, ở nhà, tại trường học, ở các tổ chức, ở nơi làm việc, tại cộng đồng, trên
gia đình thì các em bị các hình thức đối xử
tình dục và tâm lý, sao nhãng, bắt lao động,
với sự phát triển của trẻ
Nghiên cứu chỉ ra các loại môi trường gia đình mà ở đó có nguy cơ cao dẫn đến bạo lực đối với các em đó là: Trẻ em sống trong các gia đình tồn tại tình trạng bạo lực gia đình, tồn tại tình trạng uống rượu hay sử dụng ma tuý, các gia đình khó khăn về tài chính, hay những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như sống với HIV/AIDs, chậm phát triển trí tuệ
Những trẻ em sống trong các gia đình đơn thân, gia đình có một trong hai người chăm sóc bắt buộc phải xa nhà vì cộng việc, hay những đứa trẻ được
Trang 19nhận về nuôi, trẻ sinh ra ngoài mong muốn của cha mẹ đều là những đứa trẻ
có nguy cơ bị bạo lực cao
1.1.2 Tại Việt Nam
Việt Nam là nước phê chuẩn Công ước quốc tế về QTE từ rất sớm - năm 1990, tuy nhiên đến nay những nghiên cứu đánh giá tình hình thực hiện Công ước quốc tế về QTE còn chưa được quan tâm Hầu hết là các nghiên cứu nhỏ về các vấn đề riêng lẻ như vấn đề lạm dụng, xâm hại, bóc lột, bạo lực trẻ em
Ở cấp Nhà nước đã có một số nghiên cứu nhỏ được tiến hành để xây dựng “Báo cáo quốc gia tình hình thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em lần 1 và lần 2 của Việt Nam” cho Uỷ ban quyền trẻ em của Liên Hợp quốc,
do Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em trước đây thực hiện
Nghiên cứu này đã đánh giá tình hình thực hiện cả bốn nhóm quyền trẻ
em được đề cập trong Công ước Nhìn chung, Việt Nam đã và đang trên đường hội nhập quốc tế, nỗ lực thực hiện các cam kết quốc tế Hiện nay, Việt Nam đang nghiên cứu để xây dựng “báo cáo lần 3 và 4 về tình hình thực hiện Công ước quốc tế về QTE”
Nghiên cứu về “tình trạng lạm dụng trẻ em tại Việt Nam” do UNICEF
thực hiện năm 2003 Nghiên cứu này đã xác định khái niệm, bản chất và phạm
vi vấn đề lạm dụng trẻ em Theo nghiên cứu này khái niệm về lạm dụng trẻ
em phải được hiểu một cách toàn diện, lạm dụng bao gồm các loại hình khác nhau như lạm dụng thân thể, lạm dụng tình dục, sao nhãng, đối xử tàn tệ về thể chất và tinh thần, bạo lực, bóc lột vì mục đích tình dục, mại dâm trẻ em, du lịch tình dục
Nghiên cứu được tiến hành tại ba tỉnh Hà Nội, An Giang và Lào Cai để phản ánh các đặc điểm khác nhau về địa lý, văn hoá, xã hội Nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong đời sống tồn tại rất nhiều loại hình bạo lực đối với trẻ em
Trang 20Phát hiện đáng chú ý nhất của nghiên cứu là tình trạng đánh trẻ em nhằm
“giáo dục”, hay “kỷ luật” là khá phổ biến, trong khi các bậc cha mẹ đều ý thức được rằng phương pháp dạy dỗ này là đã lạc hậu và khó chấp nhận, nhưng trên thực tế phương pháp này vẫn được áp dụng rộng rãi Tình trạng lạm dụng tình dục hay chứng kiến bạo lực cũng là những vấn đề mà trẻ em Việt Nam phải đối mặt ngày càng nhiều
“Thực trạng xâm hại trẻ em qua một khảo sát nhanh tại Hà Nội” là một
nghiên cứu trong chương trình phòng chống xâm hại tình dục trẻ em Hà Nội của tổ chức Csap tìm hiểu về các hình thức xâm hại trẻ em tại một số trường trong nội thành Khảo sát được tiến hành với 674 em trong độ tuổi cấp 1 và cấp 2 Mặc dù nghiên cứu được tiến hành tại trường học với mục đích tìm hiểu các hình thức xâm hại trẻ em nói chung, nhưng kết quả đã chỉ ra một số hình thức xâm hại trẻ em tại gia đình Cụ thể, các em bị người nhà đánh đập là 11%, bị sao nhãng 4.2% Nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng, tất cả các hình thức xâm hại đều xảy ra tại các địa bàn được nghiên cứu, ngay cả hình thức sao nhãng, bỏ mặc Trẻ em nhỏ lại phải gánh chịu các hình thức xâm hại nhiều hơn, đặc biệt là bạo lực gia đình và xâm hại tình dục
1.2 Khái niệm công cụ
1.2.1 Trẻ em
Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em – “Trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ khi luật pháp quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm hơn”
Trẻ em là những công dân Việt Nam dưới 16 tuổi – Theo Luật bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam
Theo quan điểm của xã hội học, trẻ em là nhóm nhân khẩu đặc biệt ở giai đoạn đầu của quá trình xã hội hóa, đang tiếp thu những giá trị chuẩn mực, kiến thức kỹ năng để trở thành một chủ thể của xã hội Gia đình và xã hội có trách nhiệm tôn trọng, đảm bảo những quyền chính đáng mà các em được hưởng
Trang 21Luật hôn nhân cũng đã khẳng định trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái, cụ thể là trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục con cái
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Gia đình là tập hợp những người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái” Đây là
một khái niệm khái quát tuy nhiên nó chưa đầy đủ, chưa bao gồm các đặc trưng của gia đình
Các nhà xã hội học coi gia đình là đơn vị cơ sở của tổ chức xã hội, là tế
bào xã hội, là nhóm xã hội Có thể hiểu “gia đình là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng tuy không có quan hệ máu mủ Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (tình cảm, kinh tế, văn hoá,…) Giữa họ
có những rằng buộc pháp lý được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ, đồng thời
có những quy định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa những thành viên trong gia đình”
1.2.3 Bạo hành trẻ em
Hội chứng bạo hành trẻ em (child abuse) là những hành động xúc phạm/hành hạ về thể xác, tinh thần hoặc tình dục do cha mẹ, những người xung quanh hoặc những người khác thực hiện Ngoài những trường hợp bạo hành xảy ra ngay tại nhà của trẻ, phần lớn những trường hợp bạo hành khác
Trang 22diễn ra ngay tại những nơi quen thuộc hay tưởng an toàn như: trường học, nơi trông trẻ, trường nội trú…
Bạo hành trẻ em với rất nhiều biến tướng khác nhau có tác động rất mạnh và lâu dài cả về thể xác và tinh thần Bạo hành trẻ em để lại những di chứng kéo dài từ tuổi ấu thơ cho đến khi trưởng thành Những di chứng và hậu quả này phụ thuộc vào tính khắc nghiệt và khủng khiếp của cách thức bạo hành cũng như môi trường xung quanh đứa trẻ
Theo Wikipedia
Đó là mọi hình thức bạo hành thể chất và tinh thần, bỏ rơi, chểnh mảng trong chăm sóc, bạc đãi, khai thác, bao gồm cả lạm dụng tình dục theo điều 19 của Công ước quốc tế về quyền của trẻ em (Liên Hiệp Quốc , 1989)
Bạo hành trẻ em xảy ra dưới nhiều hình thức, từ đánh đập gây các thương tật có thể thấy được trên cơ thể cho đến ngược đãi dẫn đến các tổn thương về tinh thần như buộc làm những điều ngoài ý muốn, nhốt giam, bỏ đói hoặc cho ăn rất ít, cưỡng ép tình dục
Các hành động này, các cách đối xử này vi phạm quyền con người của trẻ em, tước đoạt những quyền mà trẻ em lẽ ra được hưởng như mọi lứa tuổi khác; đó là quyền được bảo vệ trước những hành vi bạo lực dưới hình thức này hay hình thức kia, thay vì bị ngược đãi, bóc lột hoặc lạm dụng về nhiều phương diện
1.2.4 Quyền được bảo vệ
Quyền được bảo vệ trong Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em xuất phát từ nhận thức rằng, trẻ em là những người non nớt về mặt thể xác và tinh thần Do vậy các em dễ bị rủ rê vào những việc làm trái với pháp luật, dễ
bị lợi dụng sức lao động và lợi dụng tình cảm, bị sao nhãng, bỏ rơi…
Vì vậy, Công ước quốc tế về QTE quan tâm đến việc trẻ em được bảo
vệ khỏi:
Trang 23- Sự bỏ rơi: Bao gồm cả sự bỏ rơi của bố mẹ hoặc của toàn xã hội mà có thể tước đi sự nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
- Các tình huống nguy hiểm và chiến tranh: Bao gồm những gì gây ra những đe doạ khẩn cấp đối với sự sống còn và phát triển của trẻ em Trẻ em tị nạn, trẻ em sống trong bối cảnh xung đột vũ trang và trẻ em làm trái pháp luật
là những đối tượng thuộc nhóm này
- Sự bạo lực, lạm dụng, ngược đãi và bóc lột: bao gồm tất cả các hình thức xâm hại, đối xử gây tổn hại về mặt thể chất và tinh thần đối với trẻ em, làm ảnh hưởng đến sự phát triển một cách toàn diện của các em
- Sự phân biệt đối xử: Công ước quốc tế về QTE quy định bảo vệ trẻ em gái, trẻ em tàn tật, trẻ em bị nạn, trẻ em dân tộc thiểu số trẻ em bản xứ khỏi bất
cứ hình thức phân biệt đối xử nào1
1.2.5 Một số khái niệm liên quan
- Xâm hại, lạm dụng trẻ em
“Là tất cả các hình thức ngược đãi về tình cảm, thể chất, lạm dụng tình dục, xao nhãng hoặc đối xử lơ đãng hoặc bị khai thác vì mục đích thương mại dẫn đến nguy hại về sức khoẻ, sự sống còn, phát triển hoặc nhân cách của trẻ trong bối cảnh của mối quan hệ hay trách nhiệm, sự tin cậy và quyền lực2
- Sao nhãng với trẻ em
Sao nhãng hoặc đối xử lơ đãng với trẻ em trong gia đình “Được hiểu là
sự không hoặc ít quan tâm, bỏ mặc của cha mẹ về mọi khía cạnh: sức khoẻ, giáo dục, phát triển tâm lý, dinh dưỡng, sự che trở và những điều kiện sống an toàn trong bối cảnh tiềm lực hiện có đối với gia đình và những nguyên nhân hoặc có khả năng cao gây ra nguy hại cho sức khoẻ của trẻ, sự phát triển về
Trang 24xã hội, đạo đức, tinh thần, trí tuệ và thể chất Điều này bao gồm cả việc không
có khả năng giám sát đúng đắn và bảo vệ trẻ em khỏi nguy hại” 1
Hay nói một cách chung nhất sao nhãng là bất kỳ một hành vi chểnh mảng hay uỷ thác trong giới hạn truyền thống văn hoá, gây ra tình trạng không cung cấp những điều kiện cần thiết cho sự phát triển về tình cảm và thể chất lành mạnh của trẻ em
- Lao động trẻ em
Gồm tất cả công việc do trẻ em dưới 18 tuổi ( trẻ em Việt Nam là dưới 16 tuổi) thực hiện mà có hại cho sức khoẻ hoặc cơ thể, tinh thần, trí tuệ hay sự phát triển về mặt xã hội và có ảnh hưởng tới công việc học tập của trẻ em
- Chứng kiến bạo lực gia đình
Có thể hiểu trẻ em chứng kiến bạo lực bạo gia đình là việc trẻ em trực tiếp nhìn thấy cảnh bạo lực giữa cha và mẹ, chẳng hạn như việc xung đột, cãi
cọ nặng lời, đặc biệt là hành động người cha dùng tay chân hoặc dụng cụ đánh đập người mẹ gây thương tích
Hiện nay, tình trạng trẻ em chứng kiến bạo lực gia đình ngày một gia tăng, điều này có thể gây ra những hậu quả về thể chất, tình cảm và hình vi cư
xử của trẻ Chính vì vậy, có thể coi việc chứng kiến bạo lực gia đình là một hình thức xâm hại, bạo lực với trẻ em tại gia đình
1.3 Lý thuyết nghiên cứu
1.3.1 Lý thuyết Hành động xã hội
Hành động xã hội, xét trên phương diện triết học thì chính là một hình thức giải quyết các mâu thuẫn, vấn đề xã hội Hành động xã hội được tạo ra bởi phong trào xã hội, các tổ chức, các đảng phái chính trị… Trong xã hội học,
1
Báo cáo rà soát, đánh giá chính sách, pháp luật của Việt Nam về phòng chống lạm dụng, xâm hại trẻ em, UNICEF, 2006 trang 11
Trang 25hành động xã hội được hiểu cụ thể hơn và thường gắn với các chủ thể hành động là các cá nhân Lịch sử xã hội học đã ghi nhận rất nhiều các quan điểm khác nhau của các nhà xã hội học về hành động xã hội
Theo M Weber: hành động xã hội là một hành vi mà chủ thể gán cho nó ý
nghĩ chủ quan nhất định Weber đã nhấn mạnh đến “động cơ bên trong” của chủ thể như là nguyên nhân của hành động Và cái “ý nghĩa chủ quan” chính là
ý thức, là những hoạt động có ý thức, chủ thể hiểu được mình thể hiện hành động gì và sẽ thực hịên nó như thế nào khác hẳn với những bản năng sinh học Hành động xã hội được Weber tổng quát định nghĩa là hành động được chủ thể gắn cho nó một ý nghĩa chủ quan nào đó có tính đến hành vi của người khác và
vì vậy có định hướng tới người khác trong đường lối, quá trình của nó
Weber phân loại hành động xã hội thành bốn loại như sau:
* Thứ nhất, hành động duy lý – công cụ là hành động được thực hiện với
sự cân nhắc, tính toán, lựa chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao cho có hiệu quả cao nhất Ví dụ rõ nhất là hành động kinh tế
* Thứ hai, hành động duy lý giá trị là hành động được thực hiện vì bản thân hành động (mục đích tự thân) Thực chất loại hành động này có thể nhằm vào mục đích phi lý nhưng lại được thực hiện bằng những công cụ, phương tiện duy lý như hành vi tín ngưỡng…
*Thứ ba, hành động duy cảm (xúc cảm) là hành động do các trạng thái xúc cảm hoặc tình cảm bột phát gây ra mà không có sự cân nhắc, xem xét, phân tích mối quan hệ giữa công cụ, phương tiện và mục đích hành động như hành động của đám đông quá khích, hành động do tức giận gây ra…
*Thứ tư, hành động duy lý - truyền thống là loại hành động tuân thủ theo những thói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán đã được truyền lại từ đời này qua đời khác
Trang 26Theo T Parson: Hành động xã hội là một hành động bị điều chỉnh bởi
hệ thống biểu tượng mà cá nhân dùng trong tương tác hàng ngày
Theo V Pareto: Trong mỗi chủ thể hành động đều có cả hành động logíc và hành động phi logíc Hành động logíc là loại hành động trong đó kết quả khách quan của hành động phù hợp với mục đích chủ quan Còn hành động phi logíc là hành động bị chi phối bởi một hành động khác, là kết quả của trạng thái tình cảm của cái phi lí về mặt tâm lí
Vận dụng lý thuyết vào trong nghiên cứu này, chúng tôi tìm hiểu lý do
gì khiến các gia đình vẫn chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa tốt nhóm quyền được bảo vệ của trẻ ? Bởi trên thực tế, bạo lực, xâm hại đối với trẻ em trong gia đình được coi là những hành động xã hội Hành vi bạo lực đó xuất phát từ các nguyên do khác nhau, có thể do cảm xúc nhất thời thúc đẩy, do những quan niệm mang tính truyền thống trong việc nuôi dạy, chăm sóc con cái từ xưa để lại và đó cũng có thể là hành động mang tính mục đích thực sự của chủ thể hành động Dù với nguyên do nào hành vi bạo lực với trẻ em đều là những hành vi chủ đích của người lớn để đạt được mục đích của mình như để dạy dỗ, giáo dục, kỷ luật, để giải toả cảm xúc
1.3.2 Lý thuyết về vị trí - vai trò xã hội
Mỗi xã hội có cơ cấu phức tạp bao gồm các vị trí, vai trò xã hội khác nhau Lý thuyết về vị trí- vai trò xã hội cho rằng mỗi một cá nhân có một vị trí
xã hội là vị trí tương đối trong cơ cấu xã hội, hệ thống quan hệ xã hội Nó được xác định trong sự đối chiếu so sánh với các vị trí xã hội khác Vị thế xã hội là vị trí xã hội gắn với những trách nhiệm và những quyền hạn kèm theo
Vị thế chính “là bất kỳ vị trí ổn định nào trong một hệ thống xã hội với những
kỳ vọng quyền hạn và nghĩa vụ đặc thù ”[13, Tr 208] Các quyền và nghĩa vụ
này thường tương ứng với nhau Phạm vi quyền và nghĩa vụ hoàn toàn phụ
Trang 27thuộc vào quan điểm của các xã hội, của các nền văn hoá, thậm chí của các nhóm xã hội nhỏ Nhưng khi xem xét vị trí với những quyền và nghĩa vụ kèm theo, tức là xem xét vị thế xã hội của cá nhân, chúng ta sẽ thấy sự khác biệt trong thứ bậc xã hội và thay đổi theo từng xã hội, từng khu vực
Mỗi cá nhân có nhiều vị trí xã hội khác nhau, do đó cũng có nhiều vị thế khác nhau Những vị thế xã hội của cá nhân có thể là: vị thế đơn lẻ, vị thế tổng quát hoặc có thể chia theo cách khác là: vị thế có sẵn - được gán cho, vị thế đạt được, một số vị thế vừa mang tính có sẵn, vừa mang tính đạt được
Vai trò xã hội của cá nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng Nó chính là mặt động của vị thế xã hội, vì luôn biến đổi trong các
xã hội khác nhau, qua các nhóm xã hội khác nhau Tương ứng với từng vị thế
sẽ có một mô hình hành vi được xã hội mong đợi Mô hình hành vị này chính
là vai trò tương ứng của vị thế xã hội Các nhà xã hội học cho rằng: “hành vi con người thay đổi khác nhau tuỳ theo bối cảnh và gắn liền với vị trí xã hội của người hành động”, rằng: “hành vi phần nào được tạo ra bởi những mong đợi của người hành động và những người khác” Như vậy, vai trò xã hội:
“là sự tập hợp những hành vi, thái độ, quyền lợi và sự bắt buộc mà xã hội mong đợi đối với một vị thế xã hội nhất định và sự thực hiện của cá nhân có
vị thế đó”[13, Tr 209]
Vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội Những đòi hỏi được xác định căn cứ vào các chuẩn mực xã hội Trong các xã hội khác nhau thì các chuẩn mực này cũng khác nhau Vì vậy, cùng một vị thế xã hội, nhưng trong các xã hội khác nhau thì mô hình hành vi được xã hội trông đợi cũng khác nhau và các vai trò xã hội cũng khác nhau
Theo thuyết này khi xem xét việc thực hiện nhóm quyền bảo vệ cho trẻ
em của các gia đình qua lăng kính vị thế và vai trò xã hội cho phép mở ra cơ
Trang 28chế cụ thể những liên hệ qua lại và tương tác của nó với những yếu tố cơ cấu
xã hội khác và với xã hội nói chung Trong nghiên cứu này, chúng tôi vận dụng lý thuyết vai trò làm cơ sở phương pháp luận để tìm hiểu mối quan hệ giữa các vị trí và vai trò xã hội của người làm cha, làm mẹ trong việc thực hiện nhóm quyền bảo vệ cho trẻ em và trẻ em- người được hưởng những quyền trong Công ước đã nêu trên cơ sở chỉ rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa quyền và trách nhiệm cũng như mong đợi xã hội giữa các vị trí này trong gia đình
1.3.3 Lý thuyết biến đổi xã hội
Lý thuyết biến đổi xã hội chỉ ra rằng, mọi xã hội cũng như tự nhiên không ngừng biến đổi Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định tương đối Còn thực tế, nó không ngừng thay đổi bên trong bản thân nó Do đó, bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hoá nào, cũng luôn biến đổi Và sự biến đổi trong xã hội hiện đại ngày càng rõ hơn Con người xã hội là đơn vị cơ bản của xã hội, với
tư cách là chủ thể hoạt động xã hội, nó luôn biến đổi từ khi mới sinh ra cho tới lúc mất đi Con người sinh học ra đời, trưởng thành và chết đi, kế tiếp là những lớp người mới Tuy nhiên, những lớp người mới vẫn tồn tại trong nền văn hoá truyền thống được xã hội giữ lại Những mô hình hành vi với tư cách là đơn vị của nền văn hoá cũng biến đổi theo thời gian và theo những điều kiện xã hội
Sự biến đổi mô hình hành vi là kết quả thay đổi của các hệ giá trị, chuẩn mực Nền văn hoá xã hội luôn luôn tồn tại Nó không hề mất đi mà chỉ biến đổi từ hình thức này sang hình thức khác
Có nhiều quan niệm khác nhau về sự biến đổi xã hội
Theo Fichter “Biến đổi xã hội là một sự thay đổi so sánh với một tình trạng xã hội hoặc một nếp sống có trước” Nói cách khác, đó là một
quá trình qua đó những khuôn mẫu của hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi qua thời gian
Trang 29Theo A.Comte “Biến đổi xã hội là chắn chắn sẽ xảy ra, nó theo một con đường phát triển, những tiến bộ tất nhiên hướng tới một xã hội tốt đẹp hơn”
Một cách hiểu rộng nhất: là sự thay đổi về thực trạng hoặc một nếp
sống xã hội so với thời điểm trước đó Các nhà XHH định nghĩa "Biến đổi xã hội là một quá trình, qua đó, những khuôn mẫu của hành vi xã hội, các quan
hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội thay đổi qua thời gian " [13, tr 276]
Biến đổi xã hội là một hiện tượng phổ biến nhưng nó diễn ra không giống nhau giữa các xã hội G.J Lenski cho rằng: tốc độ của sự biến đổi gia tăng khi nền kỹ thuật của một xã hội phát triển Do đó, biến đổi xã hội ở các nước có nền khoa học kỹ thuật phát triển cao sẽ diễn ra nhanh hơn những xã hội có nền khoa học kỹ thuật kém phát triển Hơn nữa, không phải mọi yếu tố văn hoá đều biểu hiện những nhịp độ thay đổi như nhau, mà có sự "lệch pha" trong sự thay đổi Đây là quá trình các hiện tượng văn hoá vật chất thường có
sự thay đổi nhanh hơn các hiện tượng văn hoá tinh thần
Nhìn chung, có thể miêu tả biến đổi xã hội bằng các đặc trưng cụ thể sau:
Biến đổi xã hội là hiện tượng phổ biến nhưng nó không diễn ra giống nhau giữa các xã hội
Biến đổi xã hội khác biệt về thời gian và hậu quả
Biến đổi xã hội vừa có tính kế hoạch vừa có tính phi kế hoạch
Vận dụng lý thuyết biến đổi xã hội trong việc phân tích việc thực hiện nhóm quyền bảo vệ cho trẻ em của người dân Hà Nội hiện nay, chúng tôi quan tâm và tìm hiểu trên những khía cạnh: Thay đổi nhận thức của các gia đình Điều này có nghĩa nhận thức của người làm cha, làm mẹ chắc chắn sẽ có những thay đổi từ sau thời kỳ đất nước mở cửa, kinh tế hàng hoá được đẩy mạnh và mức sống của con người được nâng cao, bởi bản thân quá trình hội nhập không chỉ giúp người dân Hà Nội tiếp cận với những công nghệ tiên tiến mà còn giao lưu hoà nhập với nền văn hoá của nhiều nước trên thế giới
Trang 301.4 Những điều quy định về quyền đƣợc bảo vệ trong Công ƣớc quốc tế
về quyền trẻ em
1.4.1 Vì sao trẻ em cần được bảo vệ
Xuất phát từ các quan điểm sau đây các Quốc gia nói chung và Việt
Nam nói riêng đã ủng hộ và phê chuẩn Công ước quốc tế về QTE:
- Trẻ em là những người còn non nớt về thể chất, trí tuệ và sự trải nghiệm trong cuộc sống nên chúng cần được bảo vệ, chăm sóc và tạo điều kiện để phát triển
- Người lớn còn sao nhãng, không có trách nhiệm hoặc thiếu hiểu biết
về trách nhiệm bảo vệ trẻ em
- Thực tế cuộc sống ngày càng xuất hiện nhiều nhóm trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hoặc phải chịu nhiều đau khổ do tác động của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội gây nên Và bất cứ lúc nào trẻ em cũng có thể rơi vào tình huống nguy cơ, rủi ro, nguy hiểm Do đó mọi trẻ em cần phải được bảo vệ
1.4.2 Sơ lược về Công ước quốc tế về quyền trẻ em và nhóm quyền được bảo vệ
Công ước quốc tế về QTE gồm 3 phần, 54 điều trong đó đề cập đến bốn nhóm quyền: Quyền được sống còn, quyền được phát triển, quyền được bảo
vệ và quyền tham gia Có thể nói, đây là văn kiện quan trọng nhất và toàn diện nhất về quyền con người của trẻ em trong tất cả các văn bản luật pháp quốc tế
về quyền con người Nó thấm đượm tính nhân văn và xác định về mặt pháp lý các quyền trẻ em trên cơ sở nguyên tắc thừa nhận trẻ em phải được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và giúp đỡ đặc biệt
Trong đó các Điều đề cập đến các nội dung của nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em gồm:
Điều 19: “Các quốc gia thành viên phải thực hiện mọi biện pháp, hành chính, xã hội và giáo dục để bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể
Trang 31xác, tinh thần, bị tổn thương hay lạm dụng, bị bỏ mặc hoặc sao nhãng trong việc chăm sóc, ngược đãi hoặc bóc lột kể cả sự xâm hại về tình dục trong khi trẻ em vẫn nằm trong sự chăm sóc của cha mẹ, của người giám hộ pháp lý” Điều 32: “Các quốc gia thành viên phải công nhận quyền của trẻ em được bảo vệ không bị bóc lột về kinh tế và làm bất kỳ công việc gì có thể nguy hiểm hoặc ảnh hưởng đến việc học hành của trẻ em, có hại đối với sức khoẻ hay sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức hay xã hội của trẻ em”
Điều 34: “Bảo vệ trẻ em chống mọi hình thức bóc lột cũng như xâm hại tình dục”
Điều 36: “Các quốc gia thành viên phải bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức bóc lột khác gây hại về bất kỳ phương diện nào cho phúc lợi của trẻ em”
1.5 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về việc thực hiện Công ước quốc tế
về quyền trẻ em
1.5.1 Vị trí, vai trò của trẻ em trong đời sống xã hội nước ta
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” khẩu hiệu đó đã trở thành phương
châm hành động của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Viêt Nam
Trẻ em là những người chủ tuơng lai của đất nước, là thế hệ tiếp nối lịch sử của ông cha ta trong quá trình dựng nước và giữ nước, đồng thời gánh vác sứ mệnh lịch sử xây dựng non sông, đất nước ta ngày một đàng hoàng hơn, tươi đẹp hơn Với trí tuệ và sức sáng tạo của tuổi trẻ nhất định sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam sẽ thành công
Xuất phát từ nhận thức vị trí, vai trò quan trọng của trẻ em trong đời sống xã hội, Đảng Nhà nước ta đặc biệt coi trọng công tác Bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em Các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc đều khẳng định
“Chăm sóc, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các tổ chức trong hệ thống chính trị, gia đình, nhà trường và của toàn xã hội”
Trang 32[2, trang 62] Vấn đề “quyền trẻ em” đã được Đảng ta quan tâm từ khi nước ta phê duyệt Công ước, Đảng đã chỉ đạo chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ em tập trung vào việc thực hiện quyền trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn và lành mạnh, phát triển hài hoà về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức
1.5.2 Những quan điểm cơ bản Đảng về việc thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em
Với truyền thống tốt đẹp của dân tộc và thấm nhuần lời dạy của chủ tịch
Hồ Chí Minh “vì lợi ích trăm năm trồng người”, Đảng, Nhà nước và toàn thể
xã hội ta luôn luôn quan tâm đến sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ
em, coi đây là đạo lý, đồng thời là trách nhiệm đối với sứ mệnh, tương lai của đất nước, dân tộc
Có thể nói từ ngay từ những năm 1990, điều kiện kinh tế, xã hội nước ta phát triển chưa mạnh, nhưng chúng ta đã là nước đầu tiên ở Châu Á và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế về QTE Điều đó minh chứng cho một quyết tâm cao độ về việc thực hiện những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em Việt Nam không những nỗ lực phát triển kinh tế, xã hội đảm bảo cho trẻ em có một cuộc sống ấm no, mà Đảng và Nhà nước đã thực sự quan tâm đến vấn đề nhân quyền, đến sự phát triển tâm lý, tinh thần của các em
Sau khi phê duyệt Công ước quốc tế về QTE, Đảng và Nhà nước ta đã
nỗ lực về lập pháp để hài hoà giữa luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế và đặc biệt là hài hoà các quy định trong Công ước quốc tế về QTE Các quy định trong Công ước dần dần được chuyển hoá thành các quy phạm pháp luật quốc gia thông qua việc ban hành mới, sửa đổi, bổ sung những văn bản pháp luật như Pháp lệnh, Nghị định, Nghị quyết, Thông tư, Chỉ thị trong đó ghi nhận và quy định việc thực hiện QTE Cụ thể như Hiến pháp năm 1992, Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, Luật hôn nhân gia đình, Bộ luật hình sự
Trang 331985, Bộ Luật tố tụng hình sự, Luận phổ cập giáo dục, Luật lao động, Pháp lệnh người tàn tật
Bên cạnh đó, chúng ta còn thực hiện nhiều chương trình quốc gia cho trẻ em như “Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2001 – 2005
và 2006-2010”, “Chương trình phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ
em qua biên giới”, “Chương trình giải quyết vấn đề trẻ em lang thang”,
“chương trình tăng cường bảo vệ trẻ em khỏi HIV/AIDs”, “Chương trình sức khoẻ và dinh dưỡng cho trẻ em”
Ngoài việc ký kết Công ước quốc tế về QTE, việt Nam cũng ký kết Công ước xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử tồi tệ nhất với phụ nữ và trẻ em; phê chuẩn Công ước 182 của Tổ chức Lao động Quốc tế ( ILO) chống lại các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất và cam kết thực hiện “Một thế giới phù hợp với trẻ em”, thực hiện “các mục tiêu thiên niên kỷ” liên quan đến vấn
đề trẻ em
Như vậy, việc thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em đã được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, coi đây là nhiệm vụ quan trong quan trọng trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em
1.6 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
1.6.1 Vài nét về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của thành phố Hà Nội và địa bàn khảo sát
1.6.1.1 Điều kiện địa lý – dân số
Là tỉnh nằm ở trung tâm Bắc bộ, là cửa ngõ giao lưu của các tỉnh phía Bắc, Hà Nội có vị trí địa lý và địa thế đẹp, thuận lợi Hiện nay, Hà Nội là thủ
đô của đất nước, là một trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội và là đầu mối giao thông quan trọng hàng đầu của Việt Nam, với diện tổng diện tích đất
là 921,8km2
Trang 34Hiện nay, thành phố Hà Nội có 9 Quận và 5 huyện với tổng dân số là 3.388.300 người (năm 2007) với mật độ dân số 3490/km2
cao gấp nhiều lần
so với mật độ dân số cả nước (254 người/ km2)) (năm 2006) Ngoài ra, Hà Nội là một trong những tỉnh có dân số di cư xã hội lớn nhất, do số người từ các tỉnh đến làm ăn sinh sống, học tập, vì vậy dân số sống trên địa bàn Hà Nội rất đông
1.6.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, trong nhiều năm qua
Hà Nội luôn là thành phố đi đầu về tốc độ phát triển kinh tế Năm 2006, Tổng sản phẩm nội địa (GDP) tăng 12,07% ( năm 2007), tốc độ tăng hơn so với cả nước là 1,5 lần Trong giai đoạn mới 2006-2010 nền kinh tế bắt đầu chuyển dịch theo hướng dịch vụ- công nghiệp- nông nghiệp, tức là ưu tiên phát triển dịch vụ và giảm tỷ trọng kinh tế nông nghiệp Tuy nhiên, tại mỗi Quận huyện của Hà Nội có những đặc điểm khác nhau
1.6.1.3 Điều kiện văn hoá, chính trị
Là trung tâm phát triển kinh tế, Hà Nội đồng thời là trung tâm văn hoá, chính trị của nhà nước Định cư trên mảnh đất phát triển về mọi mặt, cùng với
sự bùng nổ về thông tin, sự giao thoa văn hoá, người dân Hà Nội được thụ hưởng một nền văn hoá hiện đại, tiến tiến
Ngày nay, do sự phát triển của Khoa học công nghệ và thông tin liên lạc, không chỉ người dân Hà Nội mà tất cả người dân các vùng trên phạm vi đất nước đều nắm bắt được các quan điểm, đường lối, chính sách Đảng, pháp luật của Nhà nước Qua các phương tiện truyền thông đại chúng, qua hoạt động tuyên truyền, giáo dục trực tiếp, hoạt động của các tổ chức, đoàn thể người dân rất dễ dàng tiếp nhận và làm theo Đây là một trong những yếu tố quan trọng tác động việc thực hiện Công ước về QTE nói chung và nhóm
quyền được bảo vệ của trẻ em của các gia đình người dân
Đặc điểm địa lý, dân số, kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội của mỗi quận, huyện khác nhau Sơ lược về địa bàn nghiên cứu như sau:
Trang 35Huyện Từ Liêm:
Với diện tích 75,32km2
và dân số 240.000 người, Từ Liêm là một huyện ngoại thành thành phần kinh tế bao gồm cả dịch vụ, công nghiệp và nông nghiệp Đây là một đặc trưng khác biệt của Huyện so với Quận Thanh Xuân
và Quận Hoàn Kiếm Vì vậy, thành phần hộ gia đình người dân thuộc Huyện
Từ Liêm cũng bao gồm các gia đình nông dân Điều này nói lên mặt bằng nhận thức, trình độ học vấn trung bình của các gia đình thuộc địa bàn này Đồng thời nó quy định cách thức chăm sóc của cha mẹ đối với con cái, quy định vai trò của những người con trong gia đình
Trong những năm gần đây, do có sự chuyển dịch trung tâm thành phố
về mặt địa lý, một bộ phận đất nông nghiệp của Huyện Từ Liêm đã được quy hoạch, người dân được đền bù và chuyển hình thức làm kinh tế Đây cũng là một chỉ báo khi chúng ta nghiên cứu đặc điểm gia đình người dân thuộc Huyện Từ Liêm
Quận Thanh Xuân
Quận Thanh Xuân với diện tích là 9,11km2 , dân số 185.000 người, là một quận “trung bình” về điều kiện kinh tế của các gia đình, do thành phần người dân chủ yếu là trí thức, làm công ăn lương Đây cũng là địa bàn không
có đặc trưng rõ rệt về hoạt động kinh tế giống như huyện Từ Liêm và quận Hoàn Kiếm Tuy nhiên đặc trưng về trình độ học vấn và nghề nghiệp của cha
mẹ của người dân địa bàn này có thể quy định cách dạy dỗ, ứng xử của cha
mẹ đối với con cái
Quận Hoàn Kiếm
Có thể nói đây là Quận “tấp nập” nhất Hà Nội, với diện tích chỉ 5,29km2 nhưng số người lên đến 178.073 người chưa tính người dân tạm trú Quận Hoàn Kiếm gói trọn cả 36 phố phường nên sầm uất với hoạt động kinh doanh, buôn bán, tham quan, du lịch Hầu hết các gia đình người dân sống tại khu vực này đều tham gia vào hoạt động kinh doanh, buôn bán Làm ăn kinh
tế, có thu nhập cao giúp các bậc cha mẹ có điều kiện chăm sóc tốt hơn về mặt vật chất cho con cái Tuy nhiên, điều này có ảnh hưởng đến định hướng giáo
Trang 36dục con cái, đặc biệt chi phối thời gian rảnh rỗi của cha mẹ dành cho con cái Tất nhiên sẽ khó tránh khỏi tình trạng sử dụng sức lao động của trẻ em vào công việc làm ăn của cha mẹ
Ngoài ra, đây là một địa bàn có nhiều người ngoại quốc sinh sống, yếu
tố nước ngoài này có thể ít nhiều ảnh hưởng đến đời sống, xã hội của cư dân địa bàn
Trang 37CHƯƠNG II TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHÓM QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ
TRONG CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN TRẺ EM TẠI CÁC GIA ĐÌNH
NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
I THỰC TRẠNG THỰC HIỆN NHÓM QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ TRONG CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN TRẺ EM
1.1 Nhận thức của các gia đình người dân thành phố Hà Nội về nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em
1.1.1 Nhận thức của người dân thành phố Hà Nội về Công ước quốc tế về quyền trẻ em
a) Nhận thức của các bậc cha mẹ về Công ước quốc tế về quyền trẻ em
Theo Tâm lý học: Nhận thức là một quá trình Ở con người, quá trình thường gắn với một mục đích nhất định, nên nhận thức của con người thường
là một hoạt động Đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng…) và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan (hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, khái niệm…) (2)
Nhận thức đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc cá nhân quyết định hành động cuả mình Nó là cách nhìn nhận, đánh giá của con người trước những sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan vì thế ở đây, nếu như người
mẹ nhận thức tốt về Công ước và Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, sẽ giúp cho họ có những hành động đúng trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ và thực hiện tốt nhóm quyền được bảo vệ của trẻ trong gia đình, ngược lại nếu họ
có không biết hoặc không nhận thức tốt về các nhóm quyền của trẻ trong Công ước thì quyền của các em sẽ không được tôn trọng và đảm bảo Thậm chí điều đó có thể ảnh hưởng đến kết cấu gia đình, hạnh phúc gia đình nếu như
có những đứa trẻ đã biết về quyền của mình qua các kênh giáo dục chính
Trang 38thống hay qua phương tiện thông tin đại chúng và về nhà có những phản ứng lại đối với người lớn
Vậy trên thực tế hiện nay các bậc cha mẹ Hà Nội đã hiểu thế nào về Công ước quốc tế về QTE, về nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em ?
Về vấn đề này, kết quả của cuộc khảo sát của chúng tôi vừa qua tại quận Hoàn Kiếm, quận Thanh Xuân và huyện Từ Liêm cho thấy tỷ lệ các bậc cha mẹ biết hoặc nghe về Công ước rất thấp Hầu hết các bậc cha mẹ biết đến những kiến thức liên quan tới trẻ em như Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, tâm lý trẻ em, kỹ năng nuôi dạy trẻ em
Bảng 1.1.1.a: Tỷ lệ người dân Hà Nội hiểu biết về Công ước và các kiến thức liên quan đến trẻ em
TT Nội dung
Quận Hoàn Kiếm
Quận Thanh Xuân
Huyện Từ Liêm
104 (69%)
52 (34%)
98 (66%)
30 (20%)
120 (80%)
128/450 (28%)
322/450 (72%)
3 Tâm lý trẻ em 61 89 92 58 62 88 215/450
(48%)
235/450 (52%)
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy, có tới 72% bậc cha mẹ được hỏi chưa từng nghe hoặc chưa biết về Công ước quốc tế về QTE Họ có xu hướng biết
về những kiến thức liên quan đến trẻ em hơn như kỹ năng nuôi dạy con cái,
Trang 39tâm lý của trẻ em Như vậy, kiến thức về Công ước chưa thực sự phổ biến trong cuộc sống của người dân, mặc dù hiện nay việc tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng về các kiến thức liên quan đến trẻ em như Công ước, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là khá phổ biến Nói một cách khác, tính chủ động trong việc tiếp cận thông tin vẫn chưa được thể hiện
rõ ở người dân trong địa bàn khảo sát Lí giải điều này từ góc độ xã hội học,
có thể nhận thấy đây là hành động duy lí truyền thống Trong xã hội Việt Nam
từ xưa tất cả những cách ứng xử đều đi theo những khuôn mẫu và chuẩn mực nhất định, vì thế những con người trong xã hội ấy ít khi tự tìm hiểu và khám phá những điều mới mà thường chấp nhận những khuôn mẫu ứng xử cũ Tư tưởng này vẫn còn tồn tại đến ngày nay và thể hiện rõ nét thông qua việc thiếu chủ động tiếp cận với những luồng thông tin mới mẻ trong xã hội
Trong đó có sự khác nhau giữa ba địa bàn nghiên cứu, người dân huyện
Từ Liêm có tỷ lệ người không biết đến Công ước cao nhất 80%, số người biết chỉ chiếm 20%, người dân Quận Thanh Xuân biết về Công ước cao hơn 34% Dưới góc độ xã hội học từ thuyết biến đổi xã hội có thể thấy sự thay đổi về cơ
sở hạ tầng dẫn đến kiến trúc thượng tầng cũng có những thay đổi nhất định Nói cách khác, ở những vùng có sự thay đổi nhanh chóng về cơ sở vật chất thì đồng nghĩa với nó là sự biến đổi nhanh chóng trong tư duy của con người về mặt xã hội Ngoài yếu tố về cơ sở vật chất, điều này liệu có liên quan đến các chỉ báo khác như trình độ học vấn, nghề nghiệp của các bậc cha mẹ hay không, chúng tôi đi đã tìm hiểu mối quan hệ giữa các chỉ báo đó và sự hiểu biết về Công ước Kết quả cho thấy, rõ ràng có mối quan hệ giữa trình độ học vấn và sự hiểu biết về Công ước Nghĩa là có sự khác biệt giữa những người có trình độ học vấn cao và thấp về sự hiểu biết Công ước Điều đó cho thấy, Công ước quốc tế về QTE là một kiến thức còn khá xa cuộc sống thực tế, chính vì thế không phải ai cũng có điều kiện tiếp cận và hiểu biết
Trang 40Trong mối quan hệ với nghề nghiệp của họ, kết quả khảo sát cho thấy, hầu hết những bậc cha mẹ có nghề nghiệp là giáo viên, bác sỹ, cán bộ dân số, cán bộ hội phụ nữ đều hiểu biết về Công ước Tuy nhiên, ngay cả những bà
mẹ có hiểu biết về Công ước thì những hiểu biết này cũng chưa thật sự đầy đủ, hầu hết họ chỉ hiểu biết ở mức độ vừa phải, hiểu sơ qua hoặc chỉ hiểu những nội dung mà họ quan tâm, họ chưa có ý thức tìm hiểu sâu về nó Điều này có thể là do các kênh truyền thông mà họ tiếp cận chưa mang lại đầy đủ thông tin
về Công ước hoặc do bản thân các bậc cha mẹ cũng chưa có ý thức tìm hiểu
về vấn đề này Đó là lí do khiến họ chưa liệt kê được những nhóm quyền trong Công ước trong đó có nhóm quyền được bảo vệ Đặc biệt là những bà mẹ làm nghề nông nghiệp thì hầu như họ không hay biết hoặc không quan tâm đến Công ước Các bậc cha mẹ có nghề nghiệp là buôn bán, nông nghiệp, nghề tự
do, kể cả cán bộ văn phòng thì hầu như họ không hay biết hoặc không quan tâm đến Công ước Lí giải điều này theo thuyết tương tác xã hội có thể nhận thấy: giữa các nhóm xã hội thường xuyên có sự tương tác trao đổi thông tin, tuy nhiên luồng thông tin mà họ quan tâm và tương tác, trao đổi thông thường
có liên quan đến đặc thù nghề nghiệp của họ Hẳn những người làm kinh doanh buôn bán sẽ trao đổi với nhau về vấn đề mặt hàng, thị trường, giá cả, doanh thu, lợi nhuận Hay những người nông dân sẽ trao đổi về vấn đề mùa màng, cây trồng, vật nuôi Liệu mấy ai quan tâm đến quyền trẻ em hay Luật bảo vệ chăm sóc, trẻ em Lí giải cho điều này chúng tôi đã thu được những ý kiến sau:
“Việc biết hay không biết về Công ước cũng có ảnh hưởng gì đến công việc hay cuộc sống của chng tôi đâu…suốt ngày đầu tắt mặt tối nên biết cũng được mà chẳng biết cũng được”
(Nữ- 42 tuổi-Từ Liêm)